
Lẽ thường vốn thế, ở một phòng khám đa khoa tư nhân cỡ vậy, thì bác sĩ gia đình đã sớm trở thành thân thích chẳng khác nào mảnh ghép còn thiếu trong nhà. Gia đình Burnaby là một trong số những vị khách đầu tiên của tôi, và bằng tấm lòng thấu cảm, đôn hậu, chúng tôi nhanh chóng kết mối thâm tình bền chặt. Đó là một tổ ấm dễ thương, chảy tràn bởi sắc thái an yên tịch mịch cùng nét cuốn hút từ những điều giản đơn, nếp sống dung dị chẳng khi nào lung lay bởi ngoại cảnh. Bởi vậy mà nét vui thú cứ mãi hiện hữu trong ngôi nhà ấy, sự chênh lệch tuổi tác giữa vợ chồng khiến không khí trong nhà có đôi chút xáo trộn và hẳn nhiên cũng mời gọi không ít ánh nhìn soi mói, dò xét từ bên ngoài. Và còn nhiều vấn đề khác sẽ được đề cập ngay sau đây.
Frank Burnaby là người đàn ông trung niên đang độ ngũ tuần có đôi chút mong manh: ông ấy kiệm lời, thêm vài phần e thẹn, luôn tử tế, chan hòa với tất cả và đặc biệt hơn hết, Frank là người đàn ông sở hữu nét thơ ngây nhiệt thành hiếm có, là một người rất đáng tin cậy. Ông ấy giữ một chân trong phòng lục sự, nơi đầy rẫy những truyền thuyết kỳ quái khơi gợi bộ óc bay bổng cùng mộng tưởng mơ hồ bắt nguồn từ kho tài liệu cổ xưa. Những tuyển tập được dán nhãn như món hàng đổi chác vừa khéo khoanh đủ một vòng trong phạm vi gia đình. Đi kèm với đó, thiên phú cho ông trí tưởng tượng lung linh như họa cùng khiếu hài hước xen lẫn nghiêm cẩn, trầm mặc, khiến cho những vị khách chẳng thể dứt nổi niềm vui thú lắng nghe. Tôi chưa từng gặp qua một người đàn ông nào quyến rũ, hoặc một người cho tôi cảm giác thích thú, đồng thời cũng tôn trọng hơn thế.
Ở một diễn biến khác, hấp dẫn không kém gì chồng mình, song khí khái lại hoàn toàn đối lập, chính là vợ ông ấy: một người phụ nữ ẩn mình bởi nét cám dỗ đê mê đến là nghẹt thở và nàng ta, sở hữu ngoại hình quá đỗi xinh tươi cùng vẻ kiều diễm khi đang ngấp nghé xuân sang ba mươi - thật tình chỉ hơn một cô bé đôi chút: dễ mến, bao dung, tràn đầy niềm vui và chẳng hề nao núng trước bất cứ trò đùa nào. Dẫu vậy, bà ấy vẫn là một người phụ nữ hết sức thành đạt, có học thức và đặc biệt để tâm đến tiền đồ của chồng mình. Đối với tôi, mối lương duyên của họ như sự an bài của số phận. Bởi chính vẻ viên mãn tròn đầy, nơi mà sự đồng lòng tin tưởng được vun bồi qua năm tháng, cùng sợi dây gắn kết bền chặt len lỏi qua từng hơi thở đã củng cố thêm niềm tin ấy trong tôi. Họ có tất thảy bốn đứa con, ba trai một gái - những đứa trẻ của Burnaby với người vợ đầu tiên của ông. Chính sự thành toàn hết mực của đám nhóc với người mẹ kế trẻ này đã nói lên rất nhiều về công ơn dưỡng dục của bà ấy với con riêng của chồng mình.
Thế rồi, một sự vụ chẳng khác nào con sâu làm rầu nồi canh: chí ít thì đó là những gì tôi cảm nhận được. Một người bạn khác của gia đình, chàng trai trẻ tên Cyril Parker. Thực tình mà nói, cá nhân tôi không có chút gì là muốn chống đối lại anh ta cả, nhưng xét cho cùng, mối quan hệ vòng vo này vẫn khiến một người ngoài cuộc như tôi cũng phải để tâm bận lòng ít nhiều. Anh ta sở hữu vẻ ngoài hào hoa nổi bật, tính tình nền nã thú vị, pha chút hóm hỉnh và là người có tầm hiểu biết sâu rộng. Vì là cộng sự cho một hãng xuất bản cũng như đóng vai trò là một độc giả chân chính của công ty, từ đâu mà anh ta, giống như ông Burnaby, thu thập được nhiều điều lý thú từ việc đọc một cách có chuyên môn đến thế. Nhưng rồi, tôi chẳng thể ngụy trang bản thân trước nhận định rằng, sự ngưỡng mộ và cảm tình mà anh ta dành cho bà Burnaby đang nằm trong ngưỡng đáng báo động, và rằng, sự thân mật - từ phía anh ta, dù sao đi nữa - đang có chiều hướng gia tăng một cách đáng quan ngại. Về phía bà Burnaby, dường như không có gì khác hơn ngoài tình bạn đơn thuần, dù cho điều đó đã được thể hiện khá rõ ràng. Thế nhưng, bằng cái nhìn có phần ngờ vực từ phía tôi. Nàng ta có nét cuốn hút chết người mà hẳn bất kì gã đàn ông nào cũng đều có thể rơi vào lưới tình ngay tắp lự. Và rằng, tôi không sao kiểm soát nổi cơ mặt của mình mỗi khi phát hiện điều gì đó trong ánh nhìn của Parker mỗi khi anh ta dõi theo bà Burnaby. Tuy nhiên, không điểm nghi vấn nào trong cách hành xử của một trong hai dù là nhỏ nhất có thể dẫn tới trường hợp ngoại lệ hay tệ hơn là điềm báo cho một thảm họa khủng khiếp có thể ập tới bất cứ lúc nào.
Điểm khởi nguồn của tấn bi kịch là một sự kiện tương đối tầm thường. Sau khi nghiền ngẫm nhiều thủ bản cũ rích, ông Burnaby xuất hiện các triệu chứng như mỏi mắt khiến tôi phải đưa ông ấy đến gặp bác sĩ nhãn khoa để xin ý kiến và kê toa cho một cặp kính thuốc phù hợp. Ngay buổi tối hôm mà ông ấy thỉnh thị bác sĩ nhãn khoa, tôi nhận được thông báo khẩn từ bà Burnaby, và khi những bước chân cuối cùng chạm đến ngưỡng cửa, chồng bà ấy đã trở bệnh rất nặng. Các triệu chứng quả thực khiến tôi bối rối, vì chúng không tương thích với bất kì căn bệnh nào trước đó mà tôi từng gặp qua. Mặt của ông ấy đỏ gay, thân nhiệt tăng nhẹ, mạch đập dồn dập dù hơi thở chậm chạp, cổ họng khô ran quá mức còn đồng tử thì giãn rộng. Đó là trạng thái vô cùng bất thường, không giống bất cứ trường hợp nào trước đó ngoại trừ khả năng bị nhiễm độc atropine.
“Ông ấy có đang dùng thuốc gì không, thưa bà?” Tôi dò hỏi.
Bà Burnaby vội lắc đầu. “Anh nhà tôi không bao giờ uống bất kì loại thuốc nào ngoài đơn mà chính ông đây đã kê, và đó cũng không thể là bất cứ thứ gì mà anh ấy đã uống, bởi vụ việc xảy đến tương đối đột ngột sau khi chồng tôi trở về nhà, trước cả khi kịp ăn hay uống một thứ gì khác.”
Điều đó thật bí ẩn và ngay chính bản thân bệnh nhân cũng không sao làm sáng tỏ gốc gác của vấn đề. Đương lúc suy tư về sự vụ này, tôi vô tình hướng ánh nhìn về phía mặt lò sưởi, để ý thấy lọ thuốc có nhãn “Thuốc nhỏ mắt” đang nằm gục kèm phong thư kê toa. Sau một hồi, tôi tìm thấy đơn thuốc nhỏ mắt của bác sĩ nhãn khoa - một lượng dung dịch atropine sulphate rất yếu ớt.
“Ông nhà có dùng loại thuốc này không?” Tôi gặng hỏi.
“Có,” Bà Burnaby đáp lời. “Tôi nhỏ vài giọt vào mắt cho chồng mình sau khi anh ấy bước vào căn phòng này; mỗi bên hai giọt, theo đúng chỉ dẫn.”
Thật kỳ lạ. Lượng atropine trong bốn giọt thuốc còn chưa bằng một phần trăm của hạt đậu, liều lượng quá sức nhỏ bé đến không tưởng để gây ra các triệu chứng trên. Tuy nhiên, biểu hiện của ông ấy lại như một kẻ đã nốc cả liều thuốc độc, điều mà chắc chắn sẽ không được thực hiện, vì lọ thuốc vẫn đang trong trạng thái gần như nguyên vẹn tuyệt đối.
Tôi không sao diễn giải được đầu đuôi sự vụ này. Tuy nhiên, tôi đã xếp chúng vào một trong số những trường hợp của ngộ độc atropine; và khi quá trình trị liệu mang đến những chuyển biến rõ rệt, cũng là lúc từng bước chân rệu rã đưa tôi trở về nhà, hoang mang choán lấy tâm trí hơn bao giờ hết.
Cuộc điện thoại thăm hỏi vào sáng hôm sau cho tôi biết ông ấy dường như đã khỏe mạnh trở lại và đã đến văn phòng làm việc. Thế rồi, ngay tối hôm đó, tôi nhận được tin báo khẩn khác, và cấp tốc đến nhà Burnaby, ông ấy đang phải chịu cơn đau tương tự, thậm chí mức độ còn nghiêm trọng hơn cả cơn đau ngày hôm trước. Pilocarpine được tiêm ngay lập tức kết hợp với các phương pháp điều trị thích hợp, không lâu sau đó, tôi thở phào nhẹ nhõm khi nhận thấy thể trạng của ông ấy đã dần hồi phục đáng kể. Hiệu quả của phương pháp điều trị này đã chứng minh rằng, các triệu chứng trên thực chất đến từ atropine, vậy mà dường như atropine chẳng hề được sử dụng trừ một lượng rất nhỏ có trong thuốc nhỏ mắt.
Thật bí hiểm. Khi các cuộc điều tra nghiêm cẩn lần lượt được gợi mở, nhưng lạ thay đều không đưa ra bất kì kết luận nào có liên quan đến nguồn gốc của chất độc ngoại trừ vài ba giọt thuốc; và vì cơ sự ập đến trong chớp nhoáng sau khi sử dụng chúng, vậy nên không thể bỏ qua sợi dây móc nối này, dù cho liều lượng của thuốc đang quá sức vô lý để dẫn tới tai họa.
“Tôi chỉ có thể đưa ra suy đoán.” Tôi mở lời với bà Burnaby và ông Parker, người đã rất nhiệt thành dò la tin tức và yêu cầu câu trả lời xác đáng. “Ông Burnaby là trường hợp rất đặc biệt - ông ấy nhạy cảm một cách bất thường với loại dược phẩm này.”
“Tình trạng ấy có phổ biến không?” Parker vội hỏi.
“Ồ, có,” tôi đáp. “Thật tình, mỗi người sẽ có những phản ứng khác nhau trên cùng một nền thuốc. Một số trường hợp cơ thể sẽ không dung nạp một vài loại thuốc cụ thể, tỷ dụ như i-ốt, đến mức một lượng thuốc thông dụng cũng hóa độc dược, trong khi số khác lại sở hữu khả năng đề kháng phi thường vô cùng tận. Christisori, trong Chính luận về độc chất học của mình, đã đưa ra trường hợp về người đàn ông, có biểu hiện bất thường khi sử dụng á phiện, ông ta uống gần một ounce cồn thuốc phiện mà chẳng hề hấn hay xuất hiện phản ứng nào, cho dù liều lượng đó có thể giết chết một người đàn ông khỏe mạnh. Những loại thuốc này là cạm bẫy khủng khiếp đối với các bác sĩ không hiểu rõ bệnh nhân của mình. Thử nghĩ mà xem, điều gì sẽ xảy đến với ông Burnaby nếu ai đó cho ông ấy một liều có chứa thảo dược belladonna cơ chứ.
“Belladonna có tác dụng tương tự như atropine ư?” Bà Burnaby thắc mắc.
“Không khác là bao, thưa bà.” Tôi tiếp lời. “Atropine là hoạt chất có trong belladonna.
“May mắn thay!” Bà ấy thốt lên. “Vì rằng đã phát hiện ra điểm bất thường này một cách kịp thời. Có lẽ ta nên ngưng nhỏ loại thuốc này cho anh ấy thì hơn?”
“Đúng vậy!” Tôi dứt khoát. “Hãy quyết liệt hơn trong chuyện này; và tôi sẽ viết cho ông Haines một bức thư để đánh tiếng rằng atropine không thể sử dụng trong toa kê thêm nữa.
Thế là chẳng mất bao lâu, tôi đã viết thư cho ông bác sĩ nhãn khoa nọ, người đã tỏ thái độ ngờ vực một cách ý nhị về mối liên hệ giữa vài ba giọt thuốc và tai ương vừa xảy đến. Tuy nhiên, ông Burnaby đã xử lý vấn đề vô cùng thằng thừng khi chối bay chối biến đủ loại giao thiệp có liên đới với atropine, có vẻ như loại thuốc này đã bị liệt vào danh sách đen của ông ấy; và quyết định đó, cho tới thời điểm hiện tại đã chứng minh rằng, ông ấy quả thực sáng suốt, không một sự vụ bất ngờ nào được phép tái diễn.
Đã vài tháng qua đi. Sự kiện ấy, cái sự kiện tưởng chừng rất nghiêm trọng ấy, đã trôi về miền ký ức xa xăm trong tâm trí tôi. Nhưng rồi, bằng một cách thần kỳ nào đó, chúng đã tái sinh theo cái cách không chỉ khiến tôi hết sức ngỡ ngàng mà còn khiến tôi lo lắng vô cùng tận. Vào một ngày đẹp trời nọ, tư trang đủ đầy còn tôi thì chuẩn bị khởi hành. Bỗng đâu đó, người hầu cận nhà Burnaby đã chực chờ đón tôi ngay ngưỡng cửa, nhịp thở gấp gáp kèm theo mảnh giấy. Đó là của bà Burnaby, bà ấy xin tôi hãy tới ngay trước khi lưỡi hái tử thần đang hạ xuống chồng bà; ông nhà đang gặp nguy kịch bởi sự vụ tương tự như những lần trước. Tôi vội vàng chạy lại, lấy chiếc túi cấp cứu của mình và lao đến nhà Burnaby. Ông ấy đang nằm trên ghế xô pha, mặt đỏ như tôm luộc, các triệu chứng của ngộ độc atropine quá mức rõ rệt, điều đó khiến tôi vô cùng hoảng hốt. Tuy nhiên, mức độ của vụ việc chưa vượt ngưỡng mất kiểm soát, sau khi áp dụng phác đồ điều trị thích hợp, các chuyển biến tích cực đã dần xuất hiện.
“Nghe này, ông Burnaby.” Giọng tôi đanh lại, còn ông ấy thì bắt đầu ngồi dậy kèm tiếng thở dài nhẹ nhõm. “Ông đang làm cái quái gì vậy? Đừng nói với tôi là ông lại táy máy vào mấy giọt chất lỏng đó đấy nhé?”
“Không hề.” Ông ta gấp gáp. “Tại sao tôi phải làm thế chứ? Haines đã điều trị dứt điểm vấn đề về mắt cho tôi rồi.”
“Chà, vậy hẳn là ông đã uống phải thứ gì đó có chứa atropine chứ chẳng chơi.”
“Có lẽ anh đã đúng, nhưng tôi lại không tài nào nghĩ ra được đó là gì. Tôi chẳng đả động đến bất kì loại thuốc nào hết.”
“Không thuốc viên, thuốc ngậm, dầu xoa, thuốc dán hay thậm chí là thuốc mỡ ư?”
“Không một loại nào trong số đó.” Ông ấy quả quyết. “Thực tình, bụng tôi trống rỗng và không có thêm gì khác trừ bữa sáng. Cơn đau đâm sầm vào tôi như cơn lốc, mặc cho đó là một bữa sáng tinh gọn hết mức có thể - chỉ dăm ba quả trứng chim bồ câu, vài lát bánh mì nướng và chén trà.”
“Trứng chim bồ câu.” Tôi đáp lời và cười nắc nẻ. “Tại sao không phải trứng chim sẻ?”
“Cyril đã gửi chúng! Thật lố bịch hết sức, nhưng tôi e là vậy.” Bà Burnaby bắt đầu đưa ra lời giải thích (Cyril, hẳn nhiên là gã Parker rồi). “Nhưng tôi phải khẳng định rằng Frank đã rất thích nó. Ông thấy đấy, Cyril dạo gần đây đã bắt đầu nuôi chim bồ câu và thỏ, cả những con thú cung cấp thực phẩm tươi sống khác nữa. Tôi cho rằng tất thảy những gì ông ấy đã làm phần nhiều đều vì lợi ích của Frank, chẳng phải ông đã nói ông xã tôi cần một chế độ ăn uống khoa học hơn sao.”
“Vâng, chính là vậy.” Ông Burnaby đãi bôi. “Anh ta quả thực đã rất hào phóng. Một nửa trong số khẩu phần ăn của tôi đều từ đó mà ra. Thật lòng, tôi không muốn nhận quá nhiều từ Cyril.”
“Ông ấy rất hồ hởi khi được gửi những món đồ này.” Bà Burnaby tiếp lời. “Tôi chỉ ước giá như ông ta sẵn lòng làm thịt những sinh vật đó luôn cho rồi. Cyril luôn mang tới hoặc gửi qua khi chúng còn sống nhăn răng, và đầu bếp nhà tôi thì ghét phải sát hại những sinh mạng vô tội ấy dữ. Về phần mình, tôi không sao đành lòng xuống tay cho được, dù chính tôi là người sẽ phải xử lý sau khi chúng hóa kiếp. Tôi là người chuẩn bị hầu như tất cả các bữa ăn cho Frank, tất cả, ông biết đấy, đều do một tay tôi làm tất.”
“Chính xác là như thế,” ông Burnaby nói, liếc nhìn vợ mình đầy trìu mến. “Margaret như một tay nghệ sĩ thực thụ, còn tôi là khán giả nhiệt thành thưởng thức các tác phẩm của cô ấy mà không vương chút hoài phí nào. Phải khẳng định với bác sĩ rằng, tôi đang thiện chiến như một chú gà chọi ấy chứ.”
Thật tốt đẹp làm sao, nhưng nó lại đang nằm ngoài câu hỏi; đó là, atropine đến từ đâu? Nếu Burnaby không nuốt thứ gì ngoài bữa sáng của mình, thì hẳn atropine phải nằm trong số đó. Quả là lời châm chọc sâu cay.
“Nhưng bác sĩ biết đấy.” ông Burnaby nói, “điều đó thật quá đỗi phi lý. Chúng ta có thể loại bỏ những quả trứng khỏi diện tình nghi chứ nhỉ. Nào có ai cho nổi thứ chất độc vào bên trong mà không cần đục lỗ trên vỏ, và những quả trứng ấy còn nguyên cơ đấy. Hay như bánh mì, bơ, trà, tất cả chúng tôi đều dùng chung, không hơn, không kém.”
“Điều đó chẳng thuyết phục cho lắm thì phải.” Tôi nói. “Chỉ một liều atropine thôi cũng có thể gây nhiễm độc cho người không có khả năng kháng thuốc và sẽ không thành vấn đề với những trường hợp khác. Dẫu vậy, điều tôi muốn nói ở đây là. Vấn đề khó hiểu thực sự là làm thế quái nào atropine có thể xâm nhập vào cơ thể của ông bằng mấy món ăn như trên ấy chứ?”
“Không thể nào.” Lời khảng khái của Burnaby cũng là niềm tin của tôi. Nhưng trớ trêu thay khi đó lại là kết luận chẳng mấy thỏa đáng, một bí mật không có lời giải; và khi tôi xin cáo phép một thời gian đủ lâu, để tiếp tục cuộc hành trình rong ruổi của mình, đã có lúc tôi tự trách bản thân vì chưa cố truy ra gốc gác căn nguyên của mối hiểm nguy hoặc tìm cách đảm bảo rằng bệnh tình của bệnh nhân sẽ không tái phát thêm lần nào nữa.
Sự bất an của tôi chẳng hề vô cớ. Chưa đầy một tuần lễ, tin báo khẩn lần nữa đưa tôi tới tư gia nhà Burnaby, nhấn chìm tôi trong nỗi hoang mang, sợ hãi. Mà nỗi sợ hãi đó quả nhiên có lý do chính đáng; vì khi đến nơi; ông Burnaby đang nằm im lìm bất động, miệng mím chặt và đôi mắt xanh thăm thẳm tựa biển cả của ông ta cũng trở nên trống rỗng, vô định. Đôi con người lấp lánh “ánh belladonna” nhân tạo. Tôi chỉ dần cảm nhận mạch đập hối hả và quan sát những nỗ lực có phần vô ích của ông ấy khi đang cố nuốt từng ngụm nước. Tôi tự hỏi, liệu rằng ông ta có đang đánh mất vài ba phần lý trí của bản thân hay không. Một câu hỏi tương tự cũng được bật ra theo cái cách câm lặng trước đôi mắt kinh hoàng của bà Burnaby, người đàn bà đã đứng phắt dậy như một hồn ma leo lét bên giường của chồng mình khi tôi bước vào phòng. Thế rồi, lần nữa ông ấy tiếp nhận phác đồ điều trị của tôi, dù cho tác dụng đã chậm hơn ít nhiều. Sau một giờ đồng hồ, tôi thở phào nhẹ nhõm khi nhận thấy thần chết lần nữa đánh trượt người đàn ông này, dù cho thể trạng của ông ấy đang vô cùng tồi tệ.
Trong khi đó, các cuộc điều tra lần nữa rơi vào bế tắc trong việc tìm ra lời giải về sự vụ trên. Các triệu chứng bắt đầu xuất hiện ngay sau bữa tối; lại là bữa ăn giản dị khác, bao gồm một con chim bồ câu hầm do chính tay bà Burnaby chế biến, rau xanh cùng chiếc bánh pudding tráng miệng đã chia theo khẩu phần cho từng thành viên trong gia đình, cùng chút rượu vang từ xứ Chablis được khui ngay trong phòng ăn. Chỉ vậy thôi, không một sự kiện nào khác diễn ra và không một loại thuốc nào được sử dụng. Mặt khác, khi những hoài nghi về bản chất của “cuộc tấn công” ngày càng trở nên dày đặc, thì thí nghiệm khoa học do tôi thực hiện đã được Hiệp hội Nghiên cứu Lâm sàng chứng thực, atropine quả nhiên đã xuất hiện, dù chỉ là một lượng tương đối nhỏ. Còn nguồn gốc của nó thì vẫn luôn là ẩn số.
Tình trạng ấy quan ngại và đáng báo động ghê lắm. Khi sự vụ vừa rồi đã suýt chút nữa dẫn đến kết cục đau thương còn chất độc lại chẳng thể tìm thấy. Cũng từ nguồn tin không mấy chính thống, một khoản phí hậu hĩnh sẽ trao gửi bất cứ lúc nào cho bất kì ai có thể đưa đến lời giải. Burnaby đáng thương dường như đang rơi vào trạng thái sang chấn tâm lý khi bị khủng bố và đe dọa thường xuyên, vợ ông ấy bắt đầu phờ phạc và tiều tụy đến là tội nghiệp, mỏi mệt hằn sâu trên khóe mắt trũng vì nỗi lắng lo cùng sự sợ hãi cứ mãi dai dẳng không thôi. Chính tôi đây cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Bởi lẽ, bất cứ điều chẳng lành nào xảy đến, thì phần trách nhiệm mà tôi phải gánh vác vẫn sẽ còn đó, quả là họa vô đơn chí. Tôi vắt óc tìm kiếm một lời giải thích khả dĩ, nhưng cực chẳng tày gang. Tôi bắt đầu rơi vào vòng luẩn quẩn của tuyệt vọng, dù rằng đâu đó trong vô thức, bất chợt những ý nghĩ khủng khiếp như bóng ma hiện hình về cứ thế len lỏi trong tâm trí tôi để rồi bị chính phần cứng cỏi sót lại gạt bỏ một cách không thương tiếc.
Một buổi tối nọ, vài ngày sau sự vụ đáng tiếc, em trai của Burnaby, chuyên gia bệnh học đang công tác tại một trong những bệnh viện ở London ghé thăm tôi. Tiến sĩ Burnaby rất khác với người anh trai hiền hậu, dễ mến của mình; ở anh ta toát lên khí khái mạnh mẽ, kiên trung và tràn đầy nhiệt huyết, hẳn nhiên anh ta cũng chẳng phải người quá khéo léo trong cung cách ứng xử. Bởi đã quen biết trước đó nên chúng tôi bỏ qua nghi thức rườm rà câu nệ, anh ta đi vào trọng tâm của vấn đề với sự ngay thẳng bộc trực.
“Anh có thể tiên liệu trước vụ việc này không, sự kiện vừa xảy đến ấy.” Jardine vội vã. “Chính là vụ atropine. Chuyện gì đang xảy ra vậy?”
“Anh biết đấy, mọi thứ đang vượt khỏi tầm kiểm soát của tôi.” Giọng tôi thều thào yếu ớt. “Tôi không thể làm được gì hơn cả.”
“Anh đang nằm chờ cuộc tấn công tiếp theo và chông cậy vào dăm ba cuộc điều tra chẳng đi đến đâu, hửm? Chà, vô nghĩa thật đấy, anh biết mà. Phải dừng sự vụ này ngay trước khi quá trễ. Trong khi anh còn chẳng tìm ra chất độc quái quỷ đó đến từ đâu, và ai là người giấu tay làm chuyện đó. Hừm! Anh bạn à, đã đến lúc truy tìm hung thủ rồi. Không có sự lựa chọn nào khác. Tôi sẽ đến đó để dạo quanh một vòng và hỏi han tình hình xem sao. Tốt nhất là anh nên đi cùng tôi thì hơn.”
“Họ trông đợi bước tiến mới cho câu chuyện này khi có anh vào cuộc ư?” Tôi lóng ngóng dò hỏi.
“Không!” Anh ta cộc cằn cáu kỉnh. “Nhưng tôi cũng chẳng phải người ngoài, mà anh cũng thế.”
Được rồi, dù sao thì tôi vẫn quyết định đi lòng vòng thám thính cùng anh ta, dù cho cung cách trịch thượng và thái độ ấy khiến tôi chán ngấy đi mất. Hẳn nhiên, đây là một chuyến viếng thăm đầy bất ngờ, tôi chẳng mất mấy thì giờ để đoán định anh ta đang nghĩ gì. Mặt khác, tôi luôn sẵn lòng chia sẻ phần trách nhiệm lớn lao với người có địa vị như anh ta, đồng thời là người thân tín của bệnh nhân tôi. Bởi vậy, tôi chẳng mảy may khước từ khi anh ta ngỏ ý muốn tôi đi cùng; và việc trọng đại nhất đối với tình thế của tôi lúc này là luôn mang theo túi y tế bên mình.
Khi chúng tôi tới nơi, ông Burnaby và vợ vừa ngồi vào bàn ăn tối, bọn trẻ tự giác dùng bữa và tất thảy bọn họ đều chào đón chúng tôi bằng lòng hiếu khách thường trực, điều đó khiến tổ ấm này trở nên dễ mến hơn bất cứ nơi nào khác. Tiến sĩ Burnaby được xếp chỗ ngồi đối diện với tôi, thật nực cười biết bao khi mắt anh ta cứ lén lút đảo liên tục trên bàn ăn, rõ ràng là đang đánh giá từng món, đại để như bằng cách đó, anh ta có thể xác định được vị trí của atropine vậy.
“Giá như cậu đánh tiếng với chúng tôi rằng cậu sẽ tới, Jim ạ.” Bà Burnaby dịu giọng ngay khi các món ăn lần lượt được bày biện. “Chúng tôi đã có thể sắp xếp thứ gì đó tốt hơn món thịt lưng cừu này. Và chúng ta sẽ có bữa tiệc tươm tất hơn hẳn.”
“Thịt cừu là quá đủ rồi.” Tiến sĩ Burnaby đáp gọn lỏn. “Nhưng còn Frank thì sao, anh ấy ăn cái quái gì vậy?” Anh ta chêm lời khi Burnaby nhấc nắp ra khỏi cái xoong nhỏ tin hin.
“Đó,” bà ấy tiếp lời, “là một con thỏ nhỏ. Một sinh vật bé bỏng đến nhường ấy; chỉ cỡ một con non yếu ớt. Đầu bếp đã suýt chút nữa bật khóc khi thịt nó đấy.”
“Thịt nó!” Anh ta kêu lên thất thanh. “Chị mua đám thỏ sống này ở đâu cơ chứ?”
“Chúng tôi không mua.” Bà Burnaby gấp gáp. “Cyril đã mang đến - ông Parker ấy, cậu biết mà.” Bà ấy vội vàng giải thích, đôi má bỗng chốc hay đỏ khi bắt gặp ánh nhìn dò xét dữ dội. “Ông ấy gửi khá nhiều gia cầm, thỏ và tất thảy nhu yếu phẩm cho Frank từ trang trại nhỏ trong khuôn viên của mình.”
“Chà!” Đôi mắt vị tiến sĩ phản chiếu trên chiếc xoong. “Hừm! Ông ta tự mình nuôi chúng sao? Trang trại đó ở đâu nhỉ?”
“Ở Eltham. Thực ra nơi đó không giống một trang trại cho lắm. Ông ấy chỉ nuôi thỏ, gà và chim bồ câu trong góc sau vườn mà thôi.”
“Đầu bếp của chị là người Anh sao?” Tiến sĩ Burnaby hỏi, liếc nhìn nồi thịt hầm thêm lần nữa. “Có vẻ Frank yêu đồ ăn nước Pháp hơn đấy.”
“Chúa ban phước lành cho cậu, Jim ạ.” Ông Burnaby lên tiếng. “Tôi có mấy khi phải phụ thuộc vào đầu bếp đâu cơ chứ. Một người sành ăn được nuông chiều, nâng niu vị giác như tôi ư. Margaret là người chuẩn bị hầu hết các món ăn bằng chính đôi bàn tay màu nhiệm của cô ấy. Đầu bếp không thể làm ra thứ mỹ vị ấy được đâu.” Vừa dứt lời, ông ta tự mình lấy thêm phần thịt hầm nữa.
Bên này, Tiến sĩ Burnaby dường như rơi vào khoảng đăm chiêu nghĩ ngợi xa xăm về thông tin vừa thu nhận. Sau đó, anh ta đột ngột thay đổi chủ đề từ việc nấu nướng qua Lindisfarne Gospels và rồi chiếc cằm của ông Burnaby cứ thế chuyển động qua lại theo từng nhịp kể. Đối với cảm tình của Burnaby trên tư cách là một học giả khi được đặt vào mớ bản thảo của những năm 700 - 800 cùng kho tri thức uyên bác hẳn cũng tuyệt diệu như chính sự nhiệt thành của anh ta vậy.
“Ôi! Hãy dùng bữa tiếp đi nào Frank, anh đang tự biến mình trở thành tên ba hoa chích chòe rồi đấy.” Bà Burnaby kêu lên. “Đồ ăn lạnh ngắt hết cả.”
“Anh cũng cho là vậy, em yêu ạ.” Ông Burnaby thừa nhận. “Nhưng sẽ chẳng mất thì giờ mấy nữa. Anh chỉ muốn cho Jim xem những mẫu thạch bản của cuốn Durham mà thôi. Xin lỗi em.”
Dứt lời, ông ấy đứng dậy rời khỏi bàn ăn và lao về phía phòng đọc sách liền kề, và gần như ông Burnaby đã trở lại ngay tắp lự, trong tay cầm tập hồ sơ nhỏ.
“Đây là những tấm thạch bản được khắc trên kim loại.” Ông ấy nhanh nhẹn, đưa tập tài liệu cho em trai mình. “Cậu quan sát thật kĩ chúng đi trong lúc tôi giải quyết món nợ với đống đồ ăn thức uống.”
Bộ dao nĩa được ông ấy nâng lên, dường như bữa ăn đang tiếp diễn. Chẳng được mấy hồi, ông ấy lại đặt chúng xuống và ngả thân mình ra sau ghế. “Rốt cuộc thì tôi chẳng biết mình đang mong cầu điều gì nữa.” Ông Burnaby như rơi vào trầm tư.
Chính tông giọng có phần khác lạ khiến tôi phải ngoái lại nhìn, dĩ nhiên, bằng cặp mắt đầy phán xét; bởi cuộc hội thoại giữa tôi và em trai ông Burnaby trước đó đã khiến tôi không tránh khỏi cảm giác bồn chồn lo lắng, e ngại rắc rối có thể xảy đến trong tương lai. Tôi đang tận hưởng trọn vẹn giây phút hiện tại, chúng quá đỗi yên bình còn tôi thì an lòng. Và rồi, mặt ông ấy đỏ bừng lên kèm xúc cảm âu lo cực độ, tôi cố ép bản thân tỏ ra điềm tĩnh khi bên trong như có ngàn con sóng cuộn trào. “Sức khỏe của ông đang ở trạng thái ổn định, tôi vẫn hy vọng là vậy, ông Burnaby ạ.”
“Chà, không khá khẩm là bao.” Ông ấy nặng nề đáp. “Mắt tôi hơi mờ đi còn cổ họng thì…” Cơ môi của ông ta run lên bần bật và phải gắng gượng lắm mới nuốt khan được xuống.
Tôi như kẻ mất trí gấp gáp đứng bật dậy, và rồi bắt gặp ánh nhìn đầy kinh hãi từ bà Burnaby, tôi tiến lại gần hơn và nhìn vào đôi mắt của ông ấy. Ngay sau đó, tim tôi hẫng hụt rồi quặn thắt lại. Đồng tử của ông Burnaby đã nở to gấp đôi kích thước tự nhiên mà chúng vốn có, đôi mắt sẫm màu lộ ra từng vệt lấp lánh quá đỗi thân quen. Tôi cảm nhận được nỗi khiếp đảm đến là kinh hoàng đang run rẩy rồi đầy ự, lấp liếm qua từng kẽ hở chực chờ gào lên trong tôi, và, khi tôi nhìn vào khuôn mặt ngập tràn thảng thốt của Burnaby, những câu thoại đáng quan ngại của em trai ông ấy vang vọng bên tai tôi. Có đúng không khi tôi là kẻ đang đợi “cuộc tấn công tiếp theo ập tới và rồi lại trông chờ vào những cuộc điều tra”?
Các triệu chứng, một khi đã xuất hiện, sẽ tiến triển vô cùng nhanh chóng. Từng chút một, thể trạng của ông ấy ngày càng tệ đi, đồng tử dãn rộng không thể kiểm soát, dấu hiệu đáng báo động về mức độ của vụ ngộ độc. Tôi lao vội ra hành lang để lấy túi đồ cấp cứu, và khi trở vào trong, tôi trông thấy ông Burnaby đứng dậy, đôi tay quờ quạng, mò mẫm như bị thui chột không tìm ra ánh sáng, chỉ đến khi vợ ông ta, tái mét và run rẩy, nắm chặt lấy cánh tay và dẫn ông ấy ra khỏi cửa.
“Tốt hơn hết là tôi tiêm cho ông đây một liều pilocarpine ngay lập tức.” Tôi nói, rút vội kim tiêm dưới da rồi liếc nhìn Tiến sĩ Burnaby lúc này đang quan sát nhất cử nhất động với vẻ điềm nhiên cực độ.
“Vâng!” Anh ta đồng ý. “Kèm một chút morphine nữa nhé! Có lẽ anh ấy sẽ cần một liều lượng nhỏ chất kích thích. Tôi sẽ không can thiệp vào việc này đâu; đó là cách duy nhất để tôi tránh trở thành kỳ đà cản mũi.”
Tôi tiếp bước theo ông Burnaby lên phòng ngủ và tiêm thuốc giải độc ngay tắp lự. Sau đó, trong khi ông ấy được vợ giúp cởi bớt trang phục mặc trong nhà, tôi rảo bước đi xuống cầu thang để tìm brandy và nước nóng. Khi chuẩn bị tiến vào phòng ăn, qua khe cửa hé mở, tôi trông thấy Tiến sĩ Burnaby đang đứng cạnh lò sưởi cùng chiếc túi đã mở sẵn - được lấy từ phía hành lang - đặt lên bàn trước mặt, trong tay là chiếc lọ thủy tinh nhỏ nhắn, tinh xảo kiểu bohemian được đặt trên mặt lò sưởi trước đó. Vô tình thay, tầm nhìn của tôi đã bắt trọn khoảnh khắc ngắn ngủi ấy; trước hành động đầy vẻ kệch cỡm của tôi, anh ta cẩn trọng đặt món đồ tin hin trở vào túi và đóng lại, chiếc chìa khóa tí hon bỗng trở nên hữu dụng, và chúng cũng bị nhét vào túi theo cái cách vô cùng gọn ghẽ, khẽ khàng.
Hành động ấy quá đỗi dị thường, nhưng, tất nhiên rồi, đó lại chẳng phải mối bận tâm lớn nhất của tôi. Dẫu vậy, thay vì tiến tới phòng ăn, tôi lặng lẽ lẻn vào phòng bếp và tự mình đi lấy nước nóng. Khi quay trở ra, chiếc túi đã được đặt trên bàn ngay sảnh còn Tiến sĩ Burnaby thì đi đi lại lại trong phòng ăn, theo một cách có nhịp điệu. Anh ta đặt ra vài điểm nghi vấn trong khi tôi đang loay hoay tìm brandy, và sau đó, thật bất ngờ khi anh ta ngỏ ý được phụ tôi một tay, bệnh nhân là ông Burnaby chứ chẳng phải ai khác.
Khi những bước chân nặng nề tiến gần hơn tới phòng ngủ, chúng tôi thấy Burnaby tội nghiệp đang nằm vật trên giường, không mảnh vải che thân, còn thể trạng thì quá mức tồi tệ; và khi sự sợ hãi cùng nỗi đau về thể xác dần xâm lấn, con người ta sẽ phải hứng chịu nỗi đau bất tận khác về mặt tinh thần.
Vợ ông ấy xếp bằng hai chân bên giường, mặt cắt không còn giọt máu, đôi mắt đỏ hoe và rõ ràng bà ấy đang rất hoảng loạn, dù cho hằng hà sa số những xúc cảm tiêu cực ấy đang hiển hiện rõ ràng thì chúng cũng được gói ghém trong câm lặng cùng khả năng kìm nén ở mức vượt ngưỡng. Chúng tôi lại gần hơn nữa, bà Burnaby vội đứng dậy và nhường lối. Trong lúc cả hai tiến hành bắt mạch và lắng nghe nhịp đập hối hả của bệnh nhân, thì ở góc này, bà ấy vẫn cứ lặng lẽ chuẩn bị tươm tất cho mũi tiêm tiếp theo.
“Cậu có nghĩ anh ấy sẽ chết không?” Bà Burnaby thì thầm khi Tiến sĩ Burnaby trả lại ống tai nghe cho tôi.
“Suy nghĩ cũng vô ích.” Lời nói thốt ra mới khô khan làm sao - và với tôi, chúng quả thật khá là tàn nhẫn. “Rồi chị sẽ được biết ngay thôi.” Khi nói những điều này, anh ta quay lưng lại với bà ấy và nhìn anh trai mình, cặp chân mày co rúm một cách ảm đạm.
Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, câu hỏi trên vẫn để ngỏ lời hồi đáp. Thời gian như dần trôi qua kẽ tay, tôi trông ngóng dõi theo một sợi rung cảm rõ rệt hơn từ mạch đập cuồng điên của ông ấy dồn dập rồi vụt tắt; để nghe hơi thở đầy khó nhọc trong tiếng lạch cạch chợt chìm sâu. Đôi lúc, chúng tôi thận trọng tăng lượng thuốc giải độc và thuốc phục hồi nhưng phải thú thực rằng hy vọng còn sót lại vô cùng mong manh. Tiến sĩ Burnaby lộ vẻ bi quan trông thấy. Và khi giây phút mệt nhoài cứ kéo dài mãi, trong thoáng chốc tôi đã trông chờ sự xuất hiện của thiên sứ, thật tội lỗi biết bao. Và cũng chính thời khắc đó, một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu tôi bỗng chốc bật sáng, câu hỏi mà dường như tôi chẳng dám cho phép bản thân nghĩ tới. Rằng ý nghĩa của tất cả mớ hỗn độn này là gì? Chất độc đến từ đâu? Và tại sao, trong gia đình này, nó lại chỉ tìm đến duy nhất một người là ông Burnaby - kẻ không đội trời chung với thứ chất lỏng ấy?
Cuối cùng, sau tất cả mọi chuyện, sự chuyển biến bắt đầu bén rễ và xuất hiện với ông ấy; mớ nhận thức khuất lấp ở thời điểm trước đó hay chính sự thiếu vắng một lời quả quyết. Thì giờ đây, sau cả quãng thời gian đủ dài đã trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết; và sau đó, một cách nhanh chóng, các biểu hiện dần sắc nét. Ông Burnaby giờ đây có thể nuốt xuôi những ngụm cà phê một cách dễ dàng với vẻ thích thú; tim ông ấy đập chậm hơn; hơi thở dần đi vào quỹ đạo một cách nhịp nhàng, và không lâu sau đó, khi morphine bắt đầu phát huy tác dụng, ông ấy đi vào giấc ngủ chập chờn và chìm dần vào cơn mê man câm lặng.
Tiến sĩ Burnaby cất lời. “Anh ấy sẽ lại rơi vào trạng thái này thêm lần nữa, vậy nên tôi không thể ở lại đây lâu hơn. Chúng đang rất gần rồi, Jardine ạ, gần đến mức khó tin.”
Anh ta vội bước ra cửa, khi đã ra đến bên ngoài, anh ta quay lại và cúi chào chị dâu của mình, một cách nặng nề đầy vẻ khiên cưỡng. Tôi theo sau anh ấy xuống cầu thang, hy vọng sẽ gợi lại chủ đề về chuyến viếng thăm đường đột này của hai chúng tôi. Nhưng rồi mọi thứ dần chìm vào quên lãng, thật tình, tôi không nhận được bất kì câu trả lời nào từ phía anh ta cho đến khi anh ấy dừng lại nơi ngưỡng cửa với chiếc túi trên tay. Và rồi, bỏ lại một lời nhận xét khó hiểu. “Chà, Jardine này,” anh ấy nói. “Cuốn sách Durham đã cứu anh trai tôi một mạng. Nhưng với những tấm thạch bản đó, thì anh ấy đã chết rồi.” Dứt lời, anh ta liền rời đi, bỏ lại tôi cùng mớ bùng nhùng, tôi đang cố đưa ra lời giải thích hợp lý nhất trước câu nói đầy ý nhị vừa nghe.
Mười lăm phút sau, khi Burnaby đã yên giấc và có vẻ như không còn mối hiểm nguy nào rình rập ông ấy nữa, tôi cất bước ra về, và ngay khi những bước chân cuối cùng khuất dạng sau cánh cửa, tôi bắt đầu thực hiện kế hoạch đã nung nấu trong tâm tưởng ngay phút chót. Một bí mật nào đó trong sự vụ đã vượt qua khả năng của tôi. Nhưng chúng nên được giải quyết, không chỉ vì mạng sống của ông Burnaby, mà còn vì danh dự của tôi nữa; bởi vậy mà tôi đã đưa ra quyết định có phần táo bạo lắm, là trình bày toàn bộ sự việc với anh bạn tôi, đồng thời cũng là người thầy cũ, Bác sĩ Thorndyke, để tìm kiếm lời khuyên từ anh ấy, và có thể cả sự hỗ trợ nữa.
Đã quá mười giờ, nhưng tôi vẫn quyết tâm tận dụng cơ hội này để mò đến căn phòng và gặp chủ nhân của nó, theo đó, sau khi tìm được một chiếc taxi, tôi dặn tài xế thả tôi xuống cổng của ngõ Inner Temple. Với kinh nghiệm dày dạn về thói quen của Thorndyke đã cho tôi chút hy vọng rằng mình sẽ không nhận lấy sự cáu kỉnh bởi vụ việc giời ơi đất hỡi này, và khi chiếc xe đỗ phịch tại số 5A King’s Bench Walk, ngón tay tôi thu về một nắm và nện từng hồi lên cánh cửa như khủng bố chủ nhân của nó. Thật nhẹ nhõm làm sao khi thấy anh ta không chỉ có mặt tại nhà mà còn chăn đơn gối chiếc trong ngôi nhà của mình.
“Quả là thời điểm thích hợp để nện anh một trận ra trò.” Tôi hào hứng khi anh ta bắt tay. “Nhưng tôi đang mắc kẹt bởi vụ việc nghiêm trọng lắm anh bạn ạ, vấn đề rất cấp bách, vậy nên…”
“Vậy nên anh đã dành lời khen có cánh vì coi tôi là bạn anh hay sao. Anh ta vui vẻ. “Không sao nhầm lẫn được. Nói cho tôi biết chuyện quái gì đang ám anh?”
“Thật khó mà hiểu cho nổi, tôi gặp một trường hợp tái ngộ độc atropine và sự vụ ấy khiến tôi hoàn toàn bó tay.”
Và cứ thế, tôi thao thao bất tuyệt về hàng tá những điều xảy đến vô cùng hăng say, nhưng chỉ sau vài phút, anh ta đã cắt ngang dòng hồi ức của tôi.
“Jardine, mấy thông tin sơ sài đó không giúp ích được gì đâu.” Anh điềm nhiên. “Đêm còn dài. Chúng ta có cả chuỗi các sự kiện đầy đủ của vụ án, với các chi tiết cụ thể và những người liên quan cùng mối quan hệ dây mơ rễ má của họ. Và đừng bỏ sót bất cứ tình tiết vụn vặt nào.”””
Anh ta thả mình xuống ghế và để cuốn sổ ghi chép lên đầu gối, tẩu thuốc châm lên đỏ au lập lòe cháy cũng là lúc tôi lao vào câu chuyện về kỳ án bí ẩn, bắt đầu với sự cố hi hữu xuất hiện bởi thuốc nhỏ mắt và kết lại bằng chuỗi các sự kiện đáng báo động vào buổi tối ngày hôm nay.
Anh ta chăm chú lắng nghe, không ngắt lời ngoại trừ đôi lúc có hỏi về các mốc thời gian, cuốn sổ được lấp đầy kèm vài dòng chú thích. Khi tôi dứt lời, anh ta đặt cuốn sổ qua một bên, các ngón tay vừa gõ nhịp trên thân tẩu vừa nhận xét: “Jardine à, đây là một vụ việc rất đáng để tâm, và điểm thú vị hơn cả nằm ở tính chất bất thường của chất độc.”
“Ôi, hượm đã nào anh bạn!” Tôi kêu lên. “Tôi đâu phải nhà độc chất học. Tôi là bác sĩ đa khoa cơ mà; và tôi chỉ muốn biết mình nên làm gì, chỉ vậy thôi.”
“Tôi cho là,” anh ta tiếp lời, “nhiệm vụ của anh rất rõ ràng rồi. Liên lạc với cảnh sát đi, một mình hoặc cùng một thành viên nào đó khác trong gia đình bệnh nhân.”
Bàng hoàng quá thể, tôi nhìn anh ta chòng chọc. “Nhưng…” Lời nói thốt ra mới ấp úng làm sao. “Tôi có gì để báo cảnh sát cơ chứ?”
“Những gì anh vừa thuật lại cho tôi. Anh ta trả lời. “Tóm tắt thật ngắn gọn thì là: Frank Burnaby đã ba lần bị ngộ độc atropine, bỏ qua vụ thuốc nhỏ mắt. Mỗi lần vụ việc xảy đến đều liên quan tới đồ ăn do bà Burnaby chuẩn bị và ông Cyril Parker là người cung ứng.”
“Nhưng, lạy Chúa tôi!” Tiếng kêu phát ra nghe sao mà thảng thốt. “Anh nghi ngờ bà Burnaby sao?”
“Tôi không nghi ngờ ai cả.” Anh ta đáp. “Chắc hẳn đó không phải một vụ đầu độc mang tính hình sự. Nhưng ông Burnaby cần được bảo vệ, và vụ án chắc chắn cần phải điều tra.”
“Anh nghĩ sao nếu tôi tự mình đi tìm câu trả lời?”
Thorndyke chưng hửng đáp lại. “Ông Burnaby có thể đi đời trước khi anh kịp tìm ra đáp án, anh bạn của tôi ơi. Trong khi đó, vài cuộc điều tra từ phía cảnh sát có thể chấm dứt sự vụ này, trừ khi vụ việc xảy đến theo cái cách mà ta không sao lường trước được.”
Đó là tất thảy những gì anh ấy gửi gắm đến tôi, trớ trêu thay khi chúng đều mang dáng vẻ thật sự đúng đắn. Thế rồi, tôi có cảm tưởng như một nhiệm vụ khó khăn khủng khiếp đang đè lên khoang ngực; chỉ đến khi từng bước chân nặng nề đưa tôi trở về nhà, thì khi ấy, tôi mới gắng mình thiết lập một kế hoạch làm dịu bớt cơn bức bối đang đè nén. Quyết định cuối cùng của tôi là thuyết phục bà Burnaby gia nhập nhiệm vụ ấy.
Trên đời này, những điều ta mong cầu đều chẳng mấy khi được thành toàn. Khi tôi đến thăm gia đình Burnaby vào buổi sáng nọ, thấp thoáng đâu đó chiếc taxi đậu đối diện ngay cửa, cô hầu gái nhận ra tôi, trông như thể cô ấy vừa bắt gặp một con quỷ giữa ban ngày ban mặt.
“Sao vậy Mabel, có chuyện gì vậy?” Tôi buông lời hỏi han trong lúc cô ấy gấp gáp xen chút hồ hởi đưa tôi vào phòng khách, như một con người khác vậy.
Cô ta lắc đầu nguầy nguậy. “Tôi chẳng biết nữa, thưa ông. Tôi e chuyện chẳng mấy tốt đẹp sắp gõ cửa tới nơi, khủng khiếp vô cùng tận ấy chứ. Tôi sẽ báo với ông bà chủ là ông ghé qua.” Dứt lời, cô ta khép vội cánh cửa và rời đi.
Nghi thức đón tiếp quá mức trang trọng cùng phong thái nghiêm cẩn của cô hầu gái nhen nhóm trong tôi một dự cảm chẳng lành. Trùng hợp biết bao khi những nghi vấn cứ quẩn quanh trong đầu tôi rằng chuyện gì đang diễn ra thì đã được đáp lời bởi sự xuất hiện của một người đàn ông cao lớn thật giống lính canh trong bộ mufti.
“Bác sĩ Jardine?” Anh ta cất lời; tôi khẽ gật đầu, ra điều xác nhận câu hỏi trên, anh ta giải thích, đưa tấm danh thiếp trước mặt tôi. “Tôi là thám tử Lane. Vừa nhận được chỉ thị điều tra một số thông tin. Nhân chứng cho biết ông Frank Burnaby đang kiệt quệ lắm bởi chất độc. Tính tới thời điểm hiện tại, cảm phiền ông hãy cho tôi biết điều đó có phải sự thật hay không?”
“Tôi hy vọng sức khỏe của ông ấy đã được kiểm soát tốt và đang dần hồi phục.” Tôi trả lời. “Nhưng đêm qua, cơn đau lại xuất hiện và nguyên nhân không gì khác ngoài ngộ độc atrophine.”
“Trước đó, ông ấy có từng rơi vào trạng thái tương tự với cùng một loại thuốc không thưa ông?” Viên trung sĩ gấp gáp.
“Có,” tôi đáp. “Đây là lần thứ năm rồi, hai lần đầu rõ ràng là do thuốc nhỏ mắt mà ông ấy sử dụng.”
“Vậy những trường hợp còn lại thì sao, ông có biết làm thế nào chất độc có thể ở đó không? Chẳng hạn như làm sao chúng có thể ở trong thức ăn ấy?”
“Tôi mù tịt, ngài trung sĩ đáng kính của tôi ạ. Tôi chẳng thu thập được gì thêm ngoài những điều tôi vừa trình bày với anh; và, tất nhiên rồi, tôi sẽ không đưa ra bất kì phỏng đoán nào. Ta có được phép ép cung để tìm ra lời khai không?”
“Tôi e là không, thưa ngài.” Tay trung sĩ quả quyết. “Nhưng ông sẽ biết sớm thôi. Tôi đã tiếp nhận lời cáo buộc mang tính xác thực rất cao chĩa về phía bà Burnaby - vụ bắt giữ vừa mới thực thi đây thôi - chúng tôi cần thêm bằng chứng từ phía ông để khởi tố vụ án.”
Cặp mắt tôi dán chặt vào cơ hàm không ngừng chuyển động của anh ta khi điểm nhìn không lay động, thất kinh đến tột độ. “Ý anh là…” tôi hổn hển, “… là anh đã bắt giữ bà Burnaby rồi sao?”
“Chính là vậy.” Anh ta ráo hoảnh. “Về tội hạ độc chồng mình.”
Tôi choáng váng như sét đánh ngang tai. Tuy nhiên, ký ức gợi nhắc tôi về những lời của Thorndyke, những phỏng đoán mơ hồ của tôi đã bị anh ta bác bỏ một cách vội vàng, thật chẳng mấy kinh ngạc khi lại rơi vào tình cảnh oái oăm thế này.
“Tôi có thể nói đôi lời với bà Burnaby được không?”
“Một mình thì không!” Anh ta tỏ vẻ bực dọc. “Và tốt hơn hết là không. Tôi chẳng có ý muốn làm khó gì ông sất, nhưng nếu ông vẫn khăng khăng muốn gặp bà ấy thì tôi vẫn có cách cho ông thôi, chỉ là nếu ông có đôi chút lòng thành thì tôi đồng ý.” Thanh âm ấy mới dõng dạc làm sao.
Tôi nối gót theo anh ta xuống tới phòng ăn. Bà Burnaby ngồi im bất động như cành cây khô trên ghế, mặt mũi tái xanh còn phần hồn thì đã phiêu bạt nơi nào. Dẫu vậy, bà ấy vẫn giữ được nét điềm nhiên sẵn có mặc cho nỗi kinh hoàng chẳng thể nén nhịn vào trong. Đối diện với bà ấy là một người đàn ông mang dáng dấp quân nhân đang hóa đá ngay cạnh bàn, vẻ mặt của anh ta khiến tôi vô thức tin rằng, sự hiện diện của bà Burnaby đã rơi vào quên lãng, và anh ta cũng chẳng để ý gì đến việc mỗi bước chân của tôi đang tiến gần tới tù nhân của anh ta và khẽ chạm và bàn tay của bà ấy.
“Tôi đến rồi đây, thưa bà Burnaby.” Giọng tôi đanh lại. “Tôi đến để hỏi xem bà có muốn tôi giúp gì không. Ông Burnaby có biết tới sự việc khủng khiếp này hay không?”
“Không đâu.” Bà ấy dứt khoát quá thể. “Vào thời điểm chín muồi, ông có thể báo tin; nếu bất trắc, tôi mong ông hãy đánh tiếng với cha tôi sớm nhất có thể. Đó là tất cả những gì ông có thể giúp tôi vào lúc này, và hơn nhất là ông hãy rời khỏi nơi đây ngay đi, chúng tôi không thể giữ nổi ông nữa. Xin cho tôi cáo lỗi.”
Bà ấy bắt tay tôi mà không mảy may xúc cảm, tôi chẳng thể làm gì khác ngoài ấp úng dăm ba câu động viên an ủi kèm cảm thông mơ hồ, những bước chân rảo vội ra khỏi phòng ăn. Cuối hành lang ấy, bóng lưng tiều tụy của bà Burnaby in hằn trong tâm trí tôi lần sau cuối.
Thật may mắn khi sự ân cần chu đáo cùng lịch thiệp vẫn được đội ngũ sĩ quan duy trì. Khi bà Burnaby xuất hiện, họ đã phục dịch rất tận tình và cung kính nhất định.
Khi viên trung sĩ chạm vào tay nắm để kéo cánh cửa bước ra mặt đường lớn thì chuông cửa vội reo; và khi chúng được mở ra, ông Parker đã đứng ở ngưỡng cửa từ hồi nào. Ông ta, đã rất mong cầu được nói đôi lời với bà Burnaby nhưng bà ấy chỉ đáp lại bằng việc khẽ cúi đầu, chẳng ngại lướt ngang qua người ông ấy, đôi chân nện nhịp nhàng trên các bậc thang đi xuống, đi trước là trung sĩ, theo sau là thám tử. Viên trung sĩ khéo léo mở cửa xe cho bà ấy, sau đó anh bước vào trong, cánh cửa dần khép lại. Còn vị thám tử thì đã yên vị bên cạnh tay tài xế cùng chiếc taxi vội vàng lăn bánh.
“Chuyện quái gì đang xảy ra vậy, Jardine?” Parker giương ánh nhìn ngập trong lo lắng sợ sệt chiếu về phía tôi. “Những người đó, họ trông thật giống mấy tên sĩ quan mặc thường phục.”.
“Là họ đấy!” Tôi đáp lại bằng câu trả lời chắc nịch. “Bà Burnaby vừa bị bắt vì tội âm mưu hạ độc chồng mình.”
Tôi những tưởng Parker sẽ đổ rạp như lá rụng về cội. Mà thật vậy, ông ta loạng choạng bước đến chiếc ghế, suy sụp đến độ đổ gục không sao kiểm soát. “Lạy Chúa tôi!” Ông ta hổn hển. “Chuyện ấy thật khủng khiếp! Không thể có bất kì bằng chứng nào, bất kì cơ sở thực tế nào để các người nghi ngờ cô ấy. Tất cả chỉ là phỏng đoán thôi đúng không, thật quá đỗi hoang đường. Ai, ai là người châm ngòi cho sự vụ này.”
Nỗi hoài nghi trong tôi không phải ngày một ngày hai, nhưng rồi chúng đã bị bỏ xó mà chẳng mảy may đả động tới; tôi đưa ông Parker tới phòng ăn cũng như giải thích thêm đôi chút về sự tình vừa xảy đến, và rồi tôi bước từng bước trên chiếc cầu thang, nuốt ngược những ngụm khí lớn để tiếp thêm sức mạnh, đương đầu với sự thể chẳng mấy tốt lành.
Ông Burnaby dần hồi phục, dù cho tác dụng phụ của morphin khiến ông ấy rơi vào trạng thái hôn mê sâu, âu cũng là điều khó tránh khỏi. Thế rồi, tin tức mà tôi đem đến đã đánh thức ông ấy một cách vô cùng hữu hiệu. Trong thoáng chốc, chiếc giường như hoàn toàn bốc hơi, ông ấy vội vàng sửa soạn áo quần; và mặc cho gương mặt xanh xao xám xịt, hốc hác đến là thảm thương như thể nhắc nhớ rằng vụ thảm họa vừa ập tới là một cú hích đau điếng đến nhường nào. Điểm duy nhất còn sót lại là sự bình tĩnh và thông tuệ, chúng được bảo toàn vẹn nguyên.
“Thật vô nghĩa khi chúng ta ở đây và thả trôi mớ xúc cảm hỗn độn này, thưa bác sĩ.” Ông ấy hồi đáp lại sự cảm thông đầy nhiệt thành của tôi. “Margaret đang bị đặt vào tình thế hết sức gay go. Anh nghĩ xem cô ấy là ai - một phụ nữ trẻ trung tràn đầy nhựa sống - và tôi là ai cơ chứ, thật chẳng tốn mấy mươi thì giờ để nhận ra điều đó. Không thể chần chừ thêm nữa đâu. Tôi phải sắp xếp một chuyến để ghé thăm cha nàng, ông ấy là một luật sư có năng lực; để cứu vãn tình thế chúng ta phải nhờ tới một luật sư hàng đầu.”
Quả là thời cơ tốt để đề cập đến những phẩm chất đặc biệt của Thorndyke trong trường hợp cần kíp thế này, dĩ nhiên rồi, nói là làm. Ông Burnaby tỏ vẻ rất lưu tâm, nhưng hình như lại chẳng tha thiết mấy; dẫu vậy, ông ấy vẫn trả lời một cách thận trọng. “Chúng ta vẫn là nên tìm kiếm lời khuyên từ một người có chuyên môn nghiệp vụ về luật pháp như Harratt thì hơn; nhưng nếu anh vẫn để tâm; trong khi chờ đợi, hãy thỉnh thị thêm ý kiến của Bác sĩ Thorndyke, bằng tất cả sự tín nhiệm của tôi nhé. Yên tâm vì tôi sẽ nói lại với Harratt.”
Tôi rời đi, chẳng hề nhẹ nhõm như tôi vẫn tưởng trước cách mà ông ấy đón đầu cơn bão; ngay sau khi giải quyết xong phần việc còn dang dở của mình, tôi lên đường đến phòng của Thorndyke, vừa kịp lúc anh ta trở về từ tòa án.
“Chà, Jardine.” Anh ấy cất giọng khi tôi đang mải miết lật lại quá khứ. “Tôi giúp gì được cho anh đây?”
“Bằng bất cứ giá nào, xin anh, hãy chứng minh bà Burnaby vô tội.” Tôi dõng dạc.
Anh ấy ra vẻ trầm ngâm đăm chiêu mất một quãng; rồi nói, trầm tĩnh nhưng khá nghiêm túc. “Tôi không phải người có thói quen đưa ra bằng chứng theo góc nhìn chủ quan đơn chiều. Một nhân chứng có chuyên môn thì không thể đảm đương vai trò của người biện hộ. Nếu tôi điều tra bằng chứng trong trường hợp này, người hứng chịu nhiều rủi ro nhất chính là anh, với tư cách là người đại diện cho bị cáo, bất kì sự thật nào, có hại đến đâu, mà nhân chứng sở hữu sẽ phải được tiết lộ trước các điều khoản của lời thề, chưa kể đến nghĩa vụ rành rẽ của mỗi người để đạt được mục đích công lý. Với tư cách là một luật sư, và nhìn ra sự thật ẩn sau lớp vỏ bóng bẩy mà bọn họ đang cố gắng vẽ nên, tôi khuyên anh hãy suy xét kĩ lưỡng việc thuê tôi để điều tra sự vụ trên hay đi sâu thêm nữa.
“Nhưng tôi có đề xuất thế này. Đối với tôi, dường như vụ việc còn nhiều điểm chưa thỏa đáng cùng vô vàn góc khuất cần làm sáng tỏ. Hãy để tôi tự mình điều tra. Nếu những gì tôi thu thập được mang lại kết quả khả quan, tôi sẽ báo với anh, và khi đó tôi có thể đề bạt với anh về việc làm chứng. Nhưng nếu họ đưa ra kết luận chẳng mấy hay ho gì, thì tốt nhất là anh nên để tôi rút khỏi vụ án này thì hơn.”
Gợi ý của Thorndyke khiến tôi chẳng còn đường lui; vậy mà sau khi rời khỏi nhà Thorndyke, tôi thất thểu như đeo gông vào cổ cùng cảm giác chán nản đến là thảm thương. Anh ấy đề cập đến “giá trị quan bề mặt của chuỗi sự kiện đã biết” rõ ràng ngụ ý rằng sự thật ấy có hại cho bị cáo; trong khi “khả năng có thật trong tương lai” lại lặn tăm không chút gợi mở ngoài niềm hy vọng đến tuyệt vọng mà anh ấy không đặt quá nhiều kỳ vọng.
Tôi đâu nhất thiết phải dõi theo sự kiện ngấy đến tận cổ, vắt kiệt sức lực này một cách tường tận. Tại phiên điều trần đầu tiên trước thẩm phán, cảnh sát chỉ nêu cáo buộc và đưa ra bằng chứng về việc bắt giữ, cả họ và người bào chữa đều yêu cầu tạm giam và dường như không muốn động tay động chân gì. Theo đó, vụ án đã bị hoãn lại bảy ngày, từ chối bảo lãnh, còn tù nhân thì tạm giam.
Trong bảy ngày buồn tẻ dài như thế kỷ đó, tôi đã dành phần nhiều thời gian để có thể ở bên ông Burnaby, và dù cho tôi vô cùng mến mộ lòng can trường cùng nội lực phi thường toát ra từ khí khái ngay thẳng thì điều đó cũng không cách nào che đậy nổi khuôn mặt ủ dột đến là xanh xao của ông ấy, đã có lúc chúng khiến tim tôi quặn thắt lại. Chỉ vài ngày đó thôi, ông ấy dường như đã biến thành ông lão già nua. Tại nhà riêng của Burnaby, tôi gặp ông Harratt, cha của bà Burnaby, một người đàn ông có phẩm cách tôn nghiêm, đường hoàng và là vị luật sư mẫu mực điển hình; quả là lâm ly đến không tả xiết khi phải chứng kiến cảnh người cha, người chồng của một người phụ nữ đang gánh trên mình tội danh không tưởng, người này gắng động viên người kia vững tin trong khi cả hai đều đang giằng xé bởi nỗi bất an bủa vây cùng sự sợ hãi không sao giấu nổi. Có lần, ông Parker xuất hiện, dáng vẻ tiều tụy hốc hác ghê lắm, nét mặt tuyệt vọng còn hơn cả hai người đàn ông còn lại. Nhưng rồi ông Harratt tỏ vẻ hờ hững lạnh nhạt, nghiêm khắc quá thể, tới mức ông ta mất dạng và chẳng còn ghé lại cho một cuộc thăm hỏi nào khác. Những dịp gặp gỡ thế này, chúng tôi được mặc sức thảo luận về vụ án, nhưng đó lại là nỗi phiền đau và thống khổ của tôi. Bởi chính tôi đây, cũng không sao tìm được bất kì chứng cứ minh bạch nào để có thể đưa ra nhằm hỗ trợ trực tiếp cho việc truy tố.
Bởi vậy mà khi sáu trong số bảy ngày đã kết thúc, suốt thời gian đó không có thêm chút động tĩnh gì từ phía Thorndyke. Nhưng rồi, vào những phút giây cuối cùng của ngày thứ 6, tôi nhận được lá thư của anh ta, cụt lủn và lạnh nhạt, dẫu vậy, chúng vẫn ánh lên một tia hy vọng le lói. Tin vắn ngắn gọn như sau:
Tôi Tôi đã giải xong nhữà tôi đã trao đổi với anh và tôi cho rằng vấn đề này đáng được lưu tâm lắm. Tôi đã viết thư gửi cho ông Harratt để khuyên ông ấy những gì nên làm.
Lời giao thiệp có phần màu mè quá sức. Nhưng tôi biết Thorndyke đủ lâu để nhận ra rằng những lời hứa hẹn thường không nói lên kế hoạch tiếp theo của anh ấy. Và ngay sáng hôm sau, khi tôi gặp ông Harratt và Burnaby tại tòa án, phong thái của cả hai có gì đó rất khác lạ - như thể vầng hào quang của niềm mong ngóng một tia hy vọng mới - điều đó cho thấy Thorndyke đã khởi rõ quan điểm với vị luật gia già rồi. Nhưng rốt cuộc, nỗi lắng lo của họ, dù đã được ẩn sâu sau lớp vỏ của lòng can trường thì chúng vẫn khiến bất kì trái tim dù sắt đá đến đâu cũng buộc phải tan chảy.
Cảnh tượng diễn ra tại phiên tòa bỗng chốc hóa thành mớ hoạt cảnh, họa lên ký ức tôi bằng những sắc màu ô uế không sao gột sạch. Là sự pha trộn giữa dơ dáy, bẩn thỉu và cả tấn bi hài kịch, giữa phù phiếm và trang nghiêm đến là ngộp thở - vị quan tòa nghiêm cẩn trên băng ghế, những viên cảnh sát với nét mặt lạnh tanh, đội luật gia đi tới đi lui không ngơi nghỉ còn đám đông phía dưới thì nháo nhào, quần chúng trở nên kích động với chiếc bụng rỗng đang ngóng chờ bữa tiệc thịnh soạn, với những cặp mắt sục sôi háo hức dán chặt vào con mồi trong vở diễn. Phiên tòa như tổ hợp các sự tương phản mà tôi chẳng mong mình sẽ gặp lại lần nữa.
Với tù nhân, sự xuất hiện của bà khiến trái tim tôi bỗng chốc hụt mất vài nhịp, còn miệng thì đắng nghét. Như một bức tượng cẩm thạch kiên cố và gần như trong suốt, bà ấy đứng ở bên dành cho bị cáo, được canh gác bởi hai viên cảnh sát, ánh nhìn đầy hoang hoải như đạp mạnh vào khung cảnh hỗn độn. Bà Burnaby bình thản đến lạ, nét bình thản của một người sẵn sàng đối mặt với lưỡi hái tử thần; và khi công tố viên đứng lên để mở án cho phía cảnh sát, bà ấy đã nhìn anh ta như thể đây mới chính là kẻ tử nạn đón chờ tên đao phủ thừa hành bản án.
Tôi chăm chú lắng nghe bài diễn văn khai mạc gọn ghẽ, tim thòng như thể đeo chì, dù cho vị luật sư, ngài Harold Layton, K.C., đã trình bày vụ án bằng sự công minh tuyệt đối với bị cáo, điều khiến tòa án công lý ở Anh trở thành một thứ khó lòng so bì với thế giới. Nhưng rồi, những sự kiện nhỏ nhặt đến khó hiểu, được đưa ra một cách lố bịch, mà chẳng có bất kì lời bình phẩm nào, điều đó thật khủng khiếp. Không cần đến tài hùng biện hơn người để chỉ ra rằng chính bọn họ đã đi thẳng tới sự dàn xếp cuối cùng rất đáng nguyền rủa.
Frank Burnaby, một người đàn ông luống tuổi, kết hôn với người phụ nữ trẻ trung xinh đẹp, bà ấy đã có ba cơ hội riêng rẽ để tiêm cho chồng mình một loại độc chất chết người, hay nói nôm na là atropine. Thực tế cho thấy, Frank đã bị ảnh hưởng bởi chất độc đó, rằng các triệu chứng chỉ xảy đến sau khi ăn một số món mà chỉ mình ông ta ăn; và rằng mớ thực phẩm nói trên thực tế có chứa chất độc; và chúng lại do chính tay vợ ông ấy, bị cáo, chuẩn bị đặc biệt cho chồng mình. Cho đến thời điểm hiện tại, không có bằng chứng nào về việc bị cáo có được thứ thuốc đó từ đâu hoặc sở hữu bất kì chất độc nào tương tự như vậy, cũng như không có điểm nghi vấn nào về động cơ phạm tội. Tuy nhiên, dựa trên bằng chứng về thuốc độc đã thực sự đưa vào sử dụng, ông ấy buộc phải yêu cầu xét xử tội nhân. Và sau đó, ông ta tiếp tục gọi các nhân chứng, trong đó tôi là người đầu tiên đứng mũi chịu sào. Tôi tuyên thệ và trình bày bản tường trình cá nhân, phía luật sư đưa ra vài câu hỏi gợi mở về sự kiện đã diễn ra trong quá khứ của vụ án mà tôi đã thuộc nằm lòng. Rồi ông ta nói tiếp:
“Về nguyên nhân gây ra các triệu chứng của ông Burnaby, ông có nghi ngờ gì không?”
“Không một điểm bất thường. Chắc chắn là do ngộ độc atropine.”
“Ông Burnaby có phản ứng khác thường nào đối với atropine không?”
“Hẳn vậy. Ông ấy nhạy cảm một cách bất thường khi atropine phát huy tác dụng.”
“Liệu bị cáo có biết điều đó không?”
“Có. Tôi đã truyền đạt điều đó cho bà ấy.”
“Ông Parker đã có mặt tại đó khi tôi đề cập đến vấn đề trên, ông Burnaby và cả em trai của ông ấy nữa, tiến sĩ Burnaby cũng đã nắm được tình hình.”
“Theo quan điểm cá nhân của ông, bị cáo có cách nào sở hữu atropine hay không?”
“Cách duy nhất là kê toa thuốc nhỏ mắt từ bác sĩ nhãn khoa mà thôi.”
“Ngoài cách trên thì sao, loại trừ cả đồ ăn thức uống, ông Burnaby có thể dùng atropine khi nào?”
“Tôi không biết.” Một cách ý nhị nhất có thể, câu nói ấy đã khép lại quá trình cung cấp bằng chứng của tôi. Vậy mà khi rời khỏi khu vực dành cho nhân chứng, tôi ủ dột vì cho rằng mỗi lời nói được thốt ra đều như chiếc đinh ghim chặt vào bóng hình lặng thinh đang phải chịu xiềng xích ở góc ghế dành cho bị cáo kia.
Nhân chứng tiếp theo chính là đầu bếp. Cô ta cho lời khai rằng đã giết và lột da con thỏ, sau đó đưa cho bị cáo, bà chủ đã chế biến thành món fricassee, sau đó bày biện lên bàn ăn. Nhân chứng không tham gia vào quá trình chuẩn bị cũng như có đôi lần vắng mặt trong căn bếp ấy cỡ vài phút, còn bị cáo thì ở đó một mình.
Khi đầu bếp hoàn tất lời khai của mình, cái tên James Burnaby được gọi lên, vị tiến sĩ bước vào khu vực dành cho nhân chứng, thái độ bực dọc chẳng chút che đậy, nét cay nghiệt cùng vẻ cương quyết như tệp vào làm một. Dăm ba câu hỏi đầu tiên khơi gợi hoàn cảnh từ cuộc viếng thăm tư gia của anh trai và cơn bạo bệnh bất ngờ ập tới. Biểu hiện rõ ràng tới mức một nhận định được đưa ra tức thì ngay lúc đó là ngộ độc atropine cấp tính, và có lẽ chất độc ở trong thức ăn chế biến đã được tính toán từ trước.
“Ông đã đi xác minh nhận định trên?” Vị luật sư dò xét.
“Đúng vậy. Ngay khi chỉ còn một mình, tôi đã lấy phần còn lại của thịt thỏ và cho vào lọ thủy tinh tìm thấy trên lò sưởi đã được rửa sạch trước đó. Và rồi, tôi mang mẫu thức ăn đến chỗ Giáo sư Berry, người đã đưa ra những lời phân tích xác đáng trước sự chứng kiến của tôi và phát hiện ra trong mớ thịt đó có chứa atropine. Ông ấy đã thu được 1/30 của hạt atropine sulphate.
“Ý anh đó là liều thuốc độc hay sao?”
“Với người bình thường thì không, dù cho nó đã vượt quá liều lượng cho phép một cách đáng kể. Nhưng với Frank Burnaby thì đây hẳn là liều thuốc độc thực sự. Nếu nuốt phải thứ này, ngoài những gì đã thu nạp trong cơ thể, tôi phải khẳng định rằng nó sẽ giết chết anh ấy.”
Việc truy tố cứ thế kết thúc cùng lời khai hết sức rành rẽ, không còn gì để hoài nghi thêm nữa, sự vụ trên chẳng khác nào vết nhơ hay lời báng bổ cay nghiệt trên nền công lý. Không có đối chất; và vì Thorndyke đã đến trước đó một lúc lâu để trao đổi với ông Harratt cùng cố vấn của ông ấy, tôi kết luận việc bào chữa sẽ diễn ra dưới hình thức phản đòn trí mạng bằng cách nêu ra một sự vụ mới toanh. Thế nên chúng có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Thorndyke bước vào phòng thẩm vấn khi đã loại trừ hết các phần râu ria trước đó, luật sư bào chữa đã “mặc cho anh ta muốn làm gì thì làm”.
“Tôi tin chắc rằng anh đã tiến hành một số cuộc điều tra liên quan đến vụ án này.” Thorndyke tỏ ra đồng thuận và vị luật sư tiếp tục. “Tôi sẽ không đưa ra những câu hỏi cụ thể, nhưng sẽ yêu cầu anh mô tả chi tiết diễn biến từ công vụ cá nhân cũng như kết quả của chúng, đồng thời hãy cho chúng tôi biết nguyên nhân do đâu mà anh phải làm điều này.”
“Vụ án này ấy à.” Thorndyke bắt đầu. “Do bác sĩ Jardine đánh tiếng cho tôi ít lâu trước đó, người đã cung cấp tất thảy những dữ kiện mà anh ấy có được. Những dữ kiện đáng lưu tâm dữ, và khi gom chúng vào một mối, tất cả đã gợi mở ra lời chỉ dẫn khả dĩ cho vụ đầu độc này. Ở đây có bốn điểm trí mạng tồn tại trong vụ án. Thứ nhất, bản chất bất thường của chất độc. Thứ hai, sự nhạy cảm dị thường của ông Burnaby với chất độc đặc biệt. Thứ ba, thực tế cho thấy tất cả thực phẩm chứa chất độc dường như đều được chuyển đến từ cùng một nguồn: chính bởi ông Cyril Parker. Cuối cùng, thực phẩm gồm có trứng và thịt của chim bồ câu kèm thịt thỏ.”
“Có gì đáng để chú ý sao?” Vị luật sư húng hắng.
“Điểm đáng chú ý là chim bồ câu và thỏ đều có khả năng miễn nhiễm ưu việt đối với atropine. Hầu hết các loài chim và động vật tiêu thụ rau củ quả có trong tự nhiên ít nhiều sẽ có hệ miễn dịch với chất độc tồn tại trong thực vật. Nhiều loài chim và động vật phần lớn miễn dịch với atropine; nhưng trong đám chim chóc ấy thì bồ câu có hệ miễn dịch rất đáng kinh ngạc, trong khi đó thỏ là minh chứng điển hình cho các loài động vật nói chung. Một con thỏ có thể hấp thụ một lượng atropine gấp hàng trăm lần định lượng có thể giết chết một người đàn ông mà không hề hấn gì. Và thỏ có tập tính tự do ăn lá và quả mọng của cây belladonna hay còn được biết đến với cái tên nightshade, một loại độc dược gây chết người.”
“Liệu trong cây nightshade có chứa atropine không?” Luật sư tỏ vẻ hào hứng.
“Hẳn nhiên thưa ông. Atropine chính là nguyên lý hoạt động của cây belladonna, mang đặc tính cực độc.”
“Giả dụ một con vật, như thỏ chẳng hạn, ăn phải cây nightshade thì liệu thịt của nó có độc không?”
“Dĩ nhiên rồi, thưa ông. Các trường hợp ngộ độc belladonna do ăn thịt thỏ không hề hiếm - điển hình như trường hợp của Firth và Bentley.”
“Và ông đang hoài nghi về việc chất độc trong vụ án này được ẩn giấu bởi chính con chim bồ câu hay thịt thỏ ư?”
“Quả là vậy. Một sự trùng hợp vượt ngưỡng của trí tưởng tượng bởi ngộ độc chỉ xảy đến sau khi hai thứ trên nằm gọn ghẽ trong bụng bệnh nhân dù cho chúng có khả năng miễn dịch hết sức đặc biệt. Không những vậy, còn một lý do khác để móc nối chuỗi sự kiện với nhau. Bởi lẽ, các triệu chứng tỷ lệ thuận với liều lượng chất độc dẫn đến hiện tượng phản vệ thuốc tùy vào mức độ khác nhau của từng trường hợp. Do đó, các triệu chứng chỉ ở mức độ nhẹ nhàng sau khi ăn trứng chim bồ câu. Trứng của chim bồ câu chỉ chứa một lượng rất nhỏ chất độc. Còn sau khi ăn chim bồ câu, các triệu chứng dần rõ rệt và trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Cơ thể của một con chim bồ câu khi đã hấp thụ belladonna thì hẳn nhiên sẽ chứa nhiều atropine hơn hạn mức có trong một quả trứng. Và khi món thịt thỏ được gọi tên sau cùng, cũng là lúc các triệu chứng đã trở nên đáng báo động; một con thỏ có sức đề kháng bền bỉ nhất, đồng nghĩa với việc rất có thể chúng đã đưa vào trong cơ thể lượng lớn belladonna.”
“Chà. Vậy ông đã thực hiện cách thức nào để đo lường mớ lý thuyết của mình và đã đưa chúng vào thực nghiệm chưa?”
“Vâng. Chính là vào thứ Hai tuần trước đây thôi, tôi đã đến Eltham, nơi mà tôi biết chắc rằng ông Cyril Parker đang sinh sống để đánh giá sơ qua cơ ngơi một cách bao quát nhất. Ở cuối khu vườn, nơi mà mảnh đất nhỏ có tường bao quanh ấy. Để tiếp cận khu vực đó, tầm mắt tôi cần vượt qua đồng cỏ, xuyên qua bức tường, chỉ để trông thấy phía trước một ô đất được bao bọc kĩ lưỡng, khắp nơi la liệt chuồng gà nhỏ, chuồng chim bồ câu và chuồng thỏ. Tất cả chúng đều mở toang và đám ‘tù nhân’ thì lang thang trong bãi. Ở một góc khác, cạnh bức tường là đám cây dâm bụt um tùm giăng kín lối, chúng lan rộng dọc chiều dài của bức tường cỡ chừng vài thước. Hàng rào đan bằng lưới thép được dựng lên bao quanh một phần ngay trong bức tường, và ở đó nheo nhóc năm con thỏ trưởng thành. Một khay chứa lượng nhỏ bẹ cải bắp cùng tạp nham những thứ màu xanh khác, nhưng với mắt nhìn của tôi, những con thỏ có vẻ khoái chí dạo chơi bên cây dâm bụt hơn là mớ thức ăn được chuẩn bị sẵn.
“Ngay ngày hôm sau, tôi lần nữa ghé đến Eltham cùng phụ tá của mình, mang theo chú thỏ bỏ trong chiếc giỏ nhỏ. Chúng tôi quan sát bãi chăn thả cho đến khi nhận thấy tầm nhìn xung quanh bức tường quang đãng. Không tốn nhiều thì giờ mấy, người phụ tá của tôi bật tường và ẵm một chú thỏ con ra khỏi chuồng để đưa con vật non nớt ấy đặt vào tay tôi. Phép hoán đổi cứ thế diễn ra hết sức trơn tru, con thỏ trong giỏ của tôi đã được thả vào bên trong an toàn tuyệt đối. Rất nhanh lẹ, chúng tôi tiến hành hóa kiếp cho con thỏ mà mình vừa đem về nhằm ngăn chặn cũng như loại bỏ khả năng một loại độc chất bất kì có thể xâm nhập vào cơ thể, đại để như trong tầm ngắm mà con vật nhỏ bé ấy chẳng may nuốt phải.
“Vừa đặt chân tới London, tôi tức tốc đem thứ vật phẩm đến Bệnh viện St. Margaret, tại phòng thí nghiệm, trước sự chứng kiến của Bác sĩ Woodford, giáo sư hóa học, tôi tiến hành lột da và sơ chế như thể sắp nấu một bữa tiệc thịnh soạn tới nơi khi đã loại bỏ mớ nội tạng bầy nhầy. Sau đó, tôi lách con dao để lọc phần thịt ra khỏi xương và đưa chúng cho Bác sĩ Woodford, người mà trước sự chứng kiến của tôi đã tiến hành thí nghiệm hóa học toàn diện về atropine. Kết cục là atropine được phát hiện có trong tất cả các bó cơ, và khi tiến hành một bài kiểm tra về định lượng thì chỉ riêng phần thịt bắp đã chứa ít nhất 0,93 grain.”
“Một liều thuốc độc hay sao?” Vị luật sư hỏi.
“Chính vậy. Đó là liều thuốc độc đối với một người đàn ông có sức khỏe bình thường. Còn trong trường hợp người đó có sự mẫn cảm bất thường như ngài Burnaby thì đó chắc chắn là đòn trí mạng.”
Câu kết sắc lẹm đã hoàn tất khâu cung cấp bằng chứng của Thorndyke. Không có thập tự giá và quan tòa thì không đặt bất kì câu hỏi nào nữa. Khi Bác sĩ Woodford được gọi đến để đưa ra bằng chứng xác thực, cũng là lúc luật sư của bà Burnaby bắt đầu phần phát biểu trước tòa. Nhưng lời chưa kịp ngỏ thì thẩm phán đã cắt ngang.
“Thực tình thì không còn vướng mắc nào cần đưa ra để tranh luận thêm nữa.” Ông ấy nói. “Bằng chứng của các nhân chứng có chuyên môn đã khẳng định chất độc có trong thực phẩm trước khi đến tay bị cáo. Bởi vậy, cáo buộc hướng về bị cáo với tội danh sử dụng chất độc hãm hại chồng mình đã được hủy bỏ, vụ án cũng vì thế mà bãi bỏ. Tôi đồ rằng tất cả các vị ở đây đều sẽ đồng cảm với người phụ nữ bất hạnh này, chuyện giời ơi đất hỡi cứ thế đổ ụp xuống đầu. Thật vui mừng khôn xiết, khi sự vụ đã được làm sáng tỏ, tù nhân được trả tự do.”
Khoảnh khắc đó quả thực rất đáng nhớ, giữa tiếng vỗ tay giòn giã của đám đông, bà Burnaby bước xuống từ bục của bị cáo và nắm chặt bàn tay đang vươn ra của chồng mình. Dẫu sao đi nữa, cả hai đều quá sức choáng ngợp trước sự nhẹ nhõm tìm đến một cách đầy đột ngột thế này. Và tôi e là mình không nên nán lại thêm nữa, bởi vậy mà sau khi dành những lời chúc tụng nhiệt thành, tôi rời đi cùng Thorndyke. Ấy thế mà, trước khi thoát khỏi nơi đây, tôi đã được chứng kiến một khung cảnh thú vị hết sức. Tiến sĩ Burnaby đang đứng cách đó cả quãng khá xa, hẳn nhiên có chút xấu hổ, thì đột ngột bà Burnaby chạy tới chỗ anh ta và chìa tay ra. “Tôi cho rằng, cậu…” Chẳng đợi đối phương nói hết câu, Tiến sĩ Burnaby bỗng gắt gỏng gớm lắm: “Chị nghĩ tôi là tên cặn bã đểu giả sao?”
“Thực không phải vậy.” Bà ấy vội vàng đáp. “Cậu đã đưa ra những quyết sách có phần đúng đắn, và tôi biết ơn cậu vì đã can đảm thực hiện điều đó. Và đừng quên, Jim à, rằng hành động của cậu đã cứu Frank một mạng.” Đối với tôi, Bác sĩ Thorndyke mới là người cứu; nhưng với Thordyke, sẽ luôn hiện hữu một con thỏ nào đó khác bị đầu độc.
“Anh nghĩ sao về vụ việc này?” Tôi khiên cưỡng đặt câu hỏi khi cùng Thorndyke rảo bước rời khỏi tòa án. “Vụ đầu độc trên chỉ là ngẫu nhiên thôi sao?”
Anh ta lắc đầu nguầy nguậy. “Không đâu, Jardine ạ.” Anh ấy đáp. “Quá nhiều sự trùng hợp được tìm thấy. Những con vật tội nghiệp bị đầu độc ấy đã không ló dạng cho đến khi ông Parker biết được thông tin từ anh, rằng ông Burnaby rất nhạy cảm và có phản ứng bất thường với atropine. Vậy nên thật dễ dàng khi chỉ cần một liều thuốc phổ thông nhất để xuống tay hạ độc. Sau đó thì sao, cách mà ông ta gửi những con vật còn đang sống nhăn nhở hẳn như một biện pháp phòng ngừa nhằm đánh lạc hướng sự hoài nghi ra khỏi ông ta cũng như tạo thông tin nhiễu nhằm đánh tráo sự thật. Thêm lần nữa, chính hàng rào vòng quanh các bước trong bản kế hoạch belladonna quả là mờ ám thấy rõ, và số lượng các cây không chỉ nhiều một cách bất thường, chúng tua tủa những cây non như thể được hưởng sự ân sủng từ bàn tay vun xới tận tâm của người chăm sóc.
“Hơn nữa, tôi cũng tình cờ biết được rằng phía nhà xuất bản, đơn vị nơi ông Parker công tác đã phát hành, chỉ mới vừa năm ngoái đây thôi, một cuốn sách về độc chất học cơ đấy. Nội dung của cuốn sách có đề cập đến khả năng miễn dịch của chim bồ câu, thỏ và không hà cớ gì Parker lại chưa đọc chúng cho được.”
“Vậy anh có tin ông ta đã có ý định để bà Burnaby - người phụ nữ mà gã si tình chót dại đem lòng mê đắm - gánh chịu tội lỗi thay mình hay không? Điều đó quả thật đốn mạt và bạc nhược quá thể.”
“Tôi không cho là vậy đâu.” Anh ta đáp gọn lỏn. “Tôi có thể hình dung ra viễn cảnh con thỏ mà tôi bắt được, hoặc một trong số những con thỏ khác sẽ được gửi đến nhà Burnaby trong vài ngày tới. Đầu bếp trong nhà có lẽ sẽ là người sắp xếp một nơi chốn tươm tất trước khi chúng bị đem đi làm thịt; và tất nhiên, cái chết của những con thú tội nghiệp sẽ là bằng chứng ngoại phạm của bà Burnaby. Sự hoài nghi theo lẽ dĩ nhiên sẽ chuyển hướng sang người đầu bếp. Nhưng theo tôi thấy, sẽ chẳng có bất kì hành động nào chống lại ông ta cả, vì thực tế thật khó để bồi thẩm đoàn đưa ra lời luận tội và kết án ông ta khi chỉ dựa trên bằng chứng của tôi.”
Chẳng lấy làm bất ngờ khi Thorndyke đã hoàn toàn đúng với suy đoán của mình. Không có bất kì vụ kiện tụng nào được diễn ra nhằm chống lại Parker. Nhưng điều chắc chắn là, từ đó trở về sau, ngôi nhà của Burnaby sẽ chẳng còn trông thấy gã trai trẻ si tình thêm một lần nào nữa.