Cuộc Viếng Thăm Của Vị Khách Bí Ẩn

Lượt đọc: 1037 | 4 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2: CUỘC VIẾNG THĂM CỦA VỊ KHÁCH BÍ ẨN
Ảnh chương 2

“Vậy là,” Thorndyke cất giọng lanh lảnh với ánh nhìn xét nét chĩa về phía tôi, “anh là tay bác sĩ mười phân vẹn mười, bỏ túi kỹ năng nghiệp vụ xuất chúng với phương thức hành nghề có một không hai. Suốt quãng thời gian qua anh đã làm được những gì? Ý tôi là, mọi thứ chỉ như mới đây thôi nhỉ, cái thời mà anh còn là chàng nghiên cứu sinh cần mẫn, mồm miệng thì há hốc nhìn tôi từ băng ghế đầu trên giảng đường ấy.”

“Tôi có há hốc miệng thật sao?” Tông giọng lên cao chót vót, hẳn anh ta đã nghe thấy sự hoài nghi đang âm ỉ chảy tràn trong tôi.

“À thì. Chỉ là tôi đang cố tình biến tấu câu từ cho thêm phần kịch tính mà thôi.” Anh ta thao thao bất tuyệt mãi. “Đại để nhằm tìm lại vài phần ký ức trước thái độ đầy vẻ phô trương của anh khi đó. Dáng vẻ của chàng thanh niên năm nào khi say sưa với bài giảng của tôi trông sao mà đứng đắn quá thể. Giờ tôi muốn hỏi liệu anh có thấy những gì bản thân thu nhận sau mớ lý thuyết ấy có đang được anh áp dụng vào thực tiễn hay không?”

“Chà. Thật tình mà nói, tôi không có thêm bất kì trải nghiệm về mảng y học - pháp lý nào đủ ly kỳ kể từ sau vụ hỏa táng kinh thiên động địa mà anh từng điều tra trước đó - chính là vụ Septimus Maddock, anh nhớ chứ. Sự kiện ấy nhắc nhớ tôi về trường hợp hy hữu cần đề cập với anh ngay đây. Tất nhiên chẳng nhằm mục đích vụ lợi gì cả, tôi chỉ muốn xin lời khuyên từ anh, theo cái cách nghiêm túc và cẩn trọng dù rằng chúng chẳng dây mơ rễ má gì tới tôi sất. Vụ việc liên quan đến một bệnh nhân của tôi, tên là Crofton. Ông ta cứ thế biến mất như thể bốc khói khỏi thế gian này vậy, không chút tăm hơi, anh hiểu chứ.”

“Chỉ vậy mà anh đã gán cho đây là trường hợp không cần giám định pháp y hay sao?” Thorndyke vặn vẹo.

“Hượm đã, tôi nào có ý đó. Chỉ là gần đây ông ấy có chuyến nghỉ dưỡng, thế rồi sau đó cắt đứt mọi liên lạc cũng như không giao thiệp với bạn bè các ngả. Vậy đấy. Thứ khiến tôi bận tâm là ông ấy đột nhiên thay đổi như chong chóng, mà thường những điều khác lạ vô cớ ập tới lại chẳng hay ho gì. Và cũng bởi chúng hoàn toàn khác xa với thói quen thường nhật của Crofton - ông ấy là một thông tín viên có mặt thường xuyên tại các điểm lưu trú nhằm phục vụ công việc - đặc tính tối quan trọng đấy, nếu chỉ xét riêng về phương diện tính cách thôi. Thế rồi, xui rủi sao đó, bỗng một ngày ông ấy rơi vào trạng thái loạn thần trầm trọng lắm và với truyền thống của gia đình thì cơ sự này khiến ai nấy đều không nhếch nổi khóe môi, có lẽ chẳng ai hy vọng căn bệnh sẽ lặp lại với con cháu mình.”

“Tôi phải dành lời khen cho anh đấy. Đây quả là một bản vắn tắt đáng được ca tụng, Jardie ạ.” Thorndyke tấm tắc mãi. “Nhưng các mảnh ghép còn thiếu thốn và rời rạc quá. Được rồi. Chúng ta hãy cùng nhau tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh hơn nào.”

“Anh không đùa tôi đấy chứ.” Tôi vui mừng ra mặt. “Đừng gật gù nếu tôi có làm anh chán ngấy đấy nhé. Sơ qua về Crofton: ông ấy chẳng khác mấy với hình bóng của người trong bao, ý tôi là sự sầu lo, bồn chồn, khắc khoải cứ lũ lượt thi nhau hiện trên nét mặt khốn khổ, nhất là mấy khoản tiền nong ấy. Càng về sau, tình trạng càng trở nên trầm trọng hết sức. Ông ta lao đao và khắc khoải mãi về vấn đề tài chính; dường như sức nặng của đồng tiền khiến người đàn ông dần trầm mình trong cảnh nợ nần túng thiếu, nỗi lo cứ ngày một đầy lên, lúc nhúc trong khối óc không tài nào gạt bỏ nổi. ‘Không việc gì phải lo lắng cất, thưa ông,’ bà Crofton cam đoan với tôi, mặc dù cuộc sống hiện tại có phần túng thiếu, nhưng tính ra thì vẫn xoay xở được.

“Vì những cơn nóng giận cứ ngày một âm ỉ chực chờ bộc phát còn tâm trạng của ông ấy cứ tệ dần đi, tôi đành khuyên ông nhà tôi nên sửa soạn gói ghém chút hành lý và đến một nhà trọ an dưỡng nào đó, nơi những gương mặt tươi trẻ có thể tưới mát tâm hồn mình. Nhưng hỡi ơi. Ông ấy nào có chịu nghe tôi, thay vào đó, lão ta nhất quyết chọn đi xuống căn nhà gỗ của mình ở Seasalter, gần Whitstable, và biệt tăm suốt cả mùa lễ. Crofton tha thiết được ở một mình và dành thời gian cho mấy trò tiêu khiển kiểu như tắm biển, tận hưởng hương vị thôn quê. Tôi thì chẳng ưa gì cái trò đó, vì sau cùng thì ông ấy vẫn chọn đơn thương độc mã, đó là tất cả những gì mà ông ấy mong cầu.

Gia đình tôi có một căn bệnh di truyền về chứng trầm uất u sầu, phong thanh vài ba tin đồn chẳng mấy hay ho gì, tỷ dụ như đã từng có người tự tử vì cớ sự đó. Vậy nên tôi không mong ông ấy một thân một mình ở nơi khỉ ho cò gáy và xa xôi đến thế. Tuy nhiên, mảnh ghép thân tín khác của gia đình, thực chất là anh trai bà Crofton, tên là Ambrose, đã đề nghị được dành cả ngày cuối tuần cho ông Crofton để thêm thắt tay chân giúp ông ấy sửa soạn cho chuyến đi. Và ông ta đã làm thế, theo đúng ý nguyện ban đầu. Vì vậy mà vào thứ Sáu ngày 16, tháng Sáu, cả hai đã cùng nhau khởi hành, mọi thứ diễn ra vô cùng suôn sẻ. Sức khỏe và tinh thần của Crofton dường như đã cải thiện đáng kể, ông ấy chăm chỉ viết thư cho vợ mình hơn, cứ cách hai hay ba tuần một lần gì đấy. Ambrose thì thường xuyên lui tới ghé thăm ông Crofton như một cách thiết thực nhằm cổ vũ tinh thần em rể mình. Song, thông tin cuối cùng mà Ambrose nhận lại là ông Crofton quyết định sẽ di chuyển tới Margate để đổi gió và tận hưởng niềm vui thú giản đơn khác. Từ đó trở đi, theo lẽ dĩ nhiên, Ambrose đã không còn chuyến viếng thăm tới ngôi nhà gỗ đó thêm một lần nào nữa.

“Đây rồi, đúng người đúng thời điểm, bức thư gửi tới từ Margate, có lẽ chúng đã được viết tại ngôi nhà gỗ, nhưng dấu mộc bưu điện lại từ Margate. Lạ thay khi chúng đều cùng ngày 16 tháng Bảy như trong bức thư đấy.” Tôi đang nghi vấn bản thân. “Bà Crofton đã gửi lá thư của chồng mình cho tôi, vẫn nguyên vẹn đây, bởi tôi chưa kịp đem gửi trả cho bà ấy. Nội dung bức thư quả thực không có gì đáng lưu tâm cho lắm ngoài lời nhắn gửi rằng ông ấy sẽ đến Margate bằng chuyến tàu gần nhất, sẽ viết thư khi đã tìm ra chốn dung thân. Và đó cũng là lần sau cuối, vì cả chuỗi ngày dài tiếp đó, mọi thứ đều bặt vô âm tín. Không thư từ cũng chẳng tin tức về hành tung bí ẩn của Crofton ngoại trừ tin báo trên tờ giấy mong manh về việc ông ấy đã di chuyển từ Seasalter để đến Margate. Bức thư đây, anh cầm đi.”

Tôi đưa chúng cho Thorndyke, anh ta liếc nhìn vết lõm trên bì thư rồi đặt lên bàn để kiểm tra. “Đã bắt tay vào điều tra chưa?” Anh ta dửng dưng thật đấy.

“À thì. Ảnh của ông ấy đã được gửi tới đồn cảnh sát Margate, nhưng, tất nhiên, anh thừa biết tháng Bảy ở Margate thế nào còn gì. Cái chốn đông đúc, người qua kẻ lại mỗi ngày ấy à. Thật vô nghĩa khi tìm kiếm hạt cát trên sa mạc, ông ấy hẳn đã bị nhấn chìm trong biển người, chút hy vọng bỗng hóa tuyệt vọng mong manh. Và cũng rất có thể hiện giờ ông ấy đang không còn ở đó nữa. Chỉ là sự biến mất kỳ bí của Crofton thật chẳng đúng lúc chút nào. Một khoản thừa kế đang đứng trước nguy cơ không cánh mà bay, chúng có thể mất tăm theo cái cách chẳng một ai có thể đoán định trước được. Bà Crofton đang sốt ruột lắm và chỉ muốn thông báo điều đó với chồng mình. Khoảng ba mươi ngàn bảng Anh, đâu nhỏ nhặt gì.”

“Khoản thừa kế này liệu có nằm trong dự tính không?” Thorndyke hỏi.

“Theo tôi được biết thì là không. Gia đình Crofton không hề hay tin về điều đó. Họ còn chẳng biết việc bà Shuler đã lập di chúc hoặc rằng bà có rất nhiều thứ để lại cho con cháu mình. Và họ cũng chẳng mảy may hay biết một ngày nào đó bà ấy sẽ rời xa cõi đời này, hay thậm chí cả việc sức khỏe của bà đang báo động lắm. Điều này cũng thật kỳ quái quá đi, vì bà ấy trở bệnh trong khoảng đôi ba tháng, tất cả đều do khối u ác tính ở bụng gây nên, các y bác sĩ đưa ra chẩn đoán rằng bà ấy sẽ khó lòng thoát khỏi kiếp nạn.

“Vậy thời gian bà ấy đi gặp ông vải là khi nào, anh có biết không?”

“Là ngày 13 tháng Bảy.

Thorndyke nhướng mày. “Thú vị thật. Chỉ vỏn vẹn ba ngày trước khi bức thư này được viết sao. Anh ta nhận xét. “Và giả dụ như ông Crofton không bao giờ quay trở lại nữa, thì bức thư sẽ là bằng chứng duy nhất chứng minh người đàn ông này còn sống sau cái chết của bà mình. Một nguồn tư liệu tối quan trọng đấy chứ. Có thể hiểu rằng, chúng đại diện cho hàng ngàn bảng Anh.”

“Tôi e bức thư này thực chẳng quan trọng đến thế. Tôi dõng dạc. “Di chúc mà bà Shuler để lại quy định rằng nếu Crofton chết trước, thì di sản sẽ thuộc về vợ ông ta. Cho nên, dù ông ấy còn sống hay đã chết, khối di sản vẫn sẽ bình an vô sự. Nhưng chúng ta hãy cầu nguyện rằng ông ấy không mệnh hệ gì, dù cho tôi phải thú thực rằng, điềm gở có thể ập tới bất cứ lúc nào bởi nỗi lắng lo mà ông ấy đang phải trải qua.

Thorndyke đăm chiêu mất cả hồi bởi lời tự sự của tôi. Cuối cùng anh ấy mở lời: “Vậy theo anh, liệu Crofton có lập di chúc không?”

“Có đó, ông ấy đã lập di chúc rồi.” Tôi vội đáp. “Mới gần đây thôi, chính tôi là một trong số những nhân chứng, và cũng chính tôi đã ngó nghiêng qua nội dung của bản di chúc theo lời đề nghị của Crofton. Một văn bản pháp lý thông dụng mà chúng ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu, được thể hiện qua hàng chục ký tự. Thực tế là, ông ấy để mọi thứ lại cho vợ mình, nhưng thay vì dùng lối hành văn thường thấy, ông ta lại chọn cách liệt kê các hạng mục tài sản.

“Phải chăng bản di chúc đã được soạn thảo trước đó thông qua luật sư?”

“Hẳn vậy, nhà Crofton có một người bạn thân tín lắm. Anh ta tên là Jobson, được uỷ thác và cũng là nhân vật thụ hưởng phần tài sản thặng dư của ông Crofton.

Thorndyke gật đầu khe khẽ, hố sâu của dòng suy tư đang chờ anh ta nhảy vào. Vừa nghĩ ngợi vừa cầm lá thư trên tay, biểu hiện manh nha cho sự võ đoán và dò xét quen thuộc của anh bạn tôi. Tôi nhìn anh ta bằng cặp mắt hiếu kỳ, vài phần thích thú thầm kín đang nhộn nhạo trong bụng. Trước tiên, Thorndyke nhìn khắp lượt phong bao, hết lật mặt trước rồi đến mặt sau. Tiếp đó, anh ta lôi từ trong túi ra một chiếc kính lúp hiệu Coddington cực tốt, bắt đầu xem xét tỉ mẩn từ mép bì thư tới dấu bưu điện. Sau đó, anh ta rút lá thư ra, đưa chúng lên cao để ánh sáng soi tỏ, đọc đi đọc lại. Cuối cùng là xem xét những nét lệch lạc của chữ viết qua ống kính của mình. “Này?” Tôi hỏi han với nụ cười có phần tinh quái. “Tôi đoán chắc anh đã tìm ra lời giải đáp cuối cùng từ lá thư này rồi.

Thorndyke mỉm cười khi cất chiếc kính đi, đưa lại bức thư cho tôi.

“Vì thứ này ấy mà, có thể phải được xuất trình để chứng minh cho một sự sống còn đang tồn tại. Anh ta nói tiếp. “Bức thư tốt hơn hết cần được cất giữ tại nơi an toàn. Tôi trông thấy ông ấy đã đề cập tới việc sẽ quay trở lại căn nhà gỗ. Nhưng có vẻ sau tất cả, mọi thứ đều như xác định chắc chắn rằng sẽ không có sự trở lại nào nữa?”

“Tôi không cho là vậy đâu. Anh thấy đấy, họ đã đợi ông ấy hồi âm. Anh có nghĩ ai đó nên..

“Jardine thân mến của tôi ơi. Anh ta bỗng nhiên giảo hoạt quá. “Tôi chỉ đang tiến hành mọi thứ theo sự gợi mở từ phía anh. Một người đàn ông có khuynh hướng trầm uất và có khả năng tự tử được thừa hưởng từ gia đình đột nhiên biệt tăm biệt tích. Ông ta rời khỏi ngôi nhà và nhắn rằng sẽ quay trở về sau đó. Vì ngôi nhà hẳn là nơi duy nhất mà ông ấy có thể trở về, vậy nên đương nhiên từng mảnh gỗ vụn cũng phải được kiểm tra kĩ lưỡng. Cả khi điềm gở cho thấy người đàn ông ấy không bao giờ quay trở về nữa, thì ngôi nhà vẫn là chốn nương náu, ẩn giấu từng mảnh ghép vụn vỡ về người đàn ông xấu số hay chăng.”

Câu chốt hạ của Thorndyke đã khơi gợi, nhen nhóm trong tôi dòng suy tư táo tợn lắm, nhưng thật chẳng dễ dàng gì để mở lời hay dẫn dắt vào câu chuyện. Manh mối mà Thorndyke đưa ra có thể hoàn toàn vô nghĩa với những trường hợp thường thấy. Tôi hồi tưởng lại cách mà anh ấy đưa ra lập luận và diễn giải chúng theo phương thức mà ai nấy đều phải trầm trồ, ngưỡng mộ bởi hầu hết các tình tiết có trong vụ án Maddock đầy bí ẩn mà anh ấy chính là người cầm chuôi. Hồi tưởng xa xăm càng củng cố nỗi khát khao trong tôi, chúng đang lớn dần và mãnh liệt hơn bao giờ hết. Sau cuối, tôi ngập ngừng nói: “Tôi sẽ tự mình tìm tới ngôi nhà gỗ khi cảm thấy bản thân đã đủ vững chãi. Ngày mai là thứ Bảy rồi, tôi có thể nhờ đồng nghiệp phụ giúp công việc thay phần mình; vừa hay hiện giờ cũng không có quá nhiều việc. Khi anh thao thao bất tuyệt về mớ manh mối, cũng là lúc tôi nhận ra mình đã mụ mị đến nhường nào - tôi ước giá như chuyến đi đó có anh cùng đồng hành.

Trước dáng vẻ đầy kinh ngạc của tôi, anh ta đồng ý một cách nhiệt thành.

“Tại sao không?” Anh ta hào hứng. “Chẳng phải anh đã nói giờ là cuối tuần hay sao. Tôi cho là chúng ta có thể đến ngôi nhà gỗ và có thêm kỳ nghỉ nho nhỏ như dân du mục thực thụ. Chúng ta có thể thưởng thức bữa trưa được chuẩn bị sẵn và có hẳn cả buổi chiều để thư thả. Tốt nhất là anh nên lấy chìa khóa từ bà Crofton đi, hoặc giả như bà ta không có thì hãy làm ra vẻ chúng ta đang tiến hành mọi thứ theo đúng phận sự và chức sắc của một cơ quan có thẩm quyền ghé thăm ngôi nhà mà thôi. Có lẽ cả hai cần thứ gì đó, dĩ nhiên rồi. Và chúng ta sẽ tự thân vận động trong chuyến hành trình, đảm bảo đấy.

Tôi vui vẻ đồng ý. Không hẳn vì tôi đặt nặng kỳ vọng vào những gì mà chúng tôi sẽ nhận lại từ phi vụ lạ lùng này. Chỉ là, có gì đó nằm trong cốt cách của Thorndyke khiến tôi thêm tin rằng anh ấy sẽ tìm thấy bất cứ thứ gì từ lời kể của tôi về vụ án mà tôi chẳng thể tìm ra lời giải một cách hợp tình hợp lý.

Ngôi nhà gỗ nằm trên mô đất tương đối gồ ghề được bao bởi đê chắn sóng, chúng tôi đi bộ men theo lối nhỏ tiến tới ngôi nhà từ Whitstable. Cả hai ngang qua phân xưởng đóng tàu, bắt gặp đường trượt' trên con dốc, thấp thoáng trông thấy con tàu đang được kéo lên để sửa chữa. Lác đác đâu đó một tới hai ngôi nhà gỗ khác liền kề, nhưng cách nhau cả quãng tương đối xa, chúng tôi cứ ngoái lại nhìn cho đến khi trông thấy những cái tên được sơn trên cổng.

“Chắc là đây rồi. Thorndyke nói, chỉ vào ngôi nhà nhỏ xinh được bao bởi hàng rào gỗ như các ngôi nhà xung quanh khác. Căn phòng gỗ nhỏ được dựng ngay trên các cọc kiên cố, màu xanh của biển cả nuốt trọn tầm nhìn. Tất cả đều gợi lên cảm giác hoang vu vắng vẻ, lặng ngắt như tờ, rèm cửa im lìm của căn nhà như đồng quan điểm với anh ta. Khi chúng tôi đặt chân đến trước cổng, cái tên “Middlewck” được tô bằng sơn đã giải quyết tất thảy mọi nghi vấn còn tồn đọng.

“Câu hỏi tiếp theo là. Tôi nói. “Chúng ta sẽ vào đây bằng cách nào nhỉ? Cổng thì khóa còn chuông thì chẳng thấy tăm hơi. Anh nghĩ xem, liệu có đáng để phá cái hàng rào này không hả?”

“Anh đang nghĩ cái quái gì vậy, tôi kịch liệt phản đối lời đề nghị của anh đấy nhé. Thorndyke bày ra bộ mặt khinh khỉnh tự đắc. “Nơi này chẳng có ai ngó ngàng gì tới, vậy nên cửa nẻo sẽ không ai khoá đâu. Chúng ta phải tự trèo qua, anh biết đấy, trừ khi cổng sau mở. Làm vậy sẽ hạn chế tối đa tiếng ồn phát ra.

Chúng tôi kiên nhẫn lượn lờ một vòng khu bờ bao, nhưng không có bất kì chiếc cổng nào khác, cũng chẳng có lấy một cái cây hay tấm dù che chắn nào để ngụy trang cho hành động hết sức vụng trộm và đáng nghi ngại của cả hai.

Thorndyke lên tiếng: “Không có ích gì đâu, Jardine a, vậy nên hãy bắt đầu thôi. Anh ta đặt phịch chiếc rương phủ màu xanh lá của mình xuống đất, dùng cả hai tay nắm lấy đỉnh hàng rào và bật qua như một Harlequin' thực thụ. Quả là một tình thế oái oăm, tôi lướt nhanh một lượt và theo chân vị “chỉ huy” của mình.

“Hỡi ơi” Tôi thở hổn hển khi chân đã chạm ngưỡng sân trong của căn nhà. “Phải làm gì tiếp theo nữa. Làm sao để vào được nhà?”

“Phải cạy ổ khóa thôi nếu không có cánh cửa nào mở, thử đi vào bằng cửa sổ xem sao. Đấy, chúng ta luôn cần quan sát và

1 Harlequin là nhân vật nổi tiếng nhất trong số zanni hoặc nhân vật người hầu truyện tranh trong commedia dell’arte của Ý, gắn liền với thành phố Bergamo.

đưa ra phán đoán, anh bạn ạ. Thế rồi, chúng tôi lần nữa đi vòng quanh ngôi nhà ra đến cửa sau, xui tận mạng khi cửa nẻo chẳng những bị khóa mà còn bắt vít trên dưới, Thorndyke xác định những điều trên bởi con dao găm. Tất cả các cửa đều là cửa sổ và chúng gắn chặt bằng chốt.

“Cửa chính vẫn là tốt nhất.” Thorndyke tỏ ra khiên cưỡng. “Tất nhiên cánh cửa không thể bị chốt trừ khi ông ta ra ngoài bởi đường ống khói và tôi cho rằng “cộng sự” của mình có thể đối phó với chiếc ổ khóa đến là tầm thường này. Đây, anh xem, nó trông chẳng khác nào vật dụng quen thuộc của một tay thợ lành nghề.”

Vừa nói, chúng tôi vừa quay ngược trở ra mặt trước của ngôi nhà và anh ta đã đem “cộng sự” từ trong túi áo ra (tôi còn chẳng biết rõ chiếc tẩu ấy được thiết kế để phục vụ loại chủ nhân như thế nào nữa). Phá khóa rõ ràng không nhằm nhò gì, chỉ đến lần thử thứ hai sau khi hợp tác cùng “cộng sự”, anh ta đã vặn chốt thành công, và khi tôi xoay nắm, cánh cửa bật ra ngay tức khắc. Để phòng hờ, tôi hô to nhằm chắc chắn không có ai trong nhà, và sau đó thì, bởi không có tiếng đáp lại, chúng tôi nối đuôi nhau bước vào trong, đi thẳng tới phòng khách vì căn nhà được thiết kế không có hành lang hay tiền sảnh gì hết.

Cách ngưỡng cửa chỉ vài bước chân, chúng tôi dừng lại để nhìn khắp lượt, đối với tôi, tổng quan căn nhà tạo nên cảm giác bức bối vô hình lắm. Dù ngoài trời vẫn đang rót từng giọt nắng trong veo nhân một buổi xế chiều sáng sủa, thì căn phòng vẫn phủ kín một màu tăm tối đen kịt, vì không chỉ hàng loạt các tấm rèm bị hạ xuống mà ngay cả rèm che cửa chính cũng chẳng để tia sáng nào len lỏi và lọt qua được.

“Có vẻ như.” Tôi cất lời, nhìn quanh căn nhà u ám phủ kín bằng gam màu ảm đạm kèm đôi coi ngươi bị chói sáng. “Ông ấy thường xuyên ra ngoài vào ban đêm. Nên rèm cửa sẽ không được kéo ra vào ban ngày.”

“Đó là tất cả những gì tôi đang nghĩ tới.” Thorndyke đồng tình. “Nhưng hãy nhìn xem.

Anh ấy lại gần cửa sổ lớn và kéo tấm rèm che lên, để lộ mảng vải màu xanh thẫm. Nắng như rót mật chảy tràn khắp căn phòng, tấm lưng ngược nắng của anh ta nghiêng qua ngó lại, tầm nhìn linh động đang quét sạch căn phòng, một cách hết sức tỉ mỉ. Anh ta lướt qua các mảng tường sáng tối, đống đồ đạc xếp kín, và đặc biệt hơn cả là mặt sàn. Không mất quá nhiều thời gian để đưa ra hành động, Thorndyke cúi xuống để nhặt một đầu que diêm ngắn cũn cỡn nằm dưới chiếc bàn đối diện với cửa ra vào, tất cả rơi vào trầm tư. Phải mất cả quãng, anh ta chỉ vào hai vết sáp nến trên tấm thảm lót sàn đặt cạnh bàn. Và rồi ánh nhìn bắt đầu lia qua mặt lò sưởi, từ góc đó nhìn hướng sang gạt tàn thuốc trên bàn.

“Đây đều là những chi tiết nhỏ bé kinh, và hẳn sẽ chẳng mấy ai ngó ngàng tới. Bởi nhỏ bé nên chúng sẽ rời rạc và thiếu sự nhất quán giữa những thông tin mà chúng ta thu thập được.” Anh ấy nói mà không cần ngơi nghỉ. “Nhưng thế đấy, chúng đều rất đáng để lưu tâm. Phải không nào. Anh ta tiếp tục đáp lại cái nhìn có phần phán xét của tôi. “Anh xem, căn phòng này đang bài trí theo một trật tự nhất định và ngăn nắp vô cùng. Mọi thứ dường như đều được đặt đúng vị trí mà nó vốn có. Ví như hộp diêm có ngăn cố định trên lò sưởi này, và có cả cái chén con để đựng diêm cháy hết nữa, chúng hẳn là được trưng dụng thường xuyên lắm, bởi chính những dấu vết còn sót lại trên vật dụng là bằng chứng rõ ràng nhất. Gia chủ hẳn là người thông minh khi sắp xếp đồ đạc một cách khoa học đến vậy. Hay như que diêm này đây, anh thấy không, chúng không cùng một loại với que diêm trong hộp phía trên mặt lò sưởi, đó là que diêm cỡ lớn hơn thuộc hãng Bryant & May, đám diêm cháy hết trong chiếc chén nhỏ kia trăm phần như một có nguồn gốc từ đó. Nhưng nếu anh nhìn vào chiếc chén. Anh ta tiếp tục đưa ra suy đoán, kèm theo hành động cầm một que diêm lên. “Anh sẽ thấy chúng cùng loại - hình như là của Bryant & May nhưng cỡ nhỏ - một chiếc bị cháy gần hết và một chiếc chỉ mới cháy phân nửa. Gợi ý dường như khá rõ ràng rồi, tuy nhiên, như tôi đã nói đấy, có một sự không nhất quán rất nhỏ đang hiện hữu đâu đây.”

“Tôi không biết nữa. Tôi cẩn trọng để tránh buông lời khinh suất. “Ám thị hay sự không nhất quán mà anh nói tới theo tôi chúng đều đang khá rõ ràng và rành mạch rồi đấy chứ.”

Thornkyde rảo bước tới trước lò sưởi và lấy diêm ra khỏi hộp.

“Anh thấy đấy.” Anh ta vừa nói vừa mở hộp ra. “Chiếc hộp này đã gần đầy. Nó được đặt ở vị trí cố định và cứ mãi nằm ở

đó thôi. Một que diêm nhỏ đã cháy gần hết được tìm thấy, ngay dưới cái bàn đối diện cửa ra vào và thêm hai que diêm khác nữa. Nhiều hơn hẳn số que diêm cần có trong cái chén đựng diêm cháy. Suy đoán hợp lý nhất lúc này là ai đó đã bước vào căn phòng trong bóng tối và đánh một que diêm để thắp sáng. Khi que diêm cháy hết, một que diêm khác được đánh lên. Chúng xua tan sự tịch mịch đang phủ kín căn phòng bằng 1/3 que diêm đốt cháy khi thắp sáng ngọn nến. Chén thì vẫn đặt ở đó thôi, nhưng lý gì mà anh ta lại ném đầu que diêm xuống sàn nhà?”

“Anh cho rằng lời ám thị chỉ điểm người đó không phải ông Crofton sao; việc này thì tôi hoàn toàn đồng tình với anh. Ông Crofton ấy, ông ta không để diêm trong túi bao giờ. Ông ấy sử dụng hộp đựng diêm và đựng chúng trong một chiếc hộp bằng bạc. “Có thể đó là Ambrose. Thorndyke gợi ý.

“Tôi không cho là vậy.” Tôi nói như thể chắc cú lắm. “Tôi biết mà, Ambrose dùng bật lửa xăng.”

Thorndyke gật đầu. “Có thể sẽ chẳng có gì trong đó dành cho chúng ta. Anh ấy từ tốn. “Nhưng biết đâu đó, có khi ta lại tìm thêm thứ gì khác hay họ hơn. Cùng xem qua phần còn lại của căn phòng chứ?”

Anh ta dừng cỡ cả hồi chỉ để liếc nhìn giá treo đồ được ghim chặt trên tường, ở đó treo một, hai chiếc chìa khoá, mỗi chiếc được phân biệt bằng nhãn dán nhỏ từ giấy ivody và tên thì được đề ngay bên dưới móc khoá; thế rồi anh ta tiện tay mở cánh cửa ở góc phòng. Con đường đi xuống nhà bếp ấy, tôi đóng cánh cửa lại và tiến tới một ngách liền kề dẫn tới phòng ngủ.

“Có lẽ đây là phòng ngủ dành cho khách. Anh ta buông lời nhận xét khi chúng tôi bước vào. “Rèm chẳng được kéo xuống, không khí ngập tràn vẻ trang nhã, phỏng rằng đã rất lâu rồi không có ai lui tới nghỉ ngơi tại nơi đây dù cho chúng đã được dọn dẹp kĩ càng, cẩn thận. Anh nhìn xem, chiếc giường không có lấy một nếp nhăn như thể chúng đã bị đắp mộ vĩnh viễn.

Sau một hồi tập trung hết mức, anh ta quay người bước trở ra phòng khách và băng qua cánh cửa còn lại. Khi cánh cửa bật mở, chúng tôi nhìn vào căn phòng tối om như hũ nút, cả hai chiếc cửa sổ đều được che chắn bởi những tấm rèm bằng vải dày bình bịch.

“Chà.” Vài ba lời buông lơi được thốt ra khi anh ta kéo tấm rèm lên. “Nơi này lại chẳng sạch sẽ ngăn nắp chút nào thì phải. Một chiếc giường đóng rất sơ sài tạm bợ, và chăn thì vắt vẻo trèo hẳn ra bên ngoài khung giường.”

Anh ta đảo mắt nhìn quanh căn phòng hết lượt, thái độ tập trung và nghiêm túc, đặc biệt chú ý tới chiếc bàn cạnh giường ngủ.

“Lại một điểm nghi vấn khác xuất hiện” Linh tính mách bảo tôi rằng đây là điềm báo. “Chỗ này có hai chân nến, một chân đã cháy hết, chân còn lại chỉ sót một mẩu tâm nến. Trong khi đó có năm que diêm được sử dụng, hai que lớn lấy từ hộp bên cạnh và ba que nhỏ thì cũn cỡn. Cây nến thứ hai kia kìa, nó bị chảy sáp khá nhiều, và tôi cho là. Anh ta nhấc nó ra khỏi chân nến. “Không sai vào đâu được, nó đã cháy hết sạch. Anh nhìn xem, sáp nến chảy xuống tận đáy và rõ ràng nơi đó còn lưu lại dấu vân tay của ngón tay cái, rõ mồn một cơ đấy - có vẻ như còn là ngón tay cái bên trái nữa - chắc hẳn “tác phẩm” được tạo nên khi sáp còn ấm nóng. Đây nữa, anh có thấy dấu vết còn sót lại trên sàn từ chiếc cốc chứa chất lỏng nhưng không phải là nước không, thế rồi cốc đâu. Tuy nhiên, chúng có thể chỉ là vết bẩn vương vãi vô tình bị quên lãng mà thôi, dù trông còn nguyên như mới.”

“Crofton ấy à, ông ta chẳng đời nào để lại mấy dấu vết cũ mèm thế này trên bàn đâu.” Tôi có một niềm tin lớn lắm. “Một người cẩn trọng có đôi chút khái tính như bao người lớn tuổi khác. Chúng ta vẫn là nên xuống bếp để xem cái cốc có ở đó hay không.”

“Phải rồi.” Thorndyke đồng ý. “Nhưng tôi tự hỏi rằng ông ấy làm gì với cây nến đó. Có vẻ như cây nến đã được đem ra khỏi nhà, vì trên sàn phòng khách có vài ba vết bẩn chưa được xử lý, anh biết mà. Anh ta tiến lại gần hơn chiếc tủ có ngăn kéo ngay cạnh cửa ra vào, nhìn chăm chú, sau đó kéo ngăn kéo ra, bên trong chúng không gì khác ngoài quần áo. Tôi trông thấy nét cười gượng gạo dần ẩn hiện trên khuôn mặt Thorndyke, tất nhiên đó là kết luận sau cuối khi đã quan sát kĩ càng. “Lại đây nào, Jardine.” Giọng anh ta đều đều chậm rãi. “Hãy nhìn qua khe cửa này đi

Tôi đi một vòng, tầm mắt luồn qua khe hở, chiếc cửa sổ cuối cùng ở mé phòng khách đang kẽo kẹt khẽ khàng lay động. Tấm rèm vén mở, tôi trông thấy bóng hình mờ ảo rồi dần rõ nét, đó là chiếc mũ cảnh sát ư, thật khó để nhầm lẫn cho được.

“Nghe cho rõ đây. Thorndyke nói. “Họ đang làm nhiệm vụ và họ có quyền làm thế.”

Trong lúc anh ta cất lời, tiếng kêu lanh lảnh không ngừng phát ra từ khu nhà bếp, âm thanh cho thấy một con dao găm đang được trưng dụng để mở chốt cửa sổ. Không nằm ngoài dự đoán, âm thanh của chốt cửa sổ bật mở, sau đó là tiếng vang khe khẽ tậm tịt khi xa khi gần, ra điều có phần lén lút. Cuối cùng, cánh cửa nhà bếp bật mở một cách hết sức cẩn trọng, ai đó đang rón rén bước ngang qua phòng khách, là một tên trung sĩ mình mẩy vạm vỡ, tầm vóc to lớn của anh ta choán hết ngưỡng cửa phòng ngủ.

“Buổi chiều tốt lành chứ ngài trung sĩ. Thorndyke mở lời kèm ոս . cười hào sảng hết sức.

“Vâng, cảm ơn anh, tôi ổn. Câu trả lời có phần gượng ép. “Hay thật. Đáng ra tôi mới là người phải hỏi anh ấy chứ, anh là ai, và anh đang làm cái quái gì trong ngôi nhà này vậy hả?”

Thorndyke bắt đầu giải thích, lời giải đáp vô cùng vắn tắt về công việc của chúng tôi, và khi cả hai trao danh thiếp cũng như giấy ủy thác từ bà Crofton, vẻ mặt cứng nhắc thêm chút trịch thượng của kẻ quyền uy đến từ viên trung sĩ bỗng mất dạng như một phép màu.

“Không nề hà gì, Tomkins hỡi ơi. Anh ta hô vang, cứ như thể bản thân đã hóa thành chiến binh Myrmidon' đang từ cõi chết hiện hình về ấy. “Đây, đây, là thế này đây. Theo tôi, tốt hơn hết là các anh nên đóng cửa sổ và đi ra ngoài bằng cửa chính nhé. Xin thứ lỗi cho tôi vì phải làm thế, mong các anh hiểu cho tôi. Anh ta còn cố chêm thêm vài câu hết sức giáo điều. “Người thuê căn nhà gỗ kế bên kia kìa, anh ta đạp xe hùng hục xuống đây, một người đàn ông nhã nhặn lắm đấy. Anh ta trông thấy anh đang hí hoáy cặm cụi với chiếc kính lúp để cạy khóa cửa chính. Nhưng phải công nhận một điều, rằng anh trông chẳng có vẻ gì là bình thường hết cả.”

Thorndyke cũng chẳng ngại ngần thừa nhận lời luận tội ấy, kèm theo đó là tiếng cười như xa như gần đang dần tắt lịm. Sau màn khảo tội, chúng tôi rảo qua phòng khách để tiến tới phòng bếp. Chính nơi đây, sự xuất hiện của viên trung sĩ như phá tan và ngăn trở cuộc đàm luận của hai chúng tôi. Tôi quay qua rồi trộm nhìn “đồng đội” của mình đang liếc ngang ngó dọc một cách đầy ý nhị về phía chiếc chảo chiên đặt trên bếp Primus. Lớp mỡ đóng lại từng mảng, dấu hiệu khả quan cho bộ sưu tập những “điểm khác lạ”. Bởi lẽ, thật khó lòng hình dung ra một Crofton tính tình cẩn trọng lại có thể bỏ mặc chiếc chảo trong tình trạng như thế.

Không một dấu hiệu nào cho thấy sự tồn tại của chiếc cốc mà chúng tôi kiếm tìm đang đợi rửa. Hết cách. Tôi cùng anh bạn trí cốt của mình trở ra phòng khách. Lần này thì hay rồi, ánh nhìn của anh ta rơi trúng cái giá treo chìa khóa.

“Hay quá nhỉ. Viên trung sĩ bắt đầu vận dụng kỹ năng nghiệp vụ của bản thân. “Nếu ông ấy từng quay trở lại đây, thì rõ ràng hiện giờ ông ta đã không còn ở nơi này nữa. Tôi đoán chắc ông ấy đang chu du khắp hang cùng ngõ tận rồi ấy chứ nhỉ?”

Thorndyke đáp lời: “Tất cả đều như bốc hơi, trừ căn lều gỗ nhỏ kia. Và…” Vừa nói, anh ta vừa nhấc chiếc chìa khoá có dán nhãn ra khỏi giá treo.

Viên trung sĩ khẽ nở nụ cười ẩn ý. Anh ta nói. “Dù sao thì, không gì bằng tính tình nền nã cẩn trọng, chuyện gì cũng nên tìm hiểu ra tấm ra món. Anh thấy không, chìa khóa cửa trước và chìa khóa cổng đều đã bị lấy đi rồi, bởi vậy mà chúng ta chỉ có thể đưa ra kết luận rằng ông ấy đã tự mình rời đi.

“Suy đoán của anh theo tôi là hợp tình hợp lý đấy. Thorndyke thừa nhận. “Chắc anh không biết, chúng tôi đây, tự tin rằng mình có thể biến cuộc điều tra này trở nên hoàn hảo gấp bội.”

Dứt lời, Thorndyke tự phong mình là kẻ dẫn đường chỉ lối, hăm hở bước tới khu vườn và ra tận cổng nhà, không chút ngượng ngùng đưa “cộng sự” của anh ta luồn ngạch để tra vào ổ khóa.

“Ái chà, đáo để quá ấy nhỉ? Viên trung sĩ kêu lên thích thú trước màn tra khóa điệu nghệ của Thorndyke cho đến khi cánh

cửa mở ra. “Chao ôi, anh bạn ơi, sao anh ra dáng tay mơ thạo việc và ăn ý với chiếc tẩu đến thế cơ chứ. Tôi có thể xem qua “bảo bối” của anh một chút không?”

Thời gian cứ thế trượt dài như cát chảy qua kẽ tay, đôi mắt của viên trung sĩ vẫn không sao thoát khỏi chiếc tẩu mang tầm vĩ mô đó. Còn Thorndyke ấy à, anh ta là người đưa món báu vật của mình cho viên trung sĩ mà chẳng ngần ngại chi hết. Nhưng có lẽ chính anh ta cũng đang phải suy nghĩ lại hành động vượt chướng của mình. Bởi thế này, ông ấy - viên trung sĩ chứ đâu, đang muốn nhăm nhe cướp luôn “bằng sáng chế” của Thorndyke, tôi e là sắp rồi. Và khi việc giám định của tay trung sĩ dần đi đến hồi kết, thì chúng tôi đã chễm chệ ở dưới bờ đê chắn sóng. Thorndyke tiếp tục tra chìa khóa vào ổ của căn lều gỗ nhỏ. Khi viên trung sĩ trao lại “cộng sự” cho anh ta, Thorndyke đã cầm lấy và bỏ vào túi ngay tắp lự, sau đó bắt đầu xoay chìa khóa và cánh cửa nặng nề dần hé mở. Quỷ thần thiên địa ơi, tiếng thét của viên trung sĩ như quả bom phát nổ, rung chuyển và ám ảnh hết sức.

Đó chắc hẳn là cảnh tượng nghiệt ngã khủng khiếp, chúng tôi quả thực đã chẳng thể quên nổi. Căn phòng gỗ tạm bợ thực chất chỉ rộng khoảng sáu bộ vuông, nó trống hơ trống hoác, còn đồ đạc thì thiếu thốn tợn, ngoại trừ đôi ba cái mắc được treo cao trên tường nhà. Chiếc cửa sổ duy nhất không lắp kính đã đóng kín bưng, và ở một góc xa xa trên mặt sàn, thấp thoáng dáng hình của người đàn ông đang ngồi dựa lưng vào góc tường, đầu đổ gục xuống ngực. Nhân vật ấy không ai khác ngoài Arthur Crofton. Tôi có thể chắc chắn về điều đó, mặc cho những đổi thay khủng khiếp trên thi thể do tác động của thời gian, khi mà sự sống đã rút cạn ông ấy từ lúc nào không hay. “Ô kìa. Tôi nghĩ bản thân cần lên tiếng khi đã xác thực được danh tính của cái xác. “Lẽ ra tôi nên nói trước với anh, rằng ông ấy đã qua đời được hơn hai tuần rồi. Chắc hẳn ông ấy đã đi thẳng từ Margate và sau đó thì việc đáng tiếc xảy tới. Nhìn xem, có lẽ đây là chiếc cốc đã bị thất lạc. Trong cơn hoảng loạn, tôi giữ lại phần cứng cỏi còn sót. Quả quyết, chỉ vào tay phải của xác nạn nhân.

“Quả nhiên là vậy.” Thorndyke đang làm đúng tác vụ của mình dù chúng thật khó để đoán định. Tiếp đến là màn hậu kiểm trên mọi ngóc ngách từ bên trong căn phòng, anh ta không vòng vo mà đi ngay vào vấn đề chính. “Thiết nghĩ, tại sao ông ta lại không cài then cửa mà phải dùng chìa khóa, và điều gì đã xảy ra với chiếc chìa khóa vậy nhỉ? Ông ta hẳn phải lấy chúng ra khỏi ổ và để lại vào túi của mình.”

Đôi mắt liếc nhìn viên trung sĩ của Thorndyke như truyền tải cả ngàn thông điệp. Tay trung sĩ đáng thương ấy chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài nghe theo sự chỉ dẫn, anh ta nhích từng bước nặng nề với vẻ nao núng tợn, ánh nhìn thêm vài phần ghê tởm đến là kinh hoàng, bắt đầu tiến hành một cách hết sức cẩn trọng khám xét mớ áo quần của nạn nhân.

“Này, này!” Anh ta kêu lên thảng thốt. “Tôi đã sẵn sàng đón nhận mọi điều xấu xa. Thế rồi, anh ta rút trong túi áo ghi lê một

chiếc chìa khóa có nhãn nhỏ xíu bằng giấy ivody. “Vâng, chính nó đây. Anh nhìn xem, nó được đánh dấu là căn lều gỗ đây này.”

Viên trung sĩ đưa chiếc chìa khóa cho Thorndyke, anh ta hết sức chăm chú, rồi chuyển qua trầm trồ kinh ngạc, vội lấy từ trong túi áo ra một cây bút chì sao chép và viết lên nhãn: đã tìm thấy thi thể.

“Trước hết” Thorndyke chầm chậm nói. “Trăm phần như một chiếc chìa đó vừa với ổ khóa.”

“Sao có thể, tôi cam đoan đây chắc chắn là một vụ giết người.” Viên trung sĩ hoảng loạn. “Thì bởi ông ta bị nhốt trong đó đấy thôi.

“Hẳn là vậy rồi. Thorndyke đồng tình. “Nhưng vấn đề dừng ngay tại điểm đó. Kích thước của chiếc chìa khóa này có gì đó không được ổn cho lắm.”

Vừa nói, anh ta vừa cầm chiếc chìa mà chúng tôi đã đem từ nhà chính ra. Sau đó tiến hành tra chiếc chìa vừa lấy được từ túi của thi thể vào ổ. Không nằm ngoài dự đoán, chúng chẳng những không vừa mà thậm chí còn lọt thỏm vào lỗ khóa.

Vẻ dửng dưng xen lẫn hoài nghi đột nhiên biến mất trên khuôn mặt viên trung sĩ. Anh ta chộp lấy chìa khóa từ tay Thorndyke, thử đi thử lại nhưng kết quả không mấy khả quan hơn là bao. Thế rồi, anh ta đứng phắt dậy, đôi mắt ráo hoảnh nhìn chăm chăm vào đồng đội của tôi.

“Được lắm. Anh ta cay đắng. “Thất bại ê chề! Tại sao chiếc chìa khóa chết tiệt đó lại sai cơ chứ!”

“Ta nên tìm chiếc chìa khác trên người nạn nhân, có thể lắm. Thorndyke rít chữ qua kẽ răng. “Tuy không chắc nhưng tôi nghĩ ta vẫn nên thử thì hơn

Đến đây thì viên trung sĩ đã không còn trưng bộ mặt kinh hãi có phần khép nép ban nãy nữa. Thay vào đó, anh ta gấp gáp lục tung hộc túi của người chết và tìm cho ra chùm chìa khóa. Đáng tiếc thay bởi chúng đều rất nhỏ, không có chiếc nào vừa với cánh cửa nơi thi thể được phát hiện. Sự thể khó lường chính là tất thảy các khóa trong chùm đều không có chiếc nào là của căn lều gỗ hay cánh cổng im lìm tội nghiệp kia. Thêm lần nữa, viên sĩ quan gập người rồi thẳng thớm đứng phắt dậy, nhìn Thorndyke không chớp mắt.

“Bất ổn quá rồi, vụ án này còn nhiều uẩn khúc quá đi thôi. Anh ta thở dài thườn thượt.

“Không sai” Thorndyke vội đáp. “Vấn đề là cánh cửa đã bị khóa nhưng không phải từ bên trong, vậy nên trăm phần như một, cánh cửa hẳn đã được khóa từ bên ngoài. Lẽ dĩ nhiên thì chiếc chìa khóa ấy, chiếc chìa khóa không khớp với ổ khóa có lẽ do một người nào đó đặt vào túi áo của ông Crofton. Một vài sự kiện tiếp nối nhau đều đặt ra hàng loạt nghi vấn. Phỏng như cái cách mà chiếc cốc được đặt ở bàn cạnh giường biến mất, và chiếc cốc ấy đang có mặt tại đây. Anh nhìn kĩ chúng xem, không khó để nhận ra một đến hai vết sáp nến còn vương vãi trên sàn nhà, cây nến có lẽ đã sắp xếp và đặt ở góc ngay gần cửa. Căn phòng hiện tại không còn lưu lại sự hiện diện của bất kì cây nến nào; nhưng rõ ràng trong phòng ngủ đã từng tồn tại một cây nến và dường như chúng đã được mang đi còn đế nến thì ở lại. Điểm lưu có tác động duy nhất chính là ngón tay cái. Phải rồi. Trước nhất, việc cấp thiết là lấy được dấu vân tay của người quá cố đã. Cảm phiền anh đem giùm tôi chiếc cặp từ trong phòng ngủ, Jardine?”

Tôi chạy trở vào nhà (cố để người đàn ông ở ngôi nhà gỗ kế bên không chú ý tới). Sau đó vội tìm kiếm chiếc cặp, hớt hải đem xuống căn lều gỗ cho Thorndyke. Vừa dừng chân tới ngưỡng cửa, hình ảnh đập vào mắt tôi là Thorndyke đang cầm chiếc cốc lên với dáng vẻ cẩn trọng, tinh tế bằng bàn tay trái đang đeo găng của mình. Ánh đèn như xuyên thấu chiếc cốc đang hướng lên cao kèm trợ thủ đắc lực là kính lúp. Tình thế có vẻ khả quan hơn hẳn, bởi vậy mà anh ta cứ săm soi cái cốc mãi.

“Lại đây nào Jardine, nếu anh dành tâm sức để quan sát chúng một cách kĩ lưỡng, thì những điều thú vị sẽ liên tiếp mở ra. Ví như có hẳn hai dấu vân tay của hai ngón cái khác nhau, chúng đều là tay trái cả đấy, vậy nên chúng hẳn phải đến từ hai cá thể riêng rẽ. Anh còn nhớ chiếc cốc được đặt ngay góc bên phải của bàn cạnh giường không, có vẻ như ai đó đã chạm vào chúng, cái thứ nằm vật vờ bên góc trái của chiếc giường ấy.”

Trong khi tôi đang kiểm tra các dấu vân tay, thì anh ấy lại tỉ mẩn đặt chiếc cốc xuống sàn và mở “hộp đồ nghề diệu kỳ” của mình, bên trong được trang bị đầy đủ như một phòng thí nghiệm di động. Thế rồi, anh ta lấy ra chiếc hộp bằng đồng nhỏ thó có ống mực bên trong, một con lăn tí teo và vài tấm thẻ tin hin. Nắp của chiếc hộp được dùng làm đĩa mực, anh ta hành động thoăn thoắt các bước để lấy dấu vân tay của thi thể, viết các chi tiết một cách cẩn trọng lên từng thẻ.

“Dấu vân tay của ông Crofton ấy, anh đang kiếm tìm điều gì từ chúng” Tôi cho rằng câu hỏi của mình phỏng chừng cũng đứng đắn và rất thuyết phục đấy chứ.

“Chứ anh nghĩ còn đáp án nào khác ư. Thorndyke cứ khinh khỉnh như thế. “Chúng ta cần phải chứng minh dấu vân tay đó là của một người đàn ông khác, và rằng chúng không phải của Crofton. Hay họ hơn nữa khi dấu vết ấy còn lưu lại trên sáp nến khô. Đó là điểm mấu chốt và quan trọng lắm. Cấp bách vô cùng, bởi vậy hãy “cuốn chiếu” cho xong mớ hỗn tạp ở đây trước đã, rồi chúng ta sẽ giải quyết hết mọi thứ thật dứt điểm, trong một lần thôi.”

Đóng chiếc hộp lại, anh ta cầm lấy cốc bằng bàn tay đeo găng, dẫn đường trở vào nhà, viên trung sĩ lẽo đẽo theo sau khi cửa nẻo đã được khóa kĩ. Chúng tôi đi một mạch vào phòng ngủ, nơi Thorndyke lấy cây nến ra khỏi đế cắm cùng trợ thủ đắc lực là chiếc kính lúp, tỉ mẩn so sánh dấu vân tay từ tấm danh thiếp đến cái cốc.

“Tin được không” Anh ta hồ hởi. “Dấu vân tay bên trái cơ đấy. Khác xa hoàn toàn với dấu vân của Crofton nhưng có vẻ lại khớp với vết tích kỳ bí lưu lại trên cốc. Có thể người lạ mặt đã cầm cây nến từ phòng ngủ, sau đó trở ra căn phòng gỗ rồi lại mang trở vào đây. Và dĩ nhiên cây nến đã được hắn ta thổi tắt trước khi rời khỏi căn nhà, tiếp đến là thắp nến đi tới căn lều gỗ.

Viên trung sĩ và tôi chắp nối các dữ kiện đã xảy đến, như cây nến hay chiếc cốc, và rồi các tình tiết cứ xào xáo qua lại. “Tôi e là anh sẽ không thể khoanh vùng những kẻ khả nghi có thể sơ suất để lại dấu vân tay đâu! Không thể nào biết được, đại để như ai là kẻ khả nghi và sẵn sàng có động cơ ra tay sát hại ông Crofton ấy?”

“À thì, cái đó. Giọng Thorndyke chậm rãi. “Câu hỏi này đáng ra nên dành cho bồi thẩm đoàn mới phải.

“Nên vậy” Viên trung sĩ gật gù. “Sẽ chẳng mấy ai dị nghị về lời tuyên án từ họ. Đây chẳng phải trường hợp cố ý giết người rành rành hay sao.

Thorndyke lặng thinh, anh ta không tham gia vào cuộc tranh luận ngoài việc chỉ ra nơi an toàn để cất giữ cây nến hay cái cốc và “kỳ nghỉ của dân du mục thực thụ” đề bạt trước đó của cả hai rõ ràng đã tan thành mây khói. Chúng tôi từ biệt viên trung sĩ, người đàn ông đang nắm giữ chiếc danh thiếp của chúng tôi để quay trở về nhà ga.

“Tôi e là. Bằng tất cả sự cẩn trọng gom góp lại. “Chúng ta nên thông báo sự kiện này cho bà Crofton thôi.

“Hượm đã nhé, tất cả những gì chúng ta nên làm không bao gồm việc anh vừa nhắc tới. Thorndyke dứt khoát. “Luật sư hoặc tệ lắm là Ambrose sẽ giải quyết việc đó. Anh biết địa chỉ của tay luật sư chứ, nếu anh có thì hãy gửi một bức điện tín, thật ngắn gọn thôi nhé, rằng anh ta có thể sắp xếp một cuộc hẹn vào lúc tám giờ tối nay hay không. Và tuyệt đối đừng để lộ thêm bất cứ chi tiết nào khác. Lời đề bạt chỉ cần viết Đã tìm thấy Crofton, lưu ý duy nhất điều đó thôi Jardine ạ. Và hãy đánh dấu bức điện là khẩn để anh ta giữ đúng hẹn.

Tôi gửi bức điện tín khi vừa đặt chân tới nhà ga, tuy nhiên, chuyến tàu tới London của cả hai lại chẳng mấy suôn sẻ bởi thông báo vội vã được đưa ra. Thì là, chuyến tàu tiếp theo đây sẽ chậm trễ chút ít, đồng nghĩa với việc cả hai chúng tôi sẽ có nhiều thời gian hơn để thảo luận về vụ án, bản thân tôi cũng có thêm một khoảng để suy ngẫm về chuỗi sự kiện. Thú thực, đầu óc tôi quay mòng mòng suốt, nghi vấn lớn nhất khiến tôi khắc khoải, chúng nhảy nhót và rối mù bởi chính câu hỏi của viên trung sĩ nhưng Thorndyke thì chỉ nhăm nhe lảng tránh, một cách đầy lộ liễu. Liệu ai sẽ là người nảy sinh động cơ sát hại Crofton rồi tẩu thoát? Quả là một câu hỏi khó nhằn khi ta chợt nhớ tới mớ di sản kếch xù vừa được trao tay kèm thêm điều khoản trong di chúc của bà Shuler nữa. Ở đó quy định rõ ràng rằng, nếu Crofton chết trước vợ mình, thì di sản sẽ thuộc về bà ấy. Giờ đây, tiêu điểm đều hướng về Ambrose, anh vợ của Crofton ấy, ông ta đã kề cận em rể mình trong ngôi nhà gỗ mà không một ai được chứng kiến. Dòng suy tư trượt dài theo cảm xúc và tôi đang cố kìm cho mình không rơi vào hố đen của tuyệt vọng. Tôi chỉ mong sự vụ này sẽ được Thorndyke làm sáng tỏ, bằng mọi giá. Nhưng chính sự e dè của anh ấy, khi những câu hỏi của viên trung sĩ đưa ra đều chỉ nhận lấy sự thờ ơ cùng lảng tránh, điều đó như củng cố quan điểm rằng anh ta không muốn bàn về câu chuyện này thêm nữa.

Tám giờ không trật một li, khi bữa tối tại nhà hàng kết thúc, chúng tôi có mặt tại tư gia của vị luật sư nọ và được dẫn vào phòng làm việc, nơi cả hai diện kiến quý ông Jobson đang lụi hụi ghi chép trên bàn làm việc. Anh ta liếc nhìn Thorndyke ra điều kinh ngạc lắm, khi lời hỏi han đi đến hồi kết, anh ta mở lời bằng chất giọng hanh hao: “Bác sĩ Thorndyke ấy, thật thất lễ khi phải hỏi anh, anh ta có dây mơ rễ má gì đến vụ trao đổi quá đỗi riêng tư này của hai ta?”

“Vâng, chắc chắn rồi. Tôi vội đáp. “Đó là lý do tại sao anh ấy có mặt tại đây.

Jobson gật gù. “Crofton thì sao?” Anh ta lãnh đạm dò xét. “Anh đã xới tung chốn nào để tìm ra ông ta vậy?”

“Tôi rất lấy làm tiếc Jobson ạ, khi phải thông báo với anh. Tôi chầm chậm nói. “Ông ấy đã chết rồi. Một sự việc kinh hoàng lắm. Chúng tôi tìm thấy xác của ông ta bị giam hãm trong căn lều gỗ. Crofton ngồi nép mình trong góc như hình nhân không dây đổ gục dưới sàn nhà.”

“Chao ôi! Chúa ban phước lành!” Tiếng rít như xé gió luồn qua kẽ răng vị luật sư. “Ông ấy đáng ra không nên đến đó một mình. Tôi đã cảnh báo ông ta đến là tận tình. Bất hạnh làm sao khi chúng bắt nguồn từ khoản bảo hiểm, dù cho số tiền đó chẳng thấm thía gì cho cam. Các anh biết đấy, điều khoản trong hợp đồng dành cho trường hợp tự tử.”

Thorndyke tiếp lời: “Tôi có một thắc mắc, rằng liệu bảo hiểm có phải nguyên nhân của vụ án này không. Nhân viên điều tra đã phát hiện ra và gần như chắc chắn đây là vụ việc cố ý giết người.”

Jobson sững lại, tưởng như kim giây đang hẫng mất vài nhịp và lướt qua đời anh ta. Trong một khoảnh khắc hiếm hoi nào đó, sắc mặt Jobson thoắt chuyển sang tím tái quá thể, còn đôi mắt cứ dán chặt vào Thorndyke với vẻ hoảng hốt tột độ.

“Một tên sát nhân ư!” Anh ta lặp đi lặp lại câu nói với độ rung run rẩy của dây thanh quản. “Nhưng, chẳng phải anh đã nói ông ta tự nhốt mình trong căn lều gỗ đó sao. Đây chẳng phải là bằng chứng chân thật nhất về việc tự kết liễu đời mình ư.”

“Ông ấy không tự giam chính mình, anh biết đấy. Chìa khóa của căn phòng không nằm bên trong.”

“Ra là vậy!” Tay luật sư thở hắt ra, có vẻ như anh ta đang chơi vơi lắm và cố tìm kiếm điểm tựa để bình tĩnh trở lại. “Nhưng, hẳn là anh đã kiểm tra túi của ông ấy rồi chứ?”

“Vâng, vâng. Chúng tôi còn tìm thấy chiếc chìa khoá có nhãn căn lều gỗ. Nhưng đó không phải là chiếc chìa khoá của căn phòng. Thật vô nghĩa khi chúng không thể tra vào ổ. Còn gì để hoài nghi thêm đâu, cánh cửa chắc hẳn đã bị khóa từ phía ngoài.”

“Lạy chúa tôi!” Jobson kêu lên, bằng chất giọng thều thào hụt hơi. “Sự tình có vẻ đáng ngờ quá. Dẫu vậy, tôi vẫn chẳng thể tin, mọi thứ thật khó lòng chấp nhận nổi.”

“Có lẽ vậy?” Thorndyke lạnh lùng. “Nhưng mọi chuyện đã hoàn toàn sáng tỏ rồi. Bằng chứng đủ đầy lắm thưa ngài, rằng nhân chứng đã trông thấy một người lạ mặt lẻn vào ngôi nhà gỗ lúc nửa đêm canh ba, nghe chừng lén lút vô cùng. Sự thể hẳn đã diễn ra mau lẹ, ngay trong phòng ngủ ấy thôi. Cái xác sau đó đã được bí mật đem xuống căn lều gỗ, cùng với chiếc cốc và cây nến đặt ở chiếc bàn cạnh giường. Dưới ánh sáng leo lét của ngọn nến, mọi công đoạn được diễn ra hết sức tỉ mẩn, nến được đặt trong góc trên nền sàn, còn tử thi thì dựng lên để tạo hiện trường giả. Khi đã sắp xếp xong xác chết, hung thủ liền bỏ vào túi nạn nhân chiếc chìa khóa được lấy trên giá treo đặt trong phòng khách. Bước tiếp theo chỉ là khóa trái cửa phòng từ bên ngoài, trở vào nhà, để chìa khoá tại đúng vị trí trước đó, đặt nến và đế cắm. Cuối cùng là khóa cửa nhà chính, cổng rồi sau đó đem theo chùm chìa khóa rời đi.”

Gã luật sư chăm chú lắng nghe lời diễn giải cùng nỗi thất kinh chẳng thốt nên lời. Sau tất cả, anh ta thều thào đặt ra nghi vấn: “Anh nghĩ chuyện tồi tệ này đã xảy đến vào lúc nào?”

“Phỏng chừng đâu đó cỡ đêm ngày 15 tháng này thôi. Đó là câu trả lời.

“Nhưng” Jobson không đồng tình với câu trả lời. “Vào ngày 16, ông ấy đã viết thư và gửi về nhà cơ mà.”

“Vâng, hẳn nhiên không thể nhầm lẫn được, ông ấy là chủ nhân của bức thư. Thorndyke nói. “Nhưng là ngày mùng 6. Ai đó đã viết thêm số 1 vào trước số 6 và gửi lá thư tại Margate trong ngày 16. Tất nhiên, tôi sẽ chịu trách nhiệm đưa ra bằng chứng khi cuộc điều ra được mở.

Tôi bỗng rơi vào hoang mang. Khi bắt gặp phong thái ung dung có phần lãnh đạm, kèm chút nghiêm cẩn từ Thorndyke, chúng khác xa với vẻ thong dong, nền nã vốn được xem là bản ngã thường nhật của anh ấy. Và cũng chính động thái quá khích từ phía luật sư, tôi e là chúng ẩn chứa điều gì đó sâu xa hơn thế, thứ mà mắt thường chẳng thể trông thấy được. Jobson chậm rãi châm điếu thuốc, tôi quan sát nhất cử nhất động từ đầu chí cuối. Anh ta dùng một que diêm nhỏ của hãng Bryant & May rồi ném xuống sàn như một thói quen khó bỏ. Tôi mong ngóng câu hỏi tiếp theo từ phía Jobson. Và để thỏa lòng nguyện ước của tôi, cuối cùng anh ta cũng tiếp nối cuộc đối chất tưởng như đã rơi vào ngõ cụt: “Có bất kì hình dung, đại để như, manh mối nào đó về danh tính của nhân vật bí ẩn hay không?”

“Hắn ta không thoát khỏi tội danh giết người? Ồ, tôi e là vậy. Cảnh sát sẽ có kỹ năng, nghiệp vụ để xác minh danh tính hung thủ một cách chắc chắn.”

“Điều đó chỉ đúng trong trường hợp họ tìm thấy người đàn ông ấy” Giọng Jobson đanh lại.

“Quả nhiên. Anh biết không, khi tất cả các đầu mối đáng lưu tâm được sắp xếp một cách bài bản, thì toàn cảnh bức tranh của vụ án sẽ hiện lên, điều đó bao gồm cả những viên gạch tỉ mẩn nhất về hung thủ.”

Jobson ấy, anh ta cứ châm thuốc và phì phèo như kẻ điên cuồng loạn không sao kiểm soát nổi, còn cặp mắt thì dán chặt xuống sàn nhà, dòng suy tư như cỗ máy chẳng cách nào dừng quay. Ngay sau đó, Jobson ngập ngừng nói, đuôi mắt cụp xuống nặng nề. “Giả dụ như đội điều tra tìm ra người đàn ông bí ẩn ấy. Rồi sao? Bằng chứng nào chứng minh rằng anh ta là kẻ đã giết chết Crofton?”

“Ý của anh phải chăng là bằng chứng trực tiếp?” Thorndyke đáp lời. “Phải. Tôi chẳng thể đưa ra câu trả lời xác đáng, bởi tôi đã không kiểm tra thi thể nạn nhân; nhưng bằng chứng gián tiếp thì đủ cả, những gì tôi cung cấp cho anh trước đó đã đủ để luận tội trừ khi một lời biện minh thuyết phục hơn được đưa ra ngoài động cơ giết người. Và tôi có thể khẳng định với anh một điều. Thorndyke bình thản. “Trong trường hợp kẻ tình nghi đưa ra lời biện minh hợp tình hợp lý, thì hẳn là chúng nên được đưa ra trước khi bị can bị buộc tội.”

Không gian lặng im như tờ, tôi loay hoay tìm kiếm gương mặt nghiêm trang của Thorndyke và ngó đến bộ dạng tái nhợt đến là thảm thương của gã luật sư. Câu chuyện cứ thế bỏ ngỏ, Jobson đứng lên một cách đột ngột, chân trước chân sau rảo nhanh khắp phòng, rồi anh ta dừng lại bên lò sưởi, ra sức lảng tránh ánh mắt của Thorndyke, lời nói bảy phần cộc cằn ba phần buông xuôi: “Vâng, tôi sẽ thành thật thuật lại cho anh mọi chuyện. Ngày mà tôi ghé tới Seasalter, đúng như anh đã nói, vào cái đêm ngày 15 ấy, nhân tiện tìm gặp Crofton tại ngôi nhà gỗ. Tôi muốn thông báo cho ông ấy về sự ra đi của bà Shuler cũng như những điều khoản có trong di chúc mà bà ấy để lại.

“Nếu tôi không nhầm thì anh đang có trong tay một vài thông tin mật về bản di chúc đó?” Thorndyke đều đều nói.

“Vâng, chính là vậy. Anh họ tôi là luật sư đại diện của bà Shuler và anh ấy đã kể cho tôi về sự tồn tại của bản di chúc.

“Vậy còn tình trạng sức khỏe của bà ấy thì sao?”

“Là thế này đây. Tôi đặt chân tới ngôi nhà gỗ khi sắc trời bảng lảng. Cả cổng và cửa trước đều để ngỏ, do vậy mà tôi chẳng nhọc công để bước qua ngưỡng cửa, miệng thì gọi tên Crofton một cách dồn dập. Điều kì lạ chỉ xảy đến khi tôi không nhận được bất kì tín hiệu hay hồi âm nào từ ông ấy. Bởi vậy mà tôi đã đánh một que diêm nhằm thắp sáng căn phòng tối đen như hũ nút. Tiếp đến, tôi tiến tới phòng ngủ và đánh thêm một que diêm ngay tại đó; dưới ánh nến nhập nhoạng ban tối ban sáng, Crofton dần rõ dạng với cơ thể im lìm bất động ngay trên giuờng. Tôi mở lời và gắng sức gọi ông ấy, nhưng thứ tôi nhận lại chỉ là sự lặng thinh, và chẳng có chút động tĩnh nào được diễn ra từ phía đối phương. Tôi thắp thêm một ngọn nến khác và đặt ngay cạnh bàn đầu giường của ông ấy, và giờ đây thì tôi có thể khẳng định suy đoán của mình là đúng, rằng ông ấy đã chết, không chỉ mới đây thôi đâu, chắc chắn thế - có lẽ cũng cỡ hơn tuần trời rồi.”

“Tâm trí tôi hoảng loạn, cú sốc ấy quá khủng khiếp khiến tôi điêu đứng, khi hình ảnh một người đàn ông cô đơn chết trong ngôi nhà gỗ quạnh hiu ấy, điều đầu nhiên và duy nhất tôi có thể làm là lao vội ra ngoài nhằm cầu viện từ những người xung quanh. Nhưng chân tôi chững lại khi ngang qua phòng khách, lá thư mà tôi tình cờ trông thấy được xếp gọn ghẽ đặt ngay trên bàn, hẳn là ông ấy đã tỉ mẩn viết thư tay và sẽ gửi cho vợ mình sớm nhất có thể. Xui rủi làm sao cái tính tò mò, tôi đã lấy chúng ra khỏi phong thư chưa được dán kín và đọc nó. Trong thư đề ngày mùng 6, cho biết ông ấy sẽ đến Margate một thời gian và sẽ trở về căn nhà gỗ của mình.

“Giờ phút định mệnh đó, nội dung lá thư đã nhen nhóm trong tôi mê lực, con quỷ ấy, anh biết mà. Rất đơn giản thôi, chỉ cần đặt một số 1 trước số 6, nghĩa là mốc thời gian sẽ được thay đổi từ ngày mùng 6 thành ngày 16. Sau đó lá thư theo đúng dự tính được gửi từ Margate, chẳng nhọc công để tôi kiếm ba mươi ngàn bảng Anh chỉ trong chớp mắt. Đường đi nước bước như phơi bày ra trước mắt tôi. Dẫu vậy, tôi chẳng vội bắt tay vào kế hoạch ngay. Việc đầu tiên ấy à, hẳn là phải kéo rèm và khóa trái cửa nhà lại, tôi cần thời gian để suy tính trước khi hành động, dục tốc bất đạt. Thực tế cho thấy rủi ro dường như bằng không, bất trắc chỉ xảy đến khi ai đó ghé tới ngôi nhà và nhận thấy tình trạng của cái xác không khớp với ngày tháng đã được thay đổi trên lá thư mà thôi. Tôi nhìn một lượt thi thể của người đàn ông xấu số ấy. Bên cạnh ông ta là một ngọn nến đang cháy dở cùng chiếc cốc khô cằn còn sót lại đôi ba giọt chất lỏng màu nâu. Ông ấy đã tự đầu độc chính mình, đó là điều mà tôi nhận thấy được. Một ý tưởng chợt lóe lên trong tôi, giả dụ như đặt cái xác và cái cốc tại nơi nào đó thật khó tìm trong khoảng thời gian ngắn, thì hẳn nhiên hiện trạng của chúng cũng sẽ thay đổi, và ngày gửi của lá thư theo đó sẽ trôi vào dĩ vãng mà chẳng một ai ngó ngàng hay đả động tới.

“Đã có lúc tôi rơi vào bế tắc khi không thể nghĩ ra một nơi chốn thích hợp để cất giấu thi thể, nhưng rồi căn lều gỗ chợt xuất hiện trong tâm trí tôi. Sẽ chẳng một ai tìm kiếm ông ta tại nơi đó. Những cuộc viếng thăm không tìm thấy chủ nhà chỉ khiến họ đưa ra kết luận nhanh chóng, rằng ông ấy vẫn đang ở Margate chưa trở về. Tôi mau chóng cầm cây nến cùng chìa khóa được lấy từ giá treo rồi đi xuống đó. Tuy nhiên, cửa nẻo đã cắm chìa sẵn, bởi vậy mà tôi có đem chiếc chìa khóa kia bỏ lại vào túi của Crofton. Trong tâm tưởng của tôi, chưa khi nào dám nghĩ tới hai chiếc chìa khóa đó không phải là một. Lẽ ra, tôi nên tra thử chúng trên cánh cửa đó mới phải.

“Chà, anh biết đoạn kết của câu chuyện rồi nhỉ. Tôi mang xác của ông ta xuống căn lều gỗ cỡ đâu đó khoảng chừng hai giờ sáng, khoá trái cửa, đem chìa khóa đi và treo nó lên trên giá. Tấm ga trải giường được tôi lột sạch, chỉ bởi nó còn vương chút dấu tích của Cofton. Sau đó, tôi dọn lại chiếc giường hết lượt và để tấm chăn ra ngoài. Sáng tinh mơ, tôi bắt chuyến tàu sớm để tới Margate, gửi bức thư sau khi đã sửa được ngày, và rồi ném cả thảy chìa khóa nhà, chìa khóa cổng xuống đại dương sâu thăm thẳm.

“Đó là toàn bộ những gì đã diễn ra. Anh có thể không tin tôi, nhưng tôi biết anh sẽ nguôi ngoai như cách anh trông thấy cái xác và nhận ra tôi chẳng có động cơ gì để giết Crofton trước ngày 15 cả, chắc chắn Crofton đã chết trước cả ngày đó.”

“Tôi sẽ không nói đây là bằng chứng ngoại phạm của anh”. Thorndyke lên tiếng. “Nhưng vì mốc thời gian mà ông ấy qua đời là điểm mấu chốt trong quá trình bào chữa của anh, vậy nên tốt nhất anh nên khai báo điều đó cho nhân viên điều tra, chúng thực sự quan trọng và ảnh hưởng đến toàn bộ vụ án.

“Tôi chẳng hiểu chuyện quái quỷ gì đang diễn ra. Tôi nói khi cả hai cùng tản bộ về nhà (và hoang phí cả buổi tối với Thorndyke nữa chứ). “Có vẻ như anh đã ngửi thấy mùi dối trá thêm chút hoài nghi ngay từ lần đầu thì phải. Nhưng đấy, tôi vẫn không sao hiểu nổi bằng cách nào mà anh phát hiện ra Jobson. Điều đó luôn là ẩn số chưa thể tìm ra lời giải của tôi.

“Không có gì phải chối cãi nếu như anh là một luật sư, anh bạn ạ. Thorndyke vui vẻ. “Mọi thứ đều chống lại Jobson từ những mảnh ghép trong câu từ của anh ngay cuộc trao đổi đầu tiên. Chính anh đã đưa ra nhận định về những điểm nghi vấn trong bản di chúc mà anh ta soạn cho ông Crofton. Lẽ thường tình, toàn bộ tài sản của ông Crofton sẽ được để lại cho vợ mình. Nhưng anh thấy đấy, thay vì như vậy, thì di chúc lại gạch rõ từng hạng mục tài sản trong các điều khoản và còn được chỉ định duy nhất một người thừa kế tài sản, chính là Jobson. Điều đó nhằm hợp pháp hoá kế hoạch của hắn. Tuy nhiên, khi di sản của bà Shuler được công bố, vụ giao dịch vô tình bị chuyển sang một hướng hoàn toàn khác. Di sản được thừa kế không nằm trong bất kì mục nào được soạn trong di chúc. Bởi vậy mà chúng đã không thể đến tay bà Crofton. Vì mặc nhiên di sản sẽ là một phần của bất động sản, nên người thừa kế sẽ được hưởng toàn bộ khối di sản thặng dư.

“Trời đất hỡi ơi, rắc rối gớm!” Tôi kêu lên thảng thốt.

“Còn phải bàn ư, tất cả chỉ kết thúc khi Crofton thu hồi di chúc hoặc lập một di chúc mới. Tột độ của hiềm nghi. Tất cả đều đổ dồn sự nghi ngại về phía Jobson, rằng hắn có thông tin mật về di chúc của bà Shuler và đã tự mình soạn ra một bản di chúc khác của Crofton dựa theo những gì thu thập được. Và khi bà ấy qua đời vì căn bệnh quái ác, bác sĩ chắc chắn đã lường trước được rằng bà ấy sẽ chẳng trụ lại lâu hơn. Thông tin đó chắc hẳn đã đến tai Jobson. Tôi sẽ tóm gọn lại tình tiết cho anh dễ hình dung hơn:

“Crofton, có thể đã tự tử, biến mất khỏi dương thế và không lập di chúc mới.”

“Ngày 13, bà Shuler qua đời, để lại ba mươi ngàn bảng Anh cho Crofton với điều kiện người thụ hưởng còn sống sau người lập di chúc, hoặc nếu xui rủi ông ấy mất, thì di sản sẽ thuộc về bà Crofton. Vậy nên, câu hỏi cấp thiết được đặt ra là liệu ông Crofton còn sống hay đã chết ở phương nào, bằng mọi giá cũng phải tìm được ông ấy mặc người đàn ông đáng thương đã chết trước hay sau ngày 13. Nếu ông ấy qua đời trước ngày 13 thì toàn bộ di sản sẽ thuộc về bà Crofton, nhưng nếu ông ấy chết sau ngày đó thì khối di sản sẽ thuộc về Jobson.

“Không lâu sau đó, chính anh là người cho tôi xem bức thư, mọi chuyện đều hợp lý khi ngày gửi đề là 16. Anh thấy không, ngày tháng đáng giá ba mươi ngàn bảng Anh với Jobton, đương nhiên tôi càng phải xem xét thật kĩ càng. Toàn bộ lá thư được dùng màu mực xanh đen dễ kiếm. Tuy nhiên, loại mực này có một nhược điểm, là dù có đặt trong bì thư mở toang hoác, thì cũng phải mất đến hai tuần lễ để chuyển hoàn toàn sang màu đen. Trong bì thư kín, thời gian sẽ lâu hơn đáng kể. Khi tôi kiểm tra dòng chữ đề ngày tháng qua kính lúp, chúng có sự chênh lệch màu sắc rất rõ ràng nếu so với số 6. Cho nên, chúng hẳn đã được ai đó thêm thắt qua loa. Tôi đã đem nỗi hoài nghi ấy để lần ra mạnh mối. Rằng vì sao lại làm vậy? Và ai là người đã làm ra chuyện đó?”

“Trong hàng ngàn câu hỏi vì sao, lý do khả dĩ còn sót lại chính là Crofton đã chẳng còn sống và hẳn ông ấy đã chết trước ngày 13. Không ai khác ngoài Jobson có động cơ rõ ràng đến thế. Do đó, khi chúng ta khởi hành tới Seasalter, tôi càng chắc hơn về việc Crofton đã chết, và có lẽ ông ấy đang được giấu ở đâu đó trong khuôn viên của ngôi nhà gỗ lạnh lẽo. Tất thảy những gì tôi cần làm khi ấy là xác minh những suy đoán của mình là chính xác.”

“Anh cho rằng Jobson đã nói cho chúng ta biết toàn bộ sự thật?”

“Hẳn là thế. Không chỉ vậy, tôi còn nghi ngờ rằng anh ta cất công một chuyến đi xa còn có mục đích khác, đại để như đánh cắp bản di chúc cũ trước khi hắn có thể lập nên bản di chúc mới. Việc tìm thấy thi thể của Crofton là nỗi ám ảnh kinh hoàng mang tên tuyệt vọng. Nhưng chính tôi cũng phải thừa nhận một điều, hắn là một tên cặn bã với màn xử trí tài tình; và hắn chỉ thất bại ở một chi tiết nhỏ xíu mà thôi. Tôi cho rằng lời bào chữa của hắn sẽ chống lại được mọi cáo buộc về tội danh giết người. Tuy nhiên, tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản thì e là khó lắm.”

Đúng như lời tiên đoán của Thorndyke. Jobson được tha bổng với tội danh sát hại Arthur Crofton, nhưng hắn không thoát nổi “bản án” về bức thư mạo danh và phần còn lại của mưu đồ quá đỗi hoàn hảo mà hắn đã dàn dựng.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của r. austin freeman