Cuộc Viếng Thăm Của Vị Khách Bí Ẩn

Lượt đọc: 1038 | 4 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3: PHÁT KIẾN HÃO HUYỀN
Ảnh chương 3

Dở hơi dở hồn thật chứ. Stalker thuộc Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Griffin kêu toáng lên với vẻ bực dọc

\ / khi vụ khiếu nại ra điều chẳng mấy suôn sẻ gì. “E là chúng tôi sẽ phải ôm hết đống nợ nần này mất.

“Hẳn là vậy rồi.” Thorndyke khẽ đáp. “Nguyên do của cái chết đích xác là hợp tình hợp lý, người chết cũng đã được mai táng êm xuôi, còn ông thì lại chẳng có bất kì bằng chứng nào để xin hỗ trợ cấp lệnh điều tra thêm nữa.

“Trời đất hỡi ơi” Stalker kêu than. “Kết luận trên quả là báng bổ hết sức và dĩ nhiên, tôi không lấy gì làm hài lòng với điều đó cả. Chắc gì tay bác sĩ đã thực sự biết nguyên do của cái chết. Tôi ước giá như việc hỏa táng được diễn ra một cách minh bạch hơn nữa.

“Bởi vậy mà tôi có phải nghi ngại gì đâu, kẻ đầu độc thì nhan nhản ra. Thorndyke buông lời cọc cằn.

Khóe môi Stalker hé mở rồi lặng thinh, ông ta bị mắc nghẹn bởi quan điểm của chính mình. “Tôi biết sự phán định của hai ta đang phân tách rạch ròi lắm. Ông ta nói tiếp. “Nhưng tất cả chúng ta đều biết, cách tốt nhất để không một ai phải khó xử chính là đi tới thỏa thuận có lợi cho đôi bên. Trong trường hợp hỏa táng, anh không cần phải dựa vào giấy chứng tử hợp pháp, nguyên nhân tử vong mà anh đang có sẽ được xác minh bởi cơ quan có thẩm quyền, rất khó để xác định đây có thực là một vụ oan sai hay không.”

Thorndyke lắc đầu như thể ngán ngẩm lắm và thẳng thừng chối từ lời bào chữa trên. “Đó là một mộng tưởng tót vời, Stalker ạ. Ông đâu thể lường trước được những tình huống bất ngờ ập tới. Sự thể cho thấy, mọi hồ nghi khi đoán định trước tương lai của ông không hơn gì mớ lý thuyết kiểu mẫu. Khi đặt các trường hợp tử vong nhưng không có điểm gì là bất thường, cơ quan có thẩm quyền sẽ vào cuộc để xác minh điều đó; còn nếu chúng rơi vào trường hợp bất thường, thì ông sẽ không nhận thêm một lời xác minh nào cả. Và hẳn nhiên, mọi nghi ngại phát sinh sau lễ hỏa táng, thì cái chết cũng không còn cơ hội để xác thực hay bảo toàn tính minh bạch nhằm bác bỏ phán quyết cuối cùng được nữa.

“Theo tôi thì. Stalker thẳng thắn. “Rằng việc thẩm tra và khám xét cẩn trọng, triệt để sẽ đưa ta đến một kết luận khả quan hơn trong việc tìm ra tội ác trước khi đem thi thể đi hỏa táng.”

“Đó là tất thảy những gì chúng ta mong đợi. Thorndyke thừa nhận. “Nhưng sẽ chẳng có cuộc điều tra chuyên sâu nào ngoài khám nghiệm tử thi tổng quát cả, một phương thức tuyệt vời để cái xác biến mất hoàn toàn trên cõi đời còn sự thật của cái chết thì chôn vùi vĩnh viễn.”

Stalker nở một nụ cười nhàn nhạt khi ông ta nhặt chiếc mũ vừa đánh rơi của mình. “Anh biết không? Stalker điềm nhiên. “Thứ quan trọng nhất của một tay thợ sửa giày không gì khác

ngoài da thuộc, và tôi cho rằng, đối với một nhà độc chất học thì không gì bằng vén màn sự thật. Đó cũng là lời tạm kết cho cuộc gặp gỡ của chúng tôi. Cứ thế, ông ta quay gót rời đi mà không một lần khoảnh lại.

Thế rồi, ngày vui ngắn chẳng tày gang, ông ta lần nữa xuất hiện sau một tuần biệt tích. Ngay hôm đó thôi, ông ấy tìm đến chúng tôi để gắng gỏi xin ý kiến về một sự vụ mới toanh.

“Đã xuất hiện một phi vụ hợm hĩnh lắm Thorndyke à.” Ông ta lúng búng với dáng vẻ cấp bách. “Mặc xác việc anh có đương để tâm đến sự vụ này hay không, còn tôi thì vẫn hoài mong ngóng lời khuyên thiện ý từ anh suốt. Sự tình là thế này đây: Vào ngày 18 tháng trước, người đàn ông tên Ingle đã đóng bảo hiểm với tổng giá trị lên tới một ngàn năm trăm bảng Anh. Ông ta tinh ranh và chẳng mấy chốc đã trở thành miếng vá bài bản trong giới thượng lưu. Thế sự khó lường, mới đây thôi, ông ta đột nhiên lìa đời. Căn nguyên của cái chết được xác định do bệnh suy tim (HF) quái ác, quả tim rệu rã với phần mỡ dư thừa cùng tần suất giãn nở một cách quá độ. Vợ ông ta, Sibyl, người thừa kế di sản (độc nhất), cũng là người thi hành bản di chúc đã yêu cầu thanh toán toàn bộ số tiền bồi thường, hết sức quyết liệt.

“Tất nhiên rồi, chúng tôi nhất mực sẵn lòng để hoàn tất phần còn lại của bản hợp đồng. Cho nên, không mất quá nhiều thì giờ để sắp xếp, cuốn chiếu thủ tục và trao gửi số tiền mà người thụ hưởng xứng đáng được nhận. Những tưởng mọi chuyện đã êm xuôi, thì người phụ nữ tên Margaret Ingle xuất hiện với tuyên bố về việc cô ấy mới chính là vợ của người quá cố ngay trước sự kiện bàn giao di sản diễn ra. Không quên hùng hổ khẳng định chắc nịch rằng mớ tài sản đó là của người đầu ấp tay gối với mình. Sibyl bỗng chốc từ thiên đàng đọa xuống địa ngục với lời định tội của Margaret. Ả ta thực chất là một góa phụ với cái tên Huggard, người đã đồng thuận ghi tên mình lên bản hợp đồng song hôn vô cùng trịch thượng, và hẳn nhiên, cô ả tường tận việc lão già đã yên bề gia thất rồi.

“Thú vị quá.” Thorndyke húng hắng, câu từ thành ra lấp lửng. “Mặc dầu vậy, xin hãy hồi lại ký ức những gì ông đã từng nói với tôi, sự vụ nào có tí dính dáng gì đến ông cơ chứ. Hãy để tòa án chứng thực di chúc và làm tròn bổn phận của mình, chỉ thế thôi.

“Vâng, đã có lúc tôi cho đó là phương cách mực thước, đúng lẽ. Stalker gần như đồng tình tuyệt đối. “Dẫu vậy, những gì anh vừa nghe mới chỉ là tảng băng chìm trên mặt hồ phẳng lặng. Margaret không chỉ gọi đích xác ả đàn bà kia là quân cướp chồng mà còn chỉ điểm ả với tội danh giết người nữa.

“Dựa vào đâu cơ chứ?”

“À, một mớ bòng bong vương vãi và nhộn nhạo, mơ hồ hết sức, lý do mà cô ta đưa ra ấy. Thì là, chồng của Sibyl, tên James Huggard, đã qua đời trong một hoạt cảnh đầy vẻ kệch cỡm đáng nghi ngại. Tựa hồ cái chết đã kéo theo nhiều lời bàn ra tán vào, tỷ dụ như anh ta đã bị đầu độc chẳng hạn. Và cô ấy thì một mực khẳng định Ingle còn mạnh giỏi và cường tráng lắm, ông ta không thể chết với nguyên do lãng xẹt như vậy được.”

“Hẳn phải có uẩn khúc nào đó.” Thorndyke lên tiếng. “Việc ông ta chỉ thực sự bước chân vào giới thượng lưu vỏn vẹn mười tám tháng có lẻ. Huggard, người chồng đầu tiên ấy, có lẽ chúng ta cần biết thêm vài thông tin tối quan trọng khác, đại để như: liệu đã có một cuộc điều tra bài bản cho cái chết của ông ta hay chưa và cơ sở nào dẫn tới mối nghi ngại việc ông ấy bị đầu độc. Trong trường hợp dấu hiệu đáng ngờ đã phô phang quá mức, thì việc thiết thực nhất không gì khác chính là đệ đơn lên Bộ Nội vụ để được thông qua lệnh khai quật tử thi của ông Ingle cũng như nhằm xác minh căn nguyên của cái chết, hòng dập tắt những lời đồn đoán vô căn cứ.”

Stalker o bế cảm xúc rồi ngượng ngùng đáp. “Xui tận mạng” Ông ta nói. “Điều đó bất khả thi quá. Ingle, ông ấy đã sớm hóa thành cát bụi mất rồi.

“Ra vậy!” Thorndyke thở hắt cả quãng dài. “Đúng như ông nói, sự thể quả là tiếc nuối. Vụ hỏa táng cứ như con dao hai lưỡi, vừa tăng thêm sự hoài nghi về việc ông ta có thể đã bị đầu độc, đồng thời cũng hủy hoại cách thức hữu hiệu nhất để xác minh sự thật.”

“Đáng ra tôi nên nói với anh sớm hơn.” Stalker tiếp lời. “Trong điều khoản của di chúc, thì hỏa táng là hoàn toàn hợp lý.”

“Vâng, theo tôi thì điều đó chưa đáng để bận lòng chi sất. Thorndyke khẽ đáp. “Khi ngọn lửa thiêu rụi ông ta, chẳng chóng thì chầy, các mối nghi ngại sẽ lũ lượt kéo tới. Vì hẳn nhiên, việc khai hỏa đã chấm dứt sự tồn tại về mặt thể xác trên cõi đời này mãi mãi. Động cơ lớn lao ra trò đấy chứ, bằng việc rót thứ chất lỏng nhuốm màu độc địa vào cơ thể lão chăng. Nạn nhân xấu số đã nhận hai lượt giấy chứng tử, phải chứ?”

“Có thể lắm, thưa ông. Giấy chứng tử được bác sĩ Halbury, ngụ tại phố Wimpole gửi tới. Tiến sĩ Barber, phố Howland, người đã có thâm niên công tác trong ngành Y. Còn người quá cố thì đã từng sống ở Stock-Orchard Crescent, Holloway.

“Howland cách đây tương đối xa. Thorndyke mường tượng đường đi lối lại. “Ông có biết Halbury chính là người đã khám nghiệm tử thi không? Tôi e là ông cũng ù ù cạc cạc về điều đó. “Không thể, anh ta nào có quyền hạn để làm thế. Stalker thảng thốt.

“Hẳn là vậy rồi. Thorndyke trịnh trọng. “Tờ giấy chứng tử mỏng tang của anh ta không có bất kì giá trị nào. Sao có thể xác minh một người đàn ông qua đời bởi suy tim hay không nếu chỉ nhăm nhe hướng cặp mắt vào cái xác đầy tức tưởi của người quá cố cơ chứ. Kết luận trên chỉ vừa được thông qua từ nhân viên y tế mà thôi. Tôi muốn truy xét tường tận và tôi có thể tiến hành điều tra ngay chứ?”

“Luôn sẵn lòng, Thorndyke ạ. Nhưng mong anh hiểu cho, điều mà chúng tôi dụng tâm chưa khi nào nằm ở việc người đàn ông đó có thực sự bị đầu độc hay không, dù rằng lẽ ra tôi nên yêu cầu một khoản bồi thường hậu hĩnh từ tên sát nhân để bù cho mớ chi phí phải trả khi khách hàng đột ngột qua đời. Dẫu sao đi nữa, tôi thực lòng hy vọng anh sẽ điều tra vụ án này, việc mà tôi cho là hoàn toàn nằm trong khuôn khổ của anh.

“Vâng, xin ông hãy cứ an tâm nơi tôi. Thorndyke bị thuyết phục bởi vẻ chân phương từ tận đáy lòng. “Dù vậy, chúng ta vẫn nên liên lạc lại với các bác sĩ đã ký vào tờ giấy chứng tử, nếu may mắn thì họ sẽ là nhân chứng đưa sự thật ra ánh sáng.”

“Phải vậy chứ.” Tôi hồ hởi. “Đừng quên khi ta vẫn còn một thi thể nữa cần được ngó ngàng, Huggard chứ đâu, việc khai quật tử thi sẽ chẳng nhọc công mấy, trừ khi ông ta cũng bị đem đi thiêu sạch mất rồi.

“Vâng. Chính xác là vậy. Thorndyke đồng tình. “Và với tôn chỉ thượng tôn pháp luật của bộ luật hình sự, thì họ sẽ chỉ đặt trọng tâm thu thập bằng chứng về việc nạn nhân có hay chăng bị đầu độc, vậy là xong phim. Nhưng nếu xét theo diện phổ quát thì điều đó thực chẳng giúp ích gì cho Công ty Griffin, khi mà thứ họ quan tâm chỉ là cái chết của Ingle. Cảm phiền anh hãy cung cấp thêm cho chúng tôi một bức tranh toàn diện hơn về chuỗi các sự kiện được cho là có liên quan tới vụ việc được chứ, Stalker?”

“Vâng, cần kíp thì tôi vẫn mang theo thứ này đây” Lời hồi đáp ngắn gọn hết sức. “Vài dòng tin vắn có tên tuổi, địa chỉ, ngày tháng và một vài thông tin quan trọng khác. Anh cầm đi.” Thế rồi ông ta đưa cho Thorndyke mảnh giấy tóm tắt dữ kiện theo kiểu kẻ bảng, lập cột.

Chỉ đến khi Stalker rời đi, Thorndyke mới quét hết lượt nội dung của tờ vắn, sau đó liếc nhìn đồng hồ. “Tôi áng chừng thế này, nếu chúng ta đến phố Wimpole kịp lúc thì điều đầu tiên là phải túm cổ gã Halbury. Nhiệm vụ tiên quyết đấy. Bởi chính hắn là kẻ đã ký vào biên bản xác nhận. Những gì hắn cung cấp, sẽ là dữ kiện quý giá để đưa ra phán đoán về sự vụ gắp lửa bỏ tay người có thể đã xảy đến này. Được rồi, chúng ta bắt tay ngay nhé?”

Chẳng cần đợi tôi kịp hé môi lấy nửa lời, anh ta nhanh lẹ đút tờ vắn vào túi áo và cả hai khởi hành như vũ bão. Ngay đầu ngõ Middle kia thôi, chúng tôi bắt một chiếc taxi. Chiếc xe đỗ phịch ngay trước cửa nhà bác sĩ Halbury, ý tôi là với vận tốc ám ảnh dữ lắm. Vài phút trôi qua, cả hai được đưa tới phòng tư vấn và trộm thấy tay gã đang xúc lia lịa đống thư từ rồi vứt toẹt vào giỏ đựng giấy vụn.

“Giời đất hỡi ơi, sao mà lôi thôi thế?” Anh ta liến thoắng rồi xòe đôi bàn tay ra. “Anh thấy đấy, tôi đang nợ nần chồng chất. Vừa lết cái xác trở về sau kỳ nghỉ. Tôi có thể giúp được gì cho anh đây, hả?”

“Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi. Thorndyke nói năng hết sức mạch lạc. “Về một người đàn ông với cái tên Ingle.

“Ingle ư, Ingle nào nhỉ. Halbury lặp đi lặp lại. “Thôi được rồi, để tôi xem đã nhé.”

"Stock-Orchard Crescent, Holloway." Thorndyke giải thích. “Ô la la. Thế thì tôi nhớ rồi. Dạo này ông ta vẫn ổn chứ nhỉ?” “Ông ta chết rồi. Thorndyke chậm rãi.

“Anh đang nói cái quái gì vậy?” Halbury kêu lên the thé. “Hỡi ơi! Đó hẳn là sự đọa đày được ơn trên chứng giám. Lão già đáng thương với chứng giả bệnh. Bác sĩ phỏng đoán ông ta mắc phải bệnh cơ tim giãn, nhưng thật lấy làm lạ thay bởi tôi không thể tìm ra bất kì sự giãn nở nào được cho là đáng kể. Một vài biểu hiện quá khích, cứ thế, chúng dễ dàng bị dán nhãn là bất thường. Tất cả chỉ có vậy. Còn tôi thì nghiêng về khả năng lão tự mình nốc cạn trinitrine hơn. Chúng gợi nhắc về vụ việc nhai thuốc nổ mà tôi từng gặp phải ở Nam Phi. Thôi bỏ đi! Rốt cuộc là ông ta đã chết ư. Chao ôi, sao mà nao lòng đến thế. Anh hẳn là biết chuyện gì đã xảy ra đúng không? Nguyên nhân cuối cùng của cái chết ấy?”

“Căn bệnh cơ tim giãn đã khiến trái tim mệt nhoài ấy ngưng hoạt động là nguyên nhân được ghi trên giấy chứng tử. Và rồi cái xác đem đi hỏa táng. Chắc anh đã quên mất rồi, giấy xác thực được ký bởi anh.

“Bởi tôi!” Giọng anh ta chua loét. “Vớ vẩn hết sức! Chắc chắn đã có sự nhầm lẫn gì đó ở đây. Tôi chỉ đặt bút để ký giấy cho Hội Ái hữu. Chính ông ta là người mang nó đến đây cho tôi ký chứ đâu, tôi thậm chí còn không biết lão già đã toi đời. Còn nữa, ngay sau hôm gặp ông ấy, tôi đã đi nghỉ mấy ngày trời và chỉ trở về nhà vào ngày hôm qua đây thôi. Điều gì khiến anh cho rằng tôi là người đã ký vào tờ giấy chứng tử cơ chứ?”

Thorndyke đưa tờ tin vắn của Stalker cho Halbury, anh ta cứ thế bật lên thành tiếng nào là tên tuổi, địa chỉ của chính mình kèm theo cái cau mày đến là khó hiểu. “Vụ việc thật chẳng đâu vào đâu. Anh ta nói. “Đã đến lúc lật lại vấn đề rồi đấy.”

Lời đề bạt nhanh chóng nhận được cái gật đầu từ Thorndyke. “Bất thường hơn nữa khi mọi nghi ngại đều hướng về việc ông ta có thể đã bị đầu độc.”

“Vậy thì” Halbury như ngộ ra điều gì đó. “Chỉ có thể là trinitrine thôi, thứ mà anh có thể dùng tùy ý ấy. Không đúng, có vẻ như lão đã bị tôi vu oan mất rồi. Kẻ nào đó đã hạ độc ông già; hay là con mụ vợ quỷ quyệt của lão nhỉ. Mạn phép cho tôi nhiều chuyện, các anh đã khoanh vùng đối tượng nào vào diện tình nghi đặc biệt chưa thế?”

“Phải rồi. Lời cáo buộc ấy à, đại để vậy, đều chống lại vợ ông ấy.”

“Có lẽ ta cần một phiên xét xử. Cô ả đã lừa chúng ta một vố rõ đau. Con khốn dối trá đốn mạt nham hiểm ấy. Mà này, anh bạn sẽ chẳng nhặt nhạnh được gì nhiều từ một hũ tro cốt đâu. Tuy nhiên, tôi phải nhắc lại với anh về việc có ai đó đã giả mạo chữ ký của tôi đấy nhé. Gã ta muốn có được tờ giấy chứng tử, hòng để lấy mẫu chữ viết tay từ tôi chứ không gì khác. Tôi cũng thấy giấy xác nhận hỏa táng đề tên người ký là Meeking. Anh ta là ai mới được? Bởi chính Barber đã gọi cho tôi chỉ để xin ý kiến mà thôi.”

“Phải tìm anh ta bằng mọi giá. Thorndyke từ tốn. “Khả năng cao là Tiến sĩ Barber sẽ biết thêm gì đó. Tôi sẽ đi gặp ông ta ngay đây.

“Anh nói phải. Bác sĩ Halbury liến thoắng, tay bắt mặt mừng khi cả hai đứng dậy. “Hãy đi gặp Barber đi nhé. Dẫu sao thì ông ta mới là người tường tận toàn bộ đầu đuôi vụ việc.”

Từ con phố Wimpole, chúng tôi rẽ sang một hướng khác để đến phố Howland, thật may mắn khi trông thấy xe của Barber đang đậu ngay trước cửa. Thế đấy, lại là một màn chào hỏi tương đối rườm rà từ phía Thorndyke, và rồi anh ta giới thiệu nguyên do của chuyến viếng thăm có phần đột ngột này. Tuy nhiên, một chi tiết tối quan trọng, chính là cuộc đàm luận của chúng tôi với bác sĩ Halbury thì được anh ta giấu nhẹm đi.

“Ingle ấy à” Barber thảng thốt. “Ồ, vâng thưa ngài, tôi nhớ ông ấy chứ. Và cũng vừa hay tin ông già đã qua đời. Một cái chết bất thình lình gớm. Dù cho tôi không thấy tình hình sức khỏe của ông ta có gì quá nghiêm trọng cả.

“Ông ta mắc chứng giãn cơ tim, đúng chứ?” Thorndyke thẳng thắn đi vào vấn đề.

“Hẳn vậy, nhưng chẳng mấy nghiêm trọng đâu. Cũng khả dĩ lắm, hẹp van mạch chủ thì cũng đâu phải. Tim ông già giống như đang phê thuốc thì đúng hơn. Khói thuốc có thể khiến tim lão mệt nhử, giật bình bịch, đột quỵ và lăn đùng ra chết. Kỳ lạ thay khi Meeking đã bỏ quên vấn đề này trong lúc trao đổi với tôi - anh ta là người mà tôi tin tưởng và có thể ủy thác công việc, anh biết đấy. Trong suốt quãng thời gian của kỳ nghỉ, tôi đã để anh ta tiếp quản công việc của mình. Và rồi bây giờ, anh đến đây để nói với tôi rằng anh ta đã ký tên lên tờ giấy chứng tử ấy à?”

“Không sai. Không chỉ có vậy, giấy xác thực hỏa táng nữa ấy chứ.”

“Thật là kỳ lạ. Tiến sĩ Barber lẩm bẩm. “Nào. Xin mời các anh, chúng ta cùng nhau xem lại sổ sách nhé.”

Chúng tôi nối đuôi nhau theo sau ông ta vào phòng khám, và ngay đó thôi, khi mà vị tiến sĩ đang chăm chú lật giở từng trang của cuốn sổ ghi chép hàng ngày, thì tôi đã đánh mắt dọc theo cái giá phía trên của bàn làm việc. Ngạc nhiên hết sức khi đứng từ góc độ này lại dễ dàng trông thấy cả bộ sưu tập đồ sộ hồ sơ vụ án, nào là sổ chứng thực, mẫu thông cáo, có cả sổ thông tin chứng tử nữa.

“Đây đây” Tiến sĩ Barber thốt lên cả quãng dài thườn thượt. “Chúng đây rồi; Mr. Ingle tại Stock-Orchard Crescent, cuộc viếng thăm cuối cùng đề tự ngày mùng 4 tháng Chín, và có vẻ như chính Meeking đã xuất một loại giấy chứng từ nào đó. Liệu anh ta có sử dụng một mẫu in có sẵn hay không? Thế rồi, ông ta cố vươn cánh tay của mình để lấy cuốn sổ xuống, lật ngược lật xuôi các trang giấy.

“Hay quá, tôi tìm thấy chúng rồi. Anh ta mừng rỡ như đứa trẻ vớ được quà. “Ingle, Jonathan ngày mùng 4 tháng Chín. Hiện đã hồi phục và có thể tiếp tục công việc của mình. Không thể là một cái chết được, đúng chứ? Dù cho tất cả chúng ta đều chẳng thể kết luận dữ kiện trên có xác thực hay không.”

Cuốn sổ chứng tử lần nữa được ông ta tỉ mẩn lướt qua các đầu mục có mốc thời gian gần nhất.

“Ôi không” Tiếng thở dồn dập hòa làm một với tốc độ lật giở của từng trang giấy. “Có vẻ như… lạy Chúa? Chuyện quái gì thế

này? Hai tờ giấy ở gáy sách trống hơ trống hoác, cả ngày tháng nữa ấy chứ. Điều gì đã xảy ra từ ngày mùng 2 đến ngày 13 tháng Chín cơ chứ. Quá đỗi man rợ! Sự nhu mì yểu điệu từ một người đàn ông cẩn trọng và chưa từng tắc trách với công việc của mình đây sao!”

Ông ta lật xoành xoạch cuốn sổ ghi chép thường nhật, căng mắt lướt nhìn qua các đầu mục của hai tuần đã mất. Đôi con ngươi trợn tròn hướng lên trên kèm một màn cau mày nhăn mặt đầy lắng lo đang lồ lộ trên mọi đường nét của ông ấy.

“Phải làm cho ra nhẽ vụ này. Ông ta run lên bần bật. “Không có một tập hồ sơ của bất kì bệnh nhân nào đã chết trong khoảng thời gian đó cơ đấy.”

“Meeking, tôi cần biết hắn đang ở đâu?” Tôi đều giọng hỏi ông tiến sĩ.

“Bất cứ đâu, thưa ngài. Loanh quanh trong Nam Đại Tây Dương ấy thôi. Barber đáp. “Ba tuần trước, anh ta đặt chân lên chiếc thuyền đưa thư của Hoàng gia để nhận nhiệm vụ. Vậy nên, hẳn là anh ta không thể ba đầu sáu tay ký nhận cho bất kì trường hợp nào.”

Thế rồi, ông ta kết thúc vẻ bực dọc bằng câu kết đúng trọng tâm, còn chúng tôi thì cắt ngang dòng suy nghĩ bằng cách khởi hành.

“Vụ này đáng ngờ quá, anh có thấy vậy không?” Tôi gọi tên dòng suy nghĩ của mình khi cả hai rẽ xuống đường Tottenham Court.

“Không thể phủ nhận được. Thorndyke xuôi theo dòng cảm xúc. “Những điều dị thường cứ thế lũ lượt kéo tới. Nhưng thứ đọng lại trong tôi thì hẳn phải là sự thông tuệ của tên lừa đảo; hắn có tầm nhìn, có kiến thức, thiên phú ban cho hắn khả năng phán đoán thượng thừa khó ai sánh kịp.”

“Một ván cược dựa vào may rủi của con mồi.” Tôi cho là vậy.

“Rủi ro là điều không thể tránh khỏi, anh bạn ạ. Cái cốt ở đây là sự trù tính và chuẩn bị kĩ càng. Anh thấy đấy, các đầu mục luôn được thực thi một cách quy củ, cẩn mật - chỉ xét về mặt hình thức thôi đấy nhé. Và Jervis hỡi ơi, chúng đã trót lọt, kế hoạch ấy, đã thực sự thành công cơ mà. Lỗ hổng duy nhất phá tan bản thiết kế hoàn mỹ là sự xuất hiện của cô Ingle khi màn hỏa táng đã xong xuôi. Cô ta như rơi xuống từ lỗ hổng của tiểu hành tinh khác, vội vã, ngỡ ngàng, và phát nổ. Những hồ nghi vô căn cứ của cô ta chẳng khác nào bản án có hiệu lực đưa sự thành công phút chót xuống mồ yên mả đẹp. Và phỏng như không có sự xuất hiện đầy đường đột của người đàn bà ấy, thì có lẽ mọi sự hoài nghi đều được hòa tan dưới đáy đại dương cùng nắm tro tàn của ông Ingle mất rồi.”

“Ôi không” Tôi đã bị anh ta thuyết phục hoàn toàn. “Âm mưu bị phát giác là một sự đen đủi đến lố bịch. Nhưng theo anh thì điều gì đã thực sự diễn ra?”

Thorndyke lắc đầu nguầy nguậy.

“Thật khó để đoán định tất thảy. Cách thức của vụ việc thì rõ rành rành, nhưng động cơ gây án và mục đích cuối cùng lại đang rơi vào bế tắc. Thực chất căn bệnh cơ tim giãn chỉ là bức mành ngụy trang không hơn không kém, các triệu chứng được tạo ra bởi nitoglycerine hoặc một số hợp chất gây ảnh hưởng xấu đến tim gã theo cái cách tương tự. Những tay y sĩ được cắt cử chỉ như bức bình phong phù phiếm che đậy tội ác kinh tởm và quan trọng hơn chính là chữ viết tay đầy chuẩn xác của họ. Thực tế, cả hai bác sĩ đều vô tình vắng mặt và một trong số họ còn đang lênh đênh trên biển vào đúng thời khắc mà các nghi vấn đang phát ra thành tiếng - ví như câu nói của người tổ chức tang lễ - thì hẳn là mọi sự đều đã được an bài từ trước đó rồi. Còn các mẫu giấy chứng tử thì hẳn do người đàn bà kia lấy cắp khi ả ta bị bỏ lại một mình trong phòng khám bệnh của Barber. Dĩ nhiên, giấy xác nhận hỏa táng sẽ được đem đi và nộp cho đơn vị thực thi chúng. Các bánh răng khớp nối hài hòa, hoạt động một cách trơn tru, nhuần nhuyễn. Chỉ còn duy nhất một điểm bí ẩn. Meeking gần như chắc chắn là người đã đưa tờ giấy chứng tử mặc cho cái chết xảy đến hết sức đột ngột. Tôi e là Halbury sẽ chối bay chối biến khi phải yêu cầu xác minh điều đó. Bọn họ sẽ chỉ nhận lỗi về mình trong công tác chẩn bệnh có xảy ra sai sót không đáng có, vậy thôi.”

“Một vụ tự sát hoặc dùng trinitrine quá liều thì sao, anh nghĩ có khả năng đó không?”

“Rất lấy làm tiếc khi phải nói với anh rằng, khả năng đó gần như bằng không. Nếu gán cho đây là một vụ tự sát, thì hẳn đó là hành động cố ý nhằm lấy được khoản tiền bảo hiểm cho ả đàn bà kia, trừ khi còn uẩn khúc nào đó đằng sau mà chúng ta chưa thể tìm thấy. Vụ hỏa táng diễn ra, rùm beng và khoa trương quá thể, cốt chỉ để phủ nhận hành vi tự vẫn của nạn nhân; trường hợp cố ý ngộ độc lại càng không khả thi. Vậy thì, nguyên cớ của căn bệnh không gì khác ngoại trừ dọn đường cho một cái chết bất thường?”

“Ồ! Ra vậy” Tôi cảm thán. “Dẫu thế, việc anh bác bỏ trường hợp nạn nhân tự vẫn cũng quá là vô lý đi, chẳng phải chính lão là người đã cung cấp thông tin của bản thân để hỏa táng chính mình hay sao?”

“Tôi còn chẳng hay biết về điều đó. Thorndyke dõng dạc. “Gợi ý đáng giá từ một người có chuyên môn cao trong lĩnh vực đấy nhé. Rất có thể, có thể thôi, rằng ngay bản thân mớ di chúc chỉ là đám hổ lốn trái ngang đã được đánh tráo sự thật.”

“Lạy Chúa, chả có lẽ là vậy.” Tôi thảng thốt trước những thông tin vừa được tiếp nhận. “Tôi còn chẳng mảy may nghĩ tới điều đó.”

“Anh thấy đấy” Thorndyke tiếp tục dòng suy luận. “Tình tiết của vụ án đã cởi trói cho dòng suy tư trong tôi, rằng hỏa táng là một khâu thiết yếu trong bản kế hoạch hoàn hảo; rủi ro sẽ được hạn chế tối đa khi chúng thực thi. Ả đàn bà kia là kẻ thao túng duy nhất và đang vận hành cả chuỗi các sự kiện nhưng vô tình lãng quên điều khoản trong hỏa táng. Vậy thì, nếu coi hỏa táng là quan trọng, thì tại sao lại quan trọng đến thế? Chuỗi chỉ dẫn cho thấy, có điều gì đó không ổn thỏa cho lắm đang tồn tại trong cơ thể nạn nhân; bất cứ điều gì, anh bạn ạ, trong phạm vi mà các bác sĩ có thể quan sát và chỉ điểm một cách dễ dàng nếu tro cốt thực sự khai quật.

“Ý anh là các vết thương còn sót lại, hay dấu vết của vụ đầu độc chưa tan?”

“Tôi toan nói với anh, ta sẽ tìm ra cách để khám phá nghi vấn mà chẳng cần phải tiến hành đào xới gì hết đâu.

“Bởi vậy mà tôi cóc thể nào hiểu nổi, người đảm đương cái xác ấy, chả lẽ anh ta không nhận ra bất cứ điều gì bất thường hay sao?”

“Câu hỏi chứa đựng tư chất, Jervis ạ. Phải làm một chuyến thăm hỏi người khâm liệm ngày hôm đó. Địa chỉ của anh ta đây: đường Kentish Town, một quãng xa xôi so với nhà của người quá cố. Tốt nhất là chúng ta nên bắt chuyến xe buýt và đi ngay thôi.

Chiếc xe buýt phủ màu quýt chín tiến tới chỗ chúng tôi vừa hay câu từ đã dứt. Quả là điềm lành! Cả hai tấm tắc ngợi khen hết mực về cơ may bất chợt, sau đó cùng nhau thảo luận khi chiếc xe bon bon trên đại lộ tiến về phía Bắc. Ông Burrell, người phụ trách tang lễ, trông ông ta cứ trầm ngâm mãi. Đây hẳn là người đàn ông giàu lòng trắc ẩn trong tấm thân còm cõi như lá rụng về cội. Ngoài quán xuyến công việc của nhà tang lễ, ông ấy còn kiêm thêm vài ba đầu việc khác như đóng cỗ quan tài, hay dăm việc lặt vặt liên quan đến nghề mộc. Ông ta cũng chẳng khó nhằn gì khi chúng tôi yêu cầu cung cấp thông tin cần thiết để phục vụ quá trình điều tra. Hồ hởi là thế, nhưng ông ấy quả thực cũng không có mấy điều quan trọng để nói với chúng tôi.

“Quả thực, tôi chưa khi nào nhìn ngắm kĩ càng xác của người chết đâu thưa quý ngài. Ông ta đáp lại những câu hỏi đã được Thorndyke chuẩn bị tươm tất.

“Và khi tôi tiến hành đo đạc cũng như nhặt nhạnh các con số, thi thể theo lẽ thường đã phủ kín bằng một tấm vải; Bà Ingle tiến vào phòng vội vã, tôi gắng gỏi làm cho xong công vụ của mình một cách mau lẹ và gọn ghẽ nhất có thể rồi rời đi ngay

“Vậy là ông còn chưa đặt cái xác vào cỗ quan tài hay sao?”

đó."

“Đúng thế, thưa ngài. Bà Ingle nói rằng chính tay bà ấy và anh trai của người đàn ông quá cố sẽ đặt thi thể vào trong mà không cần ai giúp hết.

“Vậy là ông cũng không được chứng kiến cảnh tượng đó hay tự mình bắt vít nắp quan tài nữa ư?”

“Vâng ông ạ, tôi không phải người đã thực hiện công việc đó. Khi tôi tới nơi thì ốc vít đã bắt xong xuôi cả thảy. Thế nhưng lạ lắm thưa ông. Bà Ingle nhất mực nói phải đóng nắp quan tài càng sớm càng tốt nên chẳng thể đợi tôi. Còn tôi thì cho điều đó là thấu tình đạt lý thôi. Thời tiết đang dần ấm lên rồi mà. Có điều, thứ khiến tôi nhớ mãi là cái mùi formalin nồng nặc đến là buồn nôn cơ.

“Này” Tôi nói khi cả hai đang tản bộ tới thị trấn Kentish Road. “Chẳng có thêm tiến triển nào nữa cả.

“Tôi thì không cho là vậy đâu.” Thorndyke nhẹ giọng. “Bước tiến chính là lời khẳng định về sự khéo léo của bản kế hoạch hoàn hảo đấy chứ. Hơn nữa, chúng ta cũng xác thực thêm một điểm rất mực khả thi, là hẳn phải có điều gì đó bất thường lắm đang hiện hữu bên trong cái xác. Vì lẽ ấy mà ả ta đã chẳng họ he gì với người khâm liệm ở nhà xác. Dù vậy, không một ai có thể phủ nhận màn kết hợp ăn ý đã diễn ra trót lọt này, những bộ não thông tuệ, tầm nhìn rộng mở, chỉ là đã đặt sai chỗ mà thôi. Bí mật về cái chết của người quá cố sẽ mãi là ẩn số và được bảo chứng qua mọi thời đại.”

Giống như đoạn mật mã không thể nào mã hóa. Theo lẽ thường, người phụ nữ có thể sẽ bị truy tố về tội danh làm giả giấy chứng tử hay song hôn. Nhưng sau cuối, đó lại chẳng phải điều cốt yếu hay mối bận tâm sâu thẳm của chúng tôi hay ngay cả Stalker.

Jonathan Ingle đã chết, thật khó để tìm ra nhân chứng có thể tỏ tường việc làm thế quái nào mà ông ta toi đời. Trở về căn phòng thân thuộc, chúng tôi tìm thấy một bức điện tín mới coong vừa gửi tới, thông báo rằng Stalker sẽ ghé qua vào buổi tối. Và cũng chính bởi vẻ cẩn mật xen chút nóng vội của ông ấy khiến chúng tôi hồ nghi về việc đã có thêm bước ngoặt nào đó trong vụ án. Thật không sao kìm lòng cho đặng. Ông ta xuất hiện vào đúng sáu giờ, bỏ qua màn dông dài, cứ thế đi vào vấn đề ngay tắp lự.

“Tôi mang tới dăm ba diễn biến mới nhất trong vụ Ingle đây. Lồng ngực ông ta phập phồng với trái tim căng tức bởi nét thỏa thuê hòa với lo lắng làm một. “Ngay từ đầu, người phụ nữ tên Huggard đã bắt vít cỗ quan tài. Tôi đến nhà ả ta để hỏi cho ra lẽ, thì phát hiện cảnh sát đang tụ tập tại đó. Họ đến để bắt cô ả về tội song hôn. Thế quái nào mà sau một hồi thăm hỏi, ả đã được thả đi và xóa sạch mọi tội trạng. Phía cảnh sát đã tiến hành lục soát khắp ngả, một cách bài bản lắm. Nhưng tôi e là họ cũng dụng tâm vô ích thôi, không có gì đáng để lưu tâm ngoài dăm ba hộp tiếp đạn của khẩu súng trường. Và theo lẽ dĩ nhiên nhất, không hơi đâu mà họ để ý thứ đó cả. Vì sao ư, vì ả ta chẳng lý nào bắn tên sĩ quan bằng khẩu súng trường ngay được.

“Anh có biết chúng là loại đạn gì không?” Thorndyke truy hỏi. Stalker thọc đôi bàn tay vào túi quần.

“Gã thanh tra đã cho tôi xem một thứ, nó ở đây. Thế rồi ông ta đặt lên bàn một hộp quân sự chạm khắc tinh xảo, cỡ cũng khoảng hai chục năm trước ấy chứ. Thorndyke nhấc chúng lên, lấy từ trong ngăn kéo ra chiếc kẹp, hoàn cảnh bỗng chốc trở nên oái oăm gớm, thế rồi chiếc kẹp phẫu tích được đẩy vào bên trong. Và khi anh ta rút chiếc kẹp ra, đôi ba sợi dây ngắn cũn trông như chỉ tan sinh học cũng từ đó mà ra nốt.

“Là thuốc nổ không khói!” Tôi thất kinh hô vang. “Có lẽ Halbury đã đúng, và đó cũng là cách cô ta có được nguồn cung ứng nguyên liệu cho mình. Sau cả quãng dài như thế kỷ, khi Stalker nhìn tôi với ánh mắt hấp háy niềm mong mỏi, tôi đã hào phóng tiết lộ cho ông ta đôi chút về tình hình cũng như kết quả của các cuộc điều tra mà chúng tôi đã thực hiện đó giờ. “Gì chứ!” Ông ta thốt lên. “Các tình tiết cứ ngày một dày lên thế nào ấy nhỉ. Mớ mánh khóe nhạt thếch trên tờ giấy chứng tử có vẻ tự thân chúng đã kết nối với hàng tá những cú lừa để đưa dẫn tôi tới đây và kể hết sự tình cho các vị. Ingle, lão là thư ký kiêm thủ quỹ của một công ty bất động sản. Rồi rồi, chả giấu gì các anh, tôi đã có một chuyến thăm hỏi tới văn phòng của Ingle chỉ ngay sau khi cuộc đàm luận giữa chúng ta đi vào dĩ vãng. Một vài câu chuyện phiếm với gã chủ tịch đổi lại đôi chút thông tin quý báu. Từ ông ta, tôi được biết thêm về Ingle, lão quả thực đã quản lý toàn bộ các quyết sách và vấn đề tài chính của cả công ty. Chính lão là người đứng ta nhận lấy phần trọng trách, thanh toán tất thảy các khoản tiền nong và gìn giữ giấy tờ các loại. Tuy vậy, chỉ mới đây thôi, một số giám đốc đã bắt đầu nảy sinh hoài nghi về tình hình tài chính của công ty, dường như tất cả đều đánh hơi được điều gì đó chưa ổn thỏa lắm. Không lâu sau, một cuộc thanh tẩy nội bộ từ trên xuống dưới đã diễn ra bởi công ty kế toán trung gian đứng đầu kiểm định. Tất nhiên, Ingle cũng được thông báo về điều ấy, nhưng chỉ vài ngày sau đó thôi, một lá thư từ vợ ông ta đã gửi tới và nhắn rằng ông ấy bị đau tim cấp, việc yêu cầu kiểm kê sổ sách có thể sẽ bị hoãn đến khi ông ta bình phục để tham gia cùng toàn thể công ty.

“Sự kiện đã thật sự bị hoãn lại sao?” Tôi vội vàng.

“Không, không hề. Stalker đáp lời. “Kế toán yêu cầu được lấy cả thảy số sổ sách để bắt tay vào việc ngay tức khắc, và họ đã làm y thế. Chẳng ngạc nhiên là bao khi phía kế toán đã tìm ra vài điểm nghi vấn lạ thường không hề ăn khớp trong sổ sách với số tiền lên tới ba ngàn bảng Anh chưa thấy kê khai. Thật khó để tìm cho ra cách thức mà ông ta đã thực hiện khi mà vụ gian lận này đã đầu xuôi đuôi lọt. Tuy nhiên, tất thảy đều đổ dồn sự nghi ngờ việc một số tấm séc bị gửi trả đều là giả, điều đó đã được đội ngũ chuyên gia thẩm định xong xuôi hết cả.

“Phía quý công ty có liên lạc với Ingle để đề cập đến vấn đề này chưa?” Thorndyke gặng hỏi.

“Không, thưa ngài. Bỗng một ngày, họ nhận được thêm một lá thư khác từ bà Ingle - thật tình thì đó là Huggard. Cô ả đề cập đến tình hình sức khỏe của Ingle, đại để là rất mực nghiêm trọng; bởi vậy mà họ đã đi đến thống nhất rằng sẽ đợi ông ta bình phục sau đó sẽ tiến hành giải quyết vụ việc. Thế nhưng, sau tất cả, thứ họ nhận được chỉ là thông báo về cái chết của một tên bạc nhược với thói lừa lọc xảo trá. Vậy nên, sự việc tồn đọng và bị trì hoãn vô thời hạn cho đến khi chứng thực di chúc. Tôi đã đề bạt một yêu cầu bồi thường đối với khối bất động sản trên tư cách là người thi hành di chúc, nhưng cô ả đã bỏ trốn, mọi thứ trở nên rối rắm kinh.”

“Ý anh là. Giọng Thorndyke trở nên gấp gáp. “Rằng những kẻ làm giả giấy chứng tử dường như đã móc nối với bè lũ gian trá trong công ty ư. Làm sao mà anh có thể xâu chuỗi chúng lại với nhau cơ chứ?”

“Ý kiến chủ quan thôi Thorndyke ạ, tôi cho là, hoặc ít nhất là, những gợi mở… Stalker đáp lại câu hỏi của Thorndyke. “Đây có thể là một trường hợp tự sát. Lão Ingle đó, nhận thấy việc gian lận của mình đã bị phát giác hoặc có nguy cơ bị phanh phui, và rằng trăm phần như một ông ta sẽ phải chịu mức án đến là khủng khiếp lắm, bởi vậy mà lão sẽ tự mình bỏ trốn trước khi vụ bê bối bị đem ra truy vấn. Theo góc nhìn khác, giả dụ lời cáo buộc giết người được bãi bỏ, thì bà Huggard có thể sẽ ra mặt và đưa dẫn chứng cứ về vụ tự sát cũng nên.

Thorndyke ra điều không đồng tình với quan điểm trên cho lắm.

Anh ta từ tốn. “Không thể bác bỏ cáo buộc về tội giết người. Với vẻ điềm nhiên và dõng dạc. “Phỏng như đó là một vụ tự vẫn thì Huggard chắc chắn là kẻ đồng lõa; và theo luật định, một kẻ đồng lõa với kẻ muốn kết liễu đời mình chẳng khác nào cô ả là kẻ tiếp tay với tội danh giết người. Tuy nhiên, thực tế lại chẳng có bất kì cáo buộc giết người nào chính thức được đưa ra, và cho đến thời điểm hiện tại cũng chưa hề có phương thức nào hòng duy trì cáo buộc đó. Nhân dạng của hũ tro cốt được cho là đã xác minh ngay trong lễ hỏa táng, nút thắt chỉ dừng lại ở nguyên do cái chết. Ingle ấy, chính lão đã thừa nhận bản thân đang mang bệnh. Để thăm khám căn bệnh tim đó, ông ta đã qua tay ba vị bác sĩ. Hẳn nhiên, rất khó để tìm ra bằng chứng nào khác cho thấy lão ta đã không ra đi vì chứng bệnh quái ác đó cả.

“Nhưng căn nguyên của căn bệnh được cho là do nhiễm độc từ thuốc nổ không khói.” Tôi tiếp lời. “Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể tin tưởng cho tới thời điểm hiện tại. Tuy nhiên làm gì có gã nào dám cắt máu ăn thề với điều ấy cơ chứ. Chết tiệt, ngay chính tôi đây cũng không thể đưa ra nhận định xác đáng rằng cái chết của ông ta được gây nên bởi nhiễm độc bằng thuốc nổ không khói hay không.”

“Vậy thì. Stalker tiếp tục. “Hẳn là không còn cách nào khác để tìm ra căn nguyên về cái chết của ông ấy là do tự nhiên, tự tử hay bị sát hại nữa rồi?”

“Chỉ còn một cách duy nhất mà thôi. Thorndyke điềm nhiên. “Việc xác định nguyên do của cái chết bằng cách kiểm tra hũ tro cốt của người đã khuất là điều không tưởng.”

“Vâng, chúng có vẻ không khả thi cho lắm thật. Tôi đáp lời Thorndyke. “Việc kẻ sát nhân tiến hành vụ đầu độc bằng thuốc nổ không khói chắc chắn sẽ chẳng để lại dấu vết nào.

Thorndyke đăm chiêu, ra điều khó lòng cảm thông với quan điểm trên cho được. “Chúng ta không nên bó buộc chính mình vào nhận định rằng ông ấy chết chỉ bởi ngộ độc thuốc nổ. Vì dẫu sao thì trường hợp đó dù đứng trên góc độ nào cũng chẳng có cơ may xảy ra. Và hẳn nhiên việc đánh lạc hướng này đang nhằm che đậy đường đi nước bước của một chất độc vô danh ít gây chú ý, hoặc có thể cái chết đã được tạo ra bởi một tác nhân nào đó mà chẳng ai có thể lường trước được.

“Hượm đã nào. Tôi ra sức phản đối. “Anh nghĩ xem liệu có thể phát hiện ra bao nhiêu loại chất độc có trong hũ tro cốt cơ chứ? Đúng vậy, không một chất độc ở trạng thái tự nhiên nào để lại dấu vết cả, chúng tương tự như chất độc trong nhóm kim loại có trong thủy ngân, antimon, hay asen ấy, mất dạng luôn mà.”

“Không” Giọng Thorndyke đanh lại quả quyết. “Có lẽ anh đã bỏ quên điều này, những chất độc kim loại hoàn toàn có thể dễ dàng khôi phục từ đống tàn tro, tỷ dụ như chì, thiếc, vàng, bạc. Tuy nhiên, thảo luận và suy đoán về xác suất của sự việc là điều vô ích dữ lắm. Cơ may duy nhất để tìm cho ra manh mối nào đó khác dù nhỏ nhoi là tiến hành kiểm tra hũ tro cốt. À thì, tôi biết khả năng cao rằng chúng ta sẽ khó tìm được thứ quái quỷ nào đó có ích, nhưng dẫu chỉ còn một tia hy vọng mong manh thì hãy thử bám víu vào chúng xem sao.

Tôi và Stalker như đóng băng trước tuyên ngôn đầy gai thép của Thorndyke, mím miệng làm thinh không ho he gì thêm nữa. Dẫu vậy, đâu đó trong tôi vẫn cảm nhận được thanh âm của dòng suối nguồn suy tưởng đang trượt dài trên tất thảy, chúng chưa khi nào ngơi nghỉ. Thorndyke ấy à, anh ta chẳng mấy khi phải chịu “ngậm đắng nuốt cay”. Ấy vậy mà dường như Huggard đã làm một vố ra trò và chúng đang mấp mé vượt ngưỡng mà Thorndyke có thể chịu đựng được. Ai đời, một nhà điều tra tội phạm học buộc phải xem xét hũ tro cốt với niềm tin mãnh liệt vào khả năng vẽ nên một sơ đồ hoàn chỉnh về diễn tiến của chuỗi sự kiện xảy đến mà người quá cố gặp phải trước khi lìa đời. Chẳng ngoa khi đệm dẫn thêm lời chân thật rằng anh ta đang trải qua kiếp nạn tương đối khủng khiếp, kiểu như bị đẩy vào bước đường cùng ấy. Hy vọng đến là tuyệt vọng.

Trái ngược với nỗi lắng lo dư thừa của chúng tôi, Thorndyke đối mặt với vấn về một cách hết mực khoan thai, mối bận tâm duy nhất của anh ta là Bộ trưởng Bộ Nội vụ sẽ từ chối cấp lệnh tự do kiểm tra mớ cát bụi của nạn nhân. Thế rồi nỗi lắng lo chẳng sống nổi mấy hồi, chỉ vài ngày sau đó, lá thư ủy quyền đã được gửi tới, nội dung để báo cho anh ta rằng, Tiến sĩ Hemming - nhân vật mà cả hai chúng tôi sớm đã nhẵn mặt, với tư cách là nhà nghiên cứu y khoa chuyên nghiệp - đã được cắt cử góp mặt trong cuộc điều tra và không loại trừ khả năng anh ta sẽ là viên gạch móc nối và phân tích manh mối về hóa học nếu cần kíp.

Ngày định đến trong chớp nhoáng, Tiến sĩ Hemming ghé qua cư gia của chúng tôi, tất cả cùng nhau khởi hành đến phố Liverpool; chiếc xe cứ thế lướt nhanh không một khắc ngơi nghỉ, anh ta hăng say biểu lộ quan điểm cá nhân và tôi chợt nhận ra sứ mệnh của tất cả là điểm giao thoa hoàn hảo. Bởi rằng, dù cho Hemming có khảng khái, phóng khoáng cỡ nào với các chủ điểm liên quan tới chuyên môn, thì ở khía cạnh nào đó, sự trầm tư có chừng mực và kín kẽ về chủ điểm của cuộc điều tra sắp tới vẫn luôn được bảo mật và gìn giữ trang nghiêm hết mực. Thực tình, mọi tư liệu tham khảo sơ bộ về cuộc điều tra do chính Thorndyke đem tới ngay sau khi đoàn tàu tiến gần hơn Corfield, nơi giàn hỏa thiêu đã nằm yên vị. “Có vẻ như. Thorndyke lên tiếng. “Tất thảy đều ổn thỏa rồi phải không, Hemming?”

“Đúng là vậy, Thorndyke ạ. Đó là câu trả lời. “Sẽ có một buổi gặp mặt với giám đốc nhà tang lễ, ông ấy sẽ dẫn chúng ta đến hầm mộ, nơi những bộ hài cốt và hũ tàn tro đã sắp xếp gọn ghẽ. Và trước sự chứng kiến của tất thảy, ông ấy sẽ lấy cỗ quan tài từ trong hộc đựng linh cữu từ nhà thờ rồi chuyển chúng tới văn phòng, nơi cuộc khám nghiệm được diễn ra. Tôi cho rằng đó là phương án khả dĩ lắm. Dẫu vậy, để mọi sự diễn ra suôn sẻ nhất, vì rằng cỗ quan tài đã niêm phong và mang danh người tạ thế nên sẽ không thành vấn đề nếu bị táy máy chứ nhỉ.”

“Không thể tiên lượng trước điều gì sẽ xảy đến. Thorndyke nói. “Nhưng dẫu sao, giả định trên của anh là đúng. Sẽ ổn thôi nếu chúng ta có biện pháp phòng ngừa rủi ro khi phải đối mặt với việc xác định danh tính của một đống hài cốt, bởi cát bụi thì không có khả năng định danh được chính mình.”

“Đó cũng là tất cả những gì mà tôi cảm nhận được. Hemming từ tốn. Không lâu sau đó, khi bánh răng của đoàn tàu giảm tốc, anh ta chêm thêm vài ba câu khác: “Đây là điểm dừng của chúng ta rồi đấy, còn người đàn ông trên sân ga kia ắt hẳn là vị giám đốc sẽ đồng hành cùng đoàn.”

Phỏng đoán không trật một li, tuy nhiên, đó lại chưa phải nhân vật duy nhất có mặt tại đây. Bởi khi chúng tôi đang cùng nhau trao đổi thông tin, thì bóng dáng cao lớn rất đỗi thân quen dần tiến tới sân ga từ phía sau toa tàu. Người đó không ai khác chính là anh bạn niên lão của chúng tôi, Giám đốc Miller tại Cục Điều tra Hình sự.

“Các anh đừng hiểu lầm, tôi chẳng báu bở gì mà xía mũi vào chuyện của các anh. Câu bông lớn như xa như gần theo gót anh ta hòa lẫn vào cuộc trò chuyện. Thorndyke bắt đầu màn giới thiệu anh bạn thân hết lượt với cả thảy. “Chúng tôi được Bộ Nội vụ thông báo rằng một cuộc điều tra đang được tiến hành, anh biết đấy, tôi có thể nhặt nhạnh bất kì mẩu thông tin vụn vặt nào mà anh có thể bất cẩn đánh rơi. Tất nhiên, tôi không hề được yêu cầu phải có mặt tại cuộc điều tra ấy.”

“Thật tình thì anh có thể góp mặt với vai trò nhân chứng cài thêm cho việc di chuyển hũ tro đấy.” Thorndyke tung hứng với nét duyên dáng mang vẻ bỡn cợt nửa vời. Thế rồi, không chút ngượng ngùng, Miller đã thực sự có mặt để tham gia bữa tiệc hài cốt, một mạch băng băng từ sân ga để qua khu nghĩa địa.

Lối vào hầm mộ nằm yên vị bên trong tòa nhà ẩm thấp xa tít mù khơi, được điểm xuyết bởi mái vòm cùng vô vàn thảm xanh của cây cối ấp ôm huyền ảo. Lộ trình của chúng tôi dài dằng dặc, và trong đó có ghé ngang qua lò hỏa thiêu, căn nhà nhỏ thó mang dáng dấp trang nghiêm đúng điệu nhà thờ với trục ống khói đục lỗ bị khuất lấp một phần bởi ngọn tháp thấp. Khi những bước chân tiến vào hầm mộ cùng nhịp bước đều đặn, tất thảy chúng tôi đều theo sự chỉ dẫn tới “nhà thờ cổ”, trên bức tường có hằng hà những hốc lỗ và là nơi an nghỉ của vô số hũ tro cốt, mỗi hốc sẽ chứa một chiếc bình bằng đất nung hoặc cỗ quan tài. Tay giám đốc tiến tới gần cuối hành lang, ông ta dừng bước và mở cuốn sổ ghi chép được đem theo bên mình. Mã số, tên tuổi, những chi tiết quan trọng đã được ông ta dạn dĩ cất tiếng “Jonathan Ingle” và rồi dẫn chúng tôi tới một góc nơi những con số, những cái tên tạc khắc rõ nét. Chúng đều có đầy đủ tên tuổi, ngày mất của người quá cố, ý tôi là trên chiếc quan tài đó thật chẳng thiếu thứ gì. Mọi khâu xác minh đều được tiến hành chớp nhoáng. Và trong lúc chúng tôi còn mải miết săm soi từng chi tiết thì quan tài đã được hai tay cảnh vệ nhấc bổng ra khỏi vị trí một cách nhẹ bẫng, thế rồi họ di chuyển tới một căn phòng ngập tràn ánh sáng trắng ở phía cuối căn nhà, nơi có chiếc bàn lớn vuông thành sắc cạnh được kê sát cửa sổ đã phủ sẵn lớp lót trắng tinh tươm. Chẳng mấy chốc khi quan tài được đặt trên bàn, những gã thân cận đã vãn dần đi, để lại tay giám đốc tháo dỡ các con dấu và mở tung nắp hòm.

Không gian lặng im như tờ khi tất thảy chúng tôi đều nhìn chăm chăm vào bên trong cỗ quan tài; cơ chế phản vệ thôi thúc

-

tôi chống chọi với sự tương phản mạnh mẽ giữa ánh sáng cùng vô số chi tiết lộ thiên khi nắp quan tài bật mở. Thật tình, liêm khiết là lớp ngụy trang hoàn hảo nhất nhằm che đậy mọi điều xấu xa, thối nát. Các mảnh vỡ như bản sao của khối san hô, trắng tựa tuyết, mong manh, dễ vỡ bởi kết cấu xếp chồng, đan khít như đăng ten, chúng khác xa so với hình dung ban đầu của tôi. Không gớm ghiếc cũng chẳng hãi hùng gì, trái lại, chúng sở hữu mê lực đến là dị thường. Bản tính tò mò của nhà giải phẫu khiến tôi không sao rời mắt cho nổi. Ánh nhìn tôi vội lướt qua chút tàn dư chói lọi của một nhân dạng mù mờ đã từng thoi thóp thở. Nửa vô thức tìm cách định hình và gọi tên những mảnh vỡ. Tôi thất kinh ra trò vì sự khó nhằn trong việc xác định cái này hay cái kia có điểm gì khả nghi - thứ vật thể nhờ nhờ trắng ấy có thể là bất kì bộ xương nào mà tôi từng có cơ may tiếp xúc, chúng thân thuộc tới mức khó lòng lý giải nổi.

Ngay sau đó, Hemming ngước ánh nhìn nghi ngại về phía Thorndyke và hỏi. “Anh có tìm ra điểm bất thường trên bề mặt của đống tro tàn này hay không? Còn tôi thì chịu chết.

“Tôi có một đề xuất thế này.” Thorndyke đáp lời. “Cách tốt nhất để quan sát toàn bộ là ném chúng lên bàn đi.

Phi vụ được tiến hành hết sức lẹ làng, chỉ trong chốc lát, Thorndyke tiến hành trải chúng ra và bắt đầu chạm các đầu ngón tay vào mảnh vỡ, bằng sự khéo léo tuyệt đối - vì xét cho cùng, thứ anh ta đang tiếp xúc đều hết sức mong manh, dễ vỡ

“Cam go thật đấy. Hemming vội vàng. Lời nói thốt ra khi chúng tôi đều đang tập trung hết mức để xem xét từng li từng tí với vẻ nghiêm cẩn. “Sao cơ? Tôi không hề thấy bất kì vết tích của tạp chất nào hết. Anh có thấy gì không?”

“Không gì cả. Thorndyke trầm ngâm. “Và một vài điểm vốn dĩ phải xuất hiện nhưng tôi cũng không thể nhìn ra chúng. Ví như là, báo cáo y khoa có chỉ điểm, người đã khuất sở hữu bộ răng chắc khỏe. Nhưng rốt cuộc thì chúng ở đâu? Không mảnh vụn nào ở đây sất. Dẫu sao đi nữa, răng là bộ phận có khả năng kháng nhiệt cao hơn rất nhiều so với xương, đặc biệt là men răng.”

Hemming đánh mắt hết lượt qua đống mảnh vỡ rồi ngước lên với gương mặt cau có đầy vẻ rối bời.

“Tôi phải cam đoan một điều, rằng không có bất kì dấu hiệu cho sự tồn tại của miếng răng nào ở đây cả. Cứ như thể anh ta đã chiêm nghiệm sau cả kiếp người. “Thật khó để hiểu cho ra nhẽ mọi điều, rất giống với những gì anh từng nói. Thú thật thì anh có nhận thấy ám thị đáng ngờ nào hay không vậy?”

Một câu hỏi hóc búa để truy ra đáp án thỏa đáng nhất, Thorndyke khôn khéo vô cùng khi cầm lên mảnh xương và từ tốn chĩa về phía mọi người. Tôi nín thinh với khuôn miệng cứng đờ, đó cũng chính là lúc mối nghi ngại bắt đầu bén rễ, tỏa đi khắp hang cùng ngõ tận trong tâm trí tôi.

“Một mẩu xương sườn ấy hả.” Hemming phấn khích ra mặt. “Lạ thật đấy, sao nó có thể thẳng thớm, gọn ghẽ một cách mượt mà như thế chứ. Không thể loại trừ khả năng mẩu xương đã bị xẻ bằng cái cưa rồi.”

Tiếp đến, Thorndyke đặt mẩu xương đang cầm trên tay xuống và nhặt tiếp một mẩu khác có kích cỡ nhỉnh hơn chút đỉnh, thứ thu hút tầm nhìn của tôi mãi.

“Một ví dụ khác nữa nhé. Anh ta đung đưa câu chữ, tiếp đó là trao mẩu xương cho cộng sự của tôi.

“Hẳn vậy? Hemming đồng tình. “Lạ thường một cách phi thường. Trông kìa, hệt như nó đã bị ai đó cưa ngang vậy.

“Chính nó” Thorndyke tiếp lời. Kẻ tung người hứng hết sức hồ hởi. “Nói xem, anh nên xướng tên cho vài ba mẩu xương xẩu này thế nào đây?”

“Anh đang đi guốc trong bụng tôi sao, thú thực đó cũng chính là điều mà tôi hoài nghi chính mình. Hemming nói, nhìn vào những mảnh vỡ cùng khuôn miệng méo xệch. “Nực cười biết bao khi một nhà giải phẫu học có năng lực lại đang nghi ngại những gì mình trông thấy, trung thực mà nói, tôi không thể tự tin xướng cho nó một cái tên chuẩn mực. Hình khối cho tôi phán đoán, đại để như là xương chày ấy, nhưng vậy thì bé nhỏ quá rồi. Hay nó là đầu trên của xương trụ?”

“Tôi có nên nói cho anh biết điều này không” Thorndyke thản nhiên. Rất nhanh thôi, anh ta lựa một mẩu xương khác có kích cỡ lớn hơn và trao cho Hemming, đề nghị anh ta điểm mặt gọi tên cho mảnh xương đó.

Anh bạn của chúng tôi bắt đầu lộ rõ vẻ hoang mang đến là tội nghiệp.

“Bất thường quá thể, anh biết đấy.” Hemming bối rối. “Thật tình, tôi không có cách nào dám chắc với anh đây là phần xương nào. Linh tính cho tôi biết đây hẳn là thân của một khúc xương dài, nhưng vì Chúa, tôi sẽ bị treo cổ tới chết nếu đưa ra lời định đoạt rồi gán cho đó là điều đúng đắn. Kích thước quả nhiên quá lớn so với cổ chân và quá nhỏ đối với bất kì loại xương chi chính nào. Thật dễ để liên tưởng tới một chiếc xương đùi tí hon.

“Chính xác là vậy. Thorndyke tỏ vẻ hài lòng. “Anh coi bộ cũng giữ vững lập trường đó chứ. Sau đó anh ta lựa tới lựa lui thêm bốn mẩu xương lớn trong lúc Hemming đang không ngừng láo liên. Thế rồi, những mẩu xương được xếp thành hàng thẳng thớm với mẩu có hình dạng giống xương chày kia. Bởi vậy mà khi đặt chúng cạnh nhau, năm mảnh xương có sự khớp nối và đồng nhất rất rõ ràng.

“Ngay lúc này đây” Anh ta vội vã. “Cảm phiền các anh hãy nhìn vào thứ này mà xem. Có tất thảy năm mẩu xương ở đây. Chúng đều là những bộ phận của các xương tứ chi, có sự nhất quán, ngoại trừ việc chia ba mẩu ở bên trái, hai mẫu còn lại ở bên phải. Ngay chính thời khắc này đây, anh biết đấy, Hemming, một người đàn ông chỉ có tứ chi, trong số đó chỉ có hai chi chứa phần xương giống nhau. Sau đó thì sao, hai trong số chúng lưu lại dấu vết rất rõ ràng của thứ gì đó trông thật giống vết cưa nhuốm màu tai ương.”

Hemming dán chặt mắt vào những mẩu xương đang dàn hàng kèm điệu bộ cau có, tưởng như hai đầu lông mày sắp dính sát vào nhau nặng nỗi suy tư.

“Thật là kỳ bí quá. Anh ta chưng hửng. “Và hãy nhìn vào đống ngổn ngang này mà xem, chúng gợi lên trong tôi nỗi hoài nghi đến lạ, đám xương chày này về hình dáng thì giống đấy, nhưng kích cỡ thì lại không.”

“Kích cỡ ấy à. Thorndyke nói. “Đây là kích cỡ xương chày của cừu.”

“Cừu?” Hemming thảng thốt, kinh hồn bạt vía đến là bất động, hết nhìn vào đống tro màu trắng nhờ rồi hướng mắt qua cộng sự của tôi.

“Vâng, chính là phần thân trên của con cừu đã được xẻ ngang ấy.”

Hemming trao đảo mất một hồi. “Chúng vượt ngoài tầm suy tưởng của tôi!” Anh ta thở hắt ra từng cơn. “Ý anh là…”

“Tôi đồ rằng” Thorndyke bình tĩnh. “Trong hầu khắp mớ tạp nham này chẳng có nổi một chút tàn tích của xương người. Chỉ thấy đâu đó sự góp nhặt của ít nhất năm chiếc chân cừu hiển hiện vô cùng rõ nét.”

Không gian yên ắng, ngột ngạt bao trùm cả thảy trong vài giây ngắn ngủi, và chỉ bị phá vỡ bởi tiếng thầm thì đầy vẻ kinh ngạc của tay giám đốc nghĩa trang cùng tiếng cười khúc khích khe khẽ ở góc của giám đốc Miller, người đã dỏng tai nghe ngóng với niềm say mê từ đầu chí cuối. Sau cả quãng dài, Hemming lên tiếng:

“Làm gì có mống hài cốt người nào trong cỗ quan tài cơ chứ, sau tất cả mọi chuyện ấy.”

“Là thế này đây” Thorndyke thong thả. “Trọng lượng ấy à, có đó. Còn tro cốt, cũng sẵn luôn. Chúng được sắp xếp tươm tất bởi tên sát nhân. Tôi chẳng ngần ngại chi nếu chúng ta tiến hành xem xét kĩ lưỡng đống tro ấy, hẳn là sẽ thêm thắt được dăm điều bổ ích. Tuy nhiên điều đó chẳng còn quá cần thiết nữa. Năm chiếc chân cừu và không vương một mảnh xương người nào đang lồ lộ ngay trước mắt, thêm đó là mớ chứng từ đã làm giả bằng phương thức trắng trợn, để vẽ nên toàn bộ diễn tiến của vụ việc theo cách thức tương đối thuyết phục. Đã đến lúc câu chuyện cần được kết thúc rồi, tôi tin Giám đốc Miller sẽ làm tốt điều đó.”

“Thorndyke này. Tôi lên tiếng khi đoàn tàu rời ga. “Anh tới đây chỉ để thỏa mãn ý nguyện xác thực những gì anh đã tìm thấy đúng chứ?”

“Vâng, biện hộ lại hóa dư thừa mất. Thorndyke nhếch khóe môi ra dấu xin hàng. “Tôi đã đánh cược và coi điều đó như hy vọng cuối cùng, bao gồm tất thảy sự thật đã gom góp.”

“Xin vô phép được hỏi ý định đó chợt nảy nở trong anh tại thời điểm nào?”

“Rất nhanh thôi, ngay sau khi phát hiện ra giấy hỏa táng đã bị ai đó làm giả và chính ông lão tại nhà tang lễ đã giải đáp cả thảy mọi vấn đề.”

“Chẳng phải chính ông ta là người đã dõng dạc tuyên bố rằng đã đo đạc cái xác trước đó rồi hay sao.

“Không sai. Tuy nhiên cũng không có gì chắc chắn đó là một xác chết thật cả. Bởi anh biết đó, chẳng ai được phép mục sở thị nó, vụ biển thủ cũng từ Stalker tiết lộ chứ đâu, và tự thân chúng đã sở hữu mớ bằng chứng để dẫn tới kết luận duy nhất. Hãy chỉ cân nhắc bằng chứng đó thôi nhé.

“Cùng điểm qua vài sự kiện nào, ở đây chúng ta có một cái chết, trước đó là chứng bệnh rành rành không có thật và sau đó là màn hỏa táng với mớ chứng từ bị làm giả. Còn hiện giờ thì sao, điều gì sẽ xảy đến? Có bốn giả thuyết tồn tại. Cái chết tự nhiên, tự sát, bị sát hại và cái chết không có thật. Vậy giả thuyết nào mới là phù hợp với thực tế?”

“Sự ra đi theo lẽ thường hẳn nhiên bị loại trừ ngay bởi mớ chứng từ giả mạo. Giả thuyết về tự sát lại thiếu căn nguyên để lý giải cho các sự kiện về sau. Hơn hết, chúng không hề ăn nhập hay móc nối với bản hoạch định sắc nét và tỉ mẩn đã bày ra trước đó. Đại để như lý gì phải làm giấy chứng từ giả? Trong trường hợp Ingle thực tình đã thành người thiên cổ thì Meeking sẽ là người kiểm chứng cái chết đó. Và tại sao lại phải hỏa táng cơ chứ? Chuỗi sự vụ đó quả thực mang nhiều rủi ro, lại chẳng có lấy mục đích nào khác để phải chấp nhận mở rủi ro đó.

“Giả thuyết về tội mưu sát lại càng xa vời. Đống hổ lốn các loại giấy chứng từ trăm phần như một được làm giả bởi Ingle, người mà ai trong chúng ta cũng biết tỏng việc lão là một tay mơ sừng sỏ và thạo nghề dữ. Tuy nhiên, phỏng đoán việc nạn nhân tự mình sắp xếp một vụ hỏa táng là điều vô lý hết sức.

“Chỉ còn một giả thuyết cuối cùng về cái chết không có thực; vừa hay giả thuyết này lại khớp với hầu hết chuỗi sự kiện đã diễn ra. Trước nhất, về động cơ. Ingle đã phạm phải trọng tội. Ông ta bằng mọi giá phải biến mất. Nhưng kiểu biến mất nào sẽ thích hợp để đưa dẫn tới kết luận về một cái chết như bao cái chết khác và hỏa táng êm xuôi cơ chứ. Công tố viên cùng cảnh sát sẽ ngay lập tức xóa sổ và đưa lão vào dĩ vãng. Thế rồi, lòi đâu ra vụ việc song hôn - tội danh do chính đôi gian phu dâm phụ gây nên. Nhưng cái chết đâu chỉ xóa sổ điều đó, sau khi chết, lão ta có thể danh chính ngôn thuận kết hôn với Huggard dưới thân phận mới toanh, cùng với đó là rũ bỏ sạch bách mối giao tình với người đã đầu ấp tay gối với mình bấy lâu nay Vô cùng tuyệt tình. Sự vụ trót lọt, lão ta có thể bỏ túi một ngàn năm trăm bảng Anh từ Công ty Bảo hiểm thật giản đơn. Một cái chết phi thực tế được tạo dựng bởi căn bệnh giấy. Thế nên, giấy chứng tử mạo danh mới thực cần thiết bởi chẳng có xác chết nào tồn tại cả. Bỗng chốc, việc hỏa táng trở thành sự kiện đáng trông chờ; bởi hoài nghi có thể manh nha bén rễ trong phút chốc, và diễn tiến tiếp theo chính là sự kiện về chiếc quan tài được khai quật khiến vụ lừa đảo tiêu tan. Ở một khía cạnh khác, nếu vụ hỏa táng diễn ra trót lọt thì màn gian lận sẽ mãi mãi bị chôn vùi. Nó cũng lý giải cho việc cái xác bị giấu khỏi người làm tang lễ, đồng thời giải thích cho mùi formalin nồng nặc mà ông ấy đã ngửi thấy.”

“Sao có thể?” Tôi choáng váng trước màn thuyết trình của Thorndyke.

“Hãy suy xét thật thấu đáo đi nào, Jervis. Thorndyke kiên nhẫn. “Hình nhân thế mạng trong cỗ quan tài được tạo bởi thịt và xương để đem tới loại tro chuẩn xác nhất. Và hẳn nhiên gã đồ tể sẽ đáp ứng các điều kiện đó. Định lượng tiêu chuẩn hoàn hảo sẽ dao động từ 150-200 pound. Hữu dụng lắm vì nó sẽ không để lại dấu vết sau khi cho lên giàn hỏa thiêu.

Lúc bấy giờ, Ingle chẳng cách nào đến cửa hàng thịt và yêu cầu gửi cả con cừu vào ngay trước ngày tổ chức tang lễ. Vậy nên các khúc xương sẽ được mua và tích trữ dần. Tuy nhiên, để bảo quản chúng trong thời tiết ngày càng ấm dần lên cần phải có một số loại hóa chất; và formalin quả thực vô cùng hữu hiệu bởi nó không để lại dấu vết sau khi cháy rụi.

“Vậy nên, anh có thể thấy rằng lý thuyết về cái chết không có thực bỗng trở nên hợp lý với tất cả các dữ kiện xảy đến, trong khi đó các lý thuyết thay thế chỉ ra những khác biệt và mâu thuẫn thật khó để tìm ra lời giải vẹn toàn. Về mặt logic, đó là lý thuyết khả dĩ duy nhất có thể tồn tại, và anh thấy đấy, thí nghiệm đã chứng minh điều đó hoàn toàn đúng đắn.

Khi lời bế mạc của Thorndyke kết thúc, Hemming lấy tẩu thuốc ra khỏi miệng và hé môi cười.

“Ngày hôm nay khi mạn phép xuống đây.” Anh ta nói tiếp. “Tôi đã thu nhận tất thảy sự thật mà anh ta muốn truyền tải tới

Bộ Nội vụ, và tôi đã đinh ninh chúng ta sẽ tìm thấy thứ gì đó hay ho lắm nhưng rốt cuộc lại chỉ là phát kiến hão huyền. Tuy vậy, bấy giờ tôi đã chìm đắm trong lời diễn giải của anh ta và sự tình dường như đã dần tháo gỡ nút thắt lâu ngày buộc chặt.”

“Kết luật của Thorndyke thường là vậy. Tôi gật gù. “Chúng đều hết sức sáng tỏ khi anh được tự mình thỉnh thị một cách tận tình.”

Thấm thoát cả tuần lễ kể từ cuộc viễn chinh của chúng tôi, Ingle đã nằm gọn trong tay cảnh sát. Có lẽ chính cái bóng về thành công ngoài mong đợi của vụ hỏa táng đã giáng một cú lừa khiến lão ta mất cảnh giác và chắc mẩm bản thân đã an toàn tuyệt đối tới mức sơ ý để lộ dấu vết của chính mình. Chỉ chờ có thế, lão nhanh chóng trở thành con mồi cho anh bạn tôi, Giám đốc Miller. Sau tất cả, không chỉ có cảnh sát là vui vẻ mà chính giám đốc Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Griffin cũng hài lòng hết sức.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của r. austin freeman