
Hành nghề pháp y cốt yếu đều liên đới tới sứ mệnh chống lại cái ác của loài người, với các tình tiết nhớp nhúa, hèn hạ, khủng khiếp tới độ khó lòng nuốt xuôi. Chính bởi lẽ đó, khi đối mặt với trường hợp gây tò mò đi kèm với sắc màu lãng mạn về Bọ hung xanh (dù thực tình không nằm trong phạm vi chuyên môn của chúng tôi) lại khiến vạn sự thêm phần nhẹ nhõm. Dẫu vậy, điều đáng bận tâm đa phần tới từ dẫn chứng minh họa cho hai trong số cả tá thiên phú đã khiến anh bạn tôi, Thorndyke, trở thành một điều tra viên độc nhất vô nhị: đại để như khả năng lạ kỳ của anh ta trong việc chọn lựa sự thật cần kíp nhất chỉ trong nháy mắt và khả năng của anh ấy khi kiến tạo, trong lúc nước sôi lửa bỏng, bởi mớ tri thức vô lượng đến là không tưởng về những chủ điểm chẳng dây mơ rễ má gì tới nhau.
Dáng chiều bảng lảng bóng hoàng hôn, ông James Blowgrave ghé qua tư gia của chúng tôi, theo đúng lịch hẹn, cùng với con gái của ông ấy, cô nàng sở hữu dung nhan khả ái nổi bật đang độ đôi mươi, và khi lời gợi hỏi nhằm trao đổi thông tin buông lơi, cuộc hội thoại cứ thế bắt nhịp mà không cần tới định tín cụ thể.
“Xin thứ lỗi cho tôi vì đã không cung cấp bất kì manh mối nào về các tình tiết trong lá thư gửi cho ông” Blowgrave thều thào. “Bởi đó là quyết sách sáng suốt nhất tại thời điểm đó, tôi e là anh sẽ từ chối tiếp nhận vụ việc. Thật súc tích thì đây là một vụ cướp, nhưng cũng không hẳn là một vụ cướp theo lẽ thường. Vài ba điểm bất ổn tương đối bí ẩn hiện hữu trong vụ án. Và vì cảnh sát có rất ít hy vọng, vậy nên tôi đành thất lễ nhờ cậy anh dăm ba lời khuyên hữu ý hoặc liệu có thể bớt chút thì giờ ngó nghiêng về vụ việc giúp tôi hay không. Nhưng trước nhất, xin hãy để tôi tường thuật lại cho anh về diễn tiến vụ việc.
“Cỡ hai tuần trước, vụ cướp xảy đến vào khoảng chín giờ rưỡi tối. Tôi cùng con gái đang ngồi trong thư phòng hòng nghiên cứu vài ba thứ được lấy từ chiếc hộp đựng văn kiện nhỏ, thì đột nhiên người hầu gái lao xộc vào trong với vẻ hớt hải để thông báo rằng một trong số những ngôi nhà phụ đang bốc cháy. Bấy giờ, thư phòng của tôi với cánh cửa kiểu Pháp tọa ở phía sau khu vườn, và bởi ngôi nhà phụ nằm trên đồng cỏ ngay sát mé đó nên tôi đã ra ngoài theo lối sau, còn cánh cửa kiểu Pháp thì để mở. Tuy vậy, trước khi đi, tôi đã kịp cất mớ đồ đạc trở vào hộp đựng văn kiện và khóa trái lại.
“Căn nhà - nơi được tôi chia ngăn một gian để làm cửa hiệu và gian còn lại làm xưởng - đã bốc cháy dữ dội và thu hút cả thảy người trên kẻ dưới đám gia nhân, trẻ chạy máy bơm còn hai người hầu cận thì đổ từng xô nước vào đống lửa. Tôi cùng con gái cũng góp chút công sức, như phụ đem xô và lấy những thứ có thể lấy từ căn nhà đang ngập trong biển lửa. Nhưng cũng cỡ nửa giờ đồng hồ sau, chúng tôi mới kiểm soát và dập tắt được đám cháy. Khi mọi sự êm xuôi, tôi và con gái trở về phòng để gột sạch lớp muội đen, dọn dẹp cả thảy những thứ còn sót lại. Sau đó, cả hai rảo bước trở vào thư phòng, và khi cánh cửa kiểu Pháp dần khép lại, con bé đề bạt nên tiếp tục công sự ban nãy vừa bị gián đoạn. Không tốn nhiều thì giờ, tôi lấy từ trong túi chiếc chìa khóa, xoay người đi tới tủ đồ, nơi hộp văn kiện được đặt gọn ghẽ. Thế rồi chiếc hộp không cánh mà bay. Ông ta rầu rĩ.
“Trong khoảnh khắc hiếm hoi, tôi trộm nghĩ có khi bản thân đã chuyển cái hộp đi đâu mà quên béng mất, bởi vậy mà tôi cứ thế ra sức mò mẫm khắp cả hòng tìm cho ra món đồ không cánh mà bay. Nhưng kết cục là chiếc hộp cứ thế lặn mất tăm. Thú thực, trong phút giây bất chợt, tôi cay đắng đón nhận sự thật rằng chiếc hộp không thể ở nơi nào đó khác ngoài vị trí đã được tôi cố định dành riêng cho món đồ. Vì lẽ đó, điều duy nhất có thể kết luận chính là trong một khắc cha con tôi vắng mặt khi đám cháy bùng lên mãnh liệt, thì hẳn kẻ gian đã lẻn vào qua cửa sổ rồi cuỗm lấy chiếc hộp. Tôi nghiêng về giả định việc ai đó đã cố tình phóng hỏa căn nhà phụ với mục đích hết sức rành rẽ, cụ thể chính là dụ cả thảy chúng tôi ra khỏi nhà.
“Vâng, lớp ngụy trang hoàn hảo đã họa lên điều đó” Thorndyke tán thành. “Cửa sổ phòng làm việc có để mành che hay rèm khung không, thưa ông?”
“Rèm ấy à” Ông Blowgrave suy ngẫm. “Có đấy, mà nào có trưng dụng bao giờ. Ai hiển hiện tại khu vườn cũng đều có thể ngó vào bên trong phòng; chưa kể khả năng kẻ nào đó sở hữu đôi cẳng chân linh hoạt, sức bền dẻo dai thì sẽ rất dễ bật qua bức tường, còn khu vườn thì cứ như sẵn lòng đãi bôi bất kì vị khách xa lạ ghé tới.”
“Đến thời điểm hiện tại. Thorndyke ngắt nghỉ câu chữ. “Vụ cướp mới chỉ dừng lại ở hành vi bộc phát của một kẻ chuyên đi rình mò, vô tình lẻn vào vườn rồi dõi theo nhất cử nhất động của ông qua khung cửa sổ, hắn cho rằng những thứ được ông lấy ra từ chiếc hộp kia sẽ có giá trị lớn phải biết, bởi thế mà hắn hẳn đã thó sạch chỉ trong tích tắc. Quả là thời điểm lý tưởng để hành sự. Thật thất lễ khi phải hỏi ông, rằng những thứ bên trong chiếc hộp liệu có giá trị lắm không?”
“Đối với tên trộm mà nói, chúng nào có giá trị gì. Chỉ có vài ba giấy chứng từ cổ phần, hợp đồng cho thuê nhà, vài tấm hình gia đình cùng chiếc hộp nhỏ chứa lá thư đã cũ đến bợt màu và một con bọ hung xanh. Nào có hợm hĩnh chi đâu để mà trộm cắp, anh thấy đó, các giấy chứng từ thì lập dưới tên tôi, vậy nên làm gì có cách nào chuyển nhượng cho được.”
“Còn bọ hung thì sao?”
“À à, đó có thể là ngọc lưu ly, nhưng phần nhiều khả năng nó chỉ là đồ giả được làm bằng thủy tinh xanh mà thôi. Dù gì đi nữa thì giá trị cũng không đáng là bao. Kích cỡ đâu đó loanh quanh một inch rưỡi. Nhưng xin anh chớ vội, trước khi toan đưa ra bất kì kết luận nào, hãy để tôi kể hết sự tình câu chuyện đã. Vụ cướp diễn ra vào ngày mùng 7 tháng Sáu. Tôi đã tức tốc cung cấp cho phía cảnh sát toàn bộ thông tin về vụ việc kèm theo bản mô tả chi tiết những tài sản bị đánh cắp, mọi sự đều không mảy may ồn ã gì cho tới thứ Tư ngày 15, khi tôi nhận được bưu kiện đã đăng ký và mang dấu của bưu điện Southampton. Vừa mở nó ra, trong sự thất kinh của tôi, lồ lộ ngay trước mắt là toàn bộ mọi thứ có trong chiếc hộp văn kiện, riêng chỉ có một thứ mất dạng chính là con bọ hung xanh, kèm với đó là thông tin liên lạc hết sức kỳ bí.”
Dứt lời, ông ta lôi từ trong túi ra rồi đưa cho Thorndyle một phong thư hết mực thông dụng, địa chỉ là các ký tự bằng máy đánh chữ và niêm phong bởi con dấu có hình elip tốn diện tích, bề mặt phong thư bao phủ bởi vô số chữ tượng hình nho nhỏ.
“Điểm này” Thorndyke từ tốn. “Bọ hung xanh quả là một chi tiết ấn tượng lắm; và chúng đồng thời cũng là dấu vết khả dĩ vô cùng tận đấy chứ.”
“Ra vậy? Ông Blowgrave chưng hửng. “Tôi nào có mảy may hoài nghi về con bọ hung ấy. Chẳng thể ngờ chúng lại đồng nhất đến thế.”
Thorndyke lia vội đôi con ngươi về phía vị khách của chúng tôi với sự ngờ vực. “Hượm đã nào. Anh ta bắt đầu dò xét. “Ông không trông thấy nét chữ tượng hình được ghi trên đó hay sao?”
Vẻ thiện lượng xen lẫn sắc thái khiên cưỡng phản chiếu trên gương mặt của quý ngài Blowgrave. “Thành thật mà nói. Ông ta lúng búng trong miệng. “Tôi chỉ là ông già tài hèn sức mọn, nào có chi kiến thức về chữ tượng hình đâu cơ chứ, dẫu thế, theo đánh giá cá nhân thôi, chúng thực tình giống nhau tợn. Còn con thì sao, Nellie?”
Blowgrave bé nhỏ nhìn con dấu như chìm vào hư vô cả quãng, nàng đáp. “Tôi cũng như cha mình. Chữ tượng hình đối với tôi thật nực cười biết bao, chúng thì có nổi ý nghĩa gì cho cam. Chỉ là, mớ hổ lốn này quá giống với chữ cái trên con bọ hung xanh của chúng tôi, dù tôi chẳng mấy trông mong về việc chúng có thể gợi mở vấn đề mà ta đang gặp phải.
Thorndyke lặng thinh và không đưa ra lời bình phẩm nào về nhận định trên. Cùng lúc ấy, anh ta vẫn cứ miệt mài soi xét tỉ mẩn con dấu bằng chiếc kính hiển vi của mình. Không gian như đặc quánh lại, từ bì thư, hai lá thư khác nhau được lấy ra, một đánh máy và một viết bằng mực nâu úa màu. Trước nhất, anh ta đọc qua cả lượt, sau đó kiểm tra tờ giấy hết mực chu đáo, giơ chúng lên cao để ánh sáng chiếu rọi, việc quan sát trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.
“Tờ báo này phỏng chừng được sản xuất tại Bỉ. Anh ta trầm ngâm rồi tiện tay đưa nó cho tôi. Nhận định trên đã được tôi xác thực, cùng với đó là bức thư có tiêu đề “Southampton” cùng nội dung như sau:
Thương mến gửi cố nhân,
Tôi mạn phép gửi lại anh dặm ba thứ vặt vãnh vô tình bị quên lãng. Mở cổ liệu đính kèm đó, chúng hiện đang được người chú đáng kính của tôi gìn giữ. Tôi những mong sự thể biến mất tạm thời này sẽ không khiến anh phiền lòng nhiều quá và tôi nhất định sẽ trả lại chúng nguyên vẹn cho anh. Trong trường hợp này, xin anh hãy đặt niềm tin nơi tôi
Chúc anh vạn sự tốt lành,
Rudolpho.
“Rudolpho là ai?” Tôi ngạc nhiên hết sức.
“Có Chúa mới biết.” Ông Blowgrave bối rối đáp. “Bút danh của người gửi cũng nên, là lẽ đấy. Tên đó cũng tếu táo và khôi hài ra trò đấy chứ.”
“Ông nói phải.” Thorndyke vẫn duy trì nét điềm nhiên sẵn có. “Lá thư cùng con dấu qua góc nhìn của những cô cậu học trò thì hẳn là lừa bịp lắm. Dẫu thế, điều này là lẽ thường thôi. Kẻ trộm đã gửi lại tất thảy những món đồ không mấy giá trị và chỉ giữ lại thứ được xem là quý giá nhất như đã thương lượng trong lá thư. Ông có thực chắc con bọ hung xanh ấy chẳng mấy đáng giá hơn những gì ông đang nghĩ hay không?”
“Xem nào. Ông Blowgrave trở nên gấp gáp. “Tôi đã từng nhận được đánh giá từ một chuyên gia trong lúc ngó nghiêng món đồ đó. Một nhà Ai Cập học, tên M. Fouquet, ông ấy vừa từ Brussels chuyển tới miền đất hứa đầy xa lạ này cỡ vài tháng trước thôi. Ông ta có nể nang ai bao giờ, cứ thế thẳng toẹt ném về phía tôi dăm ba lời bi đát, thì là con bọ hung xanh ấy nào có hơn gì đồ giả. Đã chẳng phải bọ hung thật thì chớ, mấy dòng chữ nguệch ngoạc lại càng vô lý biết là bao, tổ hợp của các ký tự tượng hình nhộn nhạo vô kỷ luật thì nghĩa lý cũng bằng không hết.”
“Vậy lẽ nào. Thorndyke đáp, nhìn lại con dấu khắp lượt qua ống kính của mình. “Rudolpho, hoặc chú của Rudolpho hiện sở hữu món hời chứ chẳng chơi. Dù cho điều đó chẳng khiến sự thể đang xảy đến sáng tỏ hơn chút nào.
Ngay lúc đó, Blowgrave bé nhỏ bỗng chen ngang vào cuộc hội thoại. “Thưa cha, xin hãy để con nói. Nàng ta thở hắt ra từng hồi. “Cha đã không cho tiến sĩ Thorndyke biết tất cả sự thật về bọ hung xanh. Ngài ấy nên được biết cả phần khuyết thiếu, như mối quan hệ giữa nó và cố Reuben.
Trong lúc khuôn miệng của Nellie đều đặn tuôn những lời vàng ngọc, thì ở bên này, Thorndyke bất động dán chặt ánh nhìn lên thân hình bé bỏng cam trường với vẻ thích thú tột độ. Cho tới mãi sau này, tôi mới mường tượng ra được ẩn ý đằng sau ánh nhìn ấy, nhưng tại thời điểm đó, hành động của Thorndyke chẳng có mấy điểm nào là hấp dẫn hay nổi bật gì trong tâm tưởng của tôi.
“Chỉ là câu chuyện xưa cũ truyền đời mà thôi. Ông Blowgrave đáp trả hết sức ngượng ngùng. “Mọi sự ngây dại và vô nghĩa sẽ ập tới mất.”
32
“Vậy ư. Bằng mọi giá, xin hãy thử một lần xem sao. Thorndyke bẻ ngoặt theo giao lộ của mình. “Điểm sáng nào đó mà cả thảy đều trông thấy ấy.
Bị thúc ép một cách mãnh liệt, ông Blowgrave mấp máy đôi môi rụt rè nói:
“Câu chuyện liên quan tới ông cố của tôi, Silas Blowgarve và những gì ông ấy đã làm trong cuộc chiến với quân đội Pháp. Ông cố tôi là người chỉ huy chiếc tàu tư nhân do chính ông và anh trai Reuben đồng sở hữu, và trong chuyến ra khơi áp chót, họ đã đem về bộ sưu tập tư trang độc đáo bậc nhất cũng như vô cùng giá trị. Có Chúa mới biết, bằng cách nào mà họ lại sở hữu chúng; tôi hồ nghi có điều gì đó mờ ám và khiên cưỡng lắm, bởi cả hai vốn trời sinh bản tính ranh mãnh tợn. Thế rồi, phong thanh đâu đó về nguồn gốc của chiến lợi phẩm đến từ một nhà thờ lớn nằm ở Nam Mỹ, nhưng quả thực, lời đích đáng thì chưa một ai lên tiếng cả. Tài liệu chẳng còn sót lại. Tất cả chỉ là những lời truyền tụng hết sức sơ sài và mơ hồ. Chuyện kể rằng, khi bán con tàu xong xuôi, cả hai di chuyển tới Shawstead để an cư lạc nghiệp và vùng Hertfordshire yên ả đã được chọn lựa, ông cố Silas giữ một phần trang viên - chính là nơi tôi hiện đang sống và ông cố Reuben thì trang viên liền kề. Chiến lợi phẩm từ vụ cướp đã được phân chia trong chuyến ngao du cuối cùng, tuy thế, những viên đá quý tuyệt nhiên vẫn luôn được gìn giữ cẩn trọng và để riêng rẽ chờ ngày hành quyết - có thể khi mà hoàn cảnh đưa dẫn chúng rơi vào quên lãng như cái cách mà ông cố tôi trở thành người thiên cổ. Dẫu vậy, cả hai đều là những tay bạc cự phách và có vẻ như - theo lời chứng thực từ người hầu cận của cố Reuben, trong lúc nghe lỏm đoạn đối thoại - khi đã tàn canh còn cuộc vui chẳng thể vãn hồi, cả hai quyết định khép
-
lại bằng cách dùng toàn bộ mớ báu vật như chiếc phao cứu sinh. Cố Silas, người đang gìn giữ những viên đá quý, đi đến trang viên của mình, sau đó trở lại nhà cố Reuben, kèm theo đó là chiếc rương nhỏ bằng sắt.
may
“Hẳn nhiên là họ đã chơi thâu đêm suốt sáng, sau cả thảy người trên kẻ dưới trừ người hầu cận đều đã chìm vào giấc ngủ. Và rồi may mắn đã nhoẻn miệng cười với Reuben, dẫu cho cơ đã có sự tương hỗ ít nhiều. Cho đến khi tiệc tan và chiếc rương thì trao tay kẻ khác, cũng là lúc cố Silas không chút nề hà thẳng thừng buộc tội cố Reuben đã gian lận, chúng ta hoàn toàn có thể mường tượng ra viễn cảnh của cuộc cãi vã nảy lửa đến là nghiêm trọng lắm. Ấy vậy mà vào buổi sáng ngày hôm sau, người ta phát hiện ra chiếc rương cùng cố Reuben đã biến mất, và những vết máu thì rõ mồn một trong căn phòng mà cả hai đã cùng lưu lại. Cố Silas tuyên bố ông không hề dính dáng hay biết gì về vụ mất tích này hết; tuy nhiên, mối nghi ngại thì mạnh mẽ lắm - và hẳn cũng chính đáng thôi - giả thiết cứ thế thêu dệt nên, đại để như một người đàn ông nọ đã nhẫn tâm xuống tay với anh trai mình để lấy đi những viên đá quý. Kết cục là cố Silas cũng mất dạng trong một ngày êm ẻ, cả quãng dài đằng đẳng ấy, ngay cả vợ ông cũng không hề biết tung tích của chồng mình.
“Cuối cùng, người ta phát hiện ra ông khi đang cư ngụ dưới danh phận khác, ở Ai Cập xa xôi, và ông cố đã bén duyên cũng như dành phần nhiều nhiệt thành đối với ngành khoa học mới về Ai Cập học - Viên đá Rosetta ấy, mới chỉ được giải mã cách đây vài năm mà thôi. Sau này, ông cố đã nối lại sợi dây với vợ mình, nhưng chưa từng đả động hay có bất kì tuyên bố nào về vụ mất tích đầy bí ẩn của anh trai. Chỉ vài tháng trước khi lâm chung, ông cố cải trang để ghé thăm tư gia và đưa cho vợ mình một gói nhỏ đã niêm phong để chuyển đến con trai độc đinh, William khi đó chạm ngưỡng hai mươi mốt tuổi. Gói nhỏ có chứa bọ hung xanh kèm lá thư mà anh đã lấy ra từ phong thư trước đó đấy.”
“Tôi có nên đọc chúng không thưa ông?” Thorndyke nén nỗi mong chờ.
“Sẵn lòng thôi nếu anh cho điều đó là giá trị.” Lại là câu trả lời súc tích. Thorndyke chỉ đợi có thế, anh ta mở tờ giấy ố vàng, lướt qua từng dòng chữ nâu sờn cũ phai màu rồi đọc to:
Cario, ngày 4 tháng 3 năm 1833
Con trai yêu dấu của ta,
Nay cha gửi con, như món quà sau cuối mà cha có thể, một con bọ hung quý giá và dăm ba lời dặn dò thiết chỉ mong con hãy dụng tâm suy ngẫm. Xin hãy tin cha, có vô vàn sự thông thái lẩn khuất trong các thuyết của Ai Cập cổ xưa. Hãy biến chúng thành của riêng mình. Hãy trân trọng con bọ hung như một gia sản kế thừa vô giá. Con có thể trưng dụng thường xuyên nhưng chớ để lộ cho một ai đó khác. Hãy chôn cất chú Reuben Christian của con Đó là nhiệm vụ cao cả, và con sẽ có phần thưởng tương xứng với công lao của mình. Anh ta đã đánh cắp tài sản của cha, nhưng anh ta sẽ phải bồi thường những tổn hại đã mất.
Tạm biệt con
Người cha đáng quý của con,
Silas Blowgrave.
Thorndyke đặt lá thư xuống, anh ta nhìn vị khách của chúng tôi với vẻ dò xét dữ.
“Chà. Anh ta nói. “Đây là một chỉ dẫn đơn giản hết sức. Chúng đã được tiến hành như thế nào?”
Ông Blowgrave rơi vào trầm tư: “Chưa có điều gì được thực hiện cả. Đối với con trai của ông cố tôi, William, cũng chính là ông nội của tôi, đã không có ý định can thiệp sâu vào vấn đề này. Đây có lẽ cũng là lời thừa nhận thẳng thắn nhất rằng cố Silas đã giết anh trai mình và giấu cái xác đi, ông tôi đã chọn cách không lật lại vụ bê bối đó thêm lần nào nữa. Ngoài ra, chỉ dẫn cũng không đơn giản đến thế. Quý hóa quá khi truyền tới lời nhắn gửi, Hãy chôn cất chú Reuben của con, nhưng chú Reuben ở đâu thì chẳng ai nói?”
Thorndyke từ tốn. “Lời ám thị rõ ràng hướng tới việc bất cứ ai chôn cất thi thể theo đạo Cơ đốc giáo đều sẽ hưởng lợi, và từ bồi thường dường như chính là manh mối về nơi chôn giấu những viên đá quý. Câu hỏi đặt ra là xác chết có thể nằm ở đâu?”
“Nhưng sao họ có thể?” Blowgrave vội vàng. “Ông cố đã không đưa ra manh mối nào dù là nhỏ nhất. Lạ thay, ông ấy nói như thể con trai mình có khả năng biết đích xác thi thể nằm ở đâu vậy. Và sau đó, anh biết đấy, tỷ dụ như ông cố Silas không mang theo những viên đá quý, thì nghi vấn vẫn luôn chực sẵn, mớ tài sản đó thuộc về ai. Dường như cố Reuben đã lấy chúng từ tay ông cố nội tôi bằng trò bịp bợm, và rồi cố Silas đã cướp lại chúng và xuống tay giết chết anh trai mình. Nếu ông nội tôi có vô tình phát hiện ra kho báu, hẳn là ông sẽ đưa lại cho con trai của cố Reuben, dù cho đó không hoàn toàn là tài sản của ông ấy. Chẳng ai có thể phủ nhận điều đó, ngay cả khi những viên đá có được tìm thấy hay không.”
“Nhưng hiện giờ vẫn chưa phải lúc đâu, thưa cha. Quý cô Blowgrave thều thào.
“Còn vấn đề gì nữa sao. Ông Blowgrave gằn giọng, đáp trả ánh nhìn xét nét từ phía Thorndyke. “Mọi thứ đều lồ lộ ra. Cháu trai của cố Reuben, anh họ Arthur của tôi, qua đời cách đây không lâu, và vì chẳng có lấy mụn con nên gia sản cũng tẩu tán hết cả. Căn nhà trong khuôn trang cũ và hầu khắp tài sản của anh ấy đều để lại cho cháu trai. Tuy vậy, anh ấy đã đưa ra yêu cầu nho nhỏ cho con gái tôi và chỉ định con bé là người thừa kế hợp pháp. Vì lẽ đó, mọi quyền hành mà cố Reuben từng có đối với những viên đá quý giờ đây được trao cho con bé, và trong trường hợp tôi qua đời, con bé cũng sẽ là người kế thừa di sản của cố Silas. Ông Blowgrave tiếp tục. “Chúng tôi đã bàn bạc về vấn đề này vào đêm mà vụ cướp xảy đến. Tôi dứt bỏ ngại ngùng để nói với anh rằng con gái tôi sẽ rơi vào túng thiếu lắm nếu chẳng may tôi đi đời, vì toàn bộ tài sản đã đem đi thế chấp còn vốn liếng thì nghèo nàn đến là thảm thương. Mớ kho báu quý giá của cố Reuben sẽ bảo toàn cho con bé cùng ngôi nhà già nua này nếu chúng tôi có thể chạm tay vào những viên đá quý. Nhưng anh biết đấy, tôi không cho phép bản thân làm mất thì giờ của anh cùng mớ hổ lốn chuyện vặt vãnh trong gia quyến thêm nữa.”
Thorndyke trầm ngâm: “Chuyện xưa cũ ấy, không hẳn vô can đâu. Nhưng hãy cho tôi mạn phép được hỏi liệu ông đang muốn gì ở tôi trong vụ việc này?”
“Vâng” Blowgrave thong thả. “Tài sản trong tư gia thì bị cướp sạch, còn cơ ngơi làm ăn thì bị phóng hỏa. Cảnh sát dường như đã dần buông xuôi chịu trận. Họ không có bất kì manh mối hữu dụng nào ngoại trừ vụ cướp có thể do ai đó trong nhà thực hiện, quả là vô lý hết sức khi tất thảy người trên kẻ dưới đều nhất mực tham gia vào công tác dập lửa. Thứ tôi muốn là tên cướp sẽ bị trừng phạt và lấy lại con bọ hung. Về mặt bản chất, có thể nó thực vô giá trị, như M. Fouquet đã nói với tôi, nhưng bức di thư của cố Silas đã chỉ ra rằng nó có giá trị hơn những gì mà ta vẫn lầm tưởng. Dù sao đi nữa, bọ hung xanh vẫn là cổ vật gia truyền, tôi thực lòng chẳng muốn đánh mất gia bảo cũng như gia phong trong nhà. Khi nói điều này, có lẽ anh sẽ nao núng mà coi tôi là kẻ tự phụ lắm bởi đã gán cho đây là một vụ cướp tài sản, nhưng tôi sẽ biết ơn anh vô kể nếu anh chịu xem xét vụ việc giúp tôi.
“Những vụ cướp theo đúng nghĩa đen và vô cùng dễ hiểu. Thorndyke nhoẻn miệng cười. “Khá xa vời với công vụ thường nhật của tôi, và trong vụ việc này có vài ba điểm dị thường khiến công tác điều tra trở nên thú vị hơn chút. Vậy nên Blowgrave à, xin ông hãy an lòng, tôi sẽ xem xét vụ án này thật cẩn trọng, và hy vọng tên cướp sẽ sa lưới sớm thôi, dù đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có lấy một chút manh mối nào. Tôi sẽ phải đưa ra lời đề nghị về việc để lại hai bức di thư để tiện nghiên cứu, và tôi cũng muốn kiểm tra nơi đám cháy diễn ra - có thể là ngay ngày mai thôi.
“Rất sẵn lòng, hãy đến bất cứ khi nào mà anh muốn” Blowgrave thở hắt ra. “Tôi rất vui vì anh đã tiếp nhận cuộc điều tra. Tôi được nghe rất nhiều về anh từ ông bạn Stalker của tôi, thuộc Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Griffin, người mà dăm ba lần anh đã đứng ra đại diện.
“Khoan đã” Thorndyke như muốn ông Blowgrave nán lại. “Có một điểm mà chúng ta cần phải làm rõ ngay đây. Ngoài hai người ra thì có ai biết đến sự tồn tại của bọ hung xanh và lá thư cũng như lịch sử gắn liền với nó hay không?”
“Điểm này, tôi e là mình không thể đoán chắc được. Blowgrave lúng túng. “Không một ai nhìn thấy chúng ngoài anh họ Arthur của tôi. Có duy nhất một lần tôi cho anh ấy xem, và cũng có thể anh ấy đã nói về chúng cho gia đình mình. Thật tình, tôi không coi đây là vấn đề cần phải giữ bí mật cho lắm.
Khi những vị khách rời đi, chúng tôi cùng nhau thảo luận về phương hướng để giải quyết vụ việc.
“Một câu chuyện lãng mạn. Tôi ra điều cảm thông. “Vụ cướp ẩn chứa những điểm hay ho tợn, nhưng tôi đang nghiêng về phía cảnh sát - rằng có rất ít dữ kiện để tiếp tục điều tra sự vụ này.”
“Chỉ là ít hơn thôi.” Thorndyke đáp. “Nếu người bạn tri kỷ của chúng ta không lấy làm hài lòng với chính mình. Còn lá thư đánh máy lại là hành động vô cớ đến là trơ trẽn lắm. Quý ông của chúng ta ấy, ông ta đã đánh giá quá cao sự an nguy của bản thân để rồi rùm beng loan tin thật ầm ĩ.
“Thật ra có rất ít điểm nghi vấn có thể thu thập từ bức thư này, chúng đều không khác nhau là mấy. Tôi dịu giọng.
“Thật tiếc khi phải nói với anh điều này, Jervis a. Thorndyke bỗng chốc hăng hái. “Lẽ ra tôi đã định đưa lá thư cho anh để kiểm tra và phản hồi lại.”
“Tôi mới chỉ xét đến diện tướng thôi đấy nhé. Tôi vội vàng đáp trả. “Có gì để nghi ngại đâu, một cuộc hậu kiểm quy mô sẽ gợi mở thêm điều gì đó đặc biệt.
“Chúng hoàn toàn có thể xảy ra, tôi cũng cho là vậy” Thorndyke gật gù. “Vài nguyên cớ phát sinh rành rẽ cho việc thúc tiến cuộc điều tra xảy đến nhanh hơn, vậy nên xin hãy bắt tay vào việc ngay nhé. Sẽ bộn bề lắm với phong thư chứa lá thư bạc màu này đây.”
Trong trường hợp này, tôi không chút rề rà mà đi ngay vào công cuộc kiểm định. Để có cái nhìn khách quan nhất, tôi tiến hành chụp hình lá thư bằng cách đặt nó vào khung in lớn với đôi chút bối rối cùng tấm kính trong suốt. Âm bản thu lại rất bất ngờ, không chỉ có chữ đánh máy mà thủy vân số cũng hiện lên rõ rệt, đường vân trên giấy cùng vết dầu mờ. Ngay sau đó, sự chú ý của tôi chuyển sang con chữ, tại đây, những điểm đặc biệt có thể nhận thấy bằng mắt thường hiển hiện sinh động. Máy đánh chữ thuộc hiệu Corona, font Elite cỡ nhỏ có vẻ đang bị lỗi. Chữ viết thường - hoặc chữ nhỏ hơn - “a” đặt ngay dưới dòng kẻ, dù chữ “A” đang đặt đúng vị trí hơn cả; chữ “ư” thì cao hơn chút đỉnh còn chữ “m” lại nhỏ hơn như bị bám bẩn đôi chút.
Tới thời điểm hiện tại, tôi tự tin với sự cẩn trọng trong việc xử lý bức thư bằng chiếc kẹp của mình (dù cho nó đã “qua tay” bởi ít nhất ba người trước đó, theo tôi được biết thì là vậy). Giờ đây, tôi đang tiến hành kiểm tra để thu thập dấu vân tay. Chỉ nhìn qua thôi thì không thể phát hiện ra điểm bất thường cho được, bởi vậy mà tôi đã phủ một lớp bột fuchsin mịn ở mặt sau của tờ giấy, rải đều bằng cách gõ nhẹ lên chúng từng nhịp. Việc làm đó quả thực hữu hiệu khi các dấu vân lần lượt hiện lên, đặc biệt là xung quanh các cạnh của chữ cái, dù cho hầu hết chúng đều rất mờ nhạt. Dẫu thế, đường vân vẫn đủ sắc nét để đáp ứng mục đích ban đầu của chúng tôi. Một hơi để thổi sạch lớp bột thừa, tôi đem lá thư tới căn phòng có đặt máy ảnh lớn để sao lưu trước khi tiến hành thu lại dấu vân tay ở mặt trước. Ngay lúc đó, trợ lý phòng thí nghiệm của chúng tôi, Polton, người đang giữ phong thư và treo lơ lửng trên giá vẽ. “Không thể đợi thêm một giây, một phút nào nữa. Quả là người đàn ông nhiệt thành với nghề nghiệp của mình. “Anh có muốn một tấm hình khuếch trương không. Tôi đang sẵn đồ nghề lắm.
Thế rồi chuỗi đợi chờ tiếp diễn, nào là phơi sáng, chụp hình lá thư, đúng hơn là các dấu vân tay ở mặt sau của nó. Khi đã xong xuôi âm bản, tôi phủ một lớp phấn mịn và thu thêm vài dấu vân khác - lần này là dấu vân của ngón cái. Hơi khó để nhận biết vị trí của chúng trên bức ảnh, trong khi các con chữ gần như mờ nhòe thì dấu vân tay lại hiển hiện vô cùng sắc nét. Rõ hơn cả việc chăm chú nhìn bằng mắt thường. Phát kiến trên đã hoàn tất khâu kiểm tra của tôi, khi đã chắc cú kiểu dáng của máy đánh chữ thông qua tham khảo album bảng mẫu. Âm bản được chuyển cho Polton để làm khô và chuyển in. Xong xuôi, tôi đi xuống phòng khách để viết một bản báo cáo nhỏ. Khi vừa hoàn tất công việc và mải miết với mớ suy tư lan man về tiếp biến của sự thể thì nhịp bước chân vội vã của Thorndyke như gần như xa dội vào tai tôi, sau đó anh ta xuất hiện với dáng hình lừng lững cùng cuộn giấy trên tay. Thorndyke trải chúng lên mặt bàn, cố định các góc bằng cục chặn chì, tôi vòng quanh một lượt để thăm dò thì phát hiện ra đó là tờ Bản đồ vũ khí theo tỷ lệ 25inch/dặm.
“Đây chính là tư gia của ông Blowgrave. Thorndyke chỉ tay vào tấm bản đồ. “Ngay gần trung tâm đây thôi. Trang viên Shawstead - và có lẽ căn nhà bên ngoài đã bị bốc cháy. Và phía kia, căn nhà được đánh dấu. Chính là trang viên Dingle, nơi Reuben nương náu, đồng thời là chủ sở hữu.
“Có lẽ vậy” Tôi tán thành. “Nhưng tôi vẫn không thể hiểu nổi tại sao anh lại muốn có tấm bản đồ trong khi chỉ mai đây thôi là anh sẽ đi xuống đó.”
“Bản đồ thường có nhiều ưu điểm. Thorndyke mỉm cười. “Anh có thể bao quát toàn bộ không gian cùng lúc và ghi nhớ thật rõ vị trí của từng vùng; từ đó mà anh có thể đo đạc khoảng cách thật chính xác và mau lẹ với phần tỷ lệ chia sẵn. Khi chúng ta xuống tới đó vào ngày mai, đường đi nước bước sẽ nằm trong lòng bàn tay ta như chính Blowgrave thông hiểu lãnh địa của ông ấy vậy.”
“Nhưng nào có ích lợi gì?” Tôi vờ bông lơn. “Khảo sát thực địa liệu có thực quan trọng trong tình thế này không chứ?”
“Là thế này, Jervis a. Thorndyke hứng chí. “Như tên cướp chẳng hạn, hắn lẻn vào từ đâu và ra bằng đường nào. Nghiên cứu bản đồ có thể cho chúng ta manh mối về hành tung của hắn dễ dàng hơn. Nhưng rồi sao cơ chứ, Polton đến đây với mớ tài liệu ngổn ngang, như cái cách quý cô Flite tội nghiệp hay rêu rao. “Nào, anh có gì cho chúng tôi thế, Polton?”
“Hượm đã, chúng chưa khô hẳn đâu, thưa ngài. Polton nói, đặt bốn bản in chứa bromua lên bàn. Ở đây có bản khuếch trương của con dấu - kích cỡ mười nhân tám, bo khung - cùng ba bản in của Tiến sĩ Jervis, không khung.”
Thorndyke vội ngắm nghía các bức hình của tôi một cách nghiêm túc. “Họ quả thực quá đỗi ưu tú, Jervis a. Anh ta hồ hởi ra mặt. “Dấu vân tay hoàn toàn rõ nét, chỉ vương đôi chút nhòe mờ không đáng kể. Tôi chỉ hy vọng một trong số đám này chính xác là đủ. Đây là ngón tay cái bên trái của tôi. Còn ngón tay của anh ở đâu thế. Dấu vân nhỏ kia có lẽ là của cô Blowgrave. Chúng ta cần lấy dấu vân tay của cô ấy ngay trong ngày mai, và của cha cô nàng nữa. Phương án loại trừ để biết liệu tên cướp có sa vào tròng hay không? Đôi mắt của Thorndyke lướt nhanh qua bản báo cáo của tôi rồi gật gù tán thành. “Có rất nhiều điểm để xác thực chiếc máy đánh chữ nếu chúng ta có thể tự tay cầm nắm, loại giấy đã đặc biệt sẵn rồi. Con dấu nữa, anh có suy nghĩ gì không?” Thorndyke như rơi vào niềm phấn khích tột độ, sau đó đặt tấm ảnh phóng to đến trước mặt tôi.
“Tuyệt đấy” Tôi đáp lại cùng nụ cười toe thường trực. “Rất hoành tráng.”
“Này này, anh đang cười cái gì thế hả?” Thật là vô lý hết sức khi anh ta hỏi tôi câu đó.
“Không có gì. Tôi đoán là anh đang ở trạng thái thơ ngây tương đối đúng lúc rồi đấy?” Nét cười vẫn hiện rõ trên môi tôi. “Sự chuẩn bị kĩ lưỡng hòng xác định con bọ hung ấy, nhưng lỗ hổng ở chỗ là anh đã bỏ ngoài tai lời khuyên kinh điển của bà Glasse cơ ấy.
“Bằng linh tính, tôi cho là chúng ta sẽ tóm gọn con bọ hung xanh đó. Anh ta quả quyết. “Phải xác định vị trí càng sớm càng tốt, con bọ hung ấy chỉ nằm đâu đó quanh đây mà thôi.
“Không có mùa xuân đó đâu nhé. Tôi nheo mắt rồi nói.
Đây chắc hẳn là quan điểm cá nhân của Thorndyke, anh ấy đã chuẩn bị đủ đầy cho tình huống bất ngờ khó có thể xảy ra nhất; vì, mớ tư trang như bảng vẽ, giấy và hành động ghim bức ảnh lên cái bảng rồi tiếp tục, với một cây bút tốt cùng mực hectograph, chỉ để vẽ tỉ mẩn những bức họa phức tạp kèm dòng chữ tượng hình gây hoang mang trên con dấu. Khi công việc xong xuôi, anh ta chuyển chúng vào máy sao lưu và lấy ra được nửa tá bản sao, một trong số đó dành cho tôi. Ngờ vực và phán xét, đôi mắt tôi dán chặt vào Thorndyke. “Chính anh đã từng nói, một luật gia có kiến thức y khoa sẽ tìm cách biến những thứ bản thân thu nạp thành của riêng. Vậy lẽ nào anh ta cũng cần biến hóa chính mình để trở thành một nhà Ai Cập học hay sao?”
“Nếu đúng là như vậy, thì anh ta sẽ trở thành luật gia y khoa tuyệt vời. Câu đối đáp ấy đã tạc ghi trong đầu tôi và trở thành kim chỉ nam cho sự nghiệp sau này.
Gạt chuyện đó qua một bên, xét đến quá trình tố tụng của Thorndyke, tôi đầu hàng vì không tài nào hiểu nổi. Đối tượng mà anh ta truy xét cho đến giờ phút này là gì? Bản thân con dấu đã đủ để định dạng rồi. Tôi nán lại đôi chút với niềm tin về sự chuyển biến nào đó có thể soi rọi mọi bí ẩn. Tuy thế, hành động tiếp theo của Thorndyke như tạt cả gáo nước lạnh lên đầu tôi. Anh ta đi tới giá sách và lấy một cuốn sách xuống. Tôi lướt nhìn tiêu đề để rồi trông thấy dòng chữ Raper's Navigation Tables. Như bóng ma, tôi bước từng bước nhẹ tênh ra ngoài sảnh, đội mũ và rời đi.
Khi trở lại, cuộc điều tra dường như đã dần lắng xuống, Thorndyke sõng soài trên chiếc ghế êm du của mình, ngả ngón đọc The Compleat Angler. Trên mặt bàn la liệt thước đo góc hình tròn lớn, thước thẳng, thước tỷ lệ của dân kiến trúc và một tờ giấy vẽ, trên đó có nét vẽ bằng mực hectograph ký họa trang viên Shawstead.
“Anh cất công truy nguyên điều này để làm gì?” Tôi nóng mặt. “Tại sao không dùng bản đồ?”
“Đơn giản lắm, vì tôi đâu cần tất cả. Anh ta thong dong đến phát bực. “Cũng không thích cắt tấm bản đồ chứ sao.
Loáng một cái sau bữa trưa có đôi chút thiếu quy chuẩn trên khoang tàu, chúng tôi đã đến trang viên Shawstead lúc hai rưỡi chiều. Nhất cử nhất động của chúng tôi, như việc rảo nhanh trên con đường đã rơi vào tầm ngắm, bởi lẽ đó mà Blowgrave cùng con gái của ông ta đã phục sẵn ngay trước hiên nhà hòng đón chúng tôi trở vào. Ông ta tiến tới cùng vòng tay dang rộng hết cỡ, ấy vậy mà vẻ mặt lại hết sức ảm đạm, sầu bi:
“Thật tử tế biết nhường nào khi anh đã cất công xuống tận đây, nhưng hỡi ơi! Đã quá trễ rồi.
“Quá trễ cho việc gì cơ chứ?” Thorndyke gặng hỏi với vẻ hoang mang tợn.
“Nào nào, lại đây và xem thứ này đi. Blowgrave đáp, nắm chặt cánh tay anh bạn tôi, còn anh ta thì ra điều phấn chấn sải những bước thật rộng tiến tới cánh cửa phụ ngay hông ngôi nhà. Băng qua con hẻm hẹp chạy dọc theo bức tường bao của vườn tược và kết thúc ở một đồng cỏ tít tắp mù khơi, điểm cuối xa xăm có chiếc cối xay gió đổ nát. Ông ta vội vã sượt qua cánh đồng, kéo theo đồng nghiệp của tôi, điểm dừng là khu đất vừa được xới tung lên. Chỉ đến lúc đó, nhịp bước của ông ta mới kết thúc, khớp ngón tay thẳng đuột chỉ vào khoảng không nơi mà trước đó đã từng là thảm cỏ xanh mướt mát, thì giờ đây đã bị xới tung lên vô cùng hổ lốn nhộn nhạo. Tâm trạng của ông ấy như đang rơi.
“Ở đằng kia!” Ông ta hét toáng lên, khom lưng ra sức kéo mảng cỏ có dấu hiệu bong tróc, từ đó để lộ ra một cái hố với đường kính lớn như thể vừa bị lấp đầy một cách vội vã. Dẫn chứng là mớ bùng nhùng trên mặt đất vừa bị xáo trộn đến là thảm thương.
Thorndyke đứng chết trân nhìn xuống cái hố sâu hoắm cùng nụ cười yếu ớt. “Ông nghĩ sao về điều này?” Anh ta chầm chậm nói.
“Hãy động não đi nào!” Blowgrave nghiến răng ken két. “Tại sao cơ chứ, tôi e là kẻ đào cái hố này đang truy tìm tung tích của cố Reuben cùng những viên đá quý bị đánh mất!”
“Vâng. Rất đáng để lưu tâm. Thorndyke đăm chiêu mất hồi lâu. “Có lẽ anh ta đã tìm nhầm chỗ, nhưng đó lại là chuyện của anh ta.”
“Nhầm chỗ ư!” Blowgrave và con gái của ông ấy đồng thanh cất giọng với âm lượng quá khổ. “Làm sao mà anh có thể biết được chỗ đó sai hay đúng?”
“Là thế này? Thorndyke đáp lời. “Tôi tự tin bản thân biết đích xác vị trí, vậy nên cái hố này hẳn là không thể đúng được. Dẫu thế, chúng ta vẫn nên thử nghiệm cho chắc thì hơn, vâng, hành xử thật bài bản ấy. Phiền ông, có thể nhờ gia nhân cầm cuốc và xẻng tới đây được không? Họa hoằn lắm thì chúng ta có thể tự mình xử trí?”
“Chà, tôi nghĩ làm vậy sẽ tốt hơn thật. Blowgrave nói, run lên từng cơn vì phấn khích. “Vậy thì tôi khuyên ông nên đi lấy các công cụ tới đây trong khi tôi xác định lại vị trí nhé. Thorndyke chầm chậm nói.
Blowgrave chỉ chờ có thế, ông ta hứng khởi gật đầu cái rụp rồi phi nước đại vội vã biến mất, trong khi Blowgrave bé nhỏ ở lại với chúng tôi, quan sát Thorndyke với vẻ kinh ngạc tột độ.
“Tôi không cho phép bản thân ngắt lời anh bởi những câu hỏi. Cô nàng từ tốn hết sức. “Nhưng tôi sẽ chẳng nén nổi ngạc nhiên bởi làm cách nào mà anh có thể tìm ra nơi chôn cất của cố Reuben cơ chứ.”
“Khoan đã, xin hãy cho tôi được giải quyết vấn đề đó vào hồi sau. Thorndyke lịch sự đáp. “Trước nhất, chúng ta phải tìm cho ra ông cố Reuben rồi tính tiếp. Dứt lời, anh ấy đặt phịch chiếc túi đồ nghề của mình xuống đất, mở nó ra rồi lấy vài ba tờ giấy, mỗi tờ là một bản sao bản đồ mà anh ta đã tự mình vẽ; mỗi tờ giấy khác nhau sẽ tương thích với một điểm trên đồng cỏ, một số điểm tỏa ra như nan hoa của bánh xe vậy.
“Lại đây, Jervis. Anh ta liến thoắng, chủ động chỉ cho tôi xem. “Lợi thế của bản đồ đấy. Không tốn nhiều công sức mấy để tổng hợp phương hướng bất kể có gặp chướng ngại vật nào, như cây non mọc lên từ thời cổ Silas, dễ dàng để đánh đúng vị trí. Nếu các chướng ngại vật mọc lên gần đây ngăn trở chúng ta xác định phương hướng, thì chúng ta vẫn có thể tìm thấy vị trí bằng cách dùng thước dây và đánh dấu lại.”
“Tại sao lại có đến ba bản kế hoạch?” Tôi thắc mắc.
“Vì có những ba nơi để đặt giả thiết. Điểm đầu tiên là nơi có khả năng cao nhất, điểm thứ hai sẽ giảm dần, tất nhiên, điểm thứ ba có thể bằng không. Đó chính là nơi mà anh bạn của chúng ta đã thử vào tối qua đấy. Điểm thứ nhất nằm chính giữa những cây non, và giờ đây chúng ta có thể thử xem liệu có nên bất chấp để tiếp tục chờ đợi hay không.”
“Thế rồi chúng tôi tiến tới bụi cây, Thorndyke lấy từ chiếc cặp nghiên cứu ra một chân máy ảnh, có thể gập mở dễ dàng cùng chiếc la bàn hình lăng trụ lớn có số làm từ nhôm. Ít lâu sau, anh ta vặn dăm ba vòng để rồi dựng cái giá ba chân lên, cố định la bàn trên đó. Chỉ trong vài phút, Blowgrave bé nhỏ và tôi đã quan sát tỉ mỉ khi anh ta di chuyển giá ba chân từ điểm này qua điểm khác, nhìn qua ô ngắm của la bàn và thỉnh thoảng liếc tấm bản đồ. Cuối cùng, anh ta hất mặt qua phía chúng tôi và nói: “Thần may mắn đã đến với chúng ta rồi. Không có cái cây nào trong đám này cản trở hướng đi hết.” Thế rồi, anh ta lấy từ trong túi đồ nghề ra một mũi tên của dân chuyên, cắm nó xuống mảnh đất nơi có giá ba chân được đặt: “Chính đây. Nhưng có lẽ chúng ta phải đào một đường vòng quanh, la bàn không thể chỉ đích xác vị trí được.”
Vừa hay ông Blowgrave loạng choạng đứng thốc dậy, thở hổn hển và ném xuống đất ba cái cuốc, hai cái xẻng cùng một cái thuổng. “Tôi sẽ không ngáng đường anh đâu, thưa tiến sĩ, bằng việc tránh đặt cho anh bất cứ câu hỏi hay yêu cầu một lời giải thích nào. Ông ấy không thể ngừng lắp bắp. “Nhưng tôi cũng bối rối quá thể. Ông phải cho tôi biết tất cả, rằng mọi điều trên có nghĩa lý gì khi mọi chuyện đã được giải quyết êm xuôi.
Thorndyke ấy à, một khi đã hứa thì nhất định anh ta sẽ làm cho bằng được. Trong lúc chờ đợi, anh ta cởi áo khoác ngoài, xắn tay áo sơ mi, cầm lấy chiếc thuồng và bắt đầu khoanh một hình vuông cỡ lớn. Khi lớp đất được xới tung hết cả, ông Blowgrave và tôi thay nhau xúc đất bằng cuốc, còn cô nàng Blowgrave nhận nhiệm vụ đem chỗ đất đó chuyển qua chỗ khác.
“Anh có biết chúng ta đã đi được bao xa rồi không?” Tôi cau có.
Thorndyke thản nhiên đáp. “Cái xác nằm cách sáu feet tính từ mặt nước biển. Vừa nói, anh ta vừa đặt thuổng xuống, tìm lấy chiếc kính viễn vọng từ hộp đồ nghề, quét một vòng bao quanh đồng cỏ, cuối cùng hướng tầm nhìn về phía căn nhà dựng trong nông trại cách đó cỡ sáu trăm thước, nơi mà Thorndyke đã để ý từ lâu. Sau đó là hình ảnh anh ta cầm cái cuốc còn lại rồi chạy thục mạng, ra sức đào xới góc đối diện mảnh đất hình vuông lộ thiên này.
Loay hoay cỡ gần nửa giờ đồng hồ, chúng tôi chẳng ngơi nghỉ giây nào, lớp đất cứ dần ăn sâu, hết cuốc rồi xẻng, trong khi đó, cô Blowgrave vẫn miệt mài dọn dẹp chỗ đất bị xới tung ra khỏi viền bao của cái hố. Rất mất sức, công việc của chúng tôi đành tạm dừng, từng gáo nước thi nhau xối lên mặt.
“Nellie con ơi, cha cho là. Blowgrave thở không ra hơi, cởi bỏ chiếc áo ghi lê của mình. “Ta cần một bình nước chanh cùng bốn chiếc cốc, chúng sẽ hữu hiệu lắm, trừ khi những quý ông đây thích uống bia hơn.
Kết сис là cả hai chúng tôi bình chọn nước chanh, cô Nellie lững thững đi về phía ngôi nhà, trong khi Thorndyke, tay cầm kính viễn vọng, kiểm tra ngôi nhà được cất trên nông trại thêm lượt nữa.
“Có vẻ như anh rất bận tâm đến ngôi nhà đằng đó.” Tôi hướng ánh nhìn về phía xa xa.
“Tôi ấy à. Anh ta bất cần buông đôi ba lời rồi đưa chiếc kính viễn vọng cho tôi. “Chỉ cần nhìn vào ô cửa sổ ở đầu hồi bên phải, nhưng phải từ dưới gốc cây cơ.
Theo hướng nhìn của anh ta, tôi lia kính viễn vọng về phía đầu hồi và trông thấy ô cửa sổ để mở, nơi đó có thấp thoáng bóng hình của người đàn ông đang ngồi. Cậu ta đưa ống nhòm ngang tầm mắt và nheo nheo chĩa về phía chúng tôi.
“Có phải chúng ta đang bị theo dõi không ấy nhỉ. Giọng tôi run lên, đưa kính viễn vọng lại cho Blowgrave. “Dù sao thì điều đó cũng không quan trọng mấy. Đây là mảnh đất của ông cơ mà, phải chứ?”
“Vâng” Blowgrave rón rén. “Dẫu vậy thì tôi vẫn không mong mình sẽ có bất kì sự soi mói nào. Harold Bowker chứ chẳng phải ai. Ông ta chêm thêm khi đang đặt lại chiếc kính viễn vọng lên một cái cây. “Cậu ta là cháu trai của anh họ Arthur tôi, người thừa kế trang viên - cư gia mà tôi đã nói với anh trước đó. Harold dường như rất quan tâm tới chúng tôi; những điều nhỏ nhặt thường hứng thú hơn hẳn những vụ việc mang tầm vóc của một quốc gia.
Vừa hay, sự xuất hiện của cô Nillie, khi nàng băng qua đồng cỏ xanh mướt mải một màu với chiếc giỏ trông đến là mời gọi, đã đánh lạc hướng sự chú ý của chúng tôi khỏi tên nhìn lén kia. Sáu con mắt hau háu thèm thuồng dán chặt vào cái giỏ cho đến khi từng bước chân của Nillie tiến gần hơn cùng bình thủy tinh lớn với bốn chiếc cốc, ai nấy đều nốc cạn cốc nước chanh ngon lành rồi nhảy xuống hố để tiếp tục công cuộc đào xới của mình.
Nửa giờ nữa trôi qua nhanh chóng. Chúng tôi cật lực đào gần hết chiều dài ở vài điểm then chốt và thảo luận xem có nên nghỉ ngơi chút đỉnh hay không thì Blowgrave, người đang cặm cụi ở một góc, đột nhiên thốt lên những tiếng kêu lớn rồi đứng thẳng dậy, trên tay cầm một vật gì đó. Thoáng qua, tôi trông thấy khúc xương màu nâu nhuộm bởi bùn đất. “Lại còn là xương người nữa chứ. Lời quả quyết của Thorndyke sau khi ông Blowgrave kiêu hãnh trao nó cho anh ta.
“May mắn quá đi thôi. Thorndyke vui mừng. “Bước tiến xa lắm cho lần thử nghiệm đầu tiên. Đây chính là ngón chân cái bên phải, vậy nên chúng ta có thể tin rằng bộ xương đang nằm ngay bên ngoài cái hố ấy thôi, hãy cẩn trọng hơn khi khai quật chúng nhé. Cần xác định đích xác xương đang nằm theo phương cách nào nữa. Anh ta cứ thế tự mình làm hết mọi thứ, thận trọng thăm dò bằng thuổng và xới đất quanh góc. Chẳng mấy mà phần xương còn lại của bàn chân đã lộ diện, sau đó là lần lượt xương cẳng chân và một phần của bàn chân trái.
“Hay quá, có thể mục sở thị rồi đây. Anh ta vui vẻ ra mặt. “Chúng ta vẫn chưa thể xác định bộ xương nằm theo tư thế nào, tất cả những gì chúng ta có thể làm ngay lúc này là mở rộng cuộc khai quật theo hoạch định. Tuy nhiên, không gian của hố quá hẹp và chỉ đủ cho một người. Theo tôi thì anh và ông Blowgrave tốt hơn hết hãy đào xung quanh từ phía trên trước đã.
Chỉ chờ có thế, tôi bật người trèo ra khỏi hố thật nhanh lẹ, ông Blowgrave thì miễn cưỡng theo sau. Ông ta ôm khư khư khúc xương nhỏ màu nâu trong tay cùng trạng thái hưng phấn tột độ, hân hoan đến mức cô con gái của ông ấy có đôi chút ngượng ngùng.
“Cũng ghê tởm quá rồi đấy.” Nàng ta nhận xét. “Được hả hê trước cái xác của ông cố tội nghiệp theo cái cách như này đây.”
“Cha biết, cha biết mà. Ông Blowgrave dịu giọng. “Việc làm quả là ê chề dữ lắm. Nhưng cha đâu phải kẻ đã giết ông cố Reuben, con biết đấy, ngược lại - đó là quãng thời gian rất dài trước đó rồi. Ông ta quả là kẻ thức thời với mớ lý thuyết vụn vặt, từng ngụm nước chanh to được ông ta nuốt xuống ừng ực. Vội chộp lấy cái cuốc, cứ thế ông ấy bắt tay vào mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Tôi cũng mê đắm thức uống óng ánh ngọt dịu chua thanh đến là khốn khổ. Không quên rót đầy một cốc khác cho Thorndyke. Dẫu thế, trước khi tiếp tục công việc của mình, tôi nâng kính viễn vọng lên hòng kiểm tra ngôi nhà khuất lấp trong trại thêm lần nữa. Cửa sổ vẫn hé mở, gã đàn ông khi nãy hẳn đã chán ngấy cảnh tượng đào xới của chúng tôi. Cậu ta mất dạng từ lúc nào.
Kể từ đó trở đi, cứ cách vài phút lại có một khám phá nhỏ nhoi nào đó được khai quật, trước tiên là một đôi giày bằng thép đã rỉ sét không cách nào cứu vớt được. Tiếp đến là một, hai chiếc cúc áo, còn hiện giờ là chiếc đồng hồ bằng vàng ròng với dây đeo chìa khóa cùng một con dấu, trông mới hợm hĩnh làm sao, chúng dường như chứa đựng cả tấn bi kịch còn hơn cả chính những khúc xương cơ đấy. Trong quá trình đào xới đầy vẻ cẩn trọng, Thorndyke rất mực chú tâm để không làm xáo động bộ xương. Khe hẹp ở góc hố đằng ấy, có thể trông thấy cả hai cái chân, nhưng lại chỉ thiếu mất chân phải, nó nhô ra như thứ tiểu nghệ tinh xảo trên vách đá. Trong khi đó, khe rãnh mà chúng tôi đang đào xới càng lúc càng sâu hơn đáng kể, tới nỗi Thorndyke đã ngay lập tức cảnh báo nên ngưng lại, đồng thời ra hiệu cho chúng tôi đi xuống để xúc đất trong lúc anh ta trèo lên.
Sau cuối, toàn bộ khung xương, trừ duy nhất phần đầu lâu, không được che kín, mặc cho nó đang nằm im lìm bất động
như thể đã yên vị trong cỗ quan tài tới nơi. Và giờ đây, khi Thorndyke xới tung đám đất quanh phần xương sọ, chúng tôi có thể dễ dàng trông thấy hộp sọ đang bị đẩy về phía trước như thể kê lên một chiếc gối cao. Điểm chọn thích hợp để thăm dò cẩn trọng từng li từng tí và lý giải cho điều trên. Mặt đất dần sâu hoắm, để lộ ra chiếc đầu lâu nhe bộ hàm nhăn nhở, ai nấy đều trông thấy cạnh và các góc bọc sắt của chiếc rương nhỏ phía dưới.
Cảnh trí hoành tráng và hư ảo lắm: kỳ bí, trang nghiêm thêm chút hãi hung. Hơn một thế kỷ qua đi, tay bạc cự phách xấu số vùi mình dưới nền đất lạnh, xương sọ mục nát gối lên chiến lợi phẩm mà kẻ thủ ác không được ghi danh. Chiến lợi phẩm đó nào phải món quà vào sinh ra tử mà đến từ cướp bóc, giành giật dưới cơn thịnh nộ cùng phẩm cách hung bạo vô nhân tính. Sau cuối, chúng được chôn cất bởi kẻ chiến thắng cuối cùng với chứng nhân tội ác mà họ tạo nên.
Thorndyke cay đắng: “Một bài điếu văn xuất sắc dành cho tên đạo đức giả với mớ thuyết giảng phù phiếm về sự giàu sang.”
Chúng tôi im lặng mất cả quãng, con ngươi đồng loạt bất động, không khỏi thất kinh khi nhìn vào dáng hình khổ hạnh nằm canh giữ mớ gia tài bất chính. Quý cô Blowgrave - nàng ta được đỡ xuống cùng lúc với chúng tôi - rón rén tiến lại gần cha mình và thầm thì điều gì đó “đến là man rợ lắm”. Trong khi đó, cha của nàng ta lại bộc lộ dáng vẻ dị thường bởi niềm hân hoan tột độ, thêm chút ghê tởm từ trong cốt cách.
Bỗng đâu đó, không gian lặng thinh bị phá vỡ bởi giọng nói thoắt ẩn thoắt hiện ngay trên đầu chúng tôi, tất cả đều giật mình hướng mắt nhìn lên. Thanh niên trẻ tuổi đang đứng ngay miệng hố, nhìn xuống cả thảy với vẻ không đồng tình.
“Có vẻ như tôi đã đến vừa kịp lúc. Cậu ta từ tốn. “Chính tôi là người sở hữu chiếc rương này đây, anh biết chứ, cả phần còn lại nữa cơ, tôi e là vậy. Tổ tiên của tôi, cố Reuben Blowgrave.
“Thôi nào, Harold” Ông Blowgrave tỏ rõ thái độ bất bình. “Cậu có thể đem ông cố Reuben đi nếu muốn. Nhưng chiếc rương này thuộc về Nillie.
Rắc rối thật, gã Harold Bowker này đây - giờ tôi mới chú tâm để nhận ra chính gã là người quan sát chúng tôi từ ô cửa sổ - nhảy xuống cái hố rồi đi lên cùng điệu bộ kênh kiệu đến là phát bực.
“Tôi mới chính là người thừa kế của cố Reuben. Anh ta đáp trả. “Bởi chú Arthur đã chỉ định tôi sẽ là người sở hữu khối tài sản và toàn bộ những gì còn sót lại.”
“Xin thứ lỗi khi tôi phải cắt ngang lời cậu, Harolrd ạ. Blowgrave quản lý cảm xúc khá tốt. “Nhưng Nellie mới là người thừa kế di sản mà anh Arthur để lại, và đây chính là phần còn lại của di sản đó.”
“Quân rác rưởi. Bowker gào lên thảm thiết. “Nhưng khoan đã, xin thất lễ khi hỏi anh rằng làm thế nào mà anh có thể xác định được nơi chôn cất của cố tôi.”
“Chuyện này thì, cũng đơn giản thôi. Thorndyke đáp lời với gương mặt hớn hở đến lạ. “Tôi sẽ cho anh thấy toàn bộ kế hoạch của tôi. Vừa dứt câu, anh ta trèo lên khỏi cái hố rồi quay trở lại trong ít phút cùng ba dấu tích và chiếc hộp đựng thư từ. “Chúng tôi xác định các điểm thế này nhé. Thorndyke đưa bản kế hoạch số ba cho Bowker, cậu ta vội nhận lấy và đứng nhìn tờ giấy trên tay với khuôn mặt cau có đầy vẻ bối rối.
“Nhưng đây đâu phải vị trí chúng ta đang đứng” Thật lâu về sau, cậu ấy mới nặn ra được một câu hoàn chỉnh.
“Cậu chắc chứ?” Thorndyke nhoẻn miệng cười. “Chà, hẳn nhiên là vậy rồi; lỗi do tôi vì đã đưa nhầm cho cậu. Đây mới là bản kế hoạch thực sự. Thế rồi, Thorndyke đưa cho Bowker bản hoạch định được đánh số một, và giật ngay bản còn lại từ tay cậu chàng, đặt nó xuống khu đất. Hồi lâu, Bowker ủ dột đến là thảm thương, nhìn đăm chiêu vào tờ giấy số một thật với vẻ vô định, cùng với đó, cậu ta lấy từ trong túi ra một con dao cùng cây bút chì, quay tấm lưng rộng về phía những vị khách của chúng tôi; bút chì được cạo đầu, bột đen cứ thế tự do nhảy nhót trên bản kế hoạch mà khi nãy cậu chàng vừa đặt xuống. Tôi đánh mắt về phía cậu ta với đôi chút tò mò; và theo những gì tôi quan sát được, vết cạo đen đã rơi xuống hai điểm gần mép của tờ giấy, mối nghi ngại chợt lóe lên trong tôi như chiếc bóng nhập nhoạng ban sáng ban tối. Sự thể sau đó càng củng cố thêm niềm tin trong tôi khi bắt gặp hành động gõ nhẹ vào tờ giấy bằng cây bút chì, cậu ta thổi tung lớp bột mịn đen kịt trong chớp nhoáng. Nhân đây, bức ảnh mà tôi chụp lại về lá thư được đánh máy vẫn đang im lìm trong hộp, bức ảnh đó sẽ được giữ lại cho phần sau của bản kế hoạch.
“Tất cả đều hoàn hảo. Bowker nói, chuyển tầm nhìn ra xa tờ giấy. “Nhưng làm sao mà anh phát hiện ra mối giao liên này?”
Thorndyke rất nhanh đặt lá thư vào chiếc hộp của mình rồi trở vào, đáp gọn lỏn: “Có lẽ tôi không thể cung cấp thêm bất kì manh mối nào khác nữa.”
“Còn có lẽ cơ đấy!” Bowker vùng vằng một cách xấc xược. “Thế này nhé, tôi phải buộc các anh dừng ngay lại. Bằng mọi giá, tôi không cho phép bất kì ai nhúng tay vào cơ ngơi của tôi thêm nữa.”
Thorndyke đáp lại cậu ta bằng ánh nhìn sắc lẹm thêm vài phần quả quyết, buông lơi dăm ba câu cùng chất giọng trầm ổn rất có trọng lượng. “Thong thả đã nào, hãy nghe tôi nói đã, cậu Bowker của tôi ơi. Chấm dứt sự thể vô nghĩa này, sớm lúc nào hay lúc đó. Biết sao không, chính cậu đã tham gia trò chơi mạo hiểm này và cậu quả thực đã thất bại ê chề. Cậu đã thất bại tới mức nào ấy à. Hẳn là tôi không thể nói ra cho đến khi biết chắc rằng ông Blowgrave có ý định truy tố cậu hay không.”
“Truy tố tôi!” Bowker điên tiết. “Quân ăn cướp, mày là cái thá gì mà truy tố tao?”
“Nào nào, ý tôi chỉ là” Thorndyke thản nhiên. “Vào ngày mùng 7 tháng Sáu, sau chín giờ tối, chính cậu đã lẻn vào tư gia của ông Blowgrave để lấy trộm và mang đi số đồ đạc cùng vật phẩm của ông ấy. Một phần trong số chúng đã được cậu hoàn trả cho chủ nhân, tuy nhiên cậu hẳn vẫn còn đang giữ lại một số tài sản đã bị mất cắp, tỷ dụ như một con bọ hung cùng hộp đựng chứng từ chẳng hạn.
Thorndyke với giọng điệu điềm nhiên ẩn chứa sức nặng vô hình cùng lời nói đanh thép. Khuôn mặt Bowker phút chốc tái xanh rồi chuyển sang trắng bệch. Cậu ta đứng im bất động, dán chặt con ngươi lên người đồng nghiệp tôi, kinh hồn bạt vía rồi xụi lơ đi. Tuy thế, sự thể khó lường khi anh ta “bốc cháy” lần cuối cùng.
“Vụ việc đến là điên rồ giữa mùa hè đổ lửa. Giọng cậu ta khàn đặc. “Anh biết điều đó mà phải không.”
Thorndyke quay sang gia chủ - ông Blowgrave và nói: “Xin ông hãy cứ yên tâm, tôi có đầy đủ bằng chứng vô cùng thuyết phục rằng Bowker đã cuỗm chiếc hộp chứng từ của ông. Nếu như ông quyết định truy tố, tôi sẽ đưa mớ bằng chứng này ra trước tòa và không có gì nghi ngại việc hắn ta sẽ bị kết án.
Blowgrave cùng cô con gái nhìn người đàn ông đang bị buộc tội với vẻ bối rối ngang ngửa kẻ bị buộc tội.
“Thật không cách nào tin cho nổi. Người đầu tiên cất lời sau cả quãng dài ngơi nghỉ. “Nhưng thù địch là điều tôi luôn tránh né. Nghe này, Harold, giao con bọ hung ra đây và chúng ta nước sông không phạm nước giếng.”
“Nào nào, ông không thể làm điều đó đâu. Thorndyke bất bình. “Luật pháp không đồng thuận với việc một vụ cướp diễn ra ngang nhiên như thế. Cậu ta có thể trao trả tài sản nếu muốn, phận sự của ông là hãy làm những gì ông cho là tốt nhất với việc truy tố kia kìa. Tất nhiên ông không thể đưa thêm điều kiện gì hết.”
Không gian đặc quánh trong vài giây ngắn ngủi, diễn tiến sau đó thì là, câu cú ngắt đoạn, “nhà thám hiểm” tỏ vẻ bối rối, bò lên khỏi hố và vội vã rời đi.
Độ hai giờ sau, khi đã thong dong tắm táp và dùng bữa một cách vội vàng, chúng tôi cùng nhau khiêng chiếc rương nhỏ từ nhà ăn tới phòng làm việc. Ngay đây, khi khung cửa sổ kiểu Pháp đã đóng lại còn rèm thì kéo kín. Ông Blowgrave lấy ra một bộ dụng cụ, chúng tôi háo hức vào việc ngay tắp lự với móc sắt của chiếc rương đã cũ kĩ. Dĩ nhiên, đây không phải nhiệm vụ dễ dàng mấy, dù cho lớp rỉ sét qua hàng thế kỷ đã mài mòn những phần kiên cố nhất, nhưng về lâu về dài, nắp rương chịu lực đẩy tương đối mạnh khiến nó mở tung với tiếng kẽo kẹt ra điều không hài lòng mấy. Chiếc rương được lót bằng tấm bạt dày gấp bội, đây hẳn nhiên là một phần của cánh buồm, bị nén lại bởi những túi da thuộc nhỏ, hết cái này tới cái kia, cảm tưởng như chúng bị nhét đầy ự bởi những viên đá cuội. Nhưng khi chúng tôi tháo nút để trút hết những thứ bên trong vào một cái bát gỗ, Blowgrave đã thở hắt ra, nét vui sướng lan khắp gương mặt. Con gái ông ta, quý cô Nellie thì ríu rít kêu lên một tiếng khe khẽ ra điều thích thú lắm. Tất cả đều là đá vụn, vậy nên hầu như kích cỡ sẽ có phần tương đối đặc biệt: hồng ngọc, ngọc lục bảo, ngọc bích và một ít kim cương. Nếu xét đến giá trị, chúng tôi chỉ có thể tiên đoán một cách mơ hồ, nhưng với Thorndyke, một người có ánh nhìn công tâm với đá quý, đã đưa ra nhận định rằng, chúng đều là những viên đá hoàn hảo nếu đem so với các loại đá đồng loại, mặc cho lát cắt có thô bạo đến nhường nào, và chúng có thể đã từng là mảnh ghép không thể thiếu góp phần làm nên sự phong phú tại nơi linh thiêng nào đó.
“Khó mà nghĩ cho thông suốt được. Blowgrave nói, đôi mắt suc sôi đầy thèm khát hăm hở nhìn vào chiếc bát đầy ự những viên đá quý lấp lánh, cười hả hê. “Chúng ta phải làm gì với chúng đây?”
“Xin hãy nghe tôi góp chút ý kiến. Thorndyke nhẹ giọng. “Tiến sĩ Jervis sẽ ở lại đây đêm nay và canh giữ giúp ông mớ đá quý này, ông có thể đem chúng tới London trong sáng mai và gửi vào ngân hàng đề tên chính mình.”
Blowgrave hồ hởi góp vui với đề xuất cùng sự tán đồng từ phía tôi. “Nhưng mà. Ông ta trăn trở. “Chiếc rương có hình thù kì quái tợn để cùng ra ngoài với tôi. Hiện giờ, thứ ngăn trở chúng ta lại chính là chiếc hộp văn kiện.
“Kia phải không, hộp văn kiện đang nằm trên chiếc tủ ngay sau lưng ông.”
Blowgrave chỉ chờ có thể, ông ta quay ngoắt lại với đôi mắt hấp háy sáng rực. “Chúa ban phước lành cho chúng ta!” Ông ta thảng thốt. “Của thiên trả địa. Chắc hẳn Harold đã lẻn vào từ cửa sổ khi chúng ta cùng ngồi uống trà. Dẫu sao thì, thật mừng khi cậu ta đã trả lại những gì đánh cắp. Khi nhìn vào bát đá quý, tôi đã trộm nghĩ hẳn là cậu ta đã bỏ lỡ kho báu trong gang tấc. Tôi cho là bản thân cũng chẳng muốn làm khó gì cậu ta cả. Có lẽ con bọ hung đang nằm trong đó - nhưng điều ấy hiện giờ nào còn nghĩa lý là bao.”
Con bọ hung yên vị trong một chiếc phong thư; và khi Thorndyke đặt nó lên tay rồi xem xét các chữ tượng hình trên đó qua kính lúp, cô Blowgrave cũng kịp ngó nghiêng hỏi han tình hình. “Con bọ hung ấy, nó có giá trị gì không thưa tiến sĩ Thorndyke? Có lẽ nó không phải nút thắt trong bất kì sợi dây liên đới nào với bí mật về nơi chôn giấu, bởi ông thấy đấy, những viên đá quý được tìm thấy mà chẳng cần tới bọ hung xanh.”
“Tiện đây, thưa tiến sĩ, tôi xin mạn phép dù không biết liệu có nên thưa chuyện hay không, nhưng bằng cách nào mà ông có thể tìm ra nơi cất giấu những viên đá quý? Đối với tôi, nó giống như ma trận hắc ám vậy.”
Thorndyke khe khẽ cười, chao ôi, chúng mới e thẹn và phức tạp xiết bao. “Không có phép thần thông quảng đại nào ở đây cả. Anh ta điềm đạm cất lời. “Một bài toán vô cùng đơn giản, dễ hiểu. Nhưng quý cô Nellie đã sai rồi. Chúng ta có con bọ hung, điều đó đồng nghĩa với việc dấu khắc hẳn có thể dùng tới, đó cũng là manh mối quý báu lắm đấy. Và cũng chính con bọ hung là chìa khóa để giải bài toán. “Cô thấy không” Anh ta tiếp tục.
“Bức thư của Silas và con bọ hung bỗng chốc tạo thành bài đánh giá về trí khôn của loài người.”
“Lẽ nào?” Blowgrave trầm trồ. “Sau đó, ông cố đã đánh cược vào canh bạc chứa nhiều rủi ro ấy à.
Thorndyke khúc khích mãi như nhằm thừa nhận điều đó là hoàn toàn đúng đắn. “Ông ấy hẳn đã không thể lường trước được vụ việc, rằng con cháu của mình có hơi thiếu chiến lược. “Chỉ dẫn của ông Silas đơn giản và rõ ràng lắm. Bất kể là ai, nếu muốn tìm thấy kho báu thì trước nhất phải có chút đỉnh kiến thức về truyền thuyết của Ai Cập cũng như nghiên cứu về con bọ hung xanh thật tâm, thật tính. Tôi coi đó là gợi mở có phần xởi lởi, hào phóng rồi. Tuy vậy, không có ai - ngoại trừ Harold Bowker, cậu chàng hẳn đã được nghe câu chuyện về con bọ hung từ chú Arthur của mình - và cậu ta, đã thực sự để tâm tới điều đó.”
“Thật tình, tới giờ tôi mới chỉ đủ kiến thức căn bản về các ký tự tượng hình để có thể đánh vần nếu chúng sử dụng theo cách sắp xếp của bảng chữ cái. Ngay khi trông thấy con dấu, tôi đã phát hiện ra chúng có thể tạo thành các từ tiếng Anh một cách tương đối dễ dàng. Ban đầu, sự chú ý của tôi dừng lại ở nhóm mật hiệu thứ hai, đánh vần từ Reuben, sau đó liền va vào nhóm đầu tiên, đánh vần từ Chú. Lẽ dĩ nhiên, sau khi được nghe cô Nellie kể về mối liên giao giữa con bọ hung và ông Reuben, lúc đó vụ án mạng năm xưa chính thức bị phanh phui. Tôi đã thoáng nhìn qua con bọ hung ấy, thứ cổ vật lưu trữ toàn bộ manh mối tối cần thiết. Đêm qua thôi, tôi đã tỉ mẩn truy nguyên dấu vết của các chữ tượng hình Ai Cập và sau đó kết xuất thành bảng chữ cái của riêng mình. Và kết quả đây.”
www
|u=> M = -L (ຊ)
11
UNKL RUBN 11 IN TH MILA
-
"FIELD SKS!
CHURCH
BAS
ne
A
DOWN
NORTH TEN THIRTY
DINGL SOUTH SA NORT
Hell
ATV PORTY FIF WST GOD SAF
KING JORJ
Thordyke tìm ra dấu vết từ bọ hung xanh
Bản dịch từ chữ tượng hình
Thế rồi, anh ta lấy từ trong hộp đựng thư của mình và trải lên bàn một bản sao của tấm bản đồ mà tôi đã có cơ may trông thấy anh ấy cặm cụi vẽ. Tiện thể, anh ta đưa cho tôi một tờ bản sao khác để thuận việc theo dõi. Nhưng cũng kể từ lần sau cuối được trông thấy tấm bản đồ, thì giờ đây nó đã được bổ sung khá nhiều chi tiết. Đại để như dưới mỗi ký hiệu, các từ đồng nghĩa trong chữ La Mã hiện đại đã được viết lên, bởi thế mà chúng tạo nên các từ như sau:
"UNKL RUBN IS IN THE MILL FIELD SKS FT DOWN CHURCH SPIR NORTH TEN THIRTY EAST DINGLE SOUTH GABL NORTH ATY FORTY FIF WEST GOD SAF KING JORJ.”
Bản chuyển ngữ của Thorndyke khiến ai nấy đều thất kinh đến tột cùng, hai cha con nhà Blowgrave với đôi con ngươi bất động nhìn chằm chằm vào anh bạn tôi. “Chắc hẳn bản dịch này đòi hỏi kiến thức uyên thâm cùng tầm nhìn sâu rộng về chữ viết Ai Cập lắm.”
“Không hẳn vậy” Thorndyke đáp gọn lỏn. “Một gã thông thái bất kì đều có thể thông thạo bảng chữ cái Ai Cập chỉ trong một giờ. Ngôn ngữ, tất nhiên, lại là phạm trù khác hẳn. Vì cách đánh vần có đôi chút thô kệch, bù lại thì khá dễ hiểu và ông Silas đã tìm ra điểm đó. Ông ấy đã xét đến việc có rất ít người thông thạo ngôn ngữ này cũng như thời gian của bản thân còn tương đối ngắn ngủi.”
“Sao mà anh có thể biết M. Fouquet đã bỏ lỡ điều này cơ chứ?” Blowgrave đang dần hiểu ra vấn đề.
“Tất nhiên rồi. Thorndyke giải thích. “Vì anh ta đang tìm kiếm chữ khắc Ai Cập. Nhưng đây rõ ràng không phải chữ khắc Ai Cập gì cả. Anh ấy có thể nói được tiếng Anh không?”
“Ít lắm thưa ngài. Thực tế là không.”
“Cuối cùng thì, vì toàn bộ chữ cái đều là những từ tiếng Anh còn đang dang dở ở các vần. Vậy nên chữ tượng hình vô tình bị gán là phù phiếm và vô nghĩa lắm đối với anh ấy. Vậy nên thật dễ hiểu khi anh ta cho rằng con bọ hung kia chỉ là đồ nhái không hơn không kém.”
“Tôi còn một điểm nghi vấn khác nữa.” Blowgrave đăm chiêu. “Vì lẽ gì mà Harold có thể mắc sai lầm nghiêm trọng đến thế khi xác định vị trí của kho báu. Đường đi nước bước đều sáng tỏ. Tất cả những gì cậu ta phải làm là ra ngoài đó cùng một chiếc la bàn và xác định phương hướng như cái cách chúng ta đã làm trước đó thôi mà.”
“Là thế này. Thorndyke đều giọng nói. “Đó quả nhiên là tất cả những gì cậu ấy đã làm, chính điều đó vô tình dẫn đến những tai hại liên hoàn. Cậu ta hẳn đã không biết gì về hiện tượng được gọi là biến thiên trường kỳ của la bàn. Có lẽ ông cũng biết, la bàn thường xuyên không chỉ đúng về phía Bắc. Từ tính về hướng Bắc tương đối mạnh, bởi vậy mà chiều kim của la bàn chỉ hướng Bắc sẽ liên tục thay đổi vị trí của nó. Khi Reuben được chôn cất vào khoảng năm 1810, nó ở vị trí 24 độ, 26 phút về phía Tây so với hướng Bắc thực tế; thời điểm hiện tại chính xác là 14 độ, 48 phút về phía Tây so với hướng Bắc thực. Bởi vậy, đường hướng của Harold sẽ chệch ra ngoài không dưới mười độ, vì lẽ đó mà cậu ta không thể tránh khỏi việc vị trí hoàn toàn bị sai lệch. Thời Silas còn là thuyền trưởng, một thủy thủ lão luyện, theo lẽ dĩ nhiên, ông ấy nằm lòng những đổi thay bất thường của chiếc la bàn; và cũng vì phương hướng mà ông ấy dự tính sử dụng lại ở tương lai, vậy nên tôi có thể giả định rằng phương hướng thực mà ông ấy đưa ra sẽ không thể khớp hoàn toàn với những gì đã đề ra trước đó.
Khi ông ấy nói phía Bắc, tức đó là phía Bắc thật, chúng hoàn toàn giống nhau; điều đấy hóa ra lại tạo nên một hoạt cảnh tương đối tai hại. Tuy thế, tôi cũng đã chuẩn bị kĩ lưỡng bản kế hoạch với góc phương vị từ đã được căn chỉnh sao cho hợp lý nhất. Đây chính là ba sơ đồ hóa: Phương án thứ nhất - chính là kế hoạch mà chúng ta đã sử dụng - phương hướng xác thực. Phương án thứ hai, góc phương vị đã qua hiệu chỉnh, sẵn sàng cho ta vị trí đích xác, với phương án cuối cùng, góc phương vị chưa hiệu chỉnh, cho chúng ta vị trí mà Harold đã đào xới, và hẳn nhiên đó không thể là nơi cất giữ kho báu được.
Khi bình minh ngày hôm sau ló rạng, tôi đã hộ tống chiếc hộp ứa tràn chiến lợi phẩm, được gói ghém cẩn mật và niêm phong cùng con bọ hung đi tới ngân hàng với ông Blowgrave. Sự kiện đó chính thức khép lại mối giao hảo giữa chúng tôi, ngoại trừ điều đó. Cỡ một vài tháng sau, chúng tôi được mời tới tham dự buổi lễ khánh thành đài tưởng niệm cố Reuben Blowgrave tại nghĩa trang nhà thờ Shawstead. Tuy nhiên, về mặt hình thức thì có vẻ như nó đang xa rời với một đài tưởng niệm phổ thông. Trên đó có tạc tên cùng ngày tháng tương đối chính xác, tuy nhiên điểm đáng lưu tâm ở đây chính là dòng chữ bổ sung:
Ném bánh mì trên mặt nước và nó sẽ trở về sau nhiều ngày.
Liên quan tới câu nói đó, Thorndyke buông lơi một câu hết sức khô khan, rằng lời khuyên ấy được áp dụng tương tự ngay cả khi bánh mì thuộc về ai đó khác.
1 Cụm từ xuất hiện trong Book of Ecclesiastes (sách truyền đạo). Tương tự với câu: Làm việc nghĩa mà không cần báo đáp - Thi ân bất cầu báo.