Cuộc Viếng Thăm Của Vị Khách Bí Ẩn

Lượt đọc: 1040 | 4 Đánh giá: 9,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5: HIỂM NGUY CỦA PHYLLIS ANNESLEY
Ảnh chương 5

Một vài chuyện được xử lý tương đối vụng về” Thorndyke húng hắng khi chúng tôi đang ngồi đợi

M

| |_ vị luật sư trẻ Mayfield. “Có đôi lúc con người ta sẽ cảm thấy hối tiếc vì công việc này bởi đa phần chúng đều dính dáng tới những thứ dơ dáy và khó chiều.

“Vâng” Tôi vô cùng đồng tình với quan điểm của anh ấy. “Luật Y tế ấy à, không phải lúc nào cũng là chủ điểm ý nhị. Dẫu thế, đây lại là phương thức hành nghề của chúng ta và chúng ta buộc phải đón nhận khi tìm ra điều gì đó.

“Triết lý vị nhân sinh, Jervis ạ. Thorndyke bỡn cợt. “Và xứng đáng để trở thành người bạn uyên bác của tôi. Sợi dây keo sơn giữa Luật pháp và Y học là tội ác chống lại loài người, bởi vậy mà việc nghiên cứu một cách đúng đắn về Luật Y tế được xếp vào cùng một hàng. Sự thật nghiệt ngã, ta buộc phải chấp nhận dù cho đó có là gì đi chăng nữa.

“Nhân thể đây.” Tôi dõng dạc. “Có lẽ đã không còn điểm gì được cho là bất thường trong vấn đề pháp lý từ vụ Bland nhỉ. Người phụ nữ ấy hẳn nhiên đã bị sát hại. Câu hỏi duy nhất là ai đã sát hại cô ta? Và dường như chẳng nhọc công để tìm kiếm câu trả lời, nó sờ sờ ngay trước mắt kia mà.

“Có đấy” Thorndyke như đùa như thật. “Nhưng phải đợi Mayfield cái đã, những gì anh ta nói sẽ giúp chúng ta đưa ra phán đoán tốt hơn. Và tôi cho là, mình đã nghe thấy tiếng đế giày của anh ta nện lộc cộc theo từng nhịp bước khi đang tiến tới mé cầu thang rồi đấy.

Theo phản xạ, tôi nhổm người dậy để mở cửa đón chào vị khách quý. Anh ta bước vào trong, đối diện với cặp mắt có phần võ đoán và xét nét từ phía tôi. Mayfield tương đối trẻ trung, phong thái đĩnh đạc cùng nét lắng lo pha trộn hài hòa thông qua khí khái lúc anh ta tiến lại gần. Rõ ràng người đàn ông này không phải tay thợ lành nghề trong ngành luật, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ chưa nhiều nhặn gì.

“Thưa ngài, tôi e là. Anh ta thả người xuống chiếc ghế êm ái được Thorndyke chỉ điểm rồi nói tiếp. “Phải chăng tôi nên ghé thăm ngài sớm hơn, để phục vụ công tác điều tra ấy mà, hoặc chí ít, hoàn tất thủ tục tố tụng từ phía cảnh sát cũng nên.

“Đây chẳng phải lời bào chữa của anh hay sao?” Thorndyke mỉm cười.

“Vâng, chính thế” Vị luật sư trẻ bối rối, kéo theo đó là khuôn miệng méo xệch. “Bất khả dĩ để hành động khác đi. Coi bộ đã hết thứ để nói rồi. Vậy nên tôi đành phải đưa ra lời biện minh có phần sám hối cũng như bảo lưu việc bào chữa với hy vọng sẽ tìm ra phép nhiệm màu. Tuy thế, tôi lại rơi vào trạng thái túng quẫn tợn, thưa ông. Trường hợp này thuộc diện vô vọng tuyệt đối. Tôi chẳng thể biết điều đó đã phật lòng ông tới mức nào, thưa ông.”

“Tôi chỉ thấy báo chí rùm beng đưa tin rầm rộ hết cả. Thorndyke chầm chậm nói. “Hành động đó chắc hẳn không được ủng hộ. Nhưng hãy gạt chúng qua một bên đã. Tôi chỉ có một yêu cầu nhỏ thôi, là anh hãy trình bày các tình tiết của vụ án và hãy chắc rằng anh có thể giải đáp bất kì câu hỏi nào từ phía tôi nhằm làm sáng tỏ manh mối nếu cần thiết.

“Rất sẵn lòng, thưa ông” Mayfield chân thành. “Xin phép ông, tôi sẽ mở đầu câu chuyện bằng sự mất tích của cô Lucy Bland. Chuyện xảy ra đâu đó cỡ ngày 18 tháng Năm vừa rồi. Trong khoảng thời gian cô ấy sống ở đó, trừ chồng mình, tại Wimbledon, một trong những nơi chốn tiện nghi và đủ đầy bậc nhất. Sau bữa trưa ngày 18, cô ấy vội vã ra ngoài, chỉ nhắn lại sẽ không trở về trước khi trời tối. Một người quen đã trông thấy cô Lucy tại ga Wimbledon cỡ độ ba giờ. Cũng có thể, vào lúc sáu giờ chiều cùng ngày, cô ấy đã tới bưu điện ở Lower Ditton để mua vài con tem. Trưởng bưu cục, bà ấy có nhận ra cô Lucy, có lẽ cô ấy đã đánh tiếng trước khi tới đó. Tuy vậy, thật vô vọng để xác thực đích xác ngày tháng cụ thể. Dù sao thì, cô ta quả thực đã không trở về nhà vào đêm hôm đó và thật khó để bất kì ai khẳng định sự sống còn của người phụ nữ này. Bà chủ nhà nơi cô ấy tá túc đã liên hệ với chồng của nạn nhân xấu số, ngay tức khắc anh ta đệ đơn lên cảnh sát, cuộc điều tra diễn ra ngay sau đó. Mọi yêu cầu từ phía gia đình nạn nhân đều được thực hiện dẫu cho tình thế vô cùng bế tắc. Cô ấy cứ vậy mà biến mất, một chút dấu vết cũng không.”

“Bẵng đi cỡ độ bốn tháng, người ta phát hiện ra một sự việc khủng khiếp lắm, chính là ngày 16 tháng Chín đây thôi. Hôm đó, vài ba công nhân đã tới The Larches, ngôi nhà nhỏ thó, cũ kĩ, nằm ven sông, ngay rìa ngôi làng Lower Ditton, để kiểm tra hệ thống điện. Ngôi nhà bị hỏng hóc nặng nề quá mức trước khi đón đợi chủ nhân mới, và cũng vì đồng hồ cho thấy dòng điện đang bị rò rỉ tới mức mất kiểm soát trong cả quý trước, vậy nên họ đã tiến hành xem xét cả thảy sự kiện khó hiểu này.

-

“Để tìm được mạch chủ, họ phải phá dỡ một phần mặt sàn của phòng ăn; và chỉ khi dựng tấm ván sàn lên, thợ thuyền đều thất kinh khi phát hiện ra đôi bàn chân rõ ràng là của phụ nữ - nhô ra từ phía dưới. Ngay lập tức, họ lũ lượt tới đồn cảnh sát để khai báo toàn bộ sự thể vừa tận mắt trông thấy. Ít lâu sau, viên sĩ quan cùng thanh tra và đám người trở lại căn nhà, hướng dẫn họ tháo thêm vài ba tấm ván khác nữa - họ, không chút hoài nghi đã làm theo răm rắp; ở ngay đó, kẹt giữa các dầm gỗ, là thi thể của một người phụ nữ mà sau này được xác minh chính là cô Lucy Bland tội nghiệp. Cái xác hẵng còn tươi mới, có vẻ cái chết chỉ vừa xảy đến đây thôi; tuy nhiên, khi tiến hành khám nghiệm tử thi, người ta phát hiện ra xác chết đã được ướp hoặc bảo quản bằng cách tiêm formaldehyde. Có thể cô Lucy đã chết cách đây cỡ ba hay bốn tháng gì đó rồi. Phía điều tra đã xác định nguyên nhân tử vong là do ngạt khí, một vụ giằng co nào đó đã thực hiện hòng tiêm chloroform vào cơ thể người phụ nữ.”

“Ngôi nhà đó, theo tôi được biết. Thorndyke trầm tư. “Thuộc quyền sở hữu của một trong số hai bị cáo?”

“Vâng, chính xác là vậy. Cô Phyllis Annesley. Ngôi nhà là của cô ấy, và bị cáo vẫn sống ở đó cho tới tận gần đây. Tuy thế, vào mùa thu năm ngoái, cô ấy có chuyến công du khắp nơi để rồi dỡ bỏ một phần của ngôi nhà và cất đi hầu hết đồ đạc; tuy thế, cô ấy vẫn giữ lại cỡ hai phòng ngủ còn nguyên đồ, nhà bếp, phòng ăn, căn phòng vẫn luôn trong trạng thái như vừa mới sử dụng. Cô ấy thường ở đó một đến hai ngày trong khoảng nghỉ giữa các cuộc hành trình của mình, một mình hoặc có thể là với người giúp việc.

“Mối quan hệ của cô Annesley với gia đình Bland thì sao?”

“Cô nàng quen thân cặp vợ chồng nhà Bland đã vài năm có lẻ. Và với Leonard Bland, cô ấy phải tự mình thú nhận rằng bản thân có sự cảm mến đặc biệt hơn chút đỉnh, dẫu cho không có bất kì gợi ý nào về mối quan hệ mập mờ giữa họ. Bland vẫn thường ghé thăm Annesley khi cô nàng sống tại đó, họ thường cùng nhau dã ngoại trên sông với chiếc thuyền có sẵn tại cư gia. Cô Bland thi thoảng cũng ghé thăm Annesley, và có vẻ như họ vẫn luôn duy trì mối giao hảo lịch thiệp. Dĩ nhiên, cô ấy hoàn toàn biết về cảm tình của chồng mình dành cho người phụ nữ khác, nhưng dường như người phụ nữ ấy lại chẳng có bất bì sự ác cảm nào về điều đó.”

“Mối quan hệ giữa đôi vợ chồng thì sao?” Thorndyke tò mò.

“Cũng tương đối kỳ quặc, thưa ông. Họ xung khắc với nhau lắm, vì lẽ đó nên cả hai đơn giản là đồng thuận với con đường riêng của mỗi người. Nhưng không vì thế mà cả hai có hiềm khích với nhau. Bland là người đàn ông vô cùng cẩn trọng và luôn có trách nhiệm chu cấp tài chính cho vợ mình. Anh ta không những nuông chiều mà còn sẵn lòng mở hầu bao bằng cả tấm lòng. Tiện đây, tôi sẽ dẫn cho ông một ví dụ, điều đó quả thực để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc lắm.”

“Một người quen cũ của anh ấy, tên Julius Wicks, anh ta dành vài năm cuộc đời để làm việc trong một xưởng phim ở Los Angeles, đến Anh cỡ khoảng một năm trước thôi và đã đề xuất với Bland về việc cùng nhau xây dựng một tới hai rạp chiếu phim ở các địa hạt. Bland sẽ rót vốn - trong khả năng của anh ấy - còn Wicks thì cung cấp kiến thức cũng như kỹ năng quản lý thực tiễn tích lũy sau nhiều năm bôn ba trong nghề. Bland nhanh chóng đồng ý, đồng thời mở ra mối quan hệ hợp tác lâu bền với điều kiện 2/3 lợi nhuận sẽ về tay Bland và 1/3 còn lại sẽ dành cho Wicks với điều khoản, nếu Bland qua đời thì toàn bộ quyền hành của anh ấy với tư cách cộng sự sẽ được trao lại cho vợ của mình.

“Vậy tỷ dụ như người chết là Wicks thì sao?”

“Chuyện này, Wicks ấy à, anh ta chưa kết hôn dù đã có đính ước với một nữ minh tinh màn bạc. Nếu anh ta chết thì phần trăm sẽ thuộc về Bland, tương tự vậy, giả dụ như Bland qua đời sau vợ, thì phần trăm lợi nhuận của anh ta sẽ thuộc về bạn mình.”

“Bland hẳn là một doanh nhân thành đạt. Tôi nhận xét.

“Đúng vậy” Mayfield đồng tình. “Mọi sự sắp đặt đều hướng lợi ích về phía anh ta. Bộ mặt của tay tư bản lão làng, ông thấy đấy. Tuy vậy, điều mà Bland lưu tâm đa phần đều đặt lên vợ mình. Không có điểm nào thù địch len lỏi trong mối quan hệ giữa cả hai.”

“Vậy thì. Thorndyke chậm rãi. “Đã loại trừ thêm một động cơ. Việc ly hôn có khi nào đã được đề cập hay không?”

“Không thể nào. Mayfield quả quyết. “Cả hai đều không có lý do gì để làm thế. Nhưng đâu đó, sự đồng thuận và ngầm thừa nhận việc nếu như Bland chẳng vướng bận điều chi thì ông ấy nhất định sẽ rước nàng Annesley về. Thật vậy, hai người họ như bện chặt vào nhau.”

“Động cơ tương đối chắc chắn đấy chứ. Tôi gật gù như đã rõ mười mươi sự thật.

“Vì lẽ đó cũng nên. Mayfield thở dài, ngấm ngầm thừa nhận ý kiến của tôi. “Đứng trên phương diện cá nhân, một người đã tường tận các bị cáo qua nhiều năm và luôn đề cao phẩm cách của họ, thì có vẻ như - thật khó để mở lời, tôi không sao móc nối nổi tội ác man rợ này với những người mà tôi đã quen thân bấy lâu nay. Tuy nhiên, hiện giờ điều đó đã không còn là vấn đề nữa. Tôi vẫn sẽ tiếp tục lộ trình nhằm tìm ra sự thật để tránh làm gián đoạn câu chuyện của chúng ta.

“Rất nhanh sau khi phát hiện ra The Larches, cảnh sát truy xuất và biết rằng đã có lời đồn đoán lan xa quanh làng Lower

Ditton yên ả cả quãng thời gian dài về những điều kỳ bí xảy đến trong ngôi nhà, dĩ nhiên hai nhân công tên Brodie và Stanton khẳng định đã biết điều gì đó. Vì vậy mà phía cảnh sát đã triệu tập, thẩm vấn hai gã đàn ông một cách riêng rẽ để làm sáng tỏ sự thể này. Thế rồi, kết quả thu được chính là cả hai đều cho lời khai tương đối đồng nhất:

“Đúng độ giữa tháng Năm - mốc thời gian mà cả hai đều bỏ ngỏ ngày cụ thể - cỡ chín đến mười giờ tối gì đó, trong lúc đang tản bộ dọc theo con lộ ngang qua The Larches, họ trông thấy một người đàn ông thần thần bí bí ẩn nấp bên trong khóm cây phía ngoài ngôi nhà. Khi hai bóng hình vất vưởng lướt qua, ông ta đã tiến tới ngay sát cánh cổng đồng thời ra hiệu cho bọn họ. Chỉ chờ có thế, khi cả hai người đàn ông đã đứng ngay sát nút, ông ta vội ghé tai thầm thì: “Tôi sẽ tiết lộ cho các anh chuyện này, bên trong ngôi nhà, có gì đó kỳ dị lắm đang diễn ra.

“Sao mà anh biết vậy hả?” Brodie tỏ ra kinh ngạc tợn.

“Cái lỗ tin hin trên cửa chớp kia kìa.” Gã đàn ông đánh bạo đáp. “Bọn họ đang loay hoay giấu thứ gì đó dưới sàn nhà. Hãy ghé mắt vào mà xem.

Máu tò mò nổi lên, cả hai nối gót theo ông ta lẻn vào khu vườn phía sau nhà, con đường dẫn tới một trong số những ô cửa sổ của căn phòng tầng trệt, ông ta chỉ vào hai cái lỗ trên cửa chớp.

“Chỉ cần nhìn vào cái lỗ he hé này thôi nhé. Mặt ông ta méo xệch như vừa hãi hùng vừa hứng khởi tợn.

Thế rồi, mỗi người chia nhau một bên lỗ, họ ráng banh cặp mặt để nhòm vào bên trong; và đây là toàn bộ những gì cả hai thấy được: hai căn phòng thông nhau, ngăn giữa bởi mái vòm. Bước qua khung vòm tới cuối căn phòng thứ hai đang có hai người, một nam một nữ. Đầu gối xếp bằng trên sàn, hình như họ đang loay hoay làm gì đó với sàn nhà. Chẳng mấy chốc, người đàn ông khoác lên mình chiếc áo choàng trắng nhổm người dậy, nhặt lấy tấm ván sàn nơi mà anh ta đang dựa lưng vào tường. Sau đó, anh ta tiếp tục khom lưng, có vẻ như đang cầm nắm thứ gì đó trên sàn - đồ như cái bọc lớn hay cuộn thảm gì đấy. Bất chợt, một vật thể lạ xẹt ngang ngay trước cái lỗ, che khuất tầm nhìn của chúng tôi - hẳn là đã có người thứ ba trong căn phòng. Vật cản linh động lần nữa tiến ra xa hơn, người đàn ông quỳ gối trên mặt sàn ngó xuống cái bọc, theo đó là người phụ nữ ngay sát đang đứng trong khung vòm với cặp kìm trong tay. Cô ta bận chiếc áo choàng không tay nhơ nhớp bẩn với bầu hải quân trắng, hai người đàn ông đó đều nhận ra cô Annesley ngay tắp lự.

“Vậy đích xác là họ đã trông thấy người phụ nữ kia rồi đúng chứ?” Thorndyke nhẹ giọng hỏi.

“Đúng thế. Họ đều là những gã đàn ông xuất thân từ làng Ditton cả. Một ngôi làng nhỏ xinh và tất thảy đều dễ dàng nhận ra cô Annesley hay cả Bland nữa. Nan giải thật, chính mắt họ đã trông thấy cô ấy đứng ngay khung vòm. Cả hai đều không chút mảy may hoài nghi về danh tính của người phụ nữ. Họ tiếp tục dõi mắt trông theo cô ta cỡ nửa phút. Thế rồi, một vật thể vô hình không xác định đã di chuyển tới trước lỗ ngắm, vở kịch từ đó cũng tàn theo.”

“Chốc chốc, vật cản lại rời đi, người phụ nữ tiến tới góc phòng phía xa xa, quỳ rạp xuống sàn. Cái bọc đã mất dạng còn người đàn ông thì cầm lấy tấm ván trước đó, đậy kín vào lỗ hổng trên mặt sàn. Khung hình cứ nhập nhoạng liên hồi theo hướng di chuyển của vật cản, bởi thế mà hai gã đàn ông mang vai người quan sát chỉ thi thoảng bắt được hoạt cảnh vụn vặt về những gì đang diễn ra trong phòng mà thôi. Khung hình nhanh chóng chuyển qua người đàn ông, anh ta như đang nện những chiếc đinh xuống mặt sàn bởi cả hai đều nghe thấy thanh âm chầm chậm đều đặn. Hiếm hoi sao, khi mọi thứ đang dần tiến tới giai đoạn nước rút, người đàn ông với bờ vai thẳng thớm đứng ngay dưới khung vòm quay mặt về phía chính diện, hai bên chỉ cách nhau cánh cửa. Hình như trên tay anh ta đang cầm thứ gì đó. Nhưng rất tiếc, tầm nhìn hạn chế chẳng đủ để điểm mặt chỉ tên cho được. Khi họ trông thấy Bland thêm lần nữa, cũng là lúc anh ấy đang đứng kế bên cô Annesley ở căn phòng phía xa kia, cặp mắt chăm chú nhìn xuống sàn nhà và cởi áo khoác ngoài một cách thành thục. Có lẽ, sự vụ đã thực kết thúc, Bland hay cô Annesley đều có thể rời khỏi nơi này, bởi vậy mà cả hai đã trộm nghĩ đến việc chuồn lẹ ngay lập tức, kẻo tránh bị bắt gặp.”

“Khi cả thảy cùng nhau tản bộ dọc theo con lộ, họ đưa ra lời phán đoán cho những nghi thức bí ẩn vừa được chứng kiến,

nhưng kết quả vẫn bằng không. Kẻ xa lạ đồ rằng, có thể cô Annesley đã giấu đĩa ăn hay những vật có giá trị của mình hòng giữ lại sự an nguy trước mỗi chuyến đi, như một lời ám thị đầy mời gọi, có lẽ nơi đó đáng để bỏ công sức lẫn thì giờ, biết đâu sẽ tìm thấy gì đó hay ho. Tuy nhiên, lời đề bạt thiếu đứng đắn đã bị Brodie và Stanton, những người đàn ông mẫu mực nhất, thẳng thừng lên án, và cả hai đều đồng lòng rằng vụ việc không có chút dính dáng gì tới họ sất. Và tốt hơn hết là không nên nói thêm về điều đó làm chi nữa. Dẫu vậy, chẳng ai có thể tự tin về khoản kiểm soát cơ miệng của mình, bởi vụ việc theo cách thần kỳ nào đó đã lan rộng khắp làng, và cũng chỉ đợi có thể, khi người ta phát hiện ra cái xác ở dưới sàn nhà, tin đồn chẳng mấy chốc đã len lỏi qua mọi ngóc ngách, tỷ dụ như cảnh sát.

“Người đàn ông thứ ba đó có xuất hiện để dẫn bằng chứng hay không?” Thorndyke tỏ vẻ hoài nghi.

“Lạ lùng lắm thưa ông, anh ta hiện thời vẫn chưa rõ tung tích gì. Bởi hắn cũng chỉ là một người xa lạ với cả hai người đàn ông còn lại; có lẽ gã là dân lao động hay chỉ đơn thuần là tay nông phu, một kẻ lang bạt đầu đường xó chợ. Hắn ta là một ẩn số. Bởi vậy mà trong trường hợp này, niềm hy vọng quả nhiên chỉ nhỏ nhoi bằng hạt cát trên sa mạc mà thôi. Dĩ nhiên, nhân vật này có thể đã biết trước bị cáo, nhưng động cơ thì hoàn toàn dễ hiểu và chứng cứ lại tới từ đôi mắt của những nhân chứng. Ông có nghĩ, bản thân đã sẵn sàng đảm đương nhiệm vụ bào chữa này không, thưa ông? Bởi tôi biết điều đó đang đòi hỏi từ ông rất nhiều.”

“Tôi cần thời gian để xâu chuỗi các sự kiện. Thorndyke thực chẳng mảy may nao núng. “Và cần tiến hành vài cuộc điều tra sơ bộ khác. Thêm nữa, tôi muốn đọc qua các bản cung khai một cách thật tỉ mỉ. Cậu có thể cho tôi xem qua chúng chứ?”

“Tôi có một bản cáo trạng nguyên văn các thủ tục từ phía tòa án cũng như cảnh sát về cuộc điều tra. Ông hãy cứ từ từ nghiên cứu chúng. Và liệu tôi có thể ôm mộng hy vọng về việc nhận được quyết định của ông vào thời gian nào đây?”

“Chậm nhất là ngày mốt thôi. Câu trả lời ăn khớp với hành động lục từ trong túi ra xấp giấy của vị luật sư trẻ, cậu ta đặt chúng lên bàn và cảm ơn chúng tôi rối rít rồi cáo lui.

“Chà, Thorndyke này. Tôi mở lời khi Mayfield đã khuất bóng. “Vụ việc khiến tôi bối rối quá. Chắc hẳn anh sẽ chẳng đơn thuần làm theo đúng quy cách cho lời bào chữa. Nhưng tôi vẫn phải thừa nhận bản thân đang rất vui vì điều đó, dù cho chúng thật khó lòng hình dung cho được. Phỏng chừng như phía công tố chỉ cần triệu tập các nhân chứng và bản án Có tội sẽ tự động đưa ra.”

“Đó là cách mà cơn địa chấn được khai hỏa. Thorndyke thuận theo dòng suy tưởng của tôi. “Và nếu đó chỉ đơn thuần là dáng vẻ vốn có thì khi đọc bản cáo trạng hay khi tiến hành các cuộc điều tra sơ bộ của mình, tôi đã từ chối bản tóm tắt ngay được. Nhưng anh biết đấy, đôi khi vẻ ngoài thường đưa dẫn ta tới chốn lầm đường lạc lối.

Dứt câu, anh ta cầm lấy bản cáo trạng cùng cuốn sổ ghi chép, trong đó đã sẵn vài bản giác thư vắn liên quan tới vụ việc của Mayfield, tiện thể kéo chiếc ghế tới gần bàn, bắt tay vào việc với sự tập trung cao độ. Không gian yên ắng thích hợp để chú tâm đọc và ghi chú những bằng chứng quan trọng. Chỉ khi hoàn tất công việc, anh ta đưa bản dự thảo cho tôi rồi đứng dậy, nhét cuốn sổ tay vào túi, sau đó liếc nhìn đồng hồ.

“Đọc thật kĩ các bằng chứng đi nhé, Jervis. Lời nói nhẹ tênh như trút bỏ gánh nặng. “Và nói lại với tôi nếu anh tìm ra bất kì cách thức nào khả dĩ hơn thế. Tôi đang cần liên lạc với đôi ba người ngay bây giờ, nhưng sẽ không quá một giờ đồng hồ đâu. Nhớ lấy, tôi thật muốn nghe quan điểm của anh về trường hợp này khi tôi quay lại.

Tội đọc hết bản cáo trạng với vẻ tập trung hết mức ngay lúc anh ta rời đi. Giọng điệu của Thorndyke ấy, hẳn là có gì đó không đúng lắm, cách anh ta gợi mở về lỗ hổng có thể xảy ra trong vụ án đến từ phía công tố chẳng hạn. Dẫu sao, niềm tin về việc hai người kia có tội vẫn chẳng cách nào suy chuyển được. Mớ cáo trạng chỉ là phiên bản khuếch trương những gì Mayfield nói với chúng tôi; các tình tiết thêm thắt, đặc biệt nhấn mạnh việc các nhân chứng đã tận mắt chứng kiến, một cách hữu hiệu, đã củng cố mớ bằng chứng nhằm khiến chúng trở nên thuyết phục hơn. Tôi quả thực bế tắc trong việc tìm ra lối thoát cho lời bào chữa trong phiên tòa.

Chưa đầy một giờ sau, đồng nghiệp của tôi đã trở lại phòng, như một thói quen, tôi định bụng nói cho anh ta những ấn tượng của tôi về mớ bằng chứng thì chính anh ta đã kịp cướp tiếng trước. “Hẵng còn sớm sủa quá, tốt hơn hết là chúng ta nên đi ăn trưa trước nhé. Tôi đã sắp xếp ổn thỏa để làm một chuyến xuống vùng Ditton trong chiều nay để xem xét ngôi nhà. Mayfield đưa cho tôi lá thư của viên trung sĩ, người đang nắm giữ quyền hành và quan trọng hơn cả là ông ta có chìa khóa căn nhà.”

“Tôi e là anh sẽ khó tìm được thứ gì đó hữu ích trong căn nhà. Tôi thằng thừng đáp.

“Quả thật, tôi chẳng đặt nặng vấn đề đó lắm. Anh ta thong thả. “Chỉ là nguyên tắc nghề nghiệp thôi, tôi vẫn luôn kiểm tra hiện trường vụ án cùng mớ bằng chứng, càng nhiều càng tốt.”

“À à? Tôi cảm tưởng giọng mình đang trượt dài. “Tan thành mây khói hết cả, chẳng sót chút hy vọng nào. Tôi đã xem qua khắp cả các bằng chứng và như tôi thấy thì, có vẻ như bị cáo đã ăn chắc việc bị kết án rồi. Không một kẽ hở cho việc bào chữa. Anh có thấy thế không?”

“Hiện giờ tôi chưa thể trả lời anh ngay được. Anh ta hờ hững. “Còn vài điểm nghi vấn cần được làm rõ trước khi đi tới quyết định có nên tiến hành bào chữa cho bị cáo hay không. Tôi tin vào những gì mắt thấy tai nghe chứ không phải trực giác mách bảo.”

Cứ thế, chúng tôi dùng bữa trưa nhanh gọn tại một trong những điểm thường lui tới trên phố Fleet và cũng từ đó di chuyển tới Waterloo bằng taxi, nơi thuận tiện cho việc bắt chuyến tàu để tới Lower Ditton. Các bản cáo trạng nằm lọt thỏm trong chiếc túi của tôi, trong suốt cuộc hành trình ấy, tôi đã đọc tất thảy để xem liệu mình có ăn may phát hiện ra điểm nghi vấn nào đủ khả năng để làm cơ sở cho việc bào chữa hay không.

Bởi thế mà mặc lời giải thích của Thorndyke khá mơ hồ, thì với phong thái của đồng nghiệp tôi, cùng với thâm niên nghề nghiệp của anh ấy càng khiến tôi hoài nghi gấp bội, rằng anh ta đã có mục đích rõ ràng trước đó rồi. Kết cục là cả hai chúng tôi đều không hé răng nửa lời trong suốt cuộc hành trình, thảo luận về sự vụ cũng bỏ ngỏ tại đó; thành thật mà nói thì cũng không có gì để thảo luận hết cả.

Tại đồn cảnh sát Lower Ditton, chúng tôi được tiếp đón nhiệt thành đến là không tưởng. Viên trung sĩ nhận ra Thorndyke trong giây lát - có vẻ như anh ta cảm mến đồng nghiệp của tôi dữ lắm sau khi nhìn thoáng qua dòng ghi chú Mayfield để lại, anh ấy vội lấy chiếc chìa khóa đặt trên bàn và đội mũ quân dụng ngay tắp tự.

“Chúa đem phước lành đến với ông, thưa ông” Anh ta cung kính và mực thước, song có đôi chút lố bịch. “Không cần phải nói thì tôi cũng biết ông là ai. Tôi gặp ông ngay tại tòa án, thật vinh dự khi được chứng kiến những lời vàng ngọc rót vào tai mình. Rất vinh dự ông ạ, tôi chẳng ngại hạ thể để đích thân đi cùng ông tới căn nhà nơi ông muốn tới.

Tôi đồ rằng Thorndyke sẽ cười toe cho qua lời đề nghị này, ấy thế mà, nào có ngờ anh ta lại đồng ý cái rụp cùng nét lịch thiệp đầy vẻ thiện chí. Chúng tôi đi qua ngôi làng, dọc theo con lộ yên ả nơi khuất lấp một căn nhà mang nhiều điềm gở. Trong lúc cùng nhau rảo bước, viên trung sĩ vô tư nhận xét về vụ án chưa xác minh theo cái cách tương đối tọc mạch.

“Công sự của ông hẳn sẽ bị gián đoạn ít nhiều, thưa ông, nếu ông cứ khăng khăng quyết định tiến hành bào chữa. Nhưng dẫu sao thì tôi vẫn luôn cầu chúc cho ông thuận buồm xuôi gió. Tôi biết cô Annesley đã độ vài năm ròng. Cô ấy nổi tiếng trong làng này lắm, bởi sự tử tế vô cùng tận, lại còn dịu dàng nữa chứ, rất thư thả nếu ông có dịp gặp cô ấy. Chỉ mới nghĩ tới thôi, việc Annesley dính dáng tới vụ giết người - lại còn là vụ giết người cỡ vậy - quá tàn bạo và nhẫn tâm! Hỡi ơi, khả năng của tôi thì có hạn. Nhưng sự thật đã rõ mười mươi, trừ khi hai gã đàn ông kia đang nói dối.

“Anh có tìm ra điểm nào cho thấy họ sẽ làm vậy không?” Tôi nhanh nhảu dò xét.

“Ồ, không đâu. Họ đều là những người đàn ông tốt, minh mẫn và đứng đắn ra trò. Sẽ là lời nói dối tàn độc và tuyệt tình lắm vì cả hai đều có quen biết với bị cáo cũng như cảm mến họ hết mực. Xung quanh ai nấy đều yêu quý anh Bland và cô Annesley, dù cho mối quan hệ của họ có đi ngược với luân thường đạo lý chút đỉnh. Nhưng tôi dám cá với ông, thưa ông, hai người đàn ông đó đều rất khó chịu khi phải đưa ra bằng chứng. Đây rồi, căn nhà đó đây!”

Anh ta đẩy nhẹ cánh cổng để chúng tôi tiến vào khu vườn, tư gia của Annesley phủ đầy bởi nét hoài cổ, cửa sổ ở tầng trệt che kín do cửa chớp ngoài. Chúng tôi vòng ra sau nhà, một khu vườn khác đang hiển hiện trước mắt với bãi cỏ mềm cùng con đường dẫn xuống mé sông.

“Đằng ấy có phải là chiếc thuyền không nhỉ?” Thorndyke hỏi, chỉ tay về phía đầu hồi, nơi có bụi tử đinh hương khoe sắc.

“Vâng” Viên trung sĩ vội đáp. “Có một chiếc thuyền ngay đó; chúng còn rất tốt, rộng rãi, đủ đầy. Cô Annesley cùng bạn của cô ấy thường xuyên đi dã ngoại. Còn đây chính là cửa sổ mà những người đàn ông đã nhìn trộm vào trong, nhưng giờ thì không thể thấy chi nhiều hết bởi căn phòng tối đen như mực.”

Tôi ngó nghiêng hai ô cửa sổ kiểu Pháp với tầm nhìn hướng ra bãi cỏ và thầm nghĩ về hoạt cảnh điên rồ của những kẻ táng tận lương tâm. Mỗi ô cửa đều được gắn cửa chớp chắc chắn, bắt vít ở bên trong, mỗi cửa chớp lại được đục lỗ, cách ngưỡng cửa cỡ đâu đó chừng năm feet, bởi một lỗ tròn với đường kính hơn mười inch chút đỉnh. Thật khó để chấp nhận việc hai cá thể riêng rẽ có nhân phẩm bình thường lại nhúng tay vào vụ việc che đậy tử thi của người phụ nữ bị sát hại và để lỗ hổng toang hoác không chút phòng vệ như dẫn dụ bất cứ kẻ săn mồi nào hòng dễ dàng quan sát nhất cử nhất động của họ.

Sự kinh ngạc của tôi về hành động bất cẩn đó còn lớn hơn việc viên trung sĩ nhận ra chúng tôi đang lù lù trong phòng, bởi tất thảy các khung cửa đều được lắp rèm dày cẩn thận.

“Vâng” Viên trung sĩ lên tiếng. “Vấn đề sống còn lại bị bỏ quên thì dở thật đấy. Ông coi này, họ kéo rèm phòng khách thì chuẩn bài, nhưng mấy cái lỗ trên cửa thì lại quên khuấy đi mất. Thôi đành vậy. À, còn điều gì đặc biệt mà ngài muốn xem nữa không, thưa ngài?”

“Tôi muốn xem vị trí nơi cái xác được giấu. Thorndyke giữ nguyên sắc mặt từ đầu tới cuối. “Nhưng trước đó, hãy để tôi xem xét một lượt các phòng đã nhé.”

Thế rồi, anh ta hết tiến lại lùi bằng điệu bộ thư thả, ngó ngó nghiêng nghiêng và rõ ràng đang tạc ghi hình dáng các phòng vào kho lưu trữ trong bộ não của mình. Thật ra, không hẳn vì nơi đó có nhiều thứ để xem hay để nhớ. Hai căn phòng hình vuông thông nhau qua mái vòm rộng, trước đó được khép lại bằng rèm, chứng cứ là thanh treo rèm bằng đồng vẫn sờ sờ cố định ngay đó thôi. Căn phòng phía sau thì đã tháo dỡ hẳn, ngoại trừ chiếc rèm. Căn phòng phía trước, mặc dù sàn và tường trống rỗng, nhưng cũng chẳng thể nói là hoàn toàn không có mống đồ nào. Tủ đựng bát đĩa vẫn y nguyên vị trí và ở mỗi đầu đều gắn cột đèn điện kiểu mẫu, lò sưởi cũng chung số phận. Ba chiếc ghế ăn và một chiếc bàn ba chân cỡ vừa kê sát vào tường.

“Hình như nắp ván sàn chưa được đóng thì phải.” Thorndyke nói.

“Không đâu thưa ngài. Không hẳn vậy. Đây chính là nơi chúng tôi tìm thấy chỗ giấu xác và mạch điện chính trong nhà. Ban đầu, những tay thợ điện đã lấy nhầm tấm sàn nên mới phát hiện ra được cái xác. Và một trong số những người thợ lành nghề đã nói, các tấm ván sàn chính đã bị cạy lên gần đây thôi, anh ta cho là, ở thì, bị cáo có ý định giấu xác tại đó, xong việc dựng tấm ván sàn đã vô tình đụng trúng mạch điện chính nên phải chọn một nơi khác.”

Thế rồi, anh ta khom người nhấc những tấm ván lỏng lẻo đặt trên bệ lò sưởi, để lộ những thanh dầm cùng nền đất ở dưới cỡ một foot. Đường điện chính chỉ chạy ở một trong những điểm nhất định, còn khu liền kề, đường ống dẫn khí có vẻ như đã không còn trưng dụng nữa.

“Đây chính là nơi chúng tôi tìm thấy cô Bland đáng thương” Viên trung sĩ buồn rầu, chỉ vào chỗ còn trống. “Cảnh tượng khiếp đảm đến nỗi tim tôi muốn nhảy dựng ra ngoài. Người phụ nữ xấu số nằm nghiêng, bị kẹt bởi những thanh dầm còn mũi thì phẳng lì do lực ép của xà gỗ. Chỉ có những kẻ táng tận lương tâm mới làm ra chuyện ấy, cho đến giờ, tôi vẫn chưa thực sự tin cô Annesley là một trong số đó.

“Nơi này dường như khá chật chội với một cơ thể nằm. Tôi đăm chiêu.

“Các thanh dầm cách nhau cỡ mười sáu inch. Thorndyke đáp, đặt cây thước cá nhân của mình lên khắp cả. “Và dày hai inch rưỡi. Gỗ thì nặng còn không gian lại rộng.”

Anh ta đứng dậy, quay người để nhìn về phía cửa sổ của căn phòng ở sau. Tôi dõi theo ánh nhìn của anh ta, không khỏi giật mình, bởi hai lỗ trên cửa chớp của cửa sổ bên trái (tức cửa sổ bên phải nếu nhìn từ bên ngoài) đang chiếu thẳng vào căn phòng tối sầm như đôi con ngươi sáng quắc đầy vẻ phán xét, giễu cợt. Điểm khác thường nằm ở đó, hầu hết các các ô cửa khác đều không thể trông thấy bên trong. Chỉ có một cửa sổ với ô kính nhỏ, đố cửa dày, hoặc thanh nẹp, trong khi các ô cửa còn lại được lắp kính, với các tấm kính lớn và không có cửa chớp.

“Lúc đó hẳn là trời tối đen như hũ nút. Tôi đáp lời với mớ nhận xét ngập ngừng của anh ấy. “Và căn phòng này ít nhiều sẽ được thắp sáng.”

“Đêm tháng Năm chưa nằm đã sáng, anh bạn ạ. Thorndyke nâng khóe môi cong cùng điệu cười giảo hoạt. “Một phòng ngủ nào đó được bố trí đủ hết, phải không, trung sĩ?”

“Hai phòng tất cả, thưa ngài. Lời hồi đáp vô cùng súc tích. Vừa dứt câu, viên trung sĩ mau lẹ mở cánh cửa rồi dẫn đường băng qua dãy hành lang để tiến về phía cầu thang.

“Phòng của cô Annesley ở đây” Anh ta mở cửa rồi ngó nghiêng với sự rón rén, cẩn mật vô cùng.

Chúng tôi tiến vào căn phòng, đảo mắt khắp lượt với vẻ tò mò xen lẫn mơ hồ. Căn phòng mang hình hài đơn sơ, dung dị nhưng hết sức thanh tao. Chiếc giường với bốn đệm chân nhỏ, một chiếc ghế có tay dựa xinh xắn cùng bàn viết vô cùng trang nhã.

“Đó chính là Bland” Viên trung sĩ chậm rãi nói, chỉ vào khung hình đặt trên bàn. “Còn người phụ nữ kia chính là cô Annesley.

Tôi cầm khung hình có chứa hai bức chân dung với dáng vẻ tò mò. Một cặp sát nhân, họ chắc chắn đã chuẩn bị tươm tất cho tình huống bất ngờ. Người đàn ông áng chừng cỡ ba mươi lăm tuổi, điển trai, tuýp đàn ông chuẩn mực của Anh quốc, thuộc tầng lớp trung lưu trong khi người phụ nữ sở hữu dung mạo khả ái, sắc nước hương trời, cùng khuôn mặt ưu tư, ý nhị.

“Cô ấy mang chút màu sắc của Nhật Bản nhỉ” Tôi tấm tắc. “Với cuộn tóc trên đỉnh đầu cùng chiếc kẹp lớn bằng ngà xuyên qua.

Tôi đưa khung hình cho Thorndyke, anh ta tỉ mẩn soi xét từng bức chân dung và rồi lấy cả hai tấm hình ra khỏi khung, kiểm tra lại lần nữa, mặt trước mặt sau, sau đó mới đặt chúng về lại vị trí cũ.

“Căn phòng ngủ còn lại kia. Viên trung sĩ tiếp tục nói khi Thorndyke đã hoàn tất thủ tục với khung hình. “Nó trống hơ trống hoác. Không có gì để xem cả.

Tuy vậy, anh ta vẫn dẫn chúng tôi vào bên trong, và chỉ khi tận mắt chứng thực lời viên trung sĩ là hoàn toàn chính xác, khi đó cả thảy mới cùng nhau quay trở lại tầng trệt.

“Trước khi rời đi. Thorndyke nói. “Tôi muốn xem liệu đằng sau cái lỗ đen kia, ta sẽ trông thấy điều gì.”

Thorndyke tiến tới ngay sát cửa sổ, trong lúc anh ta đang ghé mắt nhìn ra ngoài thông qua cái lỗ nhỏ thì ở bên này, viên trung sĩ theo sát Thorndyke bất ngờ trượt chân và suýt thì ngã sõng soài trên sàn nhà.

“Lạy Chúa tôi, thật không thể tin nổi!” Anh ta ầm ĩ hết cả. Sau khi đã lấy lại bình tĩnh, viên trung sĩ khom lưng để nhặt một vật tí hon. “Sẽ nguy hiểm tới nhường nào nếu lỡ may làm rơi rớt vật gì đó. Thì ra là một mẩu bút chì đá - phải không nhỉ, nhưng ít nhất thì nó trông y vậy?

Rất nhanh chóng, anh ta đưa nó cho Thorndyke. Đồng nghiệp tôi liếc nhìn rồi phán một câu xanh rờn. “Chính xác. Tất thảy mọi thứ lăn dưới chân đều có khả năng gây gãy xương chẳng trừ đối tượng nào. Nhưng tôi cho là anh nên cẩn trọng hơn chút. Và tôi có thể sẽ phải hỏi anh đôi ba câu về nó trong phiên tòa.”

Ở phía cuối con đường, chúng tôi chào tạm biệt viên trung sĩ, và khi đã rẽ vào lối đi của nhà ga, tôi nói. “So với những gì Mayfield nói với chúng ta, thì quả nhiên không kiếm được chút manh mối nào nhiều hơn thế - ngoại trừ mẩu bút chì đá đó. Thứ lỗi cho tôi khi phải hỏi anh điều này, tại sao anh lại dặn tay trung sĩ giữ lại nó làm chi vậy?”

“Tôi chỉ dựa vào nguyên tắc bất di bất dịch là ta nên giữ lại mọi thứ thu thập được, dù chúng có thể có hoặc không liên quan tới vụ án. Nhưng anh biết không, thứ đó không phải bút chì đá, nó là một mẩu nhỏ của thanh carbon.

“Có lẽ là sản phẩm còn sót lại của tay thợ điện trong lúc ghé qua ngôi nhà để làm việc. Tôi thong thả, rồi hỏi thêm. “Anh đã có quyết định cuối cùng cho vụ án này chưa?”

“Vâng, tôi sẽ đảm nhận việc bào chữa.

“Hay quá. Bụng tôi lạo xạo vì vừa mừng vừa lo. “Tôi chưa thể tưởng tượng ra được anh sẽ dẫn sự vụ theo hướng nào. Mọi nghi ngại đều chĩa về hai bị cáo ngay cả khi không có nhân chứng nào hết cả; ấy vậy mà còn thêm hai nhân chứng xuất hiện nữa chứ, vụ án như thể đã định trước kết cục vậy.”

“Anh nói không sai. Thorndyke từ tốn. “Vị trí của tôi là vậy. Tôi phải dựa vào bằng chứng của hai người đàn ông - và tôi hy vọng kỳ tích sẽ xuất hiện trong phiên thẩm vấn chéo.

Câu nói của Thorndyke đã khai mở cho tôi nhiều điểm suy tư trong những ngày kế tiếp. Quả thực, đó không phải thông tin báu bở gì, bởi đây là trường hợp khó nhằn ghê gớm lắm. Chắc chắn, nếu bằng chứng của hai nhân chứng có điểm mâu thuẫn, lớp vỏ kiên cố của cả hai ắt hẳn sẽ sụp đổ, và hẳn nhiên một trong hai sẽ rơi vào tầm ngắm bị tình nghi. Tuy nhiên, rõ ràng bằng chứng họ đưa ra không thể sai. Những người đàn ông đáng kính ấy, không một ai nghi ngờ tính xác thực trong lời khai của họ cả.

Hành động tiếp sau của Thorndyke chưa có điểm nào khiến vụ án trở nên sáng tỏ hơn. Chúng tôi đã liên hệ với hai phạm nhân, nhưng đều vô vọng trong việc moi móc thông tin mới. Cả hai đều không có khả năng tự mình thiết lập chứng cứ ngoại phạm cụ thể hay đưa ra bất kì lời giải thích xác đáng nào về lời khai của các nhân chứng. Họ chỉ đưa ra lời phủ quyết sơ sài là đã ở trong nhà vào thời điểm đó hoặc có lên lầu chứ chẳng gì hơn.

Tuy nhiên cả hai đều để lại trong tôi ấn tượng mạnh mẽ lắm. Bland, người mà chúng tôi đã thẩm vấn tại Brixton có tính tình cởi mở, mạnh mẽ xen lẫn bộc trực dù đâu đó nét sắc sảo của tay thương nhân còn vương vấn mãi; trong khi đó, cô Annesley, người mà chúng tôi gặp ở Holloway, lại chính là cô nàng trẻ trung tràn đầy gợi cảm - khuôn mặt dễ mến, đoan trang, duyên dáng và hết sức dịu dàng. Quả nhiên, xét về khía cạnh nào đó, tôi có chút thất vọng về nàng. Búi tóc đẹp như tranh đã biến mất khỏi đỉnh đầu, thay vào đó là mái tóc được cắt ngắn gọn ghẽ (“bobbed”, tôi tin, đây đích xác là tên gọi của kiểu tóc ấy) với phần tóc mái ngang trán trông như một đứa trẻ.

Thorndyke như tôi, anh ta nhận thấy sự thay đổi và thực tế đã có dăm lời bình phẩm về nó.

“À dạ” Cô ấy mỉm cười thanh thoát, ngầm thừa nhận. “Sự thể đi ngược với mong muốn của tôi. Mái tóc quả nhiên chẳng hợp với tôi chút nào. Dẫu thế, quả thực là tôi nào còn lựa chọn khác tốt hơn. Một mùa xuân nọ tại Paris, tai nạn hi hữu đổ ụp lên đầu theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tóc tôi bén lửa và bốc cháy. Tôi đã vô cùng hoảng loạn trong lúc đó. Người thợ tóc rất có tâm khi quàng chiếc khăn ẩm lên đầu tôi ngay lập tức, hành động nhanh lẹ ấy quả nhiên đã cứu tôi một mạng. Nhưng tóc thì bị cháy gần hết. Không còn cách nào khác ngoài việc cắt tỉa sao cho càng đều càng tốt. Thú thực, mới đầu khi nhìn vào gương, tôi đã thấy chúng vô cùng khủng khiếp. Barton đã chụp cho tôi một tấm hình ngay sau khi về nhà, anh biết đó, mái tóc tôi trông thật chẳng đâu và đâu. Tôi đã kháo rằng cậu bé Xanh và tôi tựa như hai giọt nước.

“Tiện đây” Thorndyke chậm rãi. “Cô đã trở về vào khoảng thời gian nào?”

“Cỡ giữa tháng Tư gì đó, tôi đi thẳng xuống căn hộ nhỏ của mình ở Paddington, và tôi ở đó suốt thôi.

“Ngày 18 tháng Năm thì sao, cô không nhớ mình đã ở đâu ư?”

“Tôi ở trong căn hộ của mình, nhưng lại chẳng thể nhớ rõ bản thân đã làm gì vào ngày hôm đó. Theo quy luật, anh sẽ không thể nhớ nổi mọi thứ trừ khi anh ghi chép chúng vào nhật ký. Đó là điều tôi tuyệt nhiên chẳng bao giờ làm.

Hy vọng tương đối mong manh. Khi chúng tôi rời khỏi trại giam, một mặt trong tôi tin chắc rằng người phụ nữ ngọt ngào duyên dáng ấy không thể nhúng tay vào tội ác khủng khiếp này được. Mặt khác, tôi hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng trong việc giải thoát cho cô ấy khỏi nơi đang cầm tù bởi mạng lưới lớp lang tình tiết có hại mà cô nàng như kẻ say vô tình bị giăng bẫy.

Việc thu thập thông tin từ Thorndyke càng khó hơn nữa, ngoại trừ việc anh ta mải miết điều tra một sự thật nào đó quan trọng lắm, theo cách ta diễn đạt thì là vậy. Trước những câu hỏi chứa ngàn ẩn ý được ngụy trang khéo léo của tôi, Thorndyke luôn đáp lại bằng cùng một câu đại loại như. “Jervis thân yêu của tôi ơi, chả phải anh đã đọc hết mớ bằng chứng rồi hay sao, anh cũng xem xét khắp ngôi nhà, lại có trong tay tất cả dữ kiện ấy chứ. Nào, hãy suy nghĩ thật thấu đáo toàn thể vụ việc và cân nhắc mọi tình tiết có trong phiên thẩm vấn chéo đi. Thế đấy, đó là tất cả mọi thứ mà anh ta tiết lộ.

Vẻ tất bật và hối hả của Thorndyke chỉ làm tăng thêm hoang mang trong tôi. Anh ta mời một tay kiến trúc sư tiếng tăm về để vẽ sơ đồ căn nhà cùng khuôn viên, cử thêm Polton để chụp hình mọi góc có thể. Cuối cùng, thật vậy, Polton là người dõi mắt trông theo nhất cử nhất động của Thorndyke cũng như tận hưởng guồng quay công việc một cách đáng kinh ngạc, nhưng sẽ câm như hến. Khi anh ta hết tiến lại lùi, nét rạng ngời ẩn hiện trên khóe mắt bởi niềm hạnh phúc có đôi phần méo mó cùng tự mãn, điều đó như chọc điên tôi, thật lãng phí thì giờ khi biết chắc sự thể sẽ khó mà thành toàn. Tóm lại, dù tôi đã theo dõi diễn tiến của vụ việc ngay từ đầu, nhưng phải thú thật là tôi vẫn không sao hiểu cho tường tận về nó, ngay cả khi đã ngồi trước phiên tòa vào buổi sáng hôm xét xử.

Một sự kiện đáng nhớ lắm, mọi hoạt cảnh xảy đến vẫn còn sống động trong trí nhớ của tôi như mới đây thôi. Tôi đặc biệt nhớ mình đã dùng ánh nhìn mê đắm hay hãi hùng sao đó vào nữ tử tù, đang đứng bên cạnh bạn mình trong khu dành cho bị cáo, xanh xao, điềm nhiên cốt để tạc lên phẩm cách thanh tao cùng vẻ đẹp ẩn nhẫn của người phụ nữ. Tôi rùng mình trước ký ức về cái cổ duyên dáng - trông thon gọn, mảnh dẻ hơn hẳn nhờ mái tóc ngắn - rất có thể, chỉ trong vài ngày ngắn ngủi nữa thôi nó sẽ bị trói bởi sợ sợi dây thòng vào cổ. Những suy nghĩ lan man đến là sầu bi bị gián đoạn bởi tiếng động khi ngay lối vào đang có hai người tiến tới, một nam một nữ, hẳn nhiên đều liên quan tới vụ án, và khi ngồi xuống, cả hai đều hướng về phía bị cáo, lặng thinh và họ chào nhau bằng những cái gật đầu.

“Anh có biết những người đó là ai không, Mayfield?” Tôi thì thầm.

“Là Julius Wicks, cộng sự của Bland cùng vị hôn thê của anh ấy, cô Eugenia Kropp, ngôi sao điện ảnh, thưa ông” Chàng luật sư trẻ rất mẫu mực đáp.

Tôi toan hỏi thêm nữa, liệu rằng họ có ở đây để đưa ra bằng chứng hay không thì phần sơ bộ đã kết thúc, chủ tọa của phiên xét xử, ngài John Turville, đứng dậy và bắt nhịp lời mở đầu.

Đó là một bài diễn thuyết trơn tru chuẩn mực đến lạ, nhưng cũng chính bởi điều đó lại càng khiến cho sự thể trở nên tai hại hơn bao giờ hết. Họ bắt đầu với phần phác thảo các sự kiện chính, gần như giống hệt bản tóm tắt của Mayfield và một bản tuyên bố về bằng chứng mà các nhân chứng đưa ra.

“Thưa các vị” Sir John nói, khi ông ta kết thúc phần trình bày được chuẩn bị kĩ lưỡng của mình. “Hãy cùng tập trung vào chuỗi các sự thật sau đây. Chúng đều là những tình tiết có quan hệ mật thiết tới vụ án, toàn bộ, vâng, sẽ hiện diện trước mắt quý vị ngay lúc này. Vào ngày 16 tháng Chín, người ta tìm thấy một cái xác được chôn giấu dưới sàn của căn phòng nào đó trong tư gia nọ, thi thể của người phụ nữ cho thấy, rõ ràng cô ta đã bị sát hại, cái chết đến là tức tưởi lắm.

Người đó không ai khác chính là cô vợ ly thân của người đàn ông đang có quan hệ tình cảm với một người phụ nữ khác mà anh ta đã thừa nhận muốn kết hôn với cô ấy và nàng cũng tự nguyện thuận theo điều đó. Tóm lại, người phụ nữ xấu số bị sát hại chính là trở ngại cho cuộc hôn nhân mà cả hai đều mong đợi. Bấy giờ, căn nhà nơi cái xác bị giấu chính là tài sản của một trong hai và cả hai đều có quyền ra vào mà không cần hỏi han hay thưa gửi ai hết. Bởi vậy, mọi tình tiết đều hết sức hợp lý và khớp với những gì đã xảy ra.

“Tuy nhiên, vẫn còn những điểm khác quan trọng hơn thế nhiều. Người phụ nữ bất hạnh đó, người vợ ngoài ước mong của tử tù Bland đã biệt tích một cách bí ẩn vào ngày 18 tháng Năm vừa rồi. Và các nhân chứng sẽ chứng minh thi thể được đặt dưới sàn hoàn toàn khớp với ngày đó. Đến thời điểm hiện tại, ta đã có thông tin cụ thể về ngày giờ, tại cùng một căn nhà, trong cùng một căn phòng, ngay đúng vị trí được chỉ định của căn phòng đó, cùng hai người, những phạm nhân đang chờ phiên xét xử, đã được hai nhân chứng của chúng ta trông thấy khi đang thực hiện hành vi che giấu tội ác gây rúng động của mình. Vậy đó có thể là gì? Sàn của căn phòng đã bị chiếm một phần không gian và không có gì khác ngoài xác của người phụ nữ tội nghiệp bị sát hại được tìm thấy ngay phía dưới. Kết luận khả dĩ nhất chỉ là cả hai bị cáo đã cùng nhau tham gia vào vụ việc giết người, phi tang xác chết mà thôi.

“Tóm lại là, sau tất cả, có ba lý do hoặc niềm tin rằng các phạm nhân đã đúng người, đúng tội với những cáo buộc, động cơ, mục đích rõ ràng để phạm pháp; có cơ hội thực hiện; thêm nữa là bằng chứng do hai nhân chứng cung cấp càng củng cố thêm giả thiết về hành vi phạm tội của tù nhân.

Khi vị luật sư của Crown ngồi xuống để chờ nhân chứng đầu tiên tuyên thệ, tôi quay qua Thorndyke và lo lắng hỏi han: “Anh sẽ đáp trả cáo buộc trên bằng cách nào cơ chứ, tôi chưa thể hình dung ra được.”

“Câu trả lời của tôi” Anh ta điềm nhiên đáp. “Đa phần sẽ đến từ những lỗ hổng được gợi ra trong phiên thẩm vấn chéo. Tại đây, nhân chứng đầu tiên được gọi đến - tay thợ điện đã phát hiện ra thi thể - và đưa bằng chứng của mình, tuy nhiên Thorndyke đã bỏ qua bước thẩm tra chéo. Tiếp sau anh ta là viên trung sĩ, người có góc nhìn chi tiết cũng như khám phá thêm tương đối các tình tiết. Khi luật sư của Crown ngồi xuống, Thorndyke bắt đầu đứng lên, tôi dỏng đôi tai của mình để nghe ngóng màn đáp trả của anh bạn tôi.

“Anh có dám thề với Chúa rằng đó là tất cả những gì anh trông thấy trong căn phòng đó không” Thorndyke chưa hề nao núng trong bất kì trường hợp nào.

“Vâng, tôi không thể để mình phạm phải sai lầm đâu thưa ông. Chỉ ít lâu sau đó, vào khoảng mùng 2 tháng Mười. Tôi tìm thấy mẩu bút chì nhỏ trên sàn nhà ngay phía gần cửa sổ.”

Rất mau lẹ, anh ta lấy từ trong túi ra một phong thư, ở đó có chứa mẩu nhỏ của “cây bút chì đá” và được chuyển nó cho

Thorndyke. Chẳng mấy chốc, nó được chuyển qua tay thẩm phán cùng lời gợi mở rằng sẽ được anh ta sử dụng làm bằng chứng. Vị thẩm phán xem xét mảnh giấy cùng vẻ tò mò đến là thích chí khi liếc nhìn Thorndyke - ông ta đã từng phải dùng ánh mắt đó để dõi theo anh bạn tôi cỡ vài lần trước đó rồi ấy chứ. Đối với sự xuất hiện của Thorndyke cùng vai trò luật sư luôn là sự kiện hiếm hoi và thu hút, đồng thời cũng thường tạo ra những điều bất ngờ đến không tưởng.

Trước hàng loạt nhân chứng tiếp đó, Thorndyke vẫn luôn dành sự quan tâm đặc biệt và chăm chú lắng nghe nhưng không đả động gì đến việc thẩm vấn chéo, tôi trông thấy thẩm phán đôi lúc trộm nhìn anh ta một cách hứng khởi và chính tôi cũng thế, niềm hứng khởi xen lẫn tò mò đang ngày càng mãnh liệt hơn bao giờ hết. Rõ ràng anh ra đang trông đợi vào những nhân chứng quan trọng hơn. Cuối cùng, cái tên James Brodie cũng được xướng lên, tay thợ lành nghề đứng tuổi với vẻ ngoài nghiêm cẩn bước tới chỗ ngồi. Ông ta đưa ra bằng chứng với phong thái tự tin, mặc cho vẻ miễn cưỡng vẫn luôn thường trực. Tôi có thể thấy cách ông ấy mô tả mọi thứ theo chiều hướng sống động về cảnh tượng nham hiểm như một cú hích mạnh lên thái dương của tôi, chúng quả thực rất ấn tượng ngay cả với bồi thẩm đoàn ấy chứ. Khi người chủ trì phiên thẩm tra ra hiệu kết thúc, Thorndyke đứng lên, và thẩm phán đã lắng nghe anh ta một cách vô cùng chăm chú.

“Ông có bao giờ tiến vào bên trong The Larches hay chưa?”

“Không, thưa ngài. Trong nhiều năm, tôi đều đặn ngang qua căn nhà hai lần mỗi ngày, nhưng lại chưa lần nào vào trong đó.

“Khi anh nhìn vào bên trong qua cửa chớp, căn phòng khi đó có đủ ánh sáng hay không?”

“Không, trời tối lắm ông ạ. Tôi chỉ trông thấy hành động của những người ở đó mà thôi.”

“Vậy sao, lạ thật, trong sự nhập nhoạng mà anh vẫn nhận ra đó là cô Annesley được ấy hả?”

“À, ban đầu thì không đâu. Cho đến khi cô ấy tiến lại gần chỗ khung vòm. Ánh sáng khu đó có vẻ khá tốt.

“Anh có trông thấy cô ấy ra khỏi phòng, sau đó mới tiến tới khung vòm không?”

“Không, thưa ông. Tôi trông thấy cô ấy ở phòng, sau đó chắc chắn phải có thứ gì đấy chặn cái lỗ lại, vì trời thì đã sẩm tối rồi. Một hồi sau thì cái lỗ lại thông thoáng còn tôi thì thấy cô ấy đứng ngay trong khung vòm. Tuy nhiên, chỉ trong chốc lát thôi, chứ cũng chẳng thấy cô ấy quá lâu. Một lần nữa, cái lỗ bị chặn lại và khi nó mở ra, cô ấy đã trở ra phòng trước.

“Lý gì mà anh có thể biết được người phụ nữ ở trong phòng trước là cô Annesley? Chẳng lẽ anh có thể nhìn rõ khuôn mặt cô ấy trong điều kiện ánh sáng lờ mờ hay sao?”

“Không hẳn vậy, nhưng tôi có thể nhận ra cô ấy thông qua trang phục. Cô Annesley mặc chiếc áo choàng không tay có bầu hải quân. Ngoài ra, thì không một ai khác ở khu vực đó cả.

“Bland thì sao. Ông có trông thấy anh ấy bước ra khỏi phòng và đi về phía khung vòm hay không?”

“Tôi không thấy gì hết, ông ạ. Ngay cả cô Annesley cũng thế. Có thứ gì đó cứ đâm sầm vào cái lỗ nhỏ. Chốc chốc, tôi có thể thấy anh ta ở phòng trước, rồi lại thấy anh ta ở phía khung vòm, thế rồi lại thấy anh ta ở phòng trước, thoắt ẩn thoắt hiện như ma trơi vậy.

“Vậy thì, khi ở trong khung vòm, ông có nhận thấy họ đang di chuyển hay đứng im không?”

“Theo trí nhớ của tôi thì có vẻ như cả hai đều rơi vào trạng thái khá yên tĩnh, tức là họ cũng di chuyển qua lại.

“Có lúc nào cô Annesley nhìn thẳng về phía ông không?” “Mặt cô ấy chỉ quay nghiêng chút đỉnh, thế thôi.”

“Tôi muốn cho ông xem những bức ảnh này và cảm phiền ông hãy cho chúng tôi biết liệu có tấm hình nào gợi cho ông ký ức về kiểu tóc mà ông cho là đã từng trông thấy hay không.”

Rất nhanh chóng, anh ta đưa một xấp ảnh cho nhân chứng, người đàn ông nhìn hết tấm này tới tấm khác, cuối cùng ông ta cũng lựa ra duy nhất một tấm hình.

“Chính là nó, sao mà sai được cơ chứ. Ông ta như vỡ òa trước giây phút cam go. “Cô ấy trông hệt như trong tấm hình này.”

Thế rồi, ông ta đưa lại nó cho Thorndyke, anh ấy ghi nhớ lại con số được viết trên đó và chuyển nó cho thẩm phán, trùng

hợp thay khi ngài ta cũng cố gắng ghi lại con số rồi đặt tấm hình trên bàn. Thorndyke tiếp tục guồng quay của mình. “Khi nãy ông đã nói ánh sáng ở căn phòng phía trước rất mờ. Liệu đèn điện có được bật sáng không?”

“Xem nào, nếu tôi nhớ không nhầm thì có vài cái đèn ngay hàng thẳng lối lắm.

“Ông có nhớ rõ đã trông thấy bao nhiêu chiếc đèn điện hay không?”

“Hmm, có ba chiếc được lắp trên trần nhà, hai cái khác trên lò sưởi, cái còn lại ở trên tủ bếp. Nhưng lại không có cái nào sáng đèn hết cả.”

“Phiền ông hãy nhớ thật kĩ, chỉ có một chiếc đèn trên tủ bếp phải không?”

“Có thể có nhiều hơn nữa, nhưng quả thực là tôi chẳng thể trông thấy chúng vì tầm ngắm chỉ cho phép tôi nhìn được một góc của chiếc tủ bếp mà thôi.”

“Ông có nhìn trọn vẹn lò sưởi chứ?”

“Ồ vâng. Cái đó thì có. Ở mỗi đầu đều lắp một chiếc đèn

“Liệu ông có trông thấy điều gì đã diễn ra ở phía gần lò sưởi hay không?”

“Có một cái bàn ở ngay đó: chiếc bàn giấy cùng những cái chân cong queo. Nhưng dĩ nhiên là tôi cũng chỉ trông thấy một phần của nó mà thôi. Cạnh của khung vòm đã cắt mất tầm nhìn để có thể trông thấy trọn vẹn.

“Lật lại quá khứ đôi chút nhé, ông đã từng nói bản thân nhìn thấy cô Annesley tương đối rõ ràng và có thể thấy cả cách ăn vận nữa. Vậy ông có thấy kiểu tóc của cô ấy không?”

“A! Phải rồi. Trên đỉnh đầu của cô Annesley có một chiếc búi tóc nho nhỏ, và thứ gì đó dùng để cố định.

Trong lúc nhân chứng đưa ra câu trả lời, trong tôi lóe lên một tia sáng. Ánh sáng đó không lung linh sắc nét, bởi ẩn tình vẫn còn đó. Nhưng tôi có thể thấy rằng Thorndyke đã tạo dựng bản kế hoạch rất rõ ràng. Và, khi đảo mắt về phía bị cáo, tôi nhận ra ngay tia sáng đang hấp háy ở đuôi mắt, khóe môi, chúng run lên bần bật.

“Ông đã từng mô tả có thứ gì đó trông giống cái lỗ đặt trên sàn. Thorndyke hăng say. “Nơi có tấm ván sàn được dựng lên, gần giữa phòng. Vậy cái lỗ đó gần tủ bếp hay gần lò sưởi hơn?”

“Nó gần lò sưởi hơn, thưa ông” Nhân chứng hết sức dõng dạc đáp lại câu hỏi từ phía anh bạn tôi. Thordyke ngồi xuống, nhân chứng rời khỏi vị trí, thẩm phán cùng luật sư bên nguyên cật lực ghi ghi chép chép và ngạc nhiên theo lời đối đáp của hai bên.

Albert Stanton, nhân chứng tiếp theo đem tới mớ lời khai hầu như lặp lại của Brodie; và khi, Thorndyke đặt câu hỏi tương tự, anh ta đã gợi mở những câu trả lời giống hệt ngay cả khi hành động đó được công nhận. Tia sáng le lói cũng từ đó thắp lên trong tôi đôi chút. Nhưng cũng chỉ là đôi chút mà thôi.

Stanton đã là nhân chứng cuối cùng của phiên tòa, cuộc kiểm tra ngắn từ ngài John Turville đã hoàn tất vụ việc bên phía truy tố. Sau đó, Thorndyke đứng lên và thông báo rằng anh ta đã cho gọi các nhân chứng, ngay tắp lực, người đầu tiên trong số họ có mặt tại phòng. Đây là Frederick Stokers, A.R.I.B.A - kiến trúc sư, anh ta trịnh trọng tuyên bố bản thân đã khảo sát tường tận mọi ngóc ngách trong căn nhà có tên The Larches tại làng Lower Ditton và chuẩn bị sẵn bản hoạch định với tỷ lệ nửa inch đến cỡ một foot. Anh ta thề thốt như thật, rằng bản kế hoạch ấy đã được tạo bởi bản gốc và một bản sao in thạch bản, chúng đúng và chính xác về mọi mặt. Thorndyke lấy bản kế hoạch từ anh ta rồi chuyển chúng cho thẩm phán và đưa ra lời đề nghị bản gốc phải được dẫn vào làm bằng chứng còn các bản sao sẽ giao nộp cho bồi thẩm đoàn.

Nhân chứng tiếp theo là Joseph Barton tới từ Kensington, một nhiếp ảnh gia. Anh ta thừa nhận bản thân đã chụp hình cô Annesley nhiều lần, lần cuối rơi vào ngày 23 tháng Tư, vừa mới đây thôi. Anh ấy đã in hình cho tất cả với ngày tháng được ghi rõ. Và dĩ nhiên, anh ấy sẽ lại thề thốt rằng lời khai là chính xác tuyệt đối. Các bức ảnh đều được đưa cho thẩm phán, từng bức một, và được xem xét kĩ càng. Đột nhiên, anh ta dừng ngang rồi cứng đờ người lại, gấp gáp chuyển những bức ảnh sang mớ ghi chú của mình. Tôi biết, anh ta đã chụp được bức chân dung cuối cùng - bức chân dung có mái tóc ngắn của cô Annesley.

Khi nhiếp ảnh gia rời đi, khu vực đó được thay thế bởi một người không kém gì trợ lý phòng thí nghiệm tuyệt vời của chúng tôi; người mà, sau khi đã yên vị tại vị trí của mình, đã không mảy may câu nệ mà cười rạng rỡ với cả thẩm phán, bồi thẩm đoàn và tòa án nói chung. Khuôn miệng kéo cong tới tận mang tai nhăn nhở đến là nhức mắt. Nathaniel Polton, đã tuyên thệ, cung khai rằng, vào ngày 15 tháng Mười, anh ấy đã ghé qua The Larches tại làng Lower Ditton và chụp ba bức ảnh về các phòng tầng trệt. Tấm đầu tiên được chụp qua lỗ bên phải của cửa chớp, anh ta đánh dấu A trong tập hồ sơ, bức thứ hai thì xuyên qua lỗ bên trái, tấm còn lại từ một điểm ngay bên trong căn phòng phía sau, chính giữa các ô cửa sổ và đánh dấu B. Anh ta là người chụp những bức ảnh đó với thông tin chi tiết viết ngay mặt sau. Không chỉ có thế, anh ấy còn sở hữu vài ba bức ảnh tổng hợp cho thấy hai bị cáo ăn vận giống như lời khai của nhân chứng Brodie và Stanton trong bản mô tả về họ. Những thi thể có trong bức hình lần lượt là Winifred Blake và ông Robert Anstey, K.C. Trên thi thể có in hình đầu của các phạm nhân; và ngay đây, Polton đã mô tả phương thức thay thế một cách chi tiết nhất. Mục đích của các bức ảnh nhằm minh chứng cho việc một tấm hình cũng có thể tạo ra với đầu của người này và cơ thể của người khác. Anh ta cũng tự mình cung khai vì đã trông thấy và sở hữu hai bức ảnh, một trong hai tấm hình chụp bị cáo mà anh ấy đã tìm thấy trong phòng ngủ, tại đây cũng đã in và chuyển cho thẩm phán. Hành động trên dường như khép lại quá trình cung cấp chứng cứ từ anh bạn trợ lý phòng thí nghiệm của chúng tôi.

Sau đó, Thorndyke đã gọi các bị cáo lên. Bland, sau nhiều lần thuyết phục, đã tuyên bố kháng cáo, một cuộc điều tra nổ ra nhằm thu thập thông tin về lợi nhuận thu được từ ba rạp chiếu phim của anh ta; vâng, một con số không tưởng, sáu ngàn bảng Anh mỗi năm.

“Tỷ dụ ông chết đi, thì mớ tài sản này sẽ đi đâu về đâu?”

“À, nếu vợ tôi còn sống, nó sẽ thuộc về cô ấy, nhưng cô ấy đã mất rồi, vậy nên chúng sẽ thuộc về đối tác kiêm quản lý của tôi, anh Julius Wicks."

“Căn nhà ở Ditton đó thuộc quyền quản lý của ai trong thời gian cô Annesley ở Pháp?”

“Của tôi, thưa ông. Chìa khóa cũng thuộc quyền sở hữu của tôi nốt.”

“Chiếc chìa khóa đó đã bao giờ rời khỏi tay anh chưa?”

“Chỉ đúng một ngày duy nhất mà thôi. Đối tác của tôi, anh Wicks, đã ngỏ ý mong muốn được sử dụng con thuyền để du ngoạn trên sông, sau đó dùng bữa trong nhà. Bởi vậy, tôi đã rất sẵn lòng cho anh ấy mượn chìa khóa, và anh ấy đã trả lại tôi ngay ngày hôm sau thôi.”

Sau một hồi thẩm vấn chéo vô cùng chóng vánh, Bland quay trở lại chỗ dành cho bị cáo vì vị trí đó đã được thay thế bởi cô Annesley, người đã tuyên thệ bác bỏ cáo buộc. Cô nàng miêu tả các điểm dừng chân và hoạt động của mình tại Pháp cũng như London trong khoảng thời gian bị cho là phạm tội. Khi trả lời câu hỏi, Annesley kể lại chi tiết về nguyên do khiến mái tóc xinh đẹp trước kia bỗng trở nên cũn cỡn. “Cô có thể nhớ ngày cụ thể xảy ra vụ tai nạn này không?”

“Nhớ chứ, thưa ngài. Hôm đó là ngày mùng 3 tháng Ba. Tôi lưu tâm lắm, cốt hòng tiện theo dõi xem mái tóc của mình đã dài thêm chừng nào.”

Thorndyke ngồi xuống, luật sư bên nguyên đứng lên và thực hiện cuộc thẩm vấn chéo với đôi chút võ đoán, nhưng điều đó cũng chẳng thể lung lay mớ chứng cứ của bị cáo theo bất kì phương thức nào. Khi cuộc thẩm vấn kết thúc và cô Annesley trở lại chỗ của bị cáo, Thorndyke mở rộng bờ vai, bắt đầu phát biểu trước tòa lời bào chữa của mình.

“Thưa các quý ông quý bà, tôi sẽ không làm mất thì giờ của các vị thêm nữa. Anh ta tự tin với âm vực trầm bổng. “Bằng việc xem xét toàn bộ khối lượng chứng cứ cũng như tranh luận về động cơ của vụ sát hại man rợ này. Việc có tội hay vô tội của các bị cáo còn phụ thuộc vào tính xác thực hay không xác thực về chứng cứ từ phía hai nhân chứng Brodie và Stanton. Và tôi chỉ gói gọn tác vụ của bản thân là tập trung vào việc xem xét mớ chứng cứ đó.”

“Hiện giờ, cùng với chứng cứ thu thập, đã đủ để tìm ra một số điểm khác biệt rất đáng lưu tâm. Trước nhất, cả hai nhân chứng đều mô tả những gì họ trông thấy, từ khóa không trật một li. Họ đã chứng kiến chính xác những thứ giống nhau ở những vị trí khá tương đương. Nhưng đây hẳn nhiên là điều không tưởng nếu xét trên phương diện vật lý, khi họ thực sự đang nhìn vào cùng một căn phòng; không ai có thể nhìn mọi thứ đều giống nhau với góc nhìn khác nhau cả; lại còn qua các lỗ khác nhau, và mỗi lỗ lại cách nhau đến hai feet sáu inch. Nhưng điểm đặc biệt khác lạ nổi bật hơn rất nhiều. Cả hai người đàn ông đều mô tả mọi thứ theo cách rất thông thái, đại để như đầy đủ, rõ ràng mặc cho một số đồ vật trong căn phòng đó họ đều hoàn toàn mù tịt. Chẳng hạn, cả hai đều mô tả lò sưởi với hai chiếc đèn, một chiếc bàn có chân xoắn ở phía dưới; và cả hai chỉ nhìn thấy duy nhất một phần của tủ bếp. Nhưng nếu anh nhìn vào sơ đồ của kiến trúc sư và kiểm tra nó bằng một cạnh thẳng, anh sẽ trông thấy lò sưởi và cái bàn đều không thể nhìn ra được. Toàn bộ phía bên kia của căn phòng bị che khuất bởi khung vòm. Trong khi đó, tủ bếp, Brodie và Stanton lại có thể nhìn thấy toàn bộ với hai chiếc đèn. Stanton lại có thể trông thấy mọi thứ ngoại trừ phần nhỏ của cạnh bên. Nhưng hơn thế, nếu đặt cạnh thẳng lên điểm được đánh dấu C và thử với các cạnh của khung vòm, ta sẽ thấy một người đứng tại điểm đó và thu được hình ảnh chính xác như cả hai nhân chứng đã mô tả. Tôi nhìn qua bản kế hoạch đã chuẩn bị kĩ lưỡng, kiểu cách, giáo điều, bài vở lặp lại cùng các dòng bút được tô vẽ trong việc học thuộc ghi nhớ. Nhưng trong trường hợp tỷ dụ như gặp bất kì khó khăn nào bởi việc làm theo bản kế hoạch, tôi sẽ đặt những bức ảnh quay trở về căn phòng nơi có Polton là người cầm máy. Bức ảnh đầu tiên được chụp qua cái lỗ do Brodie nhòm qua và cho thấy chính xác những gì anh ta sẽ thấy khi nhìn vào cái lỗ đó. Và anh có thể thấy rằng nó hoàn toàn tương thích với bản kế hoạch nhưng lại không đồng nhất với mô tả của ông ấy. Bức ảnh thứ hai cho thấy những gì Stanton có thể nhìn; và bức ảnh thứ ba, được chụp từ điểm đánh dấu C, bao quát chính xác quang cảnh mà cả hai nhân chứng mô tả, nhưng lại không một ai trong số họ có thể nhìn thấy điều đó xuyên suốt các tình huống đã nêu lên.

“Ta nên giải thích những điểm khác biệt phi thường này thế nào đây? Tôi cho là không ai hoài nghi tính trung thực của cả hai nhân chứng. Về việc họ đã cung khai toàn bộ sự thật với lòng nhiệt thành mãnh liệt. Tuy nhiên, họ tuyên bố rằng bản thân đã trông thấy những thứ mà họ không thể trông thấy về mặt vật lý. Làm cách nào để họ có thể dung hòa được những mâu thuẫn đến khó hiểu này nhỉ?”

Anh ta tạm dừng, trong sự im lặng đến nghẹt thở, tôi trông thấy thẩm phán đang trộm nhìn anh ta với vẻ mặt mong mỏi mãnh liệt; thứ biểu cảm đã được nhìn ra từ phía bồi thẩm đoàn cũng như trên nét mặt của cả thảy những người có mặt ở đó.

“Vâng, thưa các quý ông” Anh ta tiếp tục nói. “Một lời giải thích hoàn toàn xóa bỏ cả thảy mâu thuẫn; và lời giải thích đó cũng hòa hữu tất cả những khác biệt kỳ lạ mà quý vị có thể trông thấy. Nếu chúng ta đặt giả thiết rằng hai người đàn ông này, thay vì nhìn qua một khung vòm vào căn phòng, như họ vẫn tin là thế. Thực tế là họ đang nhìn vào một tấm ảnh chuyển động chiếu trên màn hình trải dài qua khung vòm, mọi mẫu thuẫn đều không cánh mà bay. Tất cả trở nên vô cùng đơn giản, nhất quán và dễ hiểu.

SIDEBARD

ic MANTEL

Bản kế hoạch của căn phòng

Căn phòng dưới phần mô tả của Brodie

Căn phòng dưới góc nhìn của Spyhole nhưng có phần mô tả tương tự Brodie

“Do đó, cả hai người đàn ông, từ hai góc nhìn khác nhau, đã trông thấy chính xác cùng một khung hình; tất nhiên, đấy là trong trường hợp cả hai đều có thể nhìn vào cùng một thứ, còn nếu không thì điều đó lại bất khả thi hơn cả. Một lần nữa, hai người đàn ông, từ điểm A, đã có góc nhìn tương đương với điểm C. Hoàn toàn tự nhiên nếu cả hai đều nhìn vào một bức ảnh tĩnh chiếu lên từ điểm C, vì là cùng một bức ảnh thì dù từ bất cứ điểm nào cũng sẽ trông thấy mọi thứ tương tự nhau.

“Anh có thể không tán thành với luận điểm rằng những người đàn ông này sẽ nhìn thấy sự khác biệt giữa cùng một bức tranh. Dĩ nhiên, họ có thể đã nhìn thấy, ngay cả trong điều kiện thiếu sáng nếu nhìn khung hình bằng cả hai con mắt. Nhưng mỗi người đàn ông lại chỉ nhìn bằng một con mắt duy nhất thông qua cái lỗ bé tin hin. Bấy giờ, để phân biệt một vật thể rắn và một bức ảnh tĩnh, phẳng đòi hỏi phải sử dụng cả hai con mắt. Vậy nên, đối với người “thui chột” một bên mắt thì hẳn sẽ rất khó để trông ra điểm khác biệt cho được. Đó là lý do mà dân nghệ sĩ chỉ còn một bên mắt lại có khả năng phác thảo chính xác đến từng chi tiết như vậy. Họ trông thấy thế giới xung quanh như một bức tranh phẳng, cũng giống như cách họ họa lên tác phẩm của mình, trong khi đó, một họa sĩ hai mắt phải biến khối rắn thành phẳng. Cũng vì lẽ đó, nếu anh nhắm một mắt và nhìn vào bức hình thì anh sẽ có xu hướng nhìn nhận nhân vật theo kiểu cố định, thực sự vì khung vòm và các vật thể rắn xung quanh đâu còn giữ nguyên tính chất ban đầu nữa, nó đã bị biến đổi và trở thành mặt phẳng. Cho nên, nếu bức ảnh này họa thêm màu sắc, như đáng ra nó phải thế, với những người quan sát bằng một mắt, thì sẽ rất khó để phân biệt chúng với thực thể rắn cho được.”

“Tiếp đó, chúng ta hãy cùng xem xét những mâu thuẫn khác triệt tiêu như thế nào nhé. Sự xuất hiện của bị cáo Annesley. Người ta trông thấy cô ấy vào ngày 18 tháng Năm hoặc sau đó với búi tóc cao cuộn trên đỉnh đầu. Nhưng thực tế, với cùng mốc thời gian, khi đó mái tóc của cô ấy đã khá ngắn rồi. Chứng cứ và bức hình được chụp vào ngày 23 tháng Tư cho thấy cô Annesley đã không còn mái tóc với chiếc búi trên đỉnh đầu nữa, trông cô ấy như một cậu nhóc vậy. Mâu thuẫn sẽ tan biến ngay tức khắc nếu ta nhận ra những người đàn ông này quả thực chưa hề trông thấy cô Annesley, mà chỉ là bức hình chụp cô ấy vào khoảng một năm trước đó.

“Mọi thứ đều trở nên vô cùng thuyết phục với giả thiết này. Hình dáng của cô Annesley đã được các nhân chứng tuyên bố là giống hệt với bức ảnh - bản gốc của nó đang nằm trong căn nhà và có thể đã được sao lưu bởi bất kì nhân vật nào ra vào căn nhà này. Hình dáng của cô ấy hoàn toàn bất động. Và sự xuất hiện đột ngột của nàng ta trong khung vòm rồi mất dạng, lại chẳng hề di chuyển bỗng trở nên hết sức hợp lý. Ánh sáng cứ chợt sáng chợt tối khi nhòm qua lỗ nhỏ, với những khoảng tối không sao giải thích được. Tuy nhiên, điều đó lại hoàn toàn tương thích với những lần xuất hiện và biến mất. Sau đó, nhân vật chính của chúng ta lại được trông thấy rõ ràng hơn, dù căn phòng gần như tối om. Tất nhiên, theo dụng ý được đặt ra thì ánh sáng như vậy là quá đủ. Vừa khéo để bên ngoài trông thấy, nhưng không lộ rõ những chi tiết cần che đậy. Và dĩ nhiên, phần còn lại của căn phòng sẽ được sắp xếp sao cho ánh sáng chỉ đủ để chiếu thật yếu ớt, bởi vì “nhân vật phụ” chỉ để làm nền mà thôi.

“Tiếp đó là gì nhỉ, bộ váy bất thường; chiếc áo choàng không tay màu trắng và chiếc áo họa sĩ mà Bland đã mặc. Vì lẽ gì mà lại có màn hóa trang lố bịch đến thế?”

Mục đích đã quá rõ ràng. Không gì hơn là khiến những người quan sát tin rằng bức chân dung trên khung vòm đó - mà họ đã nhầm lẫn tai hại - chính là những nhân vật đang cố sức diễn tròn vai như ảnh hậu ảnh đế ở khâu hậu cảnh mà ngay chính họ cũng chẳng thể phân biệt được các đặc tính cốt yếu. Và Polton đã diễn giải cách để quản lý màu sắc của các bức chân dung.

“Tiếp đó là ánh sáng của căn phòng. Chúng được hoạt động theo cơ chế nào? Không có bất kì đèn điện nào bật sáng, đúng. Nhưng mẩu bút chì carbon từ đèn hồ quang, thứ mà các nhà động học thường hay sử dụng, đã được tìm thấy ngay gần điểm C, từ vị trí mà bức ảnh được chụp và trưng bày. Đồng hồ đo ánh sáng điện cũng cho thấy, vào khoảng thời gian đó, đã xảy ra một vụ rò rỉ dòng điện không sao lý giải nổi, chẳng hạn như giải thích bằng việc ai đã gây nên hồ quang điện.

“Tiếp đó, lời khai của các nhân chứng cho thấy cái hố trên sàn không hề đúng chỗ. Tất nhiên đó chẳng thể là hố thật, vì ga và đường điện nằm ngay bên dưới vị trí đó. Rất có thể là khuôn giấy hình chữ nhật đen, thuôn dài. Nhưng tại sao lại có sự nhầm lẫn tai hại đến thế, có phải nó đã bị đặt nhầm chỗ hay không?

Theo tôi, lời giải thích hợp lý nhất là bức ảnh được chụp trước khi vụ giết người xảy ra (có lẽ cũng được chiếu lên trước khi tội ác thực hiện), vị trí trông thấy chính là nơi mặc định để chôn xác, nhưng khi tấm ván sàn nâng lên sau vụ giết người, nguồn điện đã được tìm thấy ngay bên dưới và vị trí mới cứ thế lồ lộ ra.

“Điểm cuối cùng của sự khác biệt là điều gì đã xảy ra với kẻ quan sát thứ ba? Người đàn ông bí ẩn đã đến cổng và gọi hai người đàn ông này lại từ con đường - nơi mà ông ta biết chắc họ sẽ đi qua hàng ngày vào cùng một thời điểm? Ai, ai là nhân vật đầy kỳ bí trên? Và ông ta ở đâu cơ chứ? Chúng ta có thể đặt cho ông ấy một cái tên chứ nhỉ? Vâng, tôi có thể đoán chắc rằng ông ta đang có mặt trong phiên tòa này, ngồi giữa những khán giả, lắng nghe lời biện hộ cho hai nạn nhân vô tội của ông ta, những bị cáo đang đứng trước vành móng ngựa để nghe ngóng, mong cầu sự giải thoát từ tên sát nhân thực thụ? Tôi phải khẳng định rằng, thưa quý vị, rằng chúng ta có thể biết nhiều hơn những gì mình vẫn tưởng.”

Thorndyke dừng lời, một sự im lặng đến ngạt thở bao trùm khắp không gian, thông tin ấy quá đỗi ấn tượng. Quý ông, quý bà nhìn quanh khắp lượt, bồi thẩm đoàn ngó vào phiên tòa mà không mảy may rụt rè, thẩm phán lại nhìn vào mớ ghi chép của bản thân, ánh nhìn xét nét giữa những người đang chứng kiến toàn bộ diễn tiến sự việc. Trong giây lát, sự chú ý của tôi rơi vào Wicks cùng vị hôn thê của anh ta. Wicks đang lau từng giọt mồ hôi chảy dài trên khuôn mặt đã thoắt xanh thoắt đỏ của mình, cảnh tượng đến là thảm thương. Còn người phụ nữ kế bên lúc này đã gục đầu, hai tay run lẩy bẩy như thể cơn động kinh đang hành hạ ả ta dữ lắm.

Tất nhiên, tôi không phải người duy nhất trông thấy điều đó. Hết người này tới người kia - ý tôi là hàng tá những nhân vật ở phía dưới, bồi thẩm đoàn, luật sự, thẩm phán - đều bị cặp đôi hút hết sự chú ý. Sự lặng thinh như mồ yên mả đẹp, không chút xao lãng gì.

Khoảnh khắc khi đó quả thực khó lòng quên nổi. Không khí căng tức, phiên tòa thì nghẹt cứng toàn người là người, ai nấy đều xúc động. Thorndyke, với điệu bộ làm chủ cộng thêm gương mặt trang nghiêm, điềm tĩnh, thật giống như hiện thân của cán cân công lý và số phận, đứng bất động, im lìm như hóa thạch, cách để giữ lý trí luôn ở mức tốt nhất.

Sau cùng, anh ta tiếp tục quay về với vị trí vốn có của mình. “Trước khi kết thúc. Thorndyke bắt đầu. “Tôi nhất định phải nói thêm dăm ba lời về khía cạnh khác của vụ án. Vị luật sư uyên bác từ phía công tố đây, đã đề cập đến động cơ, rằng nạn nhân là vật cản cho mối lương duyên giữa bị cáo. Nhưng bằng chứng cho thấy, có những cá nhân khác còn có động cơ mạnh mẽ và rõ ràng hơn gấp bội để trừ khử Lucy Bland, người phụ nữ xấu số vừa qua đời đó. Trong trường hợp Bland mất - thì đối tác của anh ta, Julius Wicks sẽ đứng ra để sở hữu tài sản lên tới sáu ngàn bảng Anh mỗi năm, với điều kiện là vợ của Bland sẽ biến mất hoàn toàn khỏi cõi đời này. Hiện giờ, vụ ám hại Lucy Bland dường như đã đáp ứng một trong những điều kiện để chuyển giao mớ tài sản; và nếu anh Bland bị kết án, giá treo cổ dường như đã định sẵn số phận của Bland, khi ấy mọi sự có vẻ đã thực toàn, khối tài sản lớn sẽ được chuyển giao cho đối tác của anh ấy - Julius Wicks. Điểm tối quan trọng chứ nhỉ, thực tế là Wicks, như anh đã biết, là một nhà sản xuất phim chuyên nghiệp, cũng như điều hành rạp chiếu phim; đã có bằng chứng cho thấy anh ta ra vào ngôi nhà ở Ditton, và đính hôn với nữ minh tinh màn bạc.

“Cuối cùng, tôi cho rằng chứng cứ của Brodie và Stanton càng thêm khẳng định việc họ đã xem một bức hình chuyển động và mọi bằng chứng đều xác thực điều đó là đúng. Tất nhiên, bằng chứng về bức ảnh chuyển động cũng nói lên rằng đây là một âm mưu đã được toan tính trước đó để hướng mọi hoài nghi về phía hai bị cáo. Một âm mưu thì luôn hàm chứa những kẻ mưu đồ. Và hẳn nhiên, những người bày ra kế hoạch mới là những kẻ thực sự nhẫn tâm xuống tay với Lucy Bland. Nhưng nếu thực vậy, và tôi khẳng định rằng không thể nghi ngờ thêm nữa, thì kết quả chính là, các bị cáo đang phải gánh chịu trọng tội mà họ chẳng gây nên. Bởi vậy, tôi yêu cầu chủ tọa hãy đưa ra phán quyết cuối cùng, thân chủ của tôi không có tội.”

Khi Thorndyke ngồi xuống, tạp âm lao xao yếu ớt vang vọng khắp phòng; mọi ánh nhìn đều đổ dồn về phía Wicks và Eugenia Kropp. Cỡ cả quãng khá dài, cả hai đồng loạt đứng lên, loạng choạng tiến về phía cửa. Nhưng nào có kịp cơ chứ, thấp thoáng đâu đó, giám đốc Miller ẩn thân đột nhiên xuất hiện và đứng chăn ngay cửa cùng một gã cảnh vệ mặc quân phục.

Trong lúc ông Wicks và cô Kropp tiến về phía cửa, tôi trông thấy viên cảnh sát ra sức lắc lắc cái đầu. Dẫu có hay không có thẩm quyền thì anh ta cũng ra sức từ chối để họ rời đi. Lại một khoảng lặng thinh im ắng. Sau đó là cú nổ của sự bối rối, ẩu đả, tiếng hét ầm trời, tiếng súng, tiếng kính vỡ đôi; Miller nhanh trí nắm lấy cổ tay người đàn ông và ghim cứng anh ta vào tường, trong khi người phụ nữ thì la hét ầm ĩ, vật lộn với cảnh sát hết sức bình sinh để thoát khỏi cánh cửa chết chóc.

Sau cùng, khi đã loại bỏ được hết những kẻ gây rối đang bị tạm giam, diễn biến sau đó được tua nhanh hết sức. Câu trả lời của luật sư phía công tố súc tích, không điểm xuyết, màu mè, thực tế chỉ là bác bỏ cáo buộc, trong khi bản vắn từ phía thẩm phán chỉ là tổng hợp, góp nhặt ý chính trong lập luận của Thorndyke cùng kết luận trắng án. Không cần thêm bất kì bằng chứng nào khác nữa; vì bồi thẩm đoàn đã có quyết định dứt khoát lắm rồi, đến nỗi thư ký tòa án dường như đã chẳng còn lỗ hổng nào để thốt lên dăm lời đáp trả khi quản đốc đáp lời với phán quyết “Vô tội”. Không lâu sau đó, khi tiếng vỗ tay đã lắng xuống và lời chúc tụng tương đối ngắn gọn từ phía thẩm phán vang lên, bị cáo đã từ vị trí khi nãy của mình bước từng bước đi xuống phía dưới, khóe mắt rưng rưng nhưng miệng thì nhoẻn cười một cách đầy mãn nguyện, chỉ để bắt tay Thorndyke và cảm ơn anh ấy bởi sự giải thoát ngoạn mục này.

“Tuyệt thật đấy” Mayfield xúc động, anh ta cũng lén lau những giọt nước mắt đến là vụng trộm. “Từ ngữ chính xác cho kết cục có hậu. Anh biết đấy, sau tất cả, mọi thứ đều trở nên sáng tỏ, khi anh có thể thấu hiểu mọi sự trên đời.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của r. austin freeman