Ngày 27 Tháng Ba, 2001 Vịnh Okuma, Nam Cực
Thuyền trưởng Daniel Gillespie đứng trong đài chỉ huy bằng kính rộng lớn của chiếc tàu Polar Storm (Bão Địa Cực) và nhìn qua cái ống dòm dõi về phía những khối băng bao quanh chiếc tàu phá băng có trọng tải tám ngàn tấn. Ông vừa quan sát khối băng vừa toan tính trong óc tìm một lối đi dễ dàng nhất để chiếc tàu Polar Storm đi tới. Khối băng đã sớm hình thành vào mùa thu trong biển Ross. Tại một vài nơi, nó đã dày tới hai bộ với những chóp nhọn cao tới ba bộ.
Chiếc tàu run rẩy dưới chân ông trong lúc cái mũi có sừng khổng lồ của nó nghiền nát lớp băng rồi trồi lên bên trên mặt tuyết trắng. Sau đó, trọng lượng nửa thân trước của chiếc tàu lại hạ xuống và những lưỡi cưa tròn bằng thép trước mũi tàu lại ngấu nghiến cắt khối băng. Tiến trình đó cứ lặp đi lặp lại cho tới khi một vùng chừng vài dặm cách bờ được khai quang.
Polar Storm vừa là một tàu phá băng vừa là một tàu nghiên cứu. Theo những tài liệu hàng hải, nó là một chiếc tàu cũ được hạ thủy từ hai mươi năm trước, vào năm 1981. Nó cũng được xem là một trong những tàu phá băng nhỏ nhất vì chỉ trọng tải tám ngàn tấn, với chiều dài một trăm bốn mươi lăm bộ và rộng hai mươi bảy bộ. Những khả năng của nó gồm những công việc thuộc về hải dương học, về dự báo thời tiết khí tượng, về sinh vật học và nghiên cứu về bâng tại địa cực, và nó có khả năng phá vỡ những khối băng dày ít nhất ba bộ.
Evie Tan, một nhà văn trẻ, đã lên tàu Polar Storm, khi nó dừng lại tại cảng Montevides của Uruguay trên đường tới Nam Cực của nó, đang ngồi trong một cái ghế bành và viết vào một cuôn sổ ghi chép. Cô còn là một nhà văn về khoa học và kỹ thuật, đồng thời là một nhà nhiếp ảnh. Evie đã lên tàu để thực hiện một phóng sự cho một tạp chí khoa học quốc gia. Cô là một phụ nữ có thân hình nhỏ nhắn với mái tóc màu đen, dài và mịn như lụa, được sinh ra và lớn lên tại Philippines. Cô ngước nhìn Thuyền trưởng Gillespie và ngắm ông phá khối băng trước mặt, trước khi đặt câu hỏi với ông ta.
“Kế hoạch của ông là đổ bộ một toán các nhà khoa học lên mặt khối băng để họ nghiên cứu lớp băng trên biển phải không?”
Ông Gillespie hạ cái ống dòm xuống và gật đầu. “Đó là một công việc định kỳ. Ba lần trong một ngày Nam Cực. Các nhà băng học đi lên lớp băng để thu nhặt những vật mẫu, và sau khi khảo sát những vật mẫu đó trong phòng thí nghiệm đặt trên tàu, họ sẽ trình bày quan điểm của mình. Họ cũng báo cáo những tính chất vật lý của băng và nước biển khi chúng tôi đi từ vùng này đến vùng khác”.
“Họ có khám phá điều gì đặc biệt không?”
“Joel Rogers, trưởng nhóm nghiên cứu, có thể giải thích điều đó tốt hơn tôi. Cái đích đầu tiên của dự án là đánh giá sự tác động đằng sau dòng chảy có xu hướng làm ấm lên những khối băng quanh địa cực co lại”.
“Đó là hiện tượng băng càng ngày càng giảm đi phải không?”
“Trong mùa thu của Nam Cực, từ Tháng Ba đến Tháng Năm, đại dương chung quanh địa cực bắt đầu đông. Một khi khối băng từ đất liền trải rộng, sẽ tạo ra một vành đai lớn gấp hai lần châu Úc. Nhưng lúc này biển băng đang co lại, không còn dày và trải rộng như trước kia. Những mùa đông Nam Cực không còn lạnh như những năm 1950 và 60. Vì xu hướng ấm lên, sự liên kết chủ yếu giữa các vùng trong biển Nam Cực đang bị phá vỡ”.
“Bắt đầu là những loại tảo đơn bào sống tại mép dưới khối băng”, Evie nhận xét, cô tỏ ra nắm vững sự việc.
“Đúng chuyên môn của cô rồi đấy”, ông Gillespie mỉm cười. “Không còn tảo để ăn, các loài giáp xác nhỏ cũng không sống được, đến phiên những loài tép nhỏ trở thành thức ăn của nhiều loài động vật và cá trong những vũng nước tại nam bán cầu, từ loài chim cánh cụt cho tới cá voi và động vật vừa sống dưới nước vừa sống trên cạn”.
“Ông muốn nói tới loài hải cẩu?”
“Đúng thế”.
Evie nhìn lên Vịnh Okuma chia làm hai khu vực là dải đá ngầm Ross Ice và bán đảo Edward VII. “Dãy núi chạy dài về phía nam”, cô nói, “tên là gì nhỉ?”
“Rặng Rockefeller”, ông Gillespie trả lời. “Họ đã thả neo cạnh ngọn núi Frazier tại điểm cuối này và ngọn Nilson đằng kia”.
“Những ngọn núi này đẹp thật”, Evie nói trong lúc ngắm những đỉnh núi tuyết phủ lóng lánh dưới ánh mặt trời, “ông cho tôi mượn cặp ống dòm của ông nhé?”
“Rất sẵn lòng”.
Evie điều chỉnh tiêu cự cái ống dòm về phía những tòa nhà cao tầng rộng lớn nằm quanh một kiến trúc đồ sộ giống như một tòa tháp cách đó hai dặm về hướng nam trong Vịnh Okuma. Cô có thể phân biệt một phi trường nằm sau những tòa nhà, và một cầu tàu dẫn vào vịnh. Một chiếc tàu chở hàng lớn thả neo tại cầu tàu và một cần trục đang dỡ hàng khỏi chiếc tàu. “Tại chân núi Frazier có một trạm nghiên cứu phải không?”
Ông Gillespie nhìn về phía hướng nhắm của chiếc ống dòm, “Không, đó là một khu khai mỏ do một liên hiệp xí nghiệp đặt trụ sở tại Argentina sở hữu và khai thác. Họ đang khai thác những khoáng sản quí khác từ dưới biển”.
Cô hạ cái ống dòm xuống và nhìn ông thuyền trưởng. “Tôi không nghĩ công việc này đạt hiệu quả kinh tế cao”.
Ông Gillespie lắc đầu, “Điều này tôi đã được Bob Maris cho biết, ông ta là một nhà địa chất học tại địa phương, họ đã phát triển một tiến trình mới để tìm vàng và những khoáng sản quí khác từ dưới biển”.
“Tôi chưa nghe chuyện buồn cười như thế bao giờ”.
“Việc khai thác của họ hoàn toàn bí mật. Khi chúng tôi tới gần nơi đó, lập tức có một xuồng an ninh của họ lao ra và đuổi chúng tôi đi. Có dư luận đồn đoán rằng họ làm công việc đó qua một nghiên cứu khoa học mới gọi là kỹ thuật nano”.
“Tại sao lại hoạt động tại một nơi xa xôi như Nam Cực chứ? Tại sao không phải là một bờ biển hoặc một thành phố cảng để việc chuyên chở dễ dàng hơn?”
“Theo lời ông Maris, nước biển lạnh sẽ cô đặc muối nên muối lắng xuống sâu hơn. Quá trình khai thác trở nên hiệu quả hơn..”. Ông thuyền trưởng ngừng nói và theo dõi khối băng phía trước mũi tàu. “Tôi xin lỗi, thưa cô Tan, nhưng chúng tôi phải đối phó với một khối băng trôi lớn phía trước mặt”.
Tảng băng trôi nhô cao khỏi khối băng bằng phẳng như một tòa lâu đài lẻ loi được đắp một tấm vải trắng. Những vách của nó dựng đứng vươn cao hơn một trăm bộ so với mặt biển. Màu trắng lấp lánh dưới một mặt trời tinh khiết chói lọi và một bầu trời với màu xanh trong vắt. Tảng băng có vẻ thô thiển và làm giảm vẻ đẹp dành cho con người, các động vật hoặc thực vật có rễ. Chiếc tàu Polar Storm tiến lại gần tảng băng trôi bên mép phía tây, và ông Gillespie ra lệnh cho viên hoa tiêu sử dụng hệ thống Kiểm soát tự động của chiếc tàu khi nó chạy gần chỗ nhô ra của khối băng. Viên hoa tiêu khéo léo vận hành bộ phận kiểm soát điện tử trên một bảng điều khiển lớn và đưa chiếc tàu phá băng từ từ áp sát khối băng theo một góc bảy mươi lăm độ hướng vào phía cảng, theo dõi những âm thanh dội lại từ dưới nước do sự va chạm giữa chiếc tàu và những chỗ nhô ra của tảng băng. Thân tàu chắc khỏe của chiếc Polar Storm được thiết kế để chịu đựng những cú va chạm mạnh với những khối băng trôi cứng rắn, nhưng ông Gillespie thấy chẳng có lý do gì để gây ra sự cố, dù nhỏ nhất, làm hại đến lớp vỏ bằng thép của chiếc tàu phá băng.
Ông cho chiếc tàu men theo mép, từ lúc nó còn cách mép khối băng khoảng hai trăm năm mươi mét, một khoảng cách an toàn nhưng vẫn đủ gần để đoàn thủy thủ và các nhà khoa học trên boong có thể nhìn lên những vách của khối băng nhô cao như những tòa tháp. Đó là một quang cảnh lạ lùng và thật lộng lẫy. Những vách băng trông như những cọc hàng rào trượt qua khi chiếc tàu đi vòng khối băng khổng lồ và rẽ vào khe hở của nó.
Bất chợt, một chiếc tàu khác hiện ra trong tầm nhìn của họ từ phía sau khối băng. Ông Gillespie ngạc nhiên khi nhận ra chiếc tàu đang đến gần là một tiềm thủy đỉnh. Chiếc tàu lặn này đã trồi lên qua khe nứt rộng trong khối băng và chạy ngang qua mũi tàu đồ sộ của chiếc tàu phá băng từ mạn trái tới mạn phải.
Viên hoa tiêu hành động trước khi lệnh của thuyền trưởng thoát ra khỏi đài chỉ huy. Anh ta nắm vững tình thế, phán đoán vận tốc chiếc tàu lặn, và tăng hết vận tốc của những động cơ diesel khổng lồ bên mạn trái tàu phá băng. Đó là một phản ứng khôn ngoan. Thay vì đổi chiều động cơ trong một nỗ lực vô ích nhằm giảm đà lao tới của chiếc tàu phá băng to lớn, anh ta vẫn để động cơ bên mạn trái đẩy con tàu tới với một nửa vận tốc. Với một động cơ đẩy chiếc tàu tới và một động cơ kéo nó lùi lại, chiếc tàu bắt đầu xoay nhanh hơn việc điều khiển bằng bánh lái. Mọi người trong đài chỉ huy đứng im như bị thôi miên khi mũi tàu chậm chạp tạo ra một góc lệch từ thân tàu lặn tới đường rẽ nước sau đuôi nó.
Không có thời giờ để cảnh báo hoặc thông tin giữa hai chiếc tàu, ông Gillespie mở cái loa và quát qua ống nói để đoàn thủy thủ và các nhà khoa học chuẩn bị đối phó một sự va đụng. Không khí căng thẳng bao trùm trong đài chỉ huy.
“Nào, bé con”, viên hoa tiêu khích lệ, “xoay đi, xoay đi mà!”
Đôi mắt Evie đờ ra một lúc trước khi ý thức nghề nghiệp và công việc trong đầu cô bắt đầu hoạt động. Cô nhanh chóng lấy cái máy ảnh từ cái bao của nó, điều chỉnh tiêu cự ống kính và khởi sự bấm ảnh. Qua ống kính lấy hình từ xa, cô không thấy bóng một thủy thủ nào trên boong chiếc tàu lặn, cũng không có sĩ quan nào đứng trong tháp quan sát. Cô dừng theo dõi để điều chỉnh lại tiêu cự ống kính khi nhìn thấy mũi chiếc tàu lặn trượt dưới khối băng lúc nó bắt đầu lặn xuống.
Hai chiếc tàu đã rất gần nhau. Gillespie tin chắc mũi tàu phá băng sẽ đâm vào thân chiếc tàu lặn. Nhưng vì tốc độ quá nhanh của chiếc tàu lặn và phản ứng kịp thời của viên hoa tiêu đã tránh được thảm kịch xảy ra chỉ trong gang tấc.
Ông Gillespie chạy ra khỏi đài chỉ huy về phía mạn phải và nhìn xuống. Chiếc tàu lặn vừa chìm khỏi mặt nước trong lúc mũi chiếc tàu phá băng trượt qua trên thân sau của nó, bánh lái và chân vịt chiếc tàu phá băng chỉ cách chiếc tàu ngầm một khoảng bằng chiều dài chiếc bàn ăn. Ông Gillespie không thể tin hai chiếc tàu không đâm vào nhau. Chiếc tàu ngầm bí mật biến mất, chỉ để lại những gợn sóng trên mặt nước, như thể nó chưa bao giờ xuất hiện ở đó.
“Lạy Chúa tôi, sao chúng đến sát như thế nhỉ?” viên hoa tiêu thì thầm và thở ra nhẹ nhõm đầy lòng biết ơn.
“Một chiếc tiềm thủy đỉnh”, Evie nói với giọng mơ hồ lúc cô hạ thấp cái máy ảnh xuống. “Nó từ đâu đến? Nó thuộc bộ phận nào của hải quân?”
“Tôi không thấy dấu hiệu nhận diện nào cả”, viên hoa tiêu trả lời. “Trông nó hoàn toàn không giống bất kỳ tàu lặn nào tôi từng trông thấy”.
Sĩ quan thứ nhất của tàu phá băng, Jack Bushey chạy vào đài chỉ huy. “Chuyện gì đã xảy ra, thưa Thuyền trưởng?”
“Suýt đụng một tàu ngầm”.
“Một tàu ngầm nguyên tử trong vịnh Marguerite này? ông không đùa chứ?”
“Thuyền trưởng Gillespie không đùa đâu”, Evie nói. “Tôi đã chụp được ảnh để chứng tỏ điều đó”.
“Không phải một tàu ngầm nguyên tử”, ông Gillespie chậm rãi nói.
“Theo vẻ bề ngoài, nó là một tàu ngầm rất cũ”, viên hoa tiêu nói vừa nhìn chằm chằm hai bàn tay, lần đầu tiên nhận thấy chúng vẫn còn run.
“Cậu trông đài chỉ huy”, ông Gillespie ra lệnh cho Bushey. “Hãy giữ cho mũi tàu bên mạn phải cách đỉnh khối băng đó khoảng một dặm trên lộ trình hướng đến nó. Chúng ta sẽ thả những nhà khoa học xuống nơi đó. Tôi về phòng của mình”.
Evie và Jack Bushey thấy rõ vẻ bối rối và xa cách hiện ra trên nét mặt ông thuyền trưởng. Họ nhìn theo lúc ông ta đi xuống cầu thang dẫn tới hành lang trên boong phía dưới. Ông Gillespie mở cửa cabin dành riêng cho ông và bước vào. Ông là một người được sinh ra cho biển cả và là một người say mê những câu chuyện về biển. Trên những kệ gắn tường trong phòng ông chất đầy sách và tài liệu về ngành hàng hải. Cặp mắt ông theo dõi những tựa sách và dừng lại tại một cuốn sách cũ nói về tàu biển.
Ông ngồi xuống cái ghế bọc da dùng để đọc sách và lật những trang cuốn sách vừa lấy từ trên kệ xuống, dừng lại ở một bức ảnh nằm giữa cuốn sách. Bức ảnh cho thấy một chiếc tiềm thủy đỉnh to lớn đang nổi trên mặt nước gần một bờ biển lởm chởm đá. Những dòng chữ dưới bức ảnh như sau:
Chỉ có tấm ảnh của chiếc tàu ngầm U-2015, một trong hai chiếc tàu được biết đã hoạt động trong thế chiến II. Đây là một chiếc tàu vận tốc nhanh, có thể lặn rất lâu dưới nước và đi quanh nửa vòng Trái Đất trước khi trồi lên để lấy nhiên liệu.
Những dòng chữ tiếp tục mô tả chiếc U-2015 được thấy xuất hiện lần chót ngoài khơi bờ biển Đan Mạch và biến mất tại một nơi nào đó ở Nam Cực, và được xem như mất tích.
Ông Gillespie không thể tin những gì mắt ông vừa đọc được. Có vẻ hết sức vô lý, nhưng ông biết đó là sự thực. Chiếc tàu ngầm lạ không một dấu hiệu nhận diện mà tàu Polar Storm suýt đâm phải trong vịnh là một tàu ngầm của Đức Quốc xã, từng hoạt động trong một cuộc chiến đã kết thúc từ năm mươi năm trước.
Sau một cú gọi đường dài mời họp với Đô đốc Sandecker, chỉ huy trưởng NUMA; và ông Francis Regsdale, giám đốc mới được chỉ định của FBI, họ đồng ý để Pitt, Giordino và Pat O’Connell bay tới Washington D.c. trả lời những chất vấn về một chuỗi sự cố khác thường đã xảy ra tại khu mỏ Paradise. Những nhân viên FBI được phái đến nhà Pat gần Đại học Pennsylvania bang Philadelphia để đưa con gái cô đến một nơi an toàn tại ngoại ô Washington, ở đây mẹ con họ sẽ nhanh chóng đoàn tụ. Nhân viên FBI cũng bí mật đến Thị trấn Telluride, hối thúc ông Luiz và bà Lisa Marquez cùng hai con gái họ đến một nơi ở mới kín đáo tại Hawaii.
Được những phụ tá lịch thiệp và nhã nhặn của ông Cảnh sát trưởng Eagan hộ tống, nhóm ba người - Pitt, Giordino và Pat O’Connell — lên một máy bay phản lực của NUMA hướng về thủ đô. Lúc chiếc máy bay Cessna Citation Ultra V sơn màu ngọc lam nghiêng cánh trên những ngọn núi tuyết phủ của ngọn San Juan và bay thẳng về hướng đông bắc, Pat ngồi thư giãn trong cái ghế bọc da, hai bàn tay cô nắm bàn tay Pitt.
“Ông chắc chắn con gái tôi an toàn chứ?”
Anh mỉm cười, nhẹ nhàng siết bàn tay cô. “Cháu bé đang được nhân viên FBI bảo vệ. Chỉ vài giờ nữa, cô sẽ được ôm hôn cháu trong vòng tay mà”.
“Tôi không thể hình dung chúng tôi sẽ sống như những con thú bị săn đuổi trong phần đời còn lại của mình”.
“Không có chuyện đó đâu”, Pitt trấn an cô. “Một khi cái vỏ bọc điên rồ của Đế quốc Thứ Tư bị đập vỡ, và bọn chúng bị bắt giữ và kết án, tất cả chúng ta đều có thể sống lại cuộc sống bình thường như cũ”.
Pat ngước nhìn Giordino đã ngủ ngon lành trước khi những bánh xe của máy bay rời khỏi đường băng. “Ông ấy không bỏ phí chút thì giờ nào, phải không?”
“Al có thể ngủ bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Hắn không khác gì một con mèo”. Anh đưa bàn tay cô lên môi và hôn nhẹ mấy ngón tay. “Cô cũng nên ngủ một lúc. Nếu không, cô không thể chịu đựng lâu đâu”.
Đây là lần đầu tiên Pitt tỏ ra quan tâm chăm sóc cô từ lúc họ gặp nhau, và cô cảm nhận được sự ấm áp đang lan tỏa trong cô. “Đầu óc tôi quá bận rộn nên cũng quên đi sự mệt nhọc”, cô lấy cuốn sổ ghi chép từ túi xách. “Tôi sẽ lợi dụng chuyến bay để bắt đầu phân tích sơ bộ những chữ khắc đó”
“Phi hành đoàn có một máy điện toán trong cabin phía sau, cô xem thử nó có giúp ích gì không?”
“Nó có bộ phận quét để chuyển những ghi chép của tôi lên đĩa không?”
“Tôi nghĩ là có đấy”.
Vẻ mệt nhọc dường như biến mất trên gương mặt Pat. “Nếu vậy thì quá tốt. Đáng tiếc là mấy cuộn phim của tôi đã hỏng sau khi bị ngâm trong nước”.
Pitt thọc tay vào túi quần và rút ra một cái bọc plastic và ném nó vào lòng cô. “Một bộ ảnh về toàn bộ căn hầm đấy”.
Cô thực sự ngạc nhiên khi mở cái bọc ra và nhìn thấy sáu cuộn phim. “Ông có những thứ này từ nơi quỉ quái nào thế ?”
“Cô hãy đành lời khen cho bọn Đệ Tứ đế quốc”, anh thản nhiên trả lời. “Al và tôi đến căn hầm đúng lúc hai gã đó hoàn tất việc chụp ảnh những chữ khắc và ký hiệu trên trần hầm, và thế là chúng tôi có những thứ này do phòng thí nghiệm của NUMA cung cấp sau khi họ tráng phim”.
“Ồ, cám ơn ông”, Pat nói với giọng khích động và hôn lên một bên má lởm chởm râu của anh. “Những ghi chép của tôi chỉ gần giống những chữ khắc thôi”. Bất chợt Pitt bỗng trở thành một khách đi đường xa lạ với cô trên một đường phố đông đảo. Pat quay mặt khỏi Pitt và vội vã đi về phía cabin đặt máy tính ở đuôi máy bay.
Pitt gượng đứng lên và đi vào lối đi nhỏ dọc thân máy bay, mở một tủ lạnh và lấy ra một bình nước uống nhẹ. Đáng buồn thật, anh nghĩ, Đô đốc Sandecker không bao giờ cho phép chứa rượu mạnh trên tàu hoặc trên máy bay của NUMA.
Anh đứng lại và nhìn xuống cái thùng gỗ được buộc chặt bằng đai da trên một cái ghế bỏ trống. Cái hộp sọ màu đen bằng nham thạch không hề rời khỏi tầm nhìn của anh từ lúc anh mang nó ra khỏi căn hầm. Anh chỉ có thể tưởng tượng hai hốc mắt trống rỗng đang trợn trừng nhìn anh qua lớp gỗ của cái thùng. Anh ngồi xuống một cái ghế cạnh lối đi nhỏ và kéo cần ăngten của cái điện thoại vệ tinh địa cầu rồi bấm một con số. Cú gọi của anh được nối với bảy mươi vệ tinh đang bay trọng quĩ đạo sẽ chuyển nó tới một vệ tinh khác, ở đây nó được nối với mạng lưới điện thoại công cộng.
Pitt nhìn ra những đám mây đang trôi qua, chờ đợi đầu dây bên kia, ít khi trả lời sau bảy hoặc tám hồi chuông. Sau cùng vào hồi chuông thứ mười, một giọng nói trầm và ấm vọng qua bộ phận thông tin. “Tôi nghe”.
“Chào, St. Julien”.
“Dirk!” St. Julien Perlmutter hét như bom nổ khi ông ta nhận ra giọng nói của ai. “Nếu biết cậu gọi, tôi đã trả lời sớm rồi”.
“Ngược lại bản chất của ông à? Tôi không tin”.
Pitt có thể dễ dàng hình dung ra ông Perlmutter với cái 'thân hình nặng bốn trăm cân Anh’ của ông ta trong bộ pyjama bằng lụa bị chôn vùi trong một núi sách về hàng hải trong cái nhà xe mà ông ta gọi là tổ ấm. Ham kể chuyện những giai thoại tham ăn, một không gian thông thái và có uy tín về những vấn đề hàng hải với một thư viện tập trung những cuốn sách, thư viết tay, tài liệu và kế hoạch quí hiếm nhất thế giới về hầu hết những chiếc tàu đã có mặt trên biển, ông ta đúng là một cuốn bách khoa từ điển lưu động về con người và biển cả.
“Cậu đang ở đâu vậy, con trai?”
“Ba mươi lăm ngàn bộ bên trên dãy núi Rocky Mountains”.
“Cậu không thể chờ đến Washington để gọi tôi sao?”
“Tôi muốn biết một dự án nghiên cứu ngay lập tức”.
“Tôi giúp được gì nào?”
Pitt vắn tắt giải thích về căn phòng bí ẩn, những chữ khắc trên các vách đá. Ông Perlmutter lắng nghe với vẻ suy nghĩ, không ngắt lời để hỏi. Lúc Pitt dừng lại, ông mới lên tiếng. “Cậu có ý nghĩ đặc biệt nào trong đầu thế?”
“Tôi biết ông có đủ những hồ sơ về những tiếp xúc với châu Mỹ xảy ra trước khi Columbus tìm ra lục địa này”.
“Tôi có toàn bộ dữ liệu về chuyện đó. Những tài liệu và lý thuyết về tất cả những người đi biển đã từng ghé qua Bắc, Trung và Nam Mỹ trước Columbus nhiều”.
“Ông còn nhớ giai thoại nào về những người đi biển đã xâm nhập sâu vào những lục địa khác và xây dựng những căn hầm dưới lòng đất không? Xây dựng chúng với mục đích duy nhất là lưu lại những thông điệp cho những người đến sau? Những sự kiện như thế có bao giờ được ghi chép trong lịch sử không?”
“Tôi không thể nhớ ngay được. Có một số tường thuật về những trao đổi buôn bán giữa những dân tộc ở châu Mỹ và những người đi biển đến từ châu Âu và Phi châu. Người ta cho rằng việc bán đồng và thiếc đã xảy ra từ năm ngàn năm trước”.
“Ở đâu?” Pitt hỏi.
“Minnesota, Michigan và Wisconsin”.
“Thật chứ?”
“Tôi tin như thế”, ông Perlmutter nói tiếp. “Có một bằng chứng về việc khai mỏ chỉ từ thời cổ đại tại bang Kentucky, khai thác khoáng sản tại Pennsylvania và mica tại Bắc Carolina. Những khu mỏ đã được khai thác từ nhiều thế kỷ trước công nguyên. Sau đó, nhiều thợ mỏ đã biến mất một cách bí ẩn trong một thời gian rất ngắn, bỏ lại những dụng cụ và nhiều thứ khác chứng tỏ sự có mặt của họ ngay tại nơi họ mất tích, không kể đến những điêu khắc bằng đá, những bệ thờ và những ngôi mộ đá. Mộ đá là những tấm đá lớn nằm ngang xuất hiện thời tiền sử, được chống đỡ bằng hai hoặc nhiều trụ đá thẳng đứng”.
“Những thứ đó không do thổ dân Da đỏ Indian tạo ra sao?”
“Người Indian ở châu Mỹ ít khi sản xuất những đồ vật điêu khắc bằng đá và họ ít xây dựng; nếu có, cũng chỉ là những công trình kỷ niệm không phải bằng đá. Những kỹ sư mỏ, sau khi nghiên cứu những cổ vật được đào bới, đã phỏng đoán có trên bảy trăm triệu cân Anh loại đồng đỏ được khai thác và chở đi nơi khác. Chẳng ai tin người Indian có khả năng đó, vì đồng đỏ do những nhà khảo cổ phát hiện chỉ với một lượng nhỏ chừng vài trăm cân Anh dưới dạng những xâu chuỗi và đồ trang sức lòe loẹt. Người Indian cận đại còn làm rất ít những vật dụng bằng kim loại”.
“Nhưng không có chỉ dẫn nào về những căn hầm dưới đất với những chữ khắc bí ẩn sao?”
Ông Perlmutter im lặng một lúc. “Tôi không biết gì về chuyện này. Những thợ mỏ thời tiền sử đã lưu lại rất ít dấu hiệu về đồ gốm hoặc những thông tin bao quát về chữ khắc. Chỉ có vài loại chữ tốc ký và chữ tượng hình, và phần lớn không thể đọc được. Chúng ta chỉ có thể suy đoán chúng thuộc dân tộc nào: Ai Cập, Phénicie ở Tiểu Á, Na Uy hoặc thậm chí một dân tộc nào đó sớm hơn nữa. Có bằng chứng tại miền tây nam những khu mỏ của người Celt ở Tây Âu và tại bang Arizona cho thấy những cổ vật của dân La Mã được phát hiện bên ngoài thành phố Tucson vào cuối thế kỷ trước. Vậy ai có thể tuyên bố điều gì chứ. Hầu hết các nhà khảo cổ học đều không muốn tuyên bố một cách khập khiễng, càng không muốn thần thánh hóa những tiếp xúc xảy ra trước Columbus. Đơn giản chỉ vì họ không muốn phổ biến những chuyện đó”.
“Đó chỉ là sự mở rộng của một ảnh hưởng về văn hóa từ một dân tộc này đến một dân tộc khác qua sự tiếp xúc thôi mà”.
“Chính xác”.
“Nhưng tại sao?” Pitt hỏi, “Khi có nhiều chứng cứ như thế?"
“Các nhà khảo cổ là những kẻ cứng đầu”, ông Perlmutter trả lời. “Tất cả những chứng cứ đều xuất hiện từ Missouri. Người ta phải làm sáng tỏ chúng. Nhưng vì những nền văn hóa xa xưa của châu Mỹ không biết đến tác dụng của bánh xe mà chỉ dùng để làm đồ chơi, cũng không biết khai thác cái mâm xoay trong nghề làm đồ gốm, họ không chấp nhận việc truyền bá văn hóa”.
“Có thể vì một số lý do. Cho đến khi Cortez và những người Tây Ban Nha đến, tại châu Mỹ không có ngựa và bò. Thậm chí tôi còn biết lúc đó họ cho rằng phải mất sáu trăm năm để đi từ Trung Hoa đến châu Âu”.
“Tôi có thế nói gì nào?” ông Perlmutter thở dài. “Tôi chỉ là một gã say mê những câu chuyện hàng hải nhưng lại không thích viết những luận thuyết về những vấn đề tôi không biết rõ”.
“Nhưng ông sẽ tìm trong thư viện của mình bất kỳ mô tả nào về những căn hầm dưới lòng đất với những chữ viết không thể giải mã tại những nơi xa xôi trên Trái Đất từ nhiều ngàn năm trước chứ?”
“Tôi sẽ cố hết sức”.
“Cám ơn ông, ông bạn già. Tôi không thể đòi hỏi hơn”. Pitt đặt hết lòng tin vào người bạn cũ của gia đình đã từng đặt Pitt vào lòng khi anh còn là một cậu bé con và kể cho anh nghe những câu chuyện về biển.
“Còn có điều gì đó mà cậu không nói cho tôi biết về căn phòng phải không?” ông Perlmutter hỏi.
“Chỉ là một cổ vật điêu khắc”.
“Loại cổ vật gì thế?”
“Một cái hộp sọ bằng nham thạch màu đen, kích cỡ như thật”.
Ông Perlmutter im lặng một lúc. Sau cùng, ông nói, “Cậu có hiểu ý nghĩa của nó không?”
“Không có gì rõ rệt”, Pitt trả lời. “Tất cả những gì tôi có thể cho ông biết là nó không được tạo hình bằng những dụng cụ hiện đại. Những người cổ đại đã chạm trổ và đánh bóng một vật như thế với nham thạch đòi hỏi phải mất hàng chục thế hệ mới thực hiện nổi”.
“Câu nói đúng. Nham thạch là một loại thủy tinh lỏng - hay dung nham - từ núi lửa phun ra và nhanh chóng đông đặc. Trải qua nhiều ngàn năm, người ta dùng nó để làm đầu mũi tên, những con dao và những ngọn giáo. Nham thạch rất giòn. Muốn tạo ra một vật như thế quả là một kỳ công, đòi hỏi cả trăm năm mài dũa cẩn thận để không làm vỡ hoặc làm nứt nó”.
Pitt liếc nhìn cái thùng gỗ buộc trên cái ghế. “Đáng tiếc là ông không có mặt ở đây để xem nó, St. Julien”.
“Không cần đâu. Tôi biết nó trông giống cái gì rồi”.
Pitt hiểu. Ông Perlmutter nổi tiếng về chuyện đùa dai với các nạn nhân của mình khi ông ta chuẩn bị biểu diễn khả năng hiểu biết. Pitt không còn cách chọn lựa nào khác hơn là tự chui vào bẫy của ông già. “Ông phải tận mắt nhìn thấy mới biết nó đẹp như thế nào”.
“Có phải tôi đã quên không bảo cậu, cậu bé thân mến”, ông Perlmutter nói, từng tiếng rõ ràng như giễu cợt, “là tôi biết nơi khác cũng có một cái hộp sọ giống như thế?”
Chiếc Cessna Ultra V chạm đường băng phía đông của Căn cứ Không quân Andrews và tiếp tục chạy về phía những nhà chứa máy bay do không quân cho những cơ quan khác của chính phủ thuê. Những tòa cao ốc lo việc vận tải của đội hàng không NUMA nằm về phía đông bắc của căn cứ. Một chiếc xe van của NUMA với hai nhân viên an ninh đang chờ để đưa Giordino đến thành phố Alexandria và đưa Pat về chỗ ở mới và an toàn, nơi con gái cô đang đợi cô.
Pitt thận trọng mang cái thùng gỗ chứa cái hộp sọ nham thạch ra khỏi máy bay và đặt nó lên mặt đường băng. Anh không đi cùng Pat và Giordino mà ở lại phía sau.
“Ông không đi với chúng tôi à?”
“Không, một người bạn sẽ đón tôi tại đây”.
Cô nhìn anh với ánh mắt sâu lắng. “Bạn gái?”
Pitt bật cười. “Cô có tin đó là bố già của tôi không?”
“Không, tôi không nghĩ là tôi tin”, giọng cô châm chọc. “Bao giờ tôi gặp lại ông?”
Anh hôn nhẹ lên trán cô. “Sẽ sớm hơn cô tưởng”.
Rồi anh đóng cửa máy bay và nhìn theo chiếc xe tải nhỏ chạy về phía cổng chính căn cứ. Anh thư giãn và ngồi trên mặt đường băng, dựa lưng vào một bánh xe của bộ phận đáp của máy bay. Không khí mùa xuân tại Washington thật dễ chịu và tinh khiết với nhiệt độ không vượt quá mười sáu độ C. Anh đợi chừng mười phút thì một chiếc xe thật đẹp sơn màu xanh lục bạc với động cơ thật êm chạy vào và dừng lại bên cạnh chiếc máy bay.
Bộ khung của chiếc Rolls Royce đời Sylver Dawn xuất xưởng từ nhà máy Hooper & Công ty năm 1955 được thiết kế rất thấp, gần mặt đất, từ mũi đến đuôi xe. Với động cơ sáu xilanh 263 inch khối có thể đẩy chiếc xe lên tới vận tốc tối đa tám mươi bảy dặm mỗi giờ, nhưng với tốc độ đó, người ta cũng chỉ nghe tiếng bánh xe cọ xát mặt đường.
Hugo Mulholland, tài xế của ông St. Julien Perlmutter, bước xuống xe và chìa bàn tay ra. “Rất vui được gặp lại ông, thưa ông Pitt”.
Pitt toét miệng cười và bắt tay người tài xế. Ông ta chẳng hề tỏ ra lịch sự, nhưng Pitt không quan tâm. Anh biết Hugo đã trên hai mươi năm. Người tài xế vừa là phụ tá đắc lực của ông St. Julien thực sự là một người nhiệt tình và tận tụy, dù ông ta có một gương mặt khó đăm đăm, ít khi mỉm cười hoặc bày tỏ những dấu hiệu tương đắc với người khác. Ông ta đón cái túi căng phồng của Pitt và đặt nó vào cốp sau xe rồi bước lùi lại trong lúc Pitt đặt cái thùng gỗ bên cạnh cái túi. Rồi ông Mulholland mở cửa xe và đứng sang một bên.
Pitt chui vào xe và ngồi vào băng sau. Hai phần ba cái băng đã bị thân hình đồ sộ của ông Perlmutter choáng hết. “Chào st. Julien, trông ông giống cái hộp đàn viôlông gớm”.
“Giống cái hộp đàn viôlông bass hơn chứ”, ông Perlmutter ôm đầu Pitt giữa hai lòng bàn tay và hôn lên hai má anh. Người đàn ông khổng lồ đội một cái nón Panama trên cái đầu bạc trắng- Gương mặt đỏ au với cái mũi giống như một đóa hoa tuy-luýp nằm dưới cặp mắt màu xanh da trời. “Lâu quá nhỉ. Kể từ khi cô gái Á châu bé bỏng của Tổ chức Nhập cư và Nhập Quốc tịch dùng bữa tôi với chúng ta trong căn hộ là cái nhà chứa máy bay của cậu”.
“Cô bé Julia Marie Lee. Khoảng thời gian này năm ngoái”.
“Cô ấy ra sao rồi?”
“Lần cuối cùng tôi nghe nói Julia đã sang làm việc tại Hồng Kông”.
“Cô ấy không bao giờ ở đâu lâu, phải không?” Ông già có vẻ ngậm ngùi.
“Có lẽ cô ấy đến đó để sống gần mẹ”.
“Có thể”.
Pitt đổi đề tài. “Tôi đánh hơi thấy mùi thức ăn?”
“Cậu ăn lần cuối lúc nào?”
“Tôi chỉ điểm tâm với cà phê và uống thức uống nhẹ thay cho bữa trưa”.
Ông Perlmutter kéo một cái giỏ, loại dùng để đi picnic từ sàn xe và đặt nó lên cặp đùi kếch sù của mình, rồi ông lấy một cái khay từ lưng băng ghế trước. “Tôi đã chuẩn bị một bữa ăn nhỏ cho cậu trên đường đi tới Fredericksburg”.
“Đó là nơi chúng ta sẽ đến phải không?” Pitt hỏi vừa háo hức nhìn những thức ăn ngon lành trong cái giỏ.
Ông Perlmutter chỉ gật đầu trong lúc mở chai sâm banh Yellow Label Veuve Clicquot Ponsardin Brut. “Thích chứ?”
“Thứ tôi rất mê đấy”, Pitt gật gù.
Sau khi Mulholland được vẫy tay cho qua cổng chính, ông ta quẹo trái lên xa lộ Capital Beltway rồi lái về phía đông qua sông Potomac cho đến khi tới Springíỉeld, tại đây ông ta rẽ về hướng nam.
Trong khoang sau xe, ông Perlmutter đặt một bộ đồ ăn bằng bạc và bằng sứ lên cái khay và bắt đầu đặt những đĩa thức ăn lên, khởi đầu với món nấm xào lá lách, rồi món tôm nướng vỉ với nhiều bơ và phó mát, kết thúc với rượu vang đỏ ngâm táo.
“Một bữa tiệc thực sự, ông St. Julien ạ. Ít khi tôi được ăn một bữa sang trọng như thế này”.
“Tôi ăn dài dài”, ông Perlmutter nói vừa vỗ cái bụng bự cua mình. “Và đó là điểm khác nhau giữa cậu và tôi”.
Bữa ăn dã chiến kết thúc với một bình thủy nhỏ cà phê pha bằng khí nén. “Không có cônhắc à?” Pitt hỏi với giọng khối hài.
“Giờ này là quá sớm đối với một người ở cái tuổi sáu mươi để dùng rượu mạnh. Uống vào lúc xế chiều thích hơn”.
“Cái hộp sọ thứ nhì ông nói đang nằm ở đâu?”
“Fredericksburg”.
“Thì ông đã nói rồi mà”.
“Nó thuộc về một quí bà đã có tuổi rất dễ thương tên là Christine Mender-Husted. Bà cô của người phụ nữ này tìm thấy cái hộp sọ lúc bà theo chồng trong một chuyến săn cá voi, và tàu của họ bị kẹt giữa vùng băng giá trong suốt mùa đông tại Nam Cực. Một câu chuyện thật ly kỳ. Theo những gì gia đình thuật lại thì bà Rosanna Mender bị lạc trên khối băng trong một cơn bão tuyết. Đến lúc chồng bà, Thuyền trưởng Bradíbrd Mender, chủ nhân chiếc tàu săn cá voi Paloverdc và nhóm thủy thủ của ông cứu được bà, thì họ nhìn thấy một chiếc tàu vô chủ chạy buồm của Công ty Hàng hải Anh-Đông An. Vì tò mò, họ lên chiếc tàu và lục soát nó, phát hiện toàn bộ thủy thủ đoàn và hành khách đã chết. Trong một hầm chứa, họ tìm thấy một cái sọ người bằng nham thạch màu đen và những vật lạ lùng khác mà họ phải bỏ lại vì khối băng bắt đầu vỡ buộc họ phải gấp rút trở về tàu của mình”.
“Họ mang theo cái hộp sọ chứ?”
Ông Perlmutter gật đầu. “Đúng thế, chính bà Rosanna đã mang nó khỏi chiếc tàu vô chủ. Nó trở thành một vật gia truyền từ đó”.
Pitt lười biếng nhìn qua cửa sổ chiếc Rolls Royce về phía cánh đồng xanh mởn chạy dài của bang Virginia. “Thậm chí nếu cả hai cái hộp sọ giống hệt nhau, cũng chẳng có dấu hiệu nào cho chúng ta biết ai đã tạo ra chúng, và tại sao?”
“So sánh hai hộp sọ không phải là lý do tôi hẹn gặp quí bà Mender-Husted”.
“Vậy mục đích của ông là gì?”
“Suốt mười năm qua, tôi đã cố nài mua những ghi chép liên quan đến những ngày đi săn cá voi của Thuyền trưởng Mender. Kể cả những cuốn sổ ghi chép của chiếc tàu ông ta phục vụ. Nhưng vật quan trọng nhất trong bộ sưu tập của gia đình Mender, thứ mà tôi đã nài nỉ đến mỏi cả răng, là cuốn nhật ký của chiếc tàu vô chủ được tìm thấy trong khối băng”.
“Gia đình Mender cũng sở hữu vật đó?”
Ông Perlmutter cười như một con cáo. “Tôi hy vọng khi bà Mender-Husted nhìn thấy cái sọ của chúng ta, bà có thể thông cảm và chịu bán cho tôi cái sọ của bà cùng bộ sưu tập gia đình đã lưu giữ”.
“Ông thấy xấu hổ khi soi gương à ?”.
“Có chứ”, ông Perlmutter bật cười ranh mãnh. “Nhưng chuyện đó sẽ chóng qua thôi”.
“Có chỉ dẫn nào trong cuốn sổ nhật ký của chiếc tàu vô chủ, nơi đã tìm thấy cái hộp sọ không?”
Ông Perlmutter lắc đầu. “Tôi chưa được đọc cuốn nhật ký đó. Ông Mender-Husted khóa kỹ nó”.
Nhiều giây trôi qua, Pitt chìm đắm trong suy nghĩ. Anh không thể không tự hỏi có bao nhiêu hộp sọ được cất giấu trên khắp hành tinh này.
Một giờ rưỡi sau, chiếc Rolls Royce tới Fredericks-burg. Mulholland lái chiếc xe sang trọng lên một lối đi cong dẫn tới một ngôi nhà lộng lẫy xây theo kiểu thuộc địa trên khu đồi cao của thành phố nhìn xuống dòng sông Rappahannock và thung lũng chết chóc, nơi mười hai ngàn năm trăm người lính của các bang liên hiệp đã ngã xuống chỉ trong một ngày trong cuộc Nội Chiến. Tòa nhà được xây từ năm 1848, là một hình ảnh nhắc nhớ thời quá khứ.
“Nào, chúng ta đến rồi”, ông Perlmutter nói trong lúc Mulholland mở cửa xe.
Pitt đi vòng ra sau xe, giở cái nắp capô lên và lấy cái thùng gỗ đựng cái hộp sọ. “Câu chuyện sẽ hấp dẫn đây”, anh nói trong lúc họ lên bậc cấp và kéo sợi dây chuông gọi cửa.
Bà Christine Mender-Husted có thể đã đạt tới cái tuổi của một bà nội của bất kỳ một chàng trai nào. Nhưng bà vẫn còn nhanh nhẹn khi bước ra đón tiếp lúc họ đến. Mái tóc bạc trắng, một nụ cười thân thiện hiếu khách, gương mặt với những đường nét thánh thiện. Những cử chỉ cũng nhanh nhẹn như đôi mắt màu nâu sáng lấp lánh của bà. Bà chào ông Perlmutter với cái bắt tay nồng nhiệt và gật đầu khi ông này giới thiệu Pitt.
“Xin mời vào”, giọng bà thật ngọt ngào. “Tôi đang đợi các vị. Hai vị dùng trà chứ?”
Hai người đàn ông đồng ý và được đưa tới một phòng đọc sách trần rất cao, và ngồi xuống hai cái ghế bọc da. Sau đó, một cô gái — được giới thiệu là con gái của một người láng giềng có nhiệm vụ giúp những việc vặt trong nhà — mang trà ra. Bà Christine quay sang ông Perlmutter.
“Nào, St Julien, như tôi đã nói với ông qua điện thoại, tôi vẫn không sẵn sàng bán những kho báu của gia đình đâu”.
“Tôi vẫn cho phép sự hy vọng không bao giờ được rời khỏi tâm trí”, ông Perlmutter nói, “nhưng tôi đưa Dirk tới đây vì một lý do khác”. Ông quay sang Pitt. “Cậu vui lòng để phu nhân Mender-Husted xem qua món đồ vật trong cái hộp gỗ chứ?”
“Hãy gọi tôi là Christine”, bà nói. “Họ thời con gái và họ lúc đã kết hôn của tôi gộp lại nghe dài dòng quá”.
“Gia đình vẫn thường xuyên sống tại Virginia chứ ạ?” Pitt hỏi, tạo không khí trò chuyện lúc anh mở cái chốt của cái thùng gỗ chứa hộp sọ lấy từ khu mỏ Pandora.
“Dòng họ chúng tôi có sáu thế hệ sống tại California, nhiều người bây giờ vẫn còn sống trong vùng San Francisco. Riêng tôi, vì đã kết hôn với một ông đến từ Virginia và đã phục vụ dưới ba đời Tổng thống với vai trò cố vấn đặc biệt”.
Pitt chợt im lặng, đôi mắt anh chạm phải một cái hộp sọ màu đen bằng nham thạch đặt trên mặt lò sưởi đang cháy chập chờn. Rồi, thật chậm rãi, như bị thôi miên, anh mở nắp cái thùng gỗ. Sau đó anh lấy cái hộp sọ ra, bước lại gần lò sưởi và đặt nó bên cạnh bản sao của nó trên mặt lò sưởi.
“Ô kìa!” bà Christine thở hổn hển. “Tôi chưa bao giờ nghĩ lại có một cái khác nữa”.
“Tôi cũng thế”, Pitt nói, vừa ngắm nghía hai cái hộp sọ màu đen. “Tôi có thể nói, khi quan sát bằng mắt thường, người ta không thể nào thấy chỗ khác nhau của chúng. Chúng giống nhau cả về hình dáng lẫn chất liệu cấu tạo. Thậm chí kích thước cũng y hệt nhau. Như thể chúng từ một khuôn đúc mà ra”.
“Xin cho tôi biết, thưa bà Christine”, ông Perlmutter nói với tách trà trong lòng bàn tay, “câu chuyện lạ lùng mà bà cố của bà đã truyền lại về cái sọ này”.
Bà nhìn ông Perlmutter như thể ông ta vừa đặt một câu hỏi ngốc nghếch. “Ông cũng biết như tôi, là nó được tìm thấy trên một chiếc tàu có tên là Madras, bị mắc kẹt trong băng tại Nam Cực. Chiếc tàu đi từ Bombay của Ấn Độ đến Liverpool, Anh quốc, với ba mươi bảy hành khách, một thủy thủ đoàn bốn mươi người và nhiều hàng hóa khác gồm trà, tơ lụa, hương liệu và đồ sứ. Bà cố tôi tìm thấy cái sọ người trong một hầm chứa chất đầy những cổ vật khác”.
“Điều tôi muốn nói là người ta có tìm thấy chỉ dẫn nào cho biết vì sao những cổ vật lại có mặt trên tàu Madras hay không”.
“Theo những gì tôi biết thì cái hộp sọ và những vật dị thường khác không được đưa lên tàu tại Bombay. Chúng được thủy thủ đoàn và hành khách phát hiện khi chiếc tàu này dừng lại để lấy nước tại một đảo hoang trong chuyến hành trình - Các chi tiết đều được ghi trong cuốn nhật ký”.
Pitt ngập ngừng. Anh sợ phải nghe điều tồi tệ nhất, và lặp lại, “Bà nói cuốn nhật ký có ghi điều đó?”
“Thuyền trưởng Mender không giữ nó. Ước muốn duy nhất của thuyền trưởng tàu Madras là trao trả nó cho những chủ nhân chiếc tàu. Bà cố tôi đã gởi nó đến Liverpool bằng đường bưu điện”.
Pitt có cảm giác như anh chạy đâm bổ vào một bức tường gạch trong một con đường hẹp. “Bà biết những chủ nhân chiếc tàu Madras đã gởi một đoàn thám hiểm đi tìm chiếc tàu vô chủ và theo dấu cuộc hành trình của nó đến nơi xuất hiện những cổ vật đó?”
“Những chủ nhân nguyên thủy của chiếc tàu - như tổ tiên tôi biết sau đó - đã bán Công ty thương mại trước khi Thuyền trưởng Mender gởi cuốn nhật ký cho họ”, bà Christine giải thích. “Những người chủ mới của công ty đã gởi hai đoàn thám hiểm trên hai chiếc tàu khác nhau đi tìm chiếc tàu Madras, nhưng cả hai chiếc tàu đó đều mất tích cùng với những thủy thủ đoàn”.
“Vậy những ghi chép đều thất lạc?” Pitt hỏi, vẻ thất vọng.
Đôi mắt bà Christine sáng lên. “Tôi không nói như thế”.
Anh nhìn người phụ nữ luông tuổi, cố đọc một điều gì đó trong mắt bà. “Nhưng...”.
“Bà cố tôi là một phụ nữ rất tinh tế”, bà ngắt lời Pitt. “Bà cụ đã chép lại một bản sao cuốn nhật ký của tàu Madras trước khi chồng bà gởi nó sang Anh quốc”.
Với Pitt, tiết lộ này chẳng khác gì mặt trời vừa ló ra khỏi những đám mây đen. “Bà vui lòng cho phép tôi được đọc nó chứ?”
Bà Christine không trả lời ngay. Bà bước lại một bàn giấy cũ dành cho các thuyền trưởng và ngước nhìn một bức tranh, khung bằng gỗ sồi, trên tường trước mặt cái bàn giấy. Bức tranh vẽ một người đàn ông ngồi trong một cái ghế bành, hai cánh tay và hai cẳng chân vắt tréo nhau. Và dù khuôn mặt bị một bộ râu rậm che gần hết, vẫn cho thấy đó là một người đàn ông đẹp trai. Ông ta có một thân hình to lớn, thân thể và đôi vai choáng đầy cái ghế. Người phụ nữ đứng sau lưng, với một bàn tay đặt lên vai ông ta, có thân hình nhỏ bé và đôi mắt màu nâu rất sáng. Cả hai mặc những trang phục của thế kỷ XIX.
“Thuyền trưởng Bradford và bà Rosanna Mender”, bà Christine nói với giọng nuối tiếc, như thể bà đang lạc vào quá khứ mà bà chưa được sống bao giờ. Rồi bà quay nhìn ông Perlmutter. “St. Julien, tôi nghĩ đã tới lúc rồi. Tôi đã cất giữ cho riêng mình những giấy tờ và thư từ của họ quá lâu. Tốt nhất là những thứ đó cần được người khác đọc để biết tới lịch sử họ đã sống. Bộ sưu tập nay thuộc về ông với cái giá ông đã đề nghị”.
Ông Perlmutter bước khỏi cái ghế, nhẹ nhàng như thể ông ta có thân hình của một lực sĩ điền kinh, và ông ôm chặt bà Christine. “Xin cám ơn bà, phu nhân thân mến. Tôi hứa tất cả những thứ này sẽ được cất giữ và bảo quản trong những hồ sơ lưu trữ để những sử gia sau này tham khảo”.
Bà Christine bước lại, đứng giữa Pitt và cái lò sưởi. “Và đối với ông, thưa ông Pitt, tôi xin trao cái hộp sọ nham thạch cho ông. Giờ thì ông đã có một đôi xứng hộ, ông dự trù sẽ làm gì với chúng?”
“Trước khi chúng được gởi cho một viện bảo tàng về những đồ cổ, chúng sẽ được nghiên cứu và phân tích trong một phòng thí nghiệm để xem người ta có thể xác định niên đại và gắn nó với một nền văn minh cổ nào”.
Bà nhìn cái hộp sọ của mình một lúc lâu trước khi thở dài. “Tôi không nỡ nhìn nó ra đi, nhưng tôi biết nó phải được quan tâm một cách hợp lý để xác định giá trị của nó đứng đắn hơn. Ông biết đấy, người ta luôn luôn nhìn nó như một điềm triệu báo trước những bất hạnh và thảm kịch. Nhưng từ giây phút bà cố Rosanna của tôi mang nó từ khối băng đang tan lên tàu của chồng bà, vật này chỉ đem lại may mắn và phúc lành cho gia tộc Mender”.
Trong lúc trở lại Washington, Pitt đọc những ghi chép trong cuốn nhật ký của tàu Madras, do chính tay là Rosanna Mender chép lại từ cuốn sổ ghi chép bìa da lấy từ chiếc tàu vô chủ. Dù chiếc Rolls Royce chạy thật êm, thỉnh thoảng Pitt vẫn phải ngước lên nhìn ra ngoài xa để tránh bị say xe.
“Có gì hấp dẫn không?” ông Perlmutter hỏi Pitt trong lúc Mulholland lái xe lên cầu George Mason bắc ngang sông Potomac.
Pitt rời mắt khỏi cuốn nhật ký. “Có đấy, giờ thì chúng ta đã biết chính xác nơi đoàn thủy thủ tàu Madras phát hiện cái hộp sọ, và nhiều, rất nhiều điều khác nữa”.
Chiếc Rolls đến một điểm dừng cạnh một nhà chứa máy bay - mà Pitt gọi là nhà - trong một chỗ khuất tại Phi trường Quốc tế Washington. Cái nhà chứa máy bay trông già khọm, được xây từ năm 1936, có vẻ như nó đã bị bỏ hoang từ lâu. Cỏ dại che kín chung quanh những bức tường nhăn nhúm của nó, và những cửa sổ đều bị bít kín bằng những tấm ván.
Ngay khi Hugo vừa dừng xe, hai người đàn ông vũ khí đầy mình đột ngột hiện ra như vừa mọc lên từ một nơi nào đó, đứng hai bên hông xe với những khẩu súng tiểu liên tự động sẵn sàng nhả đạn. Một người nghiêng xuống cửa xe, trong lúc người kia đứng đối mặt với Mulholland, như để canh chừng ông ta giở trò nguy hiểm. “Trong các vị có ai là ông Dirk Pitt không?” Người đàn ông đang nhìn vào trong xe hỏi.
“Tôi đây”.
Người lính gác nhìn kỹ anh một lúc. “Giấy tờ, thưa ông”. Đó không phải là một yêu cầu mà là một mệnh lệnh.
Pitt chìa cái thẻ NUMA của anh ra, người lính gác nhấc vũ khí của mình lên và mỉm cười. “Rất tiếc đã làm phiền, nhưng chúng tôi được lệnh bảo vệ ông và tài sản của ông”.
Pitt biết những người đàn ông này là những nhân viên bảo vệ an ninh liên bang. Họ được huấn luyện rất chuyên nghiệp để bảo vệ những viên chức chính phủ có cuộc sống luôn bị đe dọa. “Tôi biết ơn sự quan tâm và cống hiến của các bạn”.
“Còn hai quí ông này?”
“Bạn tốt cả”.
Người nhân viên an ninh đưa cho Pitt cái remote báo động nhỏ. “Ông vui lòng mang cái này bên mình trong mọi lúc khi ông có mặt tại nhà. Nếu gặp bất kỳ dấu hiệu nguy hiểm nào, dù nhỏ nhất, hãy bấm cái nút báo động. Chúng tôi sẽ đáp ứng ngay trong hai mươi giây”.
Người nhân viên an ninh không nói tên anh ta, và Pitt cũng không hỏi.
Mulholland mở cửa xe, và Pitt lấy cái túi của anh. Đến lúc đó, anh nhận ra hai nhân viên an ninh đã biến mất. Anh nhìn quanh nhà chứa máy bay và dõi mắt qua cánh đồng trống bên cạnh đường bay chính, vẫn không thấy bóng hai nhân viên an ninh, như thể họ chưa từng xuất hiện trước đó. Pitt chỉ có thể đoán họ ẩn mình dưới mặt đất.
“Tôi sẽ bảo Hugo lái xe tới Tổng hành dinh NUMA và đưa hai cái hộp sọ nham thạch cho họ”, ông Perlmutter nói.
Pitt đặt bàn tay lên vai ông Mulholland. “Ông cẩn thận mang chúng đến phòng thí nghiệm trên tầng sáu và giao nó cho nhà khoa học có nhiệm vụ lo việc này nhé. Tên ông ta là Harry Matthews”.
Mulholland chỉ nhếch mép cũng đã giống người khác nhe răng cười. “Tôi sẽ không làm rơi chúng đâu”.
“Tạm biệt, ông St. Julien. Và cám ơn ông”.
“Khỏi cần, con trai. Chuẩn bị ăn tối đi”.
Pitt nhìn theo khi chiếc Rolls lao ra con đường đất dẫn tới một cánh cổng an ninh của phi trường, kéo theo một dải bụi phía sau cản xe. Anh nhìn lên một trụ đèn, và thấy một camera an ninh nhỏ xíu gắn trên đỉnh. Có lẽ điều đó làm hài lòng sự tò mò của anh vì nó giúp anh biết nơi hai nhân viên an ninh ẩn nấp.
Với một dụng cụ nhỏ điều khiển từ xa, Pitt ngăn sự hoạt động của hệ thống báo động rải khắp nhà chứa máy bay, rồi anh mở một cánh cửa có vẻ như đã đóng chặt từ Thế Chiến II. Anh khoác cái túi lên vai và bước vào. Bên trong tối tăm và phủ kín bụi bặm. Không một góc nào có ánh sáng rọi tới. Anh đóng cánh cửa lại và ấn một công tắc đèn, ánh sáng tỏa khắp nhà chứa máy bay.
Sàn nhà, được sơn màu trắng đục, gần như bị phủ kín bởi những dãy xe cổ điển có đến năm mươi chiếc đủ màu sắc bóng loáng. Ngoài ra còn có một máy bay phản lực của Đức từ Thế Chiến II và một máy bay ba động cơ hiệu Ford, ra đời từ những năm 1930 và có tên là Con Ngỗng Thiếc. Một chiếc xe điện đặt trên hai đường ray dọc theo một bức tường. Và như để góp thêm vào câu chuyện, trong phòng còn có một chiếc xuồng bằng gang có gắn máy ở đuôi và một cái bè có buồng lái và cột buồm. Toàn thể bộ sưu tập được canh gác bởi một cái trụ gỗ khắc hình vật tổ của người Da Đỏ Haida.
Pitt dừng lại để đảo mắt nhìn khắp bộ sưu tập đa dạng của mình. Hài lòng vì mọi thứ vẫn nằm đúng chỗ, anh leo lên cái thang hình xoắn ốc bằng sắt dẫn lên căn hộ của anh nằm ở tầng trên nhà chứa máy bay.
Bên trong trông chẳng khác gì một bảo tàng ngành hàng hải. Những hộp kính chứa những chiếc tàu có bánh lái bằng gỗ và những hộp la bàn, những chuông của tàu biển, những nón trùm đầu bằng đồng đỏ và đồng thau dành cho thợ lặn. Một phòng khách, phòng làm việc, phòng ngủ nối liền buồng tắm, một căn bếp chung với phòng ăn, tất cả chiếm một diện tích không hơn một ngàn một trăm bộ vuông.
Dù mệt nhọc hơn anh tưởng, Pitt vẫn mở cái túi quần áo và ném những quần áo bẩn vào cái máy vừa giặt vừa sấy khô. Sau đó, anh vào phòng tắm và tắm dưới vòi sen thật lâu, vặn cái vòi nước nóng trên một bức tường rồi nằm ngửa thư giãn trên sàn phòng, đôi chân duỗi thẳng vào một góc. Đang nhâm nhi một ly tequila thì chuông cửa trước phòng khách báo có người đến.
Pitt nhìn vào cái màn hình chiếc TV đặt giữa hai kệ sách, và nhận ra ông phó giám đốc NUMA, Rudi Gunn, đang đứng trên ngưỡng cửa tầng dưới. Anh nhấn một cái nút trên cái remote, và nói, “Mời vào, Rudi, tôi đang ở tầng trên”.
Gunn leo lên cầu thang và bước vào căn hộ. Là một người nhỏ thó với mái tóc lưa thưa và cái mũi La Mã, nhưng ông Gunn lại đeo một cặp kính thật dày có gọng sừng, ông là một cựu hạm phó trong Hải quân và là một học viên hàng đầu trong Trường Hàng hải. Hiện tại, Gunn rất được kính trọng trong số những nhân viên NUMA vì sự thông minh cao độ của ông. Đôi mắt to màu xanh nước biển càng to hơn sau cặp kính dày cộm.
“Hai anh chàng với những khẩu tiểu liên tự động như muốn nuốt sống tôi cho tới khi tôi chứng tỏ mình là một người bạn của cậu từ NUMA họ mới tỏ ra tử tế cho”.
“Ý tưởng của Đô đốc Sandecker đấy”.
“Tôi biết ông ấy có thuê một nhóm an ninh, nhưng tôi không biết bằng cách nào họ xuất hiện tài tình như vậy. Rồi họ biến mất như một làn khói”.
“Họ là những người hành động rất hiệu quả”, Pitt nói.
“Tôi được báo cho biết đại khái tình huống của cậu tại Telluride”, ông Gunn nói, ngồi thu mình trong một cái ghế. “Câu nói đang lan truyền cả thị trấn đó lúc này là mạng sống của cậu không đáng giá hai xu”.
Pitt mang ra cho ông ta một ly trà đá lấy từ nhà bếp. Ông Gunn ít khi uống bất kỳ thứ gì có chất cồn, trừ những dịp đặc biệt, mà cũng chỉ uống bia. “Nhưng không dành cho những tay gà mờ của bọn Đệ Tứ Đế quốc đâu. Tôi chắc chắn bọn đó không bao giờ đủ sức tống tôi vào một nấm mồ”.
“Tôi muốn nhúng tay vào vụ này”, ông ta dừng lại và uống hết nửa ly trà đá. “Tôi đã gặp vài người bạn tại CIA”
“Điều gì khiến CIA hứng thú với một tội ác xảy ra trong nước chứ?”
“Họ nghi ngờ những tên sát nhân đã gây khó khăn cho cậu tại khu mỏ Pandora có thể là một bộ phận của một tổ chức tội ác quốc tế”.
“Bọn khủng bố?” Pitt hỏi.
Gunn lắc đầu. “Đó không phải là một tôn giáo hoặc bọn cúng bái cuồng tín. Nhưng ý đồ của chúng vẫn còn là một bí mật. Nhưng nhân viên của CIA và Cảnh sát Quốc tế đều chưa thể xâm nhập tổ chức này. Tất cả những cơ quan tình báo hải ngoại đều biết nó tồn tại. Nhưng nó xuất phát từ đâu hoặc ai điều khiển nó thì họ chưa có đầu mối. Những tên giết mướn của chúng xuất hiện, như đã xảy ra tại Thị trấn Telluride, sát hại những nạn nhân của chúng, rồi biến mất”.
“Ngoài chuyện giết người, chúng còn dính líu đến loại tội ác nào khác?”
“Điều này cũng còn là một bí ẩn”.
Đôi mắt Pitt nheo lại. “Có ai nghe nói về một tổ chức tội ác nào không có động cơ đâu?”
Ông Gunn nhún vai. “Tôi biết điều đó nghe có vẻ điên rồ, nhưng dù thế nào cũng phải có một đầu mối chứ?”
“Hiện đang có hai tên cặn bã tại Telluride để thấm vấn mà”.
Cặp lông mày ông Gunn nhướng lên, “Cậu không nghe gì à?” “Nghe cái gì?”
“Viên Cảnh sát trưởng Thị trấn Telluride, bang Colorado - tên là Eagan - vừa gọi điện cho Đô đốc Sandecker một giờ trước. Những tù nhân đều đã chết”.
“Mẹ kiếp!” Pitt nổi cáu. “Tôi đã lưu ý lão Cảnh sát trưởng phải lục tìm những viên cyanide giấu trong mình hai gã đó”.
“Không phải do độc dược. Theo lời Eagan, một quả bom được cài trong xà lim nhà tù. Cả hai tên đều tan xác cùng với một lính gác đứng gần đó”.
“Đối với bọn này, mạng sống con người rẻ như bèo”, Pitt chua chát nói.
“Tôi cũng thấy thế”.
“Bước tiếp theo là gì?”
“Ông Đô đốc gởi cho cậu một dự án về địa chất dưới biển sâu ngay giữa Thái Bình Dương, ở đó cậu tha hồ an tâm về mọi mưu toan ám sát nhé”.
Pitt cười đau khổ. “Tôi không đi”.
“Ông ấy biết cậu sẽ nói như vậy mà”, Gunn cười trả. “Ngoài ra, cậu còn là một nhân vật quan trọng cho việc điều tra. Theo tình hình, cậu đã tiếp cận bọn sát nhân nhiều hơn bất kỳ ai khác, và còn sống để nói về điều đó. Những điều tra viên trình độ cao muốn nói chuyện với cậu. Tám giờ sáng mai..”. Ông ta dừng lại để đưa cho Pitt một mảnh giấy, “Đây là địa chỉ, cậu hãy tới đó. Lái xe của cậu vào trong ga ra, mở cửa và đợi hướng dẫn”.
“Cả James Bond và Jack Ryan cũng đến chứ?”
Ông Gunn nhăn mặt, “Nhảm nhí”, ông uống cạn ly trà đá và bước ra lan can nhìn xuống bộ sưu tập khác thường ở tầng dưới. “Chuyện đó hấp dẫn thật”.
“Cái gì?”
“Cậu gọi bọn giết mướn đó là tay chân của Đệ Tứ Đế quốc”.
“Chúng tự xưng, không phải tôi phịa ra”.
“Bọn Đảng viên Quốc xã Đức gọi thế giới lý tưởng gớm ghiếc của chúng là Đệ Tam Đế chế”.
“Ơn Trời, hầu hết những đảng viên già của Quốc xã Đức đều đã chết”, Pitt nói, “và Đệ Tam Đế chế cũng chết theo chúng”.
“Cậu đã bao giờ học một lớp tiếng Đức chưa?” ông Gunn hỏi.
Pitt lắc đầu, “Tôi chỉ biết những từ ja, nein và auf Wiedersehen”.
“Vậy thì cậu không biết trong tiếng Anh Đệ Tam Đế chế có nghĩa là Đệ Tam Đế quốc”.
Pitt trở nên căng thẳng, “Ông không ngụ ý bọn Đệ Tứ này là những đảng viên Đức Quốc xã mới chứ?”
Ông Gunn sắp sửa trả lời thì một tiếng động khủng khiếp dội tới giống như tiếng máy bay phản lực khi vượt bức tường âm thanh, tiếp theo là những âm thanh xé tai của kim loại va chạm nhau, rồi những vạt lửa màu cam bùng lên, tràn vào nhà chứa máy bay trước khi biến mất sau bức tường đối diện. Hai giây sau, một tiếng nổ làm rung chuyển nhà chứa máy bay và ban công bằng sắt của nó. Bụi từ mái kim loại rơi xuống làm hoen ố những chiếc xe bóng loáng và làm xỉn nước sơn của chúng. Sau tiếng nổ là sự im lặng kỳ quặc càng lúc càng nặng nề.
Rồi tiếng súng nổ dồn dập và tiếng nổ nhanh chóng đáp trả của một khẩu súng khác. Cả hai người đàn ông đứng tê liệt, bấu chặt ban công.
Pitt là người lên tiếng đầu tiên. “Những gã vô lại!” Anh rít lên.
“Lạy Chúa, chuyện gì thế?” ông Gunn hỏi, chưa hết sốc.
“Bọn khốn. Chúng bắn một tên lửa vào nhà chứa máy bay của tôi. Thứ duy nhất đã cứu chúng ta không bị tan xác là nó không nổ. Đầu đạn xuyên thủng bức vách mỏng bằng tôn và thoát ra qua vách đối diện, ngòi nổ tên lửa không chạm phải vật cứng nên không phát nổ”.
Cánh cửa bật tung ra và hai nhân viên an ninh xông vào tầng dưới nhà chứa máy bay, nép mình dưới cái cầu thang hình trôn ốc, “Các ông có bị thương không?” một người hỏi vọng lên.
“Chỉ bị rung lắc thôi”, Pitt đáp. “Nó đến từ hướng nào thế?”
“Một dụng cụ phóng tên lửa cầm tay từ một máy bay trực thăng phóng ra”, người nhân viên an ninh trả lời. “Rất tiếc là chúng tôi đã để chiếc trực thăng đến quá gần. Chúng tôi bị lừa vì dấu hiệu nhận dạng... nó là biểu tượng của một đài truyền hình địa phương. Tuy nhiên, chúng tôi đã bắn rơi nó. Nó đâm đầu xuống dòng sông”.
“Các cậu tài thật”, Pitt thực sự khen ngợi.
“Chắc chắn những ông bạn của ông đã lỗ vốn trong vụ này, phải không?”
“Quá đúng. Rõ ràng chúng đem tiền đi đốt”.
Người nhân viên an ninh quay sang đồng nghiệp. “Chúng ta sẽ nới rộng thêm vành đai phòng vệ”. Rồi anh ta ngó quanh nhà chứa máy bay. “Không hư hại gì chứ?” Anh ta hỏi Pitt.
“Chỉ có hai lỗ thủng trên những bức vách, đủ lớn để thả diều qua đó”.
“Chúng ta sẽ nhanh chóng thấy họ đến sửa chữa thôi. Còn gì khác không ạ?”
“Có đấy”, Pitt nói, trở nên tức giận khi trông thấy những lớp bụi phủ trên những chiếc xe đắt tiền của anh. “Vui lòng gọi giúp một toán làm vệ sinh những thứ này”.
“Có lẽ cậu nên xem lại dự án Thái Bình Dương”, ông Gunn nói.
Hình như Pitt không nghe ông ta nói. “Đệ Tứ Đế chế, Đệ Tứ Đế quốc, dù chúng là gì đi nữa thì chúng cũng đã phạm một sai lầm rất nghiêm trọng”.
“Ồ?” ông Gunn nói, vừa nhìn hai bàn tay đang run rẩy của mình như thể chúng thuộc về một người nào khác. “Sai lầm gì vậy?”
Pitt nhìn lên những lỗ thủng trên hai bức vách nhà chứa máy bay. Một ánh mắt ma mãnh, lạnh lùng lóe lên từ đôi mắt màu xanh lục óng ánh của anh, một thứ ma mãnh ông Gunn từng trông thấy ít nhất trong bốn phần khác, và ông rùng mình.
“Cho đến nay, những tên vô lại đã giở đủ trò buồn cười”, Pitt nói, miệng vặn vẹo thành một nụ cười méo xệch. Bây giờ đến lượt tôi”.
Pitt nhìn những máy camera an ninh dùng để thu hình trước khi lên giường, và anh nắm được hoạt động của hai nhân viên an ninh bảo vệ anh. Sử dụng những bản đồ về hệ thống đường hầm dưới lòng đất trong khu vực sân bay, họ đã phát hiện một ống cống bằng bêtông đường kính rộng đến tám bộ dùng để thoát nước mưa và tuyết tan thành nước chảy xuống từ những đường băng máy bay, đường dành cho xe tắcxi và khu hành khách, đường hầm bêtông này dài đến chín chục bộ chạy ngang nhà chứa máy bay của Pitt. Tại một nơi tiếp cận đường hầm, nơi bị cỏ che kín, những nhân viên an ninh đã tạo một điểm quan sát được ngụy trang kín đáo.
Pitt định mang cà phê và bánh sandwich đến cho họ, nhưng đó chỉ là một ý nghĩ thoáng qua. Điều cuối cùng anh cần làm ngay là thu xếp chỗ ẩn của họ được an toàn.
Anh thay đổi quần áo và nhanh chóng kết thúc bữa ăn sáng gọn nhẹ thì một chiếc xe tải chở đầy những thứ để sửa chữa hai chỗ hỏng trên vách nhà chứa máy bay dừng lại trên con đường đất bên ngoài. Một chiếc xe van không dấu hiệu đến ngay phía sau xe tải và nhiều phụ nữ mặc đồng phục bước ra. Một người thợ sửa chữa bước đến anh.
“Ông Pitt phải không?”
“Vâng”.
“Chúng tôi sẽ vào để sửa chữa và thu dọn những đổ nát và rút lui trong thời gian nhanh nhất”.
Pitt theo dõi với sự khâm phục trong lúc những người thợ bắt đầu lấy từ xe tải những tấm kim loại tương tự như những tấm bị rỉ sét trên những vách nhà chứa máy bay. “Các ông tìm những thứ này ở đâu thế”, Pitt hỏi và đưa tay chỉ.
“Ông phải ngạc nhiên vì chính phủ đã giữ lại những vật liệu tháo dỡ từ những công trình xây dựng cũ”, người đốc công trả lời. “Những gì ông thấy ở đây được lấy từ mái một nhà kho cũ tại Capital Heights đấy”.
“Chính phủ của chúng ta xem ra nhạy bén hơn tôi tưởng nhiều”.
Anh để họ làm việc và chuẩn bị ngồi vào sau tay lái chiếc xe jeep Chero Kee sơn màu ngọc lam của NUMA thì một chiếc Sting Ray Corvette mui trần màu đen dừng lại trên con đường đất. Giordino ló đầu ra khỏi cửa xe bên ghế ngồi dành cho khách, hét lớn, “Cần quá giang không?”
Pitt chạy lại chỗ chiếc Corvette và chui vào, co chân lại, thu mình trên chiếc ghế bọc da. “Cậu không báo trước sẽ đi qua chỗ tôi”.
“Tôi vừa được báo phải đến chỗ hẹn đó với cậu vào lúc tám giờ. Nên tôi nghĩ chúng ta có thể đi chung một xe”.
“Cậu tử tế lắm, Al”, Pitt vui vẻ nói. “Tôi bất chấp họ nói gì về cậu”.
Giordino quẹo chiếc xe khỏi đại lộ Wisconsin, vào một đường nhỏ trong khu Glover Park gần Đài Thiên văn Hải quân. Con đường chỉ dài bằng chiều dài một khối nhà, rợp bóng mát dưới một hàng cây du cả trăm tuổi. Trừ một ngôi nhà ẩn kín phía sau những bờ giậu cao, cả khối nhà đều vắng vẻ, không có chiếc xe nào đậu, không một bóng người tản bộ trên vỉa hè.
“Cậu chắc chắn chúng ta không đến sai chỗ chứ?” Giordino hỏi.
Pitt nhìn qua kính chắn gió và chỉ. “Chúng ta đang ở trên con đường mang đúng tên đó, và vì chỉ có một ngôi nhà trong tầm nhìn, nên chắc chắn là nơi đó rồi”.
Giordino quẹo chiếc xe qua lối vào thứ nhì của một lối đi dành cho xe, rồi chạy thẳng đến phía sau ngôi nhà, thay vì đậu xe tại mặt tiền. Pitt quan sát tòa nhà ba tầng xây bằng gạch trong lúc Giordino lái xe về phía cái gara nằm biệt lập với tòa nhà về phía sau. Có vẻ như tòa nhà được xây dựng cho một nhân vật quan trọng và giàu có nào đó, vào một lúc nào đó sau cuộc Nội chiến. Những bãi cỏ và tòa nhà hài hòa nhau không thể chê vào đâu được. Nhưng tất cả những màn cửa đều buông xuống, như thể những người cư ngụ trong nhà đều đi vắng trong một thời gian dài.
Chiếc Corvette lăn bánh vào gara đã mở sẵn cả hai cánh cửa. Bên trong trống trơn, trừ những dụng cụ làm vườn bỏ vương vãi, một máy xén cỏ và một cái băng để bào gỗ cũ như thể đã được dùng từ vài chục năm. Giordino tắt động cơ xe rồi quay sang Pitt.
“Sao, làm gì bây giờ?”
Câu trả lời của Pitt chưa bật ra thì hai cánh cửa gara đã tự động đóng lại. Vài giây sau, chiếc xe chậm rãi hạ xuống khỏi sàn nhà xe và lọt vào một thang máy. Trừ một âm thanh như tiếng ruồi đập cánh, ngoài ra không còn tiếng động nào khác. Pitt cố ước đoán tốc độ và khoảng cách rơi xuống của chiếc xe, nhưng tất cả đều trở nên tối tăm. Sau khi chiếc thang máy xuống thấp khoảng gần một trăm bộ theo phỏng đoán của Pitt, thang máy nhẹ nhàng dừng lại. Một chùm ánh sáng lóe lên và hai người nhận ra họ đang ở trong một nhà đậu xe đã có nhiều xe đậu sẵn. Giordino cho chiếc Corvette vào một chỗ trống giữa một chiếc jeep Chero Kee màu ngọc lam với dòng chữ NUMA sơn trên cửa trước và một chiếc limousine hiệu Chrysler. Anh biết chiếc xe jeep là của Đô đốc Sandecker. Ông ta đòi hỏi mọi phương tiện vận tải bốn bánh của NUMA đều phải là những chiếc xe tiện dụng, vì vậy chúng có thể được sử dụng trong mọi thời tiết xấu nhất.
Một lính hải quân đứng gác tại lối vào dẫn tới một cánh cửa bằng kim loại. “Tôi nghĩ chiếc xe sẽ an toàn ở đây”, Giordino nói liếng thoắng, “hay tôi phải khóa nó lại?”
“Lo xa dữ!” Pitt trả lời, “nhưng tôi có cảm giác nó sẽ không đi đâu cả”.
Họ ra khỏi xe và bước lại phía người lính gác mặc đồng phục, trên cánh tay áo có ba sọc trắng, dấu hiệu của cấp bậc trung sĩ. Anh ta gật đầu chào họ. “Chắc chắn các ông là Dirk Pitt và Albert Giordino rồi. Các ông là những người đến sau cùng đấy”.
“Cậu không xem giấy tờ của chúng tôi à?” Giordino hỏi.
Người lính gác mỉm cười. “Tôi đã xem hình hai ông. Và tôi nhận ra ngay, chẳng khác gì so sánh hai diễn viên gạo cội Joe Pesci với Clint Eastwood”.
Anh ta bấm một cái nút bên cánh cửa và mở nó ra, cho thấy một hành lang ngắn dẫn tới một cánh cửa kim loại khác. “Khỉ các ông đến cánh cửa phía trong, xin đứng im một lúc cho đến khi người gác phía bên kia nhận dạng các ông với một máy camera an ninh”.
“Thế anh ta không tin sự phán đoán của cậu sao?” Giordino hỏi.
Người lính gác vẫn không tắt nụ cười. “Vấn đề an toàn mà”, anh ta vui vẻ đáp.
“Thủ tục an ninh của họ chặt chẽ thật”, Giordino nói khẽ.
“Thói quan liêu bàn giấy nhiều khi cũng tốt chứ”, Pitt nói.
“Ít nhất nó cũng làm tôi an tâm”.
Họ đi qua cánh cửa, vào một phòng rất rộng lót thảm, vách tường cũng treo thảm để cách âm. Một cái bàn họp hình quả thận dài hai mươi bộ choáng cả căn phòng. Một bình phong lớn che kín bức tường phía xa. Khắp phòng chìm trong một thứ ánh sáng dễ chịu không làm chói mắt. Nhiều người đàn ông và một phụ nữ đã ngồi quanh cái bàn. Không ai đứng lên khi Pitt và Giordino đến gần.
“Các cậu đến trễ”, đó là câu nói của Đô đốc Sandecker, chỉ huy trưởng NUMA. Một người có thân hình lực sĩ nhưng nhỏ nhắn với mái tóc màu đỏ chói và bộ ria kiểu Vandyke, ông có đôi mắt màu xanh da trời, lạnh lùng và đầy quyền lực, không bỏ sót vật gì trước mắt. Ông Sandecker sắc sảo như một con báo đang ngủ trên cây với một con mắt mở lớn, vì biết con mồi sớm muộn gì cũng sẽ mò tới. Ông nóng tính và dễ nổi cáu nhưng điều hành NUMA như một nhà độc tài tốt bụng và rộng lượng. Lúc này ông nói với họ về người đàn ông ngồi bên trái mình.
“Tôi không tin các cậu biết ông Ken Helm, nhân viên đặc biệt của FBI”.
Một người đàn ông tóc màu bạc trong bộ y phục đặt may thật khéo, với đôi mắt màu nâu sáng điềm tĩnh, đầy tính toán sau cặp kính đọc sách, nhổm người lên khỏi ghế ngồi và chìa bàn tay ra. “Chào ông Pitt, chào ông Giordino, tôi được nghe nói nhiều về quí ông”.
Điều này có nghĩa là ông ta đã đọc kỹ hồ sơ cá nhân của mình và Giordino, Pitt nghĩ.
Rồi ông Đô đốc quay sang người ngồi bên phải ông, “Đây là Ron Little. Ron có một chức danh rất thú vị tại CIA, nhưng các cậu không biết đâu”.
Trợ lý giám đốc là tước danh của ông Little, Pitt biết điều đó khi trông thấy ông ta.
Ông Little, một người trung niên, có đôi mắt màu nâu sắc sảo của loài chó chăn cừu và một gương mặt góc cạnh, ông ta chỉ gật đầu, “Chào quí ông”.
“Còn những người khác thì các cậu đều đã biết”, ông Sandecker nói, và gật đầu về phía những người còn lại.
Rudi Gunn đang bận rộn ghi chép nên không buồn ngước mắt lên.
Pitt bước lại và đặt một bàn tay lên vai Pat O’Connell, dịu dàng nói, “Sớm hơn cô nghĩ nhé”.
“Tôi ngưỡng mộ người đàn ông nào giữ đúng lời hứa của mình”. Cô vỗ nhẹ bàn tay anh, bất chấp những ánh mắt của những người đàn ông chung quanh bàn họp. “Đến ngồi cạnh tôi. Tôi cảm thấy không tự tin lắm trước những viên chức quan trọng này của chính phủ”.
“Tôi bảo đảm với bà, thưa Tiến sĩ O’Connell”, ông Đô đốc nói, “rằng bà sẽ rời căn phòng này mà không bị đụng chạm đến một sợi tóc”.
Pitt kéo một cái ghế ra và ngồi xuống cạnh Pat, trong lúc Giordino ngồi vào cái ghế sát bên ông Gunn. “Al và tôi có điểm nào thiếu sót ạ?”
“Tiến sĩ O’Connell có cho chúng tôi biết sơ qua về cái sọ người và căn phòng dưới lòng đất”, ông Sandecker nói, “và ông Ken Helm sẽ báo cáo những kết quả sơ bộ về khám nghiệm pháp y trên những xác chết tại Telluride”.
“Không có gì nhiều đâu”, Helm chậm rãi nói. “Xác định lý lịch tuyệt đối chính xác từ bộ răng trở nên rất khó khăn. Khám nghiệm bước đầu cho thấy răng của chúng được các nha sĩ tại Nam Mỹ chăm sóc”.
Pitt tỏ vẻ ngờ vực. “Người của ông có thể nhận ra sự khác biệt về kỹ thuật chăm sóc răng của những quốc gia khác nhau?”
“Một nhà bệnh lý học pháp y giỏi có thể phân biệt nhân dạng qua những thông tin để lại trên bộ răng tên thành phố nơi những lỗ khoan chân răng được trám”.
“Nếu thế, bọn giết mướn đó đều là người ngoại quốc”, Giordino phán đoán.
“Tôi nghĩ cách nói tiếng Anh của chúng khá kỳ cục”, Pitt nói.
Helm nhìn qua phía trên cặp kính, “Ông chú ý điều đó?”
“Quá hoàn hảo nhưng không nhấn giọng theo cách của người Mỹ, dù hai gã trong bọn chúng nói bằng giọng mũi New England”.
Little viết nguệch ngoạc lên một cuốn sổ ghi chép màu vàng. “Ông Pitt, chỉ huy phó Gunn có cho chúng tôi biết những tên giết mướn đó ông đã tóm được tại Telluride, tự nhận chúng là người của Đệ Tứ Đế quốc”.
“Chúng còn tự xưng là Vận Hội Mới”.
“Như ông và ông Gunn đã suy xét, bọn Đệ Tứ Đế quốc có thể là hậu thân của Đệ Tam Đế chế”.
“Mọi thứ đều có thể”.
Giordino rút một điếu xì gà bự từ túi áo ngực rồi lăn nó quanh miệng mà không đốt vì anh ta chẳng thấy người nào trong phòng hút thuốc. Ông Sandecker ném cho anh ta một cái nhìn chết người khi trông thấy nhãn hiệu điếu thuốc chính là loại xì gà từ cái hộp thuốc của ông. “Tôi không phải là một người tài ba gì”, Giordino khiêm tốn nói, dù anh ta tốt nghiệp thứ ba trong khóa huấn luyện của mình tại Học viện Không lực Hoa Kỳ. “Cả đời mình, tôi chưa hề thấy bằng cách nào một tổ chức có quân đội rộng khắp thế giới với những tên sát nhân được chọn lọc lại có thể hành động suốt nhiều năm mà không bị những cơ quan tình báo giỏi nhất thế giới phát hiện chúng là ai và chúng có ý đồ gì”.
“Tôi là người đầu tiên thừa nhận chúng tôi bất lực”, ông Helm của FBI nói, “Như Quí vị đều biết, những tội ác không có động cơ là những vụ khó giải quyết nhất”.
Ông Little gật đầu đồng ý. “Cho đến khi các vị chạm trán bọn này tại Thị trấn Telluride, bất kỳ ai khác từng tiếp xúc với chúng đều không sống sót để thuật lại sự việc”.
“Nhờ Pitt và Tiến sĩ OConnell”, ông Gunn nói, “giờ đây chúng ta đã có một đầu mối để phăng theo”.
“Vài cái răng cáu bẩn là một đầu mối quá mơ hồ”, ông Sandecker nói.
“Đúng thế”, ông Helm đồng ý, “nhưng đã có điều bí ẩn về căn phòng trong khu mỏ Pandora. Nếu họ tiến hành việc nhờ những nhà khoa học nghiên cứu những chữ khắc, điều tra những vụ tàn sát người vô tội, rồi những vụ tự sát.... thì chắc chắn sẽ biết được động cơ gây ra những thứ đó”.
“Những chữ khắc”, Pitt nói, “Tại sao ý nghĩa của chúng mãi đến ngày nay vẫn còn bí ẩn chứ?”
“Vì mãi đến nay chúng mới bị phát hiện”, ông Gunn nói. “Và bọn người muốn giấu kín những chữ khắc đó đã phải hy sinh sáu tên giết mướn chuyên nghiệp mà vẫn thất bại trong việc giữ kín những chữ khắc”.
“Thật buồn cười khi một khám phá về khảo cổ tầm thường như vậy lại phải trả giá bằng nhiều sinh mạng”, ông Sandecker cau có nói.
“Không phải một phát hiện tầm thường đâu”, Pat nói nhanh. “Nếu đây không phải là một trò lừa bịp của những thợ mỏ khai thác đá quí ngày xưa thì nó có thể là một phát hiện khảo cổ đáng gọi là sự kiện của thế kỷ đấy”.
“Cô đã giải mã được phần nào những ký hiệu đó chưa?” Pitt hỏi.
“Sau khi khảo sát sơ qua những ghi chép của mình, những gì tôi có thể nói với ông là những ký hiệu đó chỉ là những mẫu tự.
Nghĩa là những chữ khắc này chỉ diễn đạt những âm thanh đơn độc. Mẫu tự của chúng ta chẳng hạn, chỉ sử dụng hai mươi sáu ký hiệu. Những ký hiệu trong căn hầm đó cho thấy có ba mươi mẫu tự với mười hai ký hiệu tiêu biểu cho những con số và tôi đã tìm cách đưa vào một hệ thống toán học cao cấp. Bất luận những người này là ai, họ cũng đã khám phá ra số không và đã tính toán với những con số như chúng ta ngày nay. Cho đến khi tôi có thể lập trình chúng vào một máy tính và nghiên cứu chúng trong tổng thể của chúng thì tôi chưa thể nói gì nhiều với ông”.
“Theo nhận xét của tôi, bà đã đạt kết quả quá tốt với những gì bà có quá ít ỏi trong một thời gian ngắn như thế”, ông Helm khen ngợi cô.
“Tôi tin chúng ta có thể thâm nhập ý nghĩa những chữ khắc đó. Không như những hệ thống chữ viết tượng hình phức tạp như ngôn ngữ Ai Cập, Trung Hoa hoặc ngôn ngữ của người Crete đến nay vẫn chưa được giải mã, còn loại chữ viết này có vẻ thống nhất trong sự đơn giản của nó”.
“Cô có nghĩ cái hộp sọ nham thạch màu đen tìm thấy trong căn hầm có liên quan đến những chữ khắc đó không?” ông Gunn hỏi.
Pat lắc đầu. “Tôi không thể đoán mò. Giống như những xương sọ pha lê trong suốt tìm thấy tại Mexico và Tây Tạng, mục đích của nó có thể chỉ là nghi thức hành lễ. Có một số người - tôi có thể nói rõ là không phải những nhà khảo cổ có uy tín - nghĩ rằng những hộp sọ pha lê xuất hiện nguyên bộ gồm mười ba chiếc, có thể phát ra những dao động và tạo ra những hình ảnh”.
“Bà tin những điều đó chứ?” ông Little hỏi nghiêm túc.
Pat bật cười. “Không. Tôi là một người thực dụng. Tôi nghiêng về bằng chứng vững chắc trước khi đưa ra những lý thuyết rộng rãi”.
Ông Little nhìn cô chăm chú, “Bà có tin cái hộp sọ nham thạch”.
“Những hộp sọ chứ”, Pitt chỉnh ông ta.
Pat bối rối nhìn anh. “Chúng ta có thêm một hộp sọ lúc nào thế?”
“Từ chiều hôm qua. Nhờ một người bạn tốt, St Julien Perlmutter, tôi được tặng một cái khác nữa”.
Đô đốc Sandecker chăm chú nhìn Pitt. “Nó đang ở đâu?”
“Cùng với cái hộp sọ lấy từ Telluride, nó đang nằm tại phòng thí nghiệm hóa học của NUMA để phân tích. Rõ ràng không thể xác định ngày tháng của nham thạch bằng những phương pháp thông thường, nhưng một nghiên cứu phối hợp có thể cho chúng ta biết những người đã tạo ra chúng”.
“Ông biết xuất xứ của nó à?” Pat hỏi, cô có vẻ nôn nóng vì tò mò.
Không đi sâu vào chi tiết, Pitt vắn tắt thuật lại việc đoàn thủy thủ của tàu Paloverde tìm thấy cái hộp sọ của chiếc tàu vô chủ Madras tại Nam Cực. Rồi anh nói về cuộc gặp gỡ và trao đổỉ với bà Christine Mender-Husted, và bà đã hào phóng tặng anh cái sọ người sau khi trao cho ông Perlmutter những giấy tờ ghi chép của tổ tiên bà.
“Bà ta có cho biết nơi đoàn thủy thủ và hành khách chiếc tàu Madras tìm thấy cái hộp sọ không?”
Pitt gây nôn nao cho cô và tất cả những người có mặt trong phòng bằng cách kéo dài thời gian trả lời. Sau cùng, anh nói, “Theo cuốn nhật ký, thì khi chiếc tàu Madras khởi hành từ Bombay để đến Liverpool, một trận bão..”.
“Lốc xoáy chứ”, ông Sandecker ngắt lời Pitt. “Với thủy thủ, bão chỉ xảy ra tại Đại Tây Dương và đông Thái Bình Dương. Cuồng phong chỉ xuất hiện tại tây Thái Bình Dương và lốc xoáy tại Ấn Độ Dương”.
Pitt thở dài. Ông Sandecker rất khoái chứng tỏ những hiểu biết của mình về biển cả. “Như tôi vừa nói, chiếc tàu Madras gặp một cơn lốc xoáy khủng khiếp và biển động dữ dội kéo dài gần hai tuần lễ. Chiếc tàu bị đánh giạt về phía nam trên hải trình của nó. Sau cùng, khi gió và biển yên lặng trở lại, những thùng chứa nước ngọt bị vỡ khá nhiều, hầu hết những trang bị nước uống bị cuốn xuống biển. Sau khi tham cứu bản đồ, thuyền trưởng chiếc tàu quyết định dừng lại tại một quần đảo không có người ở trong vành đai Nam Cực, phía nam Ấn Độ Dương. Ngày nay chúng ta biết đó là quần đảo Crozet, lãnh địa hải ngoại của nước Pháp. Ông ta thả neo ngoài khơi một đảo nhỏ rất hiểm trở tên là St. Paul, giữa đảo có một núi lửa. Trong lúc các thủy thủ sửa chữa những thùng chứa nước và bắt đầu đổ đầy nước lấy từ một dòng suối, thì một trong những hành khách — một đại tá quân đội Hoàng gia Anh trên đường trở lại nhà cùng với vợ và hai cô con gái sau khi đã phục vụ mười năm tại Ấn Độ — quyết định lên đảo săn bắn”.
“Đúng là một môn thể thao thú vị trên một hòn đảo nhiều hải cẩu và chim cánh cụt. Nhưng ông đại tá chỉ nghĩ đơn giản mình sẽ tìm thấy những động vật bốn chân. Sau khi leo lên gần một ngàn bộ, ông ta và các bạn bè đến một đường mòn đầy đá. Họ theo đường mòn dẫn đến một hang đá được đục thành hình mái vòm. Họ đi vào và trông thấy một hành lang dẫn sâu vào lòng núi”.
“Tôi nghĩ có thể lối vào được phát hiện và khám phá kể từ lúc đó”. Ông Gunn nói.
“Có thể như vậy”, Pitt gật đầu. “Hiram Yaeger đã kiểm chứng điều đó. Và ngoại trừ một trạm khí tượng không có người điều hành được người Úc lắp đặt từ năm 1978 đến năm 1997 và do vệ tinh giám sát, hòn đảo hoàn toàn không có bóng người. Nếu những người nghiên cứu thời tiết của họ tìm thấy bất cứ điều gì ẩn giấu trong núi, họ cũng không bao giờ để lộ ra. Mọi ghi chép hoàn toàn chỉ liên quan đến khí tượng học”.
Ông Little chồm qua mặt bàn, hối thúc. “Rồi chuyện gì xảy ra?”
“Ông đại tá phái một người trong nhóm trở về chiếc tàu, anh này quay lại với những cây đèn bão. Sau đó họ mới thám hiểm sâu trong núi. Họ nhận thấy vách đá được đục khoét trơn tru và thấp dần xuống khoảng một trăm bộ, chấm dứt trong một căn hầm chứa khoảng một tá những tượng điêu khắc có vẻ cổ xưa và lạ lùng. Ngoài ra còn có những ký hiệu không thể đọc được chạm khắc trên những vách và trần căn hầm”.
“Họ có chép lại những ký hiệu đó không?” Pat hỏi.
“Không ký hiệu nào được tìm thấy trong cuốn nhật ký của thuyền trưởng”, Pitt trả lời. “Hình vẽ duy nhất là một bản đồ thô sơ chỉ dẫn lối vào căn hầm”.
“Còn những cổ vật?” ông Sandecker xen vào.
“Những thứ đó vẫn còn trên tàu Madras”, Pitt giải thích. “Bà Rosanna Mender, vợ ông thuyền trưởng chiếc tàu săn cá voi, có nói về chúng trong cuốn nhật ký của mình. Bà lưu ý đến một cái bình đựng tro hài cốt bằng bạc. Những thứ khác đều bằng đồng, hoặc những tượng thú vật kỳ lạ bằng đất nung mà bà bảo chưa bao giờ nhìn thấy trước đó. Theo luật về những tài sản được trục vớt, chồng bà và đoàn thủy thủ của ông ta có ý định mang đi tất cả những thứ có giá trị trên tàu Madras, nhưng khối băng bắt đầu vỡ và họ phải vội vã chạy trở lại tàu săn cá voi. Họ chỉ mang theo cái hộp sọ bằng nham thạch”.
“Lại một căn hầm với những cổ vật”, Pat nói, cô đưa mắt nhìn như thể đang thấy một cái gì đó bên ngoài phòng họp. “Tôi tự hỏi không biết còn bao nhiêu căn hầm nữa vẫn được giấu kín khắp thế giới”.
Ông Sandecker nhìn Giordino với ánh mắt châm chích trong lúc anh chàng người Ý vạm vỡ nhai nhai điếu xì gà to kềnh của mình. “Có vẻ như chúng ta đã có chuyện để làm rồi đấy”. Ông chuyển cặp mắt từ Giordino sang ông Gunn. “Rudi, cậu hãy tổ chức hai nhóm thám hiểm, càng sớm càng tốt. Một nhóm đến lục soát chiếc tàu Madras tại Nam Cực. Nhóm còn lại đến kiểm soát căn hầm được những hành khách phát hiện trên đảo St. Paul. Sử dụng bất kỳ chiếc tàu thám hiểm nào có mặt gần nhất địa điểm phải lục soát”. Ông quay sang những người đàn ông ngồi tại đầu kia bàn họp. “Dirk, cậu đến thẳng chiếc tàu vô chủ. Al, cậu lên đảo St. Paul”.
Giordino ngồi ủ rũ trong cái ghế của anh. “Tôi hy vọng những anh bạn nhỏ khát máu của chúng ta không tới nơi đó sớm hơn tôi”.
“Cậu sẽ biết ngay sau khi tới đó mà”, ông Gunn nói, nét mặt tỉnh bơ.
“Trong lúc đó”, ông Helm nói, “tôi sẽ phái nhân viên theo dõi khắp nơi để tìm bất cứ đầu mối nào dẫn tới tổ chức đã thuê mướn những tên sát nhân”.
“Tôi phải nói với ngài, thưa Đô đốc”, ông Little nghiêm chỉnh nói với ông Sandecker, “đây không phải là nhiệm vụ hàng đầu của CIA. Nhưng tôi sẽ làm những gì có thể để lấp đầy những chỗ trống. Người của tôi sẽ tập trung chú ý vào những tổ chức thông tin quốc tế nằm ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ về những nghiên cứu thuộc ngành khảo cổ. Chúng tôi cũng sẽ điều tra bất kỳ khám phá nào có dính líu tới những vụ sát nhân. Chứng cứ mới của ngài nhắm vào bọn tân Đức Quốc xã có thể chẳng đem lại giá trị gì”.
“Trễ còn hơn không, trong đám sương mù chúng ta lại may mắn có được sự chỉ dẫn từ vị phu nhân đáng yêu này”, ông Sandecker nói. Ông không phải là người tỏ ra có thái độ kẻ cả, đó là cách nói của ông dành cho hầu hết phụ nữ.
Pat mỉm cười, tự tin nhìn trả mọi đôi mắt của những người đàn ông trong phòng đang chiếu thẳng vào cô. “Tất nhiên, công việc của tôi là tìm cách giải mã những chữ khắc đó”.
“Những tấm ảnh bọn giết mướn chụp được sẽ được xử lý ngay từ bây giờ”, ông Gunn nói.
“Tôi cần một nơi để làm việc”, cô nói với vẻ nghĩ ngợi. “Vì hiện tại tôi là một người mất tự do, tôi không thể tự do tới văn phòng của mình tại Đại học Pennsylvania để bắt đầu chương trình phân tích”.
Ông Sand mỉm cười. “Giữa Ron, Ken và tôi, có lẽ tại chỗ mỗi chúng tôi đều có những phương tiện tinh vi và những chuyên gia giỏi nhất thế giới. Bà cứ chọn”.
“Nếu tôi có quyền đề nghị, thưa Đô đốc”, Pitt nói, không tỏ ra thiên vị, “vì NUMA tiếp tục có liên hệ với những căn hầm và những đồ vật trong đó, có lẽ Tiến sĩ O’Connell sẽ thuận tiện hơn nếu làm việc với Hiram Yaeger trong hệ thống máy điện toán của chúng tôi”.
Ông Sandecker cố tìm xem có ý đồ không lương thiện nào trong đề nghị của Pitt không. Không thấy gì nên ông nhún vai. “Đó là lời mời dành cho bà đấy, thưa bà Tiến sĩ”.
“Tôi hoàn toàn tin tưởng ông Pitt. Nhờ làm việc chung với NUMA, tôi có thể tiếp cận những thông tin từ hai nhóm thám hiểm”.
“Vì bà chấp nhận, tôi sẽ bố trí Yaeger và Max dưới sự hướng dẫn của bà”.
“Max?”
“Món đồ chơi mới nhất của NUMA”, Pitt trả lời. “Một máy điện toán thông minh nhân tạo có khả năng diễn dịch những hình ảnh viết bằng tay”.
Pat hít vào một hơi thở sâu. “Tôi sẽ cần đến mọi giúp đỡ kỹ thuật từ bên ngoài mà tôi có thể có”.
“Xin chớ bận tâm”, Giordino nói với vẻ hài hước, “nếu những chữ viết tỏ ra quá cổ, có lẽ họ cũng sẽ viết ra một cuốn sách dạy nấu ăn kiểu cổ đấy”.
“Dạy nấu món gì?” ông Helm hỏi.
“Thịt dê”, Giordino trả lời. “Có một ngàn lẻ một cách nấu thịt dê cơ mà”.
“Xin tha lỗi câu hỏi, nhưng ông là Hiram Yaeger phải không?” Được tiếp thêm nhiệt tình, Pat đã quan sát toàn bộ mạng lưới máy vi tính khổng lồ chiếm trọn tầng mười Trụ sở NUMA. Cô đã nghe những chuyên gia máy tính tại Đại học Pennsylvania nói với giọng nể nang về những dữ liệu liên quan tới biển cả của NUMA. Đó là một trung tâm xử lý và lưu trữ một khối lượng khổng lồ những dữ liệu kỹ thuật số về đại dương chiếm trọn một căn phòng đến tận nóc.
Người đàn ông trông có vẻ nhếch nhác ngồi trước một bảng điều khiển hình móng ngựa tháo cái kính chống chói mắt xuống rồi chăm chú nhìn người phụ nữ đứng tại ngưỡng cửa căn phòng, nơi thiêng liêng của anh ta. “Tôi là Yaeger, chắc bà là Tiến sĩ O’Connell. Ngài Đô đốc bảo tôi chờ bà sáng nay”.
Hiram Yaeger trông không giống chút nào với hình ảnh cô tưởng tượng về anh ta. Vì một lý do gì đó, Pat đã chờ đợi Yaeger phải giống một sự pha trộn giữa Bill Gates và Albert Einstein. Nhưng anh ta chẳng giống ai. Anh ta vẫn mặc cái quần jean Levis và cái áo khoác bên ngoài cái áo thun T-shirt. Hai bàn chân được che chở bởi một đôi bốt cũ mèm của những anh chàng cowboy như thể chúng đã phải tham gia nhiều cuộc đua ngựa trên những quảng đường dài. Mái tóc anh ta màu xám sẫm, dài, và được buộc thành một cái đuôi ngựa. Gương mặt trẻ thơ của anh ta được cạo nhẵn nhụi làm nổi bật một cái mũi hẹp và đôi mắt màu xám.
Pat cũng ngạc nhiên không kém khi biết Yaeger sống trong một khu sang trọng tại Maryland, đã kết hôn với một nghệ sĩ xiếc thành công, và là cha của hai cô gái vào lứa tuổi “teen” đang theo học tại một trường tư có học phí rất cao. Sở thích riêng tư duy nhất của anh ta là sưu tập và lưu trữ những máy vi tính cũ và lỗi thời.
“Hy vọng tôi không làm gián đoạn công việc của ông”, Pat nói.
“Họ không đón bà tại thang máy và đưa bà tới địa bàn của tôi à?”
“Không, tôi chỉ lang thang quanh đây cho đến khi trông thấy một người trông chẳng giống Dilbert chút nào”.
Yaeger, một fan rất ái mộ tập tranh hài hước của Scott Adams, bật cười. “Tôi nghĩ mình nên đón nhận câu nói của bà như một lời khen. Tôi thật sự xin lỗi vì đã không nhờ người tiếp đón và đưa bà tới đây”.
“Xin đừng bận tâm. Tôi tự đảm nhận vai trò hướng dẫn viên du lịch mà. Đế quốc dữ liệu của ông đồ sộ thật. Chắc chắn không có thứ gì giống những trang bị tôi từng sử dụng tại đại học”.
“Bà dùng cà phê chứ?”
“Không, cám ơn ông”, Pat nói. “Chúng ta làm việc ngay nhé?”
“Vâng, được ạ”, Yaeger lịch sự trả lời.
“Ông có những tấm ảnh chụp căn hầm đó chứ?”
“Phòng thí nghiệm vừa gởi cho tôi đêm qua. Tôi ở lại rất trễ để quét nó vào Max”.
“Dirk có nói với tôi về Max. Tôi rất mong được xem nó hoạt động”.
Yaeger kéo cái ghế tới cạnh chỗ ngồi của anh ta nhưng không đưa cho Pat ngay. “Nếu bà đi quanh vành đai điều khiển này và đứng ngay giữa khoảng trống của nó phía trước mặt chúng ta, tôi sẽ cho bà thấy tài năng độc đáo của Max”.
Pat bước vào và đứng ngay giữa khoảng trống vành đai bảng điều khiển, quay đầu nhìn Yaeger, chờ đợi. Khi cô bắt đầu quan sát, cái máy vi tính rít lên, màn hình của nó mờ đi trước mắt cô và sau đó biến mất hoàn toàn, và cô có cảm giác bị vây bọc giữa một khối sương mù mờ đục. Rồi những vách tường và trần nhà trở nên rõ ràng hơn, và cô nhận ra mình đang đứng trong một căn phòng giống hệt bản sao của căn phòng tại khu mỏ Paradise. Cô tự nhủ đây chỉ là ảo giác do chính cô tạo ra, nhưng nó cho cô một cảm giác rất thật, đặc biệt là lúc những chữ khắc bắt đầu hình thành trên những bức tường rất rõ nét.
“Thật kỳ diệu”, cô nói khẽ.
“Max có tất cả mọi ký hiệu tượng trưng từ những tấm ảnh được lập trình vào bộ nhớ của nó, nhưng dù chúng ta có một màn hình kiểm tra với kích thước của một màn ảnh nhỏ của rạp hát bóng, tôi nghĩ bà sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi đọc những hàng chữ khắc đúng như tình trạng thực sự của nó lúc đầu”.
“Vâng, đúng thế”, Pat nói, cô bắt đầu bị kích động. “Được nghiên cứu toàn bộ những chữ khắc trong tình trạng y như thật quả là một thuận lợi rất lớn. Cám ơn ông và cám ơn Max”.
“Bà hãy trở lại và gặp Max nhé”, giọng nói của Yaeger từ phía sau căn phòng ảo vọng lại. “Sau đó chúng ta bắt tay vào công việc”.
Pat lúng túng kêu lên, “Tôi không thể”, vì căn phòng trở nên rất thực. Nhưng lúc bước tới, cô dễ dàng đi xuyên qua bức tường như thể cô là một bóng ma, và cô gặp lại Yaeger phía sau vành đai điều khiển.
“Max”, Yaeger gọi, “hãy đến gặp Tiến sĩ O’Connell đi”.
“Bà mạnh khỏe chứ?” một giọng phụ nữ dịu dàng vọng lại.
Pat nhìn Yaeger với ánh mắt dò hỏi. “Max là một phụ nữ?”
“Tôi đã lập trình giọng nói của mình vào chương trình đầu tiên của máy tính. Nhưng sau đó, để bớt vẻ gay gắt, tôi lại quyết định tốt hơn nên nghe giọng nói của một phụ nữ hơn là nghe một giọng đàn ông”.
“Đó là một giọng nói được tạo ra bằng cách kích hoạt?”
Yaeger mỉm cười. “Max là một hệ thống thông minh nhân tạo. Không có nút nhấn. Chỉ cần nói với nó như với một người bình thường”.
Pat nhìn quanh. “Có máy vi âm chứ?”
“Có sáu cái, nhưng chúng rất nhỏ, bà không nhận ra đâu. Bà có thể đứng tại bất kỳ chỗ nào trong phạm vi hai mươi bộ”.
Với vẻ nôn nóng, Pat gọi, “Max?”
Trên màn hình rộng lớn gần đó hiện ra một khuôn mặt phụ nữ. Cô ta nhìn Pat với vẻ sống động. Cô ta có đôi mắt của loại đá quí màu nâu và mái tóc màu nâu đỏ. Cặp môi rộng mở để lộ hai hàm răng trắng bóng sau một nụ cười. Đôi vai xuôi xuống hai đầu vú đúng ngay vị trí hai nút nhấn trên bảng điều khiển. “Xin chào Tiến sĩ O’Connell. Tôi rất vui được gặp bà”.
“Vui lòng gọi tôi là Pat”.
“Tôi sẽ gọi bắt đầu từ lúc này”.
“Cô ấy đáng yêu quá”, Pat nói với giọng ngưỡng mộ.
“Cám ơn bà”, Yaeger mỉm cười. “Tên cô ấy là Elsie, đó là tên vợ tôi”.
“Ông và Elsie làm việc hợp nhau chứ?” Pat hỏi với vẻ hài hước.
“Hầu hết mọi lúc. Nhưng nếu tôi tỏ ra bất cẩn, cô ta sẽ dễ dàng trở nên nóng nảy và cáu gắt ngay”.
“Okay, ta bắt đầu thôi”. Pat nói khẽ như một hơi thở. “Max, cô đã phân tích những ký hiệu được quét trong hệ thống của cô chưa?”
“Xong rồi”. Giọng Max trả lời rõ ràng như một con người thực sự.
“Cô có thể giải mã và phiên dịch bất kỳ ký hiệu nào sang mẫu tự tiếng Anh chứ?”
“Tôi chỉ mới khảo sát bề mặt, nhưng tôi tin sẽ tiến bộ hơn. Những chữ khắc trên trần căn hầm có vẻ là một bản đồ các ngôi sao”.
“Giải thích đi”, Yaeger ra lệnh.
“Tôi xem nó như một hệ thống những chi tiết tinh vi được dùng trong khoa thiên văn học để xác định vị trí những thiên thể trong bầu trời. Tôi nghĩ nó có thể gợi ra những ý niệm về độ lệch của những ngôi sao được nhìn thấy trong bầu trời trên một phần đặc biệt của Trái Đất trong những thời kỳ quá khứ”.
“Có nghĩa là, vì những lệch lạc chuyển động quay của Trái Đất nên những ngôi sao cũng thay đổi vị trí theo thời gian?”
“Đúng thế, thuật ngữ khoa học gọi là hiện tượng tuế sai và dao động địa trục”, Max giải thích. “Vì Trái Đất phình ra dần quanh đường xích đạo của nó do chuyển động xoay tròn, lực hấp dẫn của Trái Đất trở nên lớn hơn quanh đường xích đạo và tạo ra sự rung lắc nhẹ của trục Trái Đất. Các vị cũng sẽ thấy hiện tượng tương tự đối với những hành tinh khác, đều do trọng lực tạo ra. Hiện tượng đó gọi là tuế sai (sự lệch hướng hàng năm), và những dấu vết của nó là một hình nón tròn trong không gian xảy ra trong những chu kỳ cách nhau hai mươi lăm ngàn tám trăm năm. Còn hiện tượng dao động địa trục, còn gọi là hiện tượng lắc lư, chỉ là một chuyển động nhỏ nhưng bất thường, làm lệch cực của thiên hà một phần sáu độ cứ mỗi chu kỳ mười tám năm và sáu phần mười của một năm”.
“Tôi biết hiện tượng đó sẽ xảy ra trong một tương lai gần”, Pat nói. “Sao Bắc đẩu sẽ không còn nằm ở vị trí chính bắc nữa”.
“Đúng thế”, Max tán đồng. “Khi sao Bắc đẩu lệch hướng, một ngôi sao khác sẽ di chuyển vào vị trí phía trên Bắc Cực trong vòng gần ba trăm bốn mươi lăm năm. Đúng một trăm năm trước Công nguyên, mùa xuân có ngày và đêm dài bằng nhau. Tôi xin lỗi, nhưng quí vị có quen vớí hiện tượng đó không?”
“Nếu tôi còn nhớ lúc học môn thiên văn tại đại học”, Pat nói, “thì hiện tượng đó xảy ra khi mặt trời cắt ngang xích đạo của thiên hà từ phía nam lên phía bắc trong suốt mùa xuân”.
“Hay lắm”, Max khen ngợi Pat. “Bà nói như một giáo sư đại học giảng bài tại giảng đường. Nhân tiện, xin nhắc lại là trước Công nguyên, hiện tượng phân cực đều nhau giữa ngày và đêm cũng xảy ra với chòm sao Aries. Do hiện tượng tuế sai, sự phân cực giữa ngày và đêm đang xảy ra với sao Song Ngư và đang hướng về sao Bảo Bình”.
“Những gì tôi nghĩ về điều bạn nói với chúng tôi”, Pat nói, cảm giác hưng phấn bắt đầu xâm chiếm cô, “là những ký hiệu trông giống những ngôi sao trên trần căn hầm là nhằm trình bày sự phù hợp tọa độ của hệ thống những ngôi sao trong quá khứ”.
“Đó là những gì tôi đọc được từ những tấm ảnh chụp trần căn hầm”, Max nói. “Liệu con người thời cổ đại có đủ kiến thức khoa học để tạo ra một hình chiếu chính xác như thế?”
“Tôi cho rằng bất kỳ người nào đã khắc bản đồ thiên thể đó lên trần căn hầm đều là những nhà thiên văn học lỗi lạc trong vài trăm năm gần đây thôi. Họ tính toán chính xác dải Ngân hà, vị trí mặt trời, mặt trăng và những hành tinh trong đó. Bản đồ còn cho thấy quỹ đạo các hành tinh, kể cả sao Diêm vương mới được khám phá trong thế kỷ trước. Người ta khám phá những ngôi sao Betelgeuse, Sirius và Procyon vẫn còn trong vị trí thường trực của chúng, trong lúc những chòm sao khác di chuyển rất ít trong nhiều ngàn năm. Hãy tin tôi, những người cổ đại này hiểu rõ việc làm của họ khi họ quan sát những ngôi sao”.
Pat nhìn Yaeger. “Nếu Max có thể giải mã sự hòa hợp giữa những ngôi sao được chạm khắc trong căn phòng đó, chúng ta có thể xác định thời điểm nó được tạo ra”.
“Cùng đáng bỏ công”.
“Tôi mới chỉ giải mã một phần nhỏ hệ thống những con số”, Pat nói. “Điều đó có giúp gì cho bạn không, Max?”
“Bà đừng bận tâm. Tôi đã phiên dịch xong hệ thống các con số. Tôi nhận thấy hệ thống này thật hoàn hảo bởi sự đơn giản của nó. Tôi không thể đợi giải quyết xong những chữ khắc rồi mới đụng tới nó”.
“Max?”
“Vâng, ông Hiram”.
“Hãy tập trung nỗ lực vào chuyện giải mã các ký hiệu những ngôi sao và tạm xếp lại những chữ khắc kể từ lúc này”.
“Ông muốn tôi phân tích bản đồ những ngôi sao?”
“Hãy làm với khả năng cao nhất”.
“Tôi hẹn đến năm giờ chiều nhé. Tới lúc đó có lẽ tôi sẽ giải quyết xong”.
“Tùy cô thôi”, Yaeger trả lời.
“Max chỉ cần vài giờ cho một dự án đòi hỏi phải mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm?” Pat hỏi với vẻ ngờ vực.
“Đừng bao giờ đánh giá thấp Max”, Yaeger nói, xoay tròn trong cái ghế rồi nhấp một ngụm cà phê đá. “Tôi đã trải qua một thời gian làm việc chung với Max. Không có một hệ thống máy tính nào trên thế giới giống như nó. Tôi nghĩ trong năm năm nữa, nó vẫn chưa lỗi thời đâu. Nhưng trong lúc này, cũng chẳng có gì nhiều để nó làm. Nó là độc nhất, nó là trái tim và linh hồn của tôi và NUMA”.
“Còn vấn đề tác quyền thì sao? Chắc chắn ông phải được hưởng những quyền lợi đối với chính phủ chứ?”
“Đô đốc Sandecker không phải là một người có đầu óc quan liêu bình thường. Chúng tôi đã có một hợp đồng miệng với nhau. Tôi tin ông ấy, và ông ấy tin tôi. Năm mươi phần trăm thu nhập trong một vụ được chúng tôi dành cho tác quyền, nghĩa là trang trải cho việc sử dụng những dữ liệu tích lũy do các đoàn thể tư nhân hoặc các cơ quan chính phủ đã cung cấp NUMA. Năm mươi phần trăm còn lại thuộc về tôi”.
“Chắc chắn ông đang làm việc cho một người có đầu óc liêm chính. Bất cứ một ông chủ nào khác cũng sẽ tặng ông một món quà, chẳng hạn một đồng hồ đeo tay bằng vàng, với một cái vỗ nhẹ lên lưng và chỉ gởi tiền lương của ông vào ngân hàng”.
“Tôi may mắn được làm việc với những người chân chính”, Yaeger trang trọng nói. “Ông Đô đốc, ông Rudi Gunn, AI Giordino và Dirk Pitt; tất cả bọn họ cho tôi cảm giác hãnh diện được gọi họ là bạn”.I
“Chắc ông đã biết họ từ lâu”.
“Gần mười lăm năm. Chúng tôi đã có nhiều thời gian bên nhau và đã giải quyết bất kỳ vấn đề nát óc nào về biển cả”.
“Trong lúc chờ đợi Max trở lại, tại sao chúng ta không bắt đầu phân tích những ký hiệu trên vách đá? Có lẽ chúng ta có thể tìm ra một đầu mối về ý nghĩa của chúng”.
Yaeger gật đầu. “Chắc chắn mà”.
“Ông có thể tái hiện những chữ khắc trong phòng chứ?”
“Muốn thì được thôi”, Yaeger nói, vừa gõ bàn phím ra lệnh, và hình ảnh những vách đá trong căn hầm lại hiện ra trên màn hình.
“Muốn giải mã những mẫu tự của một dạng chữ viết chưa biết, cách đầu tiên là tách rời những phụ âm ra khỏi những nguyên âm. Khi không thấy có chỉ dẫn nào gợi ra những ý tưởng hoặc đối tượng, tôi liền qui những ký hiệu là những mẫu tự và chúng tượng trưng cho âm thanh hoặc lời nói”.
“Nguồn gốc của mẫu tự đầu tiên là gì?” Yaeger hỏi.
“Bằng chứng rõ rệt thì rất ít, nhưng hầu hết những nhà nghiên cứu chữ khắc đều tin nó được sáng chế trong khoảng thời gian từ năm 1.700 đến 1.500 trước Công nguyên trong ngôn ngữ của người Semit trong hệ ngôn ngữ Hebrew và A Rập. Nhưng nhiều học giả không đồng ý. Họ có khuynh hướng chấp nhận quan điểm những nền văn hóa sơ khai tại khu vực Địa trung hải đà phát triển sự hiểu biết về một hệ thống mẫu tự từ những ký hiệu hình học thời tiền sử. Sau đó rất lâu, người Hy Lạp tiếp nhận và biên cải những mẫu tự. Và chữ viết của chúng ta ngày nay có liên hệ với loại mẫu tự của họ. Những phát triển xa hơn đến từ người Etruse, theo sau là người La Mã. Họ đã vay mượn nhiều từ ngôn ngữ viết của Latinh và sau cùng tạo ra hai mươi sáu mẫu tự chúng ta dùng ngay nay”.
“Ta bắt đầu từ đâu?”
“Sẽ bắt đầu từ những ký hiệu đơn giản”, Pat nói, vừa tham khảo những ghi chép của cô. “Tôi chưa hề biết bất kỳ hệ thống chữ viết cổ đại nào có những ký hiệu trùng hợp với những chữ khắc trong căn hầm. Những chữ khắc này có vẻ không chịu một ảnh hưởng nào khác, và đó là điều bất thường nhất. Chỉ có một chút tương đồng với hệ thống mẫu tự Ogham của người Celt tại Tây Âu, nhưng kết cục vẫn không giống nhau”.
“Hầu như tôi quên cái này”, Yaeger đưa cho cô một vật giống như cái dùi cui, một đầu có gắn một máy camera cực nhỏ. “Max đã được mã hóa các ký hiệu. Nếu bà muốn tôi giúp trong giới hạn của tôi với bất kỳ giả định nào, hãy nhắm cái camera vào ký hiệu đó và chuỗi ký hiệu kế tiếp của những chữ khắc bà muốn nghiên cứu, và tôi sẽ khai triển một chương trình giải mã”.
“Nghe hay lắm”, Pat nói, cảm thấy hài lòng với niềm hy vọng mới. “Trước hết, chúng ta hãy lên danh sách những ký hiệu khác nhau, và đếm xem mỗi ký hiệu xuất hiện bao nhiêu lần. Sau đó chúng ta có thể thử biến nó thành những từ ngữ”.
“Giống như từ < and and > chẳng hạn”.
“Hầu hết chữ viết cổ không bao gồm những từ được chúng ta thừa nhận ngày nay”.
Họ làm việc suốt ngày không nghỉ lúc nào. Buổi trưa, Yaeger gởi lời nhắn xuống quán cà phê của NUMA, yêu cầu cung cấp sandwich và thức uống nhẹ. Pat bắt đầu cảm thấy thất vọng. Những ký hiệu trông có vẻ đơn giản lạ lùng và việc giải mã sẽ dễ dàng, nhưng đến năm giờ chiều, cô đạt quá ít kết quả, nếu không nói chẳng đạt được gì.
“Tại sao hệ thống chữ số dễ dàng giải mã, nhưng những mẫu tự lại khó đến thế?” Cô bối rối lẩm bẩm.
“Tại sao chúng ta không đợi đến mai sẽ làm tiếp?” Yaeger đề nghị.
“Tôi chưa mệt mà”.
“Tôi cũng vậy”, Yaeger tán thành. “Nhưng chúng ta cũng nên nghỉ ngơi một lúc. Tôi chưa biết bà thế nào, chứ tôi thì luôn luôn chỉ có những cách giải quyết công việc tốt nhất vào lúc nửa đêm. Hơn nữa, Max cũng không cần ngủ. Tôi sẽ nhờ cô ta giải mã những chữ khắc trong đêm. Đến sáng, có lẽ cô ta sẽ có vài ý tưởng về việc phiên dịch”.
“Tùy ông sắp đặt công việc”.
“Trước khi nghỉ ngơi, tôi sẽ gọi Max để xem cô ta giải quyết bản đồ những ngôi sao tới đâu rồi”.
Mấy ngón tay của Yaeger chẳng hề động đến bàn phím máy tính. Anh ta chỉ nhấn một cái nút và nói, “Max, cô còn ở đó chứ?”
Gương mặt với đôi mắt quắc lên của Max hiện ra trên màn hình. “Cái gì cản trở ông và Tiến sĩ O’Connell khiến hai người chậm gọi tôi thế? Tôi đã chờ các vị gần hai tiếng đồng hồ”.
“Rất tiếc, Max”, Yaeger nói, chẳng có dấu hiệu gì là rất tiếc. “Chúng tôi bận”.
“Bạn chỉ mới làm việc được vài giờ thôi mà”, Pat thực thà nói. “Bỏ cuộc rồi à?”
“Bỏ cuộc ư, làm gì có chuyện đó”, Max càu nhàu. “Tôi có thể trả lời chính xác những gì các vị muốn biết”.
“Hãy bắt đầu cho chúng tôi biết bằng cách nào cô tìm ra được câu kết luận”, Yaeger yêu cầu.
“Các vị không nghĩ tôi lại tính toán được sự chuyển động của những ngôi sao phải không?”
“Đó là công việc của cô mà”.
“Tại sao tôi phải hành hạ mấy con chíp của tôi, trong lúc tôi có thể buộc máy tính khác làm công việc đó”.
“Thôi mà, Max. Hãy cho chúng tôi biết cô đã phát hiện cái gì nào?”
“Được thôi. Trước hết, việc tìm kiếm tọa độ các thiên thể trong các bầu trời đòi hỏi một tiến trình hình học phức tạp. Tôi sẽ không đi vào chi tiết phiền hà nhờ đó tôi xác định được độ cao, phương vị, đường lên thẳng và độ lệch của các ngôi sao. Việc của tôi là xác định những vị trí nơi các tọa độ được chọn khắc vào vách đá trong căn hầm đã được đo đạc. Tôi tìm cách tính toán những vị trí nguyên thủy, nơi những nhà quan sát đứng quan sát những ngôi sao, chỉ chênh lệch vài dặm. Họ cũng từng đo độ lệch hàng năm của những vì sao. Ba ngôi sao trong vành đai của chòm sao Orion, sao Liệp hộ, tất cả đều chuyển dịch. Sao Sirius, sao Thiên cẩu nằm gần chòm Orion thì vẫn cố định. Với những số liệu này trong tay, tôi gõ vào bàn phím máy vi tính thiên văn của Trung tâm Khoa học Quốc gia”.
“Cô làm tôi xấu hổ quá, Max”, Yaeger nói với giọng trách móc. “Cô có thể gây rắc rối lớn cho tôi khi cô tấn công một mạng lưới máy tính khác”.
“Tôi nghĩ cái máy tính thiên văn của Trung tâm Khoa học Quốc gia thích tôi lắm. Anh ta hứa sẽ đáp ứng mọi yêu cầu của tôi đấy”.
“Hy vọng cô có thể bắt hắn giữ lời hứa”, Yaeger làu bàu. Anh ta không muốn Max dính vào hành động đó. Chỉ vì anh ta đã hàng trăm lần xâm nhập trái phép vào những mạng lưới máy tính của thiên hạ để thu nhập những dữ liệu không thuộc thẩm quyền của mình.
“Khoa định vị những ngôi sao”, Max tiếp tục dửng dưng, “trong trường hợp các vị không biết, là một trong những phân ngành cổ nhất của khoa thiên văn, và nó chuyên về việc xác định sự di chuyển của các ngôi sao”. Max dừng lại một lúc. “Theo kịp tôi chứ?”
“Nói tiếp đi”, Pat hối thúc.
“Anh chàng máy vi tính của Trung tâm Khoa học Quôc gia không hội đủ những tiêu chuẩn như tôi, tất nhiên, nhưng vì đây là một chương trình cơ bản dành cho anh ta, nên tôi dỗ ngọt anh ta khám phá độ lệch giữa những vị trí của sao Sirius và chòm sao Orion vào lúc căn hầm được tạo ra với những tọa độ lúc đó của chúng trong bầu trời”.
“Bạn đã xác định tuổi căn hầm đó?” Pat thì thầm, cô nín thở.
“Tôi đã”.
“Có phải căn hầm là một trò lừa đảo?” Yaeger hỏi, có vẻ anh ta sợ câu trả lời.
“Không, trừ phi những người thợ mỏ khai thác đá quí của bang Colorado ngày xưa là những nhà thiên văn xuất chúng”.
“Làm ơn đi, Max”, Pat nài nỉ. “Căn hầm đó được xây dựng lúc nào cùng với những chữ khắc trên vách đá của nó?”
“Các vị phải nhớ rằng thời gian phỏng đoán của tôi được tính bằng thế kỷ đấy”.
“Nó lâu hơn một thế kỷ à?”
“Quí vị có tin”, Max nói chậm rãi, cố làm tăng sự hồi hộp, “nó đã xuất hiện từ chín ngàn năm không?”
“Cô nói gì thế?”
“Tôi nói căn phòng của các vị được chạm khắc trên đá vào một thời điểm nào đó trong năm 7.100 trước Công nguyên”.
Giordino đưa chiếc máy bay có cánh quạt nghiêng Bell-Boeing 609 vào bầu trời bên ngoài thành phố Cape Town, Nam Phi, sau bốn giờ sáng một lúc. Cất cánh như một trực thăng, nó bốc lên thẳng góc với mặt đất cho tới lúc nó đạt độ cao năm trăm bộ, Giordino mới điều khiển chiếc máy bay bay ngang với tốc độ bình phi.
Chiếc Bell-Boeing chở được chín hành khách, nhưng trong chuyến bay này nó trống trơn, trừ một số những trang bị mưu sinh được buộc chặt dưới sàn. Giordino đã thuê chiếc máy bay này tại Cape Town vì chiếc tàu nghiên cứu gần nhất của NUMA cách đảo Crozet hơn một ngàn dặm.
Một máy bay trực thăng không thể thực hiện một chuyến đi dài hai ngàn bốn trăm dặm mà không tiếp nhiên liệu ít nhất bốn lần, và một máy bay vận tải bình thường tuy có thể bay xa như thế nhưng lại không có nơi hạ cánh khi nó bay tới hòn đảo núi lửa. Chiếc 609 cánh quạt nghiêng có thể đáp xuống trên bất kỳ địa hình nào mà một trực thăng có thể đáp nên nó có vẻ là một máy bay lý tưởng cho công việc này. Do những cơn gió chướng, chuyến bay phải mất trung bình bốn giờ đồng hồ cho một lượt đi hoặc về. Nhiên liệu cũng được giám sát chặt chẽ. Thậm chí với hai cánh máy bay được biến cải để chứa nhiên liệu, Giordino đã tính toán anh chỉ dư được một giờ rưỡi để bay đi và trở về lại Cape Town. Như vậy là không an toàn cho một chuyến bay bình thường, nhưng Giordino là một gã không bao giờ chịu chơi một canh bạc anh cầm chắc phần thắng.
Ba mươi phút sau, lúc đạt tới độ cao mười hai ngàn bộ, và khi nghiêng cánh về phía đông nam trên Ấn Độ Dương, anh nhìn đồng hồ báo nhiên liệu và đồng hồ chỉ tốc độ gió, rồi quay sang người đàn ông nhỏ con ngồi trên ghế dành cho phi công phụ.
“Nếu ông có hối tiếc đã tham gia chuyến phiêu lưu bốc đồng này, tôi cũng phải nói thật là đã quá trễ để thay đổi ý định”.
Ông Rudi Gunn mỉm cười. “Tôi sẽ bị ông Đô đốc luộc chín vì cái tội lén theo cậu khi ông ta biết tôi không ngồi sau bàn giấy của tôi tại Washington”.
“Ông sẽ xin lỗi bằng cách nào vì đã vắng mặt những sáu ngày?”
“Tôi đã dặn văn phòng của tôi nói tôi bay vào biển Baltic để kiểm tra một dự án tìm kiếm tàu chìm của NUMA được khảo sát chung với những nhà khảo cổ Đan Mạch”.
“Có một dự án như vậy à?”
“Có, về một hạm đội gồm những chiếc tàu Viking bị đánh chìm”.
Giordino đưa cho ông Gunn hai bức hải đồ. “Đây, ông có thể chỉ cho tôi nơi đó chứ?”
“Đảo St. Paul lớn cỡ nào?”
“Khoảng hai dặm rưỡi vuông”.
Ông Gunn nhìn Giordino qua cặp kính dày cộm. “Xin thề là”, ông điềm đạm nói, “chúng ta sẽ không đi theo dấu chân của Amelia Earhart và Fred Noonan”.
Sau khi bay được ba giờ, họ bớt hao nhiêu liệu khi máy bay được một cơn gió thuận chiều với vận tốc năm nút đẩy tới. Ấn Độ Dương mờ dần phía sau khi họ lọt vào bầu trời u ám vì những đám mây từ hướng đông kéo tới, mang theo mưa. Giordino bay lên cao để tìm không khí sáng sủa và bầu trời xanh. Chiếc 609 bốc khỏi những đám mây trắng nõn nà như bông đang bay bên dưới như một mặt biển nổi sóng.
Giordino có một khả năng lạ lùng là có thể ngủ chỉ trong mười phút rồi đột ngột thức giấc để kiểm tra những phương tiện đo đạc trên máy bay và thực hiện những đề nghị của ông Gunn trước khi lơ mơ ngủ trở lại. Anh ta lập lại tiến trình đó nhiều lần đến nỗi ông Gunn chẳng buồn đếm nữa, và không bao giờ thay đổi qui định mười phút của mình, dù chỉ thêm hoặc bớt một phút.
Thực ra, họ chẳng hề lo sợ bị lạc hoặc không nhìn thấy hòn đảo. Chiếc 609 được trang bị một hệ thống định vị địa cầu của ngành hàng hải. Với hệ thống này, họ có thể đo khoảng cách đến những vệ tinh nhân tạo, các kinh tuyến, vĩ tuyến và độ cao chính xác đều được tính toán, và những dữ liệu này được lập trình vào máy tính của máy bay, nên ông Gunn có thể xác định hướng đi, vận tốc, thời gian và khoảng cách tới điểm đến của họ.
Không giống Giordino, ông Gunn là một người bị chứng mất ngủ. Ông cũng là một người cả lo, như cách gọi Giordino dành cho ông. Gunn không thể cảm thấy thoải mái dù đang nằm dưới một cây cọ trên bờ biển Tahiti. Ông liên tục nhìn đồng hồ đeo tay, và xác định vị trí của họ giữa hai lần quan sát tấm không ảnh chụp hòn đảo.
Lúc Giordino tỉnh ngủ và nhìn lướt qua bảng kiểm soát các thiết bị đo đạc, ông Gunn vỗ lên cánh tay anh. “Đừng ngủ nữa. Cậu chuẩn bị đáp xuống là vừa. Tôi đã nhận ra hòn đảo chỉ còn cách chúng ta bốn mươi dặm phía trước mặt”.
Giordino rửa mặt với nước lấy từ một bi đông rồi đẩy nhẹ cần kiểm soát về phía trước. Rất chậm rãi, chiếc 609 bắt đầu xuồng thấp dần, lướt qua những đám mây chằng chịt phía dưới. Không thể nhìn bằng mắt, Giordino chỉ còn một cách là theo dõi cây kim đồng hồ đo độ cao đang chuyển động ngược chiều kim đồng hồ, nhưng anh vẫn ngó chừng vào lớp sương mù trước mặt qua kính chắn gió của máy bay. Rồi, bất chợt, ở độ cao năm ngàn bộ, họ thoát khỏi bầu trời u ám và lại nhìn thấy biển lần đầu tiên sau ba giờ bay.
“Thuận lợi chứ, ông Rudi”, Giordino tự khen mình. “Đảo St. Paul có vẻ chỉ cách chúng ta năm dặm phía trước, không tới hai độ về mạn phải máy bay”.
“Hai độ”, ông Gunn nói. “Lần sau tôi phải làm tốt hơn”.
Khối không khí mờ đục lúc này đang ở sau lưng họ. Những cơn gió chướng không quấy rối nữa. Giordino kéo cần điều khiển động cơ về phía sau, tiếng gầm của động cơ trở nên vo ve như tiếng một bầy ong đập cánh. Cơn mưa nặng hạt đã lắng xuống, những giọt nước mưa vẫn đập xuống kính chắn gió trước buồng lái. Anh hướng mũi máy bay lên trên những vách đá cao như những vật che chở hòn đảo trước sự va đập không ngừng của sóng biển.
“Ông đã chọn được bãi đáp chưa?” Giordino hỏi và chăm chú nhìn hòn đảo nhỏ với ngọn núi đơn độc của nó như thể nó là một khối hình chóp khổng lồ nhô lên từ mặt biển. Không một dấu hiệu của bờ biển hoặc một vạt đất trống. Chung quanh đảo, trọn một góc ba trăm sáu mươi độ, chỉ toàn thấy những vách đá.
Ông Gunn đặt cái ống dòm xuống. “Tôi đã rà xem từng tấc trên đảo nhưng chẳng thấy một công trình xây dựng nào. Không có gì khác ngoài những vách núi. Mấy công ty khai thác đá chắc hẳn sẽ khoái nơi này lắm”.
“Đừng bảo tôi là chúng ta tới đây chỉ để bay lộn về lại nhé”, Giordino nói chua chát.
“Tôi đâu có nói chúng ta không thể hạ cánh. Vạt đất phẳng duy nhất trên đảo nằm gần chân núi về phía tây. Trông có vẻ còn nhỏ hơn một rìa mép vách đá, có lẽ chỉ rộng khoảng một trăm bộ”.
Giordino có vẻ lo sợ thực sự. “Thậm chí ngay cả trên màn ảnh cũng chẳng có chuyện đáp máy bay xuống sườn núi bao giờ”.
Ông Gunn chỉ tay qua kính chắn gió. “Kìa, bên trái cậu. Trông không tồi như tôi nghĩ”.
Từ góc nhìn của Giordino, khoảng trống dựa mép núi trông giống như sàn một chiếc xe tải nhỏ không mui. Bàn chân anh rà lên bàn đạp điều khiển chong chóng lái, điều chỉnh góc độ và vận tốc đáp xuống của máy bay với những bánh lái chỉnh độ cao và cánh thăng bằng. Anh thầm cám ơn trời đã cho anh một luồng gió ngay chính diện, và thậm chí, nó chỉ thổi nhẹ với vận tốc bốn nút. Anh có thể nhìn thấy những tảng đá nằm rải rác trên mặt bãi đáp quá nhỏ, nhưng không có tảng đá nào đủ lớn để gây nguy hiểm cho bộ càng bánh xe đáp của máy bay. Một bàn tay rời khỏi tay lái và bắt đầu khéo léo điều khiển những cần tốc độ động cơ cánh quạt, từ đường bay ngang trở thành thẳng đứng cho tới khi máy bay đứng yên một chỗ như một trực thăng. Những cánh quạt có đường kính lớn bắt đầu thổi bay những hòn đá nhỏ, và bụi bặm xoáy tròn thành những cụm mây mù mịt dưới những bánh xe đáp.
Lúc này Giordino chỉ bay bằng cảm tính, đầu cúi xuống, một con mắt dán lên mặt đất đang đến gần, con mắt kia bám vào vách đá dựng đứng của ngọn núi chỉ cách mạn phải máy bay chừng mười bộ. Và một cú sốc nhẹ khi những bánh xe chạm những tảng đá trên mặt đất, rồi chiếc máy bay đáp xuống như một con ngỗng béo nằm ấp trên những quả trứng chưa nở của nó. Anh trút ra một tiếng thở phào thật lớn và kéo cần giảm tốc độ về phía sau trước khi tắt động cơ.
“Tới nhà rồi”, anh nói nhẹ nhõm.
Gương mặt khó đăm đăm của ông Gunn biến thành một nụ cười méo mó. “Có ai nghi ngờ chuyện này không nhỉ?”
“Cánh máy bay phía bên tôi vừa chạm vách núi, còn ông?”
Trong lúc đáp xuống, sự chú ý của ông Gunn dồn hết về phía vách núi, chỉ tới lúc này ông ta mới nhìn qua cửa sổ mạn phải. Cách cánh cửa máy bay một khoảng không hơn bốn bộ, bãi đáp đột ngột tuột xuống thành một vực thẳm sâu đến gần tám trăm bộ, chóp cánh máy bay ló ra ngoài khoảng không khá xa. Nụ cười tắt ngấm và gương mặt ông trắng bệch lúc ông quay sang Giordino.
“Bãi đáp không rộng như tôi tưởng”, ông thều thào, gượng gạo.
Giordino tháo dây đai an toàn. “Có thể tìm ra lối đi vào căn hầm chúng ta phải xâm nhập không?”
Ông Gunn chìa tấm không ảnh ra và chỉ vào một hẻm núi nhỏ kéo dài từ bờ biển lên. “Đây là lối đi duy nhất mà một toán săn bắn có thể xâm nhập hòn đảo dùng nó để lên núi. Pitt bảo thế sau khi đọc cuốn nhật ký của chiếc tàu Madras. Ông đại tá và nhóm người của ông ta đã leo lên tới lưng chừng ngọn núi.
“Lúc này có lẽ chúng ta cũng đang ở độ cao đó”.
“Hẻm núi mở về hướng nào?”
“Hướng nam. Và để trả lời câu hỏi tiếp theo của cậu, chúng ta đang ở về phía tây ngọn núi. Với một chút may mắn, chúng ta sẽ không phải cuốc bộ quá ba phần tư dặm, chưa nói đến chuyện ta có thể tình cờ đi vào đường đi cũ mà ông đại tá đã đề cập tới”.
“Tạ ơn Trời đã tạo ra những đảo nhỏ”, Giordino nói. “Ông có nhận ra con đường trên tấm không ảnh?”
“Không, chẳng thấy dấu vết nào của nó cả”.
Họ tiếp tục tháo dây buộc những dụng cụ cứu hộ và mang những túi đeo lưng. Mưa lại tiếp tục, vì vậy họ mặc thêm áo mưa, che cả quần áo lẫn giày bốt. Khi đã sẵn sàng, ông Gunn mở cửa máy bay bên dành cho hành khách và họ bước xuống mặt đất lởm chởm đá. Xa hơn mép bãi đáp là vực thẳm, và xa hơn nữa là Ấn Độ Dương mênh mông với những đợt sóng màu xám trắng. Để phòng xa, họ buộc chiếc máy bay vào những tảng đá lớn.
Bầu trời đầy đe dọa tạo cho hòn đảo càng có vẻ ảm đạm và hoang vu. Ông Gunn nhìn qua màn nước mưa rồi bảo Giordino dẫn đường, vừa chỉ tay về hướng ông muốn xuất phát. Họ đi chếch lên phía sườn núi, dừng lại phía trong những tảng đá lớn hơn, nơi mặt đất phẳng hơn và vững chắc dưới chân họ. Họ cố lách qua những gờ đá và những khe nứt hẹp, tìm cách đi lên mà không phải dùng những dụng cụ leo núi, một kỹ năng mà không người nào đã từng trải. Giordino tỏ ra không chút mệt mỏi. Thân hình vạm vỡ, tràn trề sức sống của anh sải những bước dài qua những tảng đá. Ông Gunn cũng không có vấn đề gì. Ông tỏ ra dẻo dai và bền bỉ hơn nhiều so với vẻ bên ngoài của mình. Ông bắt đầu rơi lại phía sau anh chàng to bè Giordino không do mệt mỏi, mà vì ông phải dừng lại mỗi lần đi được hai chục mét để lau cặp kính bị sương mù làm mờ đục.
Được nửa quãng đường băng qua sườn phía tây ngọn núi, Giordino dừng lại. “Nếu ông nhận định đúng thì con đường đá chỉ còn cách chúng ta một quãng ngắn, hoặc phía trên hoặc phía dưới chỗ chúng ta đang đứng”.
Ông Gunn ngồi xuống, dựa lưng vào một tảng đá lớn và mịn, nhìn vào tấm không ảnh lúc này đã cong tại những góc và ướt sũng nước do không khí ẩm thấp. “Cứ cho là ông đại tá đã theo lối đi ít chướng ngại nhất từ hẻm núi, ông ta cũng phải dọn đường qua sườn núi khoảng một trăm bộ phía dưới chúng ta”.
Giordino ngồi co mình lại, đặt hai bàn tay lên hai đầu gối và nhìn xuống con dốc. Anh như mê muội đi một lúc lâu trước khi quay lại nhìn ngay mặt ông Gunn. “Thề có Chúa, tôi không hiểu ông làm chuyện đó bằng cách nào?”
“Cậu muốn nói gì?”
“Ba chục bộ dưới kia, nơi chúng ta đã ngồi lúc nãy, là một lối đi hẹp được lót bằng những viên đá trơn mịn”.
Ông Gunn nhìn xuống. Hầu như chỉ trong một khoảng cách ngắn, ông trông thấy một lối đi, đúng hơn là một đường mòn, rộng khoảng bốn bộ được rải đá đã mòn nhẵn theo năm tháng. Lối mòn này mở ra hai hướng, nhưng những vụ lở đất đã làm nó đổ một phần xuống vực. Tại những vết nẻ giữa những tảng đá, một loài cỏ lạ mọc lên. Trông nó giống ngọn rau diếp và mọc sát mặt đất.
“Chắc chắn đó là con đường được ông đại tá mô tả”, ông Gunn nói.
“Loại rau củ gì mọc ở đó?” Giordino hỏi.
“Một loại rau cải đắng. Nó cho một thứ dầu rất hăng, có thể luộc ăn được”.
“Vậy bây giờ thì ông đã hiểu tại sao không thể phân biệt lối đi trên tấm không ảnh. Những vạt cải đã che kín nó”.
“Phải. Giờ thì tôi hiểu rồi”, ông Gunn nói.
“Bằng cách nào nó lại xuất hiện tại một nơi như hòn đảo bị thượng đế bỏ rơi này nhỉ”.
“Có lẽ gió đã mang phấn hoa của nó vượt biển tới đây”.
“Ông muốn đi theo hướng nào của lối đi?”
Cặp mắt ông Gunn quét qua những hòn đá trải đều trên lối đi về cả hai hướng cho đến khi chúng thoát khỏi tầm mắt ông. “Chắc chắn ông đại tá đã tình cờ tìm thấy con đường này về phía bên phải chúng ta. Phía dưới chỗ này đã bị phá hủy vì hiện tượng sạt lở đất. Vì đoạn đường dẫn lên tới tận đỉnh núi nên căn hầm phải nằm đâu đó bên trên sườn núi. Do đó, chúng ta sẽ đi về bên trái rồi leo lên”.
Cẩn thận đặt từng bước chân lên những hòn nham thạch nằm lỏng lẻo trên mặt đất, họ nhanh chóng tới một nơi những hòn đá nằm có lớp lang, gọn gàng, và bắt đầu leo lên. Con đường phẳng phiu trông có vẻ lôi cuốn, nhưng hiện tượng lở đất lại là một chuyện khác. Họ phải vượt qua hai chỗ như thế, mỗi nơi rộng gần ba mươi mét hoặc hơn. Họ đi thật chậm. Những hòn nham thạch nhọn hoắc và sắc như dao. Nếu trượt chân, thân thể họ sẽ lăn xuống sườn núi cho tới lúc đập vào những vách đá xa tít dưới kia, rồi rơi xuống biển.
Sau khi vượt qua chỗ đất lở cuối cùng, họ ngồi xuống nghỉ ngơi. Giordino lơ đễnh nhổ một cây cải và ném nó xuống chân núi, nhìn nó nảy lên và nát bét trong cuộc hành trình bất đắc dĩ. Nó thoát khỏi tầm nhìn của Giordino, và anh không trông thấy nước biển văng tung tóe khi nó rơi trên mặt nước như một quả đạn ca nông. Thay vì dịu lại, bầu khí quyển trở nên nặng nề hơn. Những cơn gió chướng mạnh thêm và quất những hạt nước mưa làm rát mặt họ. Dù được bảo vệ trong những quần áo chống thời tiết khắc nghiệt, nước mưa vẫn len lỏi qua khăn quàng cổ của họ làm ướt những lớp y phục bên trong.
Ông Gunn đưa cho Giordino một bình thủy đựng cà phê lúc này chỉ còn ấm chút đỉnh. Bữa ăn trưa của mỗi người chỉ có bốn thỏi lương khô. Họ chưa lâm vào cảnh khốn đốn, nhưng chuyện đó chắc chắn không bao lâu nữa cũng sẽ xảy ra.
“Chúng ta chắc cũng gần đến nơi rồi”, ông Gunn nói, vừa theo dõi qua cái ống dòm. “Không thấy dấu hiệu nào của một vách núi lởm chởm kéo dài qua sườn núi phía trước mặt”.
Giordino nhìn những tảng đá mòn nhẵn nhô ra khỏi sườn núi. “Có lẽ căn hầm nằm ở phía bên kia núi”, anh làu bàu. “Tôi không muốn bị giữ chân tại nơi này lúc tắt nắng”.
“Đừng lo, chúng ta còn những mười hai giờ đồng hồ trước khi trời sập tối”.
“Tôi vừa nghĩ đến một điều”.
“Điều gì?” ông Gunn hỏi.
“Trong vòng hai ngàn dặm, chỉ có hai chúng ta là con người”.
“Một ý nghĩ thật thú vị”.
“Sẽ thế nào, nếu chúng ta gặp một tai nạn và bị thương, và không thể bay khỏi nơi này? Thậm chí, dù muốn bay, tôi cũng không dám cất cánh trong lúc gió mạnh như thế này”.
“Ông Đô đốc sẽ gởi một đội cứu hộ tới ngay, sau khi chúng ta báo cáo cho ông ấy biết tình trạng của chúng ta”. Ông Gunn thọc tay vào túi và rút ra một máy điện đàm Trái Đất-Vệ tinh. “Ông ấy chỉ ở gần đây thôi mà”.
“Trong lúc chúng ta phải bó chân bó tay trên đám cải đắng này à? Không, cám ơn ông”.
Ông Gunn lắc đầu, vẻ chịu đựng. Giordino là một gã luôn bất mãn, điều đó đã trở thành căn bệnh nan y của anh ta, và nếu xảy ra tình trạng xấu, ông cũng không có ai bên cạnh ngoài anh chàng này. Tuy nhiên, chẳng ai trong hai người tỏ ra lo sợ. Họ chỉ ngại một điều là cuộc thám hiểm của họ không thành công.
“Một khi đã xâm nhập căn hầm”, ông Gunn nói lớn, giọng ông lạc lõng trong gió, “chúng ta sẽ thoát khỏi trận bão và có thể hong khô quần áo”.
Giordino không còn lý do gì để càu nhàu. “Vậy đi thôi”, anh nói và đứng lên. “Tôi bắt đầu cảm thấy mình chẳng khác gì một miếng bọt biển trong một xô nước bẩn”.
Không chờ đợi ông Gunn, anh đi về phía vách đá cách đó khoảng năm mươi mét dẫn lên con đường mòn cũ. Sườn núi trở nên dốc hơn và sau cùng dựng đứng như một tòa tháp bên trên họ. Một phần đường mòn đã sập hẳn, và họ phải hết sức thận trọng đi từng bước ngang qua vách đá. Tại một khúc quanh, họ đến một lối vào dẫn tới căn hầm bên dưới một mái vòm nhân tạo. Miệng hầm nhỏ hơn họ tưởng — cao khoảng sáu bộ, rộng bốn bộ - rộng bằng con đường mòn. Trong hang có vẻ tối tăm và đe dọa.
“Nó đấy, đúng như ông đại tá đã mô tả”, ông Gunn nói.
“Một trong hai chúng ta cũng nên hét lớn <Eureka> lắm chứ”, Giordino nói, hân hoan vì sau cùng thì họ cũng thoát khỏi mưa gió.
“Tôi không biết cậu sẽ làm gì, còn tôi, tôi sẽ trút bỏ áo mưa và túi đeo lưng, như thế tôi sẽ thoải mái hơn”.
“Tôi làm theo ông”.
Mấy phút sau, túi đeo lưng và áo mưa được bỏ lại trong đường hầm để sử dụng lúc trở lại máy bay. Họ lấy những đèn chiếu từ túi đeo lưng ra, uống ngụm cà phê cuối cùng rồi đi sâu vào căn hầm trong lòng núi. Những vách đá được đục đẽo trơn tru không có những chỗ răng cưa hoặc lồi lõm. Nơi này có vẻ gì đó thật lạ lùng, vì bóng tối quái dị và chiều sâu hun hút của nó, cùng tiếng gió hú từ bên ngoài vọng vào.
Họ tiếp tục đi tới, nửa tò mò, nửa bực bội, theo sau ánh đèn của họ, tự hỏi rồi sẽ trông thấy cái gì. Đường hầm đột ngột mở rộng vào một căn phòng vuông vức. Giordino trở nên căng thẳng, đôi mắt anh như đông cứng lại lúc chùm tia sáng ngọn đèn chiếu tụ vào một bộ xương người gồm xương bàn chân, đùi, hông, rồi xương sườn và xương cột sống dính liền với một hộp sọ với những sợi tóc màu đỏ còn nhìn thấy được. Những mảnh áo quần tơi tả vẫn còn lủng lẳng trên bộ xương.
“Tôi tự hỏi bằng cách nào con quỉ đáng thương này lại lọt vào đây”, ông Gunn nói trong cảm giác tê liệt.
Giordino quét ngọn đèn khắp căn hầm, nhìn thấy một đống lửa nhỏ đã tàn, nhiều dụng cụ và các thứ phụ tùng, tất cả như có vẻ được làm bằng tay từ nham thạch và gỗ. Ngoài ra còn có những tấm da hải cẩu và một đống xương nằm tại góc đối diện.
“Phán đoán qua những mảnh quần áo còn lại của bộ xương, tôi có thể nói người này là một thủy thủ sống sót sau một vụ đắm tàu. Còn thời gian từ lúc lên đảo đến lúc anh ta chết kéo dài bao lâu thì chỉ có Chúa biết”.
“Kỳ lạ là ông đại tá không nói gì đến anh ta”, ông Gunn nói.
“Chiếc tàu Madras dừng lại không định trước để lấy nước ngọt sau khi bị thổi giạt rất xa khỏi hành trình của nó năm 1779. Kẻ bất hạnh này có lẽ đã lên đảo sau đó. Và không một chiếc tàu nào ghé lại đảo có lẽ từ năm mươi hoặc đến cả trăm năm”.
“Tôi không thể hình dung anh ta đã sống những ngày khủng khiếp như thế nào. Đơn độc một mình giữa những tảng đá với cái lạnh khủng khiếp, chẳng mảy may hy vọng sẽ được cứu sống, và nỗi sợ hãi về cái chết cô đơn lởn vởn trên đầu”.
“Anh ta đã gây được một đống lửa”, Giordino nói. “Ông nghĩ anh ta dùng thứ gì để làm củi. Trên đảo chỉ có những bụi cây nhỏ”.
“Anh ta đốt bất kỳ thứ gì kiếm được...”. Ông Gunn dừng lại, quì xuống trên một đầu gối và rà bàn tay qua đống tro cho đến lúc tìm thấy cái gì đó. Ông ta đưa cao một vật trông giống phần còn sót lại của một chiếc xe ngựa dùng làm đồ chơi với hai con ngựa cháy xém gần hết. “Những đồ vật thủ công”, ông ta nói với vẻ ủ rũ. “Anh ta đã đốt những đồ vật thủ công bằng gỗ để sưởi ấm”. Rồi ông Gunn chiếu ngọn đèn về hướng Giordino và trông thấy một nụ cười vừa hiện ra trên miệng anh. “Cậu tìm thấy cái gì thú vị lắm à?”
“Tôi vừa nghĩ”, Giordino nói khẽ, “Không biết anh chàng đáng thương này đã ăn hết bao nhiêu cây cải”.
“Cậu cũng sống như hắn thì biết liền chứ gì”.
Giordino chiếu ngọn đèn của anh lên những vách đá và nhìn thấy những chữ khắc có hình dáng giống như những gì anh đã thấy thoáng qua trong căn hầm tại khu mỏ Telluride. Một cái bệ bằng nham thạch màu đen nhô lên giữa sàn hầm, nơi đặt cái hộp sọ mà ông đại tá đã lấy đi. Chùm tia sáng cũng làm lộ ra một đống đất đá do một vụ sập hầm gây ra, che lấp vách đá ở cuối căn hầm.
“Bên kia đống đá có cái gì nhỉ?”
“Chắc là một vách đá khác”.
“Có thể, nhưng cũng không thể”. Giọng nói của ông Gunn chẳng nói lên được điều gì.
Sau nhiều năm gần gũi ông Gunn, Giordino rút tỉa được một kinh nghiệm là chớ vội kết luận ngay những gì người đàn ông nhỏ con này nói. Anh đưa mắt nhìn ông ta. “Ông cho rằng bên kia đống đá là một đường hầm khác?”
“Tôi nghĩ thế”.
“Tiên sư chúng nó!” Giordino hít vào một hơi thở thật sâu. “Thế thì chúng nó đã tới đây trước chúng ta”.
“Cái gì khiến cậu nghĩ thế?”
Giordino chiếu ngọn đèn lên đống đá. “Cách làm của chúng. Ở đây cũng như tại Telluride, chúng đều phá sập những đường hầm”.