Cuồng Vọng

Lượt đọc: 1851 | 2 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 2 -

“Tôi không nghĩ như cậu. Đống đá này rất cũ, cũ lắm rồi, cứ xem lớp bụi phủ lên ..những tảng đá thì thấy ngay. Tôi dám cá bằng tất cả quà Giáng sinh của tôi rằng đống đá này là do hầm sập đã xảy ra nhiều thế kỷ trước khi ông đại tá người Anh hoặc anh chàng bị đắm tàu đặt chân vào nơi này. Và cả hai người không ai đủ tò mò và nhọc công dọn sạch đống đổ nát để tìm hiểu phía bên kia có gì”. Rồi ông Gunn bò lên những tảng đá và chiếu ngọn đèn vào đống đổ nát. “Đống đá có vẻ rất tự nhiên. Không phải do nóc hầm bị phá sập. Tôi nghĩ chúng ta có thể dễ dàng qua bên kia”.

“Coi bộ tôi qua không nổi rồi”.

“Im miệng và đào đi”.

Sự việc đã chứng tỏ ông Gunn nhận xét đúng. Đống đá không lớn lắm. Bất chấp những lời cằn nhằn của ông ta, Giordino làm việc như một con lừa. Là người khỏe hơn trong hai người, anh chọn những tảng đá nặng hơn, trong lúc ông Gunn dọn những tảng nhỏ hơn. Những động tác của anh vẫn nhanh nhẹn lúc nâng những tảng đá nặng cả trăm cân Anh, như thể chúng được làm từ vỏ cây bần. Không tới một giờ sau, họ đã tạo được một lối đi đủ rộng cho hai người bò qua.

Vì nhỏ con hơn nên ông Gunn bò qua trước. Ông dừng lại để chiếu đèn vào bên trong.

“Thấy gì không?” Giordino hỏi.

“Một hành lang ngắn dẫn vào một căn hầm khác cách chúng ta chừng hai mươi bộ”. Rồi ông ta tiếp tục bò tới. Sau đó, đứng lên, phủi bụi bám đầy áo quần, dọn dẹp nhiều tảng đá đối diện, do đó, Giordino - với bờ vai lớn hơn - có thể dễ dàng lọt qua. Họ chần chừ một lúc, nhập chung hai chùm ánh sáng lại và rọi vào căn hầm trước mặt.

“Tôi thấy vui vì đã nghe theo ông”, Giordino nói trong lúc thong thả bước tới.

“Tôi có linh cảm tương đối tốt. Tôi cá mười đô là sẽ không có kẻ nào tấn công chúng ta trong căn hầm đó”.

“Tôi không cá đâu”.

Vẫn còn chút lo lắng, với cảm giác bối rối, họ đi vào căn hầm thứ nhì và quét những ngọn đèn lên các vách đá và sàn hầm. Không thấy những chữ khắc ở đây, nhưng họ như đông cứng vì ngạc nhiên trước quang cảnh hiện ra trong chùm ánh sáng vàng nhạt của những đèn chiếu. Họ nhìn trừng trừng vào hai chục cái xác ướp có vẻ là những biểu tượng tôn giáo trông thật rùng rợn, ngồi trên những cái ghế đẽo bằng đá. Hai xác ướp đối diện lối vào được đặt trên một cái bệ nhô cao lên. Những xác ướp còn lại được xếp hai bên thành hình móng ngựa vuông góc.

“Nơi này là cái gì thế?” Giordino hỏi khẽ, có vẻ như anh chờ đợi những hồn ma từ bóng tối hiện ra.

“Chúng ta đang ở trong một ngôi mộ”, ông Gunn đoán phỏng. “Rất cổ, nếu căn cứ theo quần áo”.

Những xác ướp và những mái tóc màu đen của chúng được bảo quản trong một tình trạng khá tốt. Hình dạng những khuôn mặt hoàn toàn còn nguyên vẹn, quần áo cũng vậy với đủ màu đỏ, xanh da trời và xanh lục trông vẫn còn rõ ràng. Hai xác ướp cuối cùng ngồi trên những ghế đá được chạm trổ tinh vi những chủng loại sinh vật sống dưới biển. Quần áo của họ được thêu nhiều hình tượng phức tạp với nhiều màu sắc hơn những xác ướp khác. Những đai bằng đồng đỏ được chạm trổ những hình thù thật tinh xảo và gắn những viên đá quí mà ông Gunn nhận ra đó là những viên ngọc bích và đá opal màu đen bao quanh trán. Những mũ hình chóp cao vẫn nằm yên trên đầu những xác ướp. Cái xác nào cũng mặc áo giáp dài cầu kỳ có gắn vỏ sò lẫn lộn với những viên nham thạch bóng loáng và những tấm yếm bằng đồng che từ cổ đến bụng. Chân xác ướp được che chở bằng những đôi ủng da thuộc cao đến nửa bắp chân. Có hai cái xác rõ ràng thuộc tầng lớp cao hơn và quan trọng hơn những xác khác. Bộ xương bên trái cao hơn bộ xương bên phải. Dù tất cả xác ướp đều để tóc dài, nhưng việc phân biệt đàn ông với đàn bà rất dễ dàng. Đàn ông có xương quai hàm lớn hơn và xương lông mày nổi cao hơn phụ nữ. Nhưng thật thú vị, những dải băng bằng đồng bao quanh trán — hoặc mũ miện - đều có cùng kích thước, như thể tất cả đều có quyền lực ngang nhau. Tất cả đàn ông đều ngồi thành một hàng về bên tay phải của xác ướp ngồi chính giữa tạo thành một góc vuông. Họ đều ăn mặc giống nhau, những đường nét quần áo không thanh lịch như cánh phụ nữ. Những viên ngọc bích và đá opal màu đen cũng ít hơn. Chỉ có sự sắp đặt vị trí là giống nhau, những xác ướp phụ nữ ngồi về bên trái xác ướp được trang điểm lòe loẹt hơn.

Một hàng dài những cây giáo có đầu mũi rất đẹp băng đá dung nham đánh bóng đặt dọc một bên vách đá. Tại những bàn chân mỗi xác ướp là những cái bát bằng đồng và những ly uống rượu với những cái muỗng. Bát và muỗng có khoét lỗ để buộc dính nhau bằng dây da, như thể để người ta đeo chúng lên vai hay quanh cổ, cho thấy những người này luôn mang theo họ những vật dụng cá nhân và thực phẩm. Những đồ gốm xinh xắn bóng loáng được trang trí bằng những hình kỹ hà sơn bằng tay thật tinh xảo, được đặt cạnh những chiếc ghế đá. Có vẻ như những đồ vật thủ công này được tạo ra từ bàn tay những nghệ nhân bậc thầy.

Ông Gunn quan sát những xác ướp thật gần, không khỏi kinh ngạc trước nghệ thuật ướp xác. Kỹ thuật ở đây tỏ ra vượt trội so với kỹ thuật Ai Cập. “Không có dấu hiệu nào cho thấy những cái chết dữ dội. Tất cả giống như đã chết lúc đang ngủ. Tôi không tin tất cả bọn họ rủ nhau tới đây để cùng chết trong cảnh đơn độc và bị lãng quên này”.

“Có những kẻ nào đó còn sống đã đặt họ lên những ghế đá”, Giordino nhận xét.

“Đúng”, ông Gunn phác một cử chỉ quanh căn hầm. “Để ý xem, không một xác ướp nào có tư thế ngồi hoàn toàn giống nhau. Một số đặt hai bàn tay trong lòng, những người khác đặt bàn tay lên tay ghế. Vua và hoàng hậu; hoặc bất kỳ địa vị nào của họ lúc còn sống, đều đưa một bàn tay lên chống cằm như thể họ đã liệu trước định mệnh của mình”.

“Ông nói như diễn viên sân khấu vậy”, Giordino làu bàu.

“Cậu không cảm nhận như Howard Carter khi lần đầu tiên anh ta tận mắt nhìn thấy bên trong ngôi mộ của Hoàng đế Tut sao?”

“Howard đã may mắn. Anh ta tìm thấy vật gì đó chúng ta không thấy”.

“Vật gì?”

“Nhìn quanh ông xem. Không có vàng, chẳng có bạc. Nếu những người này có liên quan đến Tut, thì họ phải là những bà con nghèo khổ của ông ta. Có vẻ như những người này chỉ có đồng đỏ là tài sản quí giá”.

Tôi tự hỏi họ đến tị nạn vĩnh viễn tại đây từ lúc nào?” Ông Gunn thong thả nói.

“Tốt hơn ông nên hỏi tại sao”, Giordino nói. “Tôi sẽ lấy cái máy từ túi đeo lưng, ghi lại hình ảnh nơi này rồi sau đó, về nhà. Loanh quanh trong nấm mồ này khiến dạ dày tôi lộn tùng phèo”.

Suốt năm giờ đồng hồ sau đó, trong lúc Giordino chụp ảnh từng inch vuông căn hầm, ông Gunn mô tả chi tiết vào cái máy thu băng nhỏ của mình những gì ông ta nhìn thấy. Ông ta cũng phân loại mọi đồ vật thủ công vào một cuốn sổ ghi chép. Họ không đụng vào bất kỳ thứ gì, mọi vật vẫn nguyên vẹn tại vị trí cũ của chúng. Có lẽ những nỗ lực của họ như việc làm của các nhà khảo cổ chuyên nghiệp, nhưng với hàng ngũ những tay nghiệp dư trong những điều kiện khó khăn, thì họ đã làm rất tốt công việc của mình. Mọi thứ phải nguyên vẹn để chờ những người đến sau, những chuyên viên để giải quyết những ẩn số và xác định lai lịch những người chiếm ngự hầm mộ này.

Lúc họ hoàn tất công việc, trời đã xế chiều. Sau khi bò trở lại và vượt qua chỗ lối đi họ đã dọn dẹp, vào tới căn hầm có cái xác của người thủy thủ bị đắm tàu, ông Gunn mới nhận ra Giordino không đi cùng. Ông quay lại nơi trần hầm bị sập và nhìn thấy Giordino đang lấp lại lỗ trống họ đã mở ra với những tảng đá.

“Làm như thế với mục đích gì?” ông ta hỏi.

Giordino dừng tay, nhìn ông Gunn, mồ hôi quyện với bụi chảy thành dòng trên mặt anh. “Tôi sẽ không dọn cỗ sẵn cho kẻ đến sau chúng ta. Bất cứ ai muốn xâm nhập nấm mồ trong kia đều sẽ phải làm việc như chúng ta đã làm”.

Hai người vẫn còn đủ thời gian để trở lại chỗ chiếc máy bay. Dù trận mưa và những cơn gió đã dịu lại lúc họ xuống sườn núi, và họ chỉ còn phải đi khoảng năm chục mét cuối cùng nữa. Khi chỉ còn phải vượt qua một khe nứt hẹp, họ sẽ đến chỗ chiếc máy bay thì một cột lửa màu da cam lóe lên giữa bầu trời u ám. Không có tiếng sấm nổ hoặc tiếng đổ vỡ. Chỉ nghe một tiếng nổ giống như tiếng pháo nổ trong một cái hộp thiếc. Rồi tiếp theo là một quả cầu lửa lóe lên, để lại một cuộn khói xoáy tròn lên cao giữa những đám mây đen.

Giordino và ông Gunn vừa tuyệt vọng vừa bị sốc khi chiếc máy bay 609 bị vỡ toác như một quả dưa rơi từ trên cao xuống vệ đường. Những mảnh vụn bắn tung tóe lên không khí trong lúc nhiều mảnh vỡ và nóng chảy khác của máy bay rơi vung vãi bên mép vực và xuống sườn núi.

Những mảnh kim loại đâm vào vách đá rồi văng ra xa mất tăm trong lúc hai người đàn ông đứng như mọc rễ xuống đất, không ai mở miệng đến cả phút sau đó. Ông Gunn hoàn toàn tê liệt, đôi mắt trợn trừng, không tin điều vừa xảy ra. Phản ứng của Giordino thì ngược lại. Anh đã hóa điên, điên một cách khủng khiếp, hai bàn tay siết chặt, gương mặt trắng bệch vì giận dữ.

“Không thể được”, sau cùng ông Gunn lắp bắp. “Không thấy một chiếc tàu nào trong tầm nhìn, không còn một chỗ nào cho một máy bay khác đáp xuống. Không thể có chuyện kẻ nào đó đã đặt bom vào máy bay rồi trốn thoát mà chúng ta không hay biết gì”.

“Trái bom đã được cài trong máy bay trước khi chúng ta cất cánh tại Cape Town”, Giordino nói, giọng lạnh như băng giá. “Đặt bom và định giờ trên chuyến bay trở về của chúng ta”.

Ông Gunn nhìn anh trống vắng. “Những giờ chúng ta dành cho việc thám hiểm hầm mộ đó...”

“Đã cứu sống chúng ta. Bất luận những tên giết người này là ai, chúng đều không liệu trước chuyện chúng ta có thể tìm thấy điều gì đó khiến chúng ta quan tâm hoặc dành một hoặc hai giờ để tìm tòi quanh quẩn, vì vậy chúng đã định giờ bom nổ sớm hơn bốn tiếng đồng hồ”.

“Tôi không tin có kẻ nào đó đã nhìn thấy căn hầm sau người thủy thủ bị đắm tàu”.

“Chắc chắn không phải là những ông bạn của chúng ta từ khu mỏ Telluride, hoặc những kẻ đã phá hủy căn hầm đầu tiên. Ai đó đã để lộ việc chúng ta bay tới đảo St. Paul, và chúng ta đã chỉ cách cho bọn chúng. Giờ thì chỉ có một vấn đề là chừng nào bọn chúng sẽ tới đây để nghiên cứu những chữ khắc trong căn hầm đầu tiên”.

Trong đầu ông Gunn đang suy nghĩ dữ dội về một tình thế mới sẽ xảy ra. “Chúng ta phải cầu cứu ông Đô đốc ngay”.

“Hãy thông báo bằng mật mã”, Giordino đề nghị. “Bọn này không tồi đâu. Tôi cá mười ăn một là bọn chúng có phương tiện nghe lén việc đàm thoại qua vệ tinh. Tốt nhất ta nên cho chúng ý nghĩ là chúng ta đang ăn cá dưới đáy Ấn Độ Dương”.

Ông Gunn lấy cái điện thoại mặt đất-vệ tinh ra và định bấm số thì ông chợt nảy ra một ý nghĩ. “Giả sử bọn sát nhân tới đây trước toán cứu hộ của ông Đô đốc thì sao?”

“Lúc đó chúng ta sẽ ném đá lên đầu bọn chúng, vì đó là cách duy nhất của chúng ta mà”.

Với chút hy vọng mong manh còn lại, ông Gunn nhìn quanh bãi đáp lổn ngổn đá. “Được thôi”, ông nói, giọng khô như gỗ, “ít nhất chúng ta cũng không bận tâm lo thiếu đá để ném”.

Chiếc tàu Polar Storm với nhóm các nhà khoa học và đoàn thủy thủ của nó đang hoạt động quanh Bán đảo Nam Cực và ngang qua biển Weddell thì thông điệp của Đô đốc Sandecker đến, ra lệnh cho Thuyền trưởng Gillespie tạm đình chỉ việc thám hiểm. Ông ta phải rời khỏi vùng băng giá ngay và chạy hết tốc lực đến bờ biển Prince Olav. Tại đây, ông ta phải dừng lại và chờ ngoài khơi trạm nghiên cứu Syowa của Nhật bản cho tới khi có lệnh mới. Thuyền trưởng Gillespie lệnh cho viên kỹ sư trưởng và nhóm thủy thủ phòng máy cho chiếc tàu phá băng và nghiên cứu khổng lồ chạy với vận tốc tối đa. Họ hầu như đã hoàn thành một công việc bất khả thi là đạt tới vận tốc hai mươi nút. Ông Gillespie thực sự hài lòng khi nhớ lại những người đã tạo ra chiếc tàu từng tuyên bố nó sẽ đạt tới vận tốc tối đa là mười tám nút, vào hai mươi hai năm trước, khi chiếc tàu hạ thủy.

Ông vui vì chiếc tàu cũ kỹ của mình đã tới điểm hẹn sớm hơn tám tiếng. Nước ở đây quá sâu để thả neo, vì vậy ông cho tàu chạy tới mép ngoài của khối băng trước khi ra lệnh tắt động cơ. Sau đó, ông thuyền trưởng báo cho Đô đốc Sandecker biết tàu Polar Storm đã tới trạm Syowa và đợi lệnh.

Câu trả lời thật ngắn gọn, “Chuẩn bị nhận một thông điệp”.

Thời gian nghỉ ngơi cho mọi người cơ hội làm nốt công việc dở dang của họ. Những nhà khoa học bận rộn phân tích và ghi chép những khám phá của mình vào máy tính, trong lúc đoàn thủy thủ lo sửa chữa định kỳ dành cho chiếc tàu.

Họ không phải chờ đợi lâu.

Vào buổi sáng ngày thứ năm, từ lúc rời biển Weddell, lúc ông Gillespie đang quan sát khối băng trôi qua cái ống dòm thì ông nhìn thấy một chiếc trực thăng chậm chạp hiện ra trong màn sương buổi sáng sớm. Nó bay theo một đường thẳng về phía chiếc tàu Polar Storm. Ông ra lệnh cho viên sĩ quan thứ nhì của mình đón tiếp chiếc trực thăng sẽ hạ cánh trên boong sau tàu.

Chiếc trực thăng dừng một chỗ trong vài giây rồi đáp xuống boong tàu. Một người đàn ông xách một chiếc valy nhỏ và một túi vải nhảy xuống từ một cánh cửa máy bay và nói gì đó với viên sĩ quan thứ nhì của ông Gillespie. Rồi anh ta quay lại và vẫy tay chào viên phi công đã chở anh tới chiếc tàu. Cánh quạt tăng tốc và chiếc trực thăng bốc lên vào bầu không khí lạnh lẽo trong lúc Pitt bước lên đài chỉ huy tàu Polar Storm.

“Hêlô, Dan”, anh nồng nhiệt chào ông thuyền trưởng. “Rất vui gặp cậu”.

“Dirk! Cậu từ đâu đến?”

“Từ Punta Arenas tại eo biển Magellan trên chiếc phản lực của không quân đến đường băng gần trạm nghiên cứu của Nhật Bản. Họ có lòng tốt cho một trực thăng mang tôi tới đây”.

“Cái gì mang cậu đến tận Nam Cực thế?”

“Một dự án nghiên cứu nhỏ tại vành đai Nam Cực”.

“Tôi biết ông Đô đốc có thứ gì đó giấu trong tay áo. Ông ta không hề hé răng với tôi về chuyện cậu sẽ tới đây”.

“Ông ấy có lý do của mình”, Pitt đặt cái va li lên bàn để bản đồ, mở ra và đưa cho ông Gillespie một tờ giấy ghi những tọa độ. “Và đó là thân phận của chúng ta “.

Ông thuyền trưởng nhìn những con số chỉ tọa độ rồi nhìn vào tấm hải đồ. “Vịnh Stefansson”, ông ta bình thản nói. “Cũng gần đây thôi, trên bờ biển Kemp không xa đảo Hobbs lắm. Nơi đó chẳng có gì hấp dẫn đâu. Một nơi vô sinh tôi từng trông thấy. Chúng ta tìm thứ gì ở đó?”

“Một chiếc tàu vô chủ”.

“Tàu bị đắm dưới khối băng?”

“Không”, Pitt trả lời với một nụ cười nửa miệng. “Bị kẹt trong băng”.

Thậm chí vịnh Stefansson trông còn heo hút và hoang sơ hơn cả mô tả của ông Gillespie về nó, đặc biệt dưới một bầu trời dày đặc mây đen như than đốt, và mặt biển ảm đạm với những tảng băng trôi đầy đe dọa. Những cơn gió quất lên mặt mũi như những mũi kim và Pitt bắt đầu nghĩ đến những nỗ lực đòi hỏi sự vận động cơ bắp để vượt qua những tảng băng và tiếp cận bờ địa cực. Máu trong người như chảy mạnh hơn khi anh nghĩ đến chuyện sẽ thám hiểm một chiếc tàu chưa ai đặt chân lên boong của nó từ năm 1858.

Liệu nó còn ở đó không, anh tự hỏi, đúng như Rosanna Mender và chồng bà đã phát hiện nó gần một thế kỷ rưỡi trước? Hay cuối cùng nó đã vỡ nát vì bị những khối băng ép mạnh, hoặc nó đã trôi giạt ra biển và bị đắm dưới nước biển lạnh buốt?

Pitt nhìn thấy thuyền trưởng Gillespie đang đứng một bên cánh đài chỉ huy, nhìn qua ống dòm về phía xa đằng sau con tàu phá băng. “Tìm cá voi à?” anh hỏi.

“Tàu ngầm”, ông Gillespie thật thà trả lời.

Pitt nghĩ ông thuyền trưởng nói đùa. “Không có nhiều bầy sói trong vùng biển này chứ?”

“Chỉ có một”, ông Gillespie vẫn áp sát cái ống dòm lên mắt. “Chiếc U-2015. Nó cứ bám theo đường rẽ nước của tàu chúng tôi hầu như từ khi chúng tôi suýt va chạm nó mười ngày trước”.

Pitt vẫn chưa tin những gì anh nghe. “Cậu nghiêm chỉnh đấy chứ?”.

Cuối cùng, ông Gillespie hạ ống dòm xuống. “Hoàn toàn nghiêm chỉnh”. Rồi ông bắt đầu kể với Pitt về chuyện gặp chiếc tàu ngầm. “Tôi nhận ra nó từ một tấm ảnh cũ trong thư viện hàng hải của tôi. Không có gì đáng ngờ nữa. Đúng là chiếc U-2015. đừng hỏi tôi bằng cách nào nó còn tồn tại sau tất cả những năm đó hoặc tại sao nó bám theo chiếc tàu này. Tôi không thể trả lời. Tất cả những gì tôi biết là nó đang lẩn quẩn ở đây”.

Pitt đã làm việc chung với thuyền trưởng Gillespie ít nhất trong bốn dự án sau nhiều năm. Anh biết ông ta là một trong những thuyền trưởng đáng tin cậy nhất trong đoàn tàu thám hiểm của NUMA. Dan Gillespie không phải là một gã ba hoa hoặc một kẻ dựng chuyện huyễn hoặc. Ông ta là một người tỉnh táo và quyết đoán, và trong lý lịch chưa hề có một vết đen nào. Chưa gây tai nạn hoặc thương tích cho chiếc tàu từ ngày ông lèo lái nó.

“Ai có thể tin sau chừng đó năm...” giọng nói của Pitt nhỏ dần. Anh cũng không tin chắc những gì mình nói.

“Không cần đọc tư tưởng của cậu tôi cũng biết cậu đang nghĩ tôi bịa chuyện”, ông Gillespie nghiêm chỉnh nói. “Nhưng tôi sẽ chứng tỏ điều đó. Cô Evie Tan, hiện đang có mặt trên tàu để làm một phóng sự về cuộc thám hiểm cho một tạp chí quốc gia, đã chụp ảnh được chiếc tàu ngầm khi chúng tôi suýt va đụng nó”.

“Lúc đó cậu có thấy đặc điểm nào của nó không?” Pitt hỏi vặn. “Loại có kính tiềm vọng hay loại có ống thông hơi?”

“Nó vừa trồi lên lại lặn xuống ngay”, ông Gillespie trả lời.

“Vậy do đâu cậu chắc chắn là nó vẫn quanh quẩn đâu đây?”

“Một trong những nhà khoa học của chúng tôi thả những micro khuyếch âm, loại dùng dưới nước, qua mạn tàu... Ông ta dùng chúng để ghi âm cá voi nói chuyện với nhau. Chúng tôi bố trí bộ phận nghe cách ba phần tư dặm phía sau chiếc tàu. Vì vậy chúng tôi nghe được tiếng động cơ của chiếc tàu ngầm rõ ràng như tiếng chó sủa”.

“Một khái niệm không tồi, nhưng tôi muốn kéo một quả bóng thăm dò thời tiết có gắn máy đo từ trường, như thế tốt hơn”.

Ông Gillespie bật cười “Cũng là một khái niệm không tồi. Chúng tôi đã nghĩ tới chuyện đặt máy quét bên mạn tàu để dò bắt âm thanh rõ hơn, và điều đó có vẻ quá mạo hiểm vì dễ bị chúng phát hỉện và phá hoại. Tôi hy vọng cậu có thể tìm ra một giải pháp tốt nhất”.

Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu Pitt. Anh bắt đầu tự hỏi liệu có phải anh đã không nhận định một cách khách quan? Thậm chí ý nghĩ có sự liên quan giữa những gã giết mướn của Đệ Tứ Đế quốc và chiếc tàu ngầm cũ kỹ cũng là một ý nghĩ điên rồ. Và chưa có dấu hiệu nào trong toàn bộ âm mưu này tỏ ra có ý nghĩa”.

“Hãy thông báo cho ông Đô đốc”, Pitt yêu cầu. “Bảo ông ấy chúng ta cần sự giúp đỡ”.

“Như thế có quấy rầy ông ấy không?” ông Gillespie nói, tỏ ra phân vân. “Ta cứ tìm cách giấu tung tích và chơi trò mèo vờn chuột”.

Pitt nhẹ lắc đầu, tỏ ra không đồng ý. “Tôi sợ con quỉ của chúng ta sẽ chờ cơ hội. Chúng đợi kết quả từ chiếc tàu Madras”.

“Đó là tên chiếc tàu vô chủ phải không?”

Pitt gật đầu. “Một chiếc tàu của Đông An công ty mất tích năm 1779”.

“Và cậu nghĩ nó bị kẹt trong băng tại một nơi nào đó dọc bờ biển địa cực?” Ông Gillespie hỏi với vẻ ngờ vực.

“Tôi hy vọng nó vẫn còn nằm tại chỗ cũ”.

“Trên tàu có thứ gì mà NUMA xem quan trọng đến thế?”

“Mọi câu trả lời đều dẫn tới sự kiện làm điên đầu người ta”.

Ông Gillespie không yêu cầu được giải thích nhiều hơn. Nếu đó là tất cả những gì Pitt muốn cho ông biết, ông chấp nhận điều đó. Trách nhiệm của ông là bảo vệ chiếc tàu và những người có mặt trên tàu. Ông sẽ tuân thủ mọi mệnh lệnh từ ông chủ của mình tại NUMA mà không thắc mắc gì, trừ phi những mệnh lệnh đó xâm phạm sự an ninh của tàu Polar Storm.

“Cậu muốn tôi cho tàu xâm nhập cách khối băng bao xa?”

Pitt đưa cho ông thuyền trưởng một mẩu giấy. “Tôi rất biết ơn nếu cậu đưa tàu Polar Storm vào đúng tọa độ này”.

Ông Gillespie nhìn những con số trên mảnh giấy một lúc. “Không biết băng ở tọa độ này dày mỏng thế nào, những tôi sẽ đưa cậu đến đó càng gần càng tốt”.

“Tôi có thể hỏi do đâu cậu có những con số này không?”

“Trong nhật ký của tàu Paloverde, một chiếc tàu săn cá voi đã phát hiện chiếc tàu của Đông An công ty đã lâu lắm rồi. Chẳng có gì bảo đảm độ chính xác của chúng cả”.

“Cậu biết đấy”, ông Gillespie nói với vẻ ủ rũ, “những chủ tàu săn cá voi trước kia có thể đưa tàu của họ đến bất kỳ nơi tối tăm nào, nên tôi cũng khó lòng đưa chiếc tàu của tôi đến gần nơi họ đã tới”.

Chiếc tàu Polar Storm xâm nhập vào vùng băng trôi và tiếp cận những khối băng dày đặc như một mạng lưới, chẳng khác gì một cầu thủ hậu vệ chạy xuyên qua một rừng cầu thủ đối phương. Trong dặm đầu tiên, những khối băng không dày hơn một bộ, và mũi chiếc tàu phá băng đẩy chúng dạt sang hai bên khá dễ dàng. Nhưng càng gần bờ, khối băng bắt đầu phình lớn ra và dày tới ba đến bốn bộ. Rồi chiếc tàu chậm dần và dừng lại. Nó lùi để lấy trớn rồi tiếp tục lao vào khối băng, tạo một khe nứt và một lối đi dài mười lăm bộ, cho tới khi khối băng khép lại và ngăn cản nó tiến tới. Sự việc cứ diễn đi diễn lại, và mũi tàu phá băng cứ tiến dần từng quãng một.

Óng Gillespie theo dõi kết quả việc phá băng. Ông ta đang ngồi trên một cái ghế xoay lớn, quan sát màn hình của cái máy dò âm thanh dưới biển sâu chuyển những ký hiệu âm thanh từ đáy biển lên. Những ký hiệu nẩy trả lại và báo hiệu khoảng cách tính bằng bộ giữa sống tàu và đáy biển. Vùng biển này chưa được nghiên cứu độ sâu, nên đáy biển không được đánh dấu trên những tấm hải đồ.

Pitt đứng cách đó vài bộ, nhìn qua cái ống dòm mượn của ông Gillespie, thu ngắn khoảng cách của khối băng sáng rực rỡ dưới ánh mặt trời. Những khối băng dốc đứng nằm gần bờ địa cực nhô cao đến hai trăm bộ trước khi mở rộng ra thành một mặt phẳng mênh mông về phía địa cực. Anh quét ống dòm dọc theo chân những khối băng, cố phát hiện một vài dấu vết của chiếc tàu Madras bị giam trong băng. Không một dấu hiệu nào được nhìn thấy, không có thân sau chiếc tàu nào kẹt trong băng, không một cột buồm ló lên khỏi những vách băng.

“Ông Pitt?”

 Anh quay lại và chạm trán một người đàn ông lùn và mập, khoảng gần bốn mươi tuổi, đang mỉm cười với anh. Gương mặt ông ta đỏ hồng và hiền lành với đôi mắt màu xanh lục, sáng lóng lánh và cái miệng rộng cong lại vì nụ cười. Một bàn tay thật mềm mại chìa ra.

“Vâng”, Pitt chỉ đơn giản trả lời, ngạc nhiên vì bàn tay mềm mại đó lại siết bàn tay anh thật chắc.

“Tôi là Ed Northrop, trưởng nhóm các nhà khoa học và băng hà học ở đây. Tôi không nghĩ tôi cảm thấy thích thú lắm”.

“Tiến sĩ Northrop. Tôi thường nghe Đô đốc Sandecker nói về ông”, Pitt nói, vui vẻ.

“Vậy à?” ông Northrop bật cười.

“Thật ra thì ông Đô đốc không bao giờ tha lỗi cho ông vì đã bỏ những cục băng vào giày bốt của ông ấy trong lần thám hiểm tại phía bắc biển Bering”.

“Thù dai dữ. Chuyện đó đã xảy ra mười lăm năm rồi còn gì”.

“Và ông cũng đã trải qua chừng đó năm tại Bắc Cực và Nam Cực”.

“Tôi đã nghiên cứu những biển băng được mười tám năm. Nhân tiện, tôi tình nguyện bám sát ông trong chuyến đi này”.

“Xin đừng nghĩ tôi ích kỷ, nhưng tôi nên đi một mình thì hơn”.

Ông Northrop gật đầu và ôm cái bụng bự với cả hai bàn tay.

“Đâu có hại gì nếu có một người tốt đi cùng và anh ta, khá hiểu biết về băng, vả lại tôi rất bền bỉ, không giống vẻ bề ngoài đâu”.

“Xem ra tôi bị thuyết phục mất rồi”.

“Tới rồi! “, ông Gillespie đột ngột kêu lên. Rồi ông gọi xuống phòng máy. “Dừng tất cả lại, cơ trưởng. Chúng ta đã đến nơi cần đến”. Ông quay sang Pitt. “Chúng ta đang ở đúng vị trí kinh độ và vĩ độ cậu yêu cầu”.

“Cám ơn Dan, cậu tài thật. Đây chính là địa điểm tàu Paloverde bị kẹt trong băng vào mùa đông Nam Cực năm 1858”.

Tiến sĩ Northrop nhìn qua cửa sổ đài chỉ huy về phía khối băng trải dài từ chiếc tàu đến bờ. “Từ đây tới đó khoảng hai dặm. Một chuyến đi bộ ngắn trong bầu không khí trong lành này sẽ giúp chúng ta khỏe khoắn”.

“Không có chiếc xe trượt băng nào trên tàu à?”

“Rất tiếc, công việc của chúng tôi chỉ thu hẹp trong phạm vị cách tàu một trăm mét. Chúng tôi thấy không cần tăng thêm phí tổn vào ngân sách dự án”.

“Nhiệt độ bầu không khí lúc này bao nhiêu?”

“Từ năm đến mười độ dưới số không. Tương đối ấm tại những vùng này”.

“Tôi không thể đợi lâu hơn nữa”. Pitt có vẻ nôn nóng.

“Cậu phải nghĩ đã gặp may vì bây giờ là mùa thu. Vào mùa xuân lạnh hơn nhiều”.

“Tôi thích những miền nhiệt đới hơn, với những cơn gió mậu dịch ấm áp và những cô gái đáng yêu trong những chiếc xà rông quay tròn, theo tiếng trống trong lúc mặt trời lặn”.

Đôi mắt Pitt quét dọc thân thể một phụ nữ châu Á hấp dẫn đang bước thẳng tới chỗ anh. Cô mỉm cười và nói, “Ông không quá ấn tượng đấy chứ?”

“Đó là bản chất của tôi mà”.

“Người ta bảo tôi ông là Dirk Pitt”.

Anh mỉm cười thân thiện. “Hy vọng như vậy. Và chắc cô là Evie Tan. Dan Gillespie cho tôi biết cô đang thực hiện một phóng sự bằng ảnh về những thám hiểm liên quan đến băng tại địa cực”.

“Tôi được đọc nhiều về những kỳ công của ông. Tôi có thể phỏng vấn khi ông trở về, sau chiến dịch tìm kiếm này chứ?”

Theo bản năng, Pitt ném cho ông Gillespie một ánh mắt dò hỏi, và ông này lắc đầu. “Tôi chả nói gì về mục đích của cậu”.

Pitt siết nhẹ bàn tay cô chìa ra. “Tôi sẽ rất vui được dành cho cô một buổi phỏng vấn, nhưng bản chất dự án của chúng tôi không liên quan đến băng giá”.

“Vậy nó dính líu tới quân đội?” cô hỏi, vẻ mặt vô thưởng vô phạt.

Ngay lập tức Pitt bắt thóp được thói tọc mạch của cô gái. “Chẳng dính líu gì tới những họat động bí mật của quân đội hoặc dính líu tới những kho báu trên những chiến thuyền Tây Ban Nha, hoặc những người tuyết khủng khiếp cả. Thực ra, câu chuyện u ám lắm, tôi không tin bất kỳ một ký giả tự trọng nào lại có thể quan tâm đến vụ này”. Rồi anh nói với ông Gillespie. “Có vẻ như chúng ta đã bỏ chiếc tàu ngầm lại phía ngoài những tảng băng trôi”.

“Hoặc như thế”, ông thuyền trưởng nói, “hoặc chúng vẫn bám sát chúng ta bên dưới những khối băng”.

“Chúng đã sẵn sàng đối đầu với ông”, sĩ quan thứ nhất Bushey nói với Pitt.

“Tôi sẽ chờ”.

Đoàn thủy thủ hạ cầu và chuyển xuống mặt băng ba xe chở dụng cụ, một chiếc chở những thiết bị cắt băng được che bằng vải dầu. Hai chiếc kia chỉ chở những dây buộc để bảo vệ những cổ vật họ có thể tìm thấy. Pitt đứng giữa khối tuyết dày một bộ, nhìn ông Gillespie đang nói với một người đàn ông có hình dáng và kích cỡ của một con gấu Kodiak. “Tôi sẽ gởi viên sĩ quan thứ ba của tôi đi cùng cậu và Tiến sĩ Northrop. Đây là Ira Cox”.

“Rất vui gặp tất cả các vị”, Cox nói qua chòm râu dài tới ngực. Giọng nói của anh ta có vẻ như từ một nơi nào đó dưới sâu vọng lên. Anh ta không chìa tay ra. Những ngón tay kếch sù của anh ta bọc kín trong những chiếc găng tay to kềnh dành cho vùng cực.

“Không còn ai khác tình nguyện sao?”

“Ý kiến của tôi đấy”, ông Gillespie nói, “tôi không thể cho phép một trong các thành viên hàng đầu của Đô đốc Sandecker làm việc đơn độc trên một vùng băng đỏng đảnh khó lường như thế này. Tôi không chịu nổi trách nhiệm đâu. Theo cách của tôi, nếu các vị gặp sự cố, các vị sẽ có nhiều cơ hội sống sót hơn. Nếu các vị lỡ có rơi vào tay một con gấu vùng cực, Cox sẽ vặn cổ nó tới chết”.

“Làm gì có gấu địa cực tại Nam Cực chứ”.

Ông Gillespie nhìn Pitt và nhún vai, “Tại sao không phòng ngừa nhỉ?”

Pitt không kháng cự. Tự đáy lòng, anh biết nếu có xảy ra chuyện tồi tệ nhất, một hoặc cả hai người đàn ông này có thể sẽ cứu sống anh.

Trong lúc mùa thu đang ngự trị khắp Nam Cực, biển quanh lục địa này cũng động dữ dội. Nhưng khi mùa đông đến và nhiệt độ giảm xuống, nước trở nên đậm đặc và bóng loáng như được bôi dầu. Sau đó, những mảnh băng tạo nên những cái đĩa trôi được gọi là “bánh kẹp”, lan rộng và dính vào nhau, và sau cùng tạo ra những tảng băng trôi phủ đầy tuyết. Vì năm nay băng hình thành sớm hơn mọi năm, nên Pitt, ông Northrop và Cox di chuyển không mấy khó khăn qua lớp băng gồ ghề nhưng trên mặt lại trơn láng. Họ đi vòng qua những chỗ băng nhô cao và hai tảng băng trôi đã rời khỏi bờ biển trước khi bị đông cứng trong khối băng. Đối với Pitt, những tảng băng trôi trông giống những cục bướu xấu xí trên một cơ thể nham nhở là mặt biển chung quanh.

Những vất vả khi phải vượt qua lớp tuyết dày cả bộ vẫn không làm chậm hành trình của họ. Bước chân của họ vẫn vững vàng. Tiến sĩ Northrop dặn đầu, quan sát khối băng lúc đi tới đề phòng mọi hiện tượng băng vỡ hoặc bị lạc. Ồng ta không phải kéo chiếc xe chở dụng cụ nên được rảnh tay để kiểm soát mặt băng. Vừa kéo một xe dụng cụ, Pitt theo sau ông Northrop, anh di chuyển dễ dàng nhờ những tấm ván trượt băng đã lấy từ nhà kho của cha anh tại Breckenridge, bang Colorado. Cox đi cuối cùng, kéo cả hai xe dụng cụ mà vẫn tỏ ra không hề cố gắng, như thể kéo hai món đồ chơi.

Hôm nay thời tiết thật đẹp, mặt trời rực rỡ trên một bầu trời trong vắt không một gợn mây đến tận chân trời. Màu xanh của bầu trời dần dần biến thành trắng xám và mặt trời trở thành một quả cầu màu cam nhạt. Những bông tuyết bắt đầu rơi, có thể nhìn thấy rõ ràng. Pitt không quan tâm đến chuyện thời tiết trở nên xấu đi, và không cho phép đầu óc bận bịu với mặt biển màu lục chỉ cách bàn chân anh một sải tay dưới kia. Anh không hề rời mắt khỏi những vách băng càng lúc càng cao hơn bên trên những tấm ván trượt của anh khi họ đến gần hơn. Anh có thể nhìn thấy ngọn núi Hansen phủ băng về phía đất liền, nhưng vẫn chưa thấy bất kỳ dấu hiệu nào, dù lờ mờ của chiếc tàu bị kẹt trong băng. Anh bắt đầu có cảm giác lạc lõng trong vùng mênh mông, hẻo lánh, vĩnh viễn không có người ở này.

Hơn một giờ sau, họ đã qua hết khối băng trôi và đến chân những vách băng dựng đứng. Ông Gillespie theo dõi mọi hành động của họ cho tới lúc họ dừng lại tại mép phía trong của khối băng. Những bộ quần áo màu ngọc lam do NUMA cung cấp khiến họ dễ dàng được nhận ra trên nền trắng lóa mắt của băng. Anh kiểm tra dụng cụ báo thời tiết có đến hàng chục lần. Tuyết vẫn rơi nhẹ và trời không có gió nhưng anh biết rõ hiện tượng này có thể thay đổi chỉ trong vài phút. Và gió thực sự là một nhân tố khó hiểu nhất. Không hề báo trước, nó có thể nhanh chóng biến đổi màu trắng chói chang trên mặt băng trở thành xám xịt kèm theo những tiếng hú rợn người.

Ông Gillespie nhấc điện thoại truyền qua vệ tinh của chiếc tàu lên, rồi bấm một chuỗi số. Ngay lập tức ông được nối dây với Đô đốc Sandecker. “Họ đã lên bờ và bắt đầu tìm kiếm”, ông thông báo cho chủ mình.

“Cám ơn cậu, Dan”, ông Sandecker trả lời. “Hãy báo cáo khi họ trở về”.

“Còn một chuyện khác nữa, thưa Đô đốc. Tôi sợ là chúng tôi sẽ gặp trở ngại”. Rồi ông thuật ngắn gọn câu chuyện chiếc tàu ngầm. Lúc ông kết thúc, một khoảnh khắc im lặng kéo dài, có lẽ ông Đô đốc dành thì giờ để tiêu hóa hết những gì mình vừa nghe.

Sau cùng, ông nói dứt khoát, “Tôi sẽ lo vụ này”.

Ông Gillespie trở lại đài chỉ huy và lại nhấc cái ống dòm lên. “Tất cả những sự việc này đều nhắm vào chiếc tàu vô chủ”, ông nói như một hơi thở. “Tốt hơn ta phải tỏ ra xứng đáng”.

Trên bờ, Pitt cố xua đuổi cảm giác chán nản. Anh biết quá rõ bất kỳ sự tìm kiếm nào về một thứ gì đó đã thất lạc quá lâu là cả một công việc gian nan. Không có cách nào để xác định có bao nhiêu lớp băng đã che lấp chiếc tàu trong suốt một trăm năm mươi năm. Theo tất cả những gì anh biết, có thể nó đã nằm sâu dưới cả trăm mét trong khối băng. Lấy vị trí chiếc tàu Polar Storm như một khởi điểm cơ bản, anh phỏng đoán họ đã cách nó khoảng hai dặm. Pitt và Cox mỗi người sử dụng một: máy định vị cầm tay nhỏ có kích cỡ bằng một bao thuốc lá để xác định vị trí của họ bất kỳ lúc nào. Họ bắt đầu leo lên, bỏ lại những xe chở dụng cụ tại địa điểm xuất phát này. Pitt đi đầu, hướng về bên trái, trong lúc Cox và ông Northrop lùng sục bên phải. Đến khi mỗi người bọn họ đi được chừng một dặm, họ đồng ý trở lại điểm xuất phát.

Đi nhanh hơn những người kia nên Pitt là người đầu tiên trở lại chỗ những xe chở dụng cụ. Sau một lúc xem xét từng khoảng cách nhỏ bên dưới những vách băng dựng đứng, anh chán nản vì không tìm ra dấu vết nào của chiếc tàu Madras. Ba mươi phút sau, nhà băng hà học về tới, ngồi dựa lưng vào một gờ băng nhỏ, chân tay duỗi thẳng ra, lấy lại hơi thở, xoa bóp đầu gối và mắt cá. Ông ta nhìn Pitt và phác một cử chỉ thất vọng.

“Rất tiếc, Dirk, tôi chẳng thấy gì trong khối băng có hình dáng một chiếc tàu cả”.

"Tôi cũng chẳng hơn gì ông”, Pitt nói.

“Tôi không thể nói gì nếu không có kiểm chứng, nhưng tôi dám cá là đã có lúc nào đó, khối băng vỡ ra và trôi đi, mang theo chiếc tàu cùng với nó ra biển”.

Giọng nói của ông Gillespie từ túi áo jacket bằng lông cừu của Pỉtt vọng ra. Anh lấy một máy bộ đàm cầm tay liên lạc giữa bờ và tàu, và trả lời. “Nói đi, Dan, tôi nghe cậu rất rõ”.

“Có vẻ sắp có bão lớn”, ông Gillespie cảnh báo. “Các bạn nên trở lại tàu càng nhanh càng tốt”.

“Chuyện này thì không chần chừ được. Sẽ sớm gặp lại cậu”.

Pitt nhét cái máy bộ đàm vào túi áo, nhìn lên phía băng trôi về phía bắc, và chỉ thấy trống trơn. “Ông rời Cox tại điểm nào?”

Bị hỏi đột ngột, ông Northrop ngồi thẳng lên và nhìn qua khối băng. “Cậu ta tìm thấy một khe hở trên vách băng và lách vào. Lúc đó tôi nghĩ cậu ta vào xem qua rồi sẽ quay ra ngay và đi theo tôi”.

“Tốt hơn tôi nên tìm cậu ta”.

Pitt lao đi trên hai tấm ván trượt theo dấu chân còn hiện rõ trên mặt tuyết. Hai dấu chân đi nhưng chỉ một dấu chân trở về. Gió nhanh chóng mạnh hơn, những bông tuyết nhỏ li ti trở nên dày hơn, như một tấm lụa mỏng. Ánh sáng rực rỡ bỗng chốc mờ đục và mặt trời hoàn toàn biến mất. Anh không thể không ngưỡng mộ sự can đảm của bà Rosanna Mender. Anh nghĩ sự kiện bà đã sống sót sau trận bão tuyết lạnh buốt quả là một phép lạ. Anh nhận ra mình đang trượt đi dưới những doi băng hiện ra lờ mờ trên đầu mình, và có cảm giác bất cứ lúc nào một trong những doi băng đó cũng có thể rơi xuống vùi chôn anh.

Anh nghe tiếng gọi lớn bị tắt nghẹn vọng lại từ một nơỉ không xa lắm lẫn trong tiếng gió rít. Anh dừng lại và lắng nghe, tai vểnh lên như muốn xé rách tấm màn băng.

“Ông Pitt! Đến đây!”.

Lúc đầu, Pitt không trông thấy gì trừ vách khối băng trắng bệch đông cứng. Sau đó anh thoáng thấy một mảnh vai màu ngọc lam ve vẩy trên đầu một ngọn giáo ló ra từ vách khối băng. Pitt nhấn hai đầu cặp gậy trượt xuống mặt tuyết và lướt về phía Cox. Anh có cảm tưởng mình giống như Ronald Colman tại Lost Horizon, vùng vẫy trượt qua cơn bão tuyết khủng khiếp của ngọn Himalaya để vào được hang động đưa ông ta tới Shangri-la. Trong phúc chốc, anh đã lọt vào một khe nứt và sau đó, nhận ra mình đang ở trong một nơi không có gió, khô ráo và yên tĩnh.

Anh chồm tới trên hai cây gậy trượt tuyết và nhìn chung quanh một căn hầm bằng băng rộng mỗi bề khoảng tám bộ và phía trên thu hẹp lại như một chóp núi cao khoảng hai mươi bộ. Từ lối vào, màu tro xám của căn hầm chuyển dần thành màu đen ngà. Vật duy nhất có màu sắc rõ ràng anh có thể nhìn thấy là bộ quần áo chống lạnh của Cox.

“Một trận bão dữ đang thành hình”, Pitt nói, chỉ về hướng lối vào. “Tốt nhất là ta nên quay lại tàu ngay”.

Cox kéo cặp kính bảo hộ lên, nhìn Pitt với ánh mắt kỳ lạ. “Ông muốn rời nơi này à?”

“Ở đây tốt thật, nhưng chúng ta không được phí phạm thì giờ”.

“Tôi nghĩ ông đang tìm kiếm một chiếc tàu cũ phải không?”

“Tôi cũng nghĩ thế”, Pitt có vẻ cáu.

Cox đưa bàn tay đeo găng lên, duỗi thẳng ngón trỏ về một hướng trên cao. “Sao?”

Pitt ngước nhìn. Chỗ đó, gần đỉnh khe nứt, một phần nhỏ bằng gỗ của đuôi một chiếc tàu cũ chạy buồm nhô ra khỏi khối băng.

 Pitt trượt tuyết trở lại chỗ Tiến sĩ Northrop và họ cùng kéo ba chiếc xe trượt tuyết chở dụng cụ vào trong căn hầm băng. Pitt cũng thông báo vắn tắt cho thuyền trưởng Gillespie về phát hiện của họ và bảo đảm với ông ta rằng họ an toàn và ấm áp trong căn hầm.

Cox nhanh chóng lấy ra những dụng cụ và bắt đầu tấn công tảng băng với một cái búa và đục, tạo chỗ bám để đặt tay chân thành một bậc thang để leo lên chỗ lộ ra của chiếc tàu bị băng chôn vùi. Boong trên cùng của chiếc tàu không bị băng bao phủ khi bà Rosanna và chồng - thuyền trưởng Bradford Mender - xâm nhập tàu Madras. Nhưng trải qua một trăm bốn mươi năm, băng đã hoàn toàn phủ kín chiếc tàu cho tới đỉnh những cột buồm của nó.

“Tôi rất ngạc nhiên khi thấy nó được bảo quản tốt như thế”, ông tiến sĩ nói. “Tôi tưởng cho tới lúc này nó đã bị ép nát như những cây tăm xỉa răng rồi chứ”.

“Nó chứng tỏ rồi đấy”, Pitt nói, giọng khô khan. “Các nhà băng hà học đã nhầm”.

“Nghiêm chỉnh mà nói, sự kiện này đáng nghiên cứu kỹ lưỡng. Những vách băng ở đây, tại bờ biển, đã trồi lên và không bị vỡ. Đó là một hiện tượng rất không bình thường. Phải có một lý do xác đáng giải thích tại sao khối băng ở đây cứ cao lên mà không bị đẩy ra biển”.

Pitt ngước nhìn Cox đang đục một bậc cấp dẫn lên chỗ thân tàu lộ ra. “Tại sao cậu làm như thế, Ira?”

“Những tấm ván vách tàu cũng bị đông cứng và trở nên dễ vỡ như cặp mắt kính của bà nội tôi. Tôi phải khoét một cái lỗ đủ bự để chui vào bên trong thân tàu trong một giờ nữa”.

“Coi chừng cậu đục trúng ngay sườn tàu thì may ra một tuần lễ nữa cậu mới chui qua đấy”.

“Tôi biết một chiếc tàu được kiến trúc như thế nào mà, ông Pitt”, Cox chọc tức.

“Câu làm gì cũng được”, Pitt thân mật nói, “miễn là bốn mươi phút nữa chúng ta sẽ lọt vào bên trong chiếc tàu và thuyền trưởng Gillespie sẽ thưởng cậu một chai có dây nơ xanh về tài đục băng của cậu”.

Cox không phải là người dễ tiếp cận. Anh ta có rất ít bè bạn trên tàu Polar Storm. Ấn tượng đầu tiên của anh ta về Pitt là “thằng nhóc này trông sao mà quan liêu thế, cứ ra cái điều ta đây là một trong những nhân vật sừng sỏ của NUMA”, nhưng lúc này, anh ta đã nhận ra gã giám đốc dự án đặc biệt của NUMA là một người bình dị, có chiều sâu nhưng lại rất hài hước. Anh ta thực sự bắt đầu thích Pitt. Cảm giác lạnh nhạt bắt đầu tan biến.

Ba mươi bốn phút sau, Cox leo xuống và loan báo thắng lợi. “Đã có lối vào, thưa quí ông”.

Pitt cúi đầu thật sâu. “Cám ơn cậu, Ira. Đại tướng Lee  phải hãnh diện vì cậu đấy”. (Đại tướng Robert E.Lee và Thomas “Tường đá” Jackson là hai tướng lãnh sáng chói nhất của 11 bang ly khai miền Nam trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. ND.)

Cox cúi đầu trả lễ. “Như tôi thường nói “hãy dành dụm tiền bạc cho các bang ly khai”. Ông làm sao biết được các Bang ly khai có thể lại nổi dậy lắm chứ”.

“Tôi tin chuyện đó có thể xảy ra mà”.

Pitt leo lên những bậc thang Cox đã đục vào tảng băng và là người đầu tiên chui qua lỗ trống. Đôi giày bốt của anh chạm sàn tàu cách lỗ trống khoảng bốn bộ về phía dưới. Anh nhận ra mình đang lọt vào một cabin gần phần sau thân tàu.

“Thấy gì không?” ông Northrop nôn nóng hỏi.

“Một căn bếp đóng băng”, Pitt trả lời. Anh ló đầu ra ngoài lỗ trống. “Lên đi, và mang theo đèn chiếu”.

Cox và ông Northrop nhanh chóng nhập bọn với Pitt. Những đèn chiếu của họ soi sáng khắp căn phòng như ánh sáng ban ngày. Ngoại trừ những lớp bồ hóng bám vào ống khói cái lò bếp bằng sắt lớn và những lò nướng, căn bếp trông thật lạnh lẽo như thể nó chưa bao giờ được dùng tới. Pitt mở cửa lò nướng nhưng không thấy có tro bên trong.

“Những kệ để đồ dùng đều trống trơn”, Cox nhận xét. “Chắc chắn họ đã ăn cả giấy, thùng chứa và ly tách”.

“Có lẽ chỉ ăn giấy thôi”, ông Northrop nói khẽ, bắt đầu cảm thấy nặng nề.

“Chúng ta cùng tập trung quan sát”, Pitt đề nghị, “Một trong chúng ta có thể phát hiện điều gì đó mà những người khác bỏ sót”.

“Chúng ta phải tìm kiếm loại đặc biệt gì?” Cox hỏi.

“Một phòng chứa cổ vật nằm ngay bên dưới cabin thuyền trưởng”.

“Tôi cho rằng phải có đến hai hoặc nhiều boong tàu bên dưới chỗ chúng ta đang đứng”.

“Phòng này chắc hẳn là căn bếp dành cho các sĩ quan trên tàu và hành khách. Cabin thuyền trưởng cũng gần đâu đây thôi. Chúng ta hãy tìm một hành lang bên dưới”.

Pitt bước qua một cánh cửa và chiếu ngọn đèn của mình vào một phòng ăn tập thể. Bàn, những cái ghế và các thứ đồ gỗ chung quanh đều bị phủ một lớp băng dày đến một inch. Dưới ánh sáng những bóng đèn cao áp của họ, cả căn phòng lấp lánh như một ngọn đèn chùm. Một bộ đồ trà nằm ngay giữa bàn ăn như đang đợi người sử dụng nó.

“Chẳng có ai ở đây cả”, ông Northrop nói, đã có vẻ bớt căng thẳng.

“Tất cả đều chết trong cabin của họ”, Pitt nói. “Có lẽ do cả ba nguyên nhân là thân nhiệt giảm, đói và thiếu vitamin”.

“Chúng ta sẽ tiếp tục đi đâu?” Cox hỏi

Pitt chiếu đèn qua một cánh cửa phía cuối cái bàn ăn. “Qua bên đó, chúng ta sẽ tìm thấy một lối đi dẫn xuống boong bên dưới”.

“Do đâu ông biết cách bố trí của một chiếc tàu đã có hai trăm năm tuổi?”

“Tôi đã nghiên cứu bản vẽ và thiết kế những chiếc tàu buôn của Đông An công ty. Dù chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy một chiếc nào, tôi vẫn nhớ nằm lòng từng xó xỉnh của chúng”.

Họ leo xuống một cái thang, trượt chân trên những nấc thang đóng băng nhưng vẫn không té ngã. Pitt dẫn đầu, đi qua một khẩu ca nông trông còn mới như vừa xuất xưởng chưa được bao lâu. Cánh cửa phòng chứa đồ vẫn để mở, như lúc bà Rosanna và toán thủy thủ tàu Paloverde rời khỏi nó.

Pitt, trong trạng thái căng thẳng, bước vào và quét ngọn đèn chiếu khắp căn phòng.

Những thùng gỗ chứa hàng vẫn xếp ngăn nắp từ sàn lên tới nóc phòng dọc theo thân tàu, như lúc chúng được mang tới vào năm 1858. Hai trong những thùng gỗ nằm trên sàn, chốt cài mở sẵn. Một bình trà bằng đồng đỏ nằm bên cạnh, sau cánh cửa, nơi nó đã lăn tới khi ông Mender và toán thủy thủ của ông hối hả rời khỏi chiếc tàu lúc khối băng bắt đầu tan ra và trôi ra biển.

Pitt quì xuống và khởi sự lấy ra những đồ vật từ những thùng gỗ đã mở chốt với thái độ trân trọng và đặt chúng lên sàn phòng phủ băng. Trong một lúc, anh đã sưu tập không chỉ những tượng nhỏ chạm khắc những thú vật thường thấy như chó, mèo, sư tử, những loài thú nuôi mà còn cả những điêu khắc các loài động vật anh chưa trông thấy bao giờ. Một số tượng được chạm trổ từ đồng đỏ, phần lớn từ đồng thau. Anh cũng tìm thấy những hình tượng về con người, đa số là phụ nữ trong những áo chùng dài với những chiếc váy xếp nếp che kín cặp chân đến tận bàn chân trong những đôi ủng lạ lùng. Những mái tóc trang điểm cầu kỳ, và thắt thành bím xõa dài đến thắt lưng và bộ ngực có độ lớn vừa phải.

Nằm dưới đáy những thùng gỗ, giống như những thẻ đánh bạc trên những bàn gieo xúc xắc trong những sòng bạc lớn, là những miếng đồng hình đĩa tròn dày khoảng nửa inch và có đường kính năm inch. Những đĩa này được chạm trổ trên cả hai mặt với sáu mươi biểu tượng, theo Pitt trông giống những biểu tượng trong căn hầm tại khu mỏ Paradise. Chính giữa những cái đĩa là những hình tượng người Ai Cập cổ, một bên là một người đàn ông và bên kia là một phụ nữ. Người đàn ông đội trên đầu một cái nón hình chóp gập lại về một bên, và một cái áo giống như áo choàng bên ngoài cái áo giáp che ngực và một cái váy ngắn na ná cái váy xếp nếp của người Tô Cách Lan. Ông ta cưỡi một con ngựa một sừng nhô lên từ đỉnh đầu, tay cầm một thanh gươm to bản đưa cao lên khỏi đầu trong hành động đang chém ngang cổ một con quỉ có hình dáng một con thằn lằn với những cái miệng rộng hoác chơm chởm răng.

Người phụ nữ bên mặt kia cái đĩa mặc quần áo cũng tương tự người đàn ông, nhưng có nhiều đồ trang sức hơn trên thân mình, nhiều xâu chuỗi với những vật trông giống vỏ sò và một loại hạt gì đó. Bà ta cũng cưỡi một con ngựa có sừng ngay đỉnh đầu. Thay vì cầm một thanh gươm, bà ta đang đâm một cây giáo vào một con thú mà Pitt nhận ra là một con cọp răng kiếm, một loài động vật đã tuyệt chủng từ nhiều ngàn năm.

Đầu óc Pitt lãng đãng trở về một thời đại khác, tại một nơi khác, mơ hồ và chập chờn, hiện ra như một màn sương. Lúc cầm những cái đĩa trong lòng bàn tay, anh cố cảm nhận sự tiếp xúc gần gũi với những người đã tạo ra chúng. Nhưng thần giao cách cảm không phải là một trong những sở trường của Pitt. Anh là một người gắn liền với cái ở đây và bây giờ. Anh không thể vượt qua bức tường vô hình ngăn cách quá khứ với hiện tại.

Trạng thái mơ mộng của Pitt bị phá vỡ bởi giọng nói mang âm điệu miền Nam của Ira Cox.

“Ông có muốn mang những thùng gỗ này lên xe chở dụng cụ không?”

Bừng tỉnh, Pitt ngước nhìn lên và gật đầu. “Ngay sau khi tôi đậy nắp những thùng gỗ lại, chúng ta sẽ mang chúng lên boong trên. Sau đó dùng dây thả chúng qua lỗ thủng cậu đã đục trên thân tàu xuống mặt sàn căn hầm băng”.

“Tôi đếm có tất cả hai mươi bốn thùng gỗ”, ông Northrop nói. Ông ta bước lại chỗ một thùng gỗ và nhấc một cái lên. Gương mặt ông ta chuyển sang đỏ như gấc và đôi mắt trợn trừng.

Cox nhanh chóng nhận ra tình huống, đỡ cái thùng gỗ từ tay ông tiến sĩ dễ dàng như ẵm một đứa trẻ. “Tốt hơn ông nên dành những công việc nặng nhọc cho tôi, ông tiến sĩ”.

“Cậu không biết tôi chịu ơn cậu nhiều chừng nào đâu, Ira”, ông Northrop nói, mừng rỡ vì thoát khỏi những thùng gỗ nặng gần cả trăm cân Anh.

Cox chọn phần việc nặng nhọc nhất. Mỗi bên vai vác một thùng gỗ, anh ta chuyển chúng cho Pitt. Pitt buộc dây và thả chúng xuống những xe chở dụng cụ đợi sẵn. Tại đây, ông Northrop xếp gọn chúng lại. Khi đã chấm dứt công việc, trên mỗi chiếc xe có tám cái thùng gỗ. Pitt bước lại chỗ lối vào hầm băng và gọi về chiếc tàu. “Chỗ ông lúc này trận bão thế nào?” Anh hỏi ông Gỉllespie.

“Theo dự đoán của những nhà khí tượng học trên tàu, nó còn kéo dài vài giờ nữa”.

“Những xe chở dụng cụ đã đầy ắp những cổ vật”, Pitt nói.

“Cậu cần giúp đỡ gì không?”

“Mỗi chiếc xe phải gánh gần tám trăm cân Anh. Mọi giúp đỡ để đưa chúng về tàu Polar Storm đều được hoan nghênh”.

“Chờ đến lúc thời tiết sáng sủa hơn nhé”, ông Gillespie nói. “Đích thân tôi sẽ đưa người đến giúp các cậu”.

“Cậu thực sự muốn tới chỗ chúng tôi chứ?”

“Không cho tôi đặt chân lên boong của chiếc tàu từ thế kỷ mười tám à? Tôi thà không được uống cônhắc của Pháp còn hơn”.

“Tôi sẽ giới thiệu cậu với ông thuyền trưởng”.

“Cậu đã gặp ông thuyền trưởng?” Ông Gillespie tò mò hỏi.

“Chưa, nhưng nếu bà Rosanna Mender không quá tọc mạch, chắc chắn ông ta không bị khuấy động như thế này”.

Thuyền trưởng Leigh Hunt vẫn ngồi tại bàn giấy nơi ông đã chết năm 1779. Không có gì thay đổi, từ vết nứt nhỏ của khối băng đã giam hãm chiếc tàu trước kia. Với sự kính trọng, họ quan sát đứa bé nằm trong cái giường cũi và bà Hunt, sau hai thế kỷ, lớp băng đã phủ kín vẻ mặt buồn bã và hình dáng mảnh khảnh thanh lịch của bà. Con chó chỉ là một đống màu trắng đông cứng.

Họ đi qua những cabin, chiếu đèn lên những hành khách đã chết từ lâu. Lớp băng như những tấm vải liệm sáng lấp lánh chỉ cho thấy phần nào những cái xác bên dưới. Pitt cố hình dung những động tác cuối cùng của họ, nhưng thảm kịch có vẻ quá cay đắng, và anh không thể đủ điềm tĩnh để nghĩ tới. Nhìn thấy những cái xác nhợt nhạt dưới ánh sáng mờ đục qua lớp băng, người ta khó lòng tưởng tượng họ đã là những người từng sống, thở và làm việc hằng ngày trước khi chết tại một nơi xa xôi, khủng khiếp nhất của thế giới. Những biểu cảm trên một số gương mặt méo mó qua lớp băng, trông thật ghê rợn, không sao mô tả đúng được. Đó là những cảm nghĩ sau cùng của họ khi họ mất hết hy vọng được cứu thoát, có phải thế?

“Một ác mộng”, ông Northrop thì thầm, “nhưng một ác mộng vinh quang”.

Pitt nhìn ông ta với ánh mắt dò hỏi, “Vinh quang?”

“Tất cả đều lạ lùng. Những xác chết được bảo quản hoàn hảo, đông cứng qua thời gian. Hãy nghĩ xem sự kiện này có ý nghĩa thế nào đối với khoa vật lý nhiệt độ thấp. Hãy nghĩ đến khả năng có thể mang tất cả bọn họ trở lại với cuộc sống xem”.

Ý nghĩ đó làm Pitt choáng váng như bị nện vào đầu. Liệu khoa học có thể một ngày nào đó, làm sống lại những hành khách và thủy thủ đã chết đông cứng này của tàu Madras? “Hãy nghĩ đến sự kinh ngạc của những người này về sự sống nếu họ được làm sống lại sau khi đã chết hai trăm năm?”

Ông Northrop vung cả hai bàn tay “Tại sao mơ mộng? Chuyện đó chưa xảy ra trong thời đại của chúng ta đâu”.

“Có lẽ không”, Pitt nói, vừa nghĩ về khả năng đó, “nhưng ước gì tôi có thể chứng kiến phản ứng của những người đáng thương này lúc họ trông thấy những gì đã xảy ra trên thế giới của họ từ năm 1779”.

Những đám mây bão đã đi qua và gió cũng lặng bốn giờ sau đó. Cox đứng bên ngoài căn hầm và ve vẩy tấm vải dầu dùng để gói những dụng cụ đục băng như một lá cờ hiệu. Một số người trên tàu nhận ra dấu hiệu và bắt đầu luồn lách tìm đường trên mặt tuyết lồi lõm để tới hầm băng. Pitt đếm tất cả có tới mười hình dáng màu ngọc lam nhỏ như những con kiến đang vượt qua khối băng trắng toát hướng về phía chỗ bọn anh. Khi họ tới gần hơn, Pitt có thể nhận ra thuyền trưởng Gillespie dẫn đầu. Anh cũng nhận ra bóng dáng bé nhỏ ngay sau ông ta là cô phóng viên Evie Tan.

Ba mươi phút sau, ông Gillespie bước thẳng tới chỗ Pitt và mỉm cười. “Một ngày đẹp trời để đi dạo trong công viên”, ông ta vui vẻ nói.

“Xin đón mừng những người mới đến bảo tàng cổ vật Nam Cực”, Pitt nói, vừa đưa ông thuyền trưởng vào trong hang và chỉ lên thân tàu. “Hãy chú ý lúc đặt chăn lên cái thang Ira đã đục vào khối băng”.

Trong lúc Pitt và ông Gillespie đi một vòng trong chiếc tàu Madras với Evie, lúc này đã chụp hết mười cuộn phim, ghi lại tất cả mọi chi tiết của chiếc tàu cũ, thì Cox và tiến sĩ Northrop giúp các thủy thủ tàu Polar Storm kéo những chiếc xe trượt tuyết chở dụng cụ và khối lượng hàng hóa cổ vật trở lại chiếc tàu phá băng.

Pitt thích thú nhìn Evie mở dây khóa chiếc áo khoác to kềnh bằng da của người Eskimo, vén cái áo len dày bên trong lên để buộc những cuộn phim vào cái áo lót dài của cô bằng băng keo. Cô nhìn Pitt, mỉm cười. “Để bảo vệ phim không bị hỏng vì thời tiết quá lạnh”.

Jake Bushey, sĩ quan thứ nhất của tàu Polar Storm, gọi thuyền trưởng Giỉlespie qua cái radio xách tay của anh ta. Ong Gillespie lắng nghe một lúc rồi nhét cái radio vào túi áo Pitt có thể nói qua những gì lộ ra qua nét mặt Gillespie rằng ông ta vừa nhận một tin không vui. “Chúng ta phải về tàu thôi”.

“Lại một cơn bão nữa à?” Evie hỏi.

Ông thuyền trưởng lắc đầu. “Chiếc tàu ngầm”, ông ta lạnh lùng trả lời. “Nó nổi lên khỏi lớp băng cách tàu Polar Storm không đầy một dặm”.

Lui đến gần chiếc tàu và nhìn qua nó về phía xa ngoài khối băng, họ có thể thấy rõ ràng hình dáng như con cá voi màu đen của chiếc tàu ngầm hiện ra nổi bật trên khối băng trắng toát. Đến gần hơn, họ có thể phân biệt những hình dáng đứng trên đài chỉ huy tàu ngầm, trong lúc những người khác bò từ trong thân tàu ra và tụ lại quanh khẩu súng đặt trên boong. Lúc này nó chỉ còn cách tàu Polar Storm khoảng một phần tư dặm.

Ông Gillespie gọi người sĩ quan thứ nhất của mình qua radio, “Bushey?”

“Tôi đây, thưa thuyền trưởng”.

“Đóng các cửa ngăn nước lại và ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ và các nhà khoa học mặc áo phao cứu sinh ngay”.

“Vâng”, Bushey trả lời. “Đã ra lệnh đóng các cửa ngăn nước”.

“Chiếc tàu ma đó chẳng khác gì ôn dịch”, ông Gillespie thầm thì. “Vận rủi của nó luôn lây lan”.

“Hãy cám ơn những ân điển nhỏ”, Pitt nói. “Một tàu lặn không có cách gì có thể bắn thủy lôi qua lớp băng”.

“Đúng, nhưng nó còn khẩu súng trên boong”.

Âm thanh báo động cảnh báo những người trên tàu lo đóng những cửa trên những vách ngăn của tàu lan qua bầu không khí lạnh ngắt của băng giá trong lúc Pitt và những người khác vội vã lao về phía chiếc tàu. Tuyết cứng lại dưới sức nặng của những chiếc xe và số hàng hóa nặng nề của chúng, tạo ra lối đi để họ dễ dàng theo sau. Nhiều thủy thủ đang đứng trên lớp tuyết quanh chỗ cầu tàu vẫy tay hối thúc họ đi nhanh hơn.

Ông thuyền trưởng lại gọi qua radio, “Bushey. Tàu ngầm có tìm cách tiếp xúc không?”

“Không, thưa ngài. Tôi thử gọi họ nhé?”

Ông Gillespie suy nghĩ một lúc, “Không, chưa, nhưng nhớ lưu ý mọi hành động đáng ngờ của nó”.

“Cậu có liên lạc với Hạm trưởng chiếc tàu ngầm trong suốt chuyến đi từ bán đảo chứ?” Pitt hỏi.

“Tôi có thử hai lần, nhưng đều không có câu trả lời”.

Ông Gillespie vẫn để mắt đến chiếc tiềm thủy đỉnh. “Đô đốc nói gì lúc cậu thông tin cho ông ấy?”

“Tất cả những gì ông già nói là “Tôi sẽ lo vụ này”.

“Cho dù ông Đô đốc hứa thế nào, cậu vẫn phải tự lo trước đã”, Pitt dừng lại, nghĩ ngợi. “Hãy bảo Jake gởi một thông điệp cho tàu ngầm, cảnh báo gã Hạm trưởng rằng chiếc tàu nghiên cứu của cậu đã thả những khối thuốc nổ tạo sự động đất ở dưới nước, dưới những tảng băng đúng ngay vị trí tàu ngầm của hắn vừa trồi lên”.

“Cậu chờ mong điều gì với kiểu dối trá đó?”

“Chúng ta phải bất động. Dù kế hoạch của ông Đô đốc như thế nào, ông ấy cũng cần thời gian chuẩn bị”.

“Chúng có thể nghe được những gì chúng ta nói qua radio”.

“Tôi có nghĩ tới điều đó”, Pitt nói và mỉm cười.

“Nếu chúng hành động như đã từng làm trong Thế chiến Hai để phá hoại những tàu vận tải đi lẻ loi, thì chúng đang gây nhiễu sóng thông tin vệ tinh của chúng ta”.

“Tôi cũng đã nghĩ tới chuyện này”.

Họ vẫn còn nửa dặm nữa mới tới chiếc tàu. Ông Gillespie nhấn nút truyền tin của cái radio. “Bushey, cậu nghe tôi kỹ nhé”, sau đó ông ta dặn người sĩ quan thứ nhất của mình phải nói và làm gì, và tin chắc chiếc tàu ngầm đang nghe những trao đổi của họ.

Bushey không hỏi gì thêm, cũng không chút ngần ngừ. “Tôi hiểu rồi, thưa Thuyền trưởng. Tôi sẽ tiếp xúc chiếc tàu đó ngay để cảnh báo họ”.

“Cậu có một phụ tá rất cừ”, Pitt nói với vẻ khâm phục.

“Bảnh thật đấy”, ông Gillespie gật đầu xác nhận.

“Chúng ta sẽ đợi mười phút, sau đó lại bày trò khác và hy vọng gã Hạm trưởng tàu ngầm sẽ mắc lừa”.

“Chúng ta hãy nhanh lên”, ông Gillespie hối thúc.

Pitt quay sang Evie Tan đang thở nặng nhọc. “Ít nhất cô cũng để tôi mang giúp những dụng cụ chụp ảnh chứ”.

Cô lắc đầu bướng bỉnh, “Những thợ chụp ảnh phải tự mang các trang bị của mình. Tôi không sao đâu, đi thôi. Tôi sẽ bắt kịp quí vị tại chiếc tàu”.

“Tôi không muốn là một gã đê tiện”, ông Gillespie nói, “nhưng tôi phải có mặt trên tàu càng sớm càng tốt”,

“Cậu đi trước đi”, Pitt bảo ông ta, “chúng tôi sẽ gặp cậu trên tàu”.

Ông thuyền trưởng bắt đầu chạy thục mạng. Pitt cố nài Evie sử dụng bộ đồ trượt tuyết của anh, nhưng cô từ chối thẳng thừng. Lúc này, với một chút nhượng bộ, cô gái đồng ý để Pitt buộc hai bàn chân cô vào hai tấm ván trượt và đón nhận cặp gậy anh đưa cho. “Cô đi trước nhé. Tôi muốn quan sát chiếc tàu ngầm gần hơn”.

Sau khi Evie trượt đi, Pitt đổi hướng, đi về phía sau đuôi tàu ngầm. Qua mặt băng, anh chăm chú nhìn chiếc tàu và có thể thấy nhóm thủy thủ đang điều chỉnh khẩu súng trên boong và các sĩ quan đang chồm qua thành tàu trên đài chỉ huy. Có vẻ họ không mặc những bộ đồng phục của thủy thủ Đảng Quốc xã Đức. Tất cả đều mặc y phục màu đen giản dị ôm sát thân mình.

Pitt đứng tại nơi có thể bị nhóm người trên tàu ngầm dễ dàng nhìn thấy. Anh nhấn nút thông tin cái radio xách tay, “Tôi đang nói chuyện với người chỉ huy tàu ngầm U-2015. tên tôi là Pitt. Ông có thể nhìn thấy tôi đứng cách phía sau đuôi tàu Polar Storm, trên khối băng”. Anh dừng một lúc để bọn người kia nhìn thấy mình trước khi nói tiếp. “Tôi hoàn toàn biết rõ các ông là ai. Ông hiểu chứ?”

Cái radio chỉ phát ra những âm thanh rè rè, rồi sau đó là một giọng nói thân thiện. “Vâng, chào ông Pitt. Đây là Hạm trưởng tàu U-2015. Chúng tôi có thể giúp các ông bằng cách nào?”

“Ông đã biết tên tôi, Hạm trưởng. Còn tên ông?”

“Ông không cần biết”.

“Vâng”, Pitt điềm tĩnh nói, “điều đó cũng dễ hiểu thôi. Những người bạn nối khố của ông từ tổ chức Vận Hội Mới, hoặc tôi có thể nói là Đệ Tứ Đế quốc, rất kiên trì giấu kín bí mật. Nhưng xin đừng lo, tôi hứa không rỉ răng điều gì dính líu tới băng nhóm giết người không ghê tay của các ông đâu, kể cả những kẻ đầu não với tinh thần yêu nước bệnh hoạn mà các ông còn tôn sùng tới ngày nay”.

Đó là một đòn chí tử của Pitt, hoàn toàn do anh suy đoán, nhưng sự im lặng kéo dài báo cho Pitt biết anh đã giáng trúng đòn. Một phút trôi qua trước khi giọng nói của gã Hạm trưởng chiếc tàu lặn vọng ra từ cái radio nhỏ.

“Vậy ông là kẻ cùng-lúc-có-mặt-tại-nhiều-nơi Dirk Pitt”.

“Chính tôi”, Pitt trả lời, cảm nhận được chiến thắng vì anh đã bấm đúng huyệt. “Tôi không nghĩ tiếng tăm của mình lại lan truyền nhanh chóng đến thế”.

“Tôi thấy ông đã không phí phạm thì giờ khi rời Colorado để tới miền Nam Cực này”.

“Lẽ ra tôi đã tới sớm hơn, nhưng tôi còn phải lo giải quyết những cáỉ xác của đám bạn ông”.

“Ông đang trắc nghiệm sự kiên nhẫn của tôi đấy à, ông Pitt?”

Cuộc đàm thoại bắt đầu trở nên vô nghĩa, nhưng Pitt muốn chọc tức gã Hạm trưởng để kéo dài thời gian. “Không, tôi chỉ mong ông giải thích thái độ kỳ quặc của ông. Thay vì tấn công một chiếc tàu nghiên cứu đại dương không được trang bị vũ khí, ông nên có mặt tại phía bắc Đại Tây Dương, và dùng thủy lôi tấn công những tàu buôn yếu đuối”.

“Chúng tôi đã chấm dứt thái độ thù địch từ Tháng Tư 1945”.

Pitt không thích trông thấy khẩu súng máy đặt phía trước đài chỉ huy tàu ngầm chĩa mũi về phía anh. Anh biết thời gian không còn nữa và chắc chắn chiếc tàu ngầm đang tìm cách hủy diệt tàu Polar Storm và tất cả những người thuộc về nó. “Vậy chừng nào các ông phát động Đệ Tam Đế chế?”

“Tôi thấy chẳng có lý do gì để kéo dài cuộc đàm thoại này, ông Pitt”. Giọng nói trở nên nhẹ như một hơi thở, giống như người phát thanh viên thời tiết trên Đài Truyền hình Cheyenne bang Wyoming. “Tạm biệt”.

Pitt không cần bị chọc que nhọn vào mắt để hiểu chuyện gì đang xảy ra. Anh lăn mình vào sau một gò băng đúng lúc khẩu súng máy trên đài chỉ huy tàu ngầm nhả đạn. Những đầu đạn rít qua bầu không khí và tạo ra những âm thanh va chạm lạ lùng khi chúng đập vào khối băng. Pitt nằm sau gò băng với tâm trạng chán nản cùng cực vì không thể xoay trở. Lúc này anh cảm thấy ân hận vì đã mặc bộ quần áo chống lạnh màu ngọc lam của NUMA. Màu sắc của nó nổi bật lên nền trắng lớp băng, biến anh thành một bia nhắm lý tưởng.

Từ chỗ nằm, Pitt có thể nhìn lên cấu trúc tuyệt hảo của tàu Polar Storm. Đã gần, nhưng vẫn còn xa. Anh bắt đầu lắc lư thân mình để tuột bộ quần áo màu ngọc lam ra cho đến lúc chỉ còn lại cái áo len và quần len trên người. Đôi giày bốt tỏ ra chỉ gây vướng víu trong lúc chạy, vì vậy anh cũng tháo bỏ nốt và chỉ còn lại đôi tất chống lạnh. Những đầu đạn đã thôi reo hò chào mừng anh. Gã xạ thủ chắc hẳn đã tin anh phải ăn no đạn.

Anh trét tuyết lên mái tóc để màu đen của nó không còn nổi bật trên nền tuyết trắng. Rồi anh chăm chú quan sát qua mép gò băng. Gã xạ thủ đang cúi gập mình trên vũ khí của hắn, còn gã Hạm trưởng chiếc tàu lặn đang chĩa ống dòm về phía Pitt. Một lúc sau, anh nhìn thấy gã Hạm trưởng quay mũi ống dòm về phía chiếc tàu Polar Storm. Tên xạ thủ cũng xoay hướng súng theo hướng gã chỉ huy của hắn đang nhắm.

Pitt hít vào một hơi thở sâu rồi nhổm lên, chạy qua khối băng theo hình ziczac với tốc độ cũng nhanh nhẹn như nhiều năm trước kia, lúc anh gia nhập Học viện Không Lực. Chỉ có điều lần này không có Al Giordino cùng chạy với anh. Băng thấm qua đôi bít tất và cắt bàn chân Pitt, nhưng anh cố xua đuổi cơn đau.

Anh chạy được khoảng ba chục mét trước khi toán thủy thủ chiếc tàu ngầm nhận ra và lại bắt đầu nhả đạn. Nhưng những đầu đạn của chúng hoặc bay lên cao, hoặc lạc về phía sau anh.

Trước khi chúng điều chỉnh và bắt đầu hướng theo anh thì đã quá trễ. Pitt đã chạy vòng ra phía sau bánh lái chiếc tàu Polar Storm một giây trước khi những đầu đạn đập vào lớp vỏ thép của chiếc tàu, làm tróc những mảng sơn, như những con ong giận dữ.

Khi đã an toàn sau mép tàu, anh bước chậm và lấy lại hơi thở. Cầu tàu đã được kéo lên, và ông Gillespie đã ra lệnh cho chiếc tàu quay mũi một trăm tám mươi độ với vận tốc tối đa, nhưng một chiếc thang dây đã được ném xuống bên hông tàu. Pitt chạy dọc theo con tàu trong lúc nó tăng tốc, chộp lấy cái thang và đu mình lên, đúng lúc những mảnh băng văng tung tóe khi mũi tàu lướt qua bên dưới hai bàn chân mang bít tất của anh.

Ngay khi vừa chạm lan can tàu, Pitt đã được Cox nhấc lên và đặt anh đứng trên boong. “Chúc mừng trở về”, anh ta nói với nụ cười toét miệng.

“Cám ơn cậu, Ira”, Pitt thở hào hển.

“Thuyền trưởng muốn gặp ông trên đài chỉ huy”.

Pitt gật đầu và băng qua boong tàu về phía cái thang dẫn lên đài chỉ huy.

“Ông Pitt”.

Quay lại, Pitt nói, “Vâng?”

Cox gật đầu về phía những dấu máu do hai bàn chân Pitt để lại trên boong. “Ông phải nhờ bác sĩ trên tàu kiểm tra hai bàn chân xem”.

“Tôi sẽ nhớ làm chuyện đó trước tiên”.

Đứng bên hông đài chỉ huy, ông Gillespie đang theo dõi động tĩnh của chiếc tàu ngầm, thân tàu màu đen của nó nổi bật giữa lớp băng nơi nó đã nổi lên. Ông ta quay lại khi Pitt leo lên thang. “Cậu bực mình lắm nhỉ?”

“Chỉ tại tôi chọc tức hắn”.

“Đúng, tôi đã nghe những trao đổi giữa hai người”.

“Hắn có tiếp xúc cậu không?”

Ông Gillespie lắc đầu, “Không một tiếng”.

“Cậu có thể liên lạc với thế giới bên ngoài chứ?”

“Không. Như chúng ta nghi ngờ, hắn gây nhiễu sóng tất cả những thông tin qua vệ tinh”.

Pitt nhìn chiếc tàu ngầm. “Tôi tự hỏi hắn đang chờ đợi gì?”

“Nếu là hắn, tôi sẽ đợi cho tới lúc chiếc Polar Storm quay mũi hướng ra biển. Sau đó, khi chúng ta lọt vào đúng vị trí, hắn dễ đàng tấn công bên mạn tàu”.

“Nếu vậy”, Pitt lạnh lùng nói, “sẽ chẳng bao lâu nữa”.

Như đọc được ý nghĩ trong đầu gã Hạm trưởng, anh nhìn thấy một cụm khói thoát ra khỏi họng khẩu súng trên boong chiếc tàu ngầm, ngay sau đó là một tiếng nổ vang dội ngay phía sau đuôi chiếc tàu phá băng khổng lồ. “Gần lắm”, Bushey đang đứng trước bộ phận kiểm soát, nói.

Một biểu hiện lạ trên nét mặt Evie, lúc đó đang đứng bên trong cánh cửa đài chỉ huy, “Tại sao họ bắn chúng ta?”

“Cô hãy xuống hầm ngay”, ông Gillespie hét với cô. “Tôi muốn tất cả những thủy thủ không có nhiệm vụ, các nhà khoa học và hành khách phải ở yên dưới hầm, bên mạn trái, là phía cách xa tàu ngầm hơn cả”.

Vẫn bình tĩnh, Evie bấm liền một lúc mấy tấm ảnh về phía chiếc tàu ngầm với cái máy ảnh trước khi leo xuống nơi an toàn của chiếc tàu. Lại một tiếng nổ khác, nhưng âm thanh không giống lần trước. Đầu đạn trái phá chạm bãi đáp dành cho trực thăng ở đuôi tàu, phá vỡ ván tàu thành nhiều mảnh, bốc khói! Rất nhanh sau đó, lại một viên đạn trái phá rít qua bầu không khí đặc sệt rồi đâm vào ống khói tàu với tiếng đổ vỡ chát tai, xé toạc nó như một lưỡi rìu chém vào một cái hộp thiếc. Chiếc tàu Polar Storm rùng mình, có vẻ khựng lại, nhưng sau đó nó lại tiếp tục lao qua lớp băng.

“Chúng ta đang mở lối ra”, Cox hét lớn.

“Chúng ta có thể thoát khỏi nơi này”, Pitt nói. “Nhưng hắn vẫn có thể lặn xuống và đuổi theo chúng ta ngoài vùng băng trôi”.

Khẩu súng máy trên tàu ngầm lại hoạt động, và những đầu đạn của nó, quét một đường qua mũi chiếc tàu phá băng rồi vọt lên về hướng thân tàu cho tới khi chúng chạm những cửa kính đài chỉ huy và phá vỡ những tấm kính thành hàng ngàn mảnh. Những đầu đạn còn xuyên qua vách đối diện, phá nát bất kỳ thứ gì cao hơn mặt sàn trên ba bộ. Pitt, ông Gillespie và Cox, theo bản năng, nằm dán mình xuống sàn. Nhưng Bushey lại chậm mất hai giây. Một viên đạn xuyên qua vai, và viên thứ nhì qua quai hàm anh ta.

Khẩu súng máy trên boong tàu ngầm lại nhả đạn. Và những đầu đạn lại xuyên phá phần sau đài chỉ huy vốn đã bị thương nặng. Những đầu đạn dày đặc đến nỗi làm chiếc tàu Polar Storm rung chuyển dữ dội từ mũi đến đuôi tàu. Sự rung chuyển truyền qua thân thể và làm họ ngạt thở. Những người có mặt trong đài chỉ huy bị hất lăn quay trên sàn như những con búp bê tơi tả. Ông Gillespie và Cox bị ném vào chân bàn dùng để xem bản đồ. Bushey đã nằm bất động trên sàn, bị đẩy lăn tròn trên những mảnh đổ nát. Pitt nằm nửa trong nửa ngoài cánh cửa bên hông đàì chỉ huy.

Anh gượng đứng lên, không buồn đếm xem có bao nhiêu chỗ bị bầm giập và bị mảnh kính gây thương tích trên thân thể. Những cuộn khói cay xè xộc vào mũi, hai tai lùng bùng không còn nhận ra những âm thanh khác. Anh chập choạng đến gần ông Gillespie và quì xuống cạnh ông ta. Tiếng nổ đã ném ông ta vào cái bàn hải đồ, làm gãy mấy cái xương sườn, hai lỗ tai rỉ máu. Máu cũng thấm qua một ống quần. Đôi mắt ông thuyền trưởng vẫn mở nhưng trông đờ đẫn. “Chiếc tàu của tôi”, ông nói trong rên rỉ, “những tên khốn này đã hủy hoại chiếc tàu của tôi”.

“Chớ động đậy”, Pitt bảo ông ta. “Có thể cậu bị nội thương”.

“Chuyện quỉ quái gì đang xảy ra trên đó?” Giọng nói của viên kỹ sư trưởng vọng ra từ cái loa duy nhất vẫn còn hoạt động. Giọng ông ta hầu như lẫn trong tiếng động cơ gầm rú trong phòng máy.

Pitt nói vào điện thoại của tàu. “Chúng ta bị một tàu ngầm tấn công. Ông hãy cho động cơ hoạt động tối đa. Chúng ta phải ra khỏi vùng biển này trước khi bị bắn thành từng mảnh”.

“Dưới này cũng bị hư hỏng, và một số người bị thương”.

“Sẽ còn tệ hơn nhiều”, Pitt càu nhàu, “nếu ông không đạt vận tốc tối đa”.

“Jake”, ông Gillespie rên rỉ. “Jake đâu rồi?”

Viên sĩ quan thứ nhất đang nằm bất động và chảy máu, và Cox đang đờ đẫn cúi xuống anh ta.

“Cậu ấy ngất rồi”, Pitt trả lời. “Ai là người sẽ chỉ huy tiếp theo?”

“Joe Bascom là sĩ quan thứ hai của tôi, nhưng anh ta đã về Montevideo vì vợ sinh. Cox sẽ chỉ huy”.

Pitt bước lại chỗ viên sĩ quan thứ ba khổng lồ. “Ira, thuyền trưởng cần cậu”.

Cox gật đầu. “Vâng, thưa ông. Chúng ta đang hướng ra biển theo hướng không-năm-không”.

Pitt nhìn về phía chiếc tàu ngầm như bị áp lực của một cảm giác mê hoặc không cưỡng lại được, không nháy mắt, chờ đợi loạt đạn tiếp theo từ khẩu súng trên boong của nó. Anh không phải đợi lâu. Đúng lúc đó anh trông thấy bóng dáng Tử thần lướt ngang khối băng, xuyên thủng chiếc xuồng cứu sinh, một chiếc xuồng lớn có thể chở đến sáu mươi người, tạo ra một chấn động làm chiếc tàu lảo đảo về phía mạn phải. Trái đạn xé nát chiếc xuồng cứu sinh trước khi nó đập vào vách ngăn giữa sàn tàu và khoang bếp. Một cuộn khói và lửa trào qua những lỗ thủng nham nhở rồi thoát ra lan can tàu. Chẳng mấy chốc, toàn bộ chiều dài mạn phải sàn tàu đều bén lửa, những vạt lửa liếm qua những kẽ nứt trên sàn và vách ngăn.

Trước khi một người nào trong đài chỉ huy lấy lại bình tĩnh, một đầu đạn khác đã rời khỏi họng súng trên boong tàu ngầm, rít lên và lao về phía chiếc tàu phá băng như một tín hiệu báo tử. Rồi nó chạm và nổ tung tại mũi tàu như muốn xé toạc vật đã cản đường nó, và ném sợi xích buộc neo lên không khí như một chiếc pháo thăng thiên. Nhưng chiếc tàu Polar Storm vẫn nổi trên mặt biển.

Chiếc tàu phá băng nhanh chóng tăng khoảng cách giữa nó với chiếc tàu ngầm. Khẩu súng máy trên đài chỉ huy chiếc tàu ngầm không còn hiệu quả nữa nên nó câm họng. Nhưng khoảng cách mở rộng không đủ nhanh. Khi toán thủy thủ của tàu ngầm nhận ra chiếc tàu phá băng có thể thoát khỏi tầm bắn, chúng bắt đầu nỗ lực gấp đôi việc nạp đạn và bắn. Mỗi đợt bắn chỉ cách nhau mười lăm giây, nhưng không phải lần nào chiếc tàu phá băng cũng bị trúng đạn. Dần dà, những đầu đạn cũng trật mục tiêu, chúng lướt qua ăngten rada và trụ radio.

Hành động tấn công và phá hủy diễn ra nhanh đến nỗi ông Gillespie không đủ thời gian nghĩ đến chuyện đầu hàng để cứu vãn chiếc tàu và những người có mặt trên tàu. Chỉ Pitt mới hiểu rõ hơn ông ta. Bọn Đệ Tứ Đế quốc sẽ không cho phép ai trốn thoát. Ý định của chúng là tiêu diệt tất cả, và thân xác của họ được chôn chung trong một nấm mồ là chiếc tàu phá băng khi nó chìm xuống một ngàn bộ dưới đáy biển lạnh lẽo vô tình.

Lớp băng trở nên mỏng hơn khi chiếc Polar Storm càng xa bờ hơn, và chiếc tàu bị thương lao qua lớp băng vỡ vụn dưới mũi nó. Những động cơ rung mạnh và những chân vịt quay cuồng trong khối nước lạnh giá. Pitt tính toán việc quay mũi chiếc tàu và tấn công chiếc tàu ngầm với dụng cụ phá băng, nhưng khoảng cách quá xa. Không những chiếc tàu nghiên cứu này phải chịu đựng những loạt đạn dày đặc của đối phương bắn thẳng vào nó, mà kẻ thù còn có thể dễ dàng an toàn lặn xuống khỏi mặt nước khi nó đến gần.

Chiếc xuồng cứu hộ chỉ còn là một đống rác rưởi gồm những mảnh vụn đang cháy nham nhở với mũi và đuôi của nó còn sót lại, treo lơ lửng bên lan can tàu. Khói cuồn cuộn toát ra từ những lỗ thủng do đạn phá vỡ như những điềm xấu đầy đe dọa. Nhưng bao lâu phòng máy còn chưa bị thương chí mạng, thì chiếc Polar Storm vẫn lướt tới. Đài chỉ huy lúc này là một đống vỡ nát, và những mảnh kính vụn được trang hoàng bằng những vệt máu.

“Chỉ còn một phần tư dặm nữa là chúng ta thoát!” Pitt hét lớn trong những tiếng động ầm ĩ.

“Nó vẫn đi vững đấy chứ”, ông Gillespie nói, nhổm mình ngồi dậy trên sàn với vẻ đau đớn, lưng dựa vào cái bàn hải đồ.

“Bộ phận kiểm soát điện tử đã bị bắn nát”, Cox nói. “Bánh lái bị kẹt, không còn kiểm soát được. Tôi e rằng chiếc tàu sẽ quay một vòng hướng về phía chiếc tàu ngầm đáng nguyền rủa đó”.

“Bao nhiêu người chết và bị thương?” ông Gillespie hỏi.

“Theo chỗ tôi biết thì các nhà khoa học và hầu hết thủy thủ đều bình yên”, Pitt trả lời. “Nơi họ ẩn nấp khi bị trúng đạn”.

“Sao chúng tấn công đột ngột thế?” Cox thều thào qua cặp môi tóe máu. “Thậm chí chúng ta chẳng kịp chuẩn bị gì cả”.

Bầu không khí lại bị xé rách. Một trái đạn phá thủng thân tàu, trượt qua phòng máy, cắt đứt những dây cáp điện và ống dẫn dầu trước khi xuyên thủng mạn tàu đối diện mà vẫn không nổ. Không động cơ nào bị trúng đạn nhưng đã có hư hại. Những cỗ máy diesel khổng lồ bị mất nhiên liệu nên dừng lại.

“Trái đạn vừa rồi đã cắt đứt và làm hỏng những ống dẫn dầu”, giọng viên kỹ sư trưởng vang lớn qua loa truyền tin.

“Cậu sửa chữa được chứ?” Cox lo lắng hỏi.

“Có thể”.

“Mất bao lâu?”

“Hai, có thể ba giờ”.

Cox nhìn Pitt đang quay nhìn chiếc tàu ngầm. “Chúng ta tiêu rồi !” Cox nói.

“Trong tình huống này”, giọng Pitt có vẻ trầm trọng, “chúng chỉ cần ngồi yên một chỗ mà nhả đạn vào chúng ta cho tới lúc không còn gì ngoài một lỗ trống trơn trên mặt băng. Dan, tốt hơn cậu nên ra lệnh bỏ tàu. Như thế, có lẽ vài nhà khoa học và thủy thủ tìm cách vượt qua những tảng băng trôi để vào đất liền và ẩn nấp trong hang băng cho đến khi được tiếp cứu”.

Ông Gillespie chùi một vết máu trên má và gật đầu, ‘Ira, vui lòng đưa điện thoại của tàu cho tôi”.

Pitt thất thểu bước ra bên hông đài chỉ huy lúc này trông chẳng khác gì một căn phòng thu mua hàng phế liệu. Anh nhìn về phía mạn tàu, nơi lá cờ Sao và Sọc vẫn ngang ngạnh tung bay. Rồi anh nhìn lên lá cờ hiệu màu ngọc lam của NUMA rách tơi tả đang khiêu vũ với gió nhẹ. Sau cùng, anh dồn sự chú ý của mình vào chiếc tàu ngầm. Anh thấy họng súng trên boong lóe lên và nghe tiếng đạn rít giữa trụ rada, và ống khói tàu rách lả tả rồi rơi xuống và nổ trên mặt băng cách xa tàu một trăm mét. Pitt nghĩ bản án chỉ tạm ngưng thi hành trong giây lát.

Rồi một ánh chớp lóe lên một bên khóe mắt anh, và một tia sáng lướt qua chiếc tàu ngầm. Bất chợt, anh thở phào, có cảm giác như một đợt sóng dịu dàng đang quét qua thân thể khi anh nhìn thấy một vệt khói và lửa trắng nổi bật trên nền trời màu xanh.

Cách đó mười dặm, một tên lửa đất-đối-đất bốc lên qua khối băng, uốn cong trên đường chân trời cho tới lúc lên cao nhất rồi chúc đầu xuống về phía chiếc tàu ngầm. Trái đạn đầu tiên đập trúng tàu ngầm nhưng nó vẫn nổi trên băng. Trái tiếp theo bọc nó trong một cụm lửa màu cam, đỏ và vàng như hình một cây nấm cao tới những đám mây màu xám. Chiếc tàu ngầm bị chẻ làm đôi, đuôi và mũi của nó vểnh lên trời và tách rời nhau. Giữa hai phần của chiếc tàu là một vực xoáy khổng lồ với lửa và khói. Những đám mây hơi nước cuồn cuộn bốc lên qua lớp băng. Sau cùng, chiếc tàu ngầm trượt xuống và chìm tận đáy biển.

Tất cả diễn ra thật nhanh và Pitt khó lòng tin vào mắt mình. “Nó tiêu rồi”, anh lẩm bẩm trong ngạc nhiên.

Sự im lặng đến choáng váng tiếp theo sau cái chết của chiếc tàu ngầm chỉ bị phá vỡ khi một giọng nói từ cái loa vọng ra. “Polar Storm, các bạn có nghe tôi nói không?”

Pitt chộp cái ống nói lên. “Chúng tôi nghe bạn rất rõ. Vị cứu tinh ân nhân”.

“Đây là Hạm trưởng Evan Cunningham, chỉ huy Tàu ngầm Nguyên tử tấn công Tucson của Hải quân Hoa Kỳ. Rất tiếc chúng tôi đã không tới sớm hơn”.

“Trễ còn hơn không” là câu thành ngữ rất đúng trong trường hợp này, Pitt trả lời. “Ông có thể cho chúng tôi mượn nhóm thủy thủ, kiểm tra hỏng hóc không? Chúng tôi đang trong tình huống xấu”.

“Các bạn đang bị nước tràn vào?”

“Không, nhưng chúng tôi bị thủng vỏ tàu trên mớn nước và phòng máy bị trúng đạn”.

“Hãy chuẩn bị đón một nhóm thủy thủ sẽ đến trong hai mươi phút nữa”.

“Sâm banh và cá hồi đang chờ các bạn”.

“Họ từ đâu đến?” Cox tò mò hỏi.

“Đô đốc Sandecker. Chắc ông ấy đã nhờ cậy ông Bộ trưởng Hải quân”.

“Bây giờ thì chiếc tàu ngầm hết tìm cách gây nhiễu sóng vệ tinh của chúng ta”, ông Gillespie nói ngập ngừng. “Tôi đề nghị cậu gọi ông Đô đốc. Ông ấy muốn biết sự thiệt hại và thương vong của chúng ta”.

Cox đang cúi xuống Bushey bắt đầu có triệu chứng hồi tỉnh.

“Tôi sẽ lo chuyện đó”, Pitt nói với ông thuyền trưởng. “Cậu hãy nghỉ ngơi cho đến khi chúng ta ra khỏi vịnh và bác sĩ có thể săn sóc cậu”.

“Bushey thế nào?”

“Sẽ ổn thôi. Bị thương khá nặng nhưng cậu ta sẽ đi lại được sau hai tuần lễ. Cậu mới là kẻ thê thảm hơn bất cứ ai trên tàu"»

“Tạ ơn Trời cậu ấy vẫn qua được”, ông Gillespie mệt nhọc nói.

Trong lúc gọi về Tổng hành dinh NUMA tại Washington, đầu óc Pitt lại nghĩ tới Giordino trên đảo St. Paul cách đó gần một ngàn năm trăm dặm. Thằng chó này may mắn thật, Pitt nghĩ. Anh hình dung gã bạn thân của mình đang ngồi trong một nhà hàng sang trọng tại Cape Town với một quí cô thật gợi tình trong bộ y phục quyến rũ, và gọi một chai vang Nam Phi.

“Vận may số mệnh”, Pitt lẩm bẩm với chính mình trên đống đổ nát còn lại trong đài chỉ huy. “Hắn đang ấm áp còn mình lạnh muốn chết”.

“Tại sao lúc nào Dirk cũng được chọn những chiến dịch béo bở như thế chứ?” Giordino càu nhàu. “Tôi dám cá là trong lúc chúng ta đang chết hụt thì hắn đang ngủ trong một cabin ấm áp đầy tiện nghi trên chiếc tàu Polar Storm với một cô nàng hấp dẫn nào đó trong số các nhà sinh vật học nữ trong vòng tay hắn”.

Anh ta ướt đẫm và run lẩy bẩy dưới cơn gió cắt da, từ sườn núi trở lại hang động, ôm trên tay một bó cây khô mà anh ta và ông Gunn đã chặt từ những bụi cây nằm rải rác trên núi.

“Chúng ta cũng sẽ ấm sau khi mớ cành khô này bén lửa”, ông Gunn nói. Ông ta đang đi trước Giordino, cũng với một bó cành khô trên tay, thận trọng bước qua cái mái vòm để vào đường hầm. Ông ném bó củi xuống mặt sàn lởm chởm đá và ngồi bệt xuống, lưng dựa vào một vách hầm.

“Tôi sợ đống bùi nhùi này sẽ tạo ra nhiều khói”, Giordino nói, vừa cởi cái áo lông ra và lau khô mặt và cổ ướt đẫm nước mưa với một cái khăn lông nhỏ.

Ông Gunn đưa cho Giordino một tách cà phê nguội lạnh rót ra từ cái bình thủy và thỏi lương khô cuối cùng. “Bữa ăn tối cuối cùng đấy”, ông nghiêm chỉnh nói.

“Ông Đô đốc nói gì về việc đưa chúng ta ra khỏi những đống đá này”.

“Chỉ nói toán cứu hộ đã lên đường”.

Giordino nhìn con số trên đồng hồ đeo tay. “Đã bốn tiếng đồng hồ rồi. Tôi muốn tới Cape Town trước khi các quán rượu đóng cửa”.

“Ông ấy không thể cấp một chiếc phản lực có động cơ lên thẳng với một phi công khác, nếu không thì lúc này họ đã có mặt ở đây rồi”.

Giordino nghểnh cổ lắng nghe. Anh đi dọc đường hầm cho tới lúc đứng dưới mái vòm. Trận mưa tuyết đã dịu lại, trở thành mưa lắc rắc. Bầu trời đầy mây trở nên sáng sủa, những mảng màu xanh của bầu trời hiện ra giữa những đám mây đang chuyển động. Lần đầu tiên sau nhiều giờ anh mới lại được nhìn thấy biển cả.

Trên bầu trời hiện ra một đốm đen như một con ruồi đậu trên mặt kính cửa sổ. Trong lúc anh quan sát, đốm đen lớn dần thành một chiếc trực thăng màu đen. Khi nó đến gần hơn, anh nhận ra đó là một trực thăng thám hiểm Mc Donnell Douglas với hai đuôi và không có cánh quạt phía sau đuôi.

“Chúng ta có viện binh rồi”, Giordino loan báo. “Một trực thăng đến từ hướng tây bắc. Nó đang lục soát mặt biển. Có vẻ như nó được trang bị tên lửa không-đối-đất”.

Ông Gunn bước ra đứng cạnh Giordino. “Một trực thăng không thể bay một lèo từ Cape Town tới đây. Nó phải xuất phát từ một chiếc tàu”.

“Chẳng thấy dấu hiệu nhận dạng nào cả. Buồn cười thật”.

“Rõ ràng không phải máy bay của quân đội Nam Phi”, ông Gunn nhận xét.

“Tôi không tin họ đến cứu chúng ta”, Giordino nói với giọng châm biếm, “nếu không, họ đã gọi vào bảo chúng ta chờ”.

Âm thanh những động cơ và chong chóng của chiếc trực thặng nhanh chóng phá vỡ bầu không khí lạnh buốt. Viên phi công không phải là một kẻ mạo hiểm gan lì mà rất thận trọng. Anh ta bay ở một độ cao an toàn đối với những vách đá, dừng lại ít nhất ba phút để quan sát mép vực, nơi máy bay của Giordino đáp xuống. Sau đó anh ta hạ thấp chiếc trực thăng, tìm hướng đáp căn cứ theo chiều gió. Bộ càng đáp chạm mặt đất lổn ngổn đá, và cánh quạt chậm dần rồi ngừng hẳn.

Sau đó là im lặng. Không có gió, những sườn núi trở nên yên tĩnh lạ lùng. Sau một khoảng thời gian ngắn, cánh cửa cabin rộng năm mươi inch mở ra, và sáu người đàn ông trong những bộ y phục màu đen nhảy xuống đất. Có vẻ như họ mang đầy đủ vũ khí, những thứ công phá để tấn công một ngôi làng nhỏ.

“Một toán cứu hộ trông thật lạ lùng”, Giordino nói.

Ông Gunn đã cầm sẵn cái máy truyền tin Globalstar, đang bấm số gọi ông Đô đốc tại Washington. Khi Đô đốc Sandecker trả lời, ông Gunn chỉ giản dị nói. “Chúng tôi có những vị khách vũ trang đến tận răng trong một trực thăng màu đen”.

“Có vẻ như hôm nay là ngày người của tôi đều phải gặp tai họa”, giọng ông Sandecker tỏ ra rất dè dặt. “Đầu tiên là Pitt và bây giờ là các cậu”. Rồi ông Đô đốc tỏ ra nghiêm túc, “Các cậu sẽ chịu đựng bao lâu?”

“Hai mươi, có thể ba mươi phút”, ông Gunn trả lời.

“Một tàu hộ tống Hoa Kỳ trang bị tên lửa đang tiến về phía đảo St. Paul với vận tốc tối đa. Lúc nào trực thăng trên tàu của họ vào đúng tầm, tôi sẽ yêu cầu thuyền trưởng ra lệnh cho trực thăng cất cánh”.

“Thưa Đô đốc, chừng nào họ tới nơi?”

Một lúc im lặng nặng nề, rồi: “Hai giờ, rất có thể sớm hơn”.

“Tôi biết ngài đã xoay sở tối đa”, ông Gunn điềm tĩnh nói, sự kiên nhẫn được nhận rõ trong giọng nói của ông, “và chúng tôi xin cám ơn”. Ông Gunn biết cái vỏ bọc cứng rắn của ông Đô đốc đã bị vỡ. “Xin ngài đừng bận tâm. Al và tôi sẽ có mặt tại văn phòng vào sáng Thứ Hai”.

“Nhớ đấy”, ông Sandecker không giấu được lo lắng.

“Tạm biệt, thưa ngài”.

“Tạm biệt, Rudi. Chúa phù hộ các cậu. Nhớ bảo Al tôi nợ cậu ta một điếu xì gà”.

“Tôi sẽ bảo cậu ta”.

“Bao lâu?” Giordino hỏi, nhận ra vẻ thất vọng trên mặt ông Gunn, anh chờ đợi câu trả lời xấu nhất.

“Hai giờ”.

“Căng dữ!” Giordino lầm bầm. “Ước gì ai đó nói cho tôi biết bằng cách nào bọn giết người láu cá này biết chúng ta đang có mặt ở đây”.

“Câu hỏi hay đấy. Chúng ta thuộc một nhóm người được lựa chọn mà không quá năm người được biết vị trí nơi các hành khách trên chiếc tàu vô chủ Madras tìm thấy cái hộp sọ màu đen”.

“Tôi bắt đầu nghĩ bọn người này có những lực lượng vũ trang rải khắp thế giới như một mạng lưới”, Giordino nói.

Nhóm sáu gã đàn ông chia làm hái cánh. Ba gã tỏa rộng ra khoảng năm mươi mét và bắt đầu đi quanh ngọn núi. Ba gã còn lại đi ngược chiều những gã kia. Rõ ràng chúng sẽ lên núi theo đường trôn ốc cho tới khi tìm ra đường hầm.

“Một giờ nữa”, ông Gunn nói khẽ. “Chúng phải mất ít nhất một giờ mới gặp con đường mòn”.

“Có lẽ chỉ năm phút nữa thôi”, Giordino nói và chỉ về phía chiếc trực thăng vừa bốc lên bầu trời. “Tên phi công sẽ hướng dẫn các bạn hắn đến thẳng miệng hầm của chúng ta”.

“Cậu nghĩ ta có thể thu xếp với chúng không?”

Giordino lắc đầu. “Nếu những gã này có liên hệ với bọn người mà Pitt và tôi đã chạm trán tại Thị trấn Telluride thì chúng không chịu bắt tay, ôm hôn hoặc dành đặc ân cho kẻ yếu thế đâu”.

“Hai gã không vũ khí chống lại sáu tên được trang bị tận răng. Chúng ta phải quân bình lợi thế chứ”.

“Đã nghĩ ra cách gì à?” Giordino hỏi.

“Tôi nghĩ thế”.

Giordino nhìn người đàn ông nhỏ con với ánh mắt sửng sốt. “Một kế hoạch độc ác, đồi bại và lươn lẹo?”

Ông Gunn gật đầu với một nụ cười ranh ma, “Tât cả những thứ đó và còn hơn nữa”.

Chiếc trực thăng đảo quanh ngọn núi gần bốn vòng trước khi gã phi công phát hiện lối mòn dẫn vào đường hầm. Báo tin cho hai nhóm tìm kiếm, một nhóm lúc này đã đi vòng qua sườn núi bên kia, hắn cho chiếc trực thăng đứng một chỗ ngay trên lối mòn như để chỉ dẫn. Nhóm thứ nhất gồm ba tên cũng dồn về con đường mòn và tiến tới theo hàng dọc, còn cách miệng hầm chừng hai mươi mét. Chúng tìm cách xâm nhập theo lối bình thường - gã thứ nhất đi thẳng tới trong lúc tên thứ nhì đi vòng lên trên miệng hầm, còn tên thứ ba bọc xuống phía dưới miệng hầm. Sau đó chiếc trực thăng bay về hướng nhóm thứ hai để hướng dẫn chúng đi theo lối mòn dễ nhất để tới miệng hầm.

Nhóm thứ nhất đang tiến lại gần khối đá khổng lồ nằm ngay trước miệng hang mà Giordino và ông Gunn vừa bò qua. Gã dẫn đầu đi quanh khối đá và đứng lại trước mái vòm ngay miệng hang. Hắn quay đầu lại và nói lớn với gã ở sau lưng. “Tao đang đứng trước một hang động”. Hắn nói tiếng Anh. “Tao vào đây”.

“Coi chừng bị phục kích, Số Một”, tên thứ nhì hét trả.

“Nếu chúng có vũ khí, thì cho tới lúc này, chúng đã dùng rồi”.

Gã đi đầu mất dạng sau khối đá. Hai phút sau, gã thứ nhì cũng thế. Không nhìn thấy hai đồng bọn, gã thứ ba tiến gần lại khối đá lúc một bóng người rón rén nhô lên khỏi những tảng đá hắn vừa ẩn nấp. Trong lúc đến gần đường hầm, gã thứ ba không hề lưu ý đến tiếng động nhẹ của một hòn đá nghiến vào một hòn đá khác hoặc tiếng bước chân êm như ru phía sau lưng hắn. Hắn không bao giờ biết thứ đã đập lên đầu mình là một cục đá lớn được ông Gunn vung ra với tất cả ác ý làm vỡ sọ và hắn rụng xuống không gây một tiếng động.

Không đầy một phút sau, cái xác đã được vùi kín dưới một đống đá. Sau một cái liếc mắt để chắc chắn chiếc trực thăng vẫn nằm ngoài tầm nhìn bên kia sườn núi, ông Gunn đi vòng qua khối đá. Nhưng lần này ông đã được trang bị một khẩu tiểu liên, một khẩu súng lục 9 ly tự động và một con dao chiến đấu, ngoài ra còn được che chở bởi một áo giáp chống đạn. Ông cũng chộp luôn cái máy bộ đàm của hắn. Kế hoạch ma mãnh xảo quyệt để sống sót của ông Gunn bước đầu đã thuận lợi.

Gã dẫn đầu của nhóm tìm kiếm thận trọng đi vào đường hầm, một cây đèn bấm dài kẹp dưới nách soi sáng lối đi của hắn. Hắn đi từng bước từ đường hầm vào căn hầm đầu tiên trong tư thế sẵn sàng nổ súng và liên tục quay sang hai bên, làm lắc lư cây đèn bấm lúc hắn bước tới. Tất cả những gì hắn nhìn thấy là bộ xương của người thủy thủ, những vật dụng sờn mòn và bộ da hải cẩu treo lủng lẳng trên vách đá.

Hắn dừng lại, thư giãn, hạ thấp khẩu súng xuống rồi nói vào cái máy bộ đàm kẹp chặt quanh đầu hắn. “Đây là số Một. Chẳng có ma nào trong đường hầm và căn hầm trừ bộ xương một thủy thủ có lẽ còn sống sót và lên đảo sau một vụ đắm tàu. Ông nghe tôi rõ chứ?”

“Nghe rõ, Số Một”, giọng nói của gã phi công trực thăng lẫn lộn với tiếng động cơ vọng lại từ bên trên và sau lưng hắn. “Cậu chắc chắn không có dấu hiệu nào của nhân viên NUMA ở đó chứ?”

“Xin hãy tin tôi. Không có chúng ở đây”.

“Số Bốn, Năm và Sáu sẽ sớm đến chỗ cậu. Tôi sẽ hướng dẫn họ”.

Số Một tắt máy bộ đàm. Đó là hành động cuối cùng của hắn. Giordino từ phía sau tấm da hải cẩu lao ra, xỉa mạnh mũi dao bằng nham thạch vào yết hầu hắn. Chỉ có tiếng ho bị bóp nghẹt, tiếng rít rồi tất cả rơi vào im lặng sau khi cái xác rơi xuống sàn hầm, bất động.

Giordino chộp khẩu súng tiểu liên trước khi Số Một ngã xuống mặt đất. Rất nhanh, anh kéo cái xác qua một bên đường hầm rồi gỡ cái máy bộ đàm trên đầu hắn và gắn lên đầu mình. Tiếp theo, anh lột áo khoác của hắn, quấn kín họng khẩu tiểu liên.

“Số Một”, một giọng nói gọi lớn từ lối vào đường hầm dội vào, “cậu tìm thấy cái gì?”

Giordino khum bàn tay che miệng và hét về phía cuối căn hầm. “Chỉ có một bộ xương đã rệu”.

“Không còn gì khác à?” Gã thứ nhì có vẻ miễn cưỡng phải bước vào căn hầm.

“Chẳng có gì cả”, Giordino quyết định thử liều lĩnh. “Số Hai, cậu vào đi và chính mắt nhìn thấy sẽ biết ngay thôi”.

Như một con hươu đực đánh hơi không khí, gã Số Hai thận trọng bước vào. Giordino bật sáng cây đèn bấm với chùm ánh sáng chiếu thẳng vào mắt gã mới vào, và bắn vào đầu, giữa hai mắt hắn. Cái áo khoác bịt kín làm tiếng nổ bị tắt nghẽn. Ông Gunn xông vào căn hầm, súng sẵn sàng, không biết chuyện gì đã xảy ra.

“Bây giờ là hai chống ba”, Giordino đón ông ta với tiếng cười của kẻ chiến thắng.

“Chớ có gáy to thế”, ông Gunn cảnh cáo. “Một khi chiếc trực thăng quay lại là chúng ta bị dính bẫy tại đây”.

“Nếu chúng cũng hành động ngu ngốc như Số Một và Số Hai, thì tôi lại sẽ giở trò dụ chúng vào”.

Nhóm tìm kiếm thứ nhì không ngu ngơ như nhóm thứ nhất. Chúng đến gần lối mòn dẫn vào đường hầm với sự thận trọng của một thanh tra bưu điện đang kiểm tra một bao thư bị nghi là thư bom. Trong lúc chiếc trực thăng đứng yên một chỗ trên không, chúng tiến tới từng tên một, cứ hai gã có bổn phận bảo vệ gã còn lại, khi gã này nằm bẹp xuống trước khi bảo vệ chúng trong chiến thuật nhảy tới như cóc, dần dà đưa chúng tới gần miệng đường hầm. Chúng rất thận trọng vì Giordino đang tắt máy bộ đàm và không trả lời khi chúng gọi vì anh sợ chúng nhận ra một giọng nói lạ.

Ông Gunn và Giordino cởi quần áo của một cái xác có kích cỡ vai và ngực tương tự Giordino. Sau khi mặc bộ áo liền quần màu đen có ống tay áo dài hơn hai inch và ống quần hơn ba inch, Giordino chỉ việc xắn chúng lên, đeo khẩu tiểu liên lên vai và bước ra ngoài với vẻ rất tự nhiên. Anh nói qua khóe miệng vào cái radio gắn trên đầu, cố làm giọng nói the thé như giọng của gã đã bị anh giết.

“Tại sao lâu vậy, Số Bốn?” anh điềm nhiên hỏi, không nhìn lên chiếc trực thăng. “Chúng mày lù đù như những mụ già. Tao đã bảo đếch có gì trong đường hầm và trong hang ngoài bộ xương mục của một thủy thủ bị đắm tàu”.

“Sao mày có vẻ khang khác thế, Số Một?”

Giordino biết anh không thể lởm chúng lâu hơn nữa. “Tao bị cảm lạnh. Chẳng lạ gì trong thời tiết khủng khiếp này”.

“Mày bị lạnh đến độ lùn đi bốn inch đấy”.

“Cứ bông đùa đi, nếu mày thích”, Giordino làu bàu. “Tao đang tránh mưa. Chắc mày cũng vậy, phải không?”

Anh quay lưng bước vào hang, tin chắc mình sẽ không nhận một viên đạn vào lưng, ít nhất cũng đến khi bọn tìm kiếm này còn yên chí chúng sẽ không bị đồng bọn bắn.

“Bọn này khôn lắm”, ông Gunn nói. “Tôi đã nghe cậu nói chuyện với chúng qua máy bộ đàm”.

“Kế hoạch Hai-A là gì?” Giordino hỏi nhanh.

“Chúng ta bò trở lại qua đống đá do hầm sập tạo ra để vào căn hầm kế cận và phục kích chúng ở đó”.

“Nhiều nhất chúng ta cũng chỉ may mắn hạ được một hoặc hai tên là cùng”.

“Ít ra điều đó cũng làm lợi thế nghiêng về phía chúng ta”, ông Gunn nói, hầu như rất hài lòng.

Họ chỉ có vài phút nên vội vã dọn một lối đi xuyên qua đống đá để vào căn hầm mộ. Bất chấp cái lạnh khủng khiếp, họ toát mồ hôi đầm đìa khi kéo lê hai cái xác qua lối đi chật hẹp vừa mở rồi trở lại, kéo hai cái túi đeo lưng của họ vào. Việc tính toán thời gian gần như hoàn hảo. Vừa lấp trả lại lối đi như cũ xong và nhìn ra căn hầm bên ngoài qua những lỗ trống, thì gã Số Bốn đã lao vào căn hầm và nằm bẹp xuống sàn trong lúc gã Số Năm bám sát ngay phía sau. Cả hai lia những ngọn đèn và họng súng của chúng thành những đường vòng cung từ vách hầm bên này sang bên kia.

“Tôi đã bảo ông rồi mà”, Giordino nói khẽ vào tai ông Gunn, ông để lọt giọng nói vào cái micro trước miệng anh. “Chúng để gã Số Sáu bên ngoài như lực lượng dự trữ”.

“Chẳng có ma nào ở đây cả”, Số Bốn nói. “Cái hang trống trơn”.

“Không thể có chuyện đó”, giọng viên phi công trực thảng vọng lại. “Cả ba người kia đã tiếp cận đường hầm không đầy mười lăm phút trước”.

“Ông ta nói đúng”, Số Năm đồng ý. “Số Một, Hai và Ba đều biến mất”.

Chúng nói khẽ nhưng ông Gunn nghe không sót tiếng nào qua cái máy bộ đàm gắn trên đầu. Chúng vẫn tỏ ra thận trọng và cảnh giác cao độ không lơi một giây và chỉ bớt căng thẳng phần nào khi nhận ra không có một chỗ nào khả dĩ có thể dùng làm nơi ẩn nấp trong căn hầm.

“Ông thanh toán gã đứng”, Giordino thì thào. “Chúng mặc áo giáp nên phải nhắm vào đầu. Tôi sẽ giải quyết gã nằm trên sàn”.

Lách họng súng của họ vào những chỗ trống không rộng quá một inch rưỡi, vừa đủ để nhìn thấy phía trước mặt, họ cùng lúc nổ súng vào hai gã đàn ông đã tìm tới để giết họ. Tiếng nổ vang lên như một tiếng sấm trong căn hầm đá. Gã trên sàn chỉ vặn mình một cái trong lúc gã đứng vung hai tay lên, há hốc miệng và đổ ập xuống trên cái xác dưới chân hắn.

Giordino vẹt những tảng đá trước mặt sang một bên, chĩa cây đèn bấm về phía trước và quan sát kết quả công việc của họ. Anh quay sang ông Gunn và phác một động tác như chém qua cổ họng anh. Ông ta hiểu và tắt máy bộ đàm.

“Chúng ta phải ở yên tại đây”, Giordino nói khẽ.

Trước khi anh có thể giải thích, một giọng nói từ máy bộ đàm vọng ra. “Trong đó xảy ra chuyện gì vậy?”

Không lẩn tránh, Giordino trả lời ngay. “Chẳng có gì đâu. Chúng tôi bắn một con thỏ”.

“Thỏ à?” Gã phi công trực thăng hỏi. “Chuyện quái gở gì thế?”

“Tôi e là các bạn chúng ta đã chết”, Số Sáu trả lời rặt tỉnh táo. “Những tên NUMA đó đã giết họ”.

“Chúng là những con thỏ tao vừa nói đó”, Giordino nói với giọng khinh bỉ.

“Chúng mày sẽ phải chết”, gã phi công gầm gừ.

“Nghe giống bọn găngtơ thường nói với mấy anh cớm gớm. Nào, vào tóm chúng tao đi”.

“Cần gì làm chuyện đó”, gã phi công gằn giọng.

“Nằm xuống!” Giordino suỵt khẽ với ông Gunn. “Đến lúc rồi đấy”.

Gã phi công nhấc mũi chiếc trực thăng lên về phía miệng hang và bắn ra một tên lửa. Rồi một tiếng “xịt” lớn phun ra khi tên lửa rời khỏi vỏ bọc của nó gắn chặt vào thân máy bay. Đầu tên lửa không lọt qua đường hầm mà lao vào một vách đá  và nổ tung. Sức mạnh của tiếng nổ trong khu vực đầy những tảng đá thật khủng khiếp. Sự chấn động không khác gì một cây đàn piano đồ sộ rơi từ tầng mười một tòa cao ốc xuống. Những tảng đá bị nghiền nát đổ ập xuống văng tung tóe như những tia nước trượt qua mọi vật trong đường hầm như một trận mưa đất và đá. Khói và bụi quyện vào nhau trong một khoảng không gian chật hẹp, nhảy múa quay cuồng với một sức mạnh của một cơn lốc xoáy trước khi đẩy đống đá và ném những tảng đá ra ngoài miệng đường hầm vào bầu khí quyển. Những thứ gì có thể bén lửa trong căn hầm trong phút chốc đã bốc cháy cuồn cuộn.

Không thể tin được là cả mái đường hầm lẫn căn hầm vẫn không bị sập. Sức mạnh chủ lực của vụ nổ đã dội trở lại dọc theo đường hầm mang theo khói và bụi. Giordino và ông Gunn có cảm giác như bị tống mạnh vào lồng ngực, đẩy hết không khí từ hai buồng phổi ra ngoài. Phản ứng thật nhanh, họ kéo phần trên bộ áo liền quần lên che mặt để ngăn chận bụi và khói xộc vào mũi trước khi tháo lui vào hầm mộ bên trong.

“Cầu trời chúng không gởi thêm một tên lửa nào nữa vào đây”, ông Gunn nói, vừa ho sặc sụa. “Nếu không, chắc chắn chúng ta sẽ tiêu”.

Giordino vẫn nghe rõ ông ta nói, dù hai lỗ tai còn lùng bùng. “Tôi có linh cảm chúng sẽ nghĩ chỉ một trái cũng đủ chán”, anh nói giữa những tiếng nghiên răng. Khi những cảm giác tê cóng giảm bớt, anh bắt đầu kéo những tảng đá sang hai bên để mở rộng lối đi. “Nội cái việc di chuyển những tảng đá này cũng đủ mệt bở hơi tai”.

Khi đường đã thông, họ mò mẫm trong khối bụi bặm để thu nhặt những vũ khí của bọn tấn công họ cho đến khi có đủ năm khẩu tiểu liên và cũng chừng đó khẩu súng lục tự động. Cố hít thở tại một nơi thiếu không khí và làm việc mò mẫm, Giordino buộc ba khẩu tiểu liên lại với nhau bằng một sợi dây lấy từ túi đeo lưng. Cả ba khẩu súng lúc này được buộc song song nhau. Sau đó anh luồn một sợi dây quanh ba cò súng rồi buộc nó dưới những báng súng.

“Điều cuối cùng chúng chờ đợi là ta sẽ chạy ra khỏi đường hầm vừa nổ súng”, anh nói với ông Gunn. “Ông lãnh phần gã Số Sáu, còn tôi lo chiếc trực thăng”.

Ông Gunn lau sạch cặp kính đeo mắt vào tay áo và gật đầu. “Tốt hơn hãy để tôi ra trước. Cậu sẽ không có cơ hội bắn chiếc trực thăng nếu gã Số Sáu chưa bị loại bỏ”.

Giordino thực sự ngần ngại khi để ông Gunn phải đảm nhận một công việc nguy hiểm chết người như vậy. Anh vừa mở miệng để phản đối thì ông phó giám đốc nhỏ con của NUMA đã nhổm khẩu súng lên và mất hút trong màn lửa và khói.

Ông Gunn trườn qua đường hầm, loạng choạng đứng lên rồi lại chạy tới trước, lo sợ sẽ bị những đầu đạn đốn ngã trong đoạn đường còn lại trước khi ông thoát khỏi miệng đường hầm. Nhưng Số Sáu không hề nghĩ có ai đó còn sống sót trong hang, nên hắn đã đặt khẩu súng xuống lúc nói chuyện với gã phi công qua máy đàm thoại.

Điểm bất lợi của ông Gunn là ông không nhìn rõ ngay, và ông cũng không biết Số Sáu đang đứng chỗ nào trước miệng hang. Cặp kính của ông bám đầy mồ hóng và mắt ông ràn rụa nước. Ông chỉ lờ mờ nhận ra một cái bóng đen đang đứng cách đó khoảng mười bộ về phía bên phải miệng hang. Ông siết cò súng. Những đầu đạn bay tứ tán quanh Số Sáu mà không chạm vào hắn. Gã tìm kiếm xoay người và bắn năm phát súng lục vào ông Gunn, hai viên đạn trượt mục tiêu, nhưng một viên ghim vào bắp chân phải ông, những viên còn lại đập vào cái áo giáp và đẩy ông Gunn lảo đảo về phía sau. Và thật bất ngờ, Giordino từ trong màn khói lao ra, cả ba khẩu tiểu liên trên tay anh lóe lửa, xoi nát hộp sọ gã Số Sáu. Rồi, không chút chần chừ, anh hướng cả ba họng súng lên trời và vãi đạn vào bụng chiếc trực thăng với gần cả ba băng đạn chỉ trong một phút.

Đờ đẫn với những gì hắn chứng kiến dưới sườn núi khi trông thấy hai gã đàn ông trong những bộ đồng phục của những gã tìm kiếm lại bắn lẫn nhau, tên phi công không biết phải phản ứng thế nào. Cho tới lúc hắn chuẩn bị nhả đạn khẩu súng máy gắn trước mũi chiếc trực thăng thì Giordino đã nổ súng. Giống như một chiếc máy khâu đang may một đường viền, những đầu đạn như một dòng chảy liên tục xé toạc cả một bên hông thân máy bay, đập nát kính chắn gió và xâm nhập vào buồng lái. Rồi tất cả trở nên yên lặng sau khi những băng đạn đã trống rỗng.

Chiếc trực thăng treo lơ lửng một lúc, rồi nó lảo đảo, rơi xuống không kiểm soát được vào sườn núi bên dưới miệng đường hầm chừng ba trăm mét và bốc cháy. Giordino buông vũ khí xuống và chạy đến cạnh ông Gunn đang ôm cái chân bị thương.

“Chớ di chuyển”, Giordino nói. “Cứ ở yên đấy”.

“Chỉ là vết thương xoàng thôi mà”, ông Gunn nói qua hai hàm răng cắn chặt.

“Xoàng à, quỉ tha ma bắt. Xương ống quyển gãy. Đùi bị thương nặng”.

Ông Gunn nhìn Giordino, cố nén cơn đau và gượng cười. “Tôi không thể nói là tôi đang nghĩ cậu lại luýnh quýnh chẳng khác gà mắc đẻ vậy”.

Giordino không quan tâm đến lời châm chọc của ông Gunn. Anh tháo một sợi dây giày của ông Gunn và quấn chặt quanh đùi ông ta để cầm máu.

“Ông có thể chịu đựng một phút chứ?”

“Tôi nghĩ sẽ khá hơn nếu tôi không muốn chết vì mất máu”, ông Gunn rên rỉ.

Giordino chạy trở lại đường hầm, băng qua căn hầm đang cháy âm ỉ và lấy cái túi đeo lưng ngay sau đống đá trong đó có những dụng cụ cứu thương. Mấy phút sau, anh đã băng bó xong những vết thương và ngăn được sự chảy máu.

“Tạm thời chấp nhận tình trạng này đã”, Giordino nói. “Một bác sĩ tại Cape Town sẽ làm tốt hơn phần còn lại”. Anh không muốn xê dịch người đàn ông nhỏ bé này, vì vậy anh cố tạo tiện nghi cho ông ta càng nhiều càng tốt với tấm vải nhựa lấy từ túi đeo lưng để ngăn cơn mưa nhỏ làm ướt ông ta. Công việc tiếp theo của anh là gọi cho ông Đô đốc, báo cáo tình hình bị thương của ông Gunn và yêu cầu được cứu viện ngay.

Sau khi chấm dứt nói chuyện với Đô đốc Sandecker, anh nhét điện thoại vào túi áo rồi đưa mắt nhìn chiếc trực thăng đang cháy trên sườn núi phía dưới.

“Thật điên rồ”, anh nói với chính mình. “Điên rồ không thể hiểu được. Điều gì đã là động cơ khiến cho nhiều kẻ trở thành những tên sát nhân và nhiều người khác trở thành nạn nhân?” Và anh chỉ có thể hy vọng câu trả lời sẽ đến, dù sớm hay muộn.

***

“Cách đáy biển một trăm sáu mươi bộ”, Ira Cox nói, vừa nhìn cái lỗ trống nham hiểm trên mặt băng đánh dấu nấm mồ của chiếc tàu ngầm vừa bị trúng đạn và chìm xuống. “Ông thực sự muốn làm chuyện đó chứ?”

“Việc sửa chữa buồng máy và đài chỉ huy tàu Polar Storm do đội kiểm soát thiệt hại của Hải quân đòi hỏi phải mất hai giờ đồng hồ”, Pitt giải thích. “Và vì trên tàu sẵn có những dụng cụ lặn, tôi không thể bỏ lỡ cơ hội thám hiểm bên trong tàu ngầm”.

“Ông hy vọng tìm thấy gì chứ?” Evie Tan hỏi, cô đã theo Pitt và một nhóm nhỏ thủy thủ từ chiếc tàu tới đây.

“Sổ nhật ký, tài liệu, những phúc trình, bất cứ cái gì được viết ra có thể dẫn tới những kẻ đã chỉ huy và những gì ẩn giấu nơi khởi hành của tàu ngầm”.

“Đảng Quốc xã Đức năm 1945”, Cox nói với một nụ cười, nhưng không cố tỏ ra biết rõ sự việc.

Pitt ngồi xuống mặt băng và mang chân vịt lặn vào. “Okay, nhưng nó đã trốn biệt ở đâu suốt năm mươi sáu năm qua?”

Cox nhún vai và kiểm tra bộ phận truyền tin dưới nước của Pitt, “Ông nghe tôi rõ chứ?”

“Cậu đang phá thủng màng nhĩ của tôi đấy. Giảm bớt âm thanh lại”.

“Được chưa?”

“Tốt hơn rồi”, giọng nói của Pitt vọng qua cái loa đặt trong một căn lều mới dựng bên cạnh lỗ băng.

“Ông không nên lặn một mình”, Cox nói.

“Thêm một người nữa cũng vậy thôi. Vả lại, tôi đã từng lặn hơn hai mươi lần dưới lớp băng của Bắc Cực, nên lần này cũng không phải là chuyện mới mẻ gì”.

Trong bầu không khí ấm áp do cái máy sưởi trong căn lều tạo ra, Pitt mặc bộ áo lặn có hệ thống ống dẫn nước nóng bên trong và bên ngoài, luôn lưu chuyển nước nóng đi khắp thân thể, kể cả bàn tay, bàn chân và đầu. Nước nóng được cung cấp từ một hỗn hợp làm nóng và bơm đẩy nước qua những dây dẫn vào những nếp gấp bên trong áo lặn giúp Pitt điều hòa nhiệt độ. Anh đeo một mặt nạ lặn AGA MK-11 trùm kín gương mặt có gắn bộ phận truyền tin vô tuyến. Anh chọn giải pháp mang theo bình dưỡng khí thay vì để nó lại trên hệ thống yểm trợ trên mặt nước. Sau khi kiểm tra hệ thống đèn chiếu dưới nước, Pitt đã sẵn sàng làm việc.

“Chúc may mắn”, Evie hét lớn để Pitt có thể nghe cô, qua cái nón trùm đầu và mặt nạ lặn. Sau đó cô bận rộn với việc chụp ảnh Pitt, từ lúc anh ngồi trên mép băng trước khi buông mình qua mặt nước giá buốt. “Ông có chắc là tôi không thể nhờ ông chụp ảnh dưới đó với một máy ảnh chụp dưới nước chứ?”

Pitt lắc đầu và giọng anh vọng ra từ cái loa, “Tôi không có thì giờ chụp ảnh đâu”.

Anh vẫy tay và lăn mình xuống nước, hai bàn chân đạp mạnh và mất dạng. Lặn xuống được mười bộ, anh xả hết không khí ra khỏi bộ quần áo lặn khô ráo và chờ xem bộ phận làm nóng của nó có quân bình lại nhiệt độ sau khi anh chìm trong màn nước lạnh cóng không. Là một thợ lặn thận trọng, trong suốt những năm theo đuổi công việc lặn, Pitt chưa bao giờ đối mặt với những rắc rối dưới nước. Anh luôn tự nhắc nhở mình, luôn giữ đầu óc sắc sảo đặt ra những câu hỏi và thăm dò môi trường chung quanh, liên tục kiểm tra dụng cụ lặn và tình trạng cơ thể.

Bên dưới lớp băng dày hơn ba bộ, anh nhận ra một thế giới hoang dã khác. Nhìn lên trên, anh hình dung mặt dưới lớp băng trông giống như bề mặt của một hành tinh vô danh nằm sâu trong dải Ngân Hà. Ánh sáng lọc qua lớp băng làm cho tầng nước trắng xóa chuyển sang màu xanh chập chờn xen lẫn những vạt tảo màu vàng như những đám mây, là thức ăn vô tận của những loài giáp xác. Anh dừng lại để điều chỉnh luồng nước nóng trong bộ đồ lặn trước khi nhìn xuống dưới và trông thấy màu xanh của nước nhạt dần và trở thành màu đen dưới đáy sâu.

Anh lặn xuống và mất hút trong màu đen đó.

Quang cảnh khác thường dần dần lộ ra như một bức màn tối tăm được kéo sang nơi khác khi Pitt xuống tới đáy. Không có tảo hoặc san hô, hoặc loài cá có màu sắc sáng chói ở đây. Anh liếc nhìn lên chỗ lỗ hổng trên lớp băng lúc này có màu đỏ rực, để định hướng. Sau đó anh dừng lại một lúc để bật sáng ngọn đèn lặn và chiếu chùm ánh sáng vào chiếc tàu đắm, trong lúc cân bằng sức ép của nước lên hai tai.

Những thứ còn sót lại của chiếc tàu ngầm đều vỡ thành từng mảnh và vương vãi khắp nơi. Phần giữa thân tàu dưới đài chỉ huy bị gãy đôi trông thật khủng khiếp vì đó chính là nơi tên lửa đã nổ. Đài chỉ huy bị xé rời khỏi thân tàu đang nằm nghiêng một bên giữa đống đổ nát. Thân sau chỉ còn dính vào sống tàu bằng những cây xà của bánh lái. Khu vực mũi tàu vặn vẹo nhưng vẫn đứng thẳng trong lớp bùn. Đáy biển mềm nhũn bọc lấy xác tàu tơi tả, và Pitt ngạc nhiên nhận ra hai mươi phần trăm chiếc tàu đã bị chôn vùi.

“Tôi đã tới chỗ cái xác tàu”, anh báo cho Cox biết. “Trông nó vỡ toác thật thảm hại. Tôi sẽ vào bên trong những phần còn lại”.

“Phải rất cẩn thận”, giọng nói vô hồn của Cox phản hồi trong tai nghe của Pitt. “Nếu bộ áo lặn bị kim loại xé rách một lỗ, ông sẽ đông cứng trước khi trồi lên khỏi mặt nước đấy”.

“Đúng là một lời chúc kỳ cục’’.

Pitt không định xâm nhập ngay vào chiếc tàu. Anh dành gần mười phút quí báu dưới đáy biển để bơi trên cái xác tàu và quan sát hiện trường đổ nát. Đầu nổ của tên lửa được thiết kế để phá hủy một cái bia lớn hơn nhiều nên nó để lại trên chiếc tàu ngầm như một vật chẳng còn hình thù gì của một chiếc tàu biển. Những ống dẫn, những van và những tấm thép văng ra từ thân tàu nằm hỗn độn như bị ném bừa bãi từ một bàn tay khổng lồ. Anh bơi trên những xác người, lướt qua những phần thân thể bầy nhầy còn sót lại như thể anh là một linh hồn trôi giạt trên một chiếc xe buýt bị đặt bom khủng bố.

Anh quạt nước và bơi vào bên trong thân tàu qua lỗ rách lớn và nham nhở, nơi trước đó là vị trí của đài chỉ huy. Hai xác chết lộ ra dưới ánh sáng ngọn đèn lặn. Cố chống lại cơn buồn nôn đang trào lên cổ họng, anh lục soát tìm lý lịch của chúng nhưng không thấy thứ gì có giá trị. Không giấy tờ, không thẻ tín dụng hoặc thẻ căn cước. Có vẻ như toàn thể các thành viên của thủy thủ đoàn trên chiếc tàu ngầm đều không ai có bất kỳ thứ gì tiết lộ nhân thân của họ.

“Tám phút”, Cox báo động. “Ông chỉ còn chừng đó thì giờ để trồi lên”.

“Hiểu”. Những cảnh báo thường do Giordino nhắc nhở, nhưng lần này Pitt phải cám ơn sâu sắc anh chàng sĩ quan hải quân to như con gấu này. Lời cảnh báo luôn dành cho anh những giây quyết định khi anh không thể liên tục dừng lại và chiếu đèn lên những con số màu da cam của chiếc đồng hồ lặn hiệu Doxa trên cổ tay anh.

Vào sâu hơn bên trong thân tàu tối tăm, chiếu đèn vào những tấm thép và đường ống bằng thép rách nát, anh bơi theo một hành lang hẹp và bắt đầu xem xét những căn phòng dẫn ra ngoài về hai bên hông tàu. Tất cả đều trống rỗng. Lục soát những ngăn kéo và tủ nhỏ, anh vẫn không tìm thấy bất kỳ loại tài liệu nào.

Anh kiểm tra lượng khí còn lại trong bình chứa để chuẩn bị cho việc trồi lên. Sau đó, anh bơi vào nơi trước đây là phòng dành cho sĩ quan. Căn phòng bị hỏng nặng về một bên. Tủ chén và bàn ghế được gắn chặt trên sàu tàu đã bị long ra và vỡ nát.

“Bốn phút”.

“Bốn phút”, Pitt lặp lại.

Anh tiếp tục bơi tới và tìm thấy cabin Hạm trưởng. Với thời gian ít ỏi còn lại, anh chỉ tìm kiếm thư từ hoặc các ghi chép, thậm chí cả sổ nhật ký. Không có gì. Ngay cả cuốn nhật ký hành trình của tàu cũng không có. Có vẻ như chiếc tàu chìm này và các thủy thủ đã chết chỉ là một ảo ảnh. Anh bắt đầu chập chờn ý nghĩ mong cho nó nhạt nhòa và biến mất.

“Hai phút”, giọng nói đã phần nào căng thẳng.

“Tôi đang chuẩn bị lên”.

Bất chợt, hoàn toàn không một dấu hiệu báo trước, Pitt cảm nhận có một bàn tay đặt lên vai anh. Pitt đông cứng lại. Trái tim đang đập chậm bỗng tăng nhịp và nảy lên. Đó không phải là một bàn tay bấu chặt, nó giống như một bàn tay thả lỏng giữa cánh tay và cổ anh. Vượt qua cú sốc là nỗi sợ hãi và cảm giác tê liệt, một sự khủng khiếp không kiểm soát được có thể làm người ta hóa rồ. Đó là một trạng thái hoàn toàn mông muội, mất ý thức và khả năng nhận định. Hầu hết mọi người sẽ trở nên bất động hoặc ngất đi.

Hầu hết sẽ như thế, trừ Pitt.

Bất chấp sự kinh ngạc lúc đầu, và sự tê liệt thoáng qua nhanh, đầu óc Pitt lại trở nên sáng suốt lạ lùng, vốn là một kẻ thực dụng, anh không tin có ma quỉ, và điều đó có vẻ như không thể tìm thấy ở một thợ lặn nào khác. Sự sợ hãi và nỗi khủng khiếp tan biến như một tấm chăn rơi xuống. Ý thức về một sự kiện không biết trở thành một ý thức thông minh. Anh đứng im như một bức tượng băng. Rồi thật thong thả và thận trọng, anh chuyển cây đèn bấm sang tay trái, cúi xuống tháo con dao bấm dưới bắp chân với bàn tay phải. Khi đã có con dao trong tay, anh quay lại đối đầu với sự đe dọa.

Đối tượng hiện ra trước mặt làm anh choáng váng.

Đó là một phụ nữ, một phụ nữ đẹp, hoặc đã từng là một phụ nữ rất đẹp, đang trừng mắt nhìn anh qua đôi mắt màu xanh xám vô hồn mở rộng. Cánh tay và bàn tay đã chạm vai anh vẫn đang duỗi ra, như thể cô ta đang làm một dấu hiệu. Cô ta mặc một bộ áo liền quần màu đen đúng tiêu chuẩn của Đệ Tứ quốc tế, nhưng đã rách tơi tả như nó bị một con mèo khổng lồ cào cấu dữ dội. Da thịt rách nát lộ ra ngoài qua những lỗ trống trên quần áo, đung đưa theo sự chuyển động của dòng nước. Bộ ngực tròn trĩnh phơi ra ngoài, và một cánh tay bị gãy lìa phần dưới khuỷu. Những phù hiệu cho biết cấp bậc của cô ta vẫn còn nằm trên đai da trên vai, nhưng Pitt không biết được cô ta thuộc loại nào.

Gương mặt cô ta bình thản lạ lùng và trắng bệch vì mất máu và nước lạnh. Nét thanh tú của gương mặt như tăng lên vì mái tóc màu hoàng kim bồng bềnh trôi về phía sau đầu cô ta như một vầng hào quang. Hai xương gò má cao và chiếc mũi thẳng. Cặp môi hơi hé mở như thể cô ta sắp nói điều gì. Đôi mắt màu xanh xám có vẻ như đang nhìn thẳng vào đôi mắt màu xanh lục óng ánh của Pitt cách anh không đầy một bộ. Anh vừa định xô cô ta sang một bên như thể cô ta là một thứ ác quỉ đến từ địa ngục, thì một ý nghĩ chợt đến, và anh biết mình phải làm gì.

Anh nhanh chóng lục soát những túi áo của cô ta. Và chẳng ngạc nhiên chút nào khi không tìm thấy thứ gì tiết lộ thân phận cô ta. Sau đó anh lấy một sợi dây từ cuộn dây móc ở đai lưng của mình và buộc một đầu dây vào bàn chân mang ủng của cái xác. Rồi anh trồi lên qua lỗ thủng rộng trên thân tàu ngầm, hướng thẳng tới vầng sáng trên mặt nước cách đó một trăm sáu chục bộ.

Sau khi thoát khỏi sức ép của nước, Pitt nổi lên đúng giữa lỗ băng bị phá vỡ và bơi đến mép lớp băng, nơi Cox và nhóm thủy thủ của anh ta đang tập trung. Evie Tan cũng đứng gần đó, bấm ảnh lia lịa khi Pitt và bộ dụng cụ lặn kềnh càng của anh được những cánh tay khỏe mạnh kéo lên từ dưới nước.

“Tìm thấy những gì ông cần tìm chứ?” Cox hỏi.

“Chỉ thấy cái này đáng công”, Pitt trả lời sau khi tháo mặt nạ lặn. Anh chuyển cho Cox sợi dây, một đầu dây dẫn xuống nước.

“Cái gì ở đầu kia sợi dây?”

“Một người bạn từ chiếc tàu ngầm”.

Đôi mắt Evie Tan nhìn trừng trừng vào cái hình dạng không rõ rệt đang từ dưới sâu trồi lên. Lúc nó nổi lên mặt nước, mái tóc xòe ra như một hình rẽ quạt và đôi mắt như đang nhìn thẳng vào mặt trời. “Lạy Chúa!” Cô hổn hển, gương mặt chuyển sang trắng bệch như tảng băng trôi. “Đó là một phụ nữ!”. Evie bị sốc thực sự. Cô không quan tâm đến việc chụp ảnh cái xác người phụ nữ lạ mặt trước khi cô ta được bọc trong một tấm vải nhựa và đặt lên một chiếc xe trượt tuyết chở dụng cụ.

Pitt được giúp tháo cái bình dưỡng khí ra và nhìn về phía chiếc xe chở dụng cụ với cái xác, được mấy thủy thủ kéo về chiếc tàu Polar Storm. “Nếu tôi không đoán sai, cô ta là một sĩ quan”.

“Thật đáng thương”, Cox buồn bã nói. “Chắc chắn cô ta từng là một phụ nữ rất quyến rũ”.

“Ngay cả khi đã chết”, Evie nói, cô cũng không giấu được vẻ buồn rầu, “có cái gì đó thật phức tạp không thể chối cãi từ người đàn bà này. Nếu tôi có phần nào óc phán đoán, tôi phải bảo đây là một phụ nữ có phẩm chất khác thường”.

“Có thể”, Pitt nói “Nhưng cô ta làm gì trên một tàu ngầm lẽ ra đã bị hủy diệt từ năm thập niên trước? Rất nhiều hy vọng cô ta sẽ cung cấp một phần lời giải bài toán nát óc nếu có thể xác định lý lịch cái xác này”.

“Tôi sẽ theo đuổi câu chuyện này cho đến khi kết thúc”, Evie quả quyết nói.

Pitt tháo bỏ chân vịt lặn và mang một đôi bốt lông thú. “Tốt hơn cô nên xin phép Bộ Hải quân và Đô đốc Sandecker. Có thể họ chưa muốn vụ này bị lộ trước công chúng”.

Evie vừa định khởi sự phản đối, nhưng Pitt đã đi theo vết hằn của chiếc xe trượt tuyết về phía chiếc tàu.

Pitt tắm dưới vòi sen và cạo râu, rồỉ thư giãn với một ly nhỏ rượu Mễ Tây Cơ Avagero Liqueur từ một chai anh đã mua trong chuyến đi lặn tại La Paz, Mexico. Chỉ đến lúc đã tập trung được tư tưởng, anh mới gọi ông Sandecker tại Washington.

“Cậu bảo một cái xác à?” ông Sandecker nói, sau khi nghe Pitt thuật sơ những sự cố xảy ra tiếp theo vụ chiếc tàu Polar Storm bị tấn công. “Một nữ sĩ quan của chiếc tàu ngầm?”

“Vâng, thưa ngài. Khi có cơ hội đầu tiên, tôi sẽ gởi cô ta về Washington bằng máy bay để khám nghiệm tử thi và xác định lý lịch”.

“Không dễ đâu, nếu cô ta có quốc tịch nước ngoài”.

“Tôi tin câu chuyện về cô ta sẽ được khám phá”.

“Những cổ vật lấy từ tàu Madras có bị hư hại sau vụ tấn công?” ông Sandecker hỏi.

“Tất cả đều an toàn và nguyên vẹn”.

“Cậu và mọi người trên tàu thật may mà thoát khỏi bị giết”.

“Đó là chuyện chỉ trong gang tấc, thưa Đô đốc. Nếu Hạm trưởng Cunningham không xuất hiện đúng lúc, chiếc tàu nằm dưới đáy biển sẽ là chiếc Polar Storm thay vì chiếc tàu ngầm”.

“Yaeger đã điều tra qua máy điện toán về chiếc U-2015 qua đống dữ liệu của cậu ta. Nó vẫn là một ẩn số. Những ghi chép chỉ cho biết nó rời khỏi Đan Mạch vào đầu tháng Tư năm 1945. Tuy nhiên, một số sử gia tin rằng nó vẫn nguyên vẹn thoát khỏi cuộc chiến và bỏ chạy với thủy thủ đoàn tại Rio de la Plata giữa Argentina và Uruguay, gần nơi tàu ngầm Graf Spee bị đánh đắm, nhưng chẳng có bằng cớ nào chứng minh cả”.

“Vậy số phận của nó chẳng bao giờ được xác định?”

“Không bao giờ”, ông Sandecker trả lời. “Tất cả những gì người ta biết chắc chắn là nó xuất xưởng vào Tháng Mười Một 1944, hạ thủy, nhưng không hề tham gia chiến tranh”.

“Vậy Hải quân Đức dùng nó vào việc gì?”

“Vì nó là một thế hệ mới trong thiết kế điện tử của người Đức, nó được xem như vượt hẳn bất kỳ những tàu ngầm nào khác đã phục vụ cho bất kỳ quốc gia nào trong thời gian đó. Thân dưới của nó được lắp đặt những bì phát điện cực mạnh, cho phép nó hoạt động rộng rãi hơn tất cả những tàu trên mặt biển, có thể lặn liên tục trong nhiều tháng và di chuyển trong những chặng đường rất dài. Một thông tin khác mà Yaeger có thể đào bới từ những tài liệu cũ của quân đội Đức là nó trở nên một phần của một dự án được hiểu là chiến dịch Vận Hội Mới”.

“Tôi đã nghe nhóm từ ngữ này ở đâu nhỉ?” Pitt thì thầm.

“Đó là một kế hoạch chi tiết được những tay trùm Đức Quốc xã phác thảo với sự cộng tác của chính phủ Peron tại Argentina để lưu hành lượng tài sản khổng lồ được Quốc xã Đức tom góp trong thời gian chiến tranh. Trong lúc những tàu ngầm khác vẫn tiếp tục tuần tra đánh chìm những tàu bè của quân Đồng minh thì chiếc U-2015 chỉ lui tới giữa hai nước Đức và Argentina với nhiệm vụ chở hàng trăm triệu đô la trị giá bằng những thỏi vàng và bạc, và bạch kim, kim cương cùng những tác phẩm mỹ thuật đánh cắp từ những nhà sưu tập lớn tại châu Âu. Những viên chức cao cấp của Đức Quốc xã và gia đình họ cũng được che chở theo cùng những hàng hóa quí giá đó. Tất cả được đưa tới một hải cảng tuyệt mật trên bờ biển Patagonia”.

“Chuyện đó xảy ra trước khi chiến tranh kết thúc?”

“Hoàn thành trước khi kết cục cay đắng diễn ra”, ông Sandecker trả lời. “Câu chuyện xoay quanh trong những báo cáo không đáng tin cậy, rằng chiến dịch Vận Hội Mới chỉ là một sản phẩm trí tuệ của Martin Bormann. Ông ta là kẻ ngưỡng một Adolf Hitler đến độ cuồng tín, nhưng cũng đủ nhạy bén để nhận thấy Đệ Tam Đế chế đã tới lúc đổ vỡ và phải tiêu hủy. Việc vận chuyển lậu những hậu duệ và tài sản có giá trị của những lãnh tụ Đệ Tam Đế chế đến một quốc gia bạn bè của nước Đức là mục đích của ông ta trước khi quân đội Đồng minh vượt qua sông Rhine. Kế hoạch nhiều tham vọng nhất của ông ta là lén đưa Hitler tới một căn cứ bí mật nhỏ trong rặng núi Andes, nhưng kế hoạch này không thành vì Hitler cương quyết chịu chết trong lô cốt của mình tại Berlin”.

“Có phải chiếc U-2015 là tàu ngầm duy nhất vận chuyển của cải và hành khách đến Nam Mỹ không?” Pitt hỏi.

“Không. Có ít nhất mươi hai tàu ngầm khác. Sau chiến tranh người ta mới biết chuyện này. Một số bị máy bay và chiến hạm của Đồng minh đánh đắm. Số còn lại hoặc chạy sang một quôc gia trung lập, hoặc những thủy thủ của chúng bỏ trốn”.

“Có đầu mối nào về số tài sản và hành khách đó không?”

“Hoàn toàn không”. Ông Sandecker nhấn mạnh. “Một thủy thủ từ một tàu ngầm được phỏng vấn sau chiến tranh rất lâu - một thời gian ngắn sau đó anh ta mất tích — có mô tả về những thùng gỗ nặng nề được chất lên những xe tải chở tới một xưởng đóng tàu vắng vẻ. Hành khách ăn mặc quần áo dân sự, nhưng có hành động như thể họ là những nhân vật quan trọng của Đảng Đức Quốc xã, vội vã lên những chiếc xe đợi sẵn. Chuyện gì xảy ra sau đó với họ và số tài sản kia thì không ai biết”.

“Argentina là miếng đất màu mỡ của Đức Quốc xã cũ. Còn nơi nào tốt hơn để tái lập và tổ chức một trật tự thế giới mới trên đống tro tàn cũ chứ?”

“Có lẽ một số ít vẫn còn sống. Bất kỳ đảng viên Đức Quốc xã nào có địa vị cao trong đảng hoặc trong quân đội còn sống đến nay cũng phải có số tuổi chín mươi hoặc hơn”.

“Mưu đồ càng lớn”, Pitt nói. “Tại sao những đảng viên Đức Quốc xã cũ lại vực dậy chiếc U-2015 và sử dụng nó để hủy diệt một chiếc tàu nghiên cứu?”

“Cũng với những lý do tương tự việc tìm cách giết cậu tại Thị trấn Telluride, với Al và Rudi trên đảo St. Paul trong Ấn Độ Dương”.

“Tôi đã vô tình không hỏi tình hình của họ sớm hơn”, Pitt tỏ ra hối tiếc. “Họ có tìm thấy căn hầm chứa cổ vật không?”

“Đã tìm thấy”, ông Sanđecker trả lời. “Nhưng sau đó suýt chết khi máy bay của họ bị phá hủy trước khi họ cất cánh để trở lại Cape Town. Gần như chúng ta có thể hình dung, một tàu chở hàng đã gởi một trực thăng tới đó với sáu gã được vũ khí tận răng để giết bất cứ ai xâm nhập hòn đảo nhằm lấy đi những cổ vật mà các hành khách trên tàu Madras còn bỏ sót lại sau lần viếng thăm của họ năm 1779. Al và Rudi giết sạch bọn chúng và bắn rơi chiếc trực thăng. Rudi lãnh một viên đạn, gãy xương ống chân khá trầm trọng. Cậu ta cũng sẽ ổn thôi, nhưng phải đắp chăn một thời gian dài đấy”.

“Họ vẫn còn ở trên đảo à?”

“Chỉ còn Al thôi. Rudi vừa được bốc đi một giờ trước do một trực thăng từ một tàu hộ tống của Anh từ Australia trở lại Southampton. Cậu ta sẽ được đưa tới Cape Town để giải phẫu tại Bệnh viện Nam Phi”.

“Sáu gã giết mướn và một trực thăng”, Pitt nói với giọng ngưỡng mộ. “Tôi không thể chờ để nghe chuyện của họ”.

“Đáng ngạc nhiên thật, nhất là khi cậu biết họ không có đến một tấc sắt trong tay từ lúc bắt đầu chiến đấu với đám kia”.

“Mạng lưới tình báo của bọn Đệ Tứ đế quốc quả thật không tồi chút nào”, Pitt nói. “Trước khi chiếc tàu ngầm bắt đầu tấn công tàu Polar Storm, tôi có nói mấy câu với gã Hạm trưởng. Khi tôi cho hắn biết tên tôi, hắn hỏi bằng cách nào tôi đến Nam Cực sau khi tới Colorado. Ngài hãy cẩn thận, thưa Đô đốc; nói như thế là thừa, nhưng tôi nghĩ có thể chúng đã cài người vào trong hoặc gần văn phòng NUMA của ngài”.

“Tôi sẽ xem xét việc này”, ông Sandecker nói, ý nghĩ của Pitt khiến ông nổi giận. “Trong lúc đó tôi sẽ gởi tiến sĩ O’Connell tới đảo St. Paul để nghiên cứu căn hầm và những cổ vật được Al và Rudi phát hiện. Tôi đang thu xếp để cậu gặp cô ấy và giám sát việc thu nhặt và di chuyển những cổ vật về Mỹ”.

“Còn người Pháp? Chẳng phải họ sở hữu hòn đảo sao?”

“Họ chẳng biết gì về chuyện này”.

“Chừng nào tôi mới được trở lại thế giới văn minh?”

“Cậu sẽ được ngủ trên cái giường của mình vào cuối tuần. Có 1 cái gì khác trong đầu cậu à?”

“Pat và Hiram có may mắn gì không trong việc giải mã những chữ khắc?”

“Họ đã đột phá được một số hệ thống. Nhờ bộ phận phân tích của máy vi tính về vị trí những ngôi sao trên trần căn hầm. Họ biết được những hình khắc này đã xuất hiện từ chín ngàn năm trước”.

Pitt không chắc anh nghe có rõ không. “Ngài nói chín ngàn năm à?”

“Hiram bảo việc đục khắc được thực hiện trong năm 7100 trước công nguyên hoặc trong khoảng thời gian đó”.

Pitt thực sự bàng hoàng. “Ngài bảo có một nền văn minh cực cao đã được thiết lập trước thời đại của Sumeria hoặc Ai Cập?”

“Tôi không biết nhiều về lịch sử cổ đại từ thời kỳ Annapolis”, ông Sandecker nói, “nhưng như tôi còn nhớ, thì tôi đã được học như thế”.

“Các nhà khảo cổ học chẳng thích thú gì khi phải viết lại cuốn sách về những nền văn minh thời tiền sử đâu”.

“Yaeger và tiến sĩ O'Connell cũng có những tiến triển trong việc giải mã những chữ khắc các mẫu tự. Họ cũng bắt đầu triển khai được vài dạng ghi chép về một tai họa đã xảy ra trên khắp bề mặt Trái Đất”.

“Một nền văn minh cổ chưa được biết bị một thảm họa khủng khiếp quét sạch? Nếu tôi không biết rõ hơn, thưa Đô đốc, tôi sẽ nói ngài đang đề cập tới châu Atlantis phải không?”

Ông Sandecker không trả lời ngay. Pitt thề là hầu như anh có thể nghe được tiếng những bánh xe răng chuyển động trong đầu ông Đô đốc lúc đó, đang cách anh tám ngàn dặm. Sau cùng, ông Sandecker chậm rãi nói, “Atlantis”. Ông lặp lại cái tên như thể đó là một cái gì rất thiêng liêng. “Thật lạ lùng, nhưng cái tên của nó, cậu có thể tiếp cận nhiều điều hơn cậu tưởng đấy”. 

« Lùi
Tiến »