Cuồng Vọng

Lượt đọc: 1852 | 2 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chiếc Tàu Cứu Nạn
thế kỷ hai mươi mốt

Tháng Tư, 2001 Thành phố Buenos Aires, Argentina  

Những nhà hát opera hàng đầu thế giới được đánh giá bởi các ca sĩ và nhạc sĩ về độ vang của âm trong các phòng trình diễn, và về phẩm chất của âm thanh được chuyển tải từ sân khấu đến các khu ghế lô rồi kéo dài tới những ban công trong hội trường dành cho khán giả. Đối với những người yêu opera phải mua vé, họ được xếp vào hàng ngũ những người được ngưỡng mộ hơn nữa, về sự thanh lịch và nhiệt tình của họ. Một số được lưu ý vì kiến trúc lòe loẹt, một số khác vì kiểu dáng phô trương, một số ít hơn nữa vì những vật trang trí và hoa lá trang trí. Nhưng không một nhà hát opera nào có được một hệ thống ánh sáng có thể sánh với Nhà hát Teatro Colon trên đại lộ de Julio trong thành phố Buenos Aires.

Được khởi công xây dựng năm 1840 và hoàn thành năm 1908, dưới thời Puccini trị vì, nhà hát Teatro Colon chiếm trọn bề dài của một khu phố thủ đô, từ vệ đường bên này đến vệ đường bên kia. Một sự pha trộn giữa nghệ thuật Pháp và ý thời phục hưng với Hy Lạp cổ điển làm cho sân khấu của nó tạo cảm giác như khi đứng dưới chân tượng đài Pavlova và Nijinsky. Toscanini đã điều khiển giàn nhạc giao hưởng ở đó. Và mỗi ca sĩ lừng danh, từ Caruso đến Callas đều đã trình diễn ở đó. Sân khấu đồ sộ hình móng ngựa được trang hoàng lộng lẫy trên một vành đai gộm nhiều nấc thang làm ngại ngùng những cặp mắt. Những đường gờ bằng đồng phức tạp đến độ khó tin bên trên những lan can ngăn cách những dày ghế bọc nhung mịn chạy dài phía trước tâm màn sân khấu bằng vải gấm chạy chỉ bằng vàng ròng giáp với trần nhà là một tác phẩm mỹ thuật bậc thầy. Vào những đêm có trình diễn, khi hệ thống ánh sáng lóe mắt bật lên, xã hội tinh hoa nhất của Argentina trải dài từ tiền sảnh nhà hát bằng đá cẩm thạch Italia với mái vòm bằng kính, màu sặc sỡ bên trên những cầu thang lộng lẫy sáng trưng cho tới những ghế ngồi trang trí thật xa hoa.

Sáu mươi giây trước khi mở màn, mọi chỗ ngồi đều được lấp kín, trừ lô ghế đặc biệt bên cánh phải sân khấu. Lúc này nơi đó vẫn còn trống. Vở nhạc kịch được trình diễn đêm nay là Lễ Đăng quang của Poppea do Claudio Monteverdi viết. Poppea là tình nhân của Hoàng đế La Mã trong thời kỳ La Mã vinh quang nhất. Tuy nhiên, các ca sĩ diễn viên lại mặc trang phục của thế kỷ XVII và xát muối lên những vết thương, tất cả đàn ông đều được phụ nữ ca ngợi. Đối với một số người ưa thích opera thì đây là một kiệt tác nghệ thuật chính thống. Đôi với những người khác thì nó là một vở nhạc kịch dài bốn giờ.

Vài giây trước khi ánh sáng nhà hát mờ đi, một nhóm người gồm một đàn ông và bốn phụ nữ nhẹ nhàng và kín đáo đi vào lô ghế còn trống và ngồi vào những chiếc ghế lót lông thú màu nâu. Đứng khuất sau tấm màn bên ngoài, hai gã vệ sĩ trong bộ lễ phục buổi tối hợp thời trang đứng gác với vẻ cảnh giác. Mọi cặp mắt trong nhà hát opera, mọi cặp ống dòm, mọi cặp kính để xem opera tự động hướng về và chú mục vào những người vừa bước vào lô ghế trống.

Những người phụ nữ đẹp choáng lộn, không những đẹp và khác thường, mà những mỹ nhân này còn có vẻ lung linh kỳ ảo, phảng phất vẻ cổ điển. Mái tóc màu hoàng kim nhạt của họ được cắt chải thành những lọn dài, chảy xuống đôi vai trần. Họ ngồi đường bệ như những bậc vua chúa, những bàn tay thon thả đặt trong lòng, nhìn xuống chỗ dàn nhạc qua những đôi mắt màu xanh xám giống hệt nhau, chiếu ra ánh sáng yếu ớt như ánh trăng đọng lại trên cánh một con quạ. Những đường nét trên gương mặt càng thanh tú hơn với hai gò má cao và nước da rám nắng có được nhờ những lần trượt tuyết trong rặng núi Andes hoặc tắm nắng trên một du thuyền thả trên mặt nước biển ngoài khơi Bahia Blanca. Rất dễ thấy bất kỳ người nào trong số họ đều có thể đã qua cái tuổi hai mươi lăm, dù thực sự tất cả đã trên ba mươi lăm. Không cần phải tưởng tượng để tin họ là chị em ruột, vì thực sự họ là bốn người trong nhóm chị em sinh sáu. Thân thể họ cân đối , mà quần áo không thể che giấu điều đó, chứng tỏ họ có một cuộc sống ngăn nắp và thường xuyên luyện tập những bài thể dục gian khổ.

Những bộ lễ phục dài bằng lụa sáng lung linh của họ giống hệt nhau về kiểu dáng, chỉ khác màu sắc. Ngồi thành nửa vòng tròn trong lô ghế đặc biệt, họ lóng lánh như những viên ngọc đủ màu sắc vàng, xanh, lục và đỏ. Đồ trang sức của họ là những chiếc vòng gắn những viên kim cương cùng một kích cỡ đeo ở cổ, vành tai và cổ tay. Vẻ đẹp toát ra từ những phụ nữ này có vẻ thanh thoát nhẹ nhàng, gợi cho người khác sự nể nang kính trọng, như thể họ là những thiên thần người ta không dám chạm tới. Có vẻ như người ta không thể nghĩ tới điều này, nhưng tất cả bọn họ đều đã lập gia đình, và mỗi người đều đã có năm đứa con. Những phụ nữ này tham dự đêm khai trương mùa nhạc kịch như một bổn phận của gia tộc. Họ duyên dáng gật đầu và mỉm cười với người đàn ông ngồi giữa bọn họ. Với dáng người cao lớn và thẳng, người đàn ông cũng có mái tóc và cặp mắt, giống hệt các em gái anh ta, ngoài ra họ không có điểm nào khác giống nhau. Anh ta đẹp trai đến độ làm người khác choáng váng chẳng khác các em gái mình, nhưng lại có vẻ rất nghiêm khắc. Với eo lưng nhỏ nhưng vai và mông lớn, chắc nịch, tay chân với cơ bắp cuồn cuộn, gương mặt vuông vức, cằm cũng vuông và lõm ở chính giữa như một lúm đồng tiền. Mũi hẹp và thẳng, mái tóc màu hoàng kim dày gợi cho phụ nữ ước muốn luồn những ngón tay vào. Anh ta cao đến sáu feet sáu inch cao như một tòa tháp, bên cạnh những em gái cao năm feet mười inch.

Khi quay lại và nói chuyện với các em gái, anh ta mỉm cười để lộ hai hàm răng trắng bóng được đóng khung bởi cái miệng đầy thiện cảm có lẽ chẳng quạu quọ bao giờ. Tuy nhiên, cặp mắt thật lạnh lùng. Chúng nhìn như thể một con báo đang rà soát trên đồng cỏ để tìm mồi.

Karl Wolf là một tay giàu sụ và đầy quyền lực. Anh ta quản lý một đế quốc tài chính gia đình khổng lồ trải dài từ Trung Hoa tới Ấn Độ, ngang qua Đại Tây Dương tới châu Âu, từ Gia Nã đại và Hoa Kỳ tới Mexico và Nam Mỹ. Đúng là một kẻ giàu khủng khiếp. Tài sản của anh ta ước tính có đến trên một trăm tỉ đô la. Liên hiệp công ty và xí nghiệp khổng lồ của Karl Wolf gồm vô số các dự án khoa học và kỹ thuật cao, được biết tới trong thế giới kinh doanh dưới cái tên Tổng công ty Trách nhiệm Hữu hạn Vận Hội. Không giống các em gái, Karl Wolf còn sống độc thân.

Wolf và những thành viên khác trong gia tộc dễ dàng xâm nhập vào xã hội danh vọng mới của Argentina. Anh ta sắc sảo, tự tin và thành đạt; tuy nhiên, cũng như các thành viên khác, anh ta sống tiết kiệm, quan tâm đến tài sản đồ sộ của mình. Nhưng triều đại gia tộc Wolf, thật khó tin, có đến hơn hai trăm thành viên, ít khi thấy xuất hiện trong những nhà hàng sang trọng hoặc những nơi giới thượng lưu thường lui tới. Những phụ nũ dòng họ Wolf hầu như chẳng bao giờ lui tới những cửa hàng thời trang cao cấp và những cửa hiệu xa hoa trong thành phố Duenos Aires. Trừ Karl là người thường xuất hiện do công việc đòi hỏi, những thành viên còn lại của gia tộc hầu như chỉ sống ẩn dật, và là bí ẩn lớn của người dân Argentina. Họ không kết bạn với người ngoài. Không ai, thậm chí cả những người nổi tiếng và viên chức cao cấp trong chính phủ, có thể phá vỡ lớp vỏ bọc của gia tộc Wolf. Đàn ông chỉ kết hôn với phụ nữ trong dòng họ chẳng ai biểt từ đâu đến và không có lý lịch, tung tích. Một điều kỳ lạ là tất cả những phụ nữ này đều mang họ của gia tộc. Mọi thành viên, từ những đứa bé mới sinh gần nhất đến những người mới kết hôn gần đây nhất đều mang họ Wolf, dù thành viên đó thuộc giới tính nào.

Khi Karl và bốn cô em gái xuất hiện tại nhà hát opera vào những đêm khai trương, thì đó là một sự kiện trọng đại để thiên hạ xì xào bàn tán. Chỉ đến lúc đoạn mở đầu chấm dứt và tấm màn bắt đầu kéo lên, khán giả mới miễn cưỡng chuyển sự chú ý của họ từ anh em nhà Wolf lộng lẫy và sang trọng trong lô ghế hạng nhất để quay sang nhìn những diễn viên trên sân khấu.

Wolf quay sang cô em gái Maria và mỉm cười, “Vì rằng, em gái yêu quí, nếu chúng ta không bạo dạn trước công chúng trong những dịp đặc biệt, chính phủ và dân chúng có thể bắt đầu nghĩ chúng ta đang âm mưu chuyện khủng khiếp gì đó. Tốt nhất, nên thỉnh thoảng xuất hiện một lần để họ hiểu là chúng ta không lén lút câu kết với người ngoại quốc nhằm bí mật kiểm soát đất nước này”.

“Chúng ta nên chờ đợi cho tới khi Heidi từ Nam Cực trở về”.

*Em đồng ý”, Geli, cô em gái bên phải Wolf nói khẽ. “Chị ấy sẽ là người duy nhất được hưởng niềm thích thú tuyên bố sự kiện trọng đại này”.

Wolf vỗ nhẹ bàn tay Geli. “Anh sẽ bù đắp công lao của cô ấy khi Đại hội La Traviata khai mạc tuần sau”.

Họ bất chấp ánh mắt của khán giả cứ đảo qua đảo lại giữa những nhân vật khó hiểu của dòng họ Wolf và những diễn viên trên sâu khấu. Tấm màn vừa được kéo lên để bắt đầu Hồi III thì một trong hai gã cận vệ từ phía sau bước vào và nói khẽ vào tai Wolf. Anh ta như đông cứng trong ghế ngồi, nụ cười biến mất và nét mặt trở nên trầm trọng. Anh ta cúi xuống, nói thật dịu dàng, “Các em gái quí mến, có chuyện khẩn cấp vừa mới xảy ra, anh phải đi. Các em cứ ở lại. Anh đã đặt một phòng riêng tại Plaza Grill cho bữa ăn tối nhỏ sau vở nhạc kịch. Các em hãy tới đó. Và anh sẽ đến sau”.

Cả bốn người phụ nữ đều rời mắt khỏi sân khấu và nhìn anh ta với vẻ bối rối. “Anh có thể cho chúng em biết đó là chuyện gì không?” Geli hỏi.

“Chúng em muốn biết”, Maria nói.

“Chừng nào anh biết, các em sẽ biết”, anh ta hứa. “Giờ thì cứ vui vẻ đi nào”.

Wolf đứng lên và rời khỏi lô ghế, được một trong hai gã vệ sĩ hộ tống, trong lúc gã kia ở lại bên ngoài khu ghế lô. Anh ta vội vã đi ra một cửa hông và chui vào một chiếc limousine đợi sẵn - một chiếc Mercedes-Benz 600 sản xuất năm 1969, loại xe sau bốn mươi năm vẫn tồn tại và nổi tiếng là một chiếc limousine sang trọng nhất thế giới. Dòng xe cộ đông nghẹt. Không giờ giấc nào trong đêm lượng xe cộ trong thủ đô Buenos Aires lại tỏ ra thông thoáng. Đường phố bận rộn liên tục từ lúc tắt nắng đến bình minh. Gã tài xế lái chiếc Mercedes to kềnh vào đường Recoleta nằm giữa hai công viên cây cối um tùm Plaza Francia và Plaza Intendente Alvear. Tại Argentina, nơi này được xem như đại lộ Michigan ở Chicago và đường Rodeo Drive tại Beverly Hills, với những hàng cây cao phủ bóng mát lên những cửa hiệu sang trọng, những khách sạn lộng lẫy và những ngôi nhà đồ sộ.

Chiếc xe đi qua nghĩa trang Recoleta với những lối đi hẹp lót đá nằm giữa bảy ngàn ngôi mộ và công trình kỷ niệm được trang trí cầu kỳ với những pho tượng thiên thần đang nhìn xuống các cư dân. Tượng đài Eva Peron do dòng họ Duarte xây dựng là một công trình khiến du khách thường kinh ngạc khi đọc thấy trên tấm bia gắn ở cổng vào với dòng chữ “Argentina, đừng khóc vì tôi. Tôi luôn ở gần bạn”.

Người tài xế lại vòng qua những cánh cổng có người gác, vượt qua một hàng rào song sắt và lên một lối đi hình tròn rồi dừng lại tại cánh cổng một tòa dinh thự đồ sộ có kiến trúc của thế kỷ mười chín với những hàng cột lớn và những bức tường cao phủ đầy dây thường xuân, ngày xưa từng là Tòa Đại sứ Đức cho đến Thế Chiến Hai. Bốn năm sau chiến tranh, chính phủ Đức dời trụ sở ngoại giao của họ đến khu Palermo Chico, vùng đất của Argentina thuộc về nước Đức. Từ đó, tòa dinh thự được sử dụng như tổng hành dinh của Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Vận Hội.

Wolf rời khỏi xe và đi vào tòa nhà. Nội thất bên trong tòa dinh thự cực kỳ lộng lẫy. Sàn nhà và cột bằng đá cẩm thạch, những bức tường lát gỗ, trần nhà khảm xà cừ là những gì còn sót lại của quá khứ, nhưng những đồ đạc trong nhà lại rất ít và không có dấu hiệu nào của sự trang trí đòi hỏi nhiều công phu. Chỉ có một cầu thang bằng đá cẩm thạch trắng dẫn lên những văn phòng ở tầng trên, nhưng Wolf bước vào một thang máy nhỏ tại một góc tường. Thang máy im lặng bốc lên và mở ra một phòng họp rộng thênh thang, tại đây mười thành viên gia tộc Wolf, gồm bốn phụ nữ và sáu đàn ông, đang ngồi chờ quanh một cái bàn họp bằng gỗ tếch dài ba mươi bộ.

Tất cả đứng lên để chào đón Karl. Dù chỉ mới ba mươi tám tuổi, lại là kẻ sắc sảo và nhạy bén nhất, nên anh ta được chấp nhận và kính trọng như cố vấn trưởng và lãnh tụ của gia tộc.

“Xin tha lỗi vì tôi đến trễ, các anh chị em của tôi, nhưng tôi đã đến ngay, sau khi nhận được tin báo thảm kịch”. Rồi anh ta bước thẳng tới chỗ một người đàn ông tóc bạc và ôm hôn ông này. “Có đúng vậy không, thưa cha, chiếc U-2015 đã bị đánh đắm cùng với em Heidi?”

Ông già Max Wolf buồn bã gật đầu. “Đó là sự thật. Em gái anh, cùng với thằng Eric, con trai của Kurt và toàn bộ thủy thủ đoàn lúc này đang nằm dưới đáy biển ngoài khơi Nam Cực”.

“Eric?” Karl Wolf nói. “Tại nhà hát, con không được báo cho biết chú ấy cũng đã chết. Con không biết chú ấy cũng có mặt trên tàu ngầm. Cha biết chắc chắn điều này chứ?”

“Chúng tôi nghe được tin tức của NUMA gởi về Washington qua vệ tinh”, một người đàn ông cao lớn - Bruno Wolf - trông giống Karl như anh em sinh đôi - nói với vẻ giận dữ. “Thông tin đó cho biết câu chuyện. Trong lúc thực hiện kế hoạch tom góp tất cả chứng cứ của chúng ta về các cổ vật, khi chiếc tàu ngầm U-2015 đang bắn vào chiếc tàu nghiên cứu của NUMA, thì một tàu ngầm nguyên tử của Hải quân Hoa Kỳ tới và bắn một tên lửa phá hủy chiếc U-2015 của chúng ta và giết chết mọi người trên tàu. Không nghe chúng nói có ai sống sót?”

“Một mất mát khủng khiếp”, Karl nói khẽ, giọng trầm trọng. “Những thành viên của hai gia đình và chiếc tàu cũ U-2015 đáng kính. Chúng ta chớ quên rằng nó đã đưa tổ tiên chúng ta và những gì cốt lõi của đế quốc chúng ta từ Đức tới đây sau chiến tranh”.

“Cũng chớ quên giá trị phục vụ nó đã cống hiến trong thời gian lâu như thế”, Otto Wolf - một trong tám bác sĩ của gia tộc - nói thêm. “Nó phải được nhớ tiếc với tất cả nỗi đau của chúng ta”.

Mọi người quanh bàn họp im thin thít. Rõ ràng đây là một nhóm người chưa hề nếm mùi thất bại. Trong suốt năm mươi lăm năm, từ lúc khởi đầu, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Vận Hội chỉ gặt hái hết thành công này đến thành công khác. Mỗi dự án, mỗi chiến dịch đều được hoạch định với những nguyên tắc chi tiết. Không có tình huống nào bị bỏ sót. Mọi vấn đề đều được dự trù và xử lý. Sự sơ xuất và ấu trĩ không được tồn tại. Gia tộc Wolf đã ngự trị tuyệt đối cho tới ngày nay. Họ hầu như không bao giờ chấp nhận những đảo lộn vượt quá sự kiểm soát của họ.

Karl ngồi xuống một cái ghế tại đầu bàn họp. “Những mất mát về người trong gia tộc và nhân viên thuê bên ngoài trong hơn hai tuần qua như thế nào?”

Bruno Wolf, chồng cô em gái Geli của Karl, mở một hồ sơ và nhìn vào một cột gồm những con số. “Bảy nhân viên tại Colorado, bảy trên đảo St. Paul kể cả cậu em họ Fritz, chỉ huy chiến dịch từ trên chiếc trực thăng, bốn mươi bảy thủy thủ trên tàu ngầm U-2015 cộng với Heidi và Eric”.

“Sáu mươi bảy người ưu tú nhất của chúng ta và ba thuộc về gia tộc chúng ta trong vòng không đầy mười ngày”, Elsie Wolf nói. “Điều này thật vô lý”.

“Càng vô lý khi những người có trách nhiệm lại là một nhóm những nhà hải dương học giỏi nhất và hiền lành như những con sứa không có chất độc”, Otto gầm gừ đầy giận dữ.

Karl mệt mỏi dụi mắt. “Tôi xin nhắc chú, Otto, hãy nhớ rằng những con sứa không có nọc độc đó đã giết chết mười hai nhân viên giỏi nhất của chúng ta, không kể hai gã chúng ta buộc phải loại trừ để chúng khỏi bép xép”.

“Những nhà khoa học hàng hải và những kỹ sư không phải là những kẻ giết mướn chuyên nghiệp”, Elsie nói. “Nhân viên của chúng ta bí mật làm việc trong NUMA tại Washington có gởi cho tôi hồ sơ của những kẻ phải chịu trách nhiệm về cái chết của những nhân viên của chúng ta tại Colorado và trên đảo St. Paul. Chúng không phải là những tên tầm thường. Những kỳ công của chúng tại NUMA giống như một bộ tiểu thuyết phiêu lưu”. Elsie dừng lại và chuyển nhiều tấm ảnh quanh cái bàn. “Gương mặt đầu tiên các vị thấy là Đô đốc James Sandecker, chỉ huy trưởng NUMA. Sandecker rất được kính trọng trong giới tinh hoa có quyền lực chính trị của chính phủ Hoa Kỳ. Sau những thành tích đáng ganh tị của ông ta trong chiến đấu, ông ta được chọn để tổ chức và lãnh đạo cơ quan này. Ông ta cũng có sức nặng rất lớn trong Quốc hội Hoa Kỳ”.

“Tôi đã gặp ông ta một lần trong cuộc hội thảo về khoa học biển tại Marseilles”, Karl nói. “Ông ta không phải là một địch thủ để chúng ta đánh giá thấp”.

“Tấm ảnh tiếp theo là của Rudolph Gunn, chỉ huy phó NUMA”.

“Một gã bé loắt choắt trông chẳng mùi mẽ gì”, Felix Wolf, một trong những luật sư của gia tộc, nhận xét. “Chắc chắn hắn không đủ sức để trở thành một kẻ giết người”.

“Hắn không biết sử dụng hai bàn tay để giết đối phương”, Elsie nói. “Nhưng chúng ta có thể bảo hắn mới là nhân vật chính đã gây ra cái chết của toán tìm kiếm trên đảo St.Paul. Tốt nghiệp đại học tại Học viện Hàng hải Quốc gia Hoa Kỳ, hắn từng là một sĩ quan sáng giá trong hải quân trước khi gia nhập NUMA và trở thành cánh tay phải của Đô đốc Sandecker”.

Bruno cầm tấm ảnh thứ ba lên. “Đây, gã này trông giống như một kẻ có khả năng mổ bụng đối phương trong một chớp mắt”.

“Hắn là Alberto Giordino, phụ tá giám đốc dự án đặc biệt của NUMA”, Elsie giải thích. “Tốt nghiệp sĩ quan Học viện Không lực Hoa Kỳ. Hắn cũng đã từng phục vụ chiến đấu. Bruno nói đúng, gã Giordino được xem là một kẻ rất thô bạo. Thành tích của hắn tại NUMA rất đáng nể. Hồ sơ về những dự án do hắn chỉ huy thành công rất dày. Hắn được biết tới như một tay giết người chuyên nghiệp, và từ những thông tin chúng ta có được thì hắn cùng với Gunn là hai gã đã tiêu diệt bảy người của chúng ta trên đảo St. Paul”.

“Còn cái ảnh sau cùng?” Otto nhẹ nhàng hối thúc.

“Tên hắn là Dirk Pitt. Được xem là một huyền thoại trong giới hải dương học. Là giám đốc dự án đặc biệt của NUMA, hắn được biết tới như một tính cách thuộc thời kỳ phục hưng. Còn độc thân, hắn sưu tập những xe hơi cổ. Cũng tốt nghiệp Học viện Không lực Hoa Kỳ, được thưởng nhiều huy chương. Những thành tựu của hắn khiến người ta đọc phát mệt. Chính hắn đã phá hỏng kế hoạch của chúng ta tại Colorado. Hắn cũng có mặt tại Nam Cực trong lúc chiếc U-2015 bị chiếc tàu ngầm nguyên tử đánh đắm”.

“Thật đáng tiếc”, Otto nói trong cơn giận cố nén. Anh ta nhìn từng gương mặt trong phòng họp. “Sai lầm là ta đã sử dụng nó thay vì một chiếc tàu hiện đại bình thường”.

“Một nỗ lực sai lầm của chúng ta nhằm làm rối trí kẻ thù”, Karl nói.

Bruno đập nắm đấm lên mặt bàn, “Chúng ta phải trả thù những tên này. Bọn chúng phải chết”.

“Chú đã ra lệnh tìm cách ám sát Pitt mà không có sự đồng ý của những người còn lại trong chúng ta”, Karl nói, giọng sắc bén. “Một nỗ lực thất bại, tôi phải nói như thế. Chúng ta không được trả thù một cách hoang phí. Chúng ta có một thời biểu phải tuân thủ, và tôi không muốn mọi quan tâm của chúng ta bị lạm dụng sai trong chuyện trả thù vặt vãnh”.

“Tôi thấy chẳng có gì vặt vãnh trong chuyện này”, Bruno cãi; “Bốn gã đàn ông này phải trực tiếp chịu trách nhiệm về những cái chết của anh chị em chúng ta. Chúng không thể không bị trừng phạt”.

Karl nhìn Bruno với ánh mắt lạnh như băng giá. “Vậy, chú em thân mến, chú không nhận ra khi Dự án Vận Hội Mới đạt tới cao điểm của nó, thì tất cả bọn chúng đều phải chết thảm khốc sao?”

 “Karl nói đúng”, Elsie nói. “Chúng ta không thể xao lãng mục đích thực sự của mình và vô tâm với thảm kịch đã xảy ra cho gia tộc”.

“Vấn đề đã giải quyết xong”, Karl nói dứt khoát. “Chúng ta hãy tập trung vào công việc trước mắt và chấp nhận nỗi đau như một phần của cái giá phải trả”.

“Bây giờ thì những căn hầm tại Colorado và trên đảo St.Paul đã bị người ngoài phát hiện”, Otto nói. “Tôi thấy sẽ chẳng được gì nếu tiếp tục lãng phí thì giờ, tiền bạc và sinh mạng nhiều người trong việc giấu giếm sự tồn tại về nguồn gốc tổ tiên ngày xưa của chúng ta”.

“Tôi đồng ý”, Bruno nói. “Với những chữ khắc lúc này đang ở trong tay những viên chức chính phủ Hoa Kỳ, chúng ta nên nấp trong bóng tối trong lúc họ giải mã thông điệp và tuyên bố lời cảnh báo của người Amenes về thảm họa qua hệ thống thông tin quốc tế, như thế chúng ta khỏi tốn công”.

Karl nhìn lên mặt bàn với vẻ thâm trầm. “Mối lo đáng kể nhất của chúng ta là chuyện này bị lộ ra quá sớm trước khi Dự án Vận Hội Mới tiến hành và chúng ta có quá ít thông tin”.

“Vậy chúng ta phải làm cho mọi chuyện rối tung lên trước khi các nhà khoa học điều tra ra âm mưu của chúng ta”.

“Vì sự can thiệp của những thằng khốn trong NUMA, thế giới sẽ nghiền nát chúng ta trong hai tuần lễ sắp tới”. Bruno nhìn Karl qua cái bàn. “Liệu có cơ hội nào, thưa anh, để người của chúng ta tại Valhalla có thể thay đổi thời gian biểu không?”

“Có thể, nếu tôi giải thích tình hình khẩn cấp và nhắc họ lưu ý đến những nguy hiểm đang bủa vây chúng ta. Tôi tin là tôi có thể thuyết phục họ dời ngày tiến hành thêm mười ngày kể từ hôm nay”.

“Mười ngày”, Elsie nóng nảy lặp lại. “Chỉ mười ngày trước khi thế giới cũ bị hủy diệt và Đệ Tứ Đế quốc nổi dậy từ đống tro tàn”.

Karl trang trọng gật đầu, “Nếu tất cả tiến hành theo những kế hoạch đã được trù liệu kỹ lưỡng của gia tộc chúng ta từ năm 1945, chúng ta sẽ làm biến đổi toàn diện nhân loại trong suốt mười ngàn năm nữa”.

Sau khi được máy bay bốc tới một trạm nghiên cứu băng và bay qua miền cực tây Ấn Độ Dương đến Cape Town, Pitt hội ngộ với Pat O’Connell từ Washington tới. Cô được Tiến sĩ Bradford Hatheld tháp tùng, ông ta là một nhà bệnh lý học kiêm khảo cổ học có biệt tài về việc nghiên cứu những xác ướp cổ. Họ cùng bay tới đảo St. Paul trên một máy bay cánh quạt có những đặc tính của một trực thăng. Một trận mưa phùn nặng nề kèm theo những cơn gió mạnh đập vào những gương mặt không được che kín của họ như những cú roi quất. Ba người được một toán lính thủy đánh bộ thiện chiến của Hải quân Hoa Kỳ tiếp đón. Đó là những người đàn ông cao lớn và điềm tĩnh trong những bộ quân phục được ngụy trang với cành lá cho phù hợp với địa hình hòn đảo núi lửa St.Paul.

“Chào mừng đã tới mảnh đất Địa ngục bị quên lãng”, một người đàn ông cao lớn nói với một nụ cười thân thiện, trên vai lủng lẳng một vũ khí lớn vừa giống một khẩu tiểu liên tự động, vừa giống một súng phóng hỏa tiễn. “Tôi là Trung úy Miles Jacobs, có nhiệm vụ dẫn đường cho các vị”.

“Đô đốc Sandecker không nói gì đến chuyện bọn khủng bố có thể quay lại mà”, Pitt nói lúc bắt tay Jacobs.

“Ông ấy có thể sắp được về hưu”, Jacobs nói, “nhưng ông ấy vẫn có ảnh hưởng rất lớn đối với những nhân vật cao cấp. Tôi được lệnh phải bảo vệ những thành viên NUMA các vị, chúng tôi do ngài Bộ trưởng Hải quân phái tới”.

Không trao đổi gì thêm, Jacobs và bốn người của anh ta, hai đi trước dẫn đường, hai người còn lại đi sau cùng, đưa Pitt và hai nhà khoa học lên sườn núi theo lối mòn dẫn tới đường hầm. Pat gần như ướt đẫm nửa người dưới chiếc áo mưa và có vẻ không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Đúng lúc đó, họ tới miệng đường hầm hình mái vòm. Và Giordino bước ra đón họ. Trông anh có vẻ mỏi mệt nhưng vẫn nghênh ngang như đội trưởng một đội bóng đá vừa mới thắng trận.

Pat thực sự ngạc nhiên khi trông thấy một gã đàn ông thô kệch, hồn nhiên lại chào đón người này, người kia với những cái ôm chặt và vỗ lưng nồng nhiệt như vậy. Tình cảm bộc lộ rõ rệt trong đôi mắt, cô thề là hầu như họ đều sắp chảy nước mắt.

“Thật khoái chí khi thấy cậu còn sống, anh bạn già”, Pitt nói với vẻ hạnh phúc.

“Cậu cũng vừa thoát chết mà, thú vị thật”, Giordino trả lời với miệng cười toe toét. “Tôi nghe nói cậu có ném mấy quả bóng tuyết vào chiếc tàu ngầm phải không?”

Pitt bật cười. “Họ phóng đại ghê quá. Tất cả những gì chúng tôi có thể làm là chửi rủa bọn chúng cho tới khi một chiếc tàu hải quân tới”.

“Tiến sĩ O’Connell”, Giordino cúi đầu rất sâu và hôn bàn tay mang găng của Pat. “Chúng tôi cần một người như cô để soi sáng nơi tối tăm này”.

Pat mỉm cười và nhún đầu gối để chào, “Thật vinh hạnh, thưa ông”.

Pitt quay lại và giới thiệu nhà khảo cổ học. “Al Giordino, Tiến sĩ Brad Hatheld. Tiến sĩ Brad tới đây để nghiên cứu những xác ướp mà cậu và ông Rudi đã phát hiện”.

“Tôi được thông báo ông và ông chỉ huy phó Gunn đã phát hiện một kho tàng cổ vật”, ông Hatfieid nói. Ông ta cao và gầy với đôi mắt màu nâu rất sáng, một gương mặt hẹp và mịn màng với giọng nói dịu nhẹ. Ông ta cúi xuống lúc nói và nhìn qua cặp kính gọng tròn như thể chúng được chế tạo từ những năm 1920.

“Xin mời vào để tránh mưa và đích thân ông sẽ nhìn thấy".

Giordino dẫn đường vào căn phòng bên ngoài. Từ khoảng cách năm mươi bộ, một mùi thịt cháy hôi thối không thể chịu được cùng với khói xộc vào mũi họ. Một máy phát điện đã được mang tới để hút khói ra ngoài theo một ống dẫn đặt từ trong căn phòng chạy dài tới miệng đường hầm. Ngoài ra nó còn cung cấp điện cho một số bóng đèn. Chẳng ai mong đợi sẽ chứng kiến một cảnh đổ nát đáng sợ như trong căn hầm lúc này. Toàn bộ căn hầm trở nên đen ngòm vì ám khói và bồ hóng do tên lửa gây ra. Một số vật dụng trong căn hầm trước khi vụ nổ xảy ra lúc này cũng đã biến mất.

“Thứ gì đã phá hủy ở đây khủng khiếp như vậy?” Pitt ngạc nhiên hỏi.

“Gã phi công của chiếc trực thăng tấn công cho rằng hắn có thể gởi một tên lửa mang đầu đạn qua đường hầm ấy mà”, Giordino giải thích trơn tru như thể anh đang mô tả phải ăn một quả táo như thế nào.

“Cậu và ông Rudi làm sao có thể có mặt ở đây vào lúc đó chứ?”

Giordino ngoác miệng cười. “Tất nhiên rồi. Có một đường hầm dẫn vào một cái hang khác phía sau cái hang này. Chúng tôi được một đống đá do một vụ sập hầm che khuất, ông Rudi và tôi sẽ không nghe được tiếng động nhỏ trong vài tuần lễ nữa vì tiếng nổ làm điếc tai, và phổi chúng tôi bị tắt nghẽn, nhưng cả hai đều sống sót”.

“Đúng là có phép lạ nên các cậu mới không bị nướng như những ông bạn kia”, Pitt nói và nhìn xuống những mảnh xương thịt đã cháy thành than còn sót lại của những kẻ tấn công.

“Lính thủy đánh bộ đã dọn dẹp những đổ nát và mang những cái xác về Mỹ để tìm hiểu lý lịch”.

“Kinh khủng quá”, Pat thì thầm, mặt cô trắng bệch. Nhưng cung cách chuyên nghiệp của cô nhanh chóng hồi phục và cô bắt đầu rà những ngón tay lên những gì còn sót lại của những chữ khắc trên vách đá. Cô nhìn với ánh mắt tiếc rẻ vào những viên đá bị vỡ nằm rải rác khắp nơi. “Họ đã phá hủy nó, cô nói như một hơi thở yếu ớt. “Họ đã xóa sạch nó. Những gì còn lại không đủ để giải mã”.

“Sự mất mát không lớn lắm đâu”, Giordino điềm tĩnh nói. “Tình trạng căn hầm trong kia vẫn còn nguyên. Những xác ướp chỉ bị phủ một lớp bụi, ngoài ra chúng vẫn ngồi đúng chỗ cũ, như lúc chúng tôi chưa bị tấn công”.

“Vẫn ngồi đúng chỗ cũ?” ông Hatheld lặp lại. “Nghĩa là những xác ướp không được đặt nằm trong những cỗ quan tài?”

“Không, họ được đặt ngồi trên những ghế đá”.

“Họ được bọc bằng vải?”

“Cũng không”, Giordino trả lời. “Họ ngồi đó như thể họ đang tham dự một cuộc họp hội đồng, tất cả đều mặc áo dài, đội nón và mang hia”.

Ông Hatheld lắc đầu với vẻ thắc mắc. “Tôi từng thấy những cách chôn cất cổ xưa, theo đó, những xác chết được bó chặt bằng the rất mỏng và được đặt vào những quan tài với những tư thế đẹp mắt trong những hòm bằng sứ, nằm sấp hoặc nằm ngửa, có cả tư thế đứng nữa. Nhưng tôi chưa bao giờ nghe nói có những xác ướp ngồi lộ thiên”.

“Tôi đã lắp đặt đủ ánh sáng trong đó để các vị có thể quan sát họ và những cổ vật khác”.

Trong thời gian Giordino chờ đợi Pitt và Pat O’Connell tới, anh đã nhờ những người lính thủy đánh bộ dọn dẹp những chỗ đá rơi, mang những tảng đá ra ngoài và ném xuống sườn núi. Nên lúc này đường hầm dẫn vào hang bên trong đã quang đãng và họ có thể đi thẳng người, không phải bò trườn trên những đống đổ nát. Những bóng đèn soi sáng căn hầm thậm chí còn rõ hơn ánh sáng mặt trời, làm lộ ra trọn vẹn những xác ướp và quần áo nhiều màu sắc của họ.

Ông Hatheld vội vã tiến thẳng lại và bắt đầu quan sát gương mặt xác ướp đầu tiên, gần đến nỗi hầu như mũi họ suýt đụng nhau. Ông ta trông giống một người bị lạc vào Vườn Địa đàng, đi từ xác ướp này đến xác ướp khác, quan sát lớp da, tai, mũi và môi họ. Ông ta mở một va li bằng da gấp lại và lấy ra một cái vòng kim loại dùng để đeo quanh đầu nhà phẫu thuật, có gắn đèn chiếu và hai lăng kính phía trước cặp mắt. Sau khi đeo cái vòng lên đầu, bật sáng bóng đèn và điều chỉnh tiêu cự cặp lăng kính, ông ta nhẹ nhàng phủi sạch lớp bụi trên mí mắt một xác ướp với một cây cọ mềm, loại các họa sĩ thường dùng. Những người khác im lặng nhìn cho đến khi ông ta quay đầu lại, tháo cái vòng kim loại quanh đầu ra, và nói.

Giọng nói của ông ta như thể một lời rao giảng trong giáo đường. “Sau tất cả những năm nghiên cứu các xác ướp cổ”, ông nhẹ giọng nói, “tôi chưa bao giờ nhìn thấy những cái xác được bảo quản tốt như thế. Thậm chí những nhãn cầu có vẻ như còn nguyên vẹn đủ để nói cho chúng ta biết màu sắc nguyên thủy của tròng mắt”.

“Có lẽ những xác ướp này mới được khoảng một trăm tuổi hoặc ít hơn”, Giordino nói.

“Tôi không nghĩ thế, chất liệu vải của quần áo, kiểu dáng những đôi hia, việc may cắt và kiểu dáng những khăn trùm đầu và nón cùng quần áo của họ trông khác hẳn bất kỳ thứ gì tôi từng trông thấy và hoàn toàn không giống những ghi chép trong lịch sử. Dù phương pháp ướp xác của họ như thế nào, kỹ thuật của những người này vượt xa kỹ thuật ướp xác tôi nghiên cứu được từ Ai Cập. Người Ai Cập mổ xẻ những xác chết để lấy hết các cơ quan nội tạng, lấy hết bộ óc qua hai lỗ mũi. Còn những xác ướp này không có dấu hiệu nào như thế, cả bên ngoài lẫn bên trong. Không có dấu hiệu nào của việc phẫu thuật”.

“Những chữ khắc chúng tôi tìm thấy trong dãy núi tại Colorado được xác định xuất hiện vào năm bảy ngàn trước Công nguyên”, Pat nói. “Có thể những người này và những cổ vật của họ cùng xuất hiện trong thiên nhiên kỷ đó chăng?”

“Tôi không thể nói gì khi chưa sử dụng kỹ thuật xác định thời gian”, ông Hatheld nói. “Xác định thời gian không phải sở trường của tôi. Nhưng tôi sẵn sàng, bằng cả uy tín của mình, nói rằng những người này đến từ một nền văn hóa cổ mà lịch sử con người hoàn toàn không biết gì”.

“Có lẽ họ là những người đi biển đầu tiên đã tìm thấy hòn đảo này và sử dụng nó để chôn cất những lãnh tụ của họ”, Pitt nhận xét.

“Tại sao lại chọn nơi này chứ?” Giordino vặn lại. “Tại sao họ không chôn những người chết của mình tại một nơi tiện nghi hơn dọc theo bờ biển một lục địa nào đó?”

“Giải đáp duy nhất là vì họ không muốn bị phát hiện”, Pat trả lời.

Pitt nhìn những xác ướp với dáng nghĩ ngợi. “Tôi không tin chắc vào điều đó. Tôi nghĩ, cuối cùng thì họ muốn những cái này được phát hiện. Họ đã để lại những thông tin khắc trên vách đá trong những căn hầm dưới lòng đất cách đây hàng ngàn dặm. Từ những gì tôi hiểu, cô và Hiram Yaeger đã xác định rằng những chữ khắc tại Colorado không phải là những thông điệp dành cho các thần thánh cai trị vùng đất của những kẻ quá cố”.

“Cho tới nay, điều đó đúng. Nhưng chúng tôi đã mất nhiều thì giờ để giải mã tất cả những ký hiệu và ý nghĩa của chúng. Và cho tới nay, sự hiểu biết ít ỏi của chúng tôi chỉ là những chữ khắc đó không phải là một sự chôn cất tự nhiên, nhưng đúng hơn, đó là một lời cảnh báo về một thảm họa tương lai”.

“Tương lai của ai chứ?” Giordino hỏi, “Có thể trong thời gian chín ngàn năm qua, thảm họa đó đã xảy ra rồi”.

“Chúng tôi chưa xác định thời điểm đó”, Pat trả lời. “Hiram và cái máy điện toán Max vẫn đang tiếp tục làm sáng tỏ chuyện này”. Cô bước lại một vách đá và phủi sạch lớp bụi che phủ những gì trông giống những hình chữ khắc trên đá. Đôi mắt Pat mở lớn vì kích động. “Những thứ này không giống những mẫu ký hiệu chúng tôi tìm thấy ở Colorado. Đây chỉ là hình tượng mô tả người và thú”.

Họ nhanh chóng quét dọn bụi bặm cho tới khi những hình chạm khắc lộ ra đầy đủ những chi tiết dưới ánh sáng những bóng đèn.

“Các vị thấy gì từ những thứ này?” Giordino hỏi, không đặc biệt nhắm vào ai.

“Rõ ràng là một nơi để tàu nấp bão hoặc một hải cảng”. Pitt điềm tĩnh nói. “Cậu có thể thấy cả một đội những chiếc thuyền cổ với buồm và mái chèo được che chở bởi đê chắn sóng, hai đầu có những tháp rất cao, có lẽ là một loại đèn hiệu hoặc hải đăng”.

“Đúng thế”, ông Hatheld đồng ý. “Tôi có thể dễ dàng phân biệt những công trình kiến trúc quanh khu đóng tàu, nơi có những chiếc tàu được neo buộc”.

“Những chiếc tàu này có vẻ như đang ăn hàng hoặc dỡ hàng”, Pat nói, cô đang nhìn vách đá với cái kính phóng đại. “Những hình người được chạm khắc kỹ từng chi tiết, cho thấy họ mặc cùng một loại y phục như những xác ướp. Một chiếc tàu trông giống như đang dỡ hàng là một bầy gia súc”.

Giordino đến gần bên Pat và nhìn kỹ những con thú. “Ngựa một sừng”, anh kêu lên. “Đây là loại ngựa một sừng. Nhìn xem, chúng chỉ có một sừng duy nhất mọc từ đỉnh đầu”.

“Thật khác thường”, ông Hatheld lẩm bẩm. “Lạ lùng chẳng khác gì những điêu khắc về những tượng thần vô nghĩa của người Hy Lạp”.

“Làm sao ông biết?” Pitt khích ông ta. “Có lẽ loài ngựa một sừng thực sự đã có mặt trên Trái Đất vào chín ngàn năm trước, trước khi chúng bị tuyệt chủng cùng với loài voi ma mút có lông và loài cọp răng kiếm”.

“Vâng, và cùng với chủng người Medusas quấn những con rắn trên đầu như tóc, và những người độc nhãn Cyclops chỉ có một con mắt trước trán”.

“Đừng quên có cả loài mãng xà và loài rồng”, Giordino chêm vào.

“Cho đến chừng nào xương và các hóa thạch được tìm thấy chứng tỏ chúng từng tồn tại”, ông Hatheld nói, “thì chúng vẫn còn là chuyện hoang đường của quá khứ”.

Pitt không tranh cãi với ông Hatheld nữa. Anh quay lại và bước tới sau những chiếc ghế đá có những xác ướp ngồi và chăm chú nhìn một bức rèm lớn thêu hình những tấm da thú phủ kín vách đá phía xa. Thật nhẹ nhàng, anh nhấc một góc bức rèm lên và nhìn vào bên dưới nó. Nét mặt anh lộ vẻ khó hiểu.

“Cẩn thận”, ông Hatheld cảnh báo. “Nó rất dễ rách”.

Pitt bất cần lời nhắc nhở của ông ta, anh nâng tấm rèm lên bằng cả hai tay cho tới khi nó cong lại trên đầu anh.

“Ông không nên chạm tay vào thứ đó”, ông Hatheld có vẻ cáu. “Nó là một di vật vô giá và có thể bị vỡ vụn thành từng mảnh. Nó phải được xử sự nhẹ nhàng cho đến khi được người ta bảo quản”.

“Những gì bên dưới nó thậm chí còn vô giá hơn”, Pitt bình tĩnh nói. Anh gật đầu với Giordino. “Cậu lấy hai trong những cây giáo này và chống tấm rèm lên”.

Gương mặt ông Hatheld trở nên đỏ bừng, cố ngăn Giordino, nhưng ông chỉ tốn công vô ích trong việc ngăn cản cái xe ủi đất đó. Giordino bế ông ta đặt sang một bên, lấy hai cây giáo bằng nham thạch, chống hai mũi giáo xuống nền căn hầm và dùng hai chóp cán giáo nâng tấm rèm lên. Sau đó, Pitt kéo hai bóng đèn lại cho đến khi ánh sáng của chúng soi rõ cả vách đá.

Pat nín thở nhìn bốn hình tròn khắc trên vách đá nhẵn thín, với những biểu đồ lạ lùng bên trong những đường tròn đó. “Đây là một dạng chạm khắc gì?” cô nói với giọng trầm trọng.

“Trông giống những bản đồ”, Giordino góp ý.

“Bản đồ của cái gì?”

Một nụ cười thích thú hiện ra trên môi Pitt. “Bốn hình chiếu khác nhau của Trái Đất”.

Ông Hatheld nhìn qua cặp kính dày qua vai Pat. “Buồn cười. Những hình chạm này không giống bất kỳ bản đồ cổ nào tôi từng thấy. Chúng rất chi tiết, và theo như chỗ tôi hiểu, chắc chắn chúng không giống một bản đồ địa lý”.

“Đó là vì đầu óc nông cạn của ông không thể hình dung được những lục địa và bờ biển trên Trái Đất vào chín ngàn năm trước”.

“Tôi phải đồng ý với Tiến sĩ Hatheld”, Pat nói. “Tất cả những gì tôi thấy là một chuỗi những hình dáng có thể là những hòn đảo lớn nhỏ với những bờ biển lồi lõm bao bọc bởi những hình ảnh như những ngọn sóng tượng trưng cho một đại dương”.

“Theo tôi thì đây là một bức tranh vẽ bằng mực hình một con bướm bị súng phòng không bắn trúng”, Giordino châm chọc.

“Ý kiến của ai cũng có phần đúng”, Pitt nói. “Tôi nghĩ nếu gom tất cả các ý tưởng của quí vị lại thì có thể giải quyết vấn đề “.

“Ông thấy gì?” Pat hỏi Pitt.

“Tôi thấy bốn hướng nhìn khác nhau của thế giới được quan sát từ lục địa Nam Cực vào chín ngàn năm trước”.

“Không nói đùa nữa”, Giordino nói. “Cậu có lý”.

Pat đứng lùi lại để có thể nhìn bao quát bức vách. “Vâng, bây giờ thì tôi đã có thể bắt đầu phân biệt những lục địa khác nhau, như thể Trái Đất bị lệch nghiêng vậy”.

“Tôi chịu, không thể thấy bằng cách nào Nam Cực lại thích hợp trong bức tranh này”, ông Hatheld khẩn khoản.

“Nó nằm ngay trước mắt ông đó thôi”.

“Do đâu ông tin chắc chắn như vậy?”

“Tôi thực sự muốn biết bằng cách nào ông kết luận như thế”, ông Hatheld chế nhạo.

Pitt nhìn Pat. “Cô có mẩu phấn nào trong cái túi mà cô vẫn dùng để làm nổi bật những chữ khắc trên đá không?”

Cô mỉm cười. “Phấn lỗi thời rồi. Giờ đây người ta thích dùng bột talc hơn”.

“Okay, ta dùng thứ đó và son môi Kleenex. Mọi phụ nữ đều dùng Kleenex mà”.

Pat mò trong túi xách và đưa cho anh một túi vải nhỏ. Rồi cô lục tìm trong cái bao lớn chứa những cuốn sổ ghi chép, máy ảnh và các phụ tùng và những dụng cụ dùng để khảo sát những ký hiệu cổ trên đá cho đến khi tìm thấy một cái hộp đựng phấn talc.

Trong thời gian chờ đợi ngắn ngủi, Pitt thấm ướt cái túi vải với nước lấy từ một cái can và dập lên những hình chạm khắc trên vách đá để bột talc dính chặt lên mặt đá. Rồi Pat chuyển bột talc khô cho anh và anh bắt đầu vỗ nhẹ nó lên mặt đá láng mịn. Khoảng ba phút sau, anh đứng lùi lại và ngắm nghía thành quả của mình.

“Thưa quí cô và quí ông, tôi tặng Nam Cực cho các vị”.

Cả ba người chăm chú nhìn vào lớp phấn trắng thô thiển Pitt đã tạo ra trên vách đá và lau sạch sau đó để lộ ra những đường chạm khắc. Lúc này trên vách đá hiện ra một hình ảnh rõ ràng và rất giống lục địa Nam Cực trên bản đồ”.

“Tất cả chuyện này ngụ ý gì?” Pat hỏi, cô vẫn tỏ ra bối rối.

“Những gì nó ngụ ý”, Pitt nói, vừa chỉ về phía những xác ướp ngồi yên lặng trên những ghế ngai của họ, “là những người cổ đại này đã đặt chân lên lục địa Nam Cực từ nhiều ngàn năm trước người hiện đại. Họ dong buồm chung quanh và vẽ bản đồ vùng này trước khi nó bị băng và tuyết phủ kín”.

“Vô lý!” ông Hatheld càu nhàu. “Khoa học đã chứng minh phải mất hàng triệu năm lục địa này mới bị một lớp băng mỏng phủ lên”.

Pitt không nói gì trong vài giây. Anh nhìn những xác ướp như thể họ vẫn còn sống. Cặp mắt anh chuyển từ gương mặt xác ướp này sang xác ướp khác như thể anh muốn giao tiếp với họ. Sau cùng, anh huơ tay về phía những cái xác câm lặng. “Những câu trả lời”, anh nói một cách quả quyết, “sẽ đến từ họ”.

Hiram Yaeger trở lại với cái máy điện toán rắc rối của anh ta sau bữa ăn trưa, mang theo một cái hộp lớn bằng giấy bìa cứng đựng một con chó nhỏ anh đã cứu thoát khỏi trung tâm giam giữ thú đi lạc của thành phố vài giờ trước khi tới giờ ngủ của nó. Từ khi con chó thuộc loài chó săn biết đem con mồi về cho chủ của anh chết vì tuổi già, Yaeger thề không nuôi chó nữa. Nhưng hai cô con gái tuổi “tin” của anh đã van nài và thuyết phục anh nuôi một con chó khác, và thậm chí còn dọa anh là chúng sẽ không tới trường nếu con chó săn của chúng không được thay thế bằng một con chó khác. Yaeger chỉ biết tự an ủi rằng mình không phải là ông bố đầu tiên bị con cái áp lực phải đem một con thú nuôi về nhà.

Anh đã có ý định sẽ tìm một con chó săn lông vàng, nhưng khi nhìn vào cặp mắt tròn như những cái tách uống cà phê rất linh động nhưng buồn bã của con chó nhỏ này, và trông thấy cái thân hình còm cõi vụng về của nó với những cẳng chân ngắn ngủn và bàn chân to bè bè, hai vành tai xụ xuống chấm đất của con vật, anh không nỡ rời nó. Anh trải những tờ báo chung quanh bàn làm việc và cho phép con chó nhỏ tha hồ đi lang thang, nhưng nó lại tỏ ra thích nằm yên trên chiếc khăn lông đặt trong cái hộp mở nắp và đưa mắt ngắm Yaeger, khiến anh - một lần nữa — không thể nào không quan tâm đến cặp mắt buồn rầu của nó.

Sau cùng, anh quyết tâm chăm chú vào công việc, và anh gọi Max. Cô ta hiện ra trên màn hình và quắc mắt nhìn anh. “Tại sao ông cứ bắt tôi phải chờ đợi chứ?”

Anh cúi xuống và bế con chó con lên cho Max nhìn thấy. “Tôi phải ra ngoài và mang con cún này về cho các con gái tôi”.

Nét mặt Max nhanh chóng dịu lại. “Trông nó đáng yêu quá nhỉ. Mấy cô bé của ông tha hồ mà thích”.

“Bạn có tiến triển thêm chút nào trong việc giải mã những chữ khắc không?” anh hỏi.

“Tiến triển khá về việc giải mã những ký hiệu, nhưng sẽ phải mất rất nhiều công sức để kết nối chúng với những từ ngữ có thể diễn dịch sang tiếng Anh”.

“Hãy cho tôi biết bạn đã tiến triển tới đâu?”

“Rất nhiều thực đấy”, Max hãnh diện nói.

“Tôi nghe đây”.

“Vào lúc nào đó trong năm bảy ngàn trước công nguyên, thế giới đã phải chịu đựng một thảm họa lớn”.

“Bạn có ý kiến gì về chuyện đó không?” Yaeger hỏi vặn.

“Có đấy. Vụ đó được mô tả trong bản đồ vị trí những ngôi sao trên trần hầm tại Colorado”, Max giải thích. “Tôi chưa giải mã toàn bộ mô tả đó, nhưng có vẻ như không phải chỉ một thảm họa, mà có đến hai sao chổi quét qua bên ngoài hệ thống mặt trời và gây ra thảm họa trên khắp Trái Đất”.

“Bạn chắc chắn chúng không phải là tiểu hành tinh chứ?” Tôi không phải là một nhà thiên văn học, nhưng tôi chưa bao giờ nghe nói có hai sao chổi di chuyển trong hai quĩ đạo song song”.

Yaeger hạ thấp bàn tay xuống, vuốt ve con chó nhỏ, vừa nói “Hai sao chổi cùng va chạm một lúc vào Trái Đất, tùy theo kích cỡ, chúng phải tạo ra những chấn động khủng khiếp”.

“Rất tiếc, Hiram”, Max nói. “Tôi không cố ý hướng dẫn làm ông bị lệch lạc. Chỉ có một sao chổi va chạm Trái Đất thôi. Sao chổi kia trượt khỏi Trái Đất, bay vòng qua mặt trời và mất hút vào không gian sâu thẳm”.

“Bản đồ vị trí những ngôi sao có cho biết vị trí điểm rơi của sao chổi không?”

Max lắc đầu. “Theo mô tả thì sự va đụng xảy ra trong địa phận Canada, có thể tại một nơi nào đó trong khu vực vịnh Hudson”.

“Tôi rất hãnh diện vì bạn, Max”, Yaeger đã bế con chó nhỏ đặt vào lòng, và nó nhanh chóng ngủ thiếp đi. “Bạn là một thám tử về thời cổ đại rất cừ”.

“Chuyện giải quyết một tội ác của người bình thường đối với tôi chỉ là trò trẻ”, Max kiêu ngạo nói.

“Được rồi, chúng ta có một sao chổi đâm vào Trái Đất tại Canada khoảng 7.000 năm trước công nguyên và gây ra sự phá hủy khủng khiếp khắp nơi”.

“Đó mới chỉ là sự va chạm đầu tiên. Trọng tâm nằm trong phần tiếp theo sau đó, với những mô tả của những người và nền văn minh của họ, đã tồn tại trước biến cố và hậu quả của nó. Hầu như tất cả đều bị hủy diệt. Chỉ một số ít những kẻ đáng thương còn sống sót. Họ trở nên quá yếu ớt để xây dựng lại đế quốc của mình, họ xem như số phận buộc họ phải lang thang khắp nơi để dạy dỗ những cư dân còn trong thời kỳ đồ đá nguyên thủy trong những miền xa xôi hẻo lánh còn tồn tại và xây dựng những công trình cảnh báo thảm họa tiếp theo sẽ xảy ra”.

“Tại sao họ chờ đợi một thảm họa khác từ không gian chứ?”

“Từ những gì tôi có thể góp nhặt được thì họ đã thấy trước sự trở lại của sao chổi thứ nhì để chấm dứt công việc hủy diệt toàn bộ của nó”.

Hầu như Yaeger không còn gì để nói. “Max, những gì bạn nói tới là thực sự có một nền văn minh mang tên Atlantis?”

“Tôi không nói như thế”, Max nổi cáu. “Tôi không xác nhận những người cổ đại tự gọi họ là gì. Tôi biết rõ họ chỉ gần giống như câu chuyện được truyền lại từ Plato, nhà hiền triết Hy Lạp nổi tiếng. Ghi chép của Plato về một cuộc đàm thoại đã xảy ra hai trăm năm trước thời đại của ông ta, giữa tổ tiên của ông ta là Solon — một chính trị gia lớn - và một giáo sĩ người Ai Cập về một châu lục tên là Atlantis”.

“Ai cũng biết giai thoại đó mà”, Yaeger nói, anh như chìm vào câu chuyện. “Ông giáo sĩ nói về một hòn đảo lục địa lớn hơn châu Úc ngày nay đã nổi lên giữa Đại Tây Dương, về phía tây những Cột Chống Trời của Herculer hoặc eo biển Gibralta, như chúng ta biết ngày nay. Nhiều ngàn năm trước, nó bị hủy diệt và chìm xuống biển sau một trận động đất dữ dội và biến mất. Đó là một bài toán nát óc làm điên đầu những tín đồ tôn giáo, nhưng các nhà sử học lại nhạo báng đến tận ngày nay. Về phần mình, tôi có khuynh hướng đồng ý với các sử gia, rằng câu chuyện Atlantis không gì khác hơn là một câu chuyện khoa học giả tưởng”.

“Sau cùng, có lẽ đó không hoàn toàn là một câu chuyện bịa đặt đâu”.

Yaeger chăm chú nhìn Max, cặp lông mày anh nhíu lại. “Tuyệt đối không có một nền tảng địa chất nào nói về một lục địa lẻ loi đã mất tích giữa Đại Tây Dương vào chín ngàn năm trước. Nó chưa bao giờ tồn tại. Chắc chắn không nằm giữa Bắc phi và vùng biển Caribbe. Ngày nay, nói chung, người ta chấp nhận huyền thoại đó có liên quan tới một vụ động đất khủng khiếp và lụt lội gây ra do một vụ núi lửa phun tại đảo Thera hoặc Santorini như người ta biết ngày nay, và nó đã quét sạch nền văn minh Minoan tại vùng Crete”.

“Vậy ông nghĩ những mô tả của Plato về châu lục Atlantis trong những tác phẩm Critias và Timaeus là chuyện bịa đặt sao?”

“Không phải mô tả, Max”, Yaeger càu nhàu cái máy điện toán. “Ông ta kể lại câu chuyện bằng giọng văn đối thoại, một thể loại rất phổ biến trong văn học cổ Hy Lạp. Câu chuyện không quan hệ tới nhân vật thứ ba là tác giả, nhưng lại giới thiệu với độc giả qua hai hoặc nhiều người thuật chuyện, một người hỏi người kia. Và, vâng, tôi tin Plato đã bịa ra câu chuyện Atlantis, ông ta khoái trá biết rằng những thế hệ tương lai sẽ ngấu nghiến câu chuyện bịa đặt, sẽ viết hàng ngàn cuốn sách về đề tài này rồi tranh luận với nhau không bao giờ dứt”.

“Ông là một người trơ cứng, Yaeger”, Max nói. “Tôi thấy rõ là ông không tin những tiên đoán của Edgar Cayce, một nhà ngoại cảm nổi tiếng”.

Yaeger chậm rãi gật đầu. “Cayce tuyên bố ông ta chứng kiến châu Atlantis chìm xuống và trồi lên trong vùng biển Caribbe. Nếu nơi đó từng có một nền văn minh ưu việt, thì hàng trăm hòn đảo chắc chắn sẽ lộ ra những đầu mối. Nhưng cho tới nay chẳng ai tìm thấy có nền văn minh cổ nào ở đó cả”. 

“Vậy những tảng đá khổng lồ tạo nên con đường dưới đáy biển ngoài khơi Bimini?”

“Chỉ là sự cấu tạo địa lý có thể tìm thấy tại nhiều nơi khác dưới biển”.

“Và những trụ đá dưới đáy biển ngoài khơi Jamaica?”

“Người ta đã chứng minh đó là những cái thùng chứa bê tông khô đã đông cứng trong nước biển sau khi chiếc tàu chở chúng bị đắm, và những mảnh ván vỏ thùng rơi ra và trôi giạt khỏi nơi đó. Hãy đối diện sự thật, Max. Châu lục Atlantis chỉ là một huyền thoại”.

“Ông là một con lừa già, Hiram. Ông biết điều đó chứ?”

“Chỉ nên nói cái gì đúng như nó là”, Yaeger nổi cáu. “Tôi không thích tin vào nền văn minh ưu việt cổ đại mà vài kẻ mơ mộng tin tưởng và thêu dệt đủ thứ chuyện”.

“A”, Max nói sắc sảo, “thấy rõ rồi nhé. Atlantis đâu phải là một đô thị khổng lồ do Leonardo da Vinci và Thomas Edison đem dân tới đó định cư, và được bao bọc bởi những kênh đào trên một hòn đảo lục địa, như Plato đã mô tả nó. Theo những gì tôi đã khám phá, dân chúng thời cổ đại này là một nhóm nhỏ những quốc gia đã lang thang trên biển và vẽ bản đồ toàn thế giới khoảng bốn ngàn năm trước khi người Ai Cập xây kim tự tháp. Họ chinh phục biển cả. Họ biết cách lợi dụng những dòng chảy và triển khai sự hiểu biết sâu sắc về khoa thiên văn và toán học khiến họ trở thành những người đi biển bậc thầy. Họ phát triển một chuỗi những thành phố cảng dọc các bờ biển và dựng nên một đế quốc thương mại bằng việc khai mỏ và vận chuyển những khoáng sản và quặng mỏ họ đã luyện thành kim loại. Không như những dân tộc khác cùng thiên niên kỷ với họ sống trên những nơi cao hơn với đời sống du mục và sống sót sau thảm họa. Những người đi biển này đã gặp rủi ro và bị hủy diệt bởi những đợt sóng thủy triều cực lớn và biến mất không lưu lại một dấu vết. Những gì còn lại từ những thành phố cảng của họ hiện nay vẫn nằm dưới lòng biển sâu và bị chôn vùi dưới lớp bùn dày hàng trăm bộ”.

“Bạn đã giải mã và thu thập tất cả những dữ liệu đó từ hôm qua?” Yaeger hỏi, không giấu được ngạc nhiên.

“Cỏ không thể mọc dưới chân tôi”, Max nói như một linh mục đang thuyết giảng, “Không, tôi có thể nói thêm rằng tôi không chịu ngồi đợi chờ cho tới lúc những bộ phận bên trong của tôi hoen rỉ đâu”.

“Bạn đặt ra cho tôi quá nhiều dự định và tôi không thể tiêu hóa hết”.

“Về nhà đi, Hiram. Đưa bà nhà và các cô gái đi xem phim. Rồi ngủ một đêm thật ngon trong lúc tôi vật lộn với mấy con chip của tôi. Sau đó, khi ông ngồi xuống vào sáng mai, tôi sẽ cho ông những thông tin làm cong cái đuôi con lừa của ông”.

Sau khi Pat đã chụp ảnh những chữ khắc và những bản đồ kỳ lạ của Trái Đất trong căn hầm mộ huyệt, cô và Giordino được máy bay bốc về Cape Town, tại đây họ gặp ông Rudi Gunn tại bệnh viện sau khi ông này được giải phẫu. Không muốn bị phỏng vấn ồn ào, ông Gunn bất chấp lệnh của bệnh viện, nài nỉ Giordino đưa ông ta lên máy bay để rời khỏi Nam Phi. Giordino vui vẻ chiều ý, và cùng với người phụ tá của Pat, họ lén đưa ông phó nhỏ con của NUMA qua mặt những bác sĩ và y tá, theo tầng hầm của bệnh viện đến một chiếc limousine trước khi tới phi trường thành phố. Tại đây, một chiếc phản lực hành động của NUMA đợi sẵn để bốc họ trở lại thủ đô Washington.

Pitt còn ở lại với Tiến sĩ Hatheld và toán thủy quân lục chiến. Họ thận trọng đóng gói những cổ vật rồi tất cả sẽ lên một trực thăng đến một chiếc tàu nghiên cứu biển sâu của NUMA vừa ghé qua đảo St.Paul. Tiến sĩ Hatheld chỉ lẩn quẩn bên những xác ướp, cẩn thận bọc chúng trong những tấm chăn lấy từ chiếc tàu rồi thận trọng đặt vào những thùng gỗ để đem về phòng thí nghiệm của ông ta tại Đại học Stanford.

Sau khi xác ướp cuối cùng được đưa lên trực thăng của NUMA, ông Hatheld hộ tống chúng và những cổ vật trên chuyến bay ngắn đến chiếc tàu. Pitt quay lại và bắt tay Trung úy Jacobs. “Cám ơn cậu đã giúp đỡ, Trung úy, và xin chuyển lời cám ơn của tôi đến người của cậu. Chúng tôi sẽ không bao giờ làm xong chuyện này nếu không có các cậu”.

“Chúng tôi đâu có nhiều cơ hội tham gia hộ tống những xác ướp như lần này”, Jacobs nói và mỉm cười. “Hầu như tôi đã tiếc là bọn khủng bố đã không tìm cách lấy cắp những xác ướp đó”.

“Tôi không nghĩ bọn chúng là những tên khủng bố, theo nghĩa đen của từ này”.

“Một kẻ giết người vẫn là một kẻ giết người, dù gọi bằng cách nào”.

“Cậu có trở về Mỹ không ?”

Jacobs gật đầu. “Chúng tôi được lệnh hộ tống để những xác ướp không bị tấn công, vì vậy, theo yêu cầu của các bạn ông, tôi phải đưa những xác ướp về Washington để họ nghiên cứu và xác định nguồn gốc của chúng”.

“Chúc các cậu may mắn”, Pitt nói.

Jacobs đưa tay chào. “Có thể chúng ta sẽ gặp lại tại một nơi nào đó”.

“Nếu vậy, tôi hy vọng nơi đó sẽ là một bãi biển tại Tahiti”.

Pitt đứng im trong cơn mưa phùn không bao giờ dứt, ngắm chiếc máy bay Marine Osprey cánh quạt nghiêng đứng lơ lửng trên bầu trời một lúc, cho đến khi nó mất hút sau một đám mây thấp. Giờ đây anh là kẻ duy nhất còn lại trên hòn đảo.

Anh quay lại căn hầm mộ lúc này trống rỗng và nhìn lần cuối lên tấm bản đồ địa cầu khắc trên vách đá phía trong. Tấm thảm che đỡ được mang đi, và Pitt chiếu cây đèn bấm lên những bức hải đồ cổ xưa.

Ai là những chuyên gia cổ đã vẽ những bản đồ Trái Đất chính xác đến độ khó tin như thế từ nhiều thiên niên kỷ trước? Làm sao họ có thể vẽ bản đồ Nam Cực lúc nó chưa bị chôn vùi dưới lớp băng mênh mông? Lục địa miền cực nam này có khí hậu ấm áp hơn trong nhiều ngàn năm trước? Và liệu lúc đó vùng xa xôi này có người ở không?

Bức tranh về một Nam Cực không có băng không phải là điều phi lý duy nhất. Pitt đã không đá động tới điều này với những người kia, nhưng anh rất thắc mắc về vị trí của những lục địa khác và châu Úc. Chúng không nằm đúng vị trí lẽ ra chúng phải như thế. Theo anh, có vẻ như châu Mỹ, châu Âu và châu Á được vẽ xa hơn hai ngàn dặm về phía bắc so với ngày nay. Tại sao những người cổ đại, đã tỏ ra khôn ngoan trong việc tính toán những bờ biển với sự chính xác như thế, lại đặt những châu lục nằm cách xa những vị trí đã được bố trí của chúng trên Trái Đất? Anh không sao trả lời được.

Những người đi biển này rõ ràng đã sở hữu một năng lực khoa học vượt xa những chủng tộc có những nền văn hóa và văn minh xuất hiện sau họ. Thời đại của họ cũng có vẻ ưu việt về nghệ thuật viết và thông tin hơn những thời kỳ khác ra đời trễ hơn họ nhiều ngàn năm sau. Loại thông điệp nào họ đã nỗ lực tìm cách lưu lại khắp nơi qua thời gian bằng cách khắc chạm trên đá? Một thông điệp của hy vọng, hay một lời cảnh báo, về những thảm họa tự nhiên sắp xảy ra?

Những ý nghĩ cứ loáng qua đầu óc Pitt đột ngột bị gián đoạn khi những âm thanh của cánh quạt và động cơ dội vào qua đường hầm, báo hiệu sự trở lại của chiếc trực thăng để mang anh về chiếc tàu nghiên cứu. Với cảm giác miễn cưỡng, anh dứt bỏ nghĩ ngợi và tắt ngọn đèn bấm, rời khỏi căn hầm tối tăm.

***

Không phí phạm thì giờ chờ đợi phương tiện vận tải của chính phủ, anh lấy vé của Hàng không Nam Phi, bay từ Cape Town đến Johannesburg, và từ đó bay thẳng về Washington. Anh ngủ suốt chuyến bay, chỉ đi bộ một lúc để duỗi chân cẳng khi máy bay đáp xuống quần đảo Canary để tiếp nhiên liệu. Lúc anh bước ra khỏi trạm đến của phi trường Dulles, đã gần nửa đêm. Anh thích thú và ngạc nhiên khi nhận ra một chiếc Ford mui trần đời 1936 đã hạ mui chờ sẵn bên vệ đường. Chiếc Ford trông giống một loại xe được xuất xưởng tại Caliíornia trong thập niên 1950. Thân và cản xe sơn màu nâu quả mận sáng lấp lánh dưới ánh đèn của trạm đến. Những cản xe chế tạo theo mẫu khung của xe Desoto 1936. Những dĩa đậy mâm bánh xe phía trước giống như những cái khay tròn hình mặt trăng trong lúc những mâm bánh xe sau có hình nan hoa. Ghế ngồi được bọc da thú màu nâu nhạt. Chiếc xe nhỏ nhắn và trang nhã nhưng có một động cơ tám máy hình chữ V, 225 mã lực cực mạnh, và một hộp số với hệ thống truyền động rất nhạy.

Nếu chiếc xe không đủ sức làm cho những cái đầu phải quay lại, thì người phụ nữ ngồi sau tay lái cũng đẹp không kém nó. Mái tóc dài màu nâu vàng được bảo vệ bởi một khăn quàng mỏng nhiều màu sắc để ngăn chặn những cơn gió nhẹ bên ngoài phi trường. Cô có hai gò má cao rất thời thượng, càng gợi cảm hơn với cặp môi đầy đặn, chiếc mũi ngắn và thẳng, và đôi mắt màu tím cuốn hút. Cô mặc một áo len cổ lọ màu nâu lá thu với cái quần dài bằng vải tuýt, tất cả được che phủ bởi cái áo khoác len dài tới gối.

Nữ dân biểu Loren Smith của bang Colorado nở nụ cười mời gọi. “Bao nhiêu lần rồi nhỉ, em lại thấy anh như lúc này để nói câu “chúc mừng về nhà, chàng thủy thủ” ?”

“Ít nhất tám lần, như anh có thể nhớ được”, Pitt nói, anh thật hạnh phúc với mối tình lãng mạn của mình. Sau bao nhiêu năm, cô vẫn dành thì giờ trốn khỏi sự bận bịu khủng khiếp của công việc để tới đón anh tại phi trường trên một trong những chiếc xe từ bộ sưu tập của anh.

Pitt ném cái túi vải vào sau lưng ghế, rồi chui vào ghế dành cho khách, nghiêng người hôn cô, giữ cô trong vòng tay thật lâu. Sau cùng, lúc anh buông cô ra và ngồi thẳng lên, Loren thở hổn hển lấy lại hơi thở. “Cẩn thận nào, em không muốn cuối cùng lại giống như Clinton”.

“Công chúng vỗ tay ca ngợi những hoạt động xã hội do các nữ chính trị gia chủ trương?”

“Ấy là anh nghĩ thế”, Loren nói, và cho chiếc xe lao tới. Những bánh xe rít trên mặt đường và tiếng động cơ gầm lên với hai làn khói nhẹ thoát ra sau xe. “Đi đâu, về nhà chứa máy bay của anh chứ?”

“Không, anh muốn em thả anh xuống trụ sở Tổng hành dinh NUMA một lúc để kiểm tra máy điện toán của anh và xem Yaeger quyết định gì về một dự án bọn anh đang theo đuổi”.

“Chắc chỉ có mỗi mình anh là gã độc thân duy nhất trên đời này không có máy tính riêng tại nhà mình”.

“Anh không muốn thiên hạ lảng vảng quanh nhà”, Pitt nói nghiêm chỉnh. “Anh có quá nhiều dự án khác phải tiến hành và không muốn phí phạm thời gian lướt qua trên internet và trả lời E-mail”.

Loren lái chiếc Ford vào đường cao tốc rộng thênh thang dẫn về thành phố. Pitt ngồi im lặng, vẫn đắm chìm trong ý nghĩ khi đài tưởng niệm Washington hiện ra trong tầm nhìn, được soi sáng bởi những chùm ánh sáng từ chân tượng đài hắt lên. Loren hiểu anh quá đủ để im lặng trôi theo dòng xe cộ.

“Quốc hội có gì mới không?” Sau cùng anh hỏi.

“Ra vẻ quan tâm nhỉ?” Cô trả lời tỉnh khô.

“Sao lại chán chường vậy?”

“Vẫn chưa tranh luận xong về vấn đề ngân sách”. Rồi giọng nói của cô trở nên dịu dàng hơn. “Em nghe nói ông Rudi Gunn bị thương khá nặng phải không?”

“Đã được giải phẫu xếp lại xương tại Nam Phi, cũng ổn rồi. Rudi sẽ phải bò vài tháng, nhưng điều đó cũng không ngăn nổi ông ta tới ngồi sau bàn giấy để chỉ đạo những chiến dịch của NUMA”.

“Al nói anh đã trải qua một thời gian khốn đốn tại Nam Cực”.

“Không khốn đốn bằng hắn và ông Rudi trên đảo St.Paul đâu. Một hòn đảo trông chẳng khác gì một chuồng thú”.

Anh quay sang nhìn cô với ánh mắt nghĩ ngợi rồi hỏi, “Em nằm trong Hội đồng Giao dịch Thương mại Quốc tế phải không?”

“Vâng’’.

“Vậy em biết bất kỳ tập đoàn lớn nào tại Argentina chứ?”

“Em đã tới đó vài lần và gặp gỡ các bộ trưởng tài chánh và thương mại của họ”. Cô trả lời. “Vì sao anh hỏi?”

“Em có bao giờ nghĩ về một tổ chức xưng danh là Vận Hội Mới hoặc Tập đoàn Đệ Tứ đế quốc?”

Loren suy nghĩ một lúc, “Có một lần em gặp Tổng giám đốc của Liên Xí nghiệp Vận Hội. Nếu em nhớ không lầm, tên ông ta là Karl Worf”.

“Vụ đó xảy ra lâu chưa?” Pitt hỏi.

“Khoảng bốn năm”.

“Em có trí nhớ rất tốt về tên người”.

“Karl Worf là một gã đẹp trai và thanh lịch, một người đàn ông thực sự duyên dáng. Phụ nữ khó quên được những anh chàng như vậy”.

“Nếu thế, tại sao em cứ quấn bên anh?”

Cô ném cho anh một cái liếc mắt kèm theo một nụ cười khiêu khích. “Phụ nữ cũng bị cuốn hút bởi những gã tầm thường, thô lỗ và nhục dục mà”.

“Thô lỗ và nhục dục chính là anh”, Pitt quàng cánh tay quanh người Loren và cắn vào tai cô.

Cô né đầu sang một bên. “Chớ bờm sờm lúc em lái xe”.

Anh bóp nhẹ đầu gối cô với cử chỉ trìu mến và thư giãn trên ghế ngồi, nhìn lên những vì sao lấp lánh, sống động trong một đêm mùa xuân, xuyên qua những cành cây lung linh trên đầu với những lá non bắt đầu lú ra. Karl Wolf. Cái tên lại hiện ra trong đầu anh. Một cái tên Đức nghe thật hay, anh nghĩ. Liên Xí nghiệp Vận Hội đáng để anh ghé mắt vào lắm chứ, thậm chí dù nó có thể là một nơi đầy đe dọa.

Loren lái xe thật vững vàng, khéo léo qua mặt những chiếc xe ít ỏi còn sót lại vào giờ này buổi sáng sớm, rồi rẽ vào lối đi nhỏ dẫn vào hầm đậu xe của Tổng hành dinh NUMA. Một nhân viên an ninh bước ra khỏi trạm gác. Khi nhận ra Pitt, anh ta vẫy tay cho chiếc xe đi qua, không giấu được sự ngưỡng mộ khi nhìn chiếc xe Ford cổ. Trong hầm đậu xe lúc này chỉ có ba chiếc xe khác. Cô dừng chiếc xe gần những thang máy, tắt đèn và động cơ.

“Muốn em lên cùng anh không?” Loren hỏi.

“Anh chỉ vắng mặt vài phút thôi”, Pitt nói và ra khỏi xe.

Anh sử dụng thang máy trong hành lang chính, tại nơi nó tự động dừng dể anh ký vào một cuốn sổ tại bàn người nhân viên an ninh. Chung quanh là một loạt những màn hình TV theo dõi những nơi khác của tòa cao ốc.

“Làm việc trễ?” người gác vui vẻ hỏi.

“Chỉ ghé qua thôi”, Pitt trả lời, cố kìm một cái ngáp.

Trước khi dùng thang máy lên văn phòng mình, linh cảm bảo Pitt phải ghé qua tầng 10. Đúng như trực giác mách bảo, Hiram Yaeger vẫn còn để đèn sáng. Anh ta ngước nhìn lên lúc Pitt bước vào giang sơn riêng của anh ta, cặp mắt đỏ tím vì thiếu ngủ. Max đang nhìn ra từ màn hình.

“Chào Dirk”, anh ta nói khẽ, đứng lên và bắt tay Pitt. “Tôi không nghĩ ông lại lang thang tới đây vào giờ này”.

“Tôi hy vọng có thể thấy những gì cậu và Tiến sĩ O’Connell đã đào bới được từ những di chỉ cổ”. Anh tỏ ra thực sự quan tâm.

“Tôi chúa ghét những gì chưa rõ ràng”, Max nói.

“Phần việc của bạn vậy là đủ rồi”, Yaeger nói với giọng châm chọc. Rồi quay sang Pitt. “Tôi đã đặt bản phúc trình về phát hiện sau cùng của chúng tôi trên bàn giấy Đô đốc Sandecker vào lúc mười giờ đêm qua”.

“Tôi sẽ mượn nó và trả lại vào sáng nay”.

“Chớ vội. Ông ấy sẽ họp với giám đốc Trung tâm Khí quyển và Đại dương Quốc gia cho tới trưa”.

“Cậu cũng nên về nhà với bà xã và mấy cháu đi”, Pitt cười.

“Tiến sĩ O’Connell đã làm việc với tôi rất trễ”, Yaeger nói, vừa xoa cặp mắt mệt mỏi. “Bà ấy vừa về thì ông đến”.

“Từ Cape Town về là cô ấy đến làm việc với cậu ngay, chả nghỉ ngơi gì sao?” Pitt ngạc nhiên hỏi.

“Một phụ nữ rất cừ. Nếu chưa lấy vợ, chắc tôi sẽ ném cái nón của mình vào vòng tay bà ấy quá”.

“Cậu thì lúc nào cũng bị các phụ nữ trí thức chinh phục mà”.

“Trí tuệ là bà chúa của nhan sắc, tôi luôn nói như vậy”.

“Cậu có gì dành cho tôi không, trước khi tôi đọc tờ phúc trình của cậu?” Pitt hỏi.

“Có, một câu chuyện thật lạ lùng”, Yaeger có vẻ trầm ngâm.

“Tôi sẽ tham gia chứ?” Max xen vào.

“Đây là một trao đổi riêng tư”, Yaeger cáu với ảnh của Max trên màn hình trước khi ngắt mạch. Anh ta đứng lên, vươn vai.

“Những gì chúng tôi phát hiện được là một câu chuyện khó tin về một chủng tộc toàn là những người đi biển đã sống trước khi loài người có lịch sử, và họ đã bị tiêu diệt gần hết sau khi một sao chổi đâm vào Trái Đất, tạo ra những đợt sóng khổng lồ nhận chìm toàn bộ những thành phố cảng họ đã xây dựng tại hầu hết những xó xỉnh của thế giới. Họ đã sống và chết trong một thời kỳ bị quên lãng và trong một thế giới khác hẳn những gì chúng ta biết ngày nay”.

“Lần cuối cùng khi tôi nói chuyện với Đô đốc, ông ấy không đá động gì tới huyền thoại Atlantis cả?”

“Lục địa bị mất tích giữa Đại Tây Dương không phù hợp với hình ảnh này”, Yaeger nói nghiêm chỉnh. “Nhưng không thể chối cãi đã có một số những quốc gia chuyên đi biển tồn tại và họ đã dong buồm khắp các đại dương và vẽ bản đồ các châu lục”.

Anh ta dừng lại và nhìn Pitt. “Những tấm ảnh Tiến sĩ Pat O’Connell chụp những chữ khắc và bản đồ thế giới trong căn hầm mộ trên đảo St.Paul đang nằm tại phòng thí nghiệm. Tất cả đều sẵn sàng để tôi quét vào máy điện toán vào sáng nay”.

“Họ đã vẽ vị trí những lục địa khác xa với hình dáng Trái Đất ngày nay”, Pitt nói.

Cặp mắt đầy những gân máu của Yaeger lộ vẻ nghĩ ngợi. “Tôi bắt đầu nhận ra có một cái gì đó còn thảm khốc hơn sẽ thế chỗ cho sự kiện một sao chổi đâm vào Trái Đất. Tôi đã quét vào máy tính những dữ liệu địa chất mà người của tôi đã tích lũy từ hơn mười năm qua. Thời kỳ băng hà chấm dứt hoàn toàn đột ngột, kết hợp với những đợt thủy triều khủng khiếp của biển cả. Ngày nay mặt biển cao hơn ba trăm bộ so với chín ngàn năm trước”.

“Nếu thế thì bất kỳ công trình xây dựng nào, hoặc dấu vết nào của dân chúng trên châu lục Atlantis dọc các bờ biển đều bị chôn vùi dưới nước”.

“Đó là chưa nói tới chuyện bị chôn sâu dưới bùn”.

“Họ tự gọi mình là cư dân của châu lục Atlantis à?” Pitt hỏi.

“Tôi không tin họ hiểu ý nghĩa từ ngữ đó”, Yaeger trả lời. “Trong ngôn ngữ Hy Lạp, Atlantic có nghĩa là con gái của Atlas. Theo Plato từ ngữ này bắt đầu được hiểu là “thế giới” trải qua các thời kỳ trước khi loài người bắt đầu có sử, hoặc còn được gọi là nền văn minh trước đại hồng thủy. Ngày nay, bất kỳ người nào biết đọc, và hầu hết những người không biết đọc, đều hiểu biết về châu Atlantis. Mọi thứ, từ những khách sạn an dưỡng, những tập đoàn công nghệ và tài chánh, những cửa hàng bán lẻ và những bể bơi công cộng cho tới hàng ngàn sản phẩm khác, gồm cả các loại nhãn hiệu rượu vang và thực phẩm đều mang tên Atlantis. Không kể đến những bài báo và những cuốn sách đã viết về lục địa mất tích này, và nó còn là đề tài của truyền hình và điện ảnh nữa. Nhưng cho tới nay, chỉ những ai tin vào ông già Nôen, vào những vật thể bay lạ lùng và những gì siêu nhiên, mới nghĩ nó không đơn giản chỉ là một câu chuyện hư cấu do Plato tạo ra”.

Pitt bước về phía cánh cửa rồi quay lại, “Tôi tự hỏi người ta sẽ nói gì khi họ khám phá có một nền văn minh như thế thực sự tồn tại”.

Yaeger mỉm cười. “Nhiều người sẽ nói “Tôi đã bảo mà”.

***

Lúc Pitt rời Yaeger và ra khỏi thang máy để tới khu văn phòng điều hành của NUMA, anh không thể không lưu ý những bóng đèn trong hành lang dẫn tới dãy phòng của Đô đốc Sandecker đã bị giảm ánh sáng đến mức thấp nhất. Điều lạ lùng là chúng vẫn còn sáng, nhưng anh hình dung có thể có vô số lý do làm cho ánh sáng đó yếu đi. Tại cuối hành lang, anh đẩy cánh cửa gương mở ra để vào tiền sảnh bên ngoài dãy phòng và phòng họp riêng phía trong. Lúc Pitt bước vào và đi qua bàn giấy của Julie Wolf, thư ký của ông Đô đốc, anh ngửi thấy mùi nước hoa rất đặc trưng của hoa cam.

Anh dừng lại tại ngưỡng cửa mò mẫm tìm công tắc đèn. Đúng lúc đó, một bóng người từ bóng tối lao ra và cong người đâm bổ vào Pitt. Đã quá trễ, anh trơ cứng lúc cái đầu của kẻ tấn công đâm thẳng vào dạ dày. Anh chộp kẻ tấn công lúc họ đụng nhau, nhưng Pitt thực sự ngạc nhiên khi cánh tay anh dễ dàng bị đánh bật ra. Anh dội lui, vẫn còn đứng nhưng gập đôi thân hình lại, và nghẹn thở.

Pitt hổn hển, một tay ôm ngang bụng, anh tìm thấy công tắc đèn và bật lên. Đảo mắt về phía bàn giấy của ông Đô đốc và anh hiểu ngay mục đích của kẻ xâm nhập. Ông Sandecker là một người cuồng tín trong việc giữ cho bàn giấy lúc nào cũng gọn gàng. Giấy tờ và hồ sơ được sắp xếp cẩn thận trong một ngăn kéo vào mỗi buổi tối trước khi ông rời văn phòng để về căn hộ của mình tại khách sạn Watergate. Trên mặt bàn trống trơn, chẳng thấy tờ trình nào của Yaeger về những người đi biển thời cổ đại.

Anh có cảm giác như dạ dày đang bị bóp nghẹt bởi một bàn tay khổng lồ, nhưng vẫn cố chạy về phía những thang máy. Cái thang máy có tên trộm trong đó đã xuống dưới, cái còn lại đang nằm ở tầng trệt. Anh nhấn những cái nút như một gã điên và chờ đợi, hít vào từng hơi thật sâu để lấy lại hơi thở. Cửa thang máy mở ra và Pitt lao vào, nhấn cái nút dẫn tới tầng hầm đậu xe. Thang máy xuống nhanh không ngừng. Tạ ơn trời vì người ta đã nghĩ ra loại thang máy Otis này, Pitt nghĩ.

Anh phóng qua cửa thang máy trước khi nó mở hết cỡ và chạy về phía ánh sáng đỏ từ hai bóng đèn sau đuôi của chiếc xe vừa mất hút ở lối ra của tầng hầm. Anh mở cửa xe chỗ tay lái, đẩy Loren qua bên kia rồi khởi động động cơ.

Loren nhìn anh với ánh mắt dò hỏi. “Chuyện gì gấp vậy?”

“Em có thấy một gã đàn ông vừa mới thoát ra không?” anh hỏi, vừa cài số và nhấn mạnh chân ga.

“Không phải đàn ông mà là một phụ nữ mặc một áo lông đắt tiền bên ngoài cái quần da”.

Loren vốn rất để ý đến những thứ như vậy, Pitt nghĩ, trong lúc động cơ chiếc Ford gầm rú và những lốp xe để lại hai vệt cao su trên mặt sàn hầm đậu xe kèm theo những tiếng rít chói tai. Vọt qua khỏi lối ra, anh đạp thắng và chiếc xe khựng lại ngay trạm gác. Người nhân viên an ninh đang đứng một bên lề đường, nhìn về phía đường cao tốc.

“Chúng theo lối nào?” Pitt hỏi lớn.

“Vọt qua trước khi tôi kịp chận chúng lại”, anh ta trả lời, chưa hết bàng hoàng. “Quẹo hướng nam lên đường cao tốc. Tôi gọi cảnh sát chứ?”

“Gọi đi!” Pitt càu nhàu vừa lao xe ra, vào đường cao tốc và hướng về phía Công viên Đài tưởng niệm Washington chỉ cách đó một khối nhà. “Loại xe gì?” Anh hỏi Loren.

“Một chiếc Chrysler đợt 300M màu đen, động cơ 253 mã lực. Nó đạt vận tốc từ số không đến tám mươi kilômét giờ chỉ trong tám giây”.

“Em biết những chi tiết được kê khai của nó?”

“Em biết”, Loren thản nhiên trả lời. “Em sở hữu một chiếc mà, anh quên rồi à?”

“Nó trượt qua đầu óc anh lúc này”.

“Con ngựa già này của anh có động cơ bao nhiêu mã lực?”

“Khoảng 225”, Pitt trả lời, vừa nhìn theo hai bóng đèn đỏ của chiếc Chrysler đang vào công viên.

“Anh bị chúng nó bỏ rơi rồi”.

“Mụ ăn trộm của chúng ta có thể đạt vận tốc tối đa cao hơn, nhưng anh có thể đuổi kịp mụ ta”.

Chiếc xe Ford gầm rú tăng tốc. Kim đồng hồ chỉ tốc độ trên bảng kiểm soát sau tay lái gần đụng con số 150 kilômét giờ khi Pitt đẩy cần số đến số lớn nhất và anh nhấn hết chân ga. Vòng quay của động cơ lập tức đạt đỉnh trong lúc chiếc xe vượt qua tốc độ 160 kilômét giờ.

Xe cộ tương đối thưa thớt vào lúc một giờ sáng một ngày bình thường trong tuần lễ. Và Pitt nhanh chóng nhận ra chiếc Chrysler 300M màu đen dưới ánh sáng những bóng đèn trên cao của công viên hắt xuống, và anh bắt đầu bắt kịp nó. Người lái xe đã vượt tốc độ qui định 30 km/giờ nhưng vẫn không giảm vận tốc. Chiếc Chrysler quẹo vào một con đường nhỏ không một chiếc xe, về bên tay phải. Có vẻ như nó muốn tránh gặp cảnh sát hơn là lo sợ có thể bị một chiếc xe nào đó từ tòa cao ốc NUMA đuổi kịp nó.

Lúc chiếc Ford còn cách chiếc Chrysler khoảng ba trăm mét, Pitt bắt đầu chạy chậm lại, cố ý không để chiếc xe kia nhận ra nó đang bị bám sát. Khi anh bắt đầu cảm thấy tự tin hoàn toàn và nghĩ con mồi không lưu ý đến anh, thì chiếc Chrysler đột ngột đổi hướng để lên cầu Francis Scottkey. Khi qua tới bờ bên kia của con sông Potomac, nó lại quặt trái rồi lao thẳng về khu dân cư của thành phố Georgetown, sau đó quẹo nhanh tại một khúc cua.

“Em nghĩ cô ta đã phát hiện anh đuổi theo”, Loren nói. Cô rùng mình vì cơn gió lạnh quét qua kính chắn gió.

“Mụ ta lém thật”, Pitt lẩm bẩm như một tay chơi đang thua một canh bạc. Anh bấu chặt tay lái và bẻ quặt nó đến hết vòng quay. Chiếc Ford đảo một góc chín mươi độ. “Thay vì chạy với tốc độ cao theo một đường thẳng, mụ ta lại chạy theo những khúc ngoặt với hy vọng giữ đủ khoảng cách cho tới lúc nào đó mụ ta có thể đổi hướng mà chúng ta không nhận thấy”.

Đúng là một trò mèo vờn chuột. Chiếc Chrysler vẫn liên tục đổi hướng. Chiếc Ford sáu mươi lăm tuổi vẫn bị bỏ lại sau đuôi nó khá xa dù lực gia tốc lớn hơn. Đã qua bảy khối nhà, và hai chiếc xe vẫn duy trì khoảng cách không đổi. Không gần nhau hơn cũng không xa hơn.

“Lại một trò mới”, Pitt nói, vẫn bấu chặt tay lái.

“Anh định làm gì đấy?”

Pitt liếc mắt nhìn cô, phì cười. “Lần đầu tiên anh chợt nhớ mình là kẻ bám đuổi”.

“Nếu cứ thế này, có lẽ đến sáng mai mèo vẫn chưa tóm được chuột”, Loren nói, bám chặt tay nắm cửa như thể cô đã sẵn sàng trong trường hợp xảy ra tai nạn.

“Hoặc một trong hai chiếc xe hết nhiên liệu”, Pitt nói, vừa quẹo gắt tại một khúc quanh.

“Chẳng phải chúng ta đã vòng qua khối này rồi sao?”

“Đúng thế”.

Lúc quẹo qua khúc đường tiếp theo, Pitt trông thấy hai bóng đèn thắng của chiếc Chrysler đột ngột lóe lên, khi nó bất chợt dừng lại trước một ngôi nhà bằng gạch tại một trong những khối nhà có hàng cây cao. Anh đạp thắng và chiếc xe dừng lại trên đường, ngay sau chiếc Chrysler, đúng lúc người lái chiếc xe kia biến mất qua cửa trước ngôi nhà.

“Cô ta không thể làm gì khác hơn chuyện phải bỏ cuộc”, Loren nói và chỉ về phía cuộn khói hơi nước bốc lên từ nắp ca pô chiếc Chrysler quanh bộ phận làm mát động cơ.

“Chưa chắc, trừ phi đây là một âm mưu”, Pitt nói trong lúc nhìn vào ngôi nhà tối om.

“Làm gì bây giờ, sê ríp? Gọi yểm trợ chứ?”

Pitt nhìn cô với ánh mắt lém lỉnh. “Không, em bước tới gõ cửa đi”.

Cô nhìn trả anh. Sự kinh ngạc lộ rõ trên nét mặt dưới ánh sáng lờ mờ của trụ đèn gần đó. “Chuyện quỉ quái gì thế?”

“Anh biết em sẽ từ chối mà”. Anh mở cửa xe và bước xuống. “Đây là điện thoại cầm tay của anh. Nếu mười phút nữa anh không trở lại, hãy gọi cảnh sát và báo động cho Đô đốc Sandecker. Nếu có tiếng động hoặc động thái gì, dù nhỏ nhất, trong bóng tối, em phải thoát đi ngay, thật nhanh. Hiểu?”

“Tại sao mình không gọi cảnh sát ngay bây giờ, báo có kẻ trộm?”

“Bởi vì anh muốn tới đó sớm nhất”.

“Anh có vũ khí chứ?”

Pitt ngoác miệng cười.

“Có bao giờ em nghe nói người ta phải mang theo vũ khí khi dạo mát trên một chiếc xe đẹp lộng lẫy không?” Anh mở ngăn chứa đồ sau tay lái và lấy ra cây đèn bấm. “Chỉ với cái này cũng đủ chán”. Rồi anh chồm vào trong xe, hôn cô và biến mất trong bóng tốì bao quanh tòa nhà.

Pitt không dùng tới cây đèn bấm. Ánh sáng từ thành phố và đèn đường chiếu tới vẫn đủ sáng để anh thấy rõ lối đi rải đá dẫn tới sau nhà. Tối tăm và yên lặng. Những gì anh quan sát được là một khoảnh sân rộng được chăm sóc và bảo quản tốt. Những bức tường gạch cao phủ đầy dây trường xuân ngăn cách ngôi nhà này với những nhà bên cạnh cũng tối tăm như thế. Có lẽ chủ nhân các ngôi nhà đều đang ngon giấc trên những chiếc giường êm ấm của họ.

Pitt chắc chắn đến chín mươi phần trăm là tòa nhà có một hệ thống an ninh, nhưng cho tới lúc này anh vẫn chưa thấy xuất hiện lũ chó khát máu, và anh bất chấp những hành động tấn công lén lút. Anh hy vọng cô ả ăn trộm và những đồng bọn của ả sẽ lộ diện. Chờ tới lúc đó anh sẽ đối phó tùy theo hoàn cảnh. Anh đến chỗ cửa sau và ngạc nhiên khi nhận ra nó đã mở sẵn. Quá trễ. Anh nhận ra cô ả đã vào nhà bằng cửa trước và thoát ra theo cửa sau. Anh vội vàng chạy tới nhà để xe nằm phía sau một lối đi hẹp.

Bất chợt trong bóng đêm yên lặng bỗng vang lên tiếng gầm rú của động cơ xe mô tô. Pitt mở tung cửa nhà để xe và lao vào. Hai cửa sau nhà xe đã bật mở ra phía ngoài trên những bản lề. Một bóng người mặc áo khoác đen và quần da, mang giày bốt, ngồi trên chiếc mô tô đã nổ máy và chuẩn bị cài số để phóng đi, đúng lúc Pitt nhảy tới và lao vào sau lưng người lái xe, quấn cánh tay quanh cổ cô ta, và cả hai rơi xuống về một bên chiếc xe.

Pitt thấy rõ là sự quan sát của Loren thật chính xác. Thân thể người lái xe chưa đủ nặng như cơ thể một người đàn ông, anh cũng không có cảm giác nó thô cứng. Họ đập mạnh xuống sàn nhà xe, Pitt nằm đè lên trên. Chiếc mô tô quay nằm nghiêng một bên, và xoay tròn, bánh xe và vỏ xe sau cọ xát trên mặt sàn trước khi công tắc điện ngắt mạch và động cơ xe dừng lại. Đà quay còn tiếp tục đẩy chiếc xe đụng mạnh vào những cơ thể đã nhàu nát nằm trên sàn. Bánh xe trước đập vào đầu cô ả lái xe trong lúc tay lái đánh vào hông Pitt, tuy không làm gãy xương nhưng để lại cho anh một vết bầm lớn chắc phải mất vài tuần mới khỏi.

Anh đau đớn quì lên trên hai đầu gối và trông thấy cây đèn bấm vẫn còn sáng nằm ngay ngưỡng cửa, nơi anh đánh rơi nó. Anh bò tới và nhặt nó lên rồi chiếu ngọn đèn vào cái xác bất động nằm bên cạnh chiếc mô tô. Cô ả không có thì giờ để đội nón bảo hộ, để lộ cái đầu với mái tóc dài màu hoàng kim. Anh lật ngửa và rọi đèn lên mặt cô ta.

Một vết bầm bắt đầu thành hình trên xương lông mày cô ả nhưng không làm hỏng đường nét gương mặt. Bánh xe trước va mạnh làm cô ta bất tỉnh nhưng vẫn còn sống. Pitt thực sự bàng hoàng, đến nỗi cây đèn bấm suýt rơi khỏi bàn tay anh đến lúc này mới bắt đầu run rẩy.

Ngành y đã chứng tỏ dòng máu lưu hành trong cơ thể không bao giờ lạnh, trừ phi người ta tiêm nước băng giá vào động mạch. Nhưng lúc này Pitt cảm thấy dù tim anh vẫn đập để bơm máu nhưng máu của anh đang ở hai độ dưới số không. Cơn sốc làm anh rung lắc trên hai đầu gối, bầu không khí trong nhà xe đột ngột trở nên nặng nề cùng với cảm giác khủng khiếp trào lên trong anh. Pitt không lạ gì với kẻ đang nằm bất tỉnh trước mắt anh.

Không một dấu hiệu thắc mắc nào trong óc Pitt, nhưng rõ ràng anh đang nhìn một gương mặt giống như tạc với gương mặt người phụ nữ đã chết và đã vỗ vai anh trong xác chiếc tàu ngầm chìm dưới đáy biển Nam Cực.

Không như hầu hết những viên chức chính phủ cao cấp thuộc bộ phận hành động, Đô đốc James Sandecker luôn đến sớm nhất trong những cuộc họp hội thảo. Ông thích ngồi sẵn tại chỗ dành cho mình với những hồ sơ các dữ liệu để chuẩn bị điều khiển buổi họp trong một cung cách có hiệu quả. Đó là thói quen ông đã tạo cho mình khi chỉ huy những chiến dịch trong hải quân.

Dù ông có một phòng họp rộng lớn tại trụ sở sẵn sàng để sử dụng trong việc tiếp những vị khách quyền cao chức trọng, những nhà khoa học và các viên chức chính phủ, ông vẫn thích căn phòng làm việc nhỏ hơn nằm cạnh văn phòng ông dành cho những vụ gặp gỡ riêng tư và thân mật. Căn phòng là một nơi trú ẩn trong một nơi trú ẩn đối với ông, một nơi yên tĩnh và tạo cảm giác thanh thản. Một bàn họp mười hai bộ trải dài trọn tấm thảm lót màu ngọc lam, chung quanh là những ghế ngồi bọc da mịn. Cái bàn được đóng bằng những ván gỗ từ một chiếc tàu thế kỷ mười chín đã bị chìm dưới đáy hồ Erie. Những tấm pa nô bằng gỗ dái ngựa phô bày một chuỗi những bức tranh mô tả những trận hải chiến trong lịch sử hàng hải.

Ông Sandecker điều hành NUMA như một nhà độc tài nhân từ, với một bàn tay siết chặt và một tấm lòng cởi mở trước lỗi lầm của thuộc cấp. Ông được vị tổng thống tiền nhiệm cất nhắc giao cho ông thành lập cơ quan Hoạt động Dưới Nước và Hàng hải quốc gia (NUMA) từ buổi đầu. Ông đã xây dựng một đội ngũ nhân viên đến hai ngàn người và thực hiện những chiến dịch thám hiểm khoa học đến mọi đỉnh núi và thung lũng dưới đáy biển. NUMA được cả thế giới nể phục vì những dự án khoa học của nó và ngân sách nó đòi hỏi ít khi bị quốc hội từ chối.

Là một người ham mê thể dục nên ở vào cái tuổi sáu mươi hai, cơ thể ông không có một chút mỡ thừa nào. Ông cao chưa tới một mét bảy, với đôi mắt màu nâu sáng, mái tóc đỏ như lửa và bộ râu nhọn kiểu Thổ Nhĩ Kỳ. Thỉnh thoảng ông mới uống rượu. Hầu hết trong những bữa tiệc tại Washington. Tội lỗi lớn nhất của ông là thói đam mê những điếu xì gà vừa bự vừa thơm lừng, do một gia đình nhỏ tại Cộng hòa Dominica đích thân chọn và tẩm lá thuốc và quấn theo kiểu đặc biệt của họ. Không bao giờ ông mời khách loại xì gà này, nhưng chỉ nổi cáu và thất vọng cùng cực vì ông thường bắt gặp anh chàng người Ý Giordino hút đúng những điếu xì gà đó nhưng ông lại không bao giờ phát hiện được việc ông bị ăn cắp.

Ông Đô đốc đang ngồi tại cuối bàn họp, và đứng lên lúc Pitt và Tiến sĩ Pat O'Connell bước vào phòng. Ông bước tới và đón Pitt như một đứa con trai của ông, bắt tay trong lúc bàn tay kia bấu chặt vai anh. “Rất vui thấy cậu”.

“Luôn luôn là một niềm vui lại được về nhà mình”, Pitt đáp trả, cười thật tươi. Ông Đô đốc không khác gì người cha thứ hai của anh, và họ rất gắn bó.

Ông Sandecker quay sang Pat. “Xin mời ngồi, bà Tiến sĩ. Tôi thực sự lo lắng khi biết bà và Hiram quá bận rộn vì tôi”.

Al Giordino và Hiram Yaeger cũng vừa bước vào, theo sau là Tiến sĩ John Stevens, một sử gia nổi tiếng và là tác giả nhiều cuốn sách viết về công trình nghiên cứu và xác định lý lịch các cổ vật. Ông ta mặc một cái áo len không tay bên trong một áo khoác thể thao, từ túi áo trước ngực ló ra một cái tẩu thuốc lá bằng đá bọt. Ông ta có một lối hếch cái đầu lên cứ như một con chim cổ đỏ đang lắng nghe một con sâu cựa mình dưới bụi cỏ. Ông ta mang theo một cái hộp lớn đựng nước đá và đặt cái hộp bên cạnh ghế ngồi của ông, trên tấm thảm.

Ông Sandecker đốt một điếu xì gà và nhìn Giordino như có vẻ chờ người chuyên gia của mình cũng đốt một điếu. Giordino quyết định không chọc giận ông chủ và cố tỏ ra là một anh chàng tử tế hơn bao giờ hết.

Pitt không thể không nhận ra nét mặt căng thẳng và mệt mỏi quá độ của Yaeger và Pat.

Ông Yaeger mở đầu buổi thảo luận bằng cách hỏi mọi người có muốn biết kết quả nghiên cứu của Pat và Yaeger không. Tất cả im lặng gật đầu, trừ Giordino. “Tôi cho rằng đọc những câu chuyện khoa học giả tưởng Isaac Asimov hoặc của Ray Bradburg có lẽ còn thú vị hơn”, anh ta nói.

Yaeger ném cho Giordino một ánh mắt thương hại, “Tôi bảo đảm với ông rằng đây không phải là những chuyện khoa học giả tưởng”.

“Các bạn đã khám phá những chủ nhân của những hình chạm khắc này tự xưng họ là chủng tộc gì chưa?” Pitt hỏi “Nền văn minh của họ còn có tên gì khác ngoài tên Atlantis?”

Pat mở một hồ sơ đặt trên bàn họp trước mặt cô và lấy ra một tờ giấy từ cuốn sổ ghi chép và nhìn vào những dòng chữ viết, “Theo như những gì tôi giải mã được và đã dịch sang tiếng Anh thì những người đi biển này gọi tất cả những xứ sở thành phố biển của họ là Amenes phát âm là Amenees”.

“Amenes”, Pitt thong thả lặp lại. “Nghe như tiếng Hy Lạp”.

“Tôi đã tìm hiểu một số từ ngữ rất có thể là nguồn gốc của những thuật ngữ trong ngôn ngữ Hy Lạp và Ai Cập sau này”.

Ông Sandecker vung bàn tay cầm đoạn cuối điếu xì gà về phía nhà sử học. “Thưa Tiến sĩ Stevens, tôi nghĩ ông đã quan sát những hộp sọ bằng nham thạch?”.

“Vâng”, ông Stevens cúi xuống mở cái hộp và lấy ra một trong hai cái hộp sọ và đặt nó trên một cái gối lụa lớn trên mặt bàn họp. Chất nham thạch bóng loáng sáng lấp lánh dưới ánh đèn trên trần chiếu xuống. “Một tác phẩm thực sự đáng để người ta quan tâm”, ông ta nói với vẻ kính trọng. “Những thợ thủ công Amenes đã bắt đầu với một khối nham thạch rất cứng rắn - một loại vật chất hoàn toàn thô thiển, không thể tưởng tượng - và rất hiếm. Trải qua một thời kỳ ít nhất là từ chín mươi đến một trăm năm, và có lẽ lâu hơn, cái hộp sọ mới được định hình bằng bàn tay người và họ dùng loại phương tiện tôi nghĩ là bụi nham thạch như là thứ để mài bóng cái sọ”.

“Tại sao không dùng một loại đục bằng kim loại cứng để đục nhẹ với một cái chày vồ?” Giordino hỏi.

Tiến sĩ Stevens lắc đầu. “Không có dụng cụ nào kham nổi. Tuyệt nhiên không có dấu hiệu của một vết rạch hoặc vết trầy xước. Chất nham thạch tuy là loại vật chất vô cùng cứng rắn nhưng lại rất giòn và dễ vỡ. Một khi nó bị đục, chỉ một góc cạnh sai lệch nhỏ của cái đục cũng sẽ làm toàn bộ cái sọ vỡ toang. Không, hình dáng và độ bóng đã được hình thành như thể một khối đá cẩm thạch được khéo léo đánh bóng bằng thứ mỡ chùi bóng xe”.

“Nếu dùng phương tiện hiện đại thì phải mất bao lâu mới hoàn thành một hộp sọ như thế?”

Ông Stevens cười nhẹ, “Với kỹ thuật hiện đại, người ta hầu như không thể tạo được một bản sao như thế một cách chính xác. Càng nghiên cứu nó, tôi càng bị thuyết phục là nó không thể tồn tại”.

“Có dấu vết nào để dùng làm nền tảng truy ra nguồn gốc của nó không?”, ông Sandecker hỏi.

“Không một dấu vết”, ông Tiến sĩ trả lời. “Nhưng cho phép tôi chỉ cho quí vị một chi tiết thực sự gây kinh ngạc”. Với sự thận trọng tối đa, ông ta chậm rãi làm một động tác vặn, trong lúc nhấc nửa phần trên cái hộp sọ lên cho tới khi nó rời ra. Tiếp theo, ông ta tháo rời phần hình cầu phía trên ra khỏi hộp sọ. Nhẹ nhàng nâng nó trong hai bàn tay, ông đặt nhẹ lên một miếng đệm đã đặc biệt chuẩn bị sẵn. “Tôi hoàn toàn không thể tưởng tượng được mức độ nghệ thuật tinh vi họ dùng để tạo ra một đồ vật lạ lùng đến thế”, ông nói với vẻ thán phục. “Chỉ khi khảo sát cái hộp sọ bằng loại kính lúp cực mạnh, tôi mới phát hiện một đường rãnh bằng phẳng quanh cái sọ mà mắt thường không tài nào nhận ra”.

“Thật phi thường”, Pat thì thầm trong trạng thái bàng hoàng.

“Có dấu vết chạm khắc nào trên phần hình cầu không?” Pitt hỏi ông Stevens.

“Có, đó là một bức tranh minh họa hình thể Trái Đất được chạm trổ tỉ mỉ. Nếu ông muốn xem nó kỹ hơn, tôi có một kính lúp”.

Ông ta đưa cho Pitt một kính phóng đại rất dày. Anh rà cái kính trên những đường nét chạm trên hình cầu có kích cỡ như một quả bóng chày. Sau một phút, anh thận trọng đẩy cái hình cầu qua mặt bàn đến trước mặt ông Sandecker và đưa cho ông cái kính lúp.

Trong lúc ông đô đốc quan sát cái hình cầu, ông Stevens nói. “Bằng cách so sánh những hình chụp trong căn hầm tại Colorado với những tấm ảnh trên đảo St.Paul, tôi nhận ra những lục địa này hoàn toàn khớp với bức tranh minh họa trên hình cầu nham thạch này”.

“Ý nghĩa?” Ông Sandecker hỏi.

“Nếu ngài nghiên cứu vị trí những lục địa và những đảo lớn như Greenland và Mozambique, ngài sẽ nhận ra chúng không giống hình thể địa lý Trái Đất ngày nay”.

“Tôi cũng nhận ra những khác biệt đó”, Pitt nói.

“Điều đó chứng tỏ cái gì chứ?” Giordino hỏi, vẫn đóng vai kẻ hoài nghi. “Nếu không phải đó là một bản đồ sai bét vào thời kỳ sơ khai?”

“Sơ khai? Đúng. Sai bét? Có lẽ theo tiêu chuẩn hiện đại. Nhưng tôi cực lực ủng hộ lý thuyết cho rằng những chủng người cổ đại này đã dong buồm khắp các mặt biển trên Trái Đất và đã vẽ bản đồ hàng ngàn dặm bờ biển. Nếu ông nhìn kỹ cái hình cầu nham thạch, ông có thể thấy thậm chí họ còn xác định được vị trí của châu Úc, Nhật Bản và Ngũ đại hồ ở Bắc Mỹ. Tất cả những chuyện này đều được thể hiện bởi một chủng tộc sống từ trên chín ngàn năm trước”.

“Không giống như chủng tộc Atlantis được Plato mô tả đã tồn tại trên một hòn đảo đơn độc hoặc một lục địa”, Pat góp ý, “những người Amenes tham gia vào việc thương mại trên khắp Trái Đất. Họ đã tới những nơi rất xa mà những nền văn minh rất lâu sau đó vẫn không tới được. Họ không bị hạn chế bởi những cổ tục hoặc nỗi sợ hãi về những đại dương chưa biết. Những chi tiết được chạm trổ về những hải trình và mạng lưới thương mại bao la của họ đã đưa họ vượt qua Đại Tây Dương, ngược dòng con sông St. Lawrence tới tận Michigan, tại đây, họ khai thác mỏ đồng, và tới tận Bolivia và quần đảo Anh để khai thác quặng thiếc, sử dụng kỹ thuật luyện kim tiên tiến để chế tạo và sản xuất loại đồng thiếc, từ đó nâng Thời kỳ Đồ đá của nhân loại lên thời kỳ đồ đồng”.

Ông Sandecker chồm qua bàn. “Chắc chắn họ đã khai thác và buôn bán vàng và bạc”.

“Thật kỳ lạ, họ không xem vàng hoặc bạc là những kim loại có ích, mà họ ưa thích đồng hơn trong việc chế tạo đồ trang sức và những tác phẩm nghệ thuật. Nhưng họ không đi khắp thế giới để tìm kiếm loại đá opal màu ngọc lam hoặc màu đen để tạo những món trang sức hợp thời. Và, tất nhiên, nham thạch là thứ hầu như rất thiêng liêng đối với họ. Theo đó, ngày nay nham thạch vẫn được dùng để mổ tim vì nó có mép sắc bén hơn, không gây chảy máu như thép”.

“Cả hai loại đá opal màu ngọc lam và đen đều có mặt trên những xác ướp, chúng tôi tìm thấy trong hang mộ trên đảo St.Paul”, Giordino nói thêm.

“Điều đó chứng tỏ trình độ của họ đã đạt tới độ cực cao”, Pat nói. “Màu xanh ngọc lam phong phú của vỏ trứng loài chim cổ đỏ tôi đã thấy trong căn hầm mộ đó chỉ có thể được lấy từ những sa mạc vùng tây nam châu Mỹ”.

“Vậy thứ ngọc lam màu đen?” ông Sandecker hỏi.

“Ở châu Úc”.

“Nếu không còn gì khác”, Pitt nói với vẻ nghĩ ngợi, “rõ ràng là người Amenes đã có những hiểu biết về khoa học hàng hải và kỹ thuật đóng những chiếc tàu có thể vượt biển từ nhiều ngàn năm trước”.

“Điều đó cũng giải thích tại sao những cộng đồng của họ được xây đựng như những thành phố cảng”, Pat gút lại. “Và theo những gì thấy được qua những tấm ảnh chụp căn hầm mộ thì một vài xã hội trong lịch sử loài người đã biết dùng tiền xu. Tôi đã xác định vị trí của trên hai mươi thành phố cảng của họ tại nhiều nơi khác nhau của thế giới như Mexico, Peru, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản và Ai Cập. Nhiều thành phố cảng nằm trong Ấn Độ Dương và một số đảo trên Thái Bình Dương”.

“Tôi có thể ủng hộ những khám phá của Tiến sĩ O’Connell cùng những khám phá của tôi từ những hình cầu của những hộp sọ”, ông Stevens nói.

“Như vậy thế giới của họ không lấy Địa Trung hải làm trung tâm điểm như những nền văn minh của nhân loại sau đó?” ông Đô đốc nói.

Tiến sĩ Stevens lắc đầu phủ nhận. “Địa Trung Hải không mở ra biển trong thời kỳ của dân Amenes. Chín ngàn năm trước, Địa Trung hải như chúng ta biết ngày nay, được hình thành từ những thung lũng và hồ ao do những sông ngòi châu Âu chảy vào từ phía bắc và sông Nil từ phía nam, cho tới khi nó tràn ra Đại Tây Dương qua eo biển Gibralta. Có thể ngài cũng thích thú khi biết rằng Biển Bắc là một bình nguyên khô ráo và quần đảo Anh dính liền châu Âu. Biển Baltic chỉ là một thung lũng lớn trên mực nước biển. Sa mạc Gobi và Sahara là những miền nhiệt đới nuôi dưỡng những đàn động vật khổng lồ. Những sinh vật cổ thời đó đã sống trên một hành tinh khác hẳn hành tinh chúng ta đang sống”.

“Điều gì đã xảy ra cho chủng tộc Amenes?” Ông Sandecker hỏi. “Tại sao không có chứng cứ về sự tồn tại của họ được truyền lại đến chúng ta?”

“Nền văn minh của họ đã bị hủy diệt hoàn toàn khi một sao chổi đâm vào Trái Đất khoảng năm 7.000 trước công nguyên, và tạo ra thảm họa rộng khắp thế giới. Lúc đó phần đất nối liền giữa Gibralta và Morocco bị lún xuống và vùng Địa Trung Hải trở thành biển. Bờ biển bị tràn ngập và biến đổi vĩnh viễn. Chỉ trong khoảng thời gian để một giọt mưa rơi từ một đám mây xuống mặt đất, chủng tộc người đi biển, những thành phố và toàn bộ nền văn hóa của họ đều bị xóa sạch và biến mất cho tới ngày nay”.

“Các vị đã giải mã tất cả những điều đó từ những chữ khắc?”

“Đúng vậy, và còn nhiều hơn nữa”, Yaeger trả lời một cách hào hứng. “Họ mô tả những chuyện khủng khiếp và sự chịu đựng của họ với những chi tiết sống động. Sự va đụng của sao chổi thật dữ dội, đột ngột, gây kinh hoàng và chết chóc. Những mô tả còn nói đến hiện tượng núi non rung lắc như những cây liễu trước cơn gió dữ. Những trận động đất làm rung chuyển mặt đất tới độ chúng ta không thể tưởng tượng được. Những núi lửa phun trào với một sức mạnh tổng hợp của hàng ngàn quả bom nguyên tử, lấp kín bầu trời với những lớp tro dày hàng trăm dặm. Đá bọt phủ đầy mặt biển lên tới hàng trăm bộ. Những con sông dung nham lỏng chôn vùi hầu hết những gì chúng ta gọi là miền tây bắc Thái Bình Dương. Lửa lan rộng dưới những cơn lốc, tạo ra những đám mây khói hình tháp khắp bầu trời. Những đợt sóng thần có lẽ cao đến hơn năm ngàn mét quét qua mặt Trái Đất. Nhiều hòn đảo biến mất, bị chôn vùi vĩnh viễn dưới nước. Hầu hết loài người và tất cả - chỉ trừ một ít thú vật và sinh vật biển - đều bị hủy diệt chỉ trong hăm bốn giờ”.

Giordino đặt hai bàn tay ra sau gáy và nhìn lên trần nhà, cố hình dung trong đầu cảnh tàn phá khủng khiếp. “Điều đó giải thích sự tuyệt chủng đột ngột của loài cọp răng kiếm ở châu Mỹ, loài lạc đà có bướu lưng, loài bò rừng khổng lồ với một sừng tấm cao đến sáu bộ, loài voi ma mút có lông đen, loài ngựa nhỏ lưng dài ở Bắc Mỹ. Và sự hóa đá đột ngột của loài sò, sứa, hàu và sao biển - Chúng tôi đã phát hiện chúng khi thực hiện những dự án nghiên cứu dưới các lớp trầm tích. Những thay đổi này luôn là những điều bí ẩn đối với các nhà khoa học. Giờ đây, có lẽ họ có thể gắn chúng với hiện tượng sao chổi va chạm”.

Ông Sandecker nhìn Giordino với ánh mắt đánh giá. Anh chàng lùn người Ý vùng Etruscan này có một đầu óc rất sắc bén nhưng lại cố giấu điều đó dưới cái vỏ chán đời đáng ghét.

Tiến sĩ Stevens lấy cái tẩu thuốc lá ra và vân vê nó. “Cộng đồng khoa học đã biết rõ là những hiện tượng tuyệt chủng trên Trái Đất đối với động vật nặng trên một trăm cân Anh đã xảy ra cùng lúc với sự chấm dứt của thời kỳ băng hà, vào khoảng thời gian sao chổi đâm vào Trái Đất. Loài voi răng mấu được tìm thấy dưới băng tuyết tại Siberia, thức ăn chưa tiêu hóa kịp còn trong dạ dày chúng, đã củng cố sự kiện chúng bị chết đột ngột như thể trong chớp mắt chúng bị rơi vào giấc ngủ đông. Hiện tượng này cũng xảy ra với cây cối thảo mộc được tìm thấy đông cứng trong lúc còn đầy đủ lá và đang ra hoa”.

Mọi người chung quanh bàn không ai có thể hình dùng mức độ khủng khiếp đó. Vấn đề trọng đại đến nỗi họ khó có thể chấp nhận.

“Tôi không phải là một nhà địa vật lý học”, ông Stevens điềm tĩnh nói, “nhưng tôi không thể tin câu chuyện sao chổi đâm vào Trái Đất, thậm chí dù là một sao chổi lớn, lại có thể gây ra sự tàn phá khủng khiếp như thế. Điều đó không thể chấp nhận”.

“Sáu mươi lăm triệu năm trước, một sao chổi hoặc một tiểu hành tinh đã giết loài khủng long”, Giordino nhắc nhở ông ta.

“Phải là một sao chổi lớn vô cùng”, ông Sandecker nói.

“Nhưng sao chổi không thể đo được như các tiểu hành tinh hoặc các thiên thạch là những khối rắn chắc”, Yaeger diễn giải. “Sao chổi chỉ là một hợp chất gồm băng, khí và đá”.

Pat tiếp tục nói về những sự kiện được mô tả từ những chữ khắc mà không cần đọc những ghi chép của mình. “Một số cư dân của Trái Đất đã sống sót vẫn tiếp tục sống, canh tác và săn bắn tại những dãy núi và cao nguyên. Họ đã thoát khỏi sự hủy diệt khủng khiếp bằng cách chui xuống những hầm hố dưới đất hoặc trú ẩn vào những hang động và tồn tại nhờ rau củ và hệ thực vật có thể tái sinh và phát triển dưới những điều kiện nghiệt ngã, cùng với một ít thú vật họ săn bắn được. Nhiều người chết vì nạn đói hoặc những đám mây khí độc trong bầu khí quyển. Chỉ có một số rất ít người Amenes sống sót vì đã may mắn cư trú tại những miền đất cao trong lúc sóng thần tràn qua mặt đất”.

“Câu chuyện về trận đại hồng thủy truyền lại cho tới thời đại chúng ta”, ông Stevens giải thích rõ thêm, “đã được người Sumerian ghi lại trong những tấm thẻ năm ngàn năm trước đây được tìm thấy tại Mesopotamia — huyền thoại về Gilgamesh và trận lũ lụt được đề cập tới trong Kinh Thánh qua câu chuyện ông Noah và chiếc thuyền cứu nạn. Vài ghi chép của người Maya, những bản chép tay của các giáo sĩ Babylon, những giai thoại được truyền tụng của mỗi chủng tộc có văn hóa cao trên thế giới, kể cả những chủng người Da Đỏ Indians tại Bắc Mỹ, tất cả đều nói tới một trận lụt lội khủng khiếp. Vì vậy, có rất ít nghi vấn về một sự cố thực sự đã xảy ra?”

“Và ngày nay”, Yaeger nói, “nhờ những người Amenes, chúng ta biết được thời điểm chính xác xảy ra sự cố là năm 7.100 trước công nguyên”

“Lịch sử cho chúng ta biết khi một nền văn minh càng ưu việt”, ông Stevens bình luận, “thì nó càng dễ tàn lụi và chỉ để lại rất ít hoặc chẳng để lại dấu vết nào về tự thân của nó. Ít nhất có đến chín mươi chín phần trăm kiến thức cổ đại thực sự đồ sộ đã bị thất lạc vì những thảm họa tự nhiên hoặc do con người gây ra”.

Pitt gật đầu đồng ý. “Một thời kỳ vàng son của ngành hàng hải đã có mặt bảy ngàn năm trước công nguyên, nhưng chẳng còn lại gì ngoài những chữ khắc trên đá. Đáng tiếc là chúng ta không được thừa hưởng gì hơn từ những chữ khắc đó”.

Ông Sandecker nhả ra một cụm khói màu xanh. “Tôi thực sự hy vọng chuyện đó sẽ không phải là số phận của chúng ta”.

Pat nhìn Yaeger. “Những gì còn lại từ người Amenes đã hình thành tâm lý sùng bái và tự hiến dâng cho thần thánh chịu ảnh hưởng từ những cư dân còn sống sót của Thời kỳ đồ đá về mỹ thuật và thông tin chép tay đồng thời họ cũng học được cách thức xây dựng những công trình kiến trúc và kỹ thuật đóng tàu để vượt biển. Họ tìm cách để cảnh báo cho những thế hệ tương lai về một thảm họa sẽ xảy ra. Nhưng những người sinh sau đẻ muộn, vì không trải qua biến cố sao chổi hủy diệt và hậu quả khủng khiếp của nó, không thể buộc mình chấp nhận sự kiện sẽ có một thảm họa khác lại xảy ra. Người Amenes nhận ra rằng sự thật khủng khiếp sẽ sớm bị quên lãng theo thời gian và chỉ được nhắc lại trong truyền thuyết. Vì vậy họ cố tìm cách để lại di sản thừa kế cho đời sau bằng cách xây dựng những công trình tưởng niệm đồ sộ bằng đá tồn tại qua nhiều thế kỷ, được chạm khắc cùng với những thông điệp của họ về quá khứ và tương lai. Những lăng mộ lớn họ đã tạo ra trở nên phổ biến rộng khắp và trường tồn qua bốn ngàn năm. Nhưng thời gian và những hiện tượng thời tiết đã xói mòn những chữ khắc và xóa sạch những lời cảnh báo.

“Sau khi những người Amenes cuối cùng chết đi, nhiều thế kỷ tê liệt diễn ra trước khi người Sumeria và người Ai Cập bắt đầu thoát khỏi ảnh hưởng những nền văn hóa buổi đầu và dần dà tạo dựng những nền văn minh mới, sử dụng những mẩu kiến thức rời rạc từ quá khứ xa xăm”.

Pitt gõ nhẹ cây bút chì trên mặt bàn. “Từ những gì ít ỏi tôi được biết về những lăng mộ thì có vẻ như những nền văn hóa sau đó — vì không hiểu được ý định ban đầu của người Amenes trải qua nhiều thế kỷ - họ đã sử dụng những kiến trúc tưởng niệm - như đền đài, những hầm mộ và vài loại lịch — để sau cùng tự họ xây dựng hàng ngàn công trình của chính họ?”

“Trong khi nghiên cứu những dữ liệu có giá trị về các lăng mộ”, Yaeger nói, “những kiến trúc rất gần đây cho thấy người Amenes có một dạng kiến trúc rất đặc trưng. Cung cách xây dựng của họ hầu như sử dụng đường tròn làm chủ đạo, với những khối đá hình tam giác giống như những miếng nêm trong trò chơi lắp hình, làm cho những công trình xây dựng của họ hầu như không bị xô lệch bởi bất kỳ chuyển động nào của Trái Đất, bất chấp tình huống nghiêm trọng như thế nào”.

Ông Stevens nói, rất cân nhắc, trong lúc ráp lại những hình cầu vào những hộp sọ, “Nhờ những nỗ lực của ông Yaeger và tiến sĩ O’Connell, chúng ta bắt đầu thấy như thể những nguyên lý cơ bản của nền văn hóa Amenes và những di sản của thời cổ đại đã trải qua nhiều thế kỷ và sau cùng đã ảnh hưởng sâu sắc đến người Ai Cập, người Sumeria, người Trung Hoa và người Olmecs, đi trước người Maya và hai chủng Indians ở châu Á và Indians tại châu Mỹ. Người Phoenicians, nhiều hơn bất kỳ nền văn minh nào khác, đã dẫn đầu trong nghề đi biển.

“Những khám phá của họ cũng giúp giải thích tại sao hầu hết những vị thần thánh từ nền văn minh gần đây nhất tại mỗi nơi trên Trái Đất đều có nguồn gốc từ biển, và tại sao những thần thánh trên toàn châu Mỹ đều đến từ phương đông, trong khi những thần thánh trong những nền văn hóa châu Âu lại đến từ phương Tây?”

Ông Sandecker nhìn theo làn khói thuốc xì gà của mình vặn vẹo bay lên trần nhà. “Đó là điểm thú vị, thưa tiến sĩ, có thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào về những tổ tiên cổ xưa của chúng ta, đã làm chúng ta điên đầu suốt nhiều thế kỷ”.

Pitt gật đầu về phía Pat, “Sau cùng điều gì đã xảy ra cho người Amenes?”

“Lo sợ những thông điệp của mình sẽ không được hậu thế chấp nhận và làm theo, họ tạo ra những căn hầm tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới mà họ hy vọng chúng sẽ không bị phát hiện trong nhiều ngàn năm, và chỉ những nền văn minh tương lai với trình độ khoa học cao sẽ hiểu được lời cảnh báo của họ về thảm họa sắp tới”.

“Chẳng hạn?” Ông Sandecker ngắt lời.

“Thời điểm sao chổi thứ nhì trở lại quĩ đạo địa cầu và hầu như chắc chắn sự va chạm sẽ xảy ra”.

“Đúng là một ý tưởng chẳng vui vẻ chút nào”, Giordino nói.

“Điều gì khiến người ta tin chắc chắn sẽ có một vị khách phá hoại đến từ không gian xa tít?” Ông Sandecker thắc mắc.

“Những chữ khắc mô tả rất chi tiết về hai sao chổi đã đến cùng một lúc”, Yaeger trả lời. “Một sao chổi đã va chạm. Sao chổi kia trượt qua và về lại không gian”.

“Các vị cho rằng người Amenes có thể tiên đoán chính xác ngày giờ sao chổi thứ nhì trở lại à?”

Pat chỉ đơn giản gật đầu.

“Người Amenes”, Yaeger nói, “là những bậc thầy không chỉ trong ngành đi biển mà cả về những bầu trời nữa”. Họ đo được sự chuyển động của những ngôi sao với độ chính xác bí hiểm. Và họ làm điều đó mà vẫn không dùng tới những kính viễn vọng cực mạnh”.

“Giả sử sao chổi sẽ quay lại”, Giordino nói. “Bằng cách nào họ biết nó sẽ không trượt qua Trái Đất và lạc vào không gian trở lại? Có phải nền khoa học của họ tinh tế tới độ họ có thể tính toán thời gian va chạm tại vị trí chính xác trên quĩ đạo của Trái Đất trong không gian?”

“Họ có thể và đã làm chuyện đó”, Pat vặn lại. “Bằng cách sử dụng máy điện toán và so sánh những vị trí khác nhau của các vì sao và những chòm sao giữa những bản đồ tinh tú cổ trong căn hầm tại Colorado với vị trí sao trong khoa thiên văn ngày nay, chúng ta có thể đi tới chỗ tính toán ngày tháng trong thời gian. Nó phù hợp với tiên đoán của người Amenes trong xác suất một giờ đồng hồ.

“Người Ai Cập đã nghĩ ra một lịch kép phức tạp hơn thứ lịch chúng ta đang dùng ngày nay. Người Maya đã đo được chiều dài của năm là 365,2420 ngày. Sự tính toán của chúng ta bằng cách dùng đồng hồ nguyên tử là 365, 2423 ngày. Họ cũng tính toán một cách chính xác không sao tin được những thứ lịch đặt nền tảng trên sự liên kết giữa sao Kim, sao Mộc và sao Thổ. Người Babylon đã xác định được, theo vị trí các sao, một năm có 365 ngày 6 giờ và 11 phút. Họ chỉ tính thiếu không tới hai phút”, Pat dừng lại để tăng thêm hiệu quả. “Người Amenes đã tính toán vòng quanh của Trái Đất quanh mặt trời chỉ lệch hai phần mười của một giây. Lịch của họ đặt nền tảng trên hiện tượng nhật thực xảy ra trong cùng một ngày của năm tại cùng một điểm trên hoàng đạo trong mỗi chu kỳ 521 năm. Bản đồ tinh tú của họ về các bầu trời, được quan sát và tính toán từ chín ngàn năm trước, chính xác đến mức hoàn hảo”.

“Câu hỏi đang nằm trong đầu chúng ta lúc này”, ông Sandecker nói, “là người Amenes tiên đoán sự tái hiện của sao chổi sẽ xảy ra vào thời điểm nào?”

Pat và Yaeger trao đổi nhau những ánh mắt tỉnh táo. Yaeger là người nói đầu tiên. “Chúng tôi đọc được từ một máy điện toán tìm hiểu về khoa khảo cổ thiên văn học trong các tài liệu và hồ sơ từ những kho lưu trữ của nhiều đại học thì người Amenes không phải là những nhà thiên văn cổ duy nhất đã tiên đoán về thảm họa thứ nhì. Người Maya, thổ dân Hopi Indians, người Ai Cập, người Trung Hoa và nhiều nền văn minh trước Công nguyên, tất cả đều nói đến ngày cuối cùng của Trái Đất. Tựu trung, họ chỉ tính lệch nhau trong vòng một năm”.

“Có thể đó là một trùng hợp ngẫu nhiên hoặc nền văn minh này vay mượn từ nền văn minh kia?”

Yaeger lắc đầu không tin. “Có thể họ sao chép những gì người Amenes để lại, nhưng những giải thích là của chính họ từ kết quả khảo sát về các vì sao, từ đó họ xác định thời điểm va chạm”.

“Cậu nghĩ chủng tộc nào đã tiên đoán chính xác hơn cả?” Pitt hỏi.

“Những người Amenes sống sót, vì chính họ đã có mặt lúc thảm họa thực sự xảy ra. Họ tiên đoán không chỉ bằng năm mà bằng ngày chính xác”.

“Ngày nào?” ông Sandecker ngắt ngang với vẻ nôn nóng.

Pat chìm trong cái ghế như thể cô muốn trốn khỏi sự thật. Yaeger ngần ngừ, đưa mắt nhìn quanh cái bàn, từ gương mặt người này đến người khác. Sau cùng, anh ta nói với giọng đứt quãng. “Thời điểm người Amenes tiên đoán sao chổi sẽ trở lại và đâm vào Trái Đất là ngày 20 Tháng Năm, năm 2001”.

Pitt nhíu mày. “Năm nay là 2001”.

Yaeger xoa bóp hai thái dương với hai bàn tay. “Tôi biết rõ điều đó mà”.

Ông Đô đốc chồm tới trước. “Cậu bảo ngày đen tối đó chỉ còn không đầy hai tháng nữa?”

Yaeger nghiêm chỉnh gật đầu. “Vâng, chính xác đó là những gì tôi nói”.

Sau buổi họp, Pitt trở lại văn phòng, và được người thư ký lâu năm của anh, Zerri Pochinsky, chào đón. Là một phụ nữ đáng yêu với nụ cười sáng rỡ, và một thân hình các cô người mẫu tại Las Vegas phải ghen tị, mái tóc màu lông hươu thả xuống hai vai, và cô nhìn cuộc đời qua đôi mắt màu nâu sáng rất quyến rũ. Cô sống độc thân với một con mèo tên Murgatroyd, thỉnh thoảng cũng có hò hẹn. Pitt rất say mê Zerri, nhưng kỷ luật sắt khiến anh chùn bước. Rất nhiều lần Pitt tưởng tượng ôm cô trong vòng tay. Nhưng những nguyên tắc chặt chẽ về việc xử sự với bất kỳ thành viên khác giới tính nào làm việc cho NUMA không cho phép anh lộn xộn. Anh đã từng chứng kiến quá nhiều vụ tình ái lăng nhăng dẫn tới đổ vỡ.

“Nhân viên đặc biệt Ken Helm của FBI gọi điện và muốn ông trả lời ông ta”, cô thông báo và trao cho anh một mẩu giấy màu hồng có ghi số điện thoại đường dây riêng của Helm. “Ông lại gặp rắc rối với chính phủ à?”

Anh ngoác miệng cười và cúi xuống bàn giấy của Zerri cho tới khi mũi họ chỉ cách nhau không tới một inch. “Tôi lúc nào mà chẳng có chuyện với ông nhà nước của tôi chứ”.

Đôi mắt cô sáng lên, khiêu khích. “Em vẫn còn chờ ông bế và đưa em bay tới một bãi biển tại Tahiti”.

Anh lùi lại, giữ một khoảng cách an toàn, vì mùi nước hoa Chanel của cô bắt đầu khuấy động cảm giác bất thường bên trong anh. “Tại sao cô không tìm một anh chàng dễ thương, bảnh bao và yêu gia đình nào đó mà kết hôn cho rồi, như thế cô có thể ngăn cản sự quấy nhiễu của những anh già vớ vẩn”.

“Vì những gã bảnh bao yêu gia đình chẳng thú vị chút nào”.

“Ai đã nói phụ nữ là những cái tổ ấm kín đáo kìa?” Anh thở dài.

Pitt bước vào văn phòng của anh, trông giống một bãi đậu xe sau một cơn lốc xoáy. Những cuốn sách, giấy tờ, những tấm hải đồ và những tấm ảnh nằm bừa bãi khắp căn phòng, kể cả trên những tấm thảm. Anh đã trang hoàng nơi làm việc của mình với những món đồ cổ đã mua đấu giá từ chiếc tàu tiếp khách trang nhã American President Lines của Tổng thống Cleveland. Anh ngồi xuống sau bàn giấy, nhấc ống điện thoại và bấm số của Helm.

Một giọng nói trả lời cộc lốc, “Vâng?”

“Chào ông Helm, tôi là Dirk Pitt hồi âm cú gọi của ông”.

“Chào ông Pitt, xin cám ơn. Tôi nghĩ ông rất muốn biết lai lịch cái xác ông đã vớt lên từ Nam Cực và cả người phụ nữ ông đã tóm được tối qua”.

“Các ông làm việc nhanh thật”.

“Nhờ bộ phận chụp ảnh bằng máy vi tính ID mới của chúng tôi đấy”, Helm giải thích. “Họ tham khảo mọi tin tức trong các nhật báo, tạp chí, truyền hình, bằng lái của những người lái xe, lý lịch những người có bảo hiểm, các passeport và các báo của cảnh sát để xây dựng mạng lưới ảnh lý lịch rộng rãi nhất thế giới. Họ có hàng trăm triệu hồ sơ lý lịch trong tay. Kết hợp với dấu vân tay và hồ sơ về DNA của chúng tôi, hiện nay chúng tôi đã có đủ phương tiện để xác định lý lịch những xác chết và những kẻ trốn chạy. Và chúng tôi đã có thông tin về hai người phụ nữ đó chỉ trong hai mươi phút”.

“Các ông phát hiện được gì?”

“Tên của người phụ nữ chết trong chiếc tàu ngầm là Heidi Wolf. Còn người phụ nữ ông tóm được đêm qua là Elsie Wolf”.

“Vậy họ là chị em sinh đôi”.

“Không, thực ra họ là chị em họ. Cả hai có nguồn gốc từ một gia tộc rất giàu có và điều hành một hệ thống các xí nghiệp thương mại cao cấp và rộng lớn”.

Pitt nhìn ra cửa sổ văn phòng, nhưng không lưu ý đến con sông Potomac và đồi Capitol dưới kia. “Liệu họ có dính líu tới Karl Wolf, tổng giám đốc Tập đoàn Vận Hội tại Argentina không nhỉ?”

Helm im lặng một lúc rồi nói, “Có vẻ như ông đã đi trước tôi hai bước, ông Pitt”.

“Gọi tôi là Dirk”.

“Tốt thôi, Dirk, ông chộp đúng mối dây rồi đấy. Heidi là em gái Karl. Elsie là em họ. Và, vâng, Tập đoàn Vận Hội là cơ sở tư nhân của đế quốc thương mại có trụ sở tại Thủ đô Buenos Aires của Argentina. Tổ chức Forbes ước tính toàn bộ tài sản của họ lên tới hai trăm mười tỉ đô la”.

“Vậy thì chắc chắn họ không sống tại đầu đường xó chợ rồi”.

“Và tôi phải cưới một cô vợ có bố là thợ nề”.

“Tôi không hiểu tại sao một phụ nữ giàu có như thế lại phạm tội ăn cắp vặt nhỉ?”

“Chừng nào có câu trả lời, hy vọng ông sẽ không nỡ giấu tôi?”

“Hiện giờ Elsie đang ở đâu?” Pitt hỏi.

“Được canh giữ tại một dưỡng đường tư trên đường W, đối diện với trường Đại học Mount Vernon”.

“Tôi có thể tiếp xúc cô ta chứ?”

“Tôi thấy không có vấn đề gì về phía FBI, nhưng ông phải được sự đồng ý của bác sĩ có nhiệm vụ săn sóc cô ta. Tên ông ta là Aaron Bell. Tôi sẽ gọi và báo cho ông ta biết ý định của ông”.

“Đầu óc cô ta ổn định chứ?”

“Cô ta đã tỉnh táo. Ông đã tặng cô ta một cú khá nặng trên đầu. May mà không vỡ sọ, và sự chấn động chỉ tạm thời”.

“Tôi đâu có nện cô ta. Cái xe mô tô của cô ta đã làm chuyện đó”.

“Dù với nguyên nhân nào”, Helm nói, giọng ông ta có vẻ hài hước, “ông cũng chẳng moi được gì nhiều từ cô ả đâu. Một trong những nhân viên thẩm vấn giỏi nhất của chúng tôi đã cố làm chuyện đó. Nhưng cô ả là một phụ nữ cứng cỏi, và câm như hến”.

“Cô ta có biết em họ mình đã chết không?”

“Cô ta biết, và còn biết cái xác của Heidi hiện đang nằm tại nhà xác của dưỡng đường”.

“Điều đó sẽ cho thấy nhiều trò hấp dẫn đấy”, Pitt thong thả nói.

“Tại sao?” Helm hỏi vặn.

“Nét mặt của Elsie lúc tôi bảo cô ả tôi là người đã phát hiện cái xác của Heidi dưới biển Nam Cực và đã đưa nó về Washington bằng máy bay”.

***

Hầu như ngay sau khi gác điện thoại lên giá, Pitt rời khỏi Tổng hành dinh NUMA và lái xe thẳng tới dưỡng đường không có bảng tên dành cho FBI và các cơ quan an ninh quốc gia khác. Anh đậu chiếc Ford 36 mui trần trong một nhà xe còn trống bên cạnh tòa nhà và đi qua lối vào chính. Anh bị hỏi lai lịch và họ gọi điện để xác nhận trước khi được chấp thuận cho vào. Một nhân viên quản lý hướng dẫn anh tới văn phòng Bác sĩ Bell.

Pitt đã tiếp xúc ông bác sĩ này nhiều lần, không vì mục đích khám sức khỏe hoặc điều trị, nhưng để trang trải phí tổn điều trị chứng ung thư của thân phụ anh, Thượng Nghị sĩ George Pitt, mà ông Bell đảm trách nhiệm vụ điều trị chính. Bác sĩ Aaron đang ở giữa cái tuổi sáu mươi, một người có cá tính mạnh mẽ, gương mặt đỏ au, quá thừa cân nhưng làm việc rất căng thẳng. Ông ta hút hai bao thuốc, hai mươi tách cà phê mỗi ngày. Quan niệm đối với cuộc sống, như ông ta thường chứng tỏ, là “Cứ sống thoải mái và xuống mồ với tâm trạng thỏa mãn”.

Ông ta đứng lên từ cái ghế sau bàn giấy, như một con gấu đứng trên hai chân sau của nó. “Dirk!” ông ta nói như bom nổ. “Rất vui thấy cậu. Ông Thượng Nghị sĩ thế nào?”

“Đang lên kế hoạch để tiếp tục một nhiệm kỳ nữa”.

“Ông ấy sẽ không bao giờ chịu bỏ cuộc, và tôi cũng thế. Ngồi đi. Cậu tới vì người phụ nữ được đưa tới đêm qua phải không?”

“Ken Helm đã gọi ông?”

“Nếu ông ta không báo trước thì làm sao cậu lọt qua ngưỡng cửa chứ?”

“Tôi có thấy sự canh gác cẩn mật nào đâu”.

“Cậu cứ liếc nhìn một camera quan sát thì biết ngay mà”.

“Bộ não cô ta có bị ảnh hưởng nghiêm trọng không?”

Ông bác sĩ lắc đầu. “Sẽ ổn định hoàn toàn sau vài tuần lễ. Một thể trạng tuyệt vời. Cô ta không giống như hầu hết phụ nữ đã đi qua những cánh cửa ở đây”.

“Cô ta rất hấp dẫn”, Pitt cười.

“Không, không, tôi không nói đến chuyện đẹp xấu. Cơ thể người phụ nữ này có một cấu trúc vật lý rất đặc biệt, hoặc tôi có thể nói là giống hệt cơ thể cô em họ của cô ta mà cậu đã đưa về từ Nam Cực”.

“Theo điều tra của FBI, họ là chị em họ”.

“Thật kỳ lạ, một sự tương xứng về di truyền hoàn hảo”, ông Bell nghiêm chỉnh nói. “Quá hoàn hảo”.

“Hoàn hảo như thế nào?”

“Tôi đã thực hiện việc khám nghiệm tử thi, sau đó đưa ra những kết luận và so sánh các đặc tính vật lý của cái xác với người phụ nữ nằm trên giường điều trị. Ở đây có nhiều điều khác hơn là sự tương thích thuần túy trong gia tộc”.

“Helm cho tôi biết cái xác của Heidi cũng được giữ ở dưỡng đường này”.

“Vâng, trên một cái bàn tại nhà xác ở tầng dưới”.

“Liệu các thành viên trong gia tộc có cùng loại gen, đặc biệt là anh chị em họ, có gương mặt giống nhau không?” Pitt hỏi.

“Rất hiếm”, ông Bell trả lời.

“Có quan điểm cho rằng tất cả chúng ta đều giống hệt một kẻ nào đó tại một nơi nào đó trên thế giới”.

Ông Bell mỉm cười, “Cầu Chúa phù hộ kẻ nào trông giống tôi”.

Pitt hỏi, “Vậy điểm chủ yếu nằm ở đâu?”

“Tôi không thể chứng minh điều đó nếu chưa quan sát và thí nghiệm trong nhiều tháng, sau đó tôi sẽ có ý kiến. Nhưng tôi sẵn lòng cá cược bằng danh tiếng của mình rằng rất có khả năng hai người phụ nữ này, một sống một chết, đều được tạo ra bằng một kỹ thuật nào đó giống nhau”.

Pitt nhìn ông Bell. “Ông không thể xem họ là những người máy”.

“Không, không”. Ông bác sĩ xua tay. “Không buồn cười như vậy đâu”.

“Sinh sản vô tính à?”

“Hoàn toàn không”.

“Vậy là gì?”

“Tôi tin là do được cấy gen”.

“Có thể như thế sao?” Pitt hỏi, tỏ ra không tin. “Liệu khoa học và kỹ thuật có thể thành tựu tới mức độ đó?”

“Có những phòng thí nghiệm của các nhà khoa học làm công việc hoàn chỉnh hóa cơ thể con người qua khoa di truyền học. Nhưng theo hiểu biết của tôi thì họ vẫn đang trong thời kỳ thí nghiệm trong loài chuột. Tất cả những gì tôi có thể nói với cậu là nếu Elsie không chết đột ngột giống như Heidi, hoặc nếu không bị xe tải cán hoặc không bị nhân tình ám sát vì ghen tuông thì cô ta có thể sẽ sống đến tổ chức sinh lần thứ một trăm hai mươi của mình”.

“Không chắc tôi muốn sống lâu như thế”, Pitt nói với vẻ nghĩ ngợi.

“Tôi cũng không”, ông Bell phì cười. “Càng không muốn trong cái thân xác già nua này”.

“Tôi được phép gặp Elsie lúc này chứ?”

Ông Bell đứng lên và ra dấu cho Pitt theo ông ta rời khỏi văn phòng và xuống tiền sảnh. Từ lúc vào dưỡng đường, Pitt chỉ trông thấy hai người đàn ông là người quản lý trong hành lang và Bác sĩ Bell. Dưỡng đường có vẻ sạch sẽ, vô trùng và không có sự sống. Thật không thể tin được.

Ông Bell tới một cánh cửa không có người gác bên ngoài, ấn một cái thẻ vào một khe điện tử rồi đẩy nó mở ra. Một phụ nữ ngồi trên một cái giường đúng tiêu chuẩn bệnh viện, đang nhìn qua cửa sổ bị ngăn bởi một tấm màn dày và những chấn song bằng kim loại. Đây là lần đầu tiên Pitt nhìn thấy Elsie giữa ban ngày, và anh không khỏi bàng hoàng vì sự giống nhau không thể tin được giữa cô ta và người chị họ đã chết. Cũng mái tóc màu hoàng kim và đôi mắt màu xanh xám đó. Anh khó có thể tin họ chỉ đơn thuần là chị em họ.

“Chào cô Wolf”, Bác sĩ Bell lên tiếng, giọng ông nghe rất vui, “Tôi mang đến cho cô một ông khách”. Ông ta nhìn Pitt và gật đầu. “Tôi sẽ để hai vị một mình. Xin đừng kéo dài thời gian”.

Không có lời cảnh báo nào dành cho Pitt về chuyện thông tin với ông bác sĩ trong trường hợp có sự cố, và dù anh chẳng nhìn thấy cái camera TV nào, Pitt vẫn hiểu không chút ngờ vực là nhất cử nhất động của họ đều được kiểm soát và ghi lại.

Anh kéo một cái ghế đến bên cạnh giường người phụ nữ và ngồi xuống, không nói gì trong gần một phút, chỉ nhìn vào đôi mắt có vẻ như đang nhìn xuyên qua đầu anh về phía bức tranh in thạch bản núi Grand Canyon treo trên bức tường trước mặt. Sau cùng, anh nói, “Tên tôi là Dirk Pitt. Tôi không hiểu liệu cái tên đó có ý nghĩa gì với cô không, nhưng có vẻ như nó rất quen thuộc với Hạm trưởng tàu ngầm U-2015 khi chúng tôi thông tin với nhau trên một khối băng trôi”.

Đôi mắt người phụ nữ hơi nheo lại, nhưng cô ta vẫn im lặng.

“Tôi đã lặn xuống chiếc tàu bị đạn”, Pitt nói tiếp, “và tìm lại được xác của chị họ cô, Heidi. Cô có muốn tôi thu xếp để chở xác cô ấy về cho ông Karl tại Buenos Aires để cô ấy được mai táng trong nghĩa địa riêng của gia tộc Wolf không?”

Pitt chỉ nói mò, nhưng anh biết chắc dòng họ Wolf phải có một nghĩa địa riêng.

Lần này thì anh đã gõ đúng chỗ. Đôi mắt Elsie đã phản ứng khi cô ta cố hiểu câu nói của anh. Sau cùng, cặp môi vẫn mím chặt với cơn giận không che giấu bắt đầu run rẩy và hoạt động. “Ông!” Cô ta phun ra, “Ông là kẻ phải trách nhiệm về những cái chết của những người chúng tôi tại Colorado”.

“Bác sĩ Bell đã lầm. Rõ ràng cô cũng có một cái lưỡi mà”.

“Ông cũng có mặt ở đó lúc tàu ngầm của chúng tôi bị đắm?” Cô ta hỏi, có vẻ không nắm rõ sự việc.

“Tôi chỉ hành động với mục đích tự vệ tại Colorado. Và vâng, tôi cũng có mặt trên tàu Polar Storm lúc chiếc tàu ngầm của cô chìm, nhưng tôi không trách nhiệm về sự cố đó. Cô phải khen ngợi Hải quân Hoa Kỳ. Nếu họ không can thiệp đúng lúc thì bà chị họ của cô và bè nhóm hải tặc khát máu của cô ta đã đánh chìm một chiếc tàu nghiên cứu biển vô hại và giết chết hơn một trăm thủy thủ và các nhà khoa học vô tội. Đừng đòi hỏi tôi phải rơi nước mắt cho Heidi. Theo suy nghĩ của tôi, cô ta và nhóm thủy thủ của cô ta đã nhận lãnh một kết cục xứng đáng”.

“Ông đã làm gì với cái xác của chị ấy?” Cô ta hỏi.

“Đang nằm tại nhà xác dưỡng đường”, anh trả lời. “Tôi được biết hai chị em cô cùng trưởng thành từ những điều kiện như nhau”.

“Chúng tôi là những gen không tì vết”, Elsie ngạo nghễ nói. “Không giống phần còn lại của loài người”.

“Điều đó xảy ra bằng cách nào chứ?”

“Phải mất ba thế hệ để chọn lựa và làm thí nghiệm. Thế hệ của tôi đã đạt những cơ thể vật chất hoàn chỉnh và có đầu óc của các thiên tài. Chúng tôi cũng rất sáng tạo trong nghệ thuật”.

“Thế à?” Pitt nói, giọng châm biếm. “Nhưng tôi lại nghĩ những thế hệ cùng dòng tộc lấy nhau chỉ sản sinh toàn những kẻ ngu ngốc”.

Elsie trừng mắt nhìn Pitt một lúc lâu rồi mỉm cười lạnh lùng. “Lời mạt sát của ông chẳng nghĩa lý gì cả. Chỉ trong một thời gian ngắn nữa thôi, ông và tất cả những kẻ khuyết tật khác trên đời này đều không thoát khỏi cái chết”.

Pitt cố tìm phản ứng trong mắt cô ta. Lúc anh trả lời, giọng nói trở nên hoàn toàn dửng dưng. “À vâng, đứa em sinh đôi của sao chổi đã hủy diệt chủng người Amenes chín ngàn năm trước sẽ trở lại và đâm vào Trái Đất, và tiêu diệt nhân loại. Tôi thừa biết tất cả những điều đó”.

Hầu như anh chộp trượt nó, nhưng nó hiện ra đầy đủ. Một tia sáng lóe lên trong cặp mắt phấn chấn và cuồng nhiệt của cô ta. Cảm nhận hoàn toàn sự độc ác của người phụ nữ hình như cô đặc trong anh tưởng chừng anh có thể đem nó ra ngoài và nắm chặt nó. Nó làm anh bứt rứt. Anh cảm thấy như thể cô ta đang cố giấu một điều bí mật còn đáng sự hơn bất cứ điều gì anh có thể hình dung.

“Những chuyên gia của ông phải mất bao lâu để giải mã những chữ khắc đó?” Cô ta thận trọng hỏi.

“Năm hoặc sáu ngày”.

Cô ta có vẻ tự mãn. “Người của tôi chỉ mất ba ngày”.

Anh chắc chắn cô ta nói dối, vì vậy anh tiếp tục thăm dò, “Gia tộc Wolf đang lên kế hoạch tổ chức ngày kỷ niệm u ám đó phải không?”

Elsie chậm rãi lắc đầu, “Chúng tôi không có thì giờ cho những trò vớ vẩn đó. Sức lao động của chúng tôi chỉ đổ ra cho việc tìm cách sống sót”.

“Cô thực sự nghĩ một sao chổi sẽ đâm vào Trái Đất chỉ trong vài tuần lễ nữa à?”

“Người Amenes rất chính xác trong khoa thiên văn và bản đồ các vì sao của họ”. Hình như, trong một thoáng, Pitt nhận ra sự thiếu tin tưởng trong giọng nói của Elsie.

“Tôi cũng nghe nói như vậy”.

“Chúng tôi... có những liên hệ với một số các nhà thiên văn học nổi tiếng nhất tại Âu châu và Hoa Kỳ, họ xác nhận những tiên đoán của người Amenes. Tất cả đều đồng ý là sự trở lại của sao chổi được trình bày bằng biểu đồ và việc tính toán thời gian chính xác đến độ làm người ta phải ngạc nhiên”.

“Vì vậy mà gia tộc sinh sản vô tính ích kỷ của cô giữ kín những tin tức đó cho riêng mình, thay vì loan báo cho cộng đồng thế giới biết, phải không?” Pitt nói với giọng chán ghét. “Và các người còn bịt miệng các nhà thiên văn học, phải không? Từ ngữ “nhân ái” không hề có trong từ điển của dòng họ Wolf, phải không?”

“Tại sao phải tạo ra những hoảng loạn trên khắp thế giới chứ?” Cô ta nói với vẻ bất cần. “Cuối cùng, điều đó có gì tốt đâu? Tốt hơn là cứ để mặc thiên hạ chết mà chẳng biết gì, như thế họ sẽ tránh được đau khổ”.

“Các người giàu lòng nhân ái quá nhỉ?”

“Cuộc sống chỉ được dành cho những ai thích nghi nhất, và những ai biết trù hoạch”.

“Vậy những người ưu tú của dòng họ Wolf? Cái gì giúp các người thoát khỏi sự hủy diệt đó?”

“Chúng tôi đã có kế hoạch cho cuộc sống ổn định trên năm mươi năm sắp tới”, cô ta nói một cách quả quyết. “Gia tộc chúng tôi sẽ không bị lũ lụt cuốn trôi hoặc bị lửa trời thiêu đốt đâu. Chúng tôi đã được chuẩn bị để vượt qua tai họa và đủ sức chịu đựng sau đó”.

“Năm mươi năm”, Pitt lặp lại. “Có phải các người biết điều đó sau khi phát hiện một căn hầm nào đó có chữ khắc của người Amenes nói về sự tuyệt chủng sẽ xảy ra của họ sau vụ va chạm của sao chổi?”

“Vâng”, cô ta thản nhiên trả lời.

“Tất cả có bao nhiêu căn hầm như thế?”

“Người Amenes bảo là sáu”.

“Dòng họ Wolf đã tìm thấy bao nhiêu?”

“Một”.

“Và chúng tôi tìm thấy hai. Vậy là còn ba, chưa biết ở đâu”.

“Một bị hủy diệt tại Hawaii sau một vụ núi lửa phun hàng tấn dung nham chôn lấp nó. Một căn hầm khác vĩnh viễn mất tích sau một vụ động đất dữ dội tại Tây tạng năm 800 sau Công nguyên. Chỉ còn sót lại một căn hầm chưa tìm thấy. Chúng tôi cho rằng nó nằm đâu đó trong những sườn núi Mount Lasca tại Chi Lê .

“Nếu nó vẫn chưa được phát hiện”, Pitt thận trọng nói, “tại sao các người đã tàn sát nhóm sinh viên đang thám hiểm một hang động trên núi?”

Cô ta nhìn Pitt nhưng không chịu trả lời.

“Được thôi. Cho phép tôi hỏi cô vị trí căn hầm các người phát hiện nằm ở đâu?” Anh thúc ép.

Cô ta trừng mắt nhìn như thể Pitt là một gã điên. “Chúng tôi phát hiện sớm nhất những chữ khắc của người Amenes trong một ngôi đền tại một nơi đổ nát xưa kia là một trong những thành phố cảng của họ. Ông không cần hỏi thêm, ông Pitt. Tôi đã nói tất cả những gì đáng nói. Và tôi đề nghị ông hãy nói lời vĩnh biệt với bạn bè và thân nhân. Vì chẳng bao lâu nữa, những gì còn sót lại từ những thân thể bị xé nát của các người sẽ trôi giạt trong một đại dương chưa hề có trước đây”.

Nói xong, Elsie nhắm mắt lại, và dễ dàng dứt bỏ hình ảnh Pitt và thế giới chung quanh ra khỏi đầu óc, như thể cô ta đã nhập vào một giấc ngủ đông.

Đến khi Pitt rời khỏi dưỡng đường thì đã xế chiều, và anh quyết định trở về nhà chứa máy bay của mình thay vì đến tòa dinh thự của NUMA. Anh đang chậm chạp di chuyển trong dòng xe cộ vào giờ cao điểm và lái xe lên cầu Rocheambeau trước khi vào Công viên Tượng đài Washington. Lúc anh vừa tới gần cổng con đường chính của phi trường dẫn vào nhà chứa máy bay của anh thì chiếc điện thoại Globaster báo hiệu có người gọi.

“Hê lô”.

“Chào, người yêu”, giọng nói cám dỗ của Nữ Dân biểu Loren Smith vọng ra.

“Anh luôn hạnh phúc khi nghe giọng nói bà dân biểu đáng yêu của mình”.

“Tối nay anh định làm gì?”

“Anh nghĩ đến chuyện sẽ thưởng thức món trứng cá hồi hun khói, sau đó tắm vòi sen và xem TV”, Pitt trả lời trong lúc người gác vẫy cho anh qua và ngắm chiếc Ford 36 với ánh mắt ghen tị.

“Những gã độc thân sống chán thật”, cô nói với giọng trêu chọc.

“Anh không có thói quen lê la tại các quầy rượu”.

“Em biết”. Cô dừng lại để trả lời một câu hỏi của một trong những phụ tá. “Em xin lỗi, một cử tri gọi điện thoại than phiền về những ổ gà trên đường trước nhà ông ta”.

“Những nữ dân biểu sống chán thật”, anh vặn lại.

“Đừng nóng. Anh đưa em đến St. Cyr ăn tối nhé?”

“Khẩu vị của em khiếp thật”, Pitt nói. “Ăn tối ở đó sẽ nướng cả tháng lương của anh đấy. Nhân dịp gì vậy?”

“Em có một phúc trình khá dày về Tập đoàn Vận Hội đang nằm trên bàn giấy và nó đáng giá một buổi tối anh dành cho em”.

“Có ai nói cho em biết em đang sai lầm trong kinh doanh không?”

“Em đã bán linh hồn để thông qua những dự luật ở nghị viện nhiều lần hơn bất kỳ cô gái điếm nào bán thân xác cho khách mua dâm đấy”.

Pitt đậu xe tại một chỗ dừng cạnh một cánh cửa vào nhà chứa máy bay và bấm một mã số trên một máy phát tín hiệu. “Anh hy vọng em đã đặt chỗ trước. St. Cyr không bao giờ có chỗ trống cho những khách bộ hành trên đường phố đâu”.

“Em từng có ơn với chủ nhân của nó. Cứ tin em đi, chúng ta sẽ có một bàn ăn tại vị trí tốt nhất ở đó. Đón em tại nhà vào lúc 7.30 nhé”.

“Anh có thể uống rượu vang thả cửa chứ?”

“Anh lém thật”, cô dịu dàng nói. “Tạm biệt”.

Pitt không có cảm giác thoải mái khi phải thắt cà vạt để tới một nhà hàng sang trọng. Lúc đậu chiếc Ford trước căn hộ chung cư của Loren tại khu Alexandria, anh chỉ giản dị trong cái quần dài bình thường màu xám, một áo khoác thể thao màu xanh đậm và một áo len cổ lọ màu vàng nghệ. Từ ban công trên tầng bốn, Loren nhận ra anh và chiếc xe, cô vẫy tay rồi đi xuống. Sang trọng và quyến rũ, cô mặc một áo len cài nút đan tay màu than với chiếc quần dài xếp ly phía trước dưới cái áo khoác bằng lông thú màu đen dài tới gối. Cô xách một cặp hồ sơ bằng da trùng màu với quần áo. Từ ban công, cô đã thấy Pitt không hạ mui chiếc xe Ford, vì vậy cô không nhọc công lo chuyện tóc bị bay tung vì gió, và cũng chẳng nhọc công đội nón.

Pitt đứng bên vệ đường và mở cửa xe cho cô. “Cũng thú vị khi thấy vẫn còn vài quý ông trên đời này”, cô nói với một nụ cười mơn trớn.

Anh cúi xuống hôn lên má cô, “Anh xuất thân từ một nhà trường từ ngày xưa còn sót lại mà”.

Nhà hàng chỉ cách nơi đó hai dặm, chỉ cần băng qua đồi Capitol, vào quận Fairfax, bang Virginia. Gương mặt anh chàng nhân viên phụ trách việc đậu xe sáng lên như một cây nến trong trái bí ngô trong ngày lễ Hallowen khi anh ta thấy chiếc xe lộng lẫy lăn bánh vào trước nhà hàng thanh lịch. Âm thanh ngọt ngào từ hai ống thoát khói của chiếc xe làm anh ta ớn lạnh xương sống.

Người nhân viên đưa cho Pitt một thẻ giữ xe, nhưng trước khi anh ta lái đi, Pitt cúi xuống và nhìn đồng hồ đo tốc độ.

“Thưa ông, có gì không ổn ạ?” anh ta hỏi.

“À, tôi chỉ xem tổng số dặm đã đi thôi mà”, Pitt trả lời và ném cho gã thanh niên một ánh mắt hiểu biết.

Giấc mơ lấy chiếc xe bảnh bao của Pitt để đánh một vòng, trong lúc chủ nhân của nó bận ăn tối, của anh ta phút chốc tan biến. Anh chàng chậm rãi lái chiếc xe vào bãi và đậu nó gần một chiếc Bentley.

St. Cyr là một nhà hàng không lạ gì đối với giới thượng lưu. Được xây dựng theo kiểu nhà gạch thuộc địa thế kỷ mười tám, chủ nhân của nó từ Pháp đến Washington theo đường từ Cannes và Paris, sau khi được hai tay cự phú từ Washington sang Pháp du lịch, thưởng thức những món ăn và rượu vang của ông ta, và thuyết phục ông ta sang Mỹ lập nghiệp. Phòng ăn được trang trí với màu xanh thẳm và vàng, theo phong cách Moroccan. Số bàn ăn không vượt quá con số mười hai, được sáu hầu bàn và bốn lái xe phục vụ. Thứ khiến Pitt đặc biệt ưa thích tại St. Cyr là độ vang của âm thanh. Với những bức màn và tường bằng gạch dày cộm, mọi tiếng động, kể cả những lời đàm thoại, đều bị hạn chế tối đa. Không như hầu hết những nhà hàng khác, trong đó người ta có thể nghe những gì người ngồi bàn bên cạnh nói, và đủ thứ tiếng động làm mất cảm giác thích thú trước những món ăn ngon lành.

Sau khi ngồi tại một bàn ăn trong một góc kín đáo do người quản lý nhà hàng sắp xếp, Pitt hỏi Loren, “Vang hay sâm banh?”

“Sao lại hỏi kìa?” Cô nói. “Anh quá biết khẩu vị của em mà”.

Pitt gọi một chai Martin Ray Cabernet Sauvignon rồi ngồi thư giãn trong cái ghế bọc da. “Trong lúc chờ đợi món ăn, tại sao em không nói cho anh biết em đã tìm được gì từ Tập đoàn Vận Hội?”

Loren mỉm cười, “Anh phải cho em ăn đã chứ”.

“Nhà chính trị lại thách đố rồi”, anh châm chọc.

Cô cúi xuống, mở cái hộp da và lấy ra nhiều tập hồ sơ. Cô kín đáo đưa những thứ đó qua dưới gầm bàn. “Tập đoàn Vận Hội rõ ràng không phải là một đoàn thể gây cảm tưởng thích thú trong những quan hệ công cộng hoặc những chương trình quảng cáo. Họ không bao giờ rao bán chứng khoán, hoàn toàn do dòng họ Wolf sở hữu trải qua ba thế hệ cho đến nay. Họ chẳng sản xuất thứ gì, cũng không phân phối hàng hóa và không có báo cáo lỗ lãi hàng năm. Họ không bao giờ có thể hoạt động một cách bí mật như thế tại Hoa Kỳ, châu Âu hoặc châu Á mà thiên hạ không hay biết gì. Hình như họ chỉ hoạt động mạnh và chỉ giao dịch với chính phủ Argentina, bắt đầu với Perons ngay sau khi Thế Chiến II kết thúc”.

Pitt đang đọc những trong đầu của tập hồ sơ thì hầu bàn mang rượu tới. Sau khi hầu bàn rót một lượng nhỏ vào ly anh, Pitt nhìn màu rượu, ngửi mùi và hớp một ngụm đầy. Anh không nuốt ngay thứ rượu Cabernet mà trộn nhẹ nó một vòng quanh vòm miệng trong mấy giây trước khi nuốt. Ngước mắt nhìn người hầu rượu, anh cười, “Tôi luôn ngạc nhiên vì mùi vị của một chai Martin Ray Cabernet Sauvignon”.

“Một sự chọn lựa tuyệt vời, thưa ông”, người hầu rượu nói. “Không có nhiều vị khách của chúng tôi biết tới thứ này”.

Pitt hớp một ngụm nữa trước khi tiếp tục đọc tập hồ sơ. “Có vẻ như Tập đoàn Vận Hội chỉ xuất hiện từ năm 1947”.

Loren ngắm chất lỏng màu đỏ trong ly rượu của cô. “Em thuê một người tìm đọc mọi tờ báo ấn hành tại Buenos Aires trong thời gian đó. Không một tin tức nào về gia tộc Wolf trong lĩnh vực kinh doanh. Người em thuê chỉ hỏi dò trong dư luận và nghe phong phanh là tập đoàn này có nguồn gốc từ những viên chức cao cấp của Đệ Tam Quốc xã đã đào thoát khỏi nước Đức trước khi người Đức đầu hàng”.

“Đô đốc Sandecker có nói về việc Quốc xã Đức đào thoát, cùng những tài sản ăn cắp của họ, bằng tàu ngầm tới Argentina trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến. Tập đoàn được Martin Bormann lãnh đạo”.

“Không phải ông ta bị giết trong lúc tìm cách trốn chạy khỏi chiến trận tại Berlin à?” Loren hỏi.

“Anh không tin lời tuyên bố bộ hài cốt được tìm thấy nhiều năm sau đó là của ông ta”.

“Em có đọc ở đâu đó về bí ẩn lớn nhất về cuộc chiến chưa giải thích được là sự biến mất toàn bộ tài sản của Đức Quốc xã. Không một dấu vết nào về đồng tiền Đức hoặc vàng được phát hiện. Có thể Bormann đã trốn thoát và đã lén lút chuyển số tài sản ăn cắp tới Nam Mỹ không?”

“Ông ta đứng đầu danh sách những kẻ bị nghi ngờ”, Pitt trả lời. Anh bắt đầu sàng lọc qua những giấy tờ trong tập hồ sơ, nhưng chẳng có gì thực sự đáng quan tâm. Hầu hết chỉ đơn thuần là những bài báo viết về những hoạt động kinh doanh của Tập đoàn Vận Hội không được phổ biến quá rộng rãi. Những phúc trình chi tiết nhất được tìm thấy trong một bản phân tích của CIA. Đó là bản kê khai những hoạt động và dự án khác nhau mà tập đoàn có can dự vào nhưng cũng không nói lên được điều gì.

“Hoạt động của họ có vẻ rất đa dạng”, Piti nói. “Họ khai thác mỏ rộng rãi để tìm đá quí, vàng, bạch kim và những kim loại quí hiếm khác. Công việc phát triển phần mềm máy vi tính của họ đứng hàng thứ tư trên thế giới sau Microsoft. Việc khai thác dầu hỏa cũng rất phát triển. Ngoài ra, họ còn dẫn đầu thế giới về kỹ thuật nano”.

“Em không rõ đó là gì”, Loren nói.

Trước khi Pitt kịp trả lời cô thì người hầu bàn đến gần để chờ lệnh họ. “Em thích dùng gì?” Anh hỏi.

“Em tin khẩu vị của anh”, cô dịu dàng nói. “Anh gọi cho em luôn”.

Pitt không muốn gọi món ăn bằng tiếng Pháp. “Chúng tôi dùng khai vị với pa tê gan trộn nấm, tiếp theo là vichyssoise. Còn món ăn chính thì quí cô đây sẽ dùng món thỏ nâu rượu vang trắng. Tôi sẽ thử món bánh mì ngọt với nước sốt bơ nâu”.

“Anh ăn bánh mì ngọt được à?” Loren hỏi, cô tỏ ra không ưa.

“Anh rất thích loại bánh mì ngọt ở đây”, Pitt nói. “Chúng ta nói tới đâu rồi nhỉ. A, phải rồi, kỹ thuật nano. Theo những gì anh biết ít ỏi về đề tài này thì kỹ thuật nano là một khoa học mới mẻ, nỗ lực kiểm soát sự sắp xếp của các nguyên tử, tìm hiểu cấu trúc thật của bất kỳ thứ vật chất nào theo luật tự nhiên. Sự điều chỉnh các phân tử trong cơ thể người sẽ trở thành hiện thực và sự sản xuất phân tử sẽ được thực hiện triệt để. Không một thứ gì mà người ta không thể sản xuất với giá thành rẻ và phẩm chất cao. Những máy móc cực nhỏ có thể tự tái sản xuất sẽ được lập trình để tạo ra nhiên liệu mới, các loại dược phẩm, kim loại và tạo ra những sản phẩm mà kỹ thuật thông thường không có khả năng làm được. Anh nghe nói những máy điện toán chủ yếu sẽ được chế tạo với một thể tích nhỏ chỉ bằng một phần ngàn một milimét khối. Kỹ thuật nano sẽ là trọng tâm phát minh của tương lai”.

“Em không thể bắt đầu tưởng tượng bằng cách nào điều đó sẽ xảy ra”.

“Theo như anh hiểu thì hướng nhắm tới sẽ là phát minh cái mà các chuyên gia kỹ thuật nano gọi là một loại máy tập hợp, một thứ robot siêu nhỏ với những cánh tay được điều khiển bằng máy vi tính. Loại máy này có thể theo dõi những vật thể lớn cực kỳ chính xác bằng những phản ứng hóa học được kiểm soát, từ phân tử này đến phân tử khác. Thậm chí chúng còn có thể được thiết kế để chúng tự tái sản xuất. Lý thuyết mà nói, người ta có thể lập trình các robot để chúng chế tạo một bộ đồ chơi golf từ những thứ kim loại chưa được khám phá, hoặc một máy truyền hình có hình dáng đặc biệt đáp ứng mọi loại phòng ốc, thậm chí mọi loại xe cộ và máy bay, kể cả nhiên liệu đặc biệt để vận hành chúng”.

“Nghe thú vị thật”.

“Chừng ba chục năm nữa, chắc chắn sẽ có nhiều phát minh làm người ta giật mình”.

“Đó cũng là dự án Tập đoàn Vận Hội nhắm tới tại Nam Cực”, Loren nói, cô dừng lại để uống một ngụm rượu. “Anh sẽ thấy điều đó trong hồ sơ 5-A”.

“Vâng, anh thấy rồi”, Pitt trả lời. “Một phương tiện rất hứa hẹn trong việc khai thác kim loại dưới biển. Họ phải là những người đầu tiên sẽ lợi dụng được nước biển để tìm ra những kim loại giá trị”.

“Có vẻ như những kỹ sư và nhà khoa học của Vận Hội đã triển khai được một thiết bị có khả năng tách rời vàng ra khỏi nước biển”.

“Liệu dự án đó có khả năng thành công?”

“Rất nhiều khả năng thành công”, Loren nói. “Theo những phúc trình lưu trữ của Thụy Sĩ mà CIA dò được - em đã thề với họ trên Thánh Kinh là thông tin này sẽ được hoàn toàn giữ kín - thì số vàng trong những hầm chứa tại các ngân hàng Thụy Sĩ của Tập đoàn Vận Hội có thể chất đầy pháo đài Knox”.

“Số vàng đó một khi được tung ra, chắc chắn sẽ làm giá vàng thế giới tụt xuống khủng khiếp”.

“Theo những nguồn tin của em, Tập đoàn Vận Hội đang tìm cách bán ra số vàng đó”.

“Họ tích trữ một lượng vàng nhiều như thế để làm gì nhỉ?”

Loren nhún vai, “Em chịu”.

“Có thể họ sẽ bán nhỏ giọt và kín đáo để giữ giá vàng ở mức cao. Nếu họ đột ngột làm tràn ngập thị trường với hàng tấn vàng thì lợi nhuận của họ sẽ đổ xuống sông xuống biển”.

Người hầu bàn mang món pa tê gan trộn nấm đến. Loren cho một nĩa đầy vào miệng và lộ vẻ hài lòng. “Tuyệt lắm”.

“Ờ, ngon thật”.

Họ thanh toán món ăn trong im lặng cho tới miếng cuối cùng trước khi Loren tiếp tục câu chuyện. “Dù CIA đã thu thập khá nhiều dữ liệu về những hoạt động của Tân Đức Quốc xã sau chiến tranh, họ vẫn không tìm ra chứng cứ về một âm mưu bí mật nào liên quan tới Tập đoàn Vận Hội hoặc gia tộc Wolf”.

“Tuy nhiên, những gì hồ sơ này cho thấy”, Pitt nói, vừa cầm lên một xấp giấy tờ, “thì rõ ràng là những tài sản bọn Quốc xã Đức đã ăn cắp từ những kho tàng của Áo, Bỉ, Na Uy, Pháp và Hà Lan cùng với số vàng và các nguồn tài chánh của người Do Thái đều được lén lút chở tới Argentina trong những tàu ngầm sau khi chiến tranh kết thúc”.

Loren gật đầu, “Hầu hết số vàng và tài sản có giá trị đều biến thành tiền được lưu hành tại nhiều nước, sau đó được phân phối qua các ngân hàng trung ương”.

“Vậy chủ những trương mục đó là ai?”

“Còn ai khác? Đó là Tập đoàn Vận Hội, ngay sau khi nó được hình thành năm 1977. Điều lạ lùng là không có một ghi chép nào cho thấy một thành viên của gia tộc Wolf nằm trong những ban giám đốc vào những năm đầu tiên”.

“Chắc chắn chúng chỉ lộ mặt sau đó”, Pitt nói. “Anh tự hỏi là tại sao dòng họ Wolf lại bị hất cẳng khỏi Đức Quốc xã cũ là lực lượng thống trị nước Đức năm 1945”.

“Câu hỏi rất hay”, Loren tán đồng. “Hơn năm mươi bốn năm trước, đế quốc Vận Hội lớn mạnh tại bất kỳ nơi nào có những ngân hàng và chính phủ đầy quyền lực và ảnh hưởng đến một mức độ khó tưởng tượng. Và họ chọn Argentina. Một trong những phụ tá của em được một người cung cấp tin tức có một lượng tiền cực lớn đã chảy vào ngân sách dành cho chiến dịch chính trị của Quốc hội chúng ta. Đó có thể là lý do tại sao không có chuyện thanh tra cấp chính phủ về Tập đoàn Vận Hội xảy ra trên thế giới”.

“Những cái vòi của chúng cũng vươn tơi tận những túi áo túi quần của những thượng nghị sĩ và dân biểu Quốc hội đáng kính của chúng ta, và nhiều người khác phục vụ tại Nhà Trắng”.

Loren đưa cao cả hai tay lên. “Đừng có nhìn em. Em chưa bao giờ biết đi đêm với một thành viên Vận Hội nào để gây quĩ cho mình”.

Pitt ném cho cô một cái nhìn rất cáo già, “Thật chứ?”

Cô đá anh dưới gầm bàn. “Dẹp chuyện đó đi. Anh biết quá rõ là em không bao giờ làm điều đó mà. Em vẫn là một trong những thành viên được kính trọng nhất Hạ viện đấy”.

“Có thể em là người tốt nhất, nhưng những đồng sự đáng kính của em không hiểu em như anh đâu”.

“Chán anh quá”.

Những bát súp vichyssoise được mang ra và họ cùng thưởng thức xen kẽ những ngụm rượu Martin Ray Cabernet. Chất nước vang tuyệt hảo chẳng mấy chốc chạy rần rần trong huyết quản và làm dịu đầu óc họ. Và người hầu bàn lịch lãm luôn ở gần đó để châm đầy những cái ly của họ.

“Đã bắt đầu có vẻ như bọn Quốc xã Đức không tiếp tục thực hiện hàng loạt những vụ giết người, những vụ hủy diệt và gây chiến tranh như trước, mà chúng chuyển hướng sang các hoạt động thuộc quyền lực kinh tế”, Loren nói.

“Thống trị thế giới là chuyện của quá khứ”, Pitt nói. “Những lãnh tụ Trung Hoa còn có thể có ý nghĩ đó trong đầu, nhưng khi nền kinh tế của họ tạo cho đất nước họ trở nên một siêu cường, họ sẽ nhận thức rằng một cuộc chiến chỉ mang lại đổ vỡ. Từ khi khối Liên Xô sụp đổ, những cuộc chiến lớn của tương lai sẽ là kinh tế. Gia đình Wolf hiểu rằng quyền lực kinh tế cuối cùng sẽ dẫn tới quyền lực chính trị. Họ cần mua những tài nguyên đủ loại của bất kỳ ai. Câu hỏi duy nhất là họ phải đi theo hướng nào”.

“Anh có moi được điều gì từ người phụ nữ anh tóm được đêm qua không?”

“Chỉ biết được ngày đen tối đó sắp xảy ra nay mai thôi, và tất cả loài người - chỉ trừ dòng họ Wolf, tất nhiên - sẽ bị quét sạch, khi một sao chổi đâm vào Trái Đất”.

“Anh không tin chứ?” Loren hỏi.

“Còn em?” Pitt hỏi với giọng hoài nghi. “Một ngàn ngày u ám đến và đi với ít biến động hơn chẳng khác gì một trận mưa rào qua đi. Tại sao bọn Wolf lại gieo rắc một huyền thoại như thế? Với anh, đó vẫn còn là một ẩn số”.

“Và lý do cơ bản của chúng là gì?”

“Là những tiên đoán của một chủng tộc người cổ đại có tên là Amenes”.    

“Anh không thể nghiêm túc sao?” Cô nói với vẻ bối rối. “Một dòng họ giàu có và sắc sảo như bọn Wolf mà lại chấp nhận một truyền thuyết của một chủng người đã mất tích từ nhiều ngàn năm trước ư?”

“Đó là những gì được mô tả từ những chữ khắc trong những căn hầm bọn anh phát hiện tại Ấn Độ Dương và bang Colorado”.

“Đô đốc Sandecker có trình bày sơ lược về những khám phá của các anh khi ông ấy điện đàm với em trước khi em đến đón anh tại phi trường, nhưng anh chưa cho em biết gì về những phát hiện của các anh”.

Pitt phác một cử chỉ thất vọng, “Anh chả có dịp nào cả”.

“Liệu em có nên đặt những câu hỏi theo thứ tự không?”

“Trước khi chuẩn bị gặp thượng đế của mình, em phải đợi cho tới lúc các nhà thiên văn học theo dõi được hành trình của những tiểu hành tinh và sao chổi đã chứ”.

Những dĩa xúp được dọn đi và món ăn chính được đặt lên bàn. Cả hai thứ thỏ nấu rượu và bánh mì ngọt trông thật quyến rũ. Pitt và Loren biết trước họ sẽ được thỏa mãn khẩu vị. Và họ không thất vọng.

“Món thỏ nấu rượu đúng là một chọn lựa tuyệt vời”, cô nói giữa hai lần ăn ngồm ngoàm. “Ngon không chê được”.

Vẻ hài lòng hiện ra trên nét mặt Pitt. “Khi được phục vụ bằng loại bánh mì ngọt tuyệt hảo này, anh nghe như có tiếng chuông kêu mỗi lần cắn vào nó. Món nước sốt đúng là một chiến công”.

“Anh dùng thử món thỏ của em xem”, Loren nói và đưa cái dĩa của cô lên.

“Còn em cũng nếm thử món bánh mì ngọt của anh chứ?”

« Lùi
Tiến »