“A Di Đà Phật… Nhanh lên một chút…” Dưới địa đạo sâu hun hút vang lên tiếng thúc giục của Huyền Trang.
Hai người khom lưng chạy như bay trong địa đạo chật hẹp, không phải chạy vào trong mà là chạy ra ngoài.
Nửa canh giờ trước, hai người theo mật đạo này lẻn vào nội trạch huyện nha. Địa đạo này được đào cực kỳ bí ẩn, từ dưới đất chạy lên đến góc tường ở đầu hồi nhà. Đầu hồi là tường chịu lực, bình thường tương đối dày, tuy nhiên phần đầu hồi cách mặt đất một thước lại có thể di chuyển được. Từ trong tường có cơ quan điều khiển, chỉ cần kéo tay cầm, một cánh cửa bí mật cao chừng một thước, rộng một thước rưỡi sẽ lặng lẽ hạ xuống dưới đất, cửa hầm ngầm được mở ra.
Nhưng Huyền Trang lại không dám kéo tay cầm. Ngài hoàn toàn không nghĩ tới cuối đường hầm lại là phòng ngủ trong nội trạch huyện nha! Nghe nội dung cuộc đối thoại vừa kiều diễm ướt át vừa vô cùng đáng sợ trong phòng ngủ, mồ hôi trên người Huyền Trang chảy ròng ròng, bàn tay nắm tay cầm không ngờ lại khẽ run rẩy. Chuyện cũ trước kia bỗng nhiên hiện lên trước mắt, lượn lờ như mây khói, ngài đột nhiên hiểu rõ nguồn cơn của tất cả mọi chuyện…
“Đại sư!” Ba La Diệp cũng toát mồ hôi đầy đầu, thì thầm nói: “Trong phòng, không có người nữa. Chúng ta, đi vào chứ?”
Huyền Trang lại lắc đầu: “Quay về.”
“Cái gì?” Ba La Diệp cho rằng mình nghe nhầm.
“Về chùa Hưng Đường.” Huyền Trang nói: “Tất cả mọi đáp án đều ở chùa Hưng Đường, thảo nào bần tăng vừa tới Hoắc Ấp, Lý phu nhân đã nhiều lần khuyên ta rời khỏi đây. Mức độ nghiêm trọng của âm mưu này chỉ sợ ngươi và ta không thể nào tưởng tượng nổi.”
“Rốt cuộc có, âm mưu, gì?” Ba La Diệp không nhịn được hỏi: “Đại sư, ngài, tra rõ, rồi à?”
Trong bóng tối, Ba La Diệp không nhìn thấy khuôn mặt Huyền Trang nhưng vẫn có thể cảm thấy đôi mắt ngài trở nên thâm trầm. Lúc này hắn vẫn còn đang như lạc trong sương mù, càng đến gần càng có cảm giác nhìn không rõ, nhưng áp lực đáng sợ này khiến cả người hắn nóng rực.
“Trong chùa Hưng Đường, cơ quan mật, sương mù, cạm bẫy trùng trùng. Nếu hoàng thượng vào ở trong chùa này…” Cả người Huyền Trang nhịn không được run rẩy: “Hậu quả này, Quách Tể không chịu nổi, Phật môn chúng ta không chịu nổi, Đại Đường càng không chịu nổi.”
Ba La Diệp cũng run lên, trong địa đạo yên tĩnh đáng sợ, chỉ có tiếng thở gấp gáp nặng nề của hai người.
“Đi! Quay về chùa Hưng Đường!” Huyền Trang cắn răng nói: “Chúng ta nhất định phải thám thính được những bí mật cốt lõi của âm mưu này để ngăn cản bọn họ!”
Hai người không dám kéo dài thời gian, dùng cả tay lẫn chân bò quay lại, bò nửa canh giờ mới ra đến miệng giếng trong miếu thổ địa rồi trèo lên trên mặt đất. Vừa lên đến nơi, hai người lập tức cởi dây cương, hai chân kẹp lưng ngựa, tiếng vó nặng nề vang lên trong bóng đêm, hai thớt ngựa phi nhanh theo con đường cũ.
Trên đường đi hai người đều yên lặng, mỗi người đều theo đuổi suy nghĩ của riêng mình.
“Đại sư!” Ba La Diệp cuối cùng không nhịn được, đánh ngựa chạy lên song song với Huyền Trang, lúng túng nói: “Nếu, ta nói, là nếu, âm mưu của, Không Thừa là, đối phó hoàng đế, ông ta sẽ, nhận được, trừng phạt gì?”
“Trừng phạt gì à…?” Huyền Trang cười khổ: “Ở triều đại này, việc đó gần như là mưu phản, còn sẽ có trừng phạt gì nữa? Tội mưu phản này truy cứu tới mức độ nào kỳ thực còn phải xem tâm tình của hoàng thượng. Nhẹ thì chém đầu thủ phạm, nặng thì liên lụy cả người trong nhà, hơn nữa là tru di cửu tộc… Phật môn cũng sẽ gặp đại nạn.”
“Vậy, nhị ca của ngài, đồng mưu trong đó, sau khi ngài xuất gia, còn tính là… người nhà, của ông ấy không?” Ba La Diệp hỏi.
Huyền Trang ngẩn ra. Theo đạo Phật, tăng nhân xuất gia chính là đoạn tuyệt trần duyên, quan hệ với gia quyến ở thế tục cũng sẽ không còn tồn tại. Luật Đường quy định: “Nhập đạo, là đạo sĩ, nữ quan, tăng ni… Từ đạo sĩ trở xuống, nếu phạm mưu phản, đại nghịch, gia quyến không bị liên đới, tội dừng tại bản thân.” Có nghĩa gia quyến có tội, tăng ni không bị liên đới.
Nhưng vấn đề là từ thời Tùy Đường tới nay, tăng nhân đề cao đạo hiếu, quan hệ với gia quyến thực chất vẫn không cắt đứt hoàn toàn, thậm chí có một số người còn giữ quan hệ rất mật thiết với gia quyến. Vì vậy vấn đề này có chút mâu thuẫn, khi xử lý cũng có khác biệt rất lớn.
Huyền Trang lặng lẽ thở dài, không nói một lời. Ba La Diệp biết lời này của mình khiến ngài rất phiền muộn, cũng không khỏi ngượng ngùng. Hai người không nói gì nữa, ra sức thúc ngựa, tiếng vó vang dội trở lại viện Phi Vũ dưới vách núi.
“Đại sư, chúng ta, lại từ nơi này, đi lên à?” Ba La Diệp hỏi.
Huyền Trang gật đầu: “Cửa chùa đã đóng, chỉ có thể đi từ đây lên. Ngựa cũng phải trả lại.”
“Vậy hai, người đó, làm thế nào?” Ba La Diệp nhỏ giọng hỏi: “Mặc dù ngài, đã cảnh cáo, bọn chúng, không được tiết lộ, nhưng mà, nhỡ có sơ suất, thân phận, của chúng ta, bị lộ thì sao?”
Huyền Trang nhíu mày, một hồi lâu sau mới nói: “Trông chờ may mắn vậy!”
Viện Phi Vũ vẫn yên lặng như tờ, không hề có người nào đi lại. Hai người dắt ngựa vào viện, Ba La Diệp dắt hai con ngựa đến chuồng buộc lại, trong mắt chợt lóe sáng, nói nhỏ: “Đại sư, ta vẫn cảm thấy, không ổn. Chuyện, chúng ta cần làm, cực kỳ trọng đại. Sao có thể, vì sơ hở này, mà để sụp đổ, được?”
“Ngươi có đề xuất gì?” Huyền Trang bình tĩnh nhìn hắn.
Ba La Diệp đưa tay làm động tác hùng hổ chém xuống. Huyền Trang lạnh lùng nói: “Cấm sát sinh chính là giới luật đầu tiên của Phật môn. Ta là tăng nhân, nếu phá giới này, sau khi chết phải xuống Địa ngục A tì!”
“Nhưng…” Ba La Diệp sốt ruột: “Chúng ta làm vậy, là vì, cứu vãn Phật môn, cứu vãn tính mạng, của vô số người! Thậm chí, là cứu hoàng đế!”
Huyền Trang không hề suy chuyển, lạnh nhạt nói: “Giết một người mà cứu vạn người là việc của anh hùng, bần tăng không phải anh hùng. Còn hoàng đế và nô bộc ở trong mắt bần tăng không có gì khác nhau. Việc này ba phần do người, bảy phần là ý trời. Ngươi tạo sát nghiệt, thần phật không phù hộ, làm sao còn có thể phá được âm mưu động trời này?”
Ba La Diệp không biết làm sao, suy nghĩ một lát bỗng nói: “Vậy để, ta vào trong phòng, xem hai người, bọn chúng. Đánh thêm, một cái, để bọn chúng, ngủ lâu hơn!”
Huyền Trang bình tĩnh nhìn hắn: “Người làm việc, trời đang nhìn. Ngươi đừng hòng giết người trước mặt bần tăng!”
Ba La Diệp ngớ ra, một cảm giác thất bại bỗng dưng dâng trào. Vị hòa thượng này tại sao lại tinh tường như vậy? Dường như có thể nhìn thấu lòng người, mấy trò khôn vặt của mình bày ra trước mặt ngài quả thực chỉ cần chọc nhẹ là lộ ngay.
Hắn đành phải bất mãn đi theo Huyền Trang tới hậu viện, chiếc lồng ngồi vẫn còn ở đó. Hai người ngồi vào trong lồng, Huyền Trang tìm kiếm một lát, phát hiện bên cạnh chỗ lồng ngồi có một tay cầm. Ngài đưa tay kéo một cái, chiếc lồng ngồi hơi chấn động, dây cáp phát ra tiếng kêu ken két, hai chiếc bánh răng to lớn bên trên ma sát vào nhau rồi chậm rãi quay tròn. Chiếc lồng ngồi từ từ đi lên cao do lực kéo của dây cáp trên đỉnh đầu.
“Thứ cơ quan mật này đúng là thần kỳ.” Huyền Trang không ngừng than thở: “Không ngờ lại có thể kéo chiếc lồng nặng như vậy lên trên đỉnh núi cao trăm trượng.”
“Động lực của nó, có lẽ là, đến từ, chong chóng, trên đỉnh núi.” Ba La Diệp cũng ngạc nhiên không thôi.
Huyền Trang gật đầu: “Còn cả dòng nước dưới khe núi nữa. Lần trước nghe hòa thượng ở Tàng Kinh Các đó nói, bần tăng còn cảm thấy nghi hoặc. Những chiếc chong chóng quy mô lớn như vậy mà chỉ dùng cho Hương Tích Trù xay bột mì thì thật quá lãng phí, nhưng không ngờ mục đích chính của nó lại là cung cấp động lực cho chiếc lồng ngồi này. Hệ thống cơ quan mật khổng lồ như vậy, mưu lược thật quá mức sâu xa, xem ra mưu đồ của Không Thừa không nhỏ!”
“Bọn chúng, muốn ám sát, hoàng đế, sao?” Ba La Diệp hỏi.
Huyền Trang chậm rãi lắc đầu: “Khó mà nói được. Bởi vậy, chúng ta cần làm rõ, xem mục đích của họ là gì, có những bố trí nào, sau đó tùy cơ hành động. Nhưng có một điều…” Huyền Trang nhìn hắn, ánh mắt cực kỳ nghiêm khắc: “Bần tăng bất kể thân phận của ngươi là gì, cũng không để ý đến mục đích của ngươi, nhưng có một điều giới luật ngươi nhất định phải nhớ: Không cho phép giết người!”
“Đại, đại sư!” Ba La Diệp kinh ngạc, mồm miệng há hốc làm thế nào cũng không ngậm lại được.
“A Di Đà Phật.” Huyền Trang thản nhiên nói: “Kim Cương Kinh đã nói, khách trần như đao, ngươi sống trong trần thế này, bất kể nhiễm phải thứ gì cũng không sao cả. Một năm trước ngươi giả ý theo bần tăng, bất kể có mục đích gì cũng không sao, nhưng mà không được giết người, đây là giới hạn cuối cùng của bần tăng.”
Ba La Diệp trán toát mồ hôi, không phải vì sợ độ cao, cũng không phải vì hành trình đằng đẵng tối tăm men theo vách núi này, mà bởi vì vị tăng nhân ánh mắt trong suốt, vẻ mặt bình thản trước mặt này.
“Đại sư phát hiện ra bí mật của ta từ bao giờ?” Vẻ mặt Ba La Diệp bình tĩnh trở lại, trên khuôn mặt chất phác thành thật lại xuất hiện một vẻ khôn ngoan, lời nói cũng không còn lắp bắp nữa mà lưu loát vô cùng.
“Rất sớm.” Huyền Trang cười cười: “Ngay từ khi ngươi bắt đầu theo ta, bần tăng đã hoài nghi. Mặc dù bần tăng không hiểu nhiều về phong tục nước Thiên Trúc, nhưng cũng biết trong bốn giai cấp chính thì địa vị của thú đà la rất thấp, không khác nô lệ là bao. Nước Thiên Trúc còn chưa giàu có và văn minh đến mức ngay cả nô lệ cũng được học chữ đọc sách, thông hiểu kinh luận, hơn nữa còn có thể tu luyện thuật Du Già cao thâm. Ngươi còn niệm ‘Già Ma kinh’ cho Lục La nghe, ngay cả kinh văn rắc rối như vậy ngươi còn thuộc lòng, đúng là ngươi đã quá sơ suất rồi.”
Đôi môi dày của Ba La Diệp run run, lộ ra nụ cười gượng gạo: “Chuyện gì cũng không thể giấu được tuệ nhãn của đại sư. Có điều ngài muốn học tiếng Phạn, ta biết phải làm thế nào? Dù muốn cũng không thể giả vờ không biết chữ, nếu ta dốt đặc cán mai, đại sư không cho ta theo nữa thì làm thế nào?”
Huyền Trang bật cười: “Không sai, đối với ngươi mà nói thì đây đúng là một việc rất khó giải quyết.”
“Còn gì nữa không?” Ba La Diệp lạnh lùng hỏi.
“Còn. Lúc ngã xuống vực ở miếu phán quan, ngươi gọi ta, đột nhiên nói rất lưu loát.” Huyền Trang nghiêm túc nói: “Mặc dù chỉ một câu, nhưng cũng đủ để làm ngươi bị lộ rồi.”
“Ơ…” Ba La Diệp nhớ lại, liên tục lắc đầu: “Không ngờ trong tình hình nguy cấp lúc đó, đại sư vẫn còn có thể chú ý tới chi tiết nhỏ này. Còn gì nữa không?”
“Còn. Thứ mê hương đó cực kỳ lợi hại. Khi đó bần tăng như đang ở chốn cực lạc, mà ngươi lại có thể thoát ra được, hơn nữa còn nhận biết được thành phần của nó có mạn đà la và cần sa. Một người như vậy sao có thể là một nô lệ bỏ trốn được?” Huyền Trang cười nói: “Sơ hở lớn nhất là ở quán trà dưới chân núi Hoắc, sau khi nghe nói xây dựng chùa Hưng Đường mất ba vạn quan, ngươi nói với ta, ba vạn quan ngang với thuế thu cả năm của tám huyện trong Tấn Châu. Chẳng lẽ ngươi không nghĩ qua, một nô lệ Thiên Trúc bỏ trốn lang bạt tại Đại Đường làm sao có thể biết được thuế thu hàng năm của một châu là bao nhiêu? Ngươi còn nói với ta, lương tháng của huyện lệnh Thôi Giác chính xác là hai quan một trăm tiền, nếu không phải bần tăng nghe Lý phu nhân nói thì chính bần tăng cũng không biết điều đó.”
Ba La Diệp nhìn trân trối, một hồi lâu mới lẩm bẩm nói: “Xem ra quá coi trọng nhiệm vụ cũng không tốt, đều tại ta học bài quá kỹ…”
“Thật ra, ngươi để lộ rất nhiều sơ hở.” Huyền Trang nói: “Thí dụ như mỗi đêm ngươi đều lén ra ngoài, ngươi nói với ta là đi theo dõi Không Thừa. Nhưng việc làm này không hợp với thân phận của ngươi. Ngươi chỉ là một nô lệ Thiên Trúc bỏ trốn, cần kiếm miếng cơm ăn, cho dù Không Thừa có nhiều điểm đáng ngờ hơn nữa thì cũng chẳng quan hệ gì tới ngươi cả?”
“Nhưng ta luôn thể hiện là mình rất tò mò cơ mà?” Ba La Diệp vẫn không chịu nhận thua.
“Nhưng có một vài tối Không Thừa đến phòng ta nói chuyện tu thiền”, Huyền Trang đáp.
Ba La Diệp không nói được gì nữa.
Chiếc lồng ngồi phát ra tiếng ma sát ken két, từ từ chạy lên cao trong vách núi tối tăm. Thỉnh thoảng có gió lạnh trong khe núi thổi tới, chiếc lồng lắc lư gần như sắp va vào vách núi. Nếu xảy ra va chạm, chiếc lồng ngồi bằng gỗ này sẽ vỡ tan, hai người rơi xuống vực sâu tối tăm, thịt nát xương tan. Nhưng hai người ai cũng không hề quan tâm, nắm chặt tay nắm trên vách lồng, ánh mắt sáng rực nhìn chằm chằm đối phương.
“Bây giờ có thể nói được chưa?” Huyền Trang hỏi: “Ngươi rốt cuộc là ai? Mang theo sứ mệnh gì? Vì sao phải theo ta?”
Ba La Diệp yên lặng một hồi lâu, chợt hỏi ngược lại: “Đại sư, ta có thể hỏi ngài một câu hay không? Vì sao ngài biết thân phận của ta đáng ngờ, mục đích không trong sáng mà vẫn để ta đi theo?”
“Mắt thấy tai nghe vốn lẽ thường, một tầng tuyết lại một tầng sương…” Huyền Trang thở dài nói: “Sống ở trên đời này, ai chẳng có mục đích? Ai không có những chuyện không thể nói với người khác? Chính bần tăng cũng vậy, nhị ca Trường Tiệp là một ma chướng trong lòng ta, tới tìm nhị ca làm sao ta có thể nói cho người khác biết? Một dòng suối từ trên núi chảy xuống, hòa vào sông rộng, mục đích của nó là biển rộng sông dài, lại không ngại tiện đường tưới tắm cho đất đai nó chảy qua, cùng với con sâu cái kiến sống trên những vùng đất đó.”
Trong lòng Ba La Diệp đột nhiên thấy cảm động, hắn lại hỏi: “Nhưng mà, chẳng lẽ đại sư không sợ ta gây bất lợi cho ngài sao?”
“Bần tăng cũng đã nghĩ rồi. Nhưng trên người bần tăng không có tiền tài, lại chưa từng làm việc ác nào, không sợ ngươi gây bất lợi cho ta.” Huyền Trang thản nhiên đáp: “Điều ta hoài nghi nhất là mục đích của ngươi hẳn cũng là tìm Trường Tiệp, hoặc vì tư thù, hoặc vì việc công. Nếu là tư thù, bần tăng cũng không có cách ngăn cản, nhân quả tuần hoàn, báo ứng tự chịu, Trường Tiệp cũng phải đối mặt. Nếu là việc công, vậy thì càng không vấn đề gì, Trường Tiệp đã phạm tội nghiệt, đương nhiên phải chịu sự trừng phạt của luật pháp nhân gian. Bần tăng không dám bởi vì tư tình mà hủy đi thiên đạo nhân luân.”
Ba La Diệp nghiêm nghị chắp tay: “Tâm của đại sư như trời quang trăng sáng, quang minh lỗi lạc, khiến tiểu nhân xấu hổ vô cùng. Tiểu nhân quả có mang sứ mệnh riêng, thân phận của tiểu nhân đúng là có bí mật khác, nhưng lại không thể nói với đại sư. Chờ đến lúc hoàn thành sứ mệnh, tiểu nhân nhất định sẽ nói rõ với ngài, không hề có chút gì giấu giếm.”
Huyền Trang gật đầu: “Đã vậy thì bần tăng cũng không ép ngươi. Đúng rồi, ngươi không giết ta nữa à?”
“Làm gì có chuyện đó?” Ba La Diệp trợn mắt.
“Đao của ngươi đã ra khỏi vỏ một nửa, cẩn thận kẻo lại đứt tay.” Huyền Trang chỉ chỉ vào ngực hắn.
Ba La Diệp cúi xuống, lập tức hết sức khó xử. Vừa rồi quá căng thẳng, hắn bất giác rút đoản đao giấu trong ngực ra. Hắn vội vàng đẩy vào, không ngờ động tác hơi mạnh, đúng lúc một luồng gió thổi đến, chiếc lồng ngồi lắc lư, hai người ngã chồng lên nhau.
Ba La Diệp lúng túng đứng dậy, hai người nhìn nhau cười, sau đó không hẹn mà cùng lắc đầu thở dài.
“Đại sư!” Ba La Diệp nghiêm nghị nói: “Tiểu nhân cam đoan với ngài tuyệt đối sẽ không giết một người nào!”
“Ta tin ngươi!” Huyền Trang đáp ngắn gọn.
Lúc này chiếc lồng ngồi đã dừng lại vững vàng bên cạnh thiền viện của Không Thừa. Bây giờ là cuối giờ dần, đầu giờ mão, trăng khuyết nghiêng nghiêng phía trời tây, bị kẹp giữa tầng mây và đỉnh núi, xung quanh càng u ám thê lương. Trong thiền viện im lìm không một tiếng động, Không Thừa chưa về, các đệ tử vẫn còn đang ngủ say. Hai người men theo bờ tường đi về, thậm chí còn nghe thấy tiếng ngáy từ trong phòng vọng ra.
“Đại sư, nhân lúc Không Thừa chưa về, chúng ta vào trong phòng hắn xem xét, được không?” Ba La Diệp đột nhiên nảy ra một ý tưởng táo bạo.
Huyền Trang nhìn hắn một cái, thực sự cũng bị dao động. Thiền phòng của Không Thừa tất nhiên là cơ mật trong cơ mật, không biết chừng trong đó còn chứa toàn bộ kế hoạch. Hai người nhỏ giọng bàn bạc, sau đó lặng lẽ men theo cửa sổ sương phòng đến bên ngoài thiền phòng của Không Thừa. Nghe tiếng thở thì sương phòng hai bên có bốn đệ tử đang ngủ, nhưng phòng chính lại lặng yên không một tiếng động.
Trong căn nhà không có người, lại cài then cửa bên trong. Ba La Diệp rút đoản đao từ trong ngực ra. Thanh đoản đao này hình dáng kỳ lạ, hoa văn trên mặt đao giống như vân lụa, lưỡi đao mỏng như tờ giấy. Hắn cắm đoản đao vào khe cửa, nhẹ nhàng nâng lên. Then cửa cạch một tiếng mở ra. Hắn hé cửa lách, người vào, Huyền Trang cũng theo phía sau.
Hai người nhẹ nhàng khép cửa lại. Trong nhà tối đen như mực, hai người cũng không dám đánh lửa, đành phải lục lọi trong bóng tối. May mà thiền đường này bố trí giống hệt như ở viện Bồ Đề, ở giữa là Phật đường thờ tượng Thích Ca Mâu Ni, phía bên phải được ngăn cách bởi một tấm bình phong, dường như thư phòng, có rất nhiều cuốn kinh. Bên trái là phòng ngủ của Không Thừa, bày biện rất đơn sơ, bên trong có một chiếc giường với màn bằng vải thô.
Huyền Trang đưa tay phân công công việc, ra hiệu cho Ba La Diệp đi đến phòng ngủ, Ba La Diệp gật đầu làm theo. Huyền Trang vào thư phòng xem xét, không khỏi cảm thấy rầu rĩ. Kinh thư trên giá đều là dạng cuộn, phải có đến hàng ngàn cuộn, bên ngoài bọc bằng vải thô. Mà tuyệt đại đa số kinh văn đều được viết bằng tay, có một số chữ viết ẩu, trong phòng rất tối, nên chữ viết trên đó gần như không thể đọc được.
Huyền Trang quan sát thật kỹ, đột nhiên nhìn thấy trên vỏ bọc bằng vải thô của một cuộn lờ mờ có mấy chữ chùa Hưng Đường. Ngài vui mừng, vội vàng cầm lên, đi tới cửa sổ căng mắt xem. Thấy bên trên là một hàng chữ to ‘Tổng thể xây dựng chùa Hưng Đường’. Ngài bỏ lớp vải ra, bên trong là một cuộn thư viết tay, chất liệu là giấy sợi đay Ích Châu loại tốt nhất, trắng tinh trơn nhẵn, mỏng mà rất dai. Huyền Trang rất quen với cảm giác này, chỉ cần sờ là có thể biết được.
Nhưng trong phòng quá tối, chữ trên đó không thể đọc được, chỉ có thể nhìn thấy những hình thù màu đen. Huyền Trang chán nản, tiện tay mở ra, đột nhiên lại kích động, trong cuộn thư này còn kẹp một tờ giấy!
Ngài vội vàng rút tờ giấy đó ra. Tờ giấy này dài đến hai thước, trên đó không có bao nhiêu chữ mà vẽ nhiều đường nét chằng chịt. Có đường thẳng, có hình vuông, có nét đứt, có vòng tròn, kết cấu phức tạp.
“Chẳng lẽ đây chính là toàn bộ bản đồ của chùa Hưng Đường?” Ngài đột nhiên nhớ tới mật đạo mà Lục La đã từng nói, tim lập tức đập thình thịch.
Đúng lúc này Ba La Diệp khẽ gọi: “Đại sư, có phát hiện!”
Âm thanh của hắn hơi run rẩy. Huyền Trang không kịp nghĩ nhiều, cuộn tờ giấy lại nhét vào trước ngực, sau đó cuộn cuốn thư lại, cho vào vỏ thả lại chỗ cũ, mới hết sức thận trọng đi tới phòng ngủ: “Phát hiện gì?”
Ba La Diệp từ trên giường của Không Thừa chui ra, trong đôi mắt hắn toàn là vẻ sợ hãi: “Ta tình cờ mở một cánh cửa bí mật ra, tường bên trong giường chuyển động được, trong này có một căn phòng bí mật.”
Huyền Trang nghe vậy bước lên trên giường, quả nhiên trên bức tường phía trong giường lộ ra một địa đạo tối om. Ba La Diệp cẩn thận đỡ ngài đi vào: “Bên trong rất nông, có lẽ còn sâu hơn nữa nhưng ta không tìm được cách mở.”
Hai người theo bậc thềm đi xuống dưới, không bao lâu sau đã đến đoạn cuối. Bốn phía tối đen như mực, đưa tay không thấy năm ngón, thảo nào Ba La Diệp không tìm được cách mở. Hai người sờ soạng xung quanh, nhưng toàn bộ đều là vách tường. Huyền Trang đang định nói gì đó, đột nhiên ngài vấp chân vào một thứ, ngã xuống đè lên một người.
“Đại sư…” Tiếng kêu sợ hãi của Ba La Diệp từ một hướng khác vọng đến.
Ở đây có người!
Huyền Trang lập tức sợ đến mức lông măng dựng đứng, mồ hôi túa ra khắp người. Ngài luống cuống tay chân bò ra khỏi người đó, quát: “Ai?”
Ba La Diệp cũng cực kỳ hoảng sợ. Hai người nín thở chờ đợi một hồi lâu mà không thấy có ai trả lời.
“Đánh lửa lên.” Huyền Trang trầm giọng nói: “Nơi này là địa đạo, bên ngoài không nhìn thấy ánh sáng.”
Ba La Diệp lấy mồi lửa ra đánh lên, ánh sáng yếu ớt lập tức chiếu vào bốn vách tường. Hai người cúi xuống nhìn, lập tức kinh hãi, suýt nữa ngã xuống. Dưới đất quả nhiên có một người nằm sấp.
Người này mặc tăng bào, đầu trọc lốc, xem ra là một hòa thượng. Ba La Diệp lấy can đảm khẽ đá một cái, người đó không có phản ứng gì. Huyền Trang ngồi xuống nắm vai người đó lật lên, cảm thấy thân thể người này cứng đờ, lạnh không khác gì một tảng đá. Sau khi lật lại, khuôn mặt người đó lộ ra, gầy gò và đầy nếp nhăn, không ngờ lại là trụ trì chùa Hưng Đường, Không Thừa!
Mặc dù hai người có nghe Lục La nói nàng đã đâm chết Không Thừa, nhưng sau đó Không Thừa gần như ngày nào cũng gặp họ, ăn cơm, nói chuyện thiền, mở pháp hội, nên trong lòng hai người cũng cảm thấy nghi ngờ về lời nói của Lục La. Lúc này đột nhiên nhìn thấy lão hòa thượng mới gặp nhau lúc ban ngày giờ đang nằm trong mật thất, toàn thân cứng đờ, cả hai đều cực kỳ chấn động.
Hai người quan sát kỹ hơn, trước ngực Không Thừa đỏ sẫm, quả nhiên là bị Lục La đâm chết. Huyền Trang sờ sờ da mặt ông ta, cảm giác lạnh buốt, lại kéo kéo thử, thấy không hề đeo mặt nạ. Xem ra người này là Không Thừa thật sự.
Vậy còn Không Thừa hàng ngày vẫn gặp họ là ai?
Suy nghĩ này vừa xuất hiện, cả hai người đều không khỏi rùng mình một cái.
Đúng lúc này bên ngoài đột nhiên vang lên tiếng ken két rất nhỏ. Huyền Trang biến sắc mặt: “Không ổn, lồng ngồi lại khởi động rồi. Người đó sắp về!”
Hai người vội vã đặt thi thể Không Thừa về đúng tư thế cũ, tắt mồi lửa đi, ra ngoài địa đạo. Ba La Diệp khởi động thiết bị, một bức tường từ từ nhô lên, ghép lại với bức tường xung quanh hết sức kín kẽ. Huyền Trang cẩn thận dọn dẹp sạch sẽ, hai người lặng lẽ ra ngoài thiền phòng, theo đường cũ leo tường về.
Đến tận lúc này mới hoàn hồn.
Trong viện Bồ Đề, cây cối nghiêng bóng chập chờn. Tiếng suối nước nóng sủi bọt ùng ục càng khiến khung cảnh trở nên tĩnh mịch.
Đêm đó, lần đầu tiên hai người họ trải qua một chuyến đi đầy kịch tính, men theo vách núi, sau đó bám theo dấu vết trong đêm trăng, đi qua mật đạo quanh co khúc khuỷu vào hậu trạch huyện nha Hoắc Ấp… Tâm tình thay đổi liên tục, vô số bí mật được bật mí chỉ trong mấy canh giờ, căng thẳng lúc này mới được thả lỏng, nhưng lại cảm thấy cực kỳ mệt mỏi.
Nghỉ ngơi nửa canh giờ mới dần hồi phục lại, nhìn ra ngoài thì sắc trời đã lờ mờ sáng.
Ba La Diệp đi đun một ấm nước pha trà cho Huyền Trang. Khi ở Thiên Trúc, hắn chỉ uống nước lã, nhưng bây giờ cũng đã quen với cách hưởng thụ của người Đại Đường, duỗi chân ngồi trên bồ đoàn, hỏi: “Đại sư, ngài có phát hiện gì trong thư phòng không?”
Huyền Trang gật đầu, lấy bản vẽ từ trước ngực ra. Ba La Diệp phấn chấn tinh thần ngồi sát lại cùng xem. Bản vẽ này rất phức tạp, vẽ đầy mặt giấy dài hai thước, phía bên trái ghi dòng chữ: Sơ đồ thi công chùa Hưng Đường.
Phía sau là ghi chú mấy trăm chữ, các danh từ như trục quay, tay cầm, bánh răng, dây xích đều có ký hiệu, sau đó còn được đánh dấu. Chính giữa hình vẽ là một vật thể hình tròn giống như bánh răng, xung quanh có mười tám hình tròn sắp xếp không theo quy tắc nào cả, hai bên có đường thẳng, nét đứt, nét răng cưa nối với nhau, lại có vô số đường nét nối ra ngoài. Những đường này đều có ghi rõ chiều dài, độ cao.
Có thể là do tờ giấy không đủ rộng, nên trên những hình vẽ này cơ bản không có chữ viết nào rõ ràng, chỉ ghi chú bằng giáp ất bính đinh, tí sửu dần mão. Hai người nhìn mà không hiểu gì, xem ra thứ này nhất định còn phải đối chiếu với cuộn thư kia mới có thể hiểu được. Huyền Trang thực sự hối hận, sớm biết thế này ngài đã lấy luôn cả cuốn ‘Tổng thể xây dựng chùa Hưng Đường’ kia theo thì tốt biết mấy.
Đúng lúc này đột nhiên ngoài cửa vang lên một tiếng cười lạnh: “Không ngờ đường đường là đại sư Huyền Trang mà lại làm chuyện trộm cắp này!”
Hai người kinh ngạc quay ra nhìn, thấy một vị lão tăng đang đứng hiên ngang giữa cửa, chắp hai tay sau lưng, cười lạnh nhìn bọn họ. Không ngờ đó lại là Không Thừa!
Hai người biết Không Thừa thật đã chết, người này là giả. Vấn đề là từ lúc Không Thừa bị Lục La đâm chết đến bây giờ đã được gần nửa tháng, hai người lại không phát hiện ra bất cứ sơ hở nào trên người này. Bất kể là tư thế, động tác hay giọng nói, người này đều bắt chước giống hệt như thật. Thậm chí cả tu vi thiền pháp thâm hậu khi đàm thiền hàng ngày cũng không hề kém.
Việc bắt chước ngôn ngữ và cử chỉ của Không Thừa thật sự không quá khó, nhiều người có tài như vậy, chỉ cần ở bên cạnh một người đủ lâu là có thể bắt chước giống hệt. Nhưng còn thiền học pháp lý? Không Thừa nghiên cứu Phật pháp vài chục năm, trình độ uyên thâm không phải hư danh, vậy mà người này có thể đàm đạo thoải mái trước mặt Huyền Trang, hơn nữa mấy ngày trước còn chủ trì pháp hội, tài năng của người này thật sự đáng sợ.
Người này rốt cuộc là ai?
Huyền Trang trầm tĩnh vô cùng, chậm rãi gấp tờ ‘sơ đồ thi công’ lại cất vào tay áo, đứng dậy thi lễ: “A Di Đà Phật, thì ra là sư huynh. Vì sao đột xuất tới tìm bần tăng sớm như vậy?”
Ba La Diệp căng thẳng, tay phải cho vào trước ngực cầm chắc chuôi đao, nhìn chằm chằm ra ngoài cửa. Không Thừa liếc hắn một cái khinh thường, quay qua Huyền Trang rồi nói: “Ngoài cửa không có người. Bần tăng tới tìm Huyền Trang sư đệ còn cần tiền hô hậu ủng hay sao?”
Ba La Diệp thở phào nhẹ nhõm, ngượng ngùng buông tay ra.
Không Thừa cất bước vào phòng, nghênh ngang đi tới trước mặt hai người, khoanh chân ngồi xuống bồ đoàn. Ba người ngồi thành hình tam giác.
“Sư đệ, từ khi đi tới chùa Hưng Đường, lão hòa thượng đối xử với đệ thế nào?” Không Thừa lạnh lùng nói: “Lễ kính, trọng thị, dù là đại đức của Phật môn cũng chỉ đến thế. Để nâng cao danh tiếng của sư đệ, lão hòa thượng còn mở pháp hội, tụ tập danh tăng Tam Tấn đến tranh luận. Chỉ trong vòng mấy ngày, các chùa Tam Tấn có ai còn không nghe danh đại sư Huyền Trang? Nhưng còn sư đệ? Lại đối xử với lão hòa thượng như thế nào? Nửa đêm đến nhìn trộm, còn đáp lồng ngồi của ta đi du ngoạn, thậm chí theo lão hòa thượng đến huyện. Ha ha, sau khi về còn mượn gió bẻ măng vào trong phòng của lão hòa thượng trộm tờ sơ đồ thi công này! Năm giới mười thiện, không trộm cắp chính là yếu nghĩa, sư đệ làm lão hòa thượng này thất vọng quá!”
Huyền Trang chậm rãi lần tràng hạt trên tay, than thở: “Sư huynh, chuyện đã đến nước này, cần gì phải nói những lời giả dối đó nữa? Trên đời có cát bụi, sau đó có phất trần. Con người có thứ không muốn mất, sau đó mới có mất mát. Bần tăng lấy bản vẽ của sư huynh chỉ là để xem xét tội nghiệt sư huynh phạm phải. Còn nay sư huynh năm giới đều phạm, còn có thể coi là người trong Phật môn được sao?”
“Sao?” Không Thừa cắn răng cười, nhìn có vẻ rất âm trầm: “Lão hòa thượng lại phạm cả năm giới cơ à? Nói ta nghe một chút xem!”
“Giới thứ nhất, không sát sinh, sư huynh có làm được không?” Huyền Trang hai mắt sáng rực nhìn hắn chằm chằm: “Cả nhà họ Chu một trăm hai mươi ba người chết do tay ai? Sư huynh có cần ta nói không?”
Ba La Diệp kinh ngạc. Nhà họ Chu bị giết sạch trong một đêm, đây vẫn là một vụ án chưa phá được, chẳng lẽ lại là việc làm của lão tăng này? Nhưng thấy Không Thừa vẫn yên lặng, dường như những lời Huyền Trang vừa nói không hề sai.
“Giới thứ hai, không trộm cắp, xây dựng chùa Hưng Đường chỉ sợ tốn ba vạn quan cũng không đủ. Tiền từ đâu ra, bần tăng không dám nói bừa. Nhưng sư huynh lẻn vào nhà người khác để làm chuyện gì, bần tăng cũng không cần phải nói chứ?” Huyền Trang nhìn hắn chằm chằm: “Còn giới thứ ba, không dâm tà, sư huynh tự mình biết rõ. Giới thứ tư, không nói dối, sư huynh đeo cái mặt nạ này đi dưới ánh mặt trời, ngày ngày tự nhận là Không Thừa, cũng không sợ phật quang trăm trượng soi rõ sự dơ bẩn của mình sao?”
Không Thừa nghẹn lời nhìn ngài, khẽ gật đầu: “Xem ra sư đệ biết rất rõ. Vậy còn giới thứ năm? Lão tăng không bao giờ uống rượu.”
“Sư huynh nhầm rồi.” Huyền Trang cười: “Vì sao không thể uống rượu? Chỉ vì rượu có thể kích thích tinh thần, làm loạn tâm trí, vì vậy đối với Phật gia mà nói, tất cả những thứ làm người ta đánh mất lý trí, hủy hoại đức hạnh đều là đồ cấm dùng. Sư huynh dùng cần sa và mạn đà la điều chế ra mê hương, mê hoặc thần trí người khác, làm vô số chuyện ác, lại còn không biết mình đã phạm giới hay sao?”
Không Thừa cứng họng.
Ba La Diệp biết bây giờ đã đến lúc hai bên ngả bài, một lời bất cẩn cũng có thể dẫn tới kết cục máu chảy ba thước, người nằm dưới đất. Thế nhưng hai vị hòa thượng này ngôn từ như đao kiếm, không ngừng công thủ sát phạt, vậy mà lại không hề có vẻ thù hằn gì, thoạt nhìn như hai người bạn thân ngồi đối diện phẩm trà, bình thản vô cùng.
“Thì ra cao nhân thật sự ở Đại Đường quyết đấu với nhau lại là như thế này, đúng là tao nhã hơn Thiên Trúc bọn ta chém chém giết giết nhiều.” Ba La Diệp thầm nghĩ.
“Ngài biết ta không phải Không Thừa rồi à?” Lão hòa thượng thở dài.
Huyền Trang lặng lẽ gật đầu.
“Vậy lão hòa thượng là ai?” Trong mắt Không Thừa lộ vẻ đùa cợt: “Đoán xem!”
“Thôi sứ quân, vì sao phải cố ý làm những chuyện tưởng như đùa bỡn tất cả mọi người trong thiên hạ thế này?” Vẻ mặt Huyền Trang rất bình tĩnh: “Ngày xưa là tài tử Tam Tấn, sau đó là huyện lệnh Hoắc Ấp, bây giờ là phán quan ngục Nê Lê, đúng là mưu đồ thật lớn!”
“Cái gì? Hắn là Thôi Giác?” Ba La Diệp ngớ ra.
“Không sai, hắn chính là Thôi Giác!” Huyền Trang nhìn hắn chằm chằm.
“Không Thừa” cũng chết sững, một hồi lâu sau mới cười ha hả: “Quả không hổ là Thiên Lý nhãn của Phật môn, mắt sáng như đuốc! Có lúc lão tăng cũng hoài nghi không biết có phải ngươi đã mở ra thiên nhãn hay không.”
Dứt lời hai tay nhẹ nhàng nắm lấy cổ mình, ngón tay lần ở cổ, nắm được một mảnh da, chậm rãi kéo lên. Hai người nhìn mà trợn mắt há mồm. Tuy Huyền Trang đã đoán ra thân phận của hắn nhưng cũng không ngờ lại có thuật dịch dung tinh vi như vậy, hoặc nói chính xác là loại mặt nạ tinh xảo như vậy.
Từ cổ lên đến đỉnh đầu, cả tấm da bị lột ra hoàn chỉnh, mỏng như cánh ve, mềm như keo dính, cả đầu lẫn mặt đều bị mặt nạ bao trùm, chỉ có hai tai, hai mắt, lỗ mũi và miệng là có khoét lỗ. Sáng sớm lạnh giá, nhìn cảnh tượng một người chậm rãi lột da mặt mình, cảm giác này cực kỳ đáng sợ, kinh động hồn phách.
Nhưng động tác của người này lại rất nhẹ nhàng, tao nhã, dường như đang kẻ lông mày cho nương tử. Da mặt đã lột hết, lộ ra một khuôn mặt đầy đặn như thần, mặc dù không có tóc, đỉnh đầu nhẵn bóng, nhưng tướng mạo tuấn lãng, vẻ mặt ung dung, thật đúng là một mỹ nam tử. Đặc biệt là ánh mắt không còn vẩn đục già nua như khi đóng giả Không Thừa, mà lấp lánh có thần, sâu như nước đầm. Có điều da dẻ lại tái nhợt như thể quanh năm không thấy mặt trời.
“Thôi sứ quân!” Huyền Trang cúi đầu chắp tay.
“Đại sư Huyền Trang quả là danh bất hư truyền.” Thôi Giác mỉm cười nói, giọng nói cũng hoàn toàn khác Không Thừa, mang từ tính mạnh mẽ, không cần nói to cũng có thể thấu tai người nghe: “Tại hạ mai danh ẩn tích, dịch dung giả trang, bảy năm qua không hề có sơ hở, không ngờ chỉ có mấy ngày ngắn ngủi lại bị đại sư nhìn thấu.”
“Thế sự vốn hư vọng, sứ quân bị lạc trong khách trần này, dù có che giấu vi diệu đến mấy cũng chỉ là một hạt hồng trần mà thôi.” Huyền Trang nói.
“Một hạt hồng trần…” Thôi Giác hơi thất thần nhìn ra ngoài cửa sổ, lẩm bẩm nói: “Trời sáng rồi, hồng trần đêm qua ở trên cây, nhưng lá đã rụng, một khắc nữa, gió sẽ thổi ta bay về nơi đâu?”
“Tự ta thử địa phi ngô thổ, bất đắc như hoa tuế tuế khán.” Huyền Trang lại trích dẫn một câu thơ của Thôi Giác: “Bụi đương nhiên sẽ bay đến nơi mà nó nhất định phải đến. Có gió đến rồi, nếu ngài cứ nhất quyết bám trên cây không chịu bay đi, cứ cho là được ngắm đóa hoa đó thêm một lúc thì cũng có thể nán lại đến khi nào?”
Hai mắt Thôi Giác sáng lên, rồi lộ ra vẻ mê man: “‘Cẩm lý phân phương thiếu bội lan, phong lưu toàn chiêm tự quân nan. Tâm mê hiểu mộng song do ám, phấn lạc hương cơ hãn vị can. Lưỡng kiểm yêu đào tòng kính phát, nhất mâu xuân thủy chiếu nhân hàn.’ Bảy năm rồi, đây là lần đầu tiên được nghe người khác ngâm thơ của ta. Khi còn trẻ, ta mang theo kiều thê mỹ quyến vào ẩn cư trong Long Sơn ở Tấn Dương, tự khoe khoang là phượng tử, cùng bạn thơ ngâm xướng. Mỗi một ngày sau khi say, ta mang theo một vò rượu, trèo lên đỉnh Long Sơn trong gió tuyết, một bát kính trời, một bát kính đất, một bát khác kính chính ta. Ha ha, cảm giác sảng khoái đó, đúng như Phật Tổ Như Lai đã nói, trên trời dưới đất, duy ngã độc tôn, mỗi người đều là Phật, ta chính là Phật của mình, là thần của chính mình…”
Hắn lẩm bẩm nói, rồi đột nhiên gõ chén trà ngâm nga: “Ta có thơ văn ba trăm quyển, cưỡi mây đón gió lên trời cao… Ánh sao khắp chốn đều là chữ, thiên hạ mười đấu ta chiếm ba…”
Tiếng hát thê lương động lòng người, vị đại tài tử này không ngờ lại có một giọng hát hay đến vậy, chỉ cần gõ nhịp vào chén trà lại thể hiện được cuộc đời vô thường, bi hoan tiêu tán. Từ đôi mắt Thôi Giác, lệ nóng chảy dài trên gương mặt anh tuấn, lộ ra một sự thê lương vô hạn.
Ba La Diệp ngơ ngác nhìn. Huyền Trang thở dài: “Lý phu nhân từng tặng ta một bài thơ ‘Người hỏi trong núi có gì đây? Đáp rằng đỉnh núi nhiều mây trắng. Chỉ có thể tự mình vui ngắm. Chẳng thể gom tặng được cho người.’ Nếu sứ quân sáng suốt, vậy cứ làm tể tướng trong núi thì thế nào? Tội gì phải lội vào vạn trượng hồng trần này để tự tìm đau khổ?”
“Tể tướng trong núi?” Thôi Giác sầm mặt, sắc mặt lập tức hiện lên vẻ hung dữ: “Nghĩ sao Thôi Giác ta, tài hoa đầy bụng, hai mươi năm khổ học, chẳng lẽ lại chết già trong núi hay sao? Tiên triều chỉ tôn sùng Tạ Linh Vận, nếu hắn không phải là gia quyến Vương Tạ thì thơ văn của hắn cũng chỉ xứng nhóm lò, chất bếp. Thôi Giác ta mặc dù là chi thứ của họ Thôi đạo Hà Đông, gia cảnh bần hàn, nhưng trời cao ban cho ta tài hoa, nếu không thể lưu danh trên nhân gian này, dù sau khi chết rơi vào ngục Nê Lê vĩnh viễn không được siêu sinh, ta cũng sẽ nghiến răng nghiến lợi mắng chửi trời cao bất công!”
Huyền Trang không ngờ sự phẫn nộ trong lòng Thôi Giác lại mãnh liệt như vậy, ngài cũng không khỏi tiếc nuối vô cùng. Người này tài hoa vô song, chính vì vậy một khi tâm trí lạc vào ma đạo sẽ làm ra những chuyện độc ác đáng sợ hơn xa người thường. Ngài chậm rãi đọc: “‘Yên phân đỉnh thượng tam tầng lục, kiếm tiệt mâu trung nhất thốn quang’ Ẩn dụ tài tình, đúng là tuyệt cú. ‘Ngàn dặm tùng đu đưa trong gió, suối trúc chảy vào chốn bếp tăng’ Cảnh giới không minh, phật tính tràn đầy. ‘Xưa đến nay đi người vô số, sống mỏi lại về với đất thôi’ Nhìn thấu trăm trượng hồng trần, thực có tuệ nhãn. ‘Lá bèo chứa suối trong một vốc, tiếng mưa rừng tùng giục hoa sinh. Môi đỏ uống mây xanh cao vợi, nuốt vào thơm ngực mát tâm can’ Tả tư thái con người mà ngỡ như đang ở ngay trước mắt. ‘Bên lầu xuân tuyết rơi cùng bụi, nửa đêm suối lạnh tiễn mưa đi’ Giọng hát bên tai tưởng như tiên nhạc.”
Huyền Trang nhìn hắn đầy thương xót: “Tài cao như thế lại nhập ma đạo, lỗi tại thiên địa, hay là lỗi tại nhân?”
Thôi Giác kinh ngạc, nghe lại những câu thơ của chính mình, thần thái dần dần khôi phục, than thở: “Không nghĩ tới đại sư lại từng đọc nhiều thơ văn của ta như vậy.”
“Khi bần tăng ở hậu trạch huyện nha, nhàn hạ không có việc gì, đến chỗ Lý phu nhân mượn một quyển thơ cũ của ngài lật xem một chút.” Huyền Trang nói.
“Thật xấu hổ, mấy bài thơ viết tạm, không dám để vào tuệ nhãn của đại sư.” Nói đến những câu thơ yêu thích của mình, sắc mặt Thôi Giác trở nên nho nhã hơn nhiều, vẻ hung bạo tan thành mây khói, mặc dù lời nói khiêm tốn nhưng vẻ mặt lại dương dương tự đắc.
“Không giấu đại sư, từ lúc vào núi chưa bao giờ ta nghĩ rằng cuộc đời này sẽ sống quãng đời còn lại trong hoang sơn. Vì vậy thời Tùy Mạt đại loạn, mới ứng lời mời của thái thượng hoàng rời núi tương trợ. Khi đó chỉ nghĩ, tạo phản thì tạo phản, đại trượng phu nếu sống không thể chọc trời khuấy nước thì chết cũng phải được sử sách lưu danh, không ngờ…” Hắn cười khổ một tiếng.
“… Tạo hóa trêu ngươi, cũng không biết ta gặp phải xui xẻo gì, chớ nói chẳng chọc trời khuấy nước được, đến việc sau khi chết được lưu danh là hy vọng xa vời. Quân Đường đánh hạ Hoắc Ấp, thái thượng hoàng sai ta ở lại đảm nhiệm chức huyện lệnh, sau đó thì quên mất ta luôn. Các đồng liêu khi đó, Bùi Tịch đã là thủ tịch tể phụ, Đậu Tông được phong làm Tiêu Quốc Công, Ân Khai Sơn được phong Trần Quận Công, ngay cả những người như Lưu Thế Long, Trương Bình Cao, Lý Tư Hành cũng đều trở thành công thần, nhưng còn ta…?”
Thôi Giác lại bắt đầu giận dữ: “Lần đó Lý Uyên hắn bị Tống Lão Sinh chặn ở Hoắc Ấp, tiến lùi không được, nếu không có ta hiến kế dụ địch ra thành, tiền hậu giáp kích, phá Tống Lão Sinh, Lý Uyên hắn đã sớm rụt đầu trốn về Thái Nguyên rồi, làm gì có đế quốc Đại Đường? Làm gì có phú quý tột cùng? Nhưng công thần lớn nhất là ta lại bị hắn bỏ mặc một mình ở Hoắc Ấp! Thân phụ hắn làm hoàng đế phớt lờ ta, hắn lên làm hoàng đế vẫn phớt lờ ta…”
Huyền Trang vội vàng ngắt lời hắn: “Ngài tự vẫn năm Vũ Đức thứ sáu, khi đó đương kim hoàng đế còn chưa lên ngôi.”
“Chưa lên thì làm sao!” Thôi Giác tức giận vung tay lên: “Truy phong! Hắn không biết truy phong cho ta sao? Sau khi Đậu Tông chết còn được truy phong Tả vệ Đại tướng quân! Như vậy vợ con của ta còn có thể được hưởng đặc quyền, để lại danh tiếng với đời. Ta chết rồi, Lý Uyên hắn, Lý Thế Dân hắn có tỏ ý gì không? Vẻn vẹn là châu phủ phát công văn truy bắt hung thủ! Hừ, kẻ giết ta chính là ta, truy bắt cái rắm gì nữa!”
Huyền Trang đành phải cười gượng. Người này khi nói đến thơ văn thì nho nhã ung dung, phong thái bức người, nhưng chỉ cần nói đến đường công danh thì giống như biến thành người khác, nghiệp hỏa vô danh bốc cháy rừng rực trên đầu.
“Thế là ngươi liền giả chết mai danh ẩn tích, xây dựng ngôi chùa Hưng Đường này, dự định ám sát hoàng đế?” Ba La Diệp lạnh lùng hỏi.
Thôi Giác lộ ra vẻ mặt kỳ dị: “Ám sát hắn? Hừ, nhà ngươi thì hiểu cái gì? Việc ta cần làm không phải ám sát một đế vương, mà là tạo nên một thời đại thịnh thế huy hoàng!”