Đại Đường Nê Lê Ngục

Lượt đọc: 5423 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
nữ tử trộm tình, hòa thượng vụng hương

Lục La quả quyết phải đi theo Huyền Trang. Nghỉ ngơi tại miếu phán quan một đêm, Huyền Trang liền trở về chùa Hưng Đường. Lục La lại theo ngài dọn vào ở tại viện Bồ Đề, một tấc cũng không rời. Huyền Trang cảm thấy rất phiền phức, bèn mời Không Thừa tới xử lý. Không Thừa cũng có phần ái ngại, nhẹ nhàng khuyên bảo Lục La, nói trong chùa có thiền viện chuyên dành cho nữ quyến nghỉ ngơi. Lục La cũng không thèm quan tâm, chỉ hỏi thiền viện đó có suối nước nóng không? Hỏi xong thì tự mình đi chọn phòng, cuối cùng lại thấy thiền phòng phía đông chỗ Ba La Diệp đang ở là ưng mắt nhất.

Khi chuyển vào đây, Huyền Trang vốn không để ý đến điều kiện ngủ nghỉ, nên để kệ cho Ba La Diệp chọn gian phòng tốt nhất, chính là thiền phòng của Không Thừa trước kia, bên trong có phòng tắm dẫn nước từ suối nước nóng vào. Ba La Diệp đang rất vui vẻ, không ngờ tiểu ma nữ này vừa đến đã đuổi mình ra ngoài. Ba La Diệp dù tức giận nhưng cũng không dám nói gì, đành rầu rĩ đi tìm một phòng khác.

Không Thừa cũng chịu bó tay, đành phải đến tìm Huyền Trang thương lượng: “Đại sư, vị nữ thí chủ này là con một của Thôi Giác đại nhân, lại là con riêng của phu nhân Quách huyện lệnh. Bần tăng… Bần tăng cũng không tiện cưỡng chế đuổi ra ngoài!”

“Nhưng mà… A Di Đà Phật…” Huyền Trang phiền não vô cùng: “Cửa Phật thanh tịnh, trong viện của bần tăng lại có một nữ thí chủ, thế này còn ra thể thống gì nữa chứ!”

Không Thừa thật sự không còn cách nào khác, bèn đề nghị: “Hay là đại sư chuyển sang một thiền viện khác?”

Huyền Trang còn chưa kịp trả lời, Lục La ở phía xa xa đã gào lên: “Ác tăng, ta nói cho ngươi biết, ngươi muốn chuyển đâu thì chuyển, chuyển đến đâu bản tiểu thư dọn theo đến đó!”

Hai vị cao tăng không hẹn mà cùng đưa mắt nhìn nhau, rồi lầm rầm niệm kinh.

Cuối cùng Không Thừa niệm thêm vài câu Phật hiệu rồi bỏ đi mất, để mặc Huyền Trang ở đấy phiền muộn không thôi.

Từ đó trở đi, sau lưng Huyền Trang có thêm một cái đuôi, có một tiểu ma nữ xinh đẹp và gã quản tượng Ba La Diệp lúc nào cũng bám dính theo sau trở thành dấu hiệu nhận biết đặc trưng của Huyền Trang, ngoài lúc tắm rửa vệ sinh, còn lại thì ngài đi đâu họ theo đó. Huyền Trang cảm thấy rất mất tự nhiên, như kiến bò trên chảo nóng, nguyên do nảy sinh cảm giác ấy cũng không hẳn là vì tiểu ma nữ này, mà còn vì trong lòng ngài biết rõ, bám theo mình là một con dao găm, một mũi tên nhọn, không biết chừng một lúc nào đó sẽ bị tiểu ma nữ này găm một nhát xuyên tim.

Thủ đoạn của thiếu nữ mười sáu tuổi này khiến ngài quá sợ hãi. Không còn cách nào, ngài đành phải dặn dò Ba La Diệp phải theo dõi nàng ta chu đáo, tốt nhất không được để nàng ta mang theo vũ khí. Chẳng ngờ gã Ba La Diệp này lại hỏi: “Đại sư, ta có thể, khám người tiểu thư, không?”

Huyền Trang nghẹn lời.

Huyền Trang ở thiền phòng tây, cách thiền phòng đông một tòa Phật đường. Buổi tối, Huyền Trang nghiên cứu “Duy Ma Cật Kinh” dưới ánh đèn. Mấy ngày nữa là đến đại hội tranh luận do Không Thừa sắp xếp, ngài không dám thờ ơ. Phật giáo ở đạo Hà Đông mặc dù không hưng thịnh bằng Tô Châu, Dương Châu, nhưng chùa chiền đều có lịch sử lâu đời, thỉnh thoảng lại có tăng sĩ kiệt xuất xuất hiện, ngài không muốn đến lúc đó bị vặn hỏi mà không nói được gì.

Nhưng mắt ngài nhìn quyển kinh, tai lại nghe thấy tiếng ngâm nga vui sướng của tiểu ma nữ khiến thiền tâm của ngài không yên. Đúng lúc này đột nhiên Lục La kêu lên một tiếng kinh hãi, dường như bị đau đớn khủng khiếp.

Huyền Trang kinh ngạc, vội vàng nhảy xuống giường, chân trần chạy ra thiền phòng, vượt qua Phật đường đến đứng ngoài cửa phòng Lục La, nói nhỏ: “Lục La tiểu thư, xảy ra chuyện gì thế?”

“Ơ… Đợi một chút!” Lục La đáp, trong phòng vọng ra tiếng sột soạt. Sau một lúc lâu Lục La mới mở cửa phòng ra, mặt mày tái mét, nhăn nhó không thôi, trong phòng hơi nước lượn lờ, trên giá còn vắt y phục.

Huyền Trang vội vàng dời tầm mắt tránh đi: “Làm sao thế?”

“Tắm… bị cắn.” Lục La nước mắt lưng tròng.

“Trong phòng có côn trùng à?” Huyền Trang hỏi.

“Không phải…” Lục La nói: “Đêm qua rơi xuống vách núi, trên người bị thương nhiều chỗ. Ta muốn tắm, vừa bước xuống nước nóng ngâm mình thì bị nước cắn đau quá.” Vừa nói vừa vén tay áo lên, quả nhiên trên cánh tay trắng muốt hiện đầy vết thương.

“Trên người cũng có…”

Tiểu ma đầu này còn chưa có khái niệm gì về chuyện nam nữ, chẳng ngờ lại định vén áo lên thật. Huyền Trang vội vàng tránh đi: “A Di Đà Phật! Tiểu thư ở đây chờ, bần tăng đến chỗ Ba La Diệp lấy kim sang dược cho tiểu thư, tiểu thư bôi vào sẽ khỏi.”

Lục La gật đầu, Huyền Trang về phòng đi giày vào rồi đi tìm Ba La Diệp. Bọc hành lý của ngài ở trong phòng Ba La Diệp, quần áo và dược phẩm đều ở đó. Ba La Diệp đang ngủ lại bị đánh thức, nghe nói phải lấy kim sang dược cho Lục La dùng liền tỏ rõ vẻ bất mãn mà không dám phản bác, ấm ức lấy một gói đưa cho Huyền Trang.

Huyền Trang đưa thuốc cho Lục La, sau đó về phòng tiếp tục nghiên cứu kinh Phật. Không ngờ một lúc sau có tiếng gõ cửa vang lên, Lục La thò đầu vào phòng, mặt mày ảo não: “Bôi thuốc xong không tắm được nữa.”

Huyền Trang nhất thời không nói được gì.

May mà đêm đó Lục La không đến quấy rầy nữa. Hôm sau tụng kinh buổi sáng xong, Huyền Trang đến Đại Hùng Bảo Điện bái Phật. Đang quỳ trước tượng phật Như Lai tụng niệm, đột nhiên có một tiểu sa di vội vã chạy vào, người này cũng không dám quấy rầy, mà đợi Huyền Trang đứng dậy mới bước tới chắp tay: “Đại sư, trụ trì đang tìm ngài, đã chờ trong thiền phòng của ngài lâu rồi.”

Huyền Trang gật đầu, lập tức đi về viện Bồ Đề. Không Thừa đang dẫn theo hai đệ tử đi bộ trong viện, vẻ mặt lo lắng. Thấy Huyền Trang đã về, Không Thừa vẫy tay lệnh cho hai đệ tử ra canh gác ở ngoài cửa, cùng Huyền Trang vào Phật đường, hai người ngồi xuống bồ đoàn.

“Sư huynh có chuyện quan trọng gì mà tới tìm bần tăng?” Huyền Trang hỏi.

Không Thừa sắc mặt nghiêm nghị, nói nhỏ: “Đêm qua xảy ra chuyện lớn rồi.”

Ông ta nhìn Huyền Trang chằm chằm, nói từng từ một: “Huyện Hoắc Ấp xảy ra chuyện lớn rồi!”

Huyền Trang kinh ngạc hỏi: “Có chuyện gì vậy?”

“Đêm qua đại trạch nhà họ Chu bị cháy, toàn bộ khu nhà rộng chừng hai trăm mẫu đều cháy rụi.” Không Thừa nói: “Hơn một trăm người nhà họ Chu không một ai sống sót!”

Mắt Huyền Trang trắng bệch: “Rốt cuộc là trời gieo tai hay là người gây họa?”

“Chưa biết được.” Không Thừa thở dài: “Lão tăng không dám nói bừa. Thật ra thì lúc đại sư đến đây, huyện nha có gửi công văn tới nói đại sư và Ba La Diệp liên quan đến một vụ án, nếu đại sư rời khỏi chùa phải báo ngay cho quan phủ. Rạng sáng hôm nay huyện nha phái sai dịch đến hỏi đêm qua đại sư làm gì, có rời khỏi chùa hay không. Bần tăng biết đại sư đêm qua không hề rời khỏi chùa một bước nên đã bảo đảm với sai dịch đó.”

Lúc này cửa chợt mở bung ra, Lục La chạy tới, sắc mặt rất khó coi: “Không Thừa đại sư, ngài nói thật không vậy? Nhà họ Chu thật sự bị cháy rụi rồi sao?”

“A Di Đà Phật!” Không Thừa không ngờ có người nghe lén, sắc mặt hơi khó xử.

Lục La ngẩn ra một lát, lẩm bẩm nói: “Tại sao lại xảy ra chuyện như vậy?”

Nhìn thấy Lục La, Không Thừa dường như không muốn nhiều lời, nói thêm với Huyền Trang vài câu liền cáo từ. Lục La lập tức ngồi xuống chiếc bồ đoàn Không Thừa vừa ngồi, ôm đầu gối suy nghĩ sâu xa: “Ác tăng, ngươi nói xem, việc này có phải do con người gây ra không?”

“Bần tăng không dám nói bừa.” Huyền Trang đáp.

“Cái tên hòa thượng thối nhà ngươi, có ai hỏi ngươi là ai làm đâu, chỉ hỏi ngươi suy đoán thế nào thôi mà.” Lục La nói: “Ta biết rõ đại viện nhà họ Chu, mặc dù đều là nhà gỗ nhưng diện tích cực lớn, lửa dù cháy mạnh đến mấy cũng không thể có chuyện chết sạch không chừa một ai được.”

“Bần tăng không dám nói bừa.”

“Tên ác tăng nhà ngươi…” Lục La cũng đau đầu với Huyền Trang, nàng ta làm ầm ĩ một hồi, vẫn không thấy Huyền Trang có ý định trả lời mới bực tức, giậm chân đứng lên chạy ra khỏi thiền đường.

Ba La Diệp từ ngoài hiên đi vào, ngồi xuống vị trí của Lục La vừa rồi: “Đại sư, đây đúng là, việc lớn. Một trận, hoả hoạn, có thể làm, tất cả mọi người, chết cháy, hay sao?”

“Bần tăng không dám nói bừa.” Huyền Trang vẫn đáp như cũ.

Ba La Diệp cũng không chịu nổi nữa, bật dậy giậm chân chạy ra ngoài.

Nhìn theo bóng hai người, ánh mắt Huyền Trang lộ rõ nỗi bất an, miệng lẩm bẩm tụng niệm “Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh”: “Tất cả chúng sinh các loài, hoặc sinh từ trứng, hoặc sinh từ thai, hoặc sinh từ nơi ẩm thấp, hoặc sinh từ sự biến hóa, dù có thân sắc hay không có thân sắc, dù có tri giác hay không có tri giác, ta đều phải hướng được tất cả đến cõi Niết Bàn tịnh độ, để tất cả đều được giải thoát. Giải thoát cho vô lượng, vô số, vô biên chúng sinh như vậy, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sinh nào được giải thoát cả. Tại sao vậy? Này Tu Bồ Đề! Vì nếu một vị Bồ Tát mà còn giữ khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng sinh và về Thọ giả thì vị đó vẫn chưa phải là Bồ Tát đích thực…”

Ba La Diệp ra khỏi thiền phòng, phát hiện Lục La đang ngồi ngoài rừng thông phía đông, suối nước nóng bốc hơi mờ mịt chảy qua dưới chân. Nàng cởi giày tất, ngâm đôi chân nhỏ trắng nõn dưới nước suối. Giống như một người mất hồn, trong đôi mắt to chỉ có một vẻ ngỡ ngàng.

Ba La Diệp gãi gãi đầu, đi tới ngồi trên tảng đá đối diện với nàng: “Lục La tiểu thư, đang, suy nghĩ, chuyện hoả hoạn, nhà họ Chu, à?”

Lục La gật đầu, lại lắc đầu.

“Phải, không phải?” Ba La Diệp quay mòng mòng.

Lục La thở dài: “Tại sao lại chết nhiều người như vậy? Một gia tộc lớn như vậy, tại sao hôm trước hôm sau đã biến mất rồi?”

“Như vậy, chẳng phải, rất tốt, đối với tiểu thư, sao?” Ba La Diệp nói: “Chuyện, tiểu thư xúi bẩy, Chu công tử giết người, sẽ không có, ai truy tra nữa.”

“Ngươi nghi ngờ là ta làm hả?” Lục La tức giận, hùng hổ trợn mắt nhìn hắn.

“Đâu có, đâu có.” Ba La Diệp liên tục xua tay: “Tiểu thư, hữu tâm vô lực. Vụ lớn như vậy, tiểu thư, không làm nổi.”

Lục La càng thêm tức giận, dùng chân hắt nước lên mặt Ba La Diệp. Ba La Diệp kêu lên một tiếng, vội vàng dùng tay lau mặt, cả giận nói: “Tiểu thư làm, cái gì thế?”

“Ai bảo ngươi nói bậy nói bạ.” Lục La quát: “Chu phu nhân rất yêu thương ta, ta sao có thể làm chuyện điên cuồng như vậy được!”

Ba La Diệp biết mình nói sai, không khỏi ngượng ngùng: “Chu phu nhân, muốn, tiểu thư làm, con dâu bà ấy, mà. Tiểu thư không phải không muốn, gả đến hay sao? Nghe người ta nói, nhà họ Chu rất, có tiền tài quyền thế, là sĩ tộc, chính tông. Tại Thiên Trúc, chính là, Sát Đế Lợi, cao quý.”

Lục La lắc đầu: “Chu công tử tính tình bốc đồng, không hề có khí khái đàn ông, sao có thể xứng với ta được.”

“Vậy tiểu thư, thích, loại công tử, nào?” Ba La Diệp lại phát huy sở trường của mình, tò mò hỏi.

“Ta ấy à.” Lục La nghiêng đầu suy nghĩ một lát: “Chững chạc, đó là tất yếu. Chín chắn, cũng rất quan trọng. Tài hoa xuất chúng, cũng cần phải có. Quan trọng nhất là che chở ta, yêu quý ta, nhất định phải thương ta, chiều ta.”

Ba La Diệp gật đầu: “Thì ra, tiểu thư, muốn tìm, dạng công tử, như, Ngõa Đặc Tát Á.”

“Ngã đau? Tát ai?” Lục La thắc mắc.

“Không phải ngã đau, tát ai…” Ba La Diệp chán nản: “Là thánh nhân, nước Thiên Trúc, ta, mấy trăm năm trước. Ngài ấy, viết, một bộ, ‘Già Ma kinh’, kể về, người đàn ông, như tiểu thư, thích, theo đuổi, thiếu nữ.”

“Thế nào?” Lục La bắt đầu thấy hứng thú: “Thiên Trúc các ngươi còn có kinh Phật dạy theo đuổi phụ nữ thế nào nữa à?”

“Không… Không phải…” Ba La Diệp lắp bắp: “Không phải, kinh Phật.”

“Nói ta nghe xem nào.” Lục La ngẩng mặt lên, nói nghiêm túc.

Ba La Diệp không làm sao giải thích được, đành phải nói: “Trong ‘Già Ma kinh’ nói, nếu người, mà ngươi yêu, tha thiết, là người cố chấp, vậy ngươi phải, nhượng bộ, nghe, theo ý nàng. Như vậy, cuối cùng ngươi, nhất định sẽ, có thể chinh phục được nàng. Có điều, bất kể, nàng yêu cầu ngươi làm chuyện gì, ngươi đều, phải làm chuyện, đó thật tốt. Nàng, chê bôi cái gì, ngươi cũng, ghét bỏ cái đó. Nàng thích, cái gì, ngươi cũng, thích cái đó. Nàng, nói có, là có, nói không, là không. Lúc, nàng cười vui, ngươi cũng, phải vui theo. Lúc nàng, đau lòng rơi lệ, ngươi cũng, phải buồn khóc theo nàng. Tóm lại là, ngươi phải điều chỉnh, tâm tình của, mình thuận theo, tâm tình của nàng…”

Tiếng Hán của Ba La Diệp quá kém, vừa phải nhớ lại nguyên văn “Già Ma kinh” lại vừa phải phiên dịch, nói vấp liên hồi, nhưng Lục La lại nghe cực kỳ say mê, hai tay nâng má chống cằm, dường như đã mê mẩn.

“Thật sự có người sẽ làm như vậy vì ta hay sao?” Nàng lẩm bẩm: “Lúc ta cười vui, chàng sẽ cười vui cùng ta. Lúc ta đau lòng, chàng sẽ đau lòng cùng ta. Lúc ta rơi lệ, chàng cũng lã chã rơi lệ…”

Ba La Diệp nói mãi mới miễn cưỡng kể xong nội dung một chương, Lục La càng nghe lại càng si mê. Đàn ông Đại Đường tìm đâu ra thứ tình yêu cuồng nhiệt không hề cố kị như vậy, đâu ai vì một người phụ nữ mà nhân nhượng cầu toàn, tự hạ thấp mình? Ngay đến những mối tình sâu đậm trong truyền thuyết cũng chỉ có người phụ nữ bày tỏ sự cuồng nhiệt của mình, còn người đàn ông có đau khổ thế nào cũng vẫn ôn tồn lễ độ để giữ thể diện.

“Sẽ có người như vậy sao?” Lục La ngơ ngác nói: “… Ra ngoài, ngươi nhất định phải cầm ô che nắng cho nàng. Chen lấn giữa đám đông, ngươi phải xông lên mở lối đi cho nàng. Khi nàng chuẩn bị lên giường, ngươi phải lấy ghế cho nàng và dìu nàng lên. Phải cởi giày hoặc đi giày cho nàng đúng lúc. Ngoài ra, dù bản thân ngươi đang lạnh cứng người, ngươi cũng phải ủ ấm đôi tay lạnh như băng của nàng trong lòng mình. Như một nô lệ, ngươi phải dùng tay mình nâng gương cho nàng soi…”

Tâm hồn thiếu nữ mười sáu tuổi đã bị tên quản tượng đến từ xứ Thiên Trúc này đảo lộn thành công.

Trong mắt Ba La Diệp lại lấp lánh nét cười kì quái.

“Ba La Diệp.” Lục La nói: “Sau này ngày nào ngươi cũng phải đọc ‘Già Ma kinh’ cho ta nghe.”

☆ ☆ ☆

Không Thừa gióng trống khua chiêng chuẩn bị pháp hội biện luận, đã thông báo đến các chùa lớn ở Tam Tấn. Các hòa thượng từ chùa Đại Phật ở Tấn Dương, chùa Song Lâm ở Bình Dao, chùa Huyền Không ở Hằng Sơn, chùa Phổ Cứu ở Bồ Châu, các chùa Ngũ Đài Sơn đều lũ lượt đổ về chùa Hưng Đường. Ngay cả các phú hào quan lại gần Tấn Châu cũng đến đàm thiền với các vị tăng sư. Buổi pháp hội này bỗng nhiên trở thành một hội lớn trăm năm chưa chắc đã có một lần ở Tấn Châu.

Huyền Trang cũng bận rộn hơn hẳn. Pháp hội chính thức còn chưa bắt đầu, các tăng sĩ đã đàm thiền ngộ đạo, vô cùng náo nhiệt. Hôm đó ngài cùng các vị cao tăng đàm thiền đến đêm khuya, Ba La Diệp đi về ngủ trước, ngay cả tiểu ma nữ luôn bám theo ngài như hình với bóng cũng không chịu nổi phải quay về viện Bồ Đề. Lúc kết thúc đã là giờ sửu, Huyền Trang mệt mỏi rã rời, một tiểu sa di cầm đèn lồng đưa ngài về tới viện Bồ Đề rồi mới cáo từ.

Trên trời có ánh trăng rọi sáng, dưới đất có đèn lồng trong viện, không hề tối tăm. Huyền Trang đi qua sương phòng, nghe thấy tiếng ngáy của Ba La Diệp vang lên như sấm rền không dứt. Ngài cũng chỉ cười cười, ăn ở cùng gã này một thời gian dài nên ngài đã quen từ lâu. Đến thiền đường, đang định đi về thiền phòng phía tây của mình, ngài đột nhiên nghe thấy tiếng kêu sợ hãi của Lục La từ bên trong thiền phòng phía đông vọng ra.

Huyền Trang kinh ngạc bước nhanh tới trước cửa phòng, gọi khẽ: “Lục La tiểu thư! Lục La tiểu thư!”

Trong phòng không có người trả lời, Huyền Trang suy nghĩ một lát, đang định quay về, trong phòng đột nhiên lại vang lên một tiếng kêu sợ hãi: “Đừng…”

Ngài hốt hoảng đưa tay đẩy cửa, không ngờ cửa lại không hề cài then. Ngài vội vã chạy vào trong phòng, sau đó lại không khỏi sững sờ. Mượn ánh trăng và ánh đèn ngoài cửa sổ, ngài thấy trong phòng không hề có người khác, Lục La vẫn đang ngủ say trên giường!

Cô gái nhỏ này ngủ không hề ngoan, chăn cuộn thành một đống đè ở dưới người, một chân co lại, trong lòng ôm một chiếc gối bằng gỗ hoàng dương. Trên người không đắp chăn nên một phần da thịt của nàng lộ ra bên ngoài, phát ra ánh sáng nhờ nhờ mềm mại dưới ánh trăng.

“A Di Đà Phật!” Huyền Trang cảm thấy rất lúng túng, thì ra tiểu ma nữ này đang ngủ mơ.

Ngài xoay người định đi ra, Lục La lại kêu lên: “Cha, cha! Con sợ! Hắn muốn giết con… giết con…”

Cả người Huyền Trang lập tức cứng đờ, một cảm giác xót xa khôn tả dâng trào trong lòng ngài. Tiểu ma nữ này ban ngày ương bướng ngoa ngoắt, giết người không chớp mắt, nhưng dù thế nào cũng vẫn chỉ là một đứa bé mà thôi.

Ngài thở dài, lại không tiện ở lâu trong phòng, lúc ra cửa ngài nhẹ nhàng khép cửa phòng lại, rồi chần chừ một lúc. Lục La không cài then, cửa không có khóa ngoài. Tiểu ma nữ này một mình ra ngoài sống, mà ngủ lại không biết cài then cửa, nếu có kẻ xấu hoặc chuyện gì ngoài ý muốn xảy ra thì biết làm thế nào?

“A Di Đà Phật!” Huyền Trang thở dài, ngồi xếp bằng trên bồ đoàn trong Phật đường, nhắm mắt buông mày niệm “Đại Bi Chú”. Ngài ngồi đó nguyên một đêm, đến tận lúc mặt trời hửng lên, trên cành cây có chim hót, Huyền Trang mới chậm rãi mở mắt ra.

Đột nhiên ngài thấy hoa mắt, trong tiếng mở cửa, Lục La ngái ngủ đi ra. Nhìn thấy Huyền Trang ngồi xếp bằng trong Phật đường, nàng không khỏi sững sờ: “Ác tăng nhà ngươi thức dậy thật sớm.”

Huyền Trang cười nhạt: “Tiểu thư đêm qua ngủ ngon không?”

“Ngon chứ!” Lục La nhướng mắt: “Đương nhiên là ngon rồi.”

“Tiểu thư bình thường nên bình tâm, tĩnh tọa sẽ tốt hơn, nếu phiền muộn lo âu có thể lên núi đi dạo hoặc đến vùng núi vắng vẻ không người hét lớn vài tiếng, lo âu căng thẳng trong lòng sẽ có thể vơi bớt phần nào.” Huyền Trang nhìn nàng nói.

“Cái gì?” Lục La ngạc nhiên hỏi: “Ác tăng nhà ngươi sáng sớm tinh mơ đã nói lảm nhảm cái gì thế? Bản tiểu thư ta phiền muộn lo âu lúc nào?”

Huyền Trang lắc đầu: “Ban đêm nghiến răng, chính là nóng giận âu lo, quá căng thẳng nên khó yên giấc, cứ thế này sẽ rất có hại cho thân thể.”

“Ngươi…” Lục La đỏ bừng mặt, vừa toan nổi giận bỗng kinh ngạc: “Ngươi ngồi ở đây cả đêm?”

Huyền Trang im lặng.

Lục La mở miệng định nói gì đó, đột nhiên hai mắt đỏ lên, chạy thẳng ra ngoài.

Sau khi người của Hương Tích Trù mang cơm chay tới, Không Thừa sai đệ tử đến tìm Huyền Trang, nói hôm sau là pháp hội chính thức, cần bàn bạc công việc cụ thể với đại sư. Huyền Trang vội vã ăn cho xong rồi đi tới thiền viện của Không Thừa, mấy hòa thượng chùa khác cũng đã đến đủ, mọi người thương nghị một hồi, đưa ra chương trình cụ thể.

Đến buổi trưa, cả chùa trở nên náo nhiệt hẳn, rất nhiều người dân tìm đến chùa, có người Hoắc Ấp, cũng có người đến từ các huyện Tấn Châu, thậm chí còn có người đến từ Bồ Châu, Giáng Châu, Phần Châu, Thấm Châu. Người xa nhất thậm chí còn đến từ Vân Dương ở đạo Kinh Kì. Không biết làm thế nào mà họ lại biết được ở đây có pháp hội mà nhanh chóng tìm đến như vậy.

Chùa Hưng Đường diện tích lớn là vậy mà nhanh chóng trở nên chật chội, Không Thừa cũng trở tay không kịp. Ông không hề nghĩ đến chuyện tổ chức một buổi đại pháp hội, vốn dĩ ông chỉ muốn tập hợp các hòa thượng gần đây đến tổ chức một buổi pháp hội biện luận, không ngờ tin tức lại truyền đi rộng rãi như vậy, vô số thiện nam tín nữ đến xem, nhường lại cả tăng xá cũng không đủ chỗ ở. May mà miếu Trung Trấn ở phía tây bắc gần đó chủ động san sẻ một phần khách dâng hương mới giảm bớt được khó khăn, nhưng vẫn còn có rất nhiều người phải đến tìm chỗ ở tại huyện Hoắc Ấp.

Giờ thìn hôm sau, pháp hội chính thức bắt đầu.

Trên quảng trường trước Đại Hùng Bảo Điện dựng lều cao, trước điện là chỗ ngồi của các cao tăng, phía dưới là các tăng chúng trong chùa, tiếp nữa là thiện nam tín nữ đông nghịt chen kín quảng trường, thậm chí dòng người còn kéo dài đến tận cổng chùa. Huyền Trang lấy chiếc áo cà sa màu mộc lan được ban cho khi thọ giới Cụ Túc khoác lên người, đi một đôi giày mới tinh. Ngài tướng mạo đoan chính, dáng vẻ đường đường, nhiều năm qua được gió mưa tôi luyện lại càng tôn thêm khí chất bất phàm của mình, nay lại càng nổi bật hơn nhờ chiếc áo cà sa, gương mặt hơi sạm đen phảng phất một lớp phật quang khiến mọi người không sao rời mắt được.

Các hòa thượng làm lễ trong Đại Hùng Bảo Điện trước, sau đó nhận chỗ ngồi. Ba trăm tăng chúng của chùa Hưng Đường cùng tụng kinh, các tín đồ cùng quỳ lạy theo. Sau đó bắt đầu kiểm tra tư cách của các sa di, thụ giới Cụ Túc. Tại đây có công tào và tăng chính của Tấn Châu phụ trách quản lý tăng tịch tiến hành kiểm nghiệm sát hạch, phân phát y bát, độ điệp, đăng kí vào sổ.

Tất cả nghi thức kết thúc, sau khi dùng cơm chay, buổi chiều cao tăng từ các nơi đến mới giảng về Phật pháp. Huyền Trang giảng giải “Duy Ma Cật Kinh”, bộ kinh này ngài bắt đầu nghiên cứu từ mười tuổi, đến nay đã hai mươi năm, vô cùng thấu đáo, vừa bắt đầu đã khiến chư tăng phải kính nể.

“Tô Dương thịnh hành tham thiền, từ xưa tới nay rất nhiều tổ sư thiền tông đều ngộ đạo từ duyên, không phải ngộ từ lí. Có người ném một hòn đá mà ngộ, có người nhìn thấy hoa nở mà ngộ, chính là ngộ từ duyên mà nên. Có cao tăng nói, ‘từ duyên mà ngộ, vĩnh viễn không mất’, chính là nói ngộ đạo từ nhân duyên mới sẽ không thoái mất, chỉ tham ngộ từ định lực là không đúng. Đây là một cách nói, nhưng bần tăng phản đối cách nói này, người ngộ từ duyên lại dễ thoái mất, ngẫu nhiên khai ngộ, thân tâm liền không, tiến vào tính không, mặc dù định tại tính không, nhưng nếu sắc thân, nghiệp lực, tật khí tất cả đều không chuyển thì vẫn sẽ thoái mất. Cho nên sau khi đại sư Pháp Hiển ngộ đạo vẫn vân du bốn phương tham thiền tri thức, bởi vì tâm vẫn không yên. Duyên của đại thừa khởi đầu từ tính không, tính không lại khởi đầu từ duyên, nếu không có bằng chứng thực tế, dù lí luận nói là duyên khởi đầu từ tính không, tính không khởi đầu từ duyên, nhưng nhìn nhận khách quan thì đó chỉ là Phật pháp đầu môi chót lưỡi, thậm chí là cái nhìn sai lệch. Cho nên kinh văn nói tất cả Bồ Tát phải ‘Thâm nhập duyên khởi, dứt bỏ tà kiến’…”

Tăng chúng và khách dâng hương đều bị luận điểm này của ngài làm cho nể sợ, hàng ngàn người trên quảng trường nhưng lại không hề có một tiếng động nào, chỉ có giọng nói của Huyền Trang vang vọng giữa tòa thiền viện. Vị hòa thượng tuổi chừng ba mươi này nét mặt trang nghiêm, dáng ngồi ngay ngắn, ánh nắng chiếu vào mặt ngài khiến người ta không dám nhìn thẳng.

Các hòa thượng nghe rất chăm chú, nhưng Lục La lại thấy rất tẻ nhạt. Nàng không hiểu gì về Phật pháp, cùng lắm cũng chỉ mới nghe vài tích truyện trong kinh Phật mà thôi. Hôm nay đã dậy sớm, đám hòa thượng lại không ngủ trưa mà cứ chạy tới tham thiền làm nàng không được nghỉ ngơi. Nhưng nàng đã thề phải chống lại gã hòa thượng này đến cùng, tuyệt đối không thoả hiệp, bất kể gã ác tăng này làm cái gì!

Nàng ngáp dài, đưa mắt nhìn quanh một lượt, lại không khỏi ngớ người.

Nàng đứng lên bậc thềm để nhìn xa hơn, thấy bên ngoài đám người, một người phụ nữ đầu đội mũ có mạng che mặt, mặc váy áo mềm mại màu xanh nhạt đang vội vã đi nép sát chân tường để tiến vào tòa viện ở phía tây.

Lục La không khỏi mở to mắt. Xung quanh chiếc mũ của người phụ nữ này có mạng che mặt màu trắng buông xuống nên không thấy rõ dung mạo, nhưng dáng người kia lại cực kỳ quen thuộc, có nét gì đó hao hao giống mẫu thân của nàng!

“Chẳng lẽ mẫu thân biết mình đang ở chùa Hưng Đường nên tới tìm?” Lục La không khỏi nghi hoặc.

“Đúng rồi, mặc dù lúc bỏ nhà đi mình không nói gì, nhưng mẫu thân có quan hệ rất thân với chùa Hưng Đường, chỉ sợ Không Thừa đã phái người báo tin rồi.” Lục La thầm kêu khổ, nhưng lại nghĩ mình bỏ nhà đi lâu như vậy mà không hề nói với ai khiến mẫu thân phải lo lắng nhiều ngày, không khỏi cảm thấy chột dạ.

“Thôi, vẫn nên nói với mẫu thân một tiếng vậy!” Lục La chán nản lắc đầu, lặng lẽ đuổi theo người phụ nữ đó, bỏ lại Ba La Diệp ở chỗ cũ.

Phía tây Đại Hùng Bảo Điện là một tòa thiền viện vắng lặng, tùng bách râm mát. Lục La vất vả mãi mới len được qua đám người để đi vào trong viện, chỉ thấy xa xa có bóng người vừa biến mất. Nàng vội đuổi theo, vừa chạy vừa nghĩ nên giải thích với mẫu thân như thế nào: “Ờ, nói là muốn giết gã ác tăng này thì chắc chắn không ổn. Thế thì… nói là mình nghiên cứu Phật pháp? Mẫu thân còn lâu mới chịu tin! A đúng rồi, cứ nói là mình đến chùa dâng hương cầu nguyện cho phụ thân, chắc chắn là người sẽ vui vẻ.”

Đã nghĩ được lý do, Lục La nheo đôi mắt to, trên mặt lộ ra một nụ cười xảo quyệt. Nhưng nàng lại không thể nào đuổi kịp bóng dáng của mẫu thân, có lúc không cẩn thận còn suýt bị mất dấu. Mà người phụ nữ này dường như đã có mục tiêu rõ ràng, bước đi không ngừng, cũng không cần phân biệt phương hướng mà hơi cúi đầu đi thẳng vào sâu trong chùa.

“Sao có thể thế được?” Lục La kinh ngạc: “Tại sao mẫu thân lại biết rõ đường đi lối lại trong chùa Hưng Đường như vậy?”

Người phụ nữ đó quả nhiên rất quen đường trong chùa Hưng Đường, vòng bên đông rẽ bên tây, càng ngày càng lên cao, không ngờ lại lên đến tận lưng chừng núi. Nơi này là khu sinh hoạt của tăng chúng trong chùa, tiếp tục đi lên trên sẽ đến thiền viện của các cao tăng trong chùa. Lục La nghi hoặc, nếu người này đúng là mẫu thân của nàng thì tuyệt đối không thể hiểu rõ tình hình trong chùa như vậy, bởi vì từ sau khi phụ thân nàng qua đời, bà chưa hề tới chùa Hưng Đường lần nào. Chỉ có khi phụ thân nàng xây chùa, bà mới thỉnh thoảng tới đây, nhưng cũng chỉ dâng hương trong Phật điện, không thể biết rõ các khu vực khác được.

“Chẳng lẽ không phải mẫu thân mà chỉ là một người có dáng dấp khá giống thôi sao?” Lục La băn khoăn. Trong lúc hòa thượng trong chùa giảng kinh thuyết pháp, một phụ nữ lại đi sâu vào trong chùa, riêng việc này đã đủ kỳ lạ. Lòng hiếu kì của nàng trỗi dậy, Lục La rón rén đi theo người phụ nữ này xem bà ta rốt cuộc muốn đi đâu.

Qua tăng xá, người phụ nữ đó đột nhiên rẽ về phía đông, không lâu sau thì đến bên cạnh một đại điện hẻo lánh. Trong thiền viện yên tĩnh không có một bóng người, hôm nay là hội lớn, gần như tất cả tăng chúng đều đến quảng trường trước Đại Hùng Bảo Điện, ngay cả trong đại điện cũng không có hòa thượng trông coi. Lục La thấy người phụ nữ đó đi vào đại điện liền lặng lẽ đi tới dưới hiên, nhìn qua cửa điện vào bên trong. Tiếng bước chân vẫn vang lên trong điện, mặc dù rất khẽ nhưng lại có thể nghe rất rõ ràng.

Nàng không dám theo sát, đến tận lúc tiếng bước chân biến mất mới dè dặt đi vào trong điện. Điện này thờ Quan Thế Âm, có lẽ là một tòa điện Quan Âm. Đại điện nguy nga trống trải, hoàn toàn không có chỗ ẩn nấp, nàng vội vàng đi ra phía sau tượng Quan Âm nhìn xem, lại không khỏi ngây người. Phía sau tượng Quan Âm là một khoảnh sân và một thiền đường. Bao quanh sân là tường, còn cửa thiền đường lại đang khóa.

Cũng có nghĩa là, người phụ nữ này đi vào trong điện Quan Âm, sau đó bỗng dưng biến mất!

Lông tóc bỗng dựng đứng cả lên, Lục La toát mồ hôi lạnh, chẳng lẽ là nàng gặp ma?

Nàng lập tức cảm thấy chuyện này thật hoang đường, cứ cho là có ma quỷ đi, nhưng đây là trong chùa, ma quỷ nào dám vào? Trước tượng Quan Âm, ma quỷ nào dám càn rỡ?

Không phải ma, vậy thì chắc chắn phải là người.

Lục La là một nữ tử gan to hơn trời, giết người trong mắt nàng cũng như dí chết một con kiến. Nàng sợ ma, nhưng lại không hề sợ người. Đã là người thì dễ rồi, người không thể vô cớ biến mất trong điện Quan Âm, nếu biến mất thì chỉ có một cách giải thích, trong điện này có mật đạo!

Để tránh nạn, những nhà giàu có thường xuyên xây mật đạo trong nhà, đặc biệt là thời loạn thế, gần như nhà nào cũng có. Một khi bị tặc phỉ đánh cướp hoặc loạn quân chiếm thành, cả nhà liền chui xuống mật đạo, hoặc chạy thoát thân, hoặc ở trong mật đạo một thời gian, chờ đến lúc cục diện yên ổn trở lại mới ra. Thôi Giác là con cháu họ Thôi, gia thế lớn nhất ở Hà Đông, mặc dù là chi thứ nhưng Lục La cũng xem như xuất thân thế gia, không hề xa lạ gì chuyện này.

Tiểu ma nữ vô cùng nhanh trí, lập tức xem xét kĩ lưỡng trong điện Quan Âm. Trong điện Quan Âm này không hề phức tạp, bốn vách tường trống trơn, sàn điện lát gạch xanh. Trước tiên nàng giơ tay gõ gõ bốn vách tường, tường rất chắc chắn, không giống như là có cửa bí mật. Nàng lại giẫm mạnh lên nền gạch một lượt đến đau cả chân cũng không phát hiện có tiếng vang. Sau đó nàng nhìn về phía tượng Quan Âm chính giữa đại điện, có thể thấy pho tượng Quan Âm này làm bằng đất nung, trong bụng có lẽ trống rỗng. Có điều nàng cũng không dám đến gõ tượng Quan Âm, hành động báng bổ này dù nàng to gan hơn nữa cũng không dám làm.

“Mình không dám làm, chẳng lẽ người thi công mật đạo lại dám?” Lục La đắc ý cười đến nheo cả mắt lại, mỉm cười chắp hai tay sau lưng, đi một vòng quanh tượng Quan Âm, mắt nhìn chằm chằm phần đế của pho tượng.

Đế tượng là một tảng đá nguyên khối được điêu khắc tầng tầng hoa sen, tổng cộng chín tầng, kĩ thuật chạm khắc tinh xảo, nhìn giống y như thật. Nàng đi tới ngồi dưới đất, cẩn thận xem xét phần đế này.

Đến sau lưng tượng Quan Âm, ánh mắt nàng dừng lại ở đó. Hoa sen trên đế mặc dù không có bất cứ điểm nào khác thường, nhưng trên một cánh sen lại có chấm đỏ tươi. Lục La nhìn chằm chằm vào đó, cẩn thận dùng móng tay cậy ra đưa lên mũi ngửi, sắc mặt lập tức thay đổi: “Mắt phượng hoàng!”

Trái tim Lục La từ từ trĩu xuống, bây giờ nàng đã hoàn toàn có thể khẳng định, người nàng đang bám theo chính là mẫu thân của nàng, Lý Ưu Nương.

Màu đỏ bám trên cánh hoa sen trên đế tượng này rất quen thuộc đối với nàng, đó là nước nhuộm móng tay do nàng và mẫu thân cùng làm ra.

Hai người đều yêu thích nước nhuộm móng tay, liền tự mình nghiên cứu, dùng lá cỏ lam chế thành màu xanh, lại cho thêm thủy ngân vào nữa. Bôi loại nước này vào móng tay sẽ làm móng tay có nền đỏ, bên trên có màu lam và màu bạc lấm tấm. Khi đó cả hai đều rất vui mừng, đặt tên cho thứ này là “mắt phượng hoàng”.

Loại nước nhuộm móng tay này chỉ hai người mới có, trên đời này tuyệt đối không có người thứ ba sở hữu nó. Nhưng bây giờ trên cánh hoa sen này lại xuất hiện một chấm “mắt phượng hoàng”.

Lục La bỗng cảm thấy sợ hãi. Nàng định thần lại, chậm rãi quan sát từng cánh hoa sen, đột nhiên nhìn thấy một cánh hoa sen bên cạnh có vẻ nhẵn nhụi hơn bình thường. Nàng đưa tay nắm lấy, xoay sang hai bên, quả nhiên cánh hoa bắt đầu xoay tròn.

Mồ hôi chảy ròng ròng trên trán, Lục La vặn trái vặn phải, đột nhiên bên trong đế tượng vang lên tiếng động rất khẽ. Nàng giật mình, vội vàng lùi lại, đặt mông ngồi bệt xuống đất, trợn mắt lên nhìn. Phần đế phía sau tượng từ từ hạ xuống, trước mắt nàng hiện ra một đường hầm tối tăm, sâu hun hút.

Lục La ngồi dưới đất một hồi lâu mới hạ được quyết tâm. Nàng rút một con dao găm trong ống giày ra. Thời gian này nàng luôn luôn giấu dao găm trên người để ám sát Huyền Trang. Sau đó nàng nhìn quanh một chút rồi mới chui xuống hầm. Khi nàng đi vào hầm, sau lưng lại bắt đầu chấn động. Phiến đá dày hai tấc đó chậm rãi nâng lên chặn kín cửa hầm, xung quanh lập tức tối đen như mực.

Trái tim tiểu ma nữ đập thình thịch. Trong hầm rất yên tĩnh, thậm chí nàng có thể nghe thấy tiếng tim mình đang đập. Dưới chân là bậc thang, nàng cẩn thận đi xuống từng bước. Sau khi qua một chỗ ngoặt, trước mắt dần dần có ánh sáng xuất hiện, bên vách địa đạo đột nhiên xuất hiện một bóng người!

“Á…” Lục La kêu một tiếng sợ hãi, dao găm suýt nữa rơi xuống đất.

Nhưng bóng người nọ vẫn không hề nhúc nhích. Nàng lấy can đảm chậm rãi đi tới, phát hiện đó là một bàn thờ phật được đục vào vách đá, bên cạnh điêu khắc một bức tượng quỷ dạ xoa dữ tợn, trong tay quỷ dạ xoa cầm một chiếc đèn dầu.

“Sợ chết đi được!” Lục La không ngừng vỗ ngực, lẩm bẩm. Bậc thang vẫn kéo dài xuống phía dưới, ước chừng đã sâu đến hai trượng dưới mặt đất, vách hầm ẩm ướt, có nước đọng thành giọt. Cứ cách mười trượng lại xuất hiện một bức tượng quỷ dạ xoa nhìn rất sinh động, mặt mũi âm trầm hung ác, nhưng tư thế của mỗi một pho tượng đều khác nhau. Đến dưới cùng, địa đạo lại chạy dần lên phía trên. Cũng không biết đi bao lâu mới đến cuối hầm, nhưng Lục La lại sững sờ.

Cuối hầm không có cửa mà là một pho tượng quỷ dạ xoa.

Lục La cảm thấy hết sức kì quái, sao lại như thế được chứ? Rõ ràng là không có đường rẽ nào mà! Nàng chợt nghĩ ra một chuyện, đưa tay sờ soạng trên người dạ xoa, quả nhiên nhìn thấy trước ngực dạ xoa có một đóa hoa kỳ lạ, trơn bóng hơn bình thường. Theo cách làm lúc trước, nàng đưa tay vặn đóa hoa xoay tròn, trái ba phải bốn, dưới chân phát ra tiếng động, con quỷ dạ xoa từ từ hạ xuống. Trước mắt nàng bỗng nhiên sáng ngời, một luồng không khí tươi mát tràn vào, dường như bên ngoài còn có cành lá đu đưa.

Lục La cúi đầu chui ra, bên cạnh có tiếng lá trúc xào xạc, bức tượng quỷ dạ xoa sau lưng lại trồi lên như cũ. Mặt sau tượng là một bức tường, trên tường có chữ “Phật” to lớn khắc bằng đá. Bên ngoài là một khu rừng trúc, lá trúc sum suê đu đưa trong nắng chiều, phát ra âm thanh xào xạc khi có gió nhẹ thổi qua.

Sắc trời đã muộn.

“Mình đã đi tới nơi nào thế này?” Lục La hơi hoang mang nhìn quanh một lượt, phát hiện mình đang ở trong một tòa thiền viện. Thiền viện không lớn, chỉ có ba gian nhà. Bố cục trong viện cũng rất đơn giản, chính giữa sân có một bức bình phong điêu khắc Đạt Ma diện bích, ngoài ra không có một cây cối nào khác.

Tòa thiền viện này xây ở vị trí cao trên núi Hoắc, cửa viện nhìn về hướng nam. Từ đây nhìn xuống có thể thấy mái của những tòa đại điện tầng tầng lớp lớp. Mồ hôi trên người bị gió thổi, Lục La không khỏi rùng mình một cái. Nàng quay lại nhìn thiền phòng, trong phòng sáng đèn, lờ mờ có bóng người lay động.

“Chẳng lẽ mẫu thân đã vào thiền phòng?” Trong lòng Lục La dâng lên một cảm giác cổ quái. Nàng rón rén đi tới, đến dưới hiên liền loáng thoáng nghe thấy tiếng rên rỉ kìm nén của phụ nữ. Lục La ngây người, cảm thấy âm thanh này cực kỳ quỷ dị, dường như rất sung sướng, lại dường như đang phải chịu đau khổ nào đó. Lục La không biết có chuyện gì, nhưng nghe một lúc lại cảm thấy trong lòng vô cùng khó chịu, hai chân cũng dần dần bủn rủn.

Âm thanh này quá mức quái dị, còn kèm theo tiếng thở dốc kịch liệt, hỗn loạn vô cùng, nàng nhất thời cũng không nhận ra được có phải giọng của mẫu thân mình hay không. Nàng tự nhủ trong lòng, không được, phải làm rõ xem đã xảy ra chuyện gì, nếu mẫu thân bị kẻ xấu khống chế hành hạ thì nàng nhất định phải xông vào cứu người.

Âm thanh từ trong phòng bên trái truyền ra, Lục La suy nghĩ một lát, lặng lẽ dùng dao găm chọc thủng một lỗ bằng đầu ngón tay trên giấy dán cửa sổ, mở to mắt nhìn vào bên trong.

Ngay cạnh cửa sổ là giá áo, trên đó vắt mấy món quần áo bừa bộn. Phía trong là một chiếc giường, màn che vén lên, hai thân thể trần trụi đang quằn quại trên giường, rất dễ nhìn ra là một nam một nữ. Nữ tóc đen như thác nước, nam lại là một hòa thượng trọc đầu. Hai người đều đang vận động kịch liệt, thân thể trần trụi nhầy nhụa mồ hôi, thỉnh thoảng lại phát ra tiếng rên rỉ kìm nén nặng nề.

Lục La ngây ra như bị sét đánh, cầm dao găm trượt xuống ngồi bệt dưới đất. Mặc dù nàng không hiểu việc đời nhưng không đến nỗi chuyện gì cũng không biết. Chuyện nam nữ trộm tình nàng cũng đã nhiều lần nghe thấy nơi đầu đường cuối ngõ, một số vở kịch còn diễn cả cảnh này.

Người phụ nữ đó đúng là mẫu thân của mình hay sao? Lục La không dám nghĩ tiếp. Mẫu thân đoan trang hiền thục của mình tại sao lại có lúc phóng đãng như vậy, hơn nữa… hơn nữa người kia còn là một hòa thượng trong chùa…

Không biết trải qua bao lâu, trong lúc đầu óc Lục La vẫn trống rỗng, vở kịch trong phòng đã hạ màn, có tiếng thì thầm khe khẽ vang lên. Lúc này Lục La có thể nghe rõ, dù người phụ nữ đó đã hạ giọng rất thấp nhưng nàng vẫn có thể nhận ra đó chính là mẫu thân của mình, Lý Ưu Nương!

Cảm giác tủi nhục vô cùng vô tận khiến toàn thân nàng run lên. Nàng không biết phải làm sao đối mặt với chuyện này, chỉ ngồi dưới đất hai tay ôm gối, ngơ ngác trợn mắt nhìn bầu trời rực rỡ ráng chiều, không biết từ khi nào nước mắt của nàng đã lã chã tuôn rơi…

“Buổi tối còn có chuyện quan trọng, ta đi thay quần áo, nàng đi trước đi.” Giọng nói khe khẽ của người đàn ông đó lọt vào tai nàng.

“Vâng.” Lý Ưu Nương ngoan ngoãn nghe lời, sau đó lập tức có tiếng bước chân vang lên.

Lục La giật mình, vội lách vào rừng trúc, bí mật trốn sau một lùm cây không dám lên tiếng. Có tiếng mở cửa vang lên, Lý Ưu Nương đội mũ mạng nhẹ nhàng đi ra ngoài cửa, nhìn hai bên một chút, lại không đi vào rừng trúc để trở lại địa đạo mà đi thẳng ra cổng thiền viện.

Lục La thở phào một tiếng, ngồi yên một lát, lại nghe thấy tiếng bước chân vang lên trong thiền phòng, xem ra hòa thượng đó chuẩn bị đi ra. Lửa giận lập tức dâng lên, nàng cắn chặt môi đến bật máu: “Ác tăng, bất kể mẫu thân ta tự nguyện hay là bị ép buộc, đều tại ngươi đã khiến ta phải chịu nhục nhã đến nhường này, đều tại ngươi đã khiến kế phụ ta phải chịu sỉ nhục, ta tuyệt đối không thể để ngươi tiếp tục sống trên đời này!”

Thấy hòa thượng đó sắp đi ra ngoài, nàng men theo tường đi đến bên cửa, hai mắt như phun ra lửa. Cánh cửa mở ra, hòa thượng chậm rãi xuất hiện. Lục La lập tức lao tới, dao găm trong tay đâm thẳng vào ngực hòa thượng đó.

“A…” Hòa thượng phát ra một tiếng kêu thảm ngắn ngủi, sau đó trợn mắt ngây ngốc nhìn tiểu nữ tử trước mặt này.

Lục La căm hận ngẩng đầu nhìn hắn, sau đó chết sững như trời trồng.

Hòa thượng cùng mẫu thân của nàng trộm tình này không ngờ lại là trụ trì chùa Hưng Đường, Không Thừa!

« Lùi
Tiến »