Dấn Thân

Lượt đọc: 2719 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 10

Việc đầu tiên William làm khi quay trở lại Scotland Yard là báo cáo với cấp trên về cuộc gặp của anh với Appleyard.

“Anh ta chỉ cung cấp được một thông tin có ích,” Lamont nói. “Cậu nhận ra chưa?”

“Hình xăm ư?”

“Nó đấy. Vì nếu cậu tìm được Angie thì cô ta có thể dẫn chúng ta tới chỗ người mua hàng bí ẩn này.”

“Nhưng bằng chứng chúng ta có chỉ là một hình xăm.”

“Có khi thế là đủ.”

“Tại sao vậy?”

“Hãy nghĩ như một tên tội phạm đi, chàng trai, đừng nghĩ như cậu bé hát đồng ca nữa,” Lamont nói và ngồi dựa người ra sau ghế.

“Pentonville,” Wlliam nói sau một thoáng im lặng.

“Cậu đi đúng hướng rồi đấy. Nhưng cậu sẽ cần nói chuyện với ai ở Pentonville?”

“Ngài thống đốc?”

“Không. Chức vụ quá to, không phù hợp với mục đích.”

William có vẻ lạc lối, và một lần nữa phải chờ Lamont nói hộ.

“Cậu đã kể với tôi Appleyard chỉ ngồi tù Pentonville ba tuần trước khi bị chuyển đi Ford Open.”

“Vâng, sếp.”

“Trong thời gian ấy anh ta được gặp người thân thăm tù ba lần. Vậy cậu chỉ cần tìm xem có ai tên là Angie đã đăng kí tới thăm Pentonville trong thời gian Appleyard ở đó. Nếu có, chắc chắn họ sẽ lưu thông tin của cô ta trong hồ sơ.”

“Chúng ta cũng phải hi vọng rằng cô ta vẫn còn là bạn gái của ông ta.”

“Điều đó không thành vấn đề. Một hình xăm với bọn lừa đảo cũng giống như một chiếc nhẫn với cậu và tôi vậy. Hình xăm là một lời cam kết, và, chấp nhận đi, đó là tất cả những gì chúng ta có để tiếp tục. Hãy nói chuyện với sĩ quan cao cấp phụ trách các buổi thăm nuôi. Tên anh ta là Leslie Rose. Với cậu thì phải xưng ông. Nhớ phải chuyển lời chúc tốt đẹp của tôi tới anh ta nhé.”

William quay lại bàn mình và tìm số điện thoại của cảnh sát phụ trách thăm nuôi tại Nhà tù Pentonville. Khi có người nghe máy, một giọng sang sảng vang lên, “Rose đây.”

“Chào ông. Tôi là thanh tra cảnh sát Warwick, và tôi gọi tới theo gợi ý của cấp trên của tôi, chánh thanh tra Lamont.”

“Một thằng khờ toàn tập.”

“Tôi xin lỗi, thưa ông?”

“Bất kì gã ngốc nào tin rằng Arsenal có thể đoạt cúp thì đều là khờ toàn tập. Tôi giúp gì được cho cậu, thanh tra?”

“Năm 1981, ông đã có một tù nhân tên là Appleyard ở Pentonville. Ken Appleyard. Anh ta chỉ ở chỗ ông ba tuần, từ mùng chín đến mười ba tháng Tư, trước khi bị chuyển đi Ford.”

“Anh ta thì sao?”

“Trong lúc anh ta ở đó, một tù nhân khác, mà tên thì anh ta không thể nhớ nổi…”

“Hay không muốn nhớ.”

“… có thể đã được bạn gái tới thăm nuôi, người mà chúng tôi biết có tên là Angie.”

“Điều gì khiến cậu chắc chắn như thế?”

“Appleyard nhớ được đã thấy hình xăm trên cánh tay phải của ông ta. Một trái tim đỏ với cái tên Angie vắt ngang.”

“Điều tra khá đấy, chàng trai. Khả năng tìm lại được là không cao, nhưng tôi sẽ báo lại cho cậu.”

“Cám ơn ông.”

“Chuyển lời hỏi thăm của tôi đến Bruce. Bảo ông ta là đừng hi vọng gì vào thứ Bảy này.”

“Hi vọng gì cơ ạ?”

“Arsenal hạ được Spurs.”

“Vậy tôi đoán là ông cổ vũ cho Tottenham Hotspur?”

“Tôi thấy là Yard vẫn chỉ tuyển mỗi người thông minh giỏi giang nhất hạng thôi. Vậy cậu cổ vũ đội nào?”

“Fullham ạ. Và tôi nên chỉ ra là gần đây các ông chưa hạ được chúng tôi.”

“Và tôi thì nên chỉ ra, cảnh sát ạ, rằng đó có khi đó chỉ là vì chúng tôi đã không đấu với các cậu mấy năm nay rồi, và chúng tôi khó có khả năng làm vậy khi các cậu vẫn cứ lệt xệt tận hạng hai.” Điện thoại bắt đầu kêu tút tút.

William dành cả buổi chiều để viết báo cáo về cuộc gặp với Appleyard và cuộc nói chuyện trên điện thoại với Sĩ quan Rose ở Pentonville. Anh quyết định sẽ không nhắc tới những câu thêm nếm về Arsenal, rồi bỏ lại bản báo cáo đã được biên tập gọn gàng trên bàn chánh thanh tra Lamont ngay sau 5 giờ 30.

William đã định chuồn đi trước sáu giờ, để không đến muộn buổi thuyết trình đã từng bị hoãn của Tim Know ở Fitzmolean, và cả bữa tối sau đó với Beth.

Anh định rời đi thì điện thoại reo. Jackie cầm máy.

“Của cậu này, Bill,” cô nói và chuyển cuộc gọi sang bàn William. Anh mỉm cười, mong được nghe giọng nói vui vẻ của sĩ quan Rose ở đầu dây bên kia.

“Thanh tra cảnh sát Warwick phải không?” Một giọng nói khó nghe hỏi.

“Vâng. Ai đấy?”

“Tên tôi là Martin. Tôi làm việc ở hiệu sách John Sandoe ở Chelsea và anh đã ghé chỗ chúng tôi tuần trước. Kẻ anh đang lùng bắt đã trở lại, nhưng lần này thì lại tìm ấn bản đầu tiên của Dickens.”

William giơ một tay lên trời, dấu hiệu cho thấy tất cả các cảnh sát khác ở đó nên chú ý lắng nghe cuộc nói chuyện.

“Nhắc lại cho tôi địa chỉ của các anh?”

“Blacklands Terrace, trên đường King.”

“Cứ dụ ông ta nói chuyện nhé,” William nói. “Tôi đang trên đường đến.”

“Có một chiếc xe tuần tra đang chờ cậu bên ngoài,” Lamont nói khi ông đặt điện thoại xuống. “Đi đi.”

William chạy ra khỏi văn phòng, nhảy cóc hai bậc một xuống cầu thang và lao ra cửa trước, tìm thấy chiếc xe đang đợi, động cơ đã bật và cửa cho hành khách mở sẵn. Tài xế lái đi, còi hiệu hú vang, đèn hiệu lấp loá, trước cả khi William kịp đóng cửa.

“Danny Ives,” tài xế nói, chìa ra bàn tay trái, bàn tay kia của anh ta vẫn đang bám chặt bánh lái trong lúc anh tăng tốc. Rõ ràng anh ta không chờ được bảo phải đi đâu.

“William Warwick,” William nói, chấp nhận rằng nếu có một đồng nghiệp không tuyên bố cấp bậc của mình, rất có thể anh ta chỉ là cảnh sát. Mặc dù trên thực tế thì hầu hết lái xe của Cảnh sát Đô thị đều tự coi họ thuộc một đẳng cấp riêng, và thủ đô chẳng khác nào một đường đua Công thức Một, chỉ thêm trở ngại là những người đi bộ.

Ives chạy vèo vào phố Victoria, né tránh dòng xe cộ buổi chập tối trong lúc tìm đường về Quảng trường Quốc hội. Anh ta vượt một đèn đỏ khi đi ngang qua Lưỡng viện. Mặc dù William từng chạy xe ưu tiên vài lần trước đây, anh vẫn cảm thấy như một cậu học sinh đang được thoả giấc mơ điên rồ nhất của mình khi từng chiếc xe ô tô, xe tải, xe chở hàng và xe buýt dạt sang bên để cho họ đi qua. Khi họ tới gần cột đèn giao thông ở Cầu Chelsea, Ives đi chậm lại và lờ tịt biển báo cấm rẽ phải, rút ngắn quãng đường xuống vài phút. Anh ta tăng tốc trên cầu Chealse hướng về phố Sloane, một nơi đặc biệt đông đúc trong giờ cao điểm. Anh ta tới được cột đèn giao thông ở Quảng trường Sloane ngay khi nó chuyển sang màu đỏ và len vào làn dành cho xe buýt mà không dừng lại. Khi họ rẽ trái qua Peter Jones và tiếp tục trên đường King, Ives tắt còi nhưng vẫn để đèn hiệu bật sáng.

“Không muốn hắn biết chúng ta đang trên đường nhỉ?” Anh ta bảo. “Một sai lầm họ hay mắc phải trong các bộ phim.”

Anh ta rẽ vào đường Blacklands, William trông thấy một chàng trai trẻ đang đứng bên ngoài cửa hàng sách, vẫy hai cánh tay. Anh nhảy ra khỏi xe và chạy tới chỗ anh ta.

“Anh vừa bỏ lỡ gã đó rồi. Tôi không thể giữ chân gã thêm nữa. Ông ta kia kìa, trong chiếc áo mưa màu be, đang hướng tới Quảng trường Sloane.”

William nhìn về hướng người bán sách đang chỉ nhưng chỉ thoáng thấy hình ảnh một người đàn ông rẽ ở khúc quanh.

“Cảm ơn!” Anh hét lên và nhảy xuống xe chạy đuổi theo. Mắt anh không ngừng tìm kiếm trong đám đông trước mặt, nhưng anh phải tránh người đi đường, vì không còn có còi cảnh sát hỗ trợ nữa. Rồi anh trông thấy một người đàn ông mặc áo mưa màu be. Anh đã chuẩn bị tóm lấy gã thì trông thấy gã đang đẩy chiếc xe nôi bằng một tay còn tay kia thì đang cầm tay một đứa bé.

William tiếp tục chạy, mỗi bước chân lại kém tự tin hơn, nhưng rồi anh thoáng thấy một chiếc áo mưa màu be khác biến mất vào ga tàu điện ngầm Quảng trường Sloane. Khi chạy tới trạm soát vé, anh lôi thẻ công vụ ra nhưng không cho người soát vé cơ hội nào để kiểm tra nó trong lúc vùng chạy qua. Anh trông thấy người đàn ông ở gần chân cầu thang máy, nhưng rồi lão lại biến mất lần nữa. William lao xuống thang, gạt những hành khách sang bên, và suýt thì bắt kịp người đàn ông kia khi ông ta rẽ phải và hướng tới tuyến tàu Quận đi về phía đông.

William trồi lên sân ga đông đúc khi con tàu phanh kít lại. Anh nhìn trái nhìn phải trước khi bắt gặp người kia đang lên tàu ở cách đó khoảng năm khoang. William nhảy vào khoang gần nhất khi cửa sắp đóng, tóm lấy một thanh bám để giữ thăng bằng và lấy lại nhịp thở. Khi tàu lại dừng ở trạm tiếp theo, anh nhảy ra, nhưng chiếc áo mưa màu be không còn xuất hiện. Vì thế, như một con tướng trên bàn cờ, anh tiến từng ô vuông một, lẻn vào khoang tàu tiếp theo ở mỗi trạm dừng kế tiếp.

Vị khách mặc áo mưa đã không xuống tàu, và bốn trạm sau đó William đã ở trong khoang liền kề. Anh chọn một ghế gần đầu khoang và liếc qua cửa sổ ngăn cách để nhìn con mồi của mình kĩ hơn. Người đàn ông đang lật tờ Evening Standard và khi họ dừng ở trạm tiếp theo ông ta thậm chí còn không nhìn lên. Đây hẳn là một chuyến đi dài.

Đến lúc người đàn ông kia gập báo lại, họ đã đi qua hai mươi mốt bến, mỗi lần đỗ lại cho William thừa thời gian để chắc chắn anh đang đi theo đúng người. Quãng sáu mươi, sáu lăm tuổi, tóc xám, hơi khòng. Anh không cần phải nghe giọng của ông ta cũng biết đó chính là vị khách mà ông quản lí ở Hatchards đã mô tả cho anh nghe.

Cuối cùng người đàn ông cũng xuống ở Đông Dagenham. William giữ khoảng cách khi anh rời khỏi ga. Lúc đầu anh đã có thể ẩn mình trong đám đông, nhưng khi hành khách vơi dần anh càng ngày càng phải lùi xa hơn về đằng sau. Anh cân nhắc việc bắt giữ người đàn ông đó ngay và luôn, nhưng đầu tiên anh cần phải biết nơi ông ta sống, để biết bằng chứng sẽ được giấu ở đâu.

Người đàn ông rẽ xuống một con phố nhánh và dừng chân trước một cánh cổng xoay nhỏ. William tiếp tục đi tới và ghi nhớ số nhà, 43, ông ta mở cửa trước rồi biến mất vào trong. Khi William tới cuối phố, anh ghi nhớ thêm Monkside Drive vào ngân hàng trí nhớ của mình và miễn cưỡng quyết định không nên cố đột nhập vào ngôi nhà đó cho đến khi đã báo cáo lại với chánh thanh tra Lamont và xin được lệnh khám nhà. Anh tin chắc rằng người đàn ông trong chiếc áo mưa màu be này sẽ không đi đâu ngay.

William quay lại đi về phía nhà ga, lòng hân hoan, nhưng vài giây sau tâm trạng của anh đã thay đổi. Anh nhìn đồng hồ: 7 giờ 21. Chắc Beth đang tự hỏi anh đã ở đâu.

Anh chạy suốt quãng đường quay lại nhà ga, nhưng ngay trong lúc đang đứng một mình trong sân ga vắng lạnh, hút gió chờ chuyến tàu tiếp theo xuất hiện anh đã biết rõ mình không tài nào có mặt ở Kensington kịp giờ cho bài giảng của Tiến sĩ Knox. Quãng đường sóc nẩy giữa các nhà ga, điều mà William không hề chú ý trong suốt chặng đường tới Dagenham khi adrenalin của anh còn đang dâng đầy và anh phải tập trung từng giây một, giờ đây dường như dài vô tận. Cuối cùng chuyến tàu cũng tới Nam Kensington lúc 8 giờ 15. William chạy lên cầu thang và lao ra Thurloe Place, nhưng đến lúc anh tới được cửa vào bảo tàng Fitzmolean thì toà nhà đã tối đen.

Trong lúc đi bộ chầm chậm về hướng nhà Beth, anh bắt đầu chuẩn bị bài phát biểu giải thích tại sao mình không xuất hiện đúng giờ nghe giảng. Anh đã trau chuốt câu từ gần như hoàn hảo khi tới được cửa nhà cô.

Anh đứng đó một lát trước khi gõ nhẹ hai tiếng lên búa gõ cửa. Vài giây sau, cửa mở ra và một chàng trai cao lớn, đẹp trai hỏi, “Tôi giúp gì được anh?”

William muốn nôn.

“Tôi muốn gặp Beth,” anh buột miệng nói khi một người trong chiếc váy ngủ xuất hiện, khăn tắm quấn quanh tóc.

“Vào đi, William,” Beth nói. “Em không chờ nổi để nghe tại sao anh lại cho em leo cây. Em có thể đoán là anh đã tìm được bức Rembrandt không? Trong lúc tớ lau đầu, Jez,” cô nói với chàng trai kia, “cậu làm ơn đưa William vào phòng khách và mời anh ấy một đồ uống được không? Dù anh ấy chẳng đáng được thế.”

« Lùi
Tiến »