“Cậu có tới được hiệu sách đúng lúc không?” Lamont hỏi khi William bước vào văn phòng sáng hôm sau.
“Có, thưa sếp.”
“Cậu bắt được hắn không?”
“Không ạ.”
“Sao lại không?”
“Đến lúc tôi bắt kịp ông ta thì ông ta đã lên tàu điện ngầm chạy về Đông Dagenham rồi. Tôi quyết định phải tìm ra ông ta sống ở đâu đã, rồi sáng nay sẽ quay lại với lệnh khám nhà.”
“Đồ ngu,” Lamont nói. “Đáng lẽ cậu phải bắt hắn ngay và luôn, rồi lập tức lục soát căn nhà. Hãy hi vọng là cậu sẽ không phải giải thích với Hawk tại sao hắn lại biến mất trong đêm.”
“Ông ta không đi đâu đâu, sếp ạ.”
“Làm sao cậu biết được hả, thanh tra? Cậu là cảnh sát chứ có phải thầy bói đâu. Hắn có thấy cậu đi theo không?”
“Tôi không nghĩ vậy, thưa sếp.”
“Hãy hi vọng là không, bởi vì chắc chắn cậu đã cho hắn thừa thời gian để huỷ bằng chứng, thậm chí còn đào tẩu nữa.”
William cảm giác như mình là một cậu học trò mắc lỗi đang bị hiệu trưởng mắng nhiếc vì cậu đã không làm bài tập về nhà tử tế vậy.
“Và tôi có thể hỏi thêm được không, nhóc, tại sao cậu vẫn còn mặc bộ quần áo đã mặc ngày hôm qua?”
“Tôi ngủ quên, thưa sếp, và tròng vào người thứ đầu tiên tôi tìm thấy, vì tôi không muốn bị muộn.”
“Vì thế mà cậu quên cạo râu luôn hả?” William cúi đầu. “Chà, tôi hi vọng cô ta xứng đáng,” Lamont nói, “bởi vì như hiện nay cậu đã gặp đủ rắc rối rồi đấy. Tôi sẽ cho cậu biết chuyện gì sắp xảy ra tiếp theo. Cậu sẽ về nhà, tắm rửa, cạo râu và thay quần áo, rồi quay lại đây trong vòng một tiếng, đến lúc đó tôi sẽ lấy được lệnh khám nhà của nghi phạm. Cậu và thanh tra Roycroft sẽ đi đến Dagenham, bắt nghi phạm, buộc tội hắn ta và thu thập mọi bằng chứng có thể để đảm bảo là chúng ta giữ được tên khốn đó khi vụ án ra đến toà. Rồi cậu sẽ tháp tùng hắn tới một trại giam ở đó, nơi hắn có thể ở lại đến khi ra gặp quan toà vào sáng mai. Mà Warwick này, nếu hắn đã bỏ trốn, hoặc huỷ bằng chứng, cậu sẽ chịu trận trước mặt ngài chỉ huy, và tôi có lẽ sẽ phải gợi ý rằng đi tuần tra đường phố thêm một khoảng thời gian dài hơn sẽ không hại gì đến cậu. Giờ thì đi đi, trước khi hắn chết vì tuổi già sức yếu.”
Trên đường quay lại Victoria, William không thể không nghĩ lại chuyện đã xảy ra tối hôm trước. Anh và Jez, bạn cùng phòng với Beth, đã cùng uống bia, khi đó chủ yếu là Jez nói chuyện. Anh ta nói rằng mình và Beth cùng học đại học với nhau, và mối quan hệ của họ là trong sáng. William không cần anh ta phải giải thích tại sao.
Khi Beth quay lại với họ, vẫn trong bộ áo ngủ, Jez nhanh chóng biến mất.
“Em không cần phải gội đầu chỉ vì anh đâu,” William nói.
“Đừng có cố đánh trống lảng,” Beth nói khi cô ngồi xuống cạnh anh trên ghế xô-pha. “Em vẫn muốn biết tại sao anh lại cho em leo cây.”
William chưa kể được đến đoạn Dagenham thì đã hôn cô, và đáng lẽ anh đã kể nốt chuyến truy lùng kẻ giả chữ ký Churchill trong bữa sáng, nếu lúc đó Beth không nhắc anh đã là mấy giờ.
“Tôi định ghé Phòng trưng bày tranh giả vào ngày mai,” anh nói lúc hướng ra cửa. “Ông có muốn đi cùng tôi không?”
“Có, cứ cho là cậu không bị Kẻ treo cổ ở Boston cầm chân.”
Khi William xuất hiện ở Scotland Yard sáng hôm đó anh đã dành vài phút ở nhà vệ sinh, cố hết sức để trông mình tạm được. Nhưng những nỗ lực yếu ớt ấy không lừa được Lamont.
Ngay khi về tới căn phòng nhỏ ở Trenchard House, anh đã tắm rửa, cạo râu và mặc quần áo sạch. Anh quay lại bàn làm việc trong vòng một tiếng sau, đến lúc đó Lamont đã xác định được nghi phạm từ địa chỉ nhà hắn ở Dagenham – một người tên Cyril Amhurst. Ông ta cũng đã kiếm được lệnh khám nhà từ quan toà địa phương.
“Jackie sẽ đi cùng cậu,” ông ta bảo William, “vì rõ ràng cậu cần có cô bảo mẫu cầm tay chỉ việc. Hãy hi vọng ông Amhurst chưa bỏ trốn.”
William chọn một chiếc xe trong bãi xe và chạy về phía đông dọc bờ Đê sông Thames hướng về Dagenham, với cô bảo mẫu ngồi ở ghế hành khách. Đây là lần đầu tiên cả hai cùng nhau đi ra ngoài, trừ những buổi xây dựng tinh thần đồng đội ở Bể, một bể nước nổi tiếng dưới tầng một của Scotland Yard. Anh vẫn chưa tìm được phòng bi-da nằm ở đâu.
Trong lúc họ cùng đi qua khu Mé Đông, William phát hiện ra Jackie đã li dị và có một đứa con gái tên Michelle, cùng với một người mẹ cảm thông đã cho phép cô làm công việc mình yêu thích.
William không nhắc gì đến cha mẹ hay chị gái anh, nhưng anh kể cho Jackie là mình định ghé Phòng trưng bày tranh giả ở Notting Hill ngày mai, cùng một cô trợ lí nghiên cứu ở Fitzmolean.
“Cô ấy là lí do sáng nay cậu tới muộn hả?”
“Vâng,” William nói, quay sang nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Vậy thì hãy hi vọng cô ấy là người biết thông cảm.”
“Ý chị là gì?”
“Có nhiều vụ li dị trong ngành cảnh sát hơn bất kì ngành nghề nào khác. Tôi vẫn còn yêu chồng cũ lắm, nhưng anh ấy đã chán ngấy việc không bao giờ biết khi nào thì tôi được về nhà, hay thậm chí là tôi có về được hay không, nên anh ấy đã tìm người nào đó luôn về nhà đúng giờ để ăn tối, chứ không phải ăn sáng. Nhân tiện, tốt hơn cậu nên cho sếp biết cậu định ghé Phòng trưng bày tranh giả ngày mai.”
“Tại sao? Đó là ngày nghỉ của tôi mà.”
“Kể cả thế, ông ấy không thích là người thứ hai biết chuyện gì đâu.”
“Cảm ơn vì lời khuyên,” William nói khi họ tiến vào Dagenham.
Trong bốn mươi phút vừa qua, William đã học được nhiều điều về Jackie hơn cả một tháng vừa rồi.
“Chúng ta sẽ làm gì nếu ông ta không có nhà?” Anh hỏi khi họ tấp xe vào bên ngoài số 43 Monkside Drive.
“Chờ đến khi ông ta xuất hiện. Đa phần công việc của cảnh sát chỉ là phục sẵn ở ngoài thôi.”
“Chị hay tôi?” William hỏi khi cả hai bước lên lối vào nhà.
“Cậu. Cậu là người phụ trách vụ này mà.”
William cảm thấy hồi hộp lúc gõ vào cánh cửa, nhiều giây trôi qua, anh bắt đầu lo sợ điều tồi tệ nhất. Anh định quay lại xe ô tô thì cánh cửa mở ra.
“Ông Cyril Amhurst?”
“Vâng,” người đàn ông nói và dành cho họ nụ cười ấm áp. “Tôi giúp gì được anh chị?”
“Tôi là thanh tra cảnh sát Warwick, và đây là đồng nghiệp của tôi, trung sĩ Roycroft.” Họ trưng ra thẻ công vụ, khiến nụ cười của Amhurst biến mất. “Chúng tôi vào trong được không, thưa ông?”
“Được, tất nhiên rồi,” ông ta nói, kém nhiệt tình hơn. Ông ta dẫn họ qua phòng trước, nhưng không ngồi xuống. “Vậy chuyện này là thế nào?” Ông ta hỏi.
“Chúng tôi nhận được vài lời khiếu nại từ các hiệu sách ở London về việc ông đang bán cho họ các cuốn sách Thế chiến thứ Hai có chữ kí của Winston Churchill.”
“Tôi không biết đó lại là phạm pháp cơ đấy.”
“Đó sẽ là tội nếu chữ kí ấy là của ông, chứ không phải của Ngài Winston,” Jackie nói cứng rắn.
“Tôi cũng phải thông báo cho ông,” William nói, “rằng tôi đã có lệnh khám xét ngôi nhà này.”
Mặt Amhurst tái mét, và ông ta ngồi thụp xuống xô-pha. Trong một phút, William tưởng ông ta sẽ ngất xỉu.
William và Jackie dành hai tiếng tiếp theo để làm nhiệm vụ của mình, một trong hai người họ lúc nào cũng ở trong phòng khách, còn Amhurst chỉ ngồi trên xô-pha. William nhanh chóng nhận ra thanh tra Roycroft đã làm việc này rất nhiều lần trước đây.
“Anh chị có muốn dùng trà không?” Amhurst hỏi trong lúc chồng sách nhỏ biến thành một ngọn núi ở giữa phòng.
“Không cảm ơn ông,” William nói và đặt hai chai mực đen Waterman bên cạnh vài chồng giấy kẻ dòng dày đặc những chữ kí của Winston S.Churchill.
Đến lúc Jackie thấy công việc đã được hoàn thành theo ý cô, cả hai đã tìm được vài thứ đáng giá, bao gồm một bộ Thế chiến thứ hai đầy đủ sáu tập của Churchill, trong đó ba tập đã được kí, cũng như các sách của Lewis Carroll, Đại nguyên soái Montgomery và Tổng thống Eisenhower, chưa được kí. Nhưng phần thưởng cao nhất chính là ấn bản đầu tiên Giáng sinh yêu thương đã được Charles Dickens kí.
Sau khi Jackie đã cho từng vật phẩm vào những chiếc túi khác nhau và dán nhãn cho chúng, William bắt ông Amhurst và cảnh cáo ông ta.
“Tôi có phải vào tù không?” Amhurst lo lắng hỏi.
“Giờ thì không. Nhưng ông sẽ phải đi cùng chúng tôi tới đồn cảnh sát Dagenham, ở đó ông sẽ bị thẩm vấn và có thể bị buộc tội. Trung sĩ phụ trách giam giữ sẽ quyết định ông có được quyền bảo lãnh hay không. Để cho an toàn, tôi khuyên ông nên gói ghém một túi đồ qua đêm.”
Amhurst không thể ngừng run.
William và Jackie hộ tống ông ta tới đồn cảnh sát địa phương, đăng kí phòng giam và trao lại các túi đựng vật chứng cho trung sĩ trực ban. Khi Amhurst bị buộc tội, ông ta không bình luận gì ngoài việc hỏi xem mình có được gọi cho luật sư không. Ông ta được lấy dấu vân tay và chụp ảnh trong lúc William và Jackie kí bàn giao để quay về Scotland Yard.
Trả lại chìa khoá xe xong, William hội ngộ cùng Jackie ở phòng lễ tân và đi thang máy lên tầng năm. Khi họ bước vào hành lang, William thấy đèn vẫn còn sáng dưới khe cửa ngài chỉ huy.
“Chị có nghĩ ông ấy cố tình để đèn kể cả khi không có trong phòng không?”
“Có thế thật thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên,” Jackie nói. “Nhưng không đời nào chúng ta biết được đâu.”
Bước vào văn phòng, họ thấy Lamont đang nghe điện thoại, nhưng ngay khi kết thúc cuộc gọi ông đã ngồi lại và nghe báo cáo của họ.
“Cậu gặp may đấy, William,” ông nói khi họ báo cáo xong. “Nhưng hãy đảm bảo là sau này cậu không mắc sai lầm ngớ ngẩn ấy nữa. Và nhớ là nghĩa vụ của cậu trong vụ này còn chưa xong đâu đấy. Nếu Amhurst kháng cáo vô tội, cậu sẽ bị triệu tập để đưa bằng chứng.”
“Chắc chắn ông ta sẽ nhận tội,” William nói. “Bằng chứng nhiều thế cơ mà.”
“Cậu không tin chắc được đâu. Tôi còn chưa có thời gian kể cho cậu nghe tôi đã mất bao nhiêu vụ tưởng nắm chắc trong tầm tay. Nhưng tôi thừa nhận là vụ lần này có vẻ khá chắc chắn. Nhân tiện, sĩ quan Rose đã gọi từ Pentonville. Anh ấy muốn cậu gọi lại.”
Sau khi trở lại bàn mình, William ngồi im lặng một lát, quá nhiều ý nghĩ khác nhau quẩn quanh trong đầu anh. Amhurst, tiếp theo là Beth, rồi họ bị Rose dẹp sang bên. Anh cầm điện thoại lên, bấm số Nhà tù Pentonville và yêu cầu được nối máy với Trung sĩ.
“Rose nghe.”
“Warwick đây thưa ông, tôi gọi lại cho ông.”
“Cậu gặp may đấy, thanh tra cảnh sát Warwick.” William mở cuốn sổ tay. “Có ba phụ nữ tên Angie đã tới thăm tù ở Pentonville từ khoảng mùng chín tháng Tư đến mười ba tháng Tư năm 1981. Một Angie Oldbury, Angela Ibrahim và Angie Carter.”
“Cho tôi xin thông tin chi tiết của cả ba người được không ạ.”
“Không cần,” Rose nói, “bởi vì một trong ba tù nhân được các cô Angie ấy thăm nuôi vẫn còn ở Pentoville, và một người là da màu, tôi có cảm giác Appleyard sẽ chú ý đến chuyện đó. Người thứ ba vừa được thả mới hơn một năm trước.”
“Tên ông ta là gì?”
“Kiên nhẫn nào, chàng trai. Người mà cậu có thể quan tâm đúng là một gã ác nhân bé nhỏ, tên Kevin Carter, sống ở Barnstaple. Chỗ đó ở Devon, nếu cậu chưa biết. Ban ngày hắn làm thợ khắc, còn ban đêm thì đi ăn trộm. Nên giờ đến lượt cậu chứng minh mình xứng đáng với cái chức danh đứng trước tên cậu.”
“Tôi sẽ tới đó ngay lập tức.”
“Mà cậu có chuyển lời chào của tôi tới ông sếp cậu chưa thế?”
“Tôi chuyển rồi ạ, thưa ông.”
“Ông ta bảo sao?”
“Tôi nghĩ tốt hơn ông nên hỏi ông ấy ạ.”
“Tệ thật,” Rose nói trước khi cúp máy.
William viết một bản ghi chú chi tiết về cuộc nói chuyện với Trung uý Rose trước khi đưa nó cho cấp trên.
“Thế từ thứ nhất bật ra khỏi trang giấy là gì?” Lamont hỏi sau khi đọc bản báo cáo.
“Thợ khắc.”
“Cậu học nhanh đấy,” Lamont nói. “Mặc dù Carter với Barnstaple là cũng đủ làm thứ hai và thứ ba rồi.” Ông ta xoay chiếc ghế của mình ngược lại. “Jackie, tốt hơn cô nên qua đây cùng chúng tôi.”
Một khi thanh tra Roycroft đã sẵn sàng, không thể thiếu chiếc bút bi cùng cuốn sổ mở sẵn, Lamont mới nói.
“Hai cô cậu sẽ phải dành ít nhất hai ngày ở West Country để trông chừng Carter. Tôi cần cậu tìm hiểu xem hắn định làm gì, và chính xác thì hắn đang khắc cái gì lên những món đồ bạc đã mua từ Vòm. Tại sao sao đột nhiên hắn lại đi mua, trong khi bình thường hắn chỉ cần chôm mấy thứ đó. Hắn không thể có chừng ấy tiền được, vậy thì ai đó chắc hẳn đã bơm tiền cho hắn. Nhưng là ai?”
“Sếp muốn chúng tôi đi lúc nào ạ?” Jackie hỏi.
“Ngay khi có thể. Trừ khi một trong hai người có gì quan trọng phải làm ở London?”
“Tôi có thể có,” William nói. “Gần đây tôi đã gặp một nhà nghiên cứu ở Bảo tàng Fitzmolean, và mặc dù tôi chưa biết được nhiều về tên trộm bức Rembrandt, cô ấy gợi ý tôi nên ghé thăm Phòng trưng bày Tranh giả ở Notting Hills, và tôi định sáng mai đến đó.”
“Tại sao?” Lamont hỏi.
“Cũng có khả năng tôi sẽ bắt gặp một bức tranh tương tự do chính người đã làm ra bức Rembrandt giả vẽ.”
“Đáng để thử đấy,” Lamont nói. “Mà mang cả quý cô trẻ tuổi ấy đi cùng cậu nhé, đặc biệt là nếu cô ta chính là lí do cậu bị muộn sáng nay.”
Jackie cố nén cười.
“Vậy là xong,” Lamont nói. “Cậu và Jackie có thể lái xe xuống Barnstaple sáng sớm thứ hai.”
“Tôi có được hỏi vụ buôn lậu kim cương đến đâu rồi không, thưa sếp?” William hỏi.
“Đừng có đùa với tôi, thanh tra, nếu không cậu sẽ thấy mình bị đá về Lambeth vừa kịp đi trực ca đêm nay đấy.”
“Em có một vụ án thú vị rất có thể chị sẽ thấy quan tâm,” Clare nói khi cô chuyển một tập hồ sơ đánh dấu RIÊNG TƯ sang.
Grace đọc kĩ càng những lời đánh giá của luật sư trợ giúp trước khi nói, “Nhưng chắc chắn chủ toạ sẽ không cho phép phiên toà tiếp tục trong những trường hợp như thế này chứ?”
“Có một tiền lệ đấy,” Clare nói. “Thẩm phán Havers đã cho phép con trai và con gái cùng xuất hiện trước mặt ông ấy, một người đại diện cho Chính quyền còn người kia đại diện cho bên bị. Nhưng phải được bị cáo chấp nhận với sự sắp đặt đó.”
“Không phải lĩnh vực chị thường làm,” Grace thú nhận khi đọc bản cáo trạng lần thứ hai. “Nhưng chị thừa nhận là thử thách này rất khó cưỡng. Và chị đoán cha chị cũng sẽ không phản đối đâu.”
“Chị đã kể ông ấy nghe về chúng ta chưa?” Clare hỏi, cố không tỏ vẻ hồi hộp.
“Chị không nói chi tiết gì cả.”
“Chị có bao giờ nói không thế?” Clare thở dài trước khi bảo thêm, “Em đã tra từ ‘phản động’ trong từ điển OED của em, và tìm được tên cha chị xuất hiện trong mục ghi chú đấy.”
Grace cười lớn. “Chị kể hết cho mẹ chị nghe về em rồi, và mẹ cực kỳ ủng hộ. Bà đã hỏi em có muốn ăn trưa cùng nhà chị vào Chủ nhật này không, và để cha tự mình hiểu ra mọi chuyện?”
“Chị nghĩ như thế nào thì cha chị sẽ vui sướng hơn khi giới thiệu thành viên mới cho câu lạc bộ Garrick – một kẻ giết người hàng loạt hay một cô gái đồng tính?”
“Giết người hàng loạt, chị cũng không chắc,” Grace nói khi cô đặt tập hồ sơ lên bàn cạnh giường và tắt đèn.