Họ ngồi bên nhau ở tầng trên của một chuyến xe buýt hướng tới Notting Hill.
“Anh có kế hoạch chưa đấy, thanh tra cảnh sát Warwick,” Beth hỏi, “hay chúng ta cứ ghé qua đấy thôi.”
“Cứ ghé qua đấy thôi,” William thừa nhận. “Nhưng anh đang hi vọng là đến lúc chúng ta trở về, anh sẽ biết ai đã vẽ nhái bức tranh Rembrandt bị mất.”
“Anh có tìm được gì thú vị về phòng trưng bày ấy chưa?”
“Nó được hai anh em trai sáng lập mười hai năm trước, Malcolm và Zac Knight. Lúc đầu nó là phòng trưng bày tranh chân dung, nhưng rồi họ nhanh chóng phát hiện ra chẳng có lợi nhuận gì ở mảng đó và chuyển sang làm những bức tranh giả của các bức tranh nổi tiếng cho những vị khách không mua nổi hàng thật, nhưng vẫn muốn treo một kiệt tác trên tường nhà mình với giá chỉ bằng một phần ngàn. Đó là khi công việc kinh doanh sinh lời tốt. Còn em thì sao?”
“Em đã hỏi một vòng mấy người bạn trong ngành. Hầu hết mọi người không tán đồng với phòng tranh ấy, mặc dù có một hai người thú nhận đó cũng là một cách kiếm sống khả dĩ với vài nghệ sĩ đang chật vật. Có vẻ là một vài bức tranh nhái có chất lượng rất cao. Nhưng nếu là em thì vẫn muốn có tranh gốc hơn.”
“Vậy thì em sẽ phải ăn trộm một bức thôi. Hoặc cưới một ông chồng rất giàu.”
“Cả hai đều không cần thiết,” Beth nói. “Em đã sống với những nghệ sĩ vĩ đại nhất thế giới rồi, và bạn trai mới nhất của em thì gần như là không một xu dính túi, nên việc ấy có vẻ không hứa hẹn lắm.”
“Nhưng đa phần mấy ông hoạ sĩ ấy đều là những người Hà Lan đã chết từ đời nào, nên chắc bạn trai em phải có một cơ hội chứ.”
“Không, trừ khi anh ấy tìm thấy bức Rembrandt của em.”
“Đó có phải là lí do em chọn anh không đấy?”
“Anh mới là người chọn em đó chứ, trừ khi anh đã quên. Và trong buổi hẹn thứ hai của chúng ta, thậm chí anh còn không xuất hiện.”
“Anh đã nghe bài giảng rồi,” William nói và nắm tay cô.
“Chà, em hi vọng anh không nghĩ đến việc rời phòng Nghệ thuật và Cổ vật trước khi tìm thấy bức Rembrandt của em.”
“Thời gian tới anh còn chưa chuyển đâu. Nhưng nếu anh đạt kì thi trung sĩ, thì trong hai hay ba năm nữa họ có thể sẽ chuyển anh sang một phòng ban khác.”
“Anh không được đi đâu cho đến khi bức Rembrandt của em quay lại nằm trong khung của nó, nếu không em sẽ chuyển tình cảm thương mến của em cho bất kì ai thế chỗ anh đấy.”
“Anh chàng đó may mắn thật. Nhưng nếu chúng ta tìm được người đã vẽ nhái bức The Syndics , chúng ta sẽ tiến gần hơn một bước đến việc khám phá ra số phận của bức tranh gốc.”
Chiếc xe buýt dừng hẳn, William đứng sang bên để Beth xuống trước anh.
“Ngày nay không có nhiều người muốn làm việc này,” Beth nhận xét khi cô đi xuống cầu thang. “Em không chờ nổi đến lúc gặp cha anh. Chắc ông ấy là một quý ông kiểu cũ đấy nhỉ.”
“Đó là một điều mà trước đây anh luôn xem nhẹ,” William thú nhận, “và mới chỉ bắt đầu biết ơn nó gần đây thôi.”
“Anh sẽ nhớ lời nhận xét của Mark Twain về cha ông ấy,” Beth nói khi họ xuống khỏi xe buýt. “Hồi tôi còn là một cậu nhóc mười bốn tuổi, cha tôi dốt nát đến nỗi tôi khó khăn lắm mới chịu đựng nổi ông già ở gần mình. Nhưng khi tôi tới tuổi hăm mốt, tôi kinh ngạc nhận ra ông ấy đã học được biết bao điều trong bảy năm đó.” William cười phá lên, và Beth hỏi, “Anh có biết chúng mình đang đi đâu không đấy?”
“Không,” William nói, “nhưng anh đã trông thấy ai đó có vẻ biết.” Anh dừng một anh cảnh sát vừa đi ngang qua và hỏi liệu anh ta có biết đường Abbots ở đâu không.
“Lối rẽ thứ hai bên tay phải, thưa anh.”
“Cảm ơn anh,” William nói.
“Anh đã từng mặc đồng phục bao giờ chưa?” Beth hỏi.
“Anh dành hai năm làm nhiệm vụ tuần tra ở Lambeth.”
“Thế người dân có phải lúc nào cũng biết ơn và lịch thiệp như anh không?”
“Không phải lúc nào cũng vậy,” William lặng lẽ nói trước khi cúi đầu.
“Em đã nói gì à?” Beth hỏi, đột nhiên thấy lo lắng.
“Em làm anh nhớ lại kỉ niệm về một người bạn đáng lẽ sáng nay cũng đang ra đường làm nhiệm vụ,” William nói khi họ rẽ ở khúc quanh.
“Em rất tiếc,” Beth nói. Cô nắm tay anh, biết rằng họ vẫn còn quá nhiều điều cần tìm hiểu về nhau.
“Em làm sao biết được,” William nói.
Khi họ đi vào đường Abbots, William trông thấy một tấm biển sặc sỡ đung đưa trong gió.
“Cố đừng tỏ ra như một anh cảnh sát nhé,” Beth thì thầm khi họ bước vào phòng tranh.
Một người đàn ông mặc sơ-mi hồng mở phanh cổ, áo khoác và quần bò bước tới để chào mừng họ. “Chúc buổi sáng tốt lành,” ông ta nói. “Tôi là Zac Knight, chủ phòng tranh này. Tôi có thể hỏi hai bạn đến đây tìm gì cụ thể không?”
Có, William nghĩ, nhưng không nói ra.
“Không,” Beth nói. “Chúng tôi chỉ đi ngang đây, và nghĩ là nên ngắm nghía một chút.”
“Tất nhiên rồi,” ông ta nói và dành cho cô nụ cười ấm áp. “Phòng tranh có hai tầng. Tầng một đây có những bức tranh nổi bật theo trường phái của các hoạ sĩ hiện đại.”
“Tôi ngạc nhiên vì việc này lại hợp pháp đấy,” William nói.
Beth cau mày khi Knight nhìn William kĩ hơn. Sau đó ông ta nhấc một bức tranh ra khỏi tường và xoay nó lại để lộ chữ HÀNG NHÁI viết vào mặt sau vải vẽ bằng chữ cái to tướng màu đen. “Thưa anh, tôi có thể đảm bảo rằng nếu anh cố tẩy xoá những chữ này, anh sẽ làm bức tranh hỏng không thể sửa chữa được.”
William gật đầu, nhưng vì Beth vẫn còn cau có nên anh không hỏi thêm câu nào.
“Còn ở dưới tầng hầm,” Knight nói, đặt bức tranh về chỗ trên tường, “hai bạn sẽ tìm được tranh nhái của những kiệt tác nổi tiếng do các hoạ sĩ cực kì tài năng vẽ.”
“Tranh dưới đó cũng có chữ ‘hàng nhái’ in ở đằng sau thế này à?”
“Không, thưa cô. Tuy nhiên, các bức tranh không bao giờ được kí, và to hơn hoặc nhỏ hơn bản gốc vài phân, để không một nhà sưu tập nghiêm túc nào bị lừa cả. Xin mời, cứ thưởng thức cả hai phòng trưng bày đi, và đừng ngại hỏi tôi bất kì câu nào nhé.”
“Cảm ơn ông, Zac,” Beth nói và đáp lại nụ cười của ông ta.
Trong lúc họ đi một vòng ở tầng một, William ngạc nhiên bởi những bức tranh nhái trông thuyết phục đến nhường nào. Nếu bạn muốn sở hữu một bức Picasso, hay Matisse hay Van Gogh, nó có thể là của bạn chỉ với giá dưới một ngàn bảng. Thậm chí cả bức A Bigger Splash 20* của Hockney còn đang được trưng bày, một bản sao in từ bức tranh này đang treo trên tường phòng ngủ của anh. Nhưng khi họ đứng trước một bức Rothko thậm chí có thể lừa được cả một chuyên gia, anh bảo với Beth rằng anh vẫn thích có một bức Mary Fedden, hay Ken Howard, hay Anthony Green với cùng mức giá như thế hơn.
20* (tạm dịch: Tiếng bắn nước lớn hơn)
“Anh đã tìm ra người cần tìm chưa?” Beth thì thầm.
“Chưa. Nhưng có nhiều khả năng anh ta ở dưới nhà hơn.”
“Sao anh không ghé xuống đó mà xem? Nếu ông Knight quay lại, em sẽ cầm chân ông ấy.”
“Ý hay đó,” William nói và biến xuống hầm, tìm thấy một phòng trưng bày rộng rãi khác chứa đầy các bức tranh mà hầu hết anh đều nhận ra. The Fighting Temeraire 21* của Turner với giá hai ngàn bảng, và Arnolfini Potrait 22* của van Eyck, được treo cạnh một bức tranh khoả thân nổi tiếng của Goya.
21* (tạm dịch: Tàu chiến Temeraire)
22* (Bức chân dung của Arnolfini)
Đó chính là lúc anh trông thấy bức A Dance to the Music of Time 23* của Poussin khiến cho anh nghẹn thở. Anh đã từng ngắm bức tranh gốc trong Bộ sưu tập Wallace, và chỉ biết hân hoan khi nghệ sĩ này đã tái tạo được sự tương đồng lớn đến thế. Một tài năng hiếm có đã lộ ra trong sự hiện diện của hành động bắt chước thô thiển. Một vài bức tranh nhái khác cũng rất đẹp, nhưng không bức nào đạt tới đẳng cấp này. William không nghi ngờ rằng mình đã tìm thấy người cần tìm, nhưng không có dấu vết nào về nhân thân của nghệ sĩ trên tấm biển gắn kèm bức tranh cả.
23* (Vũ điệu cùng bản nhạc của thời gian)
Sau khi đứng trước tấm vải một lúc, anh miễn cưỡng quay lên trên, và thấy Beth đang mải mê trò chuyện với vị chủ phòng tranh.
“Tôi nghĩ cô sẽ thấy bức The Umbrellas 24* của Renoir minh chứng khá rõ cho quan điểm của tôi,” Knight đang nói lúc William đến bên họ. Anh gật đầu với Beth.
24* (Những chiếc ô)
“Có lẽ ông sẽ vui lòng chỉ cho tôi thấy, Zac à,” cô nũng nịu.
“Đi theo tôi,” Knight nói và phớt lờ William.
Khi Beth đi qua chỗ anh, William thì thầm “Poussin” trước khi cô theo chân ông chủ xuống dưới nhà. Anh lại chậm rãi đi quanh phòng tranh ở tầng trên một lần nữa, nhưng tâm trí lúc này đã ở nơi khác.
Jez đã tới Shropshire nghỉ cuối tuần, và William muốn nói cho Beth biết cảm xúc của anh dành cho cô, nhưng anh lo có thể cô chưa sẵn sàng chấp nhận một lời cam kết sau khoảng thời gian ngắn ngủi như thế, mặc dù cha anh cầu hôn mẹ anh sau chỉ ba tuần quen biết, mọi người kể lại rằng bà đã rất bất ngờ trả lời, “Sao đến giờ anh mới hỏi?”
Beth và Knight đã ở dưới hầm được khoảng hai mươi phút thì William bắt đầu tự hỏi liệu anh có nên xuống cùng họ, nhưng bằng cách nào đó anh đã kiềm chế được bản thân. Hai mươi lăm phút. Ba mươi phút. Ngay khi anh đi ra cầu thang, Beth trở lại cùng ông chủ phòng tranh đi sát nút theo sau.
“Cảm ơn ông, Zac,” cô nói. “Câu chuyện thú vị thật, và tôi rất mong chờ được tham dự buổi triển lãm riêng tư vào thứ Tư. Nhân tiện, đây là anh trai tôi, Peter.”
Zac bắt tay William.
“Chà, chúng ta nên đi thôi, em gái,” William nói, “nếu không muốn bị muộn bữa ăn trưa với Mẹ.”
“Em phải thú nhận,” Beth nói, “là em thấy thú vị quá nên đã quên mất việc với mẹ.”
“Cô có số của tôi rồi đấy, Barbara,” Zac nói. “Gọi cho tôi bất kì lúc nào cũng được.”
William giả vờ không để ý khi Knight mở cửa và dành cho cô nụ cười tán tỉnh.
“Hẹn gặp ông vào thứ Tư nhé, Zac,” Beth nói.
Khi cả hai đã ra ngoài phố, William nói, “Cứ đi tiếp đi, và cố tỏ ra như em gái anh, chứ không phải bạn gái, vì giờ Zac đang nhìn chúng ta chằm chằm qua cửa sổ kìa.”
Beth giữ khoảng cách kiểu anh em trong nhà, và không nói lời nào cho đến khi họ rẽ ở khúc quanh. Khi cả hai tới một tiệm cà phê, họ bước vào và tiến thẳng tới chiếc bàn ở góc xa nhất, khuất khỏi tầm nhìn từ con phố.
“Nell Gwynne,” William nói, khi anh chọn chỗ ngồi đối diện với cô.
“Giống Catherine Vĩ đại hơn,” Beth gợi ý lúc quay lưng về phía cửa sổ.
“Kể hết đi.”
“Zac cũng là hàng giả thôi,” cô bắt đầu, “ông ta tưởng tượng mình là kẻ phụ nữ không thể chối từ. Em diễn theo, cho đến khi tay ông ta bắt đầu lang thang.”
“Anh sẽ giết lão,” William nói và dợm đứng dậy.
“Đợi đến khi em kể hết chuyện cho anh cái đã. Khi em nói với ông ta anh là anh trai em, ông ta không thể không hành động.”
“Peter á?”
“Không, Peter Paul. Mẹ chúng ta đã đặt tên anh theo Rubens và tên em theo Hepworth, em cảm thấy thế là phù hợp.”
“Em đúng là một cô gái quỷ quyệt.”
“Tinh ranh, em thừa nhận.”
“Vậy em đã tìm ra những gì?”
“Rồi đâu sẽ có đó,” Beth nói khi người bồi bàn xuất hiện.
“Một cốc cappuccino.”
“Tôi cũng vậy,” William nói.
“Khi em hỏi Zac ai đã vẽ bức Điệu vũ cùng Bản nhạc Thời gian , lúc đầu ông ta đã có ý thoái thác. Bảo với em là phòng tranh rất cẩn thận không tiết lộ danh tính của các nghệ sĩ, nếu không khách hàng có thể cố giao dịch trực tiếp với hoạ sĩ và gạt họ ra rìa.”
“Làm thế nào em vượt được trở ngại đó?”
“Em bảo ông ta rằng em chỉ là một cô thư kí nghèo kiết xác, và không thể mua nổi bất kì một bức tranh tuyệt vời nào của ông ta kể cả với nửa giá. Sau đó ông ta đã lỡ miệng bảo hiện tại hoạ sĩ này đang bận nên không làm được. ‘Ôi, tôi xin lỗi, có phải anh ta đã bỏ ông để đến phòng tranh khác không?’ Em đã hỏi thế, ra vẻ rất cảm thông. Ông ta bảo em rằng ‘việc đó hơi phức tạp hơn một tí.”
“Em đúng là biết tận hưởng đấy nhỉ, đồ hư đốn kia.”
“Còn thêm lời nhận xét nào như thế nữa là em có thể quên mất ông bạn Zac vừa kể em nghe những gì đấy, thanh tra cảnh sát Warwick. Nào, em mới nói đến đoạn nào trước khi bị chen ngang ấy nhỉ?”
“Câu chuyện hơi phức tạp hơn thế một tí…”
“À phải rồi. Tôi không chắc mình hiểu ông muốn nói gì, em bảo, ‘nhưng nếu ông không thể kể tôi nghe, tôi hoàn toàn hiểu.’ Rồi ông ta thú thật. ‘Đáng lẽ tôi không nên kể cho cô nghe chuyện này, nhưng anh ta đang ở tù.’
“Anh ngưỡng mộ em.”
“Xuỵt.”
“Anh ta đi tù vì tội gì?”
“Có vẻ như anh ta đã cố bán cho một tay buôn tranh ở Mé Tây một bức Vermeer đã bị mất từ lâu và bị bắt quả tang. Em đã hỏi là bằng cách nào. Hiển nhiên vì anh ta đã không đòi nhiều tiền lắm, làm cho tay buôn tranh nghi ngờ, nên gã đã báo cảnh sát.”
“Tên anh ta là gì?”
“Em đã không hỏi.”
“Sao lại không?”
“Zac đã bắt đầu có vẻ nghi ngờ, nên em chuyển chủ đề sang Renoir, đó là lí do vì sao phải mất một lúc lâu thế mới thoát được. Dù thế nào thì việc lần theo dấu vết của một kẻ đã phải đi tù vì làm nhái một bức Vermeer đâu phải chuyện quá khó khăn với một thanh tra tài ba nhất nước nhỉ.”
“Đúng, nhưng Zac vẫn nghĩ là em sẽ tới buổi triển lãm của ông ta vào thứ Tư này à?”
“Thật tiếc Barbara sẽ không thể đến được, cũng không thể nhận lời mời tử tế của ông ta để cùng dùng bữa tiệc tối sau đó tại Mirabelle.”
“Nhưng em đã cho ông ta số của em.”
“017301234.”
“Số gì vậy?”
“Nhà hàng Harrods Food.”
“Anh ngưỡng mộ em.”