Dấn Thân

Lượt đọc: 2722 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 13

Đến quá mười giờ sáng Chủ nhật họ mới ngồi xuống ăn sáng.

Beth muốn đi chạy trong Công viên Hyde, nói rằng mình cần giảm vài cân. William không thể nghĩ ra là cần giảm ở chỗ nào, nhưng anh vẫn đồng ý chạy cùng cô.

“Chúng ta sẽ không cần ăn trưa,” anh nói trong lúc quết bơ vào thêm một lát bánh mì nướng nữa. “Bữa này tính là bữa gộp luôn rồi. Nhưng anh sẽ phải gọi cho mẹ và bảo với bà là ta không tới ăn cùng họ được.”

“Anh vẫn có thể đến kịp nếu đi ngay bây giờ,” Beth đùa.

William phớt lờ cô trong lúc tự phục vụ cho mình một ít mứt cam.

“Jez và em thường xem phim vào tối Chủ nhật,” Beth nói. “Nên có thể bọn em sẽ ngồi xem ít nhất một giờ.”

“Cũng vừa hay. Anh có buổi họp với ngài chỉ huy ngay sáng sớm mai.”

“Nghe có vẻ ấn tượng.”

“Ông ấy rất ấn tượng, chịu trách nhiệm với bốn phòng ban, Nghệ thuật và Cổ vật là phòng yêu thích của ông ấy, mặc dù cũng là ban kém quan trọng nhất.” William cắn một miếng bánh rồi nói thêm, “cả đội gặp nhau vào mỗi thứ Hai đầu tháng để báo cáo tình hình với ông ấy về các vụ án mà bọn anh đang điều tra.”

“Vậy thì anh sẽ có khá nhiều điều để kể cho ông ấy đấy nhỉ, thanh tra cảnh sát Warwick?”

“Em có thể chắc chắn rằng nếu chàng hoạ sĩ của chúng ta đang ngồi tù, Hawk sẽ biết tên anh ta, nhà tù anh ta đang ở và án tù là bao lâu.”

“Anh sẽ muốn ngồi vào vị trí của ông ấy một ngày nào đó, đúng không?” Beth hỏi và rót thêm một cốc cà phê.

“Ừ, nhưng anh không vội vã gì cả. Còn em? Em có muốn công việc của Tim Knox không?”

“Em thích việc mình đang làm, và em khá hài lòng an phận cho đến khi nhận được lời mời tốt hơn.”

“Anh cá em sẽ thành giám đốc bảo tàng Tate trước khi anh kịp ngồi vào ghế chỉ huy trưởng.”

“Em không thể tưởng tượng được bên Tate chỉ định một người phụ nữ làm giám đốc.”

“Kể cả nếu cô ấy là đội trưởng ở trường và đội trưởng đội hockey ư?”

“Ai kể với anh thế?”

“Cảnh sát không bao giờ được hé lộ nguồn tin của mình.”

“Em sẽ giết Jez.”

“Tiếc thật. Anh khá thích cậu ta.”

“Cậu ấy là bạn cùng nhà hoàn hảo,” Beth nói. “Sạch sẽ, gọn gàng và chu đáo, tiền thuê phòng của cậu ấy cũng bù cho khoản lương nực cười mà bảo tàng Fitzmolean trả cho em.”

“Anh không biết em sở hữu căn hộ này đấy.”

“Không phải. Nó thuộc về cha mẹ em. Cha làm việc cho HSBC và ông được cử sang Hong Kong trong ba năm tới. Ngay khi họ trở về Jez sẽ phải đi còn em thì dọn lại về phòng cậu ấy.”

Hoặc phòng anh, William muốn nói.

“Anh nên gọi cho mẹ anh trong lúc em rửa bát. Điện thoại ở trong phòng làm việc ấy.”

“Một lần làm lớp trưởng, cả đời làm lớp trưởng,” William nói khi anh để cô lại và tìm đường đến phòng làm việc. Anh cầm điện thoại lên và bấm dãy số đầu tiên anh nhớ được trong đời. Anh hi vọng cha là người cầm máy, nhưng một giọng nữ vang lên ở đầu dây.

“Nettleford 4163.”

“Chào Grace, William đây. Em sẽ không về ăn trưa hôm nay. Có tí việc. Chị xin lỗi cha mẹ hộ em nhé.”

“Có việc hay có người?”

“Công việc ấy mà.”

“Em nói dối dở quá, William. Nhưng chị sẽ không nói gì, mặc dù chị đã hi vọng hôm nay em sẽ ở đây.”

“Tại sao, có việc gì à?”

“Cha sẽ gặp Clare lần đầu tiên, nên chị đã định nhờ em hỗ trợ tinh thần.”

“Em không quan tâm lắm đến các trò chơi máu me.”

“Cảm ơn nhiều. Thế tuần sau em về không? Chị không thể chờ đến lúc gặp cô gái chịu hẹn hò với em lần thứ hai.”

“À em thì không thể chờ đến lúc gặp cô gái chịu hẹn hò với chị lần thứ hai.”

“Đau đấy. Nhưng chị vẫn ước gì em ở đây.”

“Chị sẽ ổn thôi, Grace. Nhớ là, khi cha khịt mũi, chỉ có khí nóng hắt ra thôi chứ không có lửa.”

“Em nói từ một khoảng cách an toàn thì dễ lắm.”

“Và dù thế nào chị cũng có mẹ cùng phe mà.”

“Hai đánh một chỉ mới đủ độ để hoà thôi. Phải có ba thì lợi thế mới nghiêng về phía chị.”

“Em sẽ ở đó về mặt tinh thần,” William nói trước khi chúc chị gái may mắn và cúp máy. Anh định rời khỏi phòng thì để ý thấy một chồng bưu thiếp chụp đường chân trời ở Hong Kong đang nằm trên bệ lò sưởi. Người cảnh sát trong anh muốn nhìn vào mặt sau những tấm bưu thiếp, nhưng anh đã kháng cự ham muốn đó. Anh quay lại bếp và thấy Beth vẫn đang rửa bát.

“Thường thì Jez lau khô hộ em.”

“Tinh tế chưa,” William nói và nhặt chiếc khăn lau lên. “Khi nào chúng mình làm xong, anh sẽ về nhà, mặc đồ tập và đến công viên cùng em.”

“Không cần. Anh muốn gì thì trong phòng Jez có cả.”

“Anh đã luôn thắc mắc một mối tình tay ba thì sẽ như thế nào.”

Một cuốc chạy trong công viên, tiếp theo là đến My Beautiful Laundrette 25* rồi đến một chiếc Pizza Margherita – mỗi người một nửa – trước khi quay lại căn hộ của Beth và biến mất dưới tấm chăn, để kết thúc một cuối tuần lí tưởng.

25* (Tiệm giặt là xinh đẹp của tôi)

Khi William thức dậy vào sáng hôm sau, anh phải chật vật lắm mới mở được mắt để xem được đồng hồ.

“Cứu với!” Anh nói lúc nhảy ra khỏi giường và lao vào phòng tắm. Đây là buổi họp mà anh không thể đến muộn. Nó sẽ bắt đầu lúc chín giờ, dù có hay không có anh.

Khi quay lại phòng ngủ, anh tròng quần áo vào người và hôn Beth còn đang ngái ngủ.

“Hi vọng trốn thoát trước khi em dậy đấy à?”

“Anh phải quay lại nhà anh rồi thay đồ. Anh không thể đến muộn lần nữa.”

Beth ngồi lên và vươn hai cánh tay. “Bây giờ anh đã được như ý muốn rồi, thanh tra cảnh sát Warwick, liệu em có còn được gặp lại anh không?” Cô thở dài và gác một cánh tay gầy gò lên ngang trán.

“Anh có thể quay lại ngay sau giờ làm nếu được. Trong trường hợp đó, anh sẽ về với em quãng độ bảy giờ.”

“Ổn đấy, vậy thì tất cả chúng ta có thể ăn tối cùng nhau. Jez có thể nấu cơm, còn anh rửa bát.”

William ngồi lên giường ôm cô trong tay. “Còn em sẽ làm gì?”

“Đọc Proust.”

“Nhân tiện,” William nói lúc đứng dậy rời đi, “chị gái anh rất nôn nóng muốn gặp em.”

“Tại sao?”

“Chuyện khá phức tạp, nhưng tối nay anh sẽ kể hết.”

“Nhớ phải tìm bức tranh cho em đấy, thanh tra Warwick!” là những lời cuối William nghe thấy trước khi đóng cửa phòng ngủ lại.

Khi anh bước ra ngoài phố, William đã trông thấy chiếc xe buýt số 22 đang tiến tới điểm dừng, và chỉ vừa kịp nhảy lên đó khi nó lái đi.

“Chết mẹ rồi,” anh nói.

“Xin lỗi, chàng trai,” người soát vé nói. “Không cần thiết phải nói năng kiểu đó trên xe tôi đâu nhé.”

“Xin thứ lỗi. Tôi quên không bảo bạn gái là hôm nay tôi phải đi Barnstaple rồi.

“Vậy thì chắc chắn là cậu đã lên nhầm tuyến xe buýt.”

“Tôi rất tiếc đã không thể dành nhiều thời gian cho các bạn trong suốt tháng vừa rồi,” Hawksby nói khi ông ngồi xuống chỗ của mình ở đầu bàn. “Chắc chắn mọi người đều đã đọc về vụ phá động ma tuý ở Southampton tuần trước. Gần một trăm cân cô-ca-in và sáu người đã bị bắt.”

Tất cả cùng đập tay xuống bàn.

“Cũng không đáng giá lắm đâu,” Hawksby nói. “Sáu kẻ bị bắt chỉ là lũ tôm tép. Lũ cá lớn vẫn đang tắm nắng trên một bờ biển miền nam nước Pháp kìa, và con cá mập lớn nhất thì không bao giờ rời biệt phủ tại Colombia của gã, ở đó ngay cả cảnh sát cũng nhận lương từ gã. Tất cả những gì chúng ta có thể làm chỉ là cố gắng ngăn chặp chuyến hàng tiếp theo và cất vó thêm một mẻ tôm tép nữa, trong khi vẫn không biết có bao nhiêu bọn đã lọt lưới. Hãy mừng vì không có ai trong số các bạn dính vào đội chống ma tuý.”

Hawk ngồi thẳng lại, quay sang phải và hỏi, “Vậy các anh đã làm đến đâu trong lúc tôi vắng mặt rồi, Bruce?”

“Tôi cũng gặp vấn đề tương tự với anh, sếp ạ,” Lamont nói. “Chỉ thay ma tuý bằng kim cương thôi. Những viên đá chưa được cắt gọt đang chảy ra khỏi Ghana và bị tuồn vào Dubai, trước khi gửi sang Bombay để đổi lấy tiền mặt. Theo cách đó chúng tránh được thuế nhập khẩu và xuất khẩu, đồng thời cũng đẩy giá nhà ở Mayfair lên cao.”

“Lũ tội phạm luôn muốn sống ở một đất nước tuân thủ luật pháp,” Hawksby nói. “Như thế chúng sẽ dễ dàng tiến hành công việc kinh doanh hơn.”

“Và cũng giống như sếp,” Lamont nói tiếp, “chúng tôi cũng chỉ bắt được vài con tép, những kẻ coi vài năm trong tù chẳng hơn gì một phần của giao dịch.”

“Chẳng trách tỉ lệ tội ác giờ chiếm tới mười lăm phần trăm nền kinh tế toàn cầu, và còn tăng lên nữa,” Hawksby nói. “Còn gì nữa không, Bruce?”

“Còn sếp ạ. Tôi nghĩ rất có thể thanh tra Warwick đã có bước đột phá trong vụ bức tranh Rembrandt bị mất, nhưng tôi sẽ để cậu ta tự trình bày chi tiết.”

“Sau khi điều tra kĩ hơn, chúng tôi…” William mở lời.

“Chúng tôi?” Hawksby cắt ngang.

“Nhờ sự giúp đỡ của một trợ lí nghiên cứu ở Fitzmolean, chúng tôi đã xác định được người hoạ sĩ mà tôi nghĩ có thể đã vẽ bức tranh nhái Rembrandt.”

“Tên?”

“Eddie Leigh,” Lamont nói. “Anh ta đã cố bán một bức Vermeer giả cho một phòng tranh ở Mé Tây. Tôi phụ trách vụ đó, và anh ta đã bị nhốt ở Pentonville trong hai năm qua.”

“Điều gì khiến cậu nghĩ Leigh chịu trách nhiệm vẽ nhái bức Rembrandt đó, thanh tra Warwick?” Hawksby hỏi.

“Tôi đã thấy một sản phẩm của anh ta ở Phòng trưng bày Tranh nhái ở Notting Hill, sếp ạ. Anh ta là một tài năng hiếm có, nhưng kể cả thế, tôi không nghĩ anh ta có thể tạo ra một thứ với chất lượng nhường ấy trừ khi anh ta đã trông thấy hàng thật.”

“Nhưng anh ta cũng có thể mua một bản in của bức tranh The Syndics từ Fitzmolean với giá năm bảng mà,” Hawksby nói.

“Đúng, nhưng nếu chỉ vẽ dựa vào bản in, anh ta đã không thể tái tạo lại được màu sắc sống động, sự rung động và tinh tế của bức tranh gốc như đã làm, điều đó khiến tôi nghĩ chỉ có thể là do bức tranh gốc chưa bị phá huỷ.”

“Nhưng vẫn ít khả năng lắm,” Lamont nói, không có dấu hiệu nào là đang cười.

“Leigh còn phải ngồi tù bao lâu nữa?” Hawksby hỏi.

“Chỉ hơn bốn năm nữa thôi, thưa sếp,” Lamont nói. “Và tôi nghĩ anh ta đã có thể lỡ miệng về mục tiêu tiếp theo của Faulkner.”

“Kể rõ cho tôi xem nào,” Hawksby nói.

“Sĩ quan Langley gọi cho tôi từ nhà tù Pentonville hôm qua, cho tôi biết rằng anh ấy thường xuyên nghe các cuộc gọi hàng tuần của Eddie Leigh với vợ, nhưng chuyện không có gì đáng để báo cáo cho đến thứ Sáu tuần trước.”

“Anh làm chúng tôi nhấp nhổm trên ghế rồi đấy, Bruce,” ngài chỉ huy nói.

Lamont đọc to từng từ Leigh đã nói với vợ anh ta. “Việc vẽ vời thế nào rồi?”

“Em có thể bảo ông ấy anh đã làm xong Woman on a Beach 26* .”

26* (Người phụ nữ trên bãi biển)

“Vừa hay.”

“Bức tranh đó là của Picasso Thời kì Xanh,” William nói.

“Tôi không quan tâm thời gian đó là khoảng nào,” Hawksby nói. “Ai sở hữu bức tranh gốc.”

“Ông bà Brooke,” Lamont nói. “Hiện nó đang được treo trong ngôi nhà thôn quê của họ ở Surrey.”

“Tôi đoán là không còn được lâu nữa đâu, và giờ chúng ta đã biết Faulkner định nhắm vào đâu, chúng ta cần tìm hiểu xem đó là lúc nào.”

“Tôi nghĩ có thể tôi có câu trả lời,” Jackie nói, trông có vẻ khá tự mãn. Cô dừng một giây trước khi nói tiếp. “Vừa hay là đầu mối, sếp ạ, bởi vì nhà Brooke sẽ đi nghỉ hai tuần, và mặc dù họ sẽ đi vắng tới nửa tháng, chỉ có một buổi tối ngôi nhà vắng người thôi.” Cô dừng thêm một khoảng nữa.

“Nói tiếp đi, trung sĩ,” Lamont nói.

“Nhà Brooke có một tài xế riêng, David Crann, và một đầu bếp, Elsie. Cả hai đều sống tại đó, nhưng người đầu bếp luôn đi nghỉ mỗi khi nhà chủ đi vắng.”

“Còn tài xế?”

“Crann sẽ có mặt tại ngôi nhà suốt cả ngày lẫn đêm trong nửa tháng đó, chỉ trừ tối thứ Hai ngày hai mươi ba khi đội Chelsea đá với Liverpool trên sân nhà.”

“Tôi lờ mờ hiểu rồi,” Hawksby nói, “nhưng cứ nói nốt đi.”

“Crann mua vé cả mùa, và không bao giờ bỏ lỡ bất kỳ trận nào Chelsea đá trên sân nhà. Trận đấu bắt đầu từ bảy giờ, nên anh ta sẽ rời khỏi nhà tầm năm giờ và không trở lại trước nửa đêm.”

“Ngôi nhà được gắn báo động toàn diện chứ?” Lamont hỏi.

“Loại tối tân nhất, thưa sếp. Tuy nhiên, đồn cảnh sát gần nhất cách đó tới hai mươi phút, chừng ấy thừa đủ cho những kẻ thủ ác đánh cắp bức tranh và quay lại đường quốc lộ trước khi cảnh sát kịp tới nơi.”

“Điều tra rất xuất sắc, trung sĩ ạ.”

“Cảm ơn sếp,” Jackie nói.

“Lần này,” Lamont nói, “tôi nghĩ chúng ta có thể vượt trước Faulkner một bước.”

“Hãy cầu mong hắn không nhanh hơn chúng ta hai bước,” Hawksby nói. “Tuy nhiên, cứ lên kế hoạch hành động cho ngày hai mươi ba, Bruce, với mục tiêu là bắt quả tang chúng lần này. Nhưng chúng ta cũng cần những kết quả chắc chắn để ngài uỷ viên không gây áp lực cho tôi nữa. Vì vậy trước khi cậu ra về, Warwick, thông tin mới nhất về vụ Churchill và bạc cũ là thế nào?”

“Cyril Amhurst, người làm giả chữ kí Churchill, sẽ ra trước vành móng ngựa ở Toà đại hình Snaresbrook cuối tuần này,” William nói. “Chúng tôi đoán ông ta sẽ được hưởng tại ngoại, và sẽ phải ra toà trong khoảng vài tháng nữa. Tôi đoán ông ta sẽ nhận tội.”

“Đừng bao giờ đoán gì cả,” Lamont nói.

“Còn chỗ bạc?” Hawksby hỏi.

“Hoá ra là một trong những vị khách thường xuyên của chúng ta,” Lamont tiếp nối. “Kevin Carter. Ra vào tù như con chim cu trong đồng hồ Thuỵ Sĩ vậy. Nhưng chúng ta không chắc lần này gã định làm gì, mặc dù có một điểm chắc chắn – gã không thể nào đang dùng tiền của chính mình để mua chừng ấy bạc. Quá nhiều so với gã. Thanh tra Roycroft và thanh tra Warwick sẽ xuống Barnstaple ngày hôm nay và để mắt đến Carter, trong lúc cố tìm hiểu xem gã định làm gì.”

Chết tiệt, William định nói lần thứ hai trong sáng hôm đó. Anh sẽ phải gọi cho Beth ở phòng tranh, điều mà anh biết là ông chủ của cô sẽ không thích.

“Báo cáo ngắn gọn cho tôi,” Hawksby nói.

“Và, Bruce này, tôi khuyên anh và thanh tra Warwick nên ghé thăm nhà tù Pentonville ngay khi William từ Barnstaple trở về. Giờ, quay lại với vụ Rembrandt một lát: Luật sư tư vấn Booth Watson gọi tới văn phòng tôi hàng ngày, đòi chúng ta phải trả lại bức tranh nhái cho thân chủ của ông ta.”

“Chưa được,” Lamont nói.

“Tại sao lại chưa?” Hawksby nói.

“Bởi vì nếu Jackie hay tôi xuất hiện ở nhà Faulkner, chúng tôi sẽ không vượt qua được cổng trước. Nhưng nếu chúng ta cử tới một anh cảnh sát non kinh nghiệm, mặt búng ra sữa để trả lại bức tranh, có khả năng anh ta sẽ đặt được một chân lên cửa chính.”

“Hợp lí,” Hawksby nói. “Nhưng tại sao lại chưa trả?”

“Faulkner đã đặt chuyến bay của hãng BA tới Monte Carlo vào thứ Hai tới, và hắn sẽ không về trong ít nhất một tháng.”

“Sao anh chắc chắc được việc đó?”

“Hắn làm theo thói quen răm rắp. Tháng Mười hai năm nào hắn cũng rời nhà đi Monte Carlo, và hiếm khi về trước cuối tháng Một.”

“Và làm thế nào anh biết hắn đã đặt chuyến bay nào?”

“Phòng an ninh của hãng BA do một cựu Cảnh sát Đô thị cầm trịch, ông ta cho tôi biết thông tin, thưa sếp.”

“Còn một điều nữa có thể đáng quan tâm, sếp ạ,” Jackie nói. “Lần này hắn sẽ không đi cùng với vợ. Ngồi cạnh hắn, và vé máy bay cũng được cùng một chiếc thẻ American Express chi trả, sẽ là cô Cheryl Bates.”

“Cô ta có thể là thư kí của hắn lắm chứ,” Hawksby nói.

“Tôi không nghĩ gõ bàn phím là sở trường của cô ta, thưa sếp,” Jackie nói trong lúc chuyển qua ngài chỉ huy một bức ảnh cô Bates trong bộ bikini.

Một tràng cười nổ ra, nhưng trật tự nhanh chóng được vãn hồi khi Hawksby nói, “Vậy là khi Warwick xuất hiện cùng bức tranh Rembrandt giả ở nhà Faulkner tại Hampshire, hắn ta đã có mặt ở Monte Carlo rồi.”

“Chính xác, sếp ạ, nhưng vợ hắn thì vẫn ở Hampshire,” Lamont nói.

“Tốt, bởi vì tôi có cảm giác bà Faulkner biết đâu lại hiếu khách hơn ông chồng một chút,” ngài chỉ huy nói sau khi nhìn ảnh cô Bates lần thứ hai.

« Lùi
Tiến »