Thế giới này hãy đứng sang một bên để cho những người biết mình phải đi đâu được bước qua!
Nếu thế giới này công bằng thì nó phải đem thành công đến cho những người kiên định tiến tới mục tiêu, cho những người vất vả chịu khổ. Nhưng thực tế lại không đẹp như trong tưởng tượng, không phải chúng ta nói rằng: khi làm việc gì cũng phải tính đến thiên thời, địa lợi, nhân hoà hay sao? Hoàn cảnh, điều kiện có tác dụng hạn chế quan trọng đối với hành vi của con người. Vậy thì làm sao mới có thể tận dụng điều kiện tốt hơn, tạo ra điều kiện tốt hơn. Có nghĩa là phải tốn ít sức lực đã hoàn thành xong việc, chứ không phải bỏ nhiều công sức mà hiệu quả kém. Như vậy chúng ta cần phải nắm được một từ - kỹ xảo.
Khổng Tử nói người không hiểu hết các hại của việc dùng binh thì không thể hiểu hết cái lợi của công việc dùng binh. Bất kỳ việc gì cũng vậy, không biết hết cái xấu của nó thì thông thể nắm được nó thực sự. Theo như sách nói, kỹ xảo có tính phiến diện không thể khắc phục nổi của nó.
Nhà triết học Sibinnuosha nói rằng: “Tất cả các quy định đều là phủ định. Nếu bỏ đi lớp mê cung được tạo thành ở bên ngoài, chúng ta phải hiểu điều này: kỹ xảo thiên biến vạn hoá, thay đổi theo thời gian, địa điểm và con người. Quyển sách này phân tích liệt kê hàng loạt kỹ xảo, đã quy định như công thức, định luật, những điều này là kỹ xảo vậy thì khi không thể tránh sẽ tách nó ra khỏi môi trường ở một mức độ nào đó, cũng ít nhiều hạn chế mối quan hệ mật thiết của nó với hiện thực, tổn hại đến đích thực dụng của nó. Nói theo ngôn ngữ triết học là khi ta khẳng định nó cũng đồng thời phủ định nó”.
Lúc đầu tôi rất hoài nghi về những kỹ xảo trong sách có tác dụng thật với người hay không, những quyển sách về kỹ xảo giao tiếp được bày tràn lan trên hè phố, nhưng sau khi xem rồi tôi cũng cảm thấy năng lực cô lập trong mối quan hệ với người được nâng cao. Đi tìm nguyên nhân, đó chính là do bản thân chưa thể chú ý đến tính cô lập và tính phiến diện của những kỹ xảo trong sách. Nếu so sánh kỹ với công thức toán học, học sinh ngốc mới học vẹt, những học sinh thông minh muốn đi tìm hiểu điều tra mối liên hệ nội tại giữa các sự vật thông qua quy luật được nói rõ. Kỹ xảo thay đổi theo hoàn cảnh nhưng bản tính con người thì mãi mãi không đổi. Nguồn gốc của tất cả các kỹ xảo chính là sử dụng nhân tính, phù hợp nhân tính. Mục đích phân tích, giảng giải về kỹ xảo trong quyển sách này tất nhiên là để truyền thụ biện pháp, cách làm, nhưng quan trọng hơn vẫn là giúp mọi người nhận thức sâu sắc hơn về giao tiếp, nắm được cách đối nhân xử thế.
Có lẽ có người sẽ nói: Kỹ xảo là cách lừa người, anh muốn truyền thụ cách lừa người ư? Nếu bạn cho là như thế, vậy thì đã rơi vào mê lộ, ít nhất cũng không thể đạt đến mức cao nhất.
Trên thực tế ai cũng ghét người khác dùng kỹ xảo với mình, một khi biết rằng người khác đang dùng mánh khóe lập tức sẽ nảy sinh ác cảm dẫn đến mâu thuẫn. Vì vậy kỹ xảo có hiệu quả nhất, lớn nhất trong giao tiếp là chân thành. Con người không ai ngốc, bạn có thể lừa anh ta một lần, thậm chí hai lần, nhưng rất khó lừa anh ta lần thứ ba. Những người thực sự xuất sắc đều đối đãi với người khác bằng cái tâm, bằng sự chân thành, ít nhất cũng phải để người khác cảm thấy sự chân thành.
Chỉ có chân thành mới có thể tạo hiệu quả lâu dài, cũng chỉ có người chân thành mới là người thắng lợi cuối cùng trong giao tiếp. Người hiểu sâu sắc về nhân tính và đối đãi với người khác bằng sự chân thành là người thành công trong giao tiếp. Có lẽ rất nhiều nội dung trong quyển sách này nói về việc lợi dụng nhược điểm của con người, dường như đang dạy cách lừa người, nhưng mục đích viết như vậy chỉ là để bạn có ấn tượng sâu sắc, nếu thay đổi góc độ, thay đổi mục đích, sự vận dụng những kỹ xảo này cũng chính là sự khích lệ với người khác, sự quan tâm sâu sắc với người khác, là hành động thực thi cái thiện, cái tốt đẹp, là sự chân thành lớn nhất. Bản thân biện pháp không có sự phân biệt tốt xấu, có sự phân biệt tốt xấu chỉ là mục đích của bạn. Biện pháp là công cụ, mục đích mới là hạt nhân. Tất cả kỹ xảo có mục đích là làm tổn thương người khác đều không thể có hiệu quả lâu dài. Kỹ xảo chỉ có hạt nhân “vuông”, coi việc giúp người giúp mình là mục đích và xâm nhập vào cách sống của bạn, trở thành một thói quen, bạn mới có thể chân thành. Bạn vận dụng nó một cách tự nhiên thì mới có thể đạt hiệu quả tốt đẹp. Tôn Tử cũng nói rằng kẻ thiện sẽ chiến thắng chứ không phải là kẻ mưu trí, có dũng khí. Cũng như vậy, người giỏi trong giao tiếp thực sự cũng không có kỹ xảo gì, không có dấu tích gì, tất cả đều xuất phát từ tự nhiên.
Đương nhiên, đây không phải là muốn phủ định tác dụng của kỹ xảo, tổng kết của quyển sách này. Tuyên dương nhiều kỹ xảo, những kỹ xảo này đều được vận dụng cho nhân tính. Tuy trên thế giới này có nhiều người bị lừa, mọi người đi một ngày đàng học một sàng khôn và trở nên thông minh, bên cạnh đó nhiều báo, tạp chí cũng vạch trần nhiều thủ thuật lừa đảo nhưng vẫn có nhiều người bị lừa, đây chính là vì những tên lừa đảo này biết cách lợi dụng điểm yếu của người khác. Có nhân tính thì chắc chắn sẽ có nhiều người bị lừa, có người bị lừa, có mồi thì cá sẽ cắn câu, cũng có nghĩa là kỹ xảo luôn có hiệu quả, nhưng điều quan trọng là phải hiểu rằng: kỹ xảo chỉ là biện pháp, chân thành mới là điều then chốt quyết định xem kỹ xảo đó có được người khác chấp nhận không.
Đừng ảo tưởng sau khi đọc xong quyển sách này là có thể trở thành một người giao tiếp giỏi, sách là cách trực tiếp để con người nắm bắt tri thức, lý luận cũng có vai trò chỉ đạo quan trọng đối với con người nhưng sách chỉ phát huy tác dụng thực nếu bạn vận dụng chúng một cách thiết thực vào trong cuộc sống.
Tự mình trải qua bạn mới có thể hiểu và nắm vững nó thực sự, nó mới có thể trở thành một cách sống bất di bất dịch của bạn, mới có vai trò chủ đạo tích cực đối với cuộc sống của bạn. Kinh nghiệm mãi mãi là điều mà quyển sách này không thể thay thế được.
Muốn học được cách giao tiếp, đầu tiên phải hiểu được cách phân biệt giữa bạn và thù.
Nếu tôi nói với bạn “trên thế giới bạn bè đều là giả”, có thể bạn rất khó chấp nhận. Nếu tôi hỏi như thế này: “Nếu giữa bạn và một người bạn thân có một vụ kinh doanh trị giá 1 triệu đồng, bạn làm thì anh ta không được làm, anh ta làm thì bạn không được làm, liệu bạn có hất cẳng anh ta và giành lấy để mình làm?”.
Nếu bạn thành thật trả lời câu hỏi này, trong cuộc sống hiện nay tôi tin chắc câu trả lời sẽ là: “Sẽ hất cẳng anh ta ra”. Vậy thì bạn bè là giả hay không? Lúc đầu tôi cũng không phân biệt rõ bạn bè rốt cuộc là thật hay giả, lại có đôi khi tôi gặp khó khăn, bạn bè sẵn sàng giúp đỡ, khiến tôi cảm kích vô cùng, cuối cùng bạn bè là bạn bè. Nhưng cứ đến khi có xung đột về lợi ích căn bản, những người bạn đó lại vứt tôi đi một cách vô tình. Tôi đành than thở rằng: người có tính ích kỷ, bạn bè đều là giả tạo.
Tuy nói như vậy nhưng trong lòng tôi cảm thấy không thoải mái. Nếu bạn bè trên đời đều là giả hết, con người sống sẽ rất cô độc, rất mệt mỏi, vậy cuộc sống còn có ý nghĩa gì. Nhưng nếu nói bạn bè là thật thì lại có những người bạn bán rẻ bạn mình, và khi có liên quan đến lợi ích căn bản của cá nhân thì người bạn tốt nhất cũng giở mặt. Vì vậy tôi rất hoang mang, bối rối.
Hôm đó tôi ngồi đọc tin tức tham khảo, trong đó có một bài viết khiến tôi tỉnh ngộ, những bối rối của tôi trong mấy năm nay đột nhiên được phân tích làm rõ. Bài viết này giới thiệu quá trình lập nghiệp của tỷ phú Hồng Kông Lục Hiếu Bội. Lục Hiếu Bội sau mười mấy năm đã vượt lên thành một trong mười người giàu nhất Hồng Kông. Phóng viên hỏi về nguyên nhân thành công của ông, ông trả lời: “Chủ yếu là dựa vào 3 quyển sách. Thứ nhất là Binh pháp Tôn Tử”. Điều này thì tôi hiểu, “Binh pháp Tôn Tử” từ trước tới nay đều là thứ mà các nhà quân sự phải đọc, rất nhiều học viện quân sự trong đó có của Đức, Mỹ đều lấy nó làm tài liệu. Trong thời là chiến tranh vùng vịnh, tổng tư lệnh quân đội Mỹ, ông Paiwakepufu đã vận dụng chiến thuật “thực thực hư hư” trong “Binh pháp Tôn Tử” và giành được thắng lợi. “Binh pháp Tôn Tử” có ý nghĩa chỉ đạo rất lớn trong làm ăn buôn bán, trong giao tiếp, thậm chí trong cả đánh cờ. Nhưng quyển sách thứ 2 mà Lục Hiếu Bội kể ra khiến tôi kinh ngạc, đó là “Lý luận mâu thuẫn” của Mao Trạch Đông, quyển sách thứ 3 cũng của Mao Trạch Đông có tên “Lý luận thực tiễn”. Điều này thì tôi không hiểu, Lục Hiếu Bội là một nhà tư bản, ông ta không việc gì phải tâng bốc Mao Trạch Đông, nhưng tại sao ông lại liệt chúng vào hàng ngũ những cuốn sách quan trọng nhất giúp thành công trong cuộc sống? Hôm đó tôi tìm cuốn “Tuyển tập Mao Trạch Đông”, đọc suốt đêm “Lý luận mâu thuẫn” của ông.
Lúc đó tôi càng đọc càng bị cuốn hút, càng đọc càng thấy có ích, hôm đó tôi suốt đêm không ngủ, những thứ lâu nay cuốn chặt lấy tôi dường như lập tức được cởi phăng ra.
“Lý luận mâu thuẫn” bàn về quy luật như thế này: bất kỳ sự vật nào trên thế giới đều có mặt đối lập và thống nhất, quy luật đối lập thống nhất tồn tại trong sự phát triển của tất cả sự vật. Trong sự thay đổi, giải quyết vấn đề phải nắm vững mặt chủ yếu của mâu thuẫn. Đối với giao tiếp mà nói, mối quan hệ giữa người với người vừa đối lập lại vừa dựa vào nhau. Giữa bạn và người bạn tốt nhất của bạn cũng có mặt đối lập, giữa bạn và kẻ thù của bạn cũng có sự dựa dẫm vào nhau. Xử lý quan hệ giao tiếp phải xem xét mặt dựa dẫm giữa hai bên nhiều hay mặt đối lập nhiều, nắm được mặt chính của mâu thuẫn.
Quy luật đối lập thống nhất là một trong những tinh hoa của tư tưởng Mao Trạch Đông. Cả đời mình, Mao Trạch Đông vận dụng quy luật đối lập thống nhất để dẫn dắt cách mạng Trung Quốc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trong thời kỳ Bắc phạt, thế lực quân phiệt mạnh, hai đảng Quốc Dân và Cộng Sản tuy có tôn chỉ khác nhau nhưng cần phải bắt tay hợp tác mới có thể đánh đổ được quân phiệt. Lúc đó mặt thống nhất lớn nên mới có sự hợp tác lần đầu tiên giữa hai đảng Quốc Dân và Cộng Sản. Khi khói lửa của cuộc Bắc phạt tan đi, Tưởng Giới Thạch có ý đồ thống trị Trung Quốc, mâu thuẫn giữa hai đảng Quốc Dân và Cộng Sản ngày càng gay gắt, Mao Chủ tịch đã phân tích tình hình một cách thấu triệt, phê phán chủ nghĩa đầu hàng hữu khuynh của Trần Độc Tú, lúc đó mặt đối lập giữa hai đảng rất lớn, Tưởng Giới Thạch muốn tiêu diệt đảng Cộng Sản, không thể ôm ấp ảo tưởng về Tưởng Giới Thạch, chỉ còn cách “giành chính quyền bằng súng đạn”.
Ngày 18/9, phát xít Nhật nổ súng xâm lược Trung Quốc, cả dân tộc đứng trước nguy cơ lớn. Tướng quân Trương Học Lương lại phát động sự biến Tây An, mặt đối lập giữa hai đảng Quốc Dân và Cộng Sản lại rơi vào vị trí thứ yếu. Mao Trạch Đông quyết định sáng suốt, tha cho tên đầu sỏ nhiều lần muốn tiêu diệt Đảng Cộng Sản, Tưởng Giới Thạch, ép Tưởng kháng Nhật, từ đó đánh dấu lần hợp tác thứ 2 giữa hai Đảng.
Trên tuần dương hạm của Mỹ, đế quốc Nhật Bản đã ký giấy đầu hàng, khi nhân dân cả nước mong đợi hoà bình đến thì Tưởng Giới Thạch lại phát động cuộc nội chiến mới, mưu đồ lập nên vương triều Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc, cướp lấy thắng lợi của cách mạng chủ nghĩa dân chủ mới, triển khai toàn diện cuộc chiến tranh giải phóng.
Hai đảng Quốc Dân - Cộng Sản chia tách rồi hợp tác, hợp tác rồi chia tách chính là sản phẩm của quy luật đối lập thống nhất được vận dụng linh hoạt của Mao Trạch Đông.
Mao Trạch Đông không chỉ vận dụng quy luật đối lập thống nhất vào cuộc đấu tranh với Quốc Dân đảng mà còn vận dụng vào những vấn đề như: đối đãi với nhà tư bản dân tộc, tiêu chuẩn phân biệt bạn thù, sự vận dụng quy luật đối lập thống nhất là một ví dụ điển hình trong việc vận dụng thành công nguyên lý triết học vào cuộc sống thực tế của Mao Trạch Đông.
Quy luật đối lập thống nhất là một quy luật thép. Bất kỳ một sự xử lý bằng tình cảm bằng ý chí đều là sự ấu trĩ non nớt, chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại. Có người nói rằng vận dụng quy luật đối lập thống nhất là động vật máu lạnh. Nhưng tất cả những người chỉ trích quy luật đối lập thống nhất, chắc chắn sẽ gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống, không được như ý. Ngày nay, khi kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, quy luật đối lập thống nhất phải trở thành phương châm sống của bạn, trở thành sự chỉ đạo triết học của bạn trong giao tiếp.
Tôi từng vận dụng quy luật đối lập thống nhất để giúp đỡ một học viên giải quyết đại sự trong đời.
Một hôm sau giờ tan học, học viên này đã đau khổ kể cho tôi nghe vấn đề khó khăn mà cô ta gặp phải.
“Chồng tôi là giám đốc một doanh nghiệp thuộc công ty dệt, có lần tôi đi có việc, nửa chừng thì quay về nhà trước, thấy cửa nhà khóa chặt, nhưng tôi nghe rõ ở bên trong có tiếng nói chuyện, gõ cửa không ai ra mở. Tôi liền dùng chìa khoá của mình mở cửa, lúc đó chồng tôi đột ngột xuất hiện ôm chặt tôi, bên cạnh lập tức có một cô gái chạy ra. Sau khi xảy ra chuyện này, tôi xem xét lại mối quan hệ với chồng, phát hiện ra là anh ấy lừa dối tôi suốt, anh ấy rất cực đoan và ích kỷ. Qua chuyện này, coi như tôi nhìn rõ anh ấy rồi, nhưng không thể chịu đựng cuộc sống chung với anh, dù chỉ một ngày. Tôi muốn ly hôn”.
Nghe cô ấy nói như vậy đột nhiên tôi hoạt bát hẳn lên. Ly hôn là một chuyện lớn liên quan đến hạnh phúc cả đời. Tôi hỏi về hoàn cảnh cô ấy hiện nay. Cô nói rằng cô mới đến Thâm Quyến, chưa có công việc, làm tạm thời ở một công ty thông qua người quen giới thiệu. Khi cô đến Thâm Quyến, chồng cô hứa sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho cô trong vòng 3 tháng, nhưng lại tìm lý do để thoái thác, hiện nay xem ra muốn dùng cách kiềm chế cô. Học viên này tìm đến với tôi không phải để xin lời khuyên, cô ấy đã quyết định ly hôn rồi. Chỉ có điều trong lòng đau khổ muốn tâm sự, tôi thấy rằng ly hôn là chuyện tình cảm lớn không thể giải quyết bằng ý chí, phải cân nhắc được, mất, lợi, hại. Thế là tôi dùng quy luật đối lập thống nhất để giúp cô ấy đánh giá.
Cô ấy không thể chịu đựng tiếp tục sống chung với chồng, cuộc sống chung đó đối với cô ấy là sự giày vò về tinh thần, đó là mặt đối lập. Nhưng nếu bây giờ cô ly hôn với chồng, theo quy định của Thâm Quyến, cô sẽ không thể chuyển đến Thâm Quyến, mà hộ khẩu của con theo mẹ, con cô ấy cũng không thể đến Thâm Quyến. Sau khi về quê, cô lại vẫn thất nghiệp, kết cục cuối cùng có lẽ là đành phải mang con về với cha mẹ đẻ của cô, sống dựa vào họ. Đó là một kết cục bi thảm.
Nếu bây giờ tạm thời cô không ly hôn với chồng, đòi hỏi chồng giải quyết công việc cho mình trong vòng 3 tháng, chồng cô có khả năng này, và nói rằng nếu anh ta không giải quyết thì sẽ đi báo cáo với lãnh đạo đơn vị chồng, chồng cô là cán bộ nhà nước, sợ nhất là mấy vụ bồ bịch, từ đó ép chồng cô phải thực hiện. Lúc đó, cô có việc làm rồi, hộ khẩu cũng được chuyển đến Thâm Quyến, hộ khẩu của con theo mẹ, như vậy con cô cũng được chuyển Thâm Quyến, lúc đó mới ly hôn với chồng. Mà theo pháp luật của Thâm Quyến, sau khi ly hôn, nhà thuộc về người vợ. Cô có việc làm, có nhà, viễn cảnh rất sáng sủa. Cái mất duy nhất của cô chính là phải chịu đựng chồng trong 3 tháng, huống hồ lúc đó có thể ly thân với chồng.
Nghe tôi phân tích, cô thấy rằng có lý, hiện nay cô phải dựa vào chồng rất nhiều. Tuy chuyện này có kết quả như thế nào, cô ấy không nói với tôi, nhưng dùng quy luật đối lập thống nhất phân tích vấn đề mới là biện pháp lý trí duy nhất. Bây giờ tôi đã trả lời được rằng “bạn là thật hay giả”. Mặt thống nhất lớn, 2 người sẽ là bạn; mặt đối lập lớn, 2 người sẽ là đối thủ. Quan hệ giữa bạn và người bạn thân của bạn vui vẻ, có thể bổ sung trợ giúp cho nhau, lúc này 2 người là bạn thật. Đến khi có cuộc làm ăn 1 triệu đồng, nếu bạn hất cẳng anh ta, hoặc anh ta hất cẳng bạn, đó lại là vấn đề về thần kinh. Lúc đó các bạn có thể cạnh tranh với nhau thực sự. Đương nhiên nếu sau đó, nếu hai bạn còn phải dựa vào nhau nhiều, vậy thì các bạn vẫn là bạn bè. Không thể nói rằng bạn chỉ là kẻ vì lợi, điều này dạy bạn cách phân biệt chủ thứ, đây là cuộc sống.