Đất Trời Vần Vũ

Lượt đọc: 3395 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

“Cù lao Dao có lịch sử hay không?” Chẳng còn quan trọng đối với anh nữa.

Mặt trời đã lên cao, Hải xếp gọn đống sách vở vào tủ rồi đi ra vườn. Anh vươn vai hít thật sâu làn không khí trong lành. Ngày hôm qua, nhà trường đã làm lễ tổng kết năm học, kỳ nghỉ hè đúng vào dịp mùa trái chín. Các thầy cô giáo có một tháng nghỉ ngơi, trước khi vào mùa hành xác với những giáo trình nhàm chán, được đặt tên “bồi dưỡng nghiệp vụ”. Cù lao đã nhộn nhịp từ sáng sớm, những người hái trái cây làm việc từ lúc những tia nắng hồng vừa ló dạng phía dòng Thanh Long. Trai gái cù lao hái bưởi, chặt mía. Họ trèo cây thoăn thoắt, vừa làm việc vừa hát chọc ghẹo nhau. Ghe thuyền nườm nượp dưới sông chở hàng lên chợ lớn, sang Trung Quốc, mọi người làm việc không ngơi tay, chỉ có bọn trẻ con là sướng. Mùa hè, chúng tha hồ rong chơi. Cù lao rộn rã tiếng hát, tiếng rì rào của dòng sông, tiếng răng rắc của cành khô gãy vụn dưới chân người, mùi mật mía găn gắt thơm nồng, mùi bưởi nhè nhẹ thoảng trong gió.

“Cù lao Dao có lịch sử hay không?” Chẳng còn quan trọng đối với anh nữa. Anh yêu cù lao, bởi con người chân chất, đất đai hiền hòa. Vợ anh, cô giáo Lài siêng năng mẫn cán, vừa đảm việc nhà, vừa giỏi việc nước. Lúc rảnh anh cũng phụ vợ làm việc nhà. Ai lại bắt phụ nữ vừa “đảm việc nhà lại giỏi việc nước”. Câu này ác quá! Anh nghĩ vậy. Sáng sớm, vợ anh về chơi bên chị Lụa. Thấy thau quần áo đầy ắp, anh bưng xuống bờ sông để giặt. Anh chỉ lén giặt khi vợ vắng nhà, Lài không cho anh làm việc này. Mỗi lần anh giặt đồ hay nấu cơm là chị giành:

- Đàn ông ai làm ba cái việc kim chỉ này, nhỏ nhen con người ra, để đó cho em.

- Anh thấy áy náy quá.

- Trời sinh ra đàn ông để làm việc lớn.

- Đó là những người tài, chứ như anh, gõ đầu trẻ, kiếm sống qua ngày, khi rảnh phụ vợ chứ làm gì?

- Rảnh thì đọc sách, nâng cao kiến thức. Giáo viên văn mà không đọc sách có gì mà dạy, dân toán tụi em học ở sư phạm thừa để dạy cấp hai. Còn dân văn khác, không cập nhật không được.

Đàn bà xứ này được giáo dục ngay từ nhỏ, là không để chồng làm việc nhà, lạ thật, họ không bị ảnh hưởng chút nào với quan niệm mới “giúp việc nhà cho phụ nữ là văn minh".

Cha Hải, dân Hà Nội vào miền Nam lập nghiệp, cha anh từng làm trong ngành công an, bị kỷ luật. Miền Bắc thời sổ gạo mà bị kỷ luật là bi kịch lớn. Ba năm, chạy vạy đủ cửa ở thủ đô, xin việc không được, gia đình đói khổ. Ông quyết định vào miền Nam sinh sống. Xuống bến xe miền Đông, chưa biết về đâu, số phận run rủi thế nào ông gặp lại người tù vừa ra trại. Người tù mà vì anh ta, ông mất việc. Bảy Tánh đưa ông về cù lao và cắt bán thiếu cho ông mấy sào vườn, giá gần như cho không. Từ mảnh vườn nhỏ trên cù lao, ông đã nuôi con ăn học, dựng vợ gả chồng. Khi Hải lấy vợ, ông cho anh mảnh vườn này và về ở với con gái lấy chồng miệt vườn Long Khánh.

Nhờ người vợ đảm đang, Hải tìm hiểu đọc những sách lịch sử, triết học, văn học và anh vỡ ra nhiều điều mà nhà trường không dạy cho anh.

Anh nhận ra miền Nam có dòng văn học thật đặc biệt. Văn học miền Nam không có “thiên tính nữ” như miền Bắc. Suốt cả thời gian dài, văn chương miền Bắc không có nhân vật cho ra đàn ông, nhân vật nam mềm yếu, nhợt nhạt. Còn ở miền Nam những nhân vật rất “khai khẩn”, nào Lục Vân Tiên, nào Hớn Minh, nào Vương Tử Trực. Anh nhận ra tại sao học sinh chê tác phẩm bất hủ của cụ Đồ. Khi viết: “Ai ơi lẳng lặng mà nghe” cụ Đồ khẳng định Lục Vân Tiên phải đọc lên, chứ không phải “Cảo thơm lần giở trước đèn” như cụ Nguyễn Du. Thơ cụ Đồ phải đọc hùng dũng, chứ không phải đọc diễn cảm ẻo lả. Anh đã thành công khi giúp cho học sinh của anh yêu và hiểu giá trị của dòng “văn học khai khẩn”.

Anh làm cả đề tài khoa học về vấn đề này, nhưng rất tiếc không được chấp nhận. Ngành giáo dục, các quan chức giáo dục quá bảo thủ. Anh chỉ còn biết chia sẻ chuyện này với nhà thơ Miên Trường.

Học trò rất mê giờ dạy của Hải. Nhưng chưa bao giờ anh đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi. Bao nhiêu lần hội giảng, thanh tra xếp loại “khá” là hết sức. Các thầy thanh tra phê bình anh không bám sát sách giáo khoa, mà “sách giáo khoa là pháp luật!”. Chỉ có thầy tổ trưởng tổ văn là ủng hộ anh. Thầy bỏ phiếu “giỏi” nhưng một mình thấy không chống lại được các thầy thanh tra của phòng giáo dục cử về.

Hải ra trường, trước khi được về gần nhà anh đã dạy học ở vùng quê, cách nơi anh ở gần hai trăm cây số. Những tháng ngày ở đó anh đã vượt qua nỗi cô quạnh nhờ tình yêu. Anh tìm cách về lại quê hương để cưới vợ và sinh sống. Nghe đâu, cha anh phải tốn mấy cây vàng anh mới được đổi về gần nhà. Anh buồn lắm, thời buổi gì mà đến ngành giáo dục cũng có tham nhũng thì còn ra cái thể thống gì! Về cù lao, Hải bắt đầu tiếp cận cuộc sống theo hướng khác và anh tin những gì nhà thơ nói. Có một thế giới song song tồn tại với thế giới vật chất này, đó là điều mà trước đây anh không hề tin.

- Hải ơi! Hải! Mày đang làm gì đó?

Bảy Tánh ló mặt qua hàng rào dâm bụt kêu lớn. Bảy Tánh, người đàn ông lái heo, nhiều người trong làng không ưa ông. Trước kia ông làm cảnh sát cũng bị người ta ghét, bây giờ làm cái nghề người ta không ưa. Nhưng Hải thích ông, phần vì ông là ân nhân của gia đình anh, mặt khác anh thấy ông chơi rất Nam bộ, tính cách rất Nam bộ, chơi hết mình.

- Dạ cháu đang phơi đồ. - Vừa trả lời ông, anh vừa giũ chiếc áo sơ-mi treo lên.

- Hôm nay mồng tám tháng ba, tôi giặt giùm bà cái áo của tôi hả? Chú Bảy nhiễm nhà thơ rồi sao?

- Ha ha... Thơ gì tao, con cóc cho vui, sao sánh được với nhà thơ Miên Trường. Thôi qua nhà tao làm ly cho vui, có thầy Trí nữa đó. Hôm nay, tao kiếm được cái dồi trường ngon lắm!

- Dạ! Chú đợi con phơi xong ba cái đồ.

- Ừ! Mày được đó, để con Lài chửa vượt mặt còn bưng đồ ra sông tao thấy tội nghiệp quá. Hôm trước tao thấy nó cực, tao nói, thằng Hải hư quá, hôm nào tao qua cho một dao chọc tiết. Con Lài bảo, tự nó muốn giặt, nó binh mày quá xá!

- Thiệt đó chú Bảy, hôm nay tranh thủ cô ấy về thăm chị Lụa, cháu làm đại đó chứ.

- Qua nghen.

Bảy Tánh xăm xăm đi về nhà. Vườn của anh, chính là vườn của Bảy Tánh ngày xưa để lại cho cha anh, lúc làm đường thua lỗ Bảy Tánh bán thêm mớ nữa, thành chẳng còn bao nhiêu.

Bàn rượu có ba người, Hải, Bảy Tánh và thầy Trí. Bình rượu Hòa Long, dĩa dồi trường hấp hành nóng hổi. Bảy Tánh ngắt khúc bỏ vào mồm nhai:

- Dzô! Dzô! Ha ha..., uống đi quý thầy! Hai thầy là niềm tự hào của Bảy Tánh này đó, ai ngờ thằng đồ tể cũng có hai ông bạn là thầy giáo.

Thầy Trí lên tiếng:

- Đồ tể cũng là người, có gì đâu anh Bảy cứ nói quá!

Bảy Tánh vừa nhai, vừa tự mỉa mai mình:

- Nửa người, nửa ngợm thì có.

Hải lẳng lặng rót đầy ly cho hai người lớn. Thầy Trí là người anh kính trọng, thầy là tổ trưởng tổ văn, suốt đời “an bần lạc đạo” không dạy thêm, tận tụy với nghề, bị kỷ luật đuổi khỏi ngành, thầy vẫn cọc cạch xe đạp dạy mấy đứa nhỏ lớp tình thương bên chùa. Vợ la, thầy bảo: “Ở nhà nhớ học sinh lắm, chết sớm!” Thầy chỉ có mỗi nhược điểm là hay uống rượu. Thầy rất thân với Bảy Tánh. Vì mối thâm tình và vì cái nghèo mà nhiều thầy cô trong trường coi rẻ thầy. Mỗi khi rượu say, thầy lại khóc, ôm bất kể người nào kế bên để khóc. Ba người làm xong bình rượu Hòa Long, mặt mày đỏ kè, thầy Trí ôm Hải:

- Hải ơi! Tôi thương em quá, đời dân mình khổ quá, đất nước mình nghèo quá! Thầy giáo nghèo quá! Hu hu!

Hải quen với cảnh này. Nhớ hồi mới chuyển về đây, Bảy Tánh mời thầy Trí và anh qua nhậu, mới gặp nhau, thầy say và cũng ôm anh khóc như vậy. Anh cảm động lắm. Hôm sau, anh lên trường, gặp thầy giờ thao giảng, thầy lạnh như băng, y như chưa quen biết anh vậy. Sợ quá anh chạy qua nhà Bảy Tánh hỏi:

- Chú Bảy ơi! Chú Bảy! Hình như hôm qua con làm gì cho thầy Trí giận hay sao đó chú?

- Ủa sao mày hỏi vậy?

- Hôm qua, thầy mới ôm con, nói thương con, mà hôm nay thầy lạnh như băng vậy?

- Ha ha..., tưởng gì, mỗi lần lão ấy say là lão ấy thương cả thế giới, chứ giận đéo gì mày. Khi tỉnh lại lên trường lão nghiêm khắc với bọn giáo trẻ như mày ngay, đừng lo.

Ra thế! Anh thở phào nhẹ nhõm. Quả thật, mỗi khi uống rượu, thầy Trí lại ôm người ngồi gần để khóc kể về thân phận con người, thân phận dân tộc, thân phận đất nước.

- Thầy Hải?

- Dạ!

- Hồi xưa, tôi đi dạy học mỗi tháng lãnh có mười ba ký bắp mà yêu nghề lắm em biết không?

- Dạ!

- Thằng con trai tôi bệnh không có tiền chữa, nếu nó còn sống cũng bằng tuổi em.

- Dạ!

- Hồi xưa...

- Thôi uống đi ông thầy giáo già, hồi xưa hoài.

Trong số ba người, Bảy Tánh là người uống khá nhất, rất ít thấy ông say túy lúy như thầy Trí. Ực ly rượu, Bảy Tánh quay qua Hải:

- Mày biết không? Đời người có năm cái hồi.

Hồi thứ nhất là hồi nhỏ, rồi lớn biết yêu là hồi hộp, lúc trung niên là hồi đó, già như thầy Trí là hồi xưa và cuối cùng là hồi trống.

Tùng! Tùng! Tùng!...

- Đó! Mày có nghe tiếng trống bên nhà Tư Ngồng không? Hồi trống để đưa mình ra nghĩa địa. Thầy Trí sắp tới hồi cuối cùng rồi. Ha ha... Uống đi!

Bảy Tánh nói về cái chết nghe vô cảm, khiến Hải rùng mình. Nhà ông Tư Ngồng, sát bên trường anh dạy, ông mới qua đời đêm hôm qua.

- Thôi cháu xin phép.

- Sao mày về sớm thế?

- Cháu chạy qua đám ma nhà bác Tư chút, chắc bây giờ khâm liệm rồi, mới đánh trống đó.

- Mày cứ bình tĩnh, hồi còn sống lão có coi đám giáo viên như mày ra cái gì đâu mà mày nôn nóng.

- Dạ “nghĩa tử là nghĩa tận” mà chú Bảy.

- Nói vậy thôi, chứ đợi tối, tao với mày qua.

Nhưng thôi, mày về đi để con Lài nó về bất tử, nó thấy mày nhậu, nó la.

Hải đứng lên.

Tùng... tùng... Tiếng trống trầm buồn vang lên từ phía sau trường học.

« Lùi
Tiến »