Địch Công Kỳ Án - Đạo Quán Có Ma

Lượt đọc: 6441 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi 5
xem hát xướng, địch công kinh sợ trên lầu cao, phát hiện nghi can

Bước vào đại sảnh rộng lớn, họ được nghênh đón bằng những thanh âm inh ỏi của chiêng la, chũm chọe và mấy thứ đàn chói tai khác. Bên trái, các đạo sĩ ngồi trên một bục nhỏ, gân cổ chơi nhạc khí. Những cột trụ to và cao vút chống đỡ mái trần cổ kính đen bóng. Ánh sáng từ một tá đèn lồng lớn đánh bóng lớp áo choàng vàng tươi của hơn một trăm đạo sĩ ngồi trong đại sảnh.

Các đạo sĩ kính cẩn đứng lên khi đạo trưởng dẫn huyện lệnh đi dọc theo lối giữa sảnh đường. Họ đến một bục cao ở tận cuối phòng, cạnh sân khấu. Đạo trưởng ngồi xuống chiếc ghế tựa lưng cao bằng gỗ mun chạm trổ tinh vi, mời Địch Nhân Kiệt ngồi bên phải mình. Chiếc ghế bên trái của đạo trưởng hãy còn trống.

Viên giám viện béo lùn bước tới, báo rằng Tôn Thiên sư đã rời đi, nhưng ngài ấy sẽ sớm quay lại. Đạo trưởng gật đầu, bảo viên giám viện mang trà bánh lên mời khách.

Địch Nhân Kiệt tò mò ngước nhìn hoạt cảnh tráng lệ đang diễn ra trên sân khấu, được soi tỏ bằng một hàng đèn lồng đỏ. Chính giữa, một mỹ nữ đang ngự trên ngai gỗ thếp vàng. Mình vận xiêm y xanh đỏ lấp lánh những họa tiết hoàng kim, tóc búi cao được tô điểm bởi vô vàn hoa giấy, tay cầm ngọc trượng, rõ ràng nàng đang vào vai Tây Vương Mẫu.

Tám nhân vật khác, gồm bảy nam và một nữ, đều vận y phục lộng lẫy bằng lụa thêu, đang khoan thai múa trước mặt Vương Mẫu trên nền nhạc thiên thai. Họ là Bát Tiên đang làm lễ tôn kính Vương Mẫu Nương Nương.

“Đó là hai đạo cô chăng?” Địch Nhân Kiệt hỏi.

“Bẩm đại nhân, không phải,” đạo trưởng trả lời. “Vương Mẫu Nương Nương do một ả đào thuộc đoàn kịch của lão Quan đóng, hình như nàng ta họ Đinh. Giữa hai hồi kịch, cô nương ấy còn diễn một màn nhào lộn và tung hứng chén đĩa rất khéo. Còn người đóng vai Hà Tiên Cô chính là thê tử của lão Quan.”

Xem được một lúc, Địch Nhân Kiệt cảm thấy khá nhàm chán, có lẽ ông không có tâm trạng để xem kịch lúc này. Đầu ông nhói đau, tay chân thì lạnh cóng. Phía bên kia sân khấu, một bức bình phong dựng kín ba mặt để hai nữ nhân bên trong có thể xem kịch một cách riêng tư, không bị người ngoài nhòm ngó. Một phu nhân đẫy đà dặm đầy phấn son, mặc y phục phú quý bằng vóc đen tuyền, ngồi cạnh một thiếu nữ cũng vận xiêm y đen. Khuôn mặt thanh tú của thiếu nữ không hề tô son điểm phấn, đôi mày ngọa tằm đen và rậm. Cả hai đều đang mải mê theo dõi màn diễn xướng phô trương.

Để ý thấy Địch Nhân Kiệt đang quan sát hai nữ nhân, đạo trưởng cất tiếng, “Bẩm, đó là Bao phu nhân và lệnh ái Bạch Hồng.”

Huyện lệnh nhìn qua Bát Tiên đang bước xuống sân khấu, Tây Vương Mẫu theo sau dưới sự dẫn lối của hai tiểu đồng trong vai tiên đồng ngọc nữ. Tiếng nhạc kết thúc bằng một tiếng cồng lớn vang vọng khắp sảnh. Các đạo sĩ trầm trồ không ngớt. Địch Nhân Kiệt hắt hơi thêm cái nữa, hẳn vừa có một cơn gió lạnh lùa qua.

“Một màn diễn xướng tuyệt vời!” Ông bình phẩm với đạo trưởng.

Đào Cam đến gần sau lưng Địch Nhân Kiệt, thì thầm, “Bẩm đại nhân, viên giám viện có chút việc bận nhưng thuộc hạ đã hỏi được đạo sĩ phát chẩn ở đây. Người này nói không đạo sĩ nào có sơ đồ của đạo quán.”

Địch Nhân Kiệt gật đầu. Sảnh đường lại trở nên im lặng. Một nam nhân cao lớn với gương mặt khoáng đạt và linh hoạt, xuất hiện trên sân khấu. Đó chính là lão Quan, hí đầu của đoàn kịch. Lão cúi thấp mình với đạo trưởng, dõng dạc nói, “Được đạo trưởng cho phép, như thường lệ, bọn tiểu nhân xin diễn một màn ngắn đế kết thúc vở kịch, đây là con đường của một du hồn muốn tìm kiếm Cứu rỗi. Âu Dương cô nương sẽ đóng vai linh hồn lạc lối bị Vô Minh tấn công, vai diễn đặc biệt này do một chú gấu đảm nhận!”

Tiếng rì rầm ngạc nhiên nhanh chóng chìm xuống giai điệu thê lương, xen kẽ với tiếng kèn đồng ai oán vang lên khắp sảnh đường. Một thiếu nữ mặc xiêm y trắng với đôi ống tay áo rộng dài thướt tha bước lên sân khấu. Nàng bắt đầu điệu vũ một cách chậm rãi, xoay tròn tấm thân mảnh dẻ, khiến đôi ống tay áo dài và hai dải dây lưng đỏ bay lượn theo. Địch Nhân Kiệt chăm chú nhìn khuôn mặt trang điểm đậm của thiếu nữ, rồi liếc về phía thiếu nữ ngồi sau tấm bình phong, nhưng vị phu nhân béo tốt kia lại nghiêng mình và che lấp cả nhi nữ. Nhất thời, Địch Nhân Kiệt kinh ngạc bảo Đào Cam, “Nữ nhân đang múa không phải một ả đào mà chính là Bao tiểu thư, thiếu nữ ngồi phía bên kia sân khấu!”

Đào Cam kiễng chân ngó nghiêng, đáp, “Đại nhân, thiếu nữ vẫn đang ngồi chỗ cũ, cạnh vị phu nhân đẫy đà mà.”

Địch Nhân Kiệt vươn cổ dòm qua lần nữa, “Ừ nhỉ,” ông chậm rãi nói, “nhưng trông nàng ta có vẻ hoảng sợ như vừa gặp quỷ. Mà sao ả đào kia lại giống Bao tiểu thư đến vậy? Có lẽ nào…”

Đột nhiên, ông sững lại. Một nam nhân lực lưỡng vận trang phục chiến binh đầy uy phong xuất hiện trên sân khấu, bộ y phục đen bó sát làm nổi bật thân hình hộ pháp mà uyển chuyển của hắn. Ánh sáng đỏ lấp loáng trên chiếc mũ giáp tròn cùng thanh trường kiếm đang ngoáy tít. Mặt hắn bôi phấn đỏ với những vạch trắng chạy dài trên má.

“Đó chính là nam nhân mà ta đã trông thấy cùng với nữ nhân cụt tay,” Địch Nhân Kiệt thì thầm với Đào Cam. “Mau gọi hí đầu lại đây!”

Chiến binh tỏ rõ là một kiếm sĩ tài ba, hắn vừa nhảy múa quanh thiếu nữ vừa đi những đường ảo kiếm tuyệt hảo. Nữ nhân uốn mình đầy duyên dáng né tránh lưỡi kiếm. Chiến binh tiến lại từng bước, từng bước theo nhịp trống. Thanh kiếm múa sát trên đầu thiếu nữ rồi bất ngờ chém xuống, chỉ cách vai nàng chưa đầy sợi tóc. Một tiếng kêu nức nở vang lên từ chỗ hai nữ khán giả. Địch Nhân Kiệt thấy Bao tiểu thư đứng hẳn dậy, hoảng hốt nhìn chằm chằm vào hai nhân vật trên sân khấu, hai tay bấu chặt lấy chiếc khăn lụa. Bao phu nhân nói gì đó với nhi nữ, nhưng dường như nàng không hề để tâm.

Địch Nhân Kiệt lại nhìn sân khấu.

“Sơ sẩy chỉ một động tác là sẽ đổ máu!” Địch Nhân Kiệt lo lắng nói với đạo trưởng. “Mà đó là ai?”

“Bẩm đại nhân, hắn là một kép hát tên Mặc Đức,” đạo trưởng đáp. “Đúng là hắn múa kiếm quá mạo hiểm, nhưng giờ có vẻ cẩn trọng hơn rồi.”

Chiến binh đã thôi không xuất kiếm về phía thiếu nữ nữa. Lùi xa ra, hắn tiếp tục tung một loạt chiêu kiếm phức tạp, gương mặt hóa trang ánh lên một cách kỳ lạ dưới quầng sáng của đèn lồng.

Đào Cam tiến về phía Địch Nhân Kiệt, giới thiệu lão hí đầu Quan Lại.

“Sao ngươi không giới thiệu Mặc Đức sẽ tham gia vào màn diễn này?” Địch Nhân Kiệt gay gắt hỏi.

Lão Quan mỉm cười đáp, “Bẩm đại nhân, khi biểu diễn bọn thảo dân thường hay phải ứng biến. Mặc Đức thích phô trương kiếm thuật, do đó hắn được phân vai Nghi tâm đi hành hạ linh hồn lạc lối.”

“Ta còn tưởng hắn thực sự đang hành hạ thiếu nữ kia,” Địch Nhân Kiệt xẵng giọng. “Nhìn đi, hắn lại tiếp tục tấn công nàng!”

Lúc này, thiếu nữ rõ ràng là đang gặp khó khăn trong việc tránh né những đường truy kiếm nhắm vào mình, khuôn ngực phập phồng gấp gáp, mồ hôi túa ra trên mặt. Huyện lệnh cảm thấy có gì đó bất thường ở cánh tay trái giấu trong ống tay áo rộng dài của nàng. Dường như từ đầu tới giờ, thiếu nữ không hề cử động cánh tay đó mà luôn ép sát nó vào người. Địch Nhân Kiệt bực bội với bản thân, cho rằng mình nhìn đâu cũng ra những nữ nhân cụt tay. Ông cần phải trấn tĩnh lại. Thời điểm Địch Nhân Kiệt nhấc mình, đúng lúc một nhát truy kiếm chém ngọt mất một manh ống tay áo đang múa lượn của thiếu nữ. Lại có tiếng kêu thất thanh phát ra từ sau tấm bình phong.

Địch Nhân Kiệt đứng bật dậy, định kêu gã chiến binh dừng tay. Nhưng ngay lúc đó, thiếu nữ trên sân khấu liền huýt sáo, một con gấu đen lừng lững bước ra. Con vật quay cái đầu to lớn về phía chiến binh, hắn nhanh chóng phải rút vào một góc. Huyện lệnh lại ngồi xuống.

Con gấu từ từ đi về phía thiếu nữ, vừa lắc lư cái đầu vừa gầm gừ. Nàng tỏ vẻ vô cùng hoảng sợ, lấy ống tay áo bên phải che mặt. Con thú tiếp tục tiến đến. Tiếng nhạc im bặt, một sự im lặng chết chóc bao trùm đại sảnh.

“Con ác thú sẽ giết chết nàng!” huyện lệnh thảng thốt.

“Thưa đại nhân, con vật đó được chính tay Âu Dương cô nương thuần hóa,” lão Quan trấn an. “Hơn nữa, nó đã bị xích vào một cột trụ phía sau sân khấu rồi.”

Địch Nhân Kiệt im lặng. Những gì diễn ra làm ông mất hứng. Ông để ý thấy Bao tiểu thư đã ngồi lại xuống chỗ của mình, dường như không còn hào hứng với vở kịch trước mắt, khuôn mặt hãy còn tái nhợt.

Chiến binh múa những đường kiếm cuối cùng rồi biến mất hẳn. Vũ điệu của thiếu nữ ngày một dồn dập, nàng uyển chuyển xoay mình trên những đầu ngón chân, thân hình nhẹ nhàng tựa chim yến. Con gấu tiếp tục vờn quanh nàng.

“Tên kia biến đi đâu rồi?” Địch Nhân Kiệt hỏi lão Quan.

“Bẩm đại nhân, Mặc Đức đã lui vào buồng thay y phục rồi ạ,” lão hí đầu đáp. “Hắn sốt ruột muốn được tẩy trang và cởi bỏ giáp mão.”

“Hắn đã diễn mấy canh giờ rồi à?” huyện lệnh thắc mắc.

“Bẩm, Mặc Đức bắt đầu diễn từ sau hồi nghỉ giữa hai vở,” lão Quan mỉm cười trả lời. “Trong suốt lúc diễn, hắn phải đeo một chiếc mặt nạ gỗ nặng nề để đóng vai Diêm Vương. Đại nhân thấy đấy, chỉ mình hắn vẫn tỏ ra sung sức kỳ lạ, trong khi những đào kép khác giờ đã mệt nhoài. Vừa nãy Mặc Đức tình nguyện ra biểu diễn tiếp, bởi vì hắn không thể cưỡng lại được khao khát thể hiện kiếm thuật tài ba của mình.”

Địch Nhân Kiệt không nghe thêm những câu nói sau. Mắt ông còn mải dán chặt lấy sân khấu, lúc này con gấu đã đứng thẳng trên hai chân sau. Con thú gầm gừ giận dữ, vươn móng vuốt sắc nhọn về phía thiếu nữ. Nàng vừa lùi lại thì đột nhiên con gấu vồ về phía trước, khiến nàng ngã ra sàn. Con ác thú khom mình trên người thiếu nữ há to cái mõm khổng lồ và nhe những chiếc nanh vàng ởn.

Địch Nhân Kiệt nén tiếng kêu lại. Bỗng thiếu nữ luồn mình ra từ phía dưới con vật to xác, nhẹ nhàng đứng thẳng dậy. Nàng vỗ nhẹ lên đầu con gấu, cầm lấy sợi dây xích của nó rồi cúi đầu chào. Thiếu nữ dắt con thú ra khỏi sân khấu trong tiếng vỗ tay giòn giã của khán giả.

Địch Nhân Kiệt quệt mồ hôi trên trán. Sự phấn khích đã làm ông quên mất cơn cảm mạo, nhưng giờ ông lại cảm thấy đau đầu dữ dội, Địch Nhân Kiệt toan đứng lên, chợt đạo trưởng níu tay ông lại, “Giờ là lúc thi sĩ Tông Lê ngâm lời bạt!”

Một nam nhân với gương mặt lanh lợi, mày râu nhẵn nhụi đứng giữa sân khấu. Y cúi đầu chào, sau đó lấy giọng trầm vang ngâm nga:

Tứ tọa mạc huyên hoa,

Tấu nhã nghi khúc chung.

Phát ngôn ký thiên lý,

Khởi tất văn từ công,

U minh bằng thùy thức,

Tiên quỷ hà mông lông.

Trường phong tán triều vân,

Nhất luân tịnh bích không.

Nghĩa bài thơ

Tứ tọa chớ xôn xao

Nghi thức tấu nhã ngừng

Lời này gửi Thiên lý,

Công văn, nhất định thưa.

Chuyện Âm Dương ai biết,

Tiên Quỷ thì mông lung.

Gió thổi tan mây sớm,

Trở lại trời xanh trong

Y cúi đầu một lần nữa và lui ra khỏi sân khấu. Đội nhạc khí tấu lên giai điệu cuối cùng kết thúc buổi lễ.

Địch Nhân Kiệt dò hỏi nhìn đạo trưởng. Một câu thơ như ‘trường phong tán triều vân’* mang đầy điềm gở và khiếm nhã với một đạo quán mang tên Triều Vân.

trường phong tán triều vân còn có thể hiểu là ‘Gió thổi đổ quán Triều Vân’.

Đạo trưởng quát lão hí đầu, “Gọi tên thi sĩ ấy ra đây!” Đoạn, ông ta quay sang Địch Nhân Kiệt, “Tên tiểu tử đó quả là láo xược!”

Khi thanh niên đến trước mặt họ, đạo trưởng lập tức truy hỏi, “Điều gì khiến công tử đề câu thơ cuối như vậy? Nó đã phá hỏng bầu không khí tốt lành của nghi lễ trang nghiêm này!”

Thanh niên có vẻ khá thoải mái, ngạo nghễ nhìn đạo trưởng rồi mỉm cười đáp, “Thưa ngài, câu thơ cuối sao? Tiểu sinh e phải là câu thơ gần cuối mới phải. Ngài biết đó, thường khó mà tìm được đúng nhịp điệu để gieo vần!”

Đạo trưởng bực bội, chưa kịp lên tiếng thì Tông Lê đã bình thản nói tiếp, “Tất nhiên với những bài thơ ngắn thì dễ gieo vần hơn, giống như thế này:

Chân nhân phiêu dật lên pháp đàn

Đạp Cương giẫm Đẩu tuyên diệu đạo

Ngọc lang lo lắng uống Hoàng tuyền

Hối hận ăn kim đan hỏi thọ tang.

Đạo trưởng giận dữ nện mạnh tích trượng xuống sàn, cơ mặt giần giật. Địch Nhân Kiệt chờ đợi một cơn thịnh nộ sắp bùng nổ, nhưng cuối cùng đạo trưởng đã kiềm chế lại, chỉ lạnh lùng nói, “Tông Lê công tử, mời đi cho!”

Đoạn, đạo trưởng đứng dậy, huyện lệnh nhận thấy tay đối phương vẫn còn run lên vì tức giận. Địch Nhân Kiệt bèn nói lời cáo từ.

Ông vừa bước ra cửa, vừa nói với Đào Cam, “Bây giờ chúng ta hãy đến buồng thay y phục, ta có chuyện muốn hỏi gã Mặc Đức kia. Ngươi có biết căn buồng đó ở đâu không?”

“Bẩm đại nhân, nó nằm cùng lầu với buồng của thuộc hạ, phía hành lang bên.”

“Ta chưa từng thấy cái tổ kiến nào nhiều ngóc ngách như đạo quán này!” Địch Nhân Kiệt lẩm bẩm. “Sao lại không có lấy một sơ đồ? Bọn họ phải sở hữu một bản sơ đồ kiến trúc toàn diện theo luật pháp Đại Đường chứ?”

“Bẩm đại nhân, vị đạo sĩ phát chẩn kia còn nói rằng khu biệt điện luôn luôn đóng kín, chỉ có đạo trưởng và các cao tầng đạo sĩ mới được phép vào đó. Cấm địa như vậy cũng không được đưa vào sơ đồ hay bản miêu tả. Đạo sĩ phát chẩn đó cũng đồng tình rằng thật bất tiện khi một nơi rộng lớn thế này lại không có sơ đồ. Ngay cả các đạo sĩ cũng thỉnh thoảng bị lạc đường.”

“Thật lố lăng!” Địch Nhân Kiệt cáu kỉnh nói. “Chỉ vì Hoàng tộc chiếu cố đến Đạo giáo mà những đạo sĩ này tự cho mình ở trên cả vương pháp? Ta còn nghe nói ảnh hưởng của Phật giáo đang ngày một tăng trong triều. Thật không biết hai tôn giáo này, cái nào tệ hơn nữa!”

Đoạn, Địch Nhân Kiệt rảo bước về phía căn buồng đối diện sảnh đường, nói với vị đạo trưởng ở đó rằng sau khi thay đồ, mình muốn một tiểu đồng dẫn đường đến tòa lầu của Tôn Thiên sư. Đào Cam mượn đạo trưởng chiếc đèn lồng, rồi họ đứng đợi ngoài cửa cho đến khi các đạo sĩ lần lượt ra khỏi sảnh đường và rời đi hết.

“Nhìn tất cả những thanh niên trai tráng kia đi!” Địch Nhân Kiệt chua chát nói. “Đáng ra họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình, lập gia thất và giáo dưỡng nhi tử!”

Ông lại hắt hơi.

Đào Cam lo lắng nhìn huyện lệnh. Địch Nhân Kiệt vốn là một người vô cùng điềm tĩnh, tâm vững như bàn thạch, hiếm khi nào bộc lộ sự khó chịu của bản thân như vậy.

Y dè dặt hỏi, “Đại nhân, đạo trưởng đã giải thích thỏa đáng về cái chết của ba cô nương xảy ra ở đây chưa ạ?”

“Chưa đâu!” Địch Nhân Kiệt nhấn mạnh. “Đúng như ta nghĩ, chuyện này còn nhiều điểm rất đáng ngờ. Khi trở về Hán Nguyên, trước tiên ta sẽ cử người đi hỏi thăm gia quyến của các thiếu nữ để tìm hiểu thêm về họ. Sau đó, chúng ta sẽ trở lại đạo quán này cùng với lão Hồng, Mã Vinh, Kiều Thái, vài lục sự cùng một tá bộ khoái, rồi ta sẽ tiến hành tra xét tổng thể. Đương nhiên là còn lâu mới báo trước! Đó sẽ là bất ngờ nho nhỏ mà ta dành riêng cho đạo trưởng lão bằng hữu!”

« Lùi
Tiến »