Địch Gia Bát Án

Lượt đọc: 2719 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Năm đóa tường vân

Tình ơi đau đớn làm chỉ

Để cho nhi nữ chia ly với chàng

Trời cao số kiếp bẽ bàng

Gieo chi ác bệnh, hai hàng lệ rơi

Thuyền quyên giấc mộng chơi vơi

Xuân sang em bước, người ơi đi cùng...

-Tùng Vũ-

---❊ ❖ ❊---

Vụ án này xảy ra vào năm 663 sau Công nguyên, khi Địch Công chỉ vừa mới chính thức nhậm chức tại địa phương đầu tiên trong sự nghiệp làm quan án là Huyện lệnh huyện Bồng Lai được một tuần, đây là chức vị một mình một cõi cai quản vùng đất xa xôi hẻo lánh ờ bờ biển Đông Bắc của vương triều Đại Đường, Trung Quốc. Ngay sau khi chân ướt chân ráo đến nhận nhiệm sở mới, ông đã phải đối mặt với ba tội ác bí ẩn được đề cập ở tập “Hoàng kim án” trong cùng bộ tiểu thuyết “Địch Công kỳ án”. Câu chuyện đó diễn ra trong bối cảnh ngành công nghiệp đóng thuyền đang phát triển thịnh vượng tại Bồng Lai, dưới sự chi phối của Diệp Thủ Bôn, một chủ thuyền giàu có. Còn câu chuyện này khai màn tại nha sảnh của Địch Công trong nha phủ, nơi ông đang họp bàn với Diệp Thủ Bôn và hai nam nhân khác. Họ vừa kết thúc cuộc thảo luận dài hơi xoay quanh đề xuất của Địch Công về việc chuyển ngành đóng thuyền về dưới sự kiểm soát của triều đình.

“À, thưa chư vị,” Địch Công mỉm cười hài lòng nói với ba vị khách, “ta nghĩ đã đủ thông tin để đưa ra quyết định rồi.”

Cuộc hội bàn ở nha sảnh của Địch Công đã bắt đầu từ giữa giờ Mùi, hiện đã quá giờ Thân. Nhưng ông nghĩ ngần ấy thời gian đã được sử dụng hữu ích.

“Các quy tắc chúng ta dự thảo dường như đã chu toàn cho mọi sự kiện ngẫu nhiên có thể xảy ra,” họ Hồ bình phẩm bằng một giọng điệu chắc nịch. Y là một nam nhân trung niên, ăn vận nhã nhặn, vốn là Lục sự của Thượng thư Bộ Hình, nay đã hồi hưu. Nhìn sang Hạ Minh, gã chủ thuyền giàu có ngồi bên phải mình, y nói thêm:

“Hạ tiên sinh, chắc ông sẽ đồng ý rằng nghị ước của chúng ta đã giải quyết hợp tình hợp lý sự bất đồng giữa ông với Diệp tiên sinh đây.”

Hạ Minh nhăn nhó mặt mày. “Công bằng là một từ hay,” hắn lãnh đạm nói, “nhưng là một thương nhân, ta thích từ lợi tức hơn nhiều! Nếu ta được trao quyền tự do cạnh tranh với bằng hữu Diệp đây, kết quả có thể không hoàn toàn công bằng đâu... nhưng sẽ mang lại nhiều lợi tức... cho ta!”

“Ngành nghề đóng thuyền ảnh hưởng đến quốc kế dân sinh.” Địch Công nhận xét vẻ kiên quyết. “Triều đình không cho phép độc quyền tư nhân. Chúng ta đã dành cả buổi trưa cho vấn đề này, và nhờ vào lời tư vấn kỹ thuật tuyệt vời của Hồ tiên sinh, mà giờ đây chúng ta đã soạn được nghị ước này rất rõ ràng và chi tiết nhằm nêu bật những quy tắc mà các chủ thuyền phải phục tùng. Ta mong cả hai ông nhất nhất tuân theo chúng.”

Diệp Thủ Bôn chậm rãi gật đầu. Địch Công thích thương nhân ma mãnh nhưng thành thật này. Ông đánh giá Hạ Minh thấp hơn, ông biết hắn không hề phản đối các giao dịch mờ ám, lại còn phóng đãng, ham mê tửu sắc. Địch Công ra hiệu cho nha dịch châm đầy các chén trà, rồi ông tựa lưng vào ghế. Ngày hôm nay đã rất nóng nực, nhưng giờ thì một cơn gió nhẹ mát lành thổi qua, thoảng đưa hương mộc lan thơm ngát bên ngoài cửa sổ lan tỏa khắp nha sảnh.

Họ Diệp đặt chén trà xuống, liếc mắt ra hiệu cho hai nam nhân kia. Đã đến lúc họ nên cáo từ rồi.

Đột nhiên cánh cửa mở ra và Hồng Sư gia, lão quân sư tin cẩn của Địch Công bước vào. Lão tiến lại gần án thư và nói:

“Bẩm đại nhân, có người muốn cầu kiến ngài, nói là có chuyện khẩn cấp.”

Địch Công nhận ra ánh nhìn đầy ngụ ý của Sư gia, “Xin cáo lỗi, ta có việc một chút,” ông nói với ba vị khách rồi đứng lên và theo lão Hồng ra ngoài.

Khi họ đã ra đến hành lang, Hồng Sư gia hạ giọng nói với Địch Công:

“Đó là quản gia của Hồ tiên sinh, thưa ngài. Y đến để bẩm báo rằng Hồ phu nhân đã tự tử.”

“Trời đất ơi!” Địch Công thốt lên. “Bảo y đợi ta. Tốt hơn là ta nên tự mình báo lại hung tin này cho Hồ tiên sinh. Hồ phu nhân tự tử như thế nào?”

“Hồ phu nhân treo cổ quyên sinh, thưa đại nhân, ở tiểu đình trong hậu hoa viên vào giờ nghỉ trưa. Quản gia vừa phát hiện liền lập tức chạy tới đây báo tin.”

“Thật là bi thảm cho Hồ tiên sinh khi gặp tai kiếp này. Ta quý mến y, vốn là một kiểu người hơi khô khan nhưng rất tận tâm, chu đáo, và cũng là một luật gia khôn ngoan.”

Địch Công buồn bã lắc đầu, đoạn ông quay trở lại nha sảnh. Sau khi ngồi xuống sau án thư, ông nói với họ Hồ, vẻ nghiêm trọng:

“Đó là quản gia của ông, Hồ tiên sinh à. Y đến đây với một tin dữ. Về tôn phu nhân.”

Họ Hồ nắm lấy tay vịn của ghế:

“Về phu nhân của ta ư?”

“Có lẽ phu nhân đã tự sát, Hồ tiên sinh à.”

Họ Hồ nhấp nhổm đứng dậy, sau đó lại buông mình thẫn thờ xuống ghế. Y nói với giọng yếu ớt đượm buồn:

“Vậy là điều đó đã xảy ra, đúng như ta lo sợ. Mấy tuần gần đây nàng... nàng đã rất sầu não và tuyệt vọng.” Y dụi mắt, đoạn hỏi:

“Nàng làm sao... làm thế nào mà tự kết liễu đời mình?”

“Quản gia của ông trình báo rằng tôn phu nhân đã treo cổ. Bây giờ y đang chờ để hộ tống ông về gia trang. Ta sẽ phái Ngỗ tác đến hỗ trợ ngay để soạn giấy chứng tử. Dĩ nhiên là ông muốn các nghi thức thủ tục được hoàn tất càng nhanh càng tốt để bản thân không còn phải vướng bận tâm tư thêm nữa.”

Họ Hồ dường như không nghe thấy Địch Công nói gì. Y lẩm bẩm:

“Chết! Chỉ vài canh giờ sau khi ta rời đi sao? Ta biết làm gì đây?”

Hạ Minh nói vẻ an ủi:

“Chúng ta nhất định sẽ giúp đỡ ông!” Hắn tiếp thêm vài lời vỗ về nữa. Diệp Thủ Bôn cũng góp lời động viên. Nhưng dường họ Hồ không nghe thấy. Y đang nhìn đăm đăm vào không gian bất tận, khuôn mặt co rúm lại. Bất chợt họ Hồ ngước lên nhìn vào Địch Công và cất lời sau một thoáng ngần ngừ:

“Địch lão gia, ta cần thời gian, một chút thời gian để... Ta không muốn lợi dụng sự tử tế của lão gia, nhưng... ngài có thể cử ai đó lo liệu các nghi thức và thủ tục ấy thay cho ta được không? Rồi ta có thể sẽ về Hồ gia sau... sau khi thi thể đã được khám nghiệm, và đã...” Giọng y yếu ớt dần, đôi mắt van lơn tha thiết nhìn Địch Công.

“Dĩ nhiên rồi, Hồ tiên sinh!” Địch Công mạnh mẽ đáp nhanh. “Ông cứ ở đây và dùng thêm một chén trà. Đích thân ta cùng Ngỗ tác sẽ đi đến Hồ gia trang, và sẽ chuẩn bị một cỗ quan tài tạm thời. Ít nhất ta có thể làm chuyện đó cho ông. Ông chưa bao giờ miễn cưỡng trao cho ta những lời khuyên giá trị, và hôm nay, ông dành cả buổi trưa cho công vụ của huyện nha. Không, bản quan đã quyết rồi, Hồ tiên sinh à! Diệp tiên sinh, Hạ tiên sinh, hai vị hãy chăm sóc bằng hữu của chúng ta nhé. Ta đi thu xếp một chút, khoảng hai khắc nữa sẽ trở lại.”

Hồng Sư gia đang chờ ngoài sân nhỏ cùng với một nam nhân béo lùn có chòm râu dê đen nhánh.

Lão Hồng bầm với quan án rằng đây là quản gia của họ Hồ. Địch Công nói với kẻ ấy:

“Ta đã thông báo với Hồ tiên sinh rồi, giờ ngươi có thể trở về gia trang. Bản quan sẽ theo sau ngay.” Rồi Địch Công nói thêm với Hồng Sư gia:

“Tốt hơn là lão hãy về công đường, lão Hồng à, để sắp xếp lại các giấy tờ công vụ vừa được chuyển tới. Chúng ta sẽ cùng xem xét sau khi bản quan về nha phủ. Hai thuộc hạ của ta đâu rồi?”

“Bẩm đại nhân, Mã Vinh và Kiều Thái đang ở trong sân chính, điều khiển binh sĩ tiến hành thao luyện.”

“Tốt lắm. Bản quan chỉ cần Bộ đầu và hai thuộc hạ cùng tới Hồ gia trang. Họ sẽ đặt thi thể vào quan tài. Tối nay ta cũng không cần đến Mã Vinh và Kiều Thái sau khi họ đã thao luyện đám binh lính xong xuôi. Cho gọi Ngỗ tác và truyền kiệu của ta ra đây.”

Trong cái sân nhỏ tẹo phía trong tư gia khiêm tốn của họ Hồ, gã quản gia béo lùn đang đứng chờ Địch Công. Hai nữ tì mắt đỏ hoe quẩn quanh đứng gần cổng gia trang. Bộ đầu giúp Địch Công bước xuống kiệu. Ông lệnh cho y đứng chờ cùng với hai Bộ khoái trong sân nhỏ, rồi bảo quản gia dẫn đường cho mình và Ngỗ tác đến gian tiểu đình nơi Hồ phu nhân đã tự sát.

Quản gia dẫn họ đi dọc theo một hành lang lộ thiên bao quanh gia trang, tới một khu vườn rộng lớn nằm giữa những bức tường cao chót vót. Y dẫn họ bước xuống một lối mòn đã được dọn dẹp quang đãng, nằm quanh co uốn khúc giữa những bụi hoa, tới góc xa nhất. Ở đó, dưới bóng râm của hai cây hòe lớn, một gian tiểu đình hình bát giác đứng sừng sững, tọa lạc trên nền gạch tròn. Mái đình nhọn lợp ngói lưu ly, trên chóp đặt một quả cầu dát vàng. Các cột trụ và cửa sổ lưới mắt cáo tinh xảo được sơn son. Địch Công bước lên bốn bậc thềm lát đá hoa cương rồi đẩy cánh cửa mở tung ra.

Gian tiểu đình cao nhưng nhỏ hẹp này thật oi bức, mùi hăng hắc của một loại hương trầm kỳ lạ đang lan tỏa nồng nặc trong không khí. Ánh mắt của Địch Công ngay lập tức hướng về phía chiếc trường kỷ bằng trúc kê sát tường bên phải. Thi thể bất động của một nữ nhân đang nằm trên đó, quay mặt về phía tường. Ông chỉ thấy mái tóc dày óng ả xõa tung xuống bờ vai nàng. Nàng mặc xiêm y bằng lụa trắng, bàn chân nhỏ nhắn vừa vặn trong đôi bạch hài bằng gấm thêu. Quay sang phía Ngỗ tác, Địch Công nói:

“Ngươi hãy nghiệm thi cho Hồ phu nhân trong khi ta chuẩn bị giấy chứng tử. Quản gia, mở các cửa sổ ra, trong này ngột ngạt quá.”

Địch Công lấy từ trong ống tay áo ra mẫu giấy công vụ và đặt nó sẵn trên cái bàn kê sát tường, cạnh cửa ra vào. Rồi ông thong thả nhìn kĩ gian phòng. Trên chiếc bàn chạm khắc gỗ tử đàn đặt giữa phòng có một khay trà đựng hai cái chén. Ấm trà vuông vức đã đổ nhào, nó đang nằm lay lắt với một nửa bên vòi vất vưởng trên một chiếc hộp bằng đồng trơn nhẵn. Một dải lụa đỏ dài loằng ngoằng nằm kế bên cạnh. Hai chiếc ghế lưng tựa cao đứng chơ vơ cạnh bàn. Ngoại trừ hai kệ tương phi trúc nằm giữa những cửa sổ đang chứa sách và vài món đồ cổ nhỏ bé, không còn đồ đạc nào khác. Nửa trên của các bức tường được lát ván gỗ, trên đó chạm khắc những bài thơ nổi tiếng. Không khí thật yên tĩnh, phảng phất phong vị thanh tao.

Quản gia đẩy cánh cửa sổ cuối cùng mở tung ra. Bấy giờ y tiến tới gần Địch Công và chỉ tay vào những thanh xà sơn son lớn chạy ngang qua trần nhà hình vòm. Từ thanh xà chính giữa trần treo đu đưa một dải lụa đỏ, một đầu đã sờn.

“Bẩm đại nhân, chúng tiểu nhân tìm thấy phu nhân treo cổ ở đó. Nữ tì hầu phòng và tiểu nhân...”

Địch Công gật đầu. “Sáng nay Hồ phu nhân trông có chán nản, ủ ê không?”

“Ồ không, thưa đại nhân, lúc ăn cơm trưa, tinh thần phu nhân vẫn rất tốt. Nhưng khi Hạ tiên sinh đến thăm lão gia, thì phu nhân..”

“Ngươi nói ai? Hạ Minh? Hắn đến đây làm gì? Hắn sắp sửa gặp Hồ tiên sinh ở thư phòng của ta vào giờ Mùi mà!”

Quản gia trông có vẻ ngại ngùng. Sau một thoáng do dự, y đáp lời:

“Lúc đó, do phải phục vụ trà tại sảnh đường, nên tiểu nhân đã nghe được vài câu họ nói chuyện. Hình như Hạ tiên sinh muốn lão gia góp lời tư vấn có lợi cho hắn trong cuộc thương nghị buổi chiều. Thậm chí hắn còn tặng cho lão gia một... à, khoản đền ơn... kha khá. Tất nhiên là lão gia đã từ chối, vẻ rất phẫn nộ...”

Ngỗ tác tiến tới gần Địch Công, thì thầm nói, “Thuộc hạ phát hiện ra vài điều hết sức kỳ lạ!”

Nhận thấy vẻ mặt lo lắng của Ngỗ tác, Địch Công xẵng giọng ra lệnh cho quản gia:

“Hãy đi tìm nữ tì của Hồ phu nhân về đây cho ta!” Rồi ông tiến về phía chiếc trường kỷ để kiểm tra. Ngỗ tác đã quay đầu của nữ nhân xấu số lại. Khuôn mặt bị méo mó nặng nề, nhưng người ta vẫn có thể nhìn ra nàng là một nữ nhân có nhan sắc. Địch Công áng chừng nàng khoảng hai mươi lăm tuổi. Ngỗ tác vén mái tóc nàng sang một bên và cho Địch Công thấy một vết bầm tím nghiêm trọng phía trên thái dương bên trái.

“Đây là điều khiến cho thuộc hạ lo lắng,” y chậm rãi nói. “Còn điều thứ hai, tuy nguyên nhân tử vong là do bị thắt cổ, nhưng không một đốt sống cổ nào bị trật khớp cả. Bây giờ, thuộc hạ đo chiều dài của dải lụa treo lòng thòng từ xà nhà trên cao đằng kia với dải lụa nằm trên bàn và chiều cao của Hồ phu nhân. Thật dễ dàng trông ra được cách nàng ấy tự sát. Nàng ta bước lên chiếc ghế đó, rồi lên bàn. Nàng quăng dải lụa qua thanh xà, thắt một đầu thành nút trượt và rút chặt vòng dây quanh đó. Rồi nàng quấn đầu kia thành chiếc thòng lọng, tròng nó quanh cổ mình và nhảy khỏi bàn, khiến ấm trà đổ tung tóe. Khi đang treo lơ lửng ở đó, chân nàng chắc chắn chỉ cách sàn nhà vài phân. Cái thòng lọng chầm chậm siết cổ nàng, nhưng không khiến nó bị gãy. Thuộc hạ không thể không băn khoăn tại sao nàng ấy không đặt cái ghế kia lên bàn, rồi từ đó hãy nhảy xuống. Một cú rơi như thế sẽ làm gãy cổ nàng, gây tử vong nhanh chóng. Nếu chúng ta kết hợp điều này với vết bầm trên thái dương...” Y đột ngột bỏ lửng câu nói và trao cho Địch Công một cái nhìn đầy ẩn ý.

“Ngươi nói đúng,” Địch Công nói. Ông thu lại mẫu giấy công vụ và bỏ vào trong tay áo. Chỉ có trời mới biết khi nào ông mới có thể cấp giấy chứng tử! Địch Công thở dài và hỏi:

“Thế còn thời gian tử vong?”

“Điều đó thật khó nói, thưa đại nhân. Cơ thể vẫn còn ấm, tứ chi vẫn chưa bắt đầu cứng lại. Tuy nhiên, với thời tiết nóng nực và trong gian phòng kín này thì...”

Địch Công gật gù vẻ lơ đãng, không chú tâm. Ông đang nhìn chằm chằm vào chiếc hộp bằng đồng. Nó có hình hoa mai năm cánh với các góc được bo tròn, đường kính ước khoảng một thước, cao chừng một thốn. Trên nắp đậy bằng đồng là năm rãnh xoắn ốc nối liền nhau. Qua đó, có thể thấy một chất bột nâu đầy tới miệng hộp.

Ngỗ tác dõi theo ánh nhìn của Địch Công, y bình phẩm:

“Đó là một chiếc lư hương tính xảo.”

“Quả là vậy. Hoa văn trên nắp là biểu tượng của năm đám mây cát tường, mỗi đám mây đều được khắc thành rãnh hình xoắn ốc. Nếu đốt huân hương ở một đầu rãnh, nó sẽ cháy chầm chậm dọc theo các xoắn ốc của hoa văn, vận hành như một đoạn dây dẫn vậy. Hãy nhìn xem, nước trà tràn ra từ vòi ấm làm ướt phần giữa của xoắn ốc thứ ba, dập tắt đoạn hương đang cháy dở dang. Nếu có thể tìm ra chính xác chiếc lư hương được nhen lên khi nào và bao lâu sau thì nó cháy đến phần chính giữa của vòng xoắn ốc thứ ba, thì chúng ta sẽ có thể xác minh được gần như là chính xác thời điểm của vụ tự sát. Hay đúng hơn là...”

Địch Công ngừng lại, vì quản gia đã bước vào. Y đi cùng với một nữ nhân béo tốt đẫy đà, khoảng năm mươi tuổi, trong xiêm y màu nâu gọn gàng. Gương mặt tròn trĩnh vẫn còn vương dấu vết của những giọt lệ rơi. Ngay khi nhìn thấy thi thể bất động trên trường kỷ, nữ nhân này bật khóc nức nở.

“Nữ nhân này đã theo hầu Hồ phu nhân bao lâu rồi?” Địch Công hỏi quản gia.

“Hơn hai mươi năm, thưa đại nhân. Bà ta vốn ở nhà mẹ đẻ Hồ phu nhân, ba năm trước đã theo phu nhân xuất giá về đây. Bà ta không sáng dạ lắm nhưng trung hậu và cần kiệm. Phu nhân rất coi trọng bà ta.”

“Bình tĩnh!” Địch Công nói với nữ tì. “Đây hẳn là một tin choáng váng khủng khiếp đối với ngươi, nhưng nếu ngươi mau chóng trả lời các câu hỏi của bản quan, chúng ta sẽ có thể sớm an táng Hồ phu nhân. Nói cho ta nghe, ngươi có quen dùng chiếc lư hương này không?”

Nữ nhân lau mặt bằng tay áo và trả lời, dáng vẻ bơ phờ, “Dĩ nhiên là có, thưa đại nhân. Nó cháy hết chính xác hai canh rưỡi, mỗi xoắn ốc mất nửa canh giờ. Ngay trước khi nô tì rời đi, phu nhân đã phàn nàn về không khí ẩm mốc ở đây, nên nô tì mới thắp hương.”

“Khi đó là giờ nào?”

“Bẩm ngài, lúc đó là khoảng giờ Mùi.”

“Đó là lần cuối ngươi trông thấy phu nhân còn sống, đúng không?”

“Vâng, thưa ngài. Khi Hạ tiên sinh đang đàm đạo với lão gia trong sảnh đường, nô tì đã đưa phu nhân đến đây. Liền sau đó, lão gia đi vào để xem phu nhân có được an giấc trưa hay không. Phu nhân kêu nô tì rót ra hai chén trà, nói thêm rằng không cần nô tì phục dịch cho đến giờ Dậu, và kẻ hèn này cũng nên chợp mắt trong chốc lát đi. Phu nhân luôn rất chu đáo! Nô tì trở lại sảnh đường và bảo quản gia xếp bộ lễ phục màu xám mới may trong phòng ngủ cho lão gia để ngài ấy chuẩn bị đến nha phủ nghị sự. Rồi lão gia cũng đến. Sau khi quản gia giúp ngài ấy thay đổi y phục, lão gia liền kêu nô tì đi nghênh đón Hạ tiên sinh quay lại. Sau đó, họ cùng nhau rời đi.”

“Hạ tiên sinh khi ấy ở đâu?”

“Nô tì thấy ngài ấy đang thưởng hoa trong vườn, thưa đại nhân.”

“Đúng thế,” quản gia nói, “sau cuộc trò chuyện trong sảnh đường mà tiểu nhân vừa kể, lão gia đã xin Hạ tiên sinh thứ lỗi vì ngài ấy phải ra gian tiểu đình trong vườn nói lời từ biệt phu nhân rồi đi thay đổi y phục. Có vẻ như Hạ tiên sinh, do bị bỏ lại một mình trong sảnh đường, thấy buồn nên đã đi ra ngoài để thưởng ngoạn hoa viên.”

“Bản quan hiểu. Như vậy thì ai đã phát hiện ra thi thể đầu tiên, ngươi hay nữ tì này?”

“Là nô tì, thưa đại nhân.” Nữ tì đáp lời. “Nô tì đến đây trước giờ Dậu một chút, và nô tì... nô tì thấy phu nhân treo cổ ở đây, trên cái xà nhà đó. Nô tì vội chạy ra ngoài và gọi quản gia.”

“Tiểu nhân ngay lập tức đứng lên ghế,” quản gia nói, “và cắt dây, còn bà ta thì vòng tay quanh người phu nhân. Tiểu nhân nới lỏng vòng dây, và sau đó cả hai khiêng phu nhân qua chiếc trường kỷ. Hơi thở của phu nhân đã ngừng lại, và tim cũng ngưng đập. Chúng tiểu nhân cố gắng làm phu nhân hồi tỉnh bằng cách xoa bóp mạnh, nhưng đã quá trễ. Tiểu nhân vội vã chạy đến nha phủ để bẩm báo cho lão gia. Giá mà tiểu nhân phát hiện ra phu nhân sớm hơn..

“Ngươi đã làm những gì mình có thể, quản gia. Giờ để ta xem nào. Ngươi đã kể với bản quan rằng trong suốt bữa ăn trưa, tinh thần Hồ phu nhân rất tốt, cho đến khi Hạ tiên sinh xuất hiện, đúng không?”

“Vâng, thưa đại nhân. Khi Hồ phu nhân nghe thảo dân thông báo Hạ tiên sinh đến gặp lão gia, thần sắc phu nhân trở nên nhợt nhạt, phu nhân vội thoái lui về gian phòng bên cạnh. Tiếu nhân thấy...”

“Ông chắc hẳn lầm rồi!” Nữ tì gắt gỏng cắt ngang. “Ta tháp tùng cùng phu nhân khi phu nhân đi từ phòng bên đến tiểu đình trong vườn, và ta không hề nhận thấy phu nhân có gì phiền não.”

Quản gia giận dữ định bắt bẻ lại thì Địch Công đã giơ tay lên phản đối và xẵng giọng nói với y:

“Hãy đi hỏi lão bộc gác cổng xem hắn đã cho những ai vào sau khi lão gia nhà ngươi và Hạ tiên sinh rời đi, tại sao họ đến và ở lại bao lâu. Nhanh lên!”

Khi quản gia nháo nhào rời khỏi, Địch Công ngồi xuống bàn. Chậm rãi vuốt hàng tóc mai dài, ông lặng lẽ quan sát nữ nhân đang cụp mắt đứng trước mặt mình. Rồi ông nói:

“Phu nhân của ngươi, đã qua đời. Nhiệm vụ của ngươi là kể cho ta nghe mọi sự việc có thể để giúp bản quan tìm ra kẻ thủ ác đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên cái chết của phu nhân. Nói đi, tại sao việc Hạ tiên sinh đến lại khiến nàng ấy căng thẳng?”

Nữ tì nhìn Địch Công đầy sợ hãi. Bà ta dè dặt trả lời:

“Nô tì thực sự không biết, thưa đại nhân! Nô tì chỉ biết là trong hai tuần qua, phu nhân đã hai lần đến thăm Hạ tiên sinh mà lão gia không hề hay biết. Nô tì muốn đi với phu nhân, nhưng Phùng tiên sinh nói...” Nữ tì đột nhiên bỏ lửng câu nói. Gương mặt chợt đỏ như gấc, bà ta giận dữ cắn môi mình.

“Phùng tiên sinh là ai?” Địch Công hỏi gắt.

Cân nhắc, đắn đo một lúc, bà ta cau mày, trán nhăn lại, đoạn nhún vai trả lời:

“Ôi, chân tướng sự việc có thể rồi cũng phải công khai thôi, dù sao thì họ không hề làm điều gì sai trái cả! Thưa đại nhân, Phùng tiên sinh là một họa sĩ, gia cảnh bần hàn, thân mang nhiều bệnh. Y từng sống trong một gian nhà nhỏ gần nhà mẹ đẻ của phu nhân. Sáu năm trước, phụ thân của phu nhân đã mời Phùng tiên sinh tới dạy phu nhân họa bút vẽ hoa. Khi ấy phu nhân chỉ mới ngoài hai mươi tuổi, còn Phùng tiên sinh là một thiếu niên anh tuấn, dáng dấp phong lưu... Chẳng có gì lạ khi họ nảy sinh tình cảm. Họ Phùng là một nam nhân tốt, thưa đại nhân, và phụ thân của y cũng là một học giả nổi tiếng, nhưng về sau gia nghiệp tiêu tan, và...”

“Không cần phải kể lể nhà y như thế nào! Giữa họ Phùng kia và Hồ phu nhân có gian tình hay không?”

Nữ tì lắc đầu dứt khoát và nhanh chóng đáp lời, “Không bao giờ, thưa ngài! Phùng tiên sinh đã dự tính nhờ người đến nhà lão thái gia để đề cập chuyện cưới xin. Đúng là y thuộc dạng nghèo đói bần cùng, nhưng do họ Phùng cũng thuộc một dòng dõi nức tiếng gần xa nên y vẫn hy vọng lão thái gia sẽ chấp thuận. Tuy nhiên, ngay vào thời điểm ấy, họ Phùng ho ra máu, đại phu nói y mắc chứng lao, sẽ không sống được bao lâu nữa... Họ Phùng nói với phu nhân rằng họ không bao giờ có thể nên duyên, đôi uyên ương từng có tất cả nhưng giờ chỉ còn là một đoản mộng xuân sang. Họ Phùng sẽ bỏ đi đến một nơi xa xôi. Nhưng phu nhân đã van nài y ở lại; nói rằng họ vẫn có thể là bằng hữu, và nàng muốn được kề cận tình lang vạn nhất khi bệnh tình hung hiểm..”

“Họ vẫn tiếp tục gặp gỡ sau khi phu nhân xuất giá sao?”

“Bẩm đại nhân, có! Họ gặp nhau ở đây, tại gian tiểu đình này, nhưng chỉ ban ngày và luôn có mặt nô tì. Nô tì thề rằng họ Phùng chưa bao giờ đụng chạm gì tới phu nhân, ngay cả ngón tay cũng không, thưa ngài!”

“Hồ tiên sinh có biết các cuộc thăm viếng đó không?”

“Không, dĩ nhiên là không! Ban ngày, khi lão gia ra ngoài làm công vụ, nô tì liền nhận một bức thư ngắn từ phu nhân để chuyển đến cho Phùng tiên sinh. Y sẽ lẻn vào trong qua lối cửa nhỏ ở hậu hoa viên và tới thưởng trà với phu nhân tại gian tiểu đình này. Nô tì biết những cuộc ghé thăm thỉnh thoảng đó là liều thuốc nhiệm màu duy nhất giúp cho họ Phùng có đủ nghị lực để nhen nhóm đốm lửa tàn của sự sống trong suốt ba năm khó khăn qua, sau khi phu nhân trở thành vợ của kẻ khác. Phu nhân rất yêu thích những cuộc trò chuyện ấy, và nô tì luôn ở đó với họ, luôn luôn..

“Ngươi đã nhắm mắt làm ngơ, đồng lõa với các cuộc gặp gỡ bí mật, vốn được trù tính lên kế hoạch từ trước.” Địch Công gay gắt nói. “Và có lẽ là tiếp tay cho cả vụ án mạng. Vì Hồ phu nhân không hề tự sát mà nàng ta đã bị sát hại. Chính xác là vào cuối giờ Thân.”

“Nhưng làm thế nào mà Phùng tiên sinh liên quan đến điều đó, thưa đại nhân?” Nữ tì than khóc rền rĩ.;

“Đó là những gì ta sắp sửa tìm ra,” Địch Công nói vẻ dứt khoát. Rồi ông quay sang Ngỗ tác, “Chúng ta hãy ra cổng thôi!”

Bộ đầu và hai Bộ khoái đang ngồi trên chiếc trường kỷ bằng đá trong sân. Bọn họ vội vội vàng vàng xếp đội hình lại ngay hàng thẳng lối khi nhìn thấy Địch Công, Bộ đầu cúi chào thi lễ và hỏi:

“Thuộc hạ cho người mang quan tài tới được chưa, thưa đại nhân?”

“Không, chưa đâu,” Địch Công khàn giọng nói, và tiếp tục bước đi về hướng đã định. Trong gian phòng của nô bộc gác cổng, gã quản gia béo lùn đang nguyền rủa một lão già khô đét, nhăn nheo, mặc bộ trường y màu lam. Hai phu khiêng kiệu, miệng cười toe toét, đang nhìn qua lối cửa sổ vào bên trong, hào hứng lắng nghe.

“Bẩm đại nhân, kẻ này khăng khăng rằng không có ai đến gia trang cả. Nhưng lão già hồ đồ cũng thú nhận là mình đã chợp mắt trong khoảng giờ Thân. Thật đáng hổ thẹn!”

Không để ý đến lời bình phẩm này, Địch Công đột ngột hỏi:

“Ngươi có biết một họa sĩ họ Phùng?”

Quản gia kinh ngạc lắc đầu, nhưng gã phu khiêng kiệu lớn tuổi hơn thì hô to:

“Tiểu nhân biết họ Phùng, thưa đại nhân! Y thường ăn mì ở quầy hàng của phụ thân tiểu nhân ngay góc phố. Y thuê một căn gác phía trên một tiệm tạp hóa, đằng sau gia trang này. Tiểu nhân thấy họ Phùng loanh quanh gần cửa sau vườn khoảng nửa canh giờ trước.”

Địch Công quay sang Ngỗ tác và nói, “Hãy để gã phu này đưa ngươi đến chỗ của họ Phùng, và dẫn y về đây. Trong bất cứ tình huống nào cũng đừng để y biết về cái chết của Hồ phu nhân!” Rồi ông lệnh cho quản gia, “Hãy dẫn ta đến sảnh đường. Bản quan sẽ gặp họ Phùng ở đó.”

Sảnh đường trông khá nhỏ bé nhưng đồ nội thất, dù đơn giản, lại có chất lượng tốt. Quản gia mời Địch Công an tọa trên chiếc ghế bành êm ái bên cái bàn đặt giữa phòng, rồi châm cho ông một chén trà. Sau đó, y lặng lẽ thoái lui.

Từ từ nhấm nháp từng ngụm trà, Địch Công hài lòng ngẫm nghĩ rằng giờ đã truy ra được dấu vết của tên sát nhân. Ông hy vọng Ngỗ tác sẽ tìm ra họa sĩ Phùng để ông có thể thẩm vấn y ngay lập tức.

Nhanh hơn ông dự tính, Ngỗ tác tiến vào cùng một nam nhân dáng cao, vóc người mảnh khảnh, tuổi chừng ba mươi, mặc một lam trường bào xác xơ, tơi tả nhưng sạch sẽ, thắt đai lưng vải bông đen. Y có gương mặt khá thanh tú, nho nhã với hàng ria mép đen ngắn ngủn. Vài lọn tóc lộ ra từ bên dưới chiếc mũ đen đã bạc màu mà y đang đội. Địch Công thấy y có đôi mắt to, sáng lấp lánh cùng những đốm đỏ trên đôi má hõm sâu. Ông ra hiệu cho y ngồi xuống chiếc ghế ở phía bên kia bàn. Ngỗ tác rót một chén trà cho vị khách, rồi lui lại đứng đằng sau ghế.

“Bản quan nghe nói Phùng tiên sinh là họa sĩ nổi danh,” Địch Công niềm nở bắt đầu. “Hôm nay mới có hân hạnh được gặp mặt.”

Họa sĩ Phùng vuốt thẳng chiếc trường bào của mình với những ngón tay dài linh hoạt. Rồi y cất lời với giọng nho nhã:

“Bẩm đại nhân, tiểu sinh không dám. Tuy nhiên, tiểu sinh cảm thấy thật khó tin rằng đại nhân cần kíp triệu tập mình đến đây chỉ để cùng ngài nhàn nhã đàm đạo về các vấn đề nghệ thuật.”

“Đó không phải là lý do chính, không đâu. Có một tai nạn đã xảy ra trong khu vườn này, Phùng tiên sinh à, và ta đang tìm kiếm các nhân chứng.”

Họ Phùng đứng bật dậy khỏi ghế. Y lo lắng hỏi:

“Một tai nạn ư? Không liên quan đến Hồ phu nhân chứ?”

“Quả thật có liên quan đến nàng ấy, Phùng tiên sinh. Chuyện xảy ra vào khoảng nửa sau giờ Thân, trong gian tiểu đình. Và ngươi đã đến gặp nàng vào thời điểm đố.”

“Chuyện gì đã xảy ra với nàng ấy?” Họ Phùng kêu lên thất thanh.

“Chính ngươi phải tự biết câu trả lời.” Địch Công lạnh lùng nói. “Vì ngươi đã sát hại nàng!”

“Nàng đã chết!” Họ Phùng kêu lên, vùi mặt vào hai bàn tay. Đôi vai gầy của y rung bần bật. Sau một hồi lâu, y ngẩng nhìn lên, tự trấn tĩnh lại. Họ Phùng hỏi bằng một giọng điệu cân nhắc, có chừng mực:

“Xin đại nhân vui lòng cho tiểu sinh được biết, làm sao mà kẻ hèn này có thể đang tâm xuống tay hạ sát nữ nhân mà mình yêu thương hơn tất thảy mọi thứ trên thế gian này?”

“Động cơ của ngươi là lo sợ bị bại lộ. Sau khi nàng kết hôn, ngươi vẫn tiếp tục bám lấy nàng không buông. Hồ phu nhân dần cảm thấy chán nản chuyện đó và bảo rằng nếu ngươi không chấm dứt chuyện này thì nàng sẽ thông báo với phu quân mình. Hôm nay, hai người đã xảy ra xô xát, và ngươi đã sát hại nàng.”

Họ Phùng chậm rãi gật đầu. “Vâng,” y nói với giọng cam chịu, buông bỏ, “đó là một luận giải hợp lý, tiểu sinh cho là thế. Thật ra tiểu sinh đang ở ngoài cửa sau vườn vào thời điểm mà đại nhân đề cập.”

“Nàng có biết ngươi đến không?”

“Thưa có. Sáng nay có một tiểu tử bụi đời mang đến cho Phùng mỗ một bức thư ngắn của nàng. Nội dung nói rằng nàng phải gặp tiểu sinh có việc gấp. Nếu vào khoảng cuối giờ Thân, tiểu sinh đến sau vườn và gõ cửa bốn lần như thường lệ thì nữ tì sẽ cho vào.”

“Chuyện gì đã xảy ra sau khi ngươi đi vào bên trong?”

“Tiểu sinh không vào trong. Tiểu sinh đã gõ cửa nhiều lần, nhưng nó vẫn đóng im ỉm. Tiểu sinh đi qua đi lại ở đó một lúc, thử thêm một lần vô ích nữa, rồi về nhà.”

“Cho bản quan xem bức thư ngắn của nàng ta!”

“Tiểu sinh không thể vì đã tiêu hủy nó rồi. Nàng bảo tiểu sinh làm vậy.”

“Vậy ngươi phủ nhận việc đã sát hại Hồ phu nhân?”

Họ Phùng nhún vai. “Nếu ngài chắc chắn mình không thể tìm ra được hung thủ thật sự, thưa đại nhân, thì tiểu sinh hoàn toàn sẵn lòng nói rằng mình đã sát hại ý trung nhân, chỉ để giúp ngài khép lại vụ án này. Dù sao thì kẻ hèn này giờ đã như băng mùa xuân, như đèn trước gió, những ngày còn lại không nhiều, chết trên giường bệnh hay ở pháp trường cũng một cỗ quan tài, một nắm đất nông. Cái chết của nàng đã cướp đi lý do cuối cùng để Phùng mỗ kéo dài cuộc đời bi ai của mình. Vì nghệ thuật đã rời bỏ tiểu sinh từ lâu, căn bệnh trầm kha dường như đã hủy hoại nỗi đam mê sáng tạo. Mặt khác, nếu ngài có bản lĩnh truy ra dấu vết của tên ác ma hung bạo đã tàn nhẫn sát hại một nữ nhân vô tội, thì chẳng có lý do gì để tiểu sinh phải làm sự vụ rối lên bằng cách thú nhận một tội ác mình không hề phạm phải.”

Địch Công trao cho y một cái nhìn thật lâu, giật mạnh bộ ria mép. “Hồ phu nhân thường cử một tiểu tử lang thang truyền tin cho ngươi ư?”

“Không, thưa đại nhân. Thư của nàng luôn do nữ tì chuyển đến, và đây là lần đầu tiên nội dung bao gồm cả yêu cầu hủy thư. Nhưng chắc chắn đó là thư của nàng, tiểu sinh đã quen thuộc với chữ viết và văn phong của nàng.” Một trận ho khan kịch liệt đã cắt ngang lời họ Phùng nói. Y lau miệng bằng một chiếc khăn, thờ ơ nhìn nhìn những đốm máu vương vãi, đoạn nói tiếp, “Tiểu sinh không biết lần này nàng muốn thảo luận vấn đề khẩn cấp gì. Và kẻ nào lại có thể đang tâm đoạt mạng nàng? Tiểu sinh đã quen biết nàng và gia đình hơn mười năm, và có thể đảm bảo với đại nhân rằng họ không hề có một cừu nhân nào!” Y sờ hàng ria mép, đoạn nói thêm. “Hôn nhân của nàng cũng mỹ mãn, phu thê bọn họ tương kính như tân. Hồ tiên sinh hơi tẻ nhạt, vô vị nhưng hắn thực lòng yêu thương nàng, luôn tử tế và chu đáo, không bao giờ nói chuyện nạp thiếp, dù nàng chưa hề sinh hạ được một hài tử nào. Và nàng cũng yêu quý và tôn trọng hắn.”

“Điều đó không ngăn được nàng ta tiếp tục hành vi lén lút gặp gỡ ngươi sau lưng họ Hồ!” Địch Công lạnh nhạt bình phẩm. “Hành vi đáng trách nhất đối với một nữ nhân đã thành gia lập thất. Ta chưa xét đến lỗi của ngươi!”

Họ Phùng trao cho Địch Công một cái nhìn ngạo nghễ.

“Ngài sẽ không bao giờ hiểu,” y nói, giọng lạnh như băng. “Ngài bị ràng buộc trong một mạng lưới những luân thường đạo lý rỗng tuếch và những quy ước vô nghĩa. Tình bằng hữu tâm giao của chúng ta không có gì đáng trách, về điểm này ta hoàn toàn không thẹn với lương tâm. Lý do duy nhất khiến chúng ta giữ bí mật những cuộc gặp gỡ là bởi họ Hồ khá cổ hủ, hắn có thể sẽ diễn giải mối quan hệ của chúng ta theo cách nghĩ sai trái, mà dường như ngài cũng đang vướng bận suy nghĩ ấy trong tâm trí mình. Chúng ta không muốn làm tổn thương hắn.”

“Ngươi thật chu toàn! Ngươi đã biết rõ Hồ phu nhân như vậy, nên chắc ngươi có thể kể cho ta nghe tại sao gần đây nàng thường hay phiền muộn?”

“Ồ vâng. Sự thật là phụ thân của nàng, do không giỏi quản lý tài chính, nên đã ngập sâu vào nợ nần với gã chủ thuyền giàu có Hạ Minh. Từ khoảng một tháng trước, gã cho vay nặng lãi nhẫn tâm đó đã thúc ép lão thái gia chuyển nhượng điền sản cho hắn để trừ nợ, nhưng lão thái gia vẫn muốn giữ lại mảnh đất ấy, vì là hương hỏa của tổ tiên. Nó đã thuộc về gia đình ngài từ bao đời nay, trải qua bao nhiêu thế hệ thì chỉ có Hoàng thiên mới biết. Hơn nữa, lão thái gia cảm thấy có trách nhiệm với phúc lợi của các tá điền thuê đất. Hạ Minh sẽ bòn rút đến đồng xu cuối cùng của những kẻ nghèo đói đáng thương kia! Lão thái gia cầu xin hắn chờ đến sau mùa thu hoạch, ít nhất đến lúc đó, ngài mới có thể chi trả phần tiền lãi đáo hạn. Nhưng họ Hạ cứ khăng khăng xiết nợ, hòng đoạt lấy miếng đất vào tay mình với giá rẻ mạt. Hồ phu nhân lo lắng về sự vụ này, nàng đã nhờ ta đưa đi gặp họ Hạ hai lần. Nàng đã cố hết sức để thuyết phục hắn đừng đòi thanh toán nợ ngay, nhưng con chuột bẩn thỉu kia lại bảo hắn sẽ chỉ cân nhắc nếu nàng chịu giao hoan với hắn!”

“Hồ tiên sinh có biết về những cuộc gặp gỡ đó không?”

“Hắn không biết. Chúng ta biết hắn sẽ rất khổ tâm khi nghe tin nhạc phụ gặp vấn đề về tài chính mà hắn lại không thể trợ giúp gì. Họ Hồ không có gia sản riêng. Hắn chỉ sống nhờ một khoản lương trí sĩ khiêm tốn.”

“Hai người thật sự rất tử tế với Hồ tiên sinh!”

“Hắn xứng đáng được như vậy; đó là một kẻ đường hoàng. Thứ duy nhất hắn không thể trao cho vợ mình là mối quan hệ tâm giao, tri âm tri kỷ, và đó là điều nàng tìm thấy ở tiểu sinh.”

“Ta chưa bao giờ thấy kẻ nào vô đạo đức như ngươi!” Địch Công thốt lên kinh tởm. Ông đứng dậy và ra lệnh cho Ngỗ tác:

“Giao nghi phạm sát nhân này cho Bộ đầu, tạm giam vào đại lao. Sau đó, ngươi và hai Bộ khoái hãy chuyển thi thể Hồ phu nhân về nha phủ, và tiến hành nghiệm thi kỹ càng. Báo cáo cho bản quan ngay khi ngươi hoàn tất công vụ. Ngươi hãy đến gặp ta ở nha sảnh.”

Địch Công rời bước, giận dữ giũ ống tay áo.

Họ Hồ và hai chủ thuyền kia vẫn chờ Địch Công tại nha sảnh, một Lục sự cũng đang ở đó. Họ toan đứng dậy khi Địch Công tiến vào, nhưng ông đã ra dấu tất cả cứ yên vị. Ông ngồi xuống chiếc ghế bành phía sau án thư và bảo Lục sự rót đầy chén trà.

“Thưa đại nhân, mọi chuyện đã được giải quyết rồi chứ ạ?” Họ Hồ buồn bã hỏi.

Địch Công uống cạn chén trà, rồi chống tay lên bàn và chậm rãi đáp, “Không hoàn toàn, Hồ tiên sinh à. Ta có tin xấu cho ông. Ta phát hiện ra tôn phu nhân không phải tự sát. Mà là bị mưu sát!”

Họ Hồ bật kêu lên một tiếng thất thanh, nhưng cố kìm nén lại, Hạ Minh và Diệp Thủ Bôn trao đổi với nhau một cái nhìn kinh ngạc. Rồi họ Hồ bất chợt thốt lên:

“Mưu sát? Là kẻ nào? Và tại sao, nhân danh Hoàng thiên chứng giám?”

“Bằng chứng chỉ dấu đến một họa sĩ họ Phùng.”

“Họ Phùng? Một họa sĩ? Ta chưa bao giờ nghe nói về hắn.”

“Ta cảnh báo ông một tin xấu, Hồ tiên sinh à. Rất xấu. Trước khi thành thân với ông, tôn phu nhân từng có mối quan hệ thân thiết với họa sĩ này. Sau khi kết hôn, cả hai vẫn tiếp tục lén lút gặp nhau tại tiểu đình trong hoa viên. Có thể nàng đã cảm thấy chán ngán y và muốn kết thúc mối quan hệ bất chính ấy. Biết là ông sẽ ở đây cả buổi trưa, nên có thể nàng đã gửi cho họ Phùng một bức thư ngắn yêu cầu hắn đến gặp nàng. Và có lẽ do Hồ phu nhân đoạn tuyệt với hắn, nên họ Phùng đã xuống tay hạ sát nàng.”

Họ Hồ ngồi đó, trừng trừng nhìn về phía trước, đôi môi mỏng mím chặt. Diệp Thủ Bôn và Hạ Minh trông có vẻ bối rối; họ đã toan đứng dậy và rời đi để Địch Công ở lại bàn chuyện riêng với họ Hồ. Nhưng Địch Công ra hiệu quả quyết giữ họ lại. Cuối cùng, họ Hồ nhìn lên và hỏi:

“Tên ác ma kia đã giết nàng như thế nào?”

“Hồ phu nhân bất tình do bị đánh vào thái dương, sau đó bị treo lên xà nhà và thắt cổ. Kẻ sát nhân làm đổ ấm trà, và nước trà trong ấm chảy ra làm tắt lửa của chiếc lư hương, tố cáo thời gian hắn thực hiện hành vi tội lỗi là khoảng cuối giờ Thân. Có một nhân chứng nhìn thấy họ Phùng lảng vảng gần cửa sau hoa viên của Hồ gia trang vào thời điểm đó.”

Có tiếng gõ cửa. Ngỗ tác bước vào và trao một tập giấy tờ cho Địch Công. Nhanh chóng lướt qua báo cáo nghiệm thi, ông thấy nguyên nhân tử vong quả thật là do bị thắt cổ từ từ. Ngoài vết bầm ở thái dương, thi thể không có dấu hiệu bạo hành nào khác. Nàng đã mang thai được ba tháng.

Địch Công chậm rãi gấp tờ giấy lại và bỏ vào tay áo. Sau đó ông nói với Ngỗ tác:

“Hãy bảo Bộ đầu thả nam nhân mà y đã tống vào đại lao. Dù vậy, kẻ ấy sẽ phải chờ một lúc tại trạm gác. Lát sau, bản quan muốn thẩm vấn hắn lần nữa.”

Khi Ngỗ tác rời đi, họ Hồ đứng dậy. Y khàn giọng nói:

“Nếu đại nhân cho phép, giờ ta xin được lui. Ta phải...”

“Chưa đâu, Hồ tiên sinh,” Địch Công ngắt lời. “Trước hết, bản quan muốn hỏi ông một câu, tại đây, ngay trước mặt Hạ tiên sinh và Diệp tiên sinh.”

Họ Hồ lại ngồi xuống, có vẻ lúng túng.

“Ông đã để phu nhân của mình ở trong gian tiểu đình vào khoảng giờ Mùi.” Địch Công nói tiếp. “Và ông ở trong nha sảnh này cho đến giờ Dậu, khi quản gia đến báo tin chẳng lành. Tất cả những gì chúng ta biết là Hồ phu nhân có thể đã chết trong khoảng từ giờ Mùi đến giờ Dậu. Tuy nhiên khi ta nói với ông rằng nàng ấy đã tự sát, ông lại thốt lên ‘Chỉ vài canh giờ sau khi ta rời đi sao...’, như Hạ tiên sinh và Diệp tiên sinh đây sẽ chứng thực. Làm sao ông biết nàng ta chết vào khoảng cuối giờ Thân?”

Họ Hồ không trả lời. Đôi mắt mở to, đầy hoài nghi như không dám tin vào những gì vừa mới nghe. Địch Công tiếp tục nói, giọng ông chợt gay gắt:

“Để ta nói cho ông nghe! Bởi vì lúc ông giết phu nhân của mình vào giờ Mùi, ngay sau khi nữ tì rời khỏi gian tiểu đình, ông đã cố tình làm đổ vấy trà lên chiếc lư hương. Ta rất cảm kích vì ông đã xem ta là một quan án có năng lực. Ông biết rằng nếu ta đến hiện trường, ta sẽ biết phu nhân ông đã bị sát hại, rồi dựa vào chiếc lư hương để suy ra thời gian gây án là khoảng cuối giờ Thân. Ông cũng cho rằng ta sớm muộn gì cũng phát hiện ra họ Phùng lảng vảng ở cửa sau hoa viên vào khoảng thời gian đó, do y bị bức thư giả mạo của ông dụ đến. Đó là một kế hoạch khôn ngoan, Hồ tiên sinh à, xứng tầm một kẻ am hiểu pháp luật. Nhưng yếu tố thời gian ngụy tạo được sắp bày cẩn thận đó hóa ra lại tố cáo tội ác của kẻ sát nhân. Ông vẫn tự nhủ rằng mình sẽ không bao giờ bị nghi ngờ, vì thời điểm của vụ án mạng rõ ràng đã được ấn định là cuối giờ Thân. Vì thế, ông đã vô tình vẽ rắn thêm chân, nói một câu khinh suất, ‘Chỉ vài canh giờ sau khi ta rời đi sao...’ Vào thời điểm đó, lời bình phẩm ấy không khiến bản quan có chút nghi ngờ nào. Nhưng ngay khi ta nhận ra nếu họ Phùng không phải là kẻ sát nhân thì đó phải là ông, ta sực nhớ đến những lời đó, và chúng đã cung cấp bằng chứng cuối cùng về tội lỗi của ông. Năm đám mây cát tường lại chẳng may mắn chút nào cho ông cả, Hồ tiên sinh à!”

Họ Hồ xoay người lại. Y lạnh lùng hỏi:

“Tại sao ta phải sát hại phu nhân của mình?”

“Ta sẽ nói cho ông biết. Ông đã phát hiện ra những cuộc gặp gỡ bí mật của nàng với họa sĩ Phùng. Và khi nàng nói với ông là mình đang mang thai, ông liền quyết định hủy diệt cả hai người bọn họ, chỉ với một và chỉ một đòn duy nhất, nhất tiễn hạ song điêu. Ông cho rằng họ Phùng là phụ thân của hài tử chưa ra đời đó và...”

“Không phải hắn!” Họ Hồ bất thình lình thét lên. “Ngài nghĩ cái gã khốn khổ nghèo hèn ấy có thể...? Không, đó là hài tử của ta, ngài nghe rõ không? Điều duy nhất mà bọn chúng có khả năng tạo ra là thứ tình cảm ủy mị, đáng ghê tởm. Và tất cả những lời hay ý đẹp về ta mà ta đã loáng thoáng nghe được! Một đức phu quân tử tế nhưng khá tối dạ, xin lỗi vì để ngài phải nghe điều này, là người được quyền chiếm hữu thân thể nàng nhưng không bao giờ có thể thấu hiểu tâm hồn cao cả của nàng. Ta có thể, ta có thể mà...” Y bắt đầu lắp bắp trong cơn thịnh nộ vỡ òa đến bất lực. Rồi y tự trấn tĩnh lại và tiếp tục nói với giọng bình tĩnh hơn, “Ta không cần hài tử của một nữ nhân mang tâm hồn của một kỹ nữ ti tiện, một nữ nhân....”

“Đủ lắm rồi!” Địch Công nói cộc lốc. Ông vỗ tay. Khi Bộ đầu tiến vào, Địch Công nói, “Trói tên sát nhân này lại và tống hắn vào đại lao. Bản quan sẽ nghe lời cung khai thú nhận tội ác đầy đủ của hắn vào sáng mai, trên công đường.”

Sau khi Bộ đầu dẫn giải họ Hồ đi, Địch Công tiếp tục nói với Diệp Thủ Bôn, “Lục sự sẽ tiễn ông ra ngoài, Diệp tiên sinh.” Quay sang vị chủ thuyền còn lại, ông nói thêm:

“Còn Hạ tiên sinh, xin dừng bước, bản quan có mấy lời muốn nói với ông.”

Khi chỉ còn lại hai người, Hạ Minh nói ngon ngọt, vẻ nịnh bợ:

“Đại nhân, ngài đã xử lý vụ án này trong một thời gian cực kỳ ngắn! Nghĩ đến việc họ Hồ...” Hắn buồn bã lắc đầu.

Địch Công chua chát nhìn y. “Ta không hài lòng khi kết quả điều tra cho thấy họ Phùng là một nghi phạm,” ông lãnh đạm bình phẩm. “Các bằng chứng chống lại y ăn khớp với nhau quá chặt chẽ, trong khi cách thức gây án lại hoàn toàn không phù hợp với tính cách của y. Bản quan đã sai phu khiêng kiệu đi đường vòng về đây để có thêm chút ít thời gian suy nghĩ. Ta suy luận rằng do chứng cứ chỉ có thể do người trong cuộc làm giả, nên đó chính là họ Hồ - có động cơ rõ ràng của một phu quân bị lừa dối, muốn trả thù đôi gian phu dâm phụ kia cùng một lúc. Nhưng tại sao họ Hồ lại phải chờ đợi quá lâu như vậy? Hắn đã biết tất thảy việc Hồ phu nhân gửi thư cho họ Phùng; hẳn là hắn đã phát hiện ra những cuộc gặp bí mật từ lâu rồi. Khi ta trông thấy báo cáo kết quả nghiệm thi rằng Hồ phu nhân đang mang thai, ta nhận ra tin tức ấy đã khiến phu quân của nàng ta quyết tâm hành động. Và bản quan đã đúng, mặc dù bây giờ thì chúng ta biết phản ứng cảm xúc của họ Hồ khác hẳn những gì ta từng giả định.” Đôi mắt ảm đạm của Địch Công dán chặt vào gã chủ thuyền, ông tiếp tục, “Bằng chứng giả chỉ có thể do người trong cuộc ngụy tạo, một kẻ đã quen với chiếc lư hương và chữ viết tay của Hồ phu nhân. Hạ tiên sinh, điều đó đã cứu ông khỏi bị buộc tội trong vụ án mạng này!”

“Chính ta ư, thưa ngài?” Họ Hạ thốt lên kinh ngạc.

“Tất nhiên. Ta biết về các chuyến viếng thăm của Hồ phu nhân đến gặp ông, và cả việc nàng đã từ chối lời đề nghị bẩn thỉu của ông. Phu quân của nàng không biết chuyện này, nhưng họ Phùng biết. Điều này là động cơ để ông muốn trừ khử cả hai người bọn họ. Ông cũng có cơ hội, do ông đã trong hoa viên đến giờ Mùi, trong khi Hồ phu nhân lẻ loi ở tại gian tiểu đình một mình. Ông vô tội trong vụ án mạng, nhưng phạm tội quyến rũ bất thành một thiếu phụ, điều này sẽ được họ Phùng xác thực; và cả tội đưa hối lộ, quản gia của Hồ gia trang sẽ chứng minh vì hắn từng nghe lén được cuộc nói chuyện khi ông ghé thăm Hồ gia trang vào ban trưa. Ngày mai, ta sẽ kết tội ông trên công đường, và phạt tù có thời hạn. Điều đó sẽ đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp của ông tại Bồng Lai, Hạ tiên sinh ạ.”

Họ Hạ đứng bật dậy và sắp sửa quỳ xuống để cầu xin sự khoan hồng, nhưng Địch Công đã nhanh chóng tiếp tục:

“Bản quan sẽ không cáo buộc ông hai tội trạng đó, nếu ông đồng ý chi trả hai khoản phạt. Thứ nhất, vào ngay đêm nay, ông phải viết một lá thư chính thức gửi đến phụ thân của Hồ phu nhân, điểm chỉ và đóng dấu triện đúng thể thức, thông báo rằng ông ta có thể trả lại ngân lượng bất cứ lúc nào thuận tiện cho mình, và ông không lấy lãi nữa. Thứ hai, ông sẽ phải đặt họa sĩ Phùng vẽ lên các thuyền của ông tại xưởng đóng thuyền, mỗi thuyền một bức trị giá một lượng bạc.” Địch Công giơ tay ngăn Hạ Minh bày tỏ lòng cảm kích. “Hình phạt này tất nhiên chỉ là một sự hoãn thi hành án. Nếu bản quan còn nghe thấy chuyện ông lại quấy nhiễu nữ nhân nhà lành, ông sẽ chính thức bị kết tội theo những cáo buộc đã đề cập. Giờ hãy đi đến trạm gác. Ông sẽ thấy họ Phùng ở đó, và hãy đặt hàng y. Hãy trả cho y ngay lập tức năm cắc bạc như một khoản tạm ứng. Cáo từ.”

Khi gã chủ thuyền đang thất hồn lạc phách nhanh chóng rời đi, Địch Công đứng dậy và đến bên cánh cửa sổ mở rộng. Ông thưởng thức hương hoa mộc lan thơm thoang thoảng một hồi lâu, rồi lẩm bẩm với chính mình:

“Phản đối những chuẩn mực đạo đức của một nam nhân không phải là lý do để ta có thể bỏ mặc y chết trong khốn cùng!”

Ông chợt quay lại và đi tới công đường.

« Lùi
Tiến »