Địch Gia Bát Án

Lượt đọc: 2720 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quan liêu án

Lòng tham che mắt người đời

Gây nên oan án đổi dời trắng đen.

Quan trường vốn dĩ đua chen

Mưu thâm kế độc bao phen hại người...

-Tùng Vũ-

---❊ ❖ ❊---

Huyện lị ven biển Bồng Lai, nơi Địch Công bắt đâu sự nghiệp quan án lẫy lừng nhưng cũng lắm chông gai của mình, do Huyện lệnh với tư cách là quan viên địa phương cầm quyền cao nhất, cùng Đô úy thống lãnh phủ binh đóng ở đó đồng cai quản. Phạm vi thẩm quyền tương ứng của mỗi bên được ban bố công bằng và minh bạch; các công vụ dân sự và quân sự hiếm khi chồng chéo lên nhau. Thế nhưng, khi Địch Công phụng sự ở Bồng Lai mới chỉ hơn một tháng, ông đã vô tình bị cuốn vào một vụ án quân sự thuần túy. Tập “Hoàng kim ấn” đã đề cập đến một chiết xung phủ lớn, nằm cách ba dặm xuôi theo dòng nước chảy từ trấn Bồng Lai, được dựng lên ở khu vực cửa sông nhằm ngăn chặn các cuộc đồ bộ của thủy quân Cao Câu Ly. Vụ án quân sự được mô tả trong câu chuyện này xảy ra bên trong những bức tường của quân trại oai hùng ấy: vụ án của các bậc trượng phu, không xuất hiện bóng dáng một nữ nhi nào - mà dính líu đến hàng đống giấy tờ thủ tục của tệ quan liêu!

Địch Công đang lật nhanh và đọc lướt qua một đống giấy tờ, chợt ngẩng đầu lên rồi gắt gỏng nói với hai nam nhân đang ngồi ở phía đối diện án thư:

“Hai người các ngươi không thể ngồi yên được à? Đừng có nhúc nhích nữa, được chứ?”

Khi Địch Công quay lại với đống giấy tờ của mình, thì hai trợ thủ lực lưỡng của ông, Mã Vinh và Kiều Thái, cố hết sức để yên vị trên chiếc ghế đẩu của họ. Thế nhưng, chẳng mấy chốc, Mã Vinh lại rón rén gật đầu vẻ khích lệ với Kiều Thái. Họ Kiều đặt đôi tay to bản lên đầu gối của mình và mở miệng định lên tiếng. Nhưng ngay lúc ấy, Địch Công bỗng đẩy tài liệu sang một bên và kêu lên đầy phẫn nộ:

“Đây là việc đáng giận nhất, tài liệu Nhân - Tứ linh tứ quả thật bị thất lạc rồi! Trong một thoáng, ta cứ nghĩ Hồng Sư gia chắc hẳn đã xếp nó vào nhầm thư mục, do hôm qua lão khá vội vàng trước khi rời khỏi đây để tới châu nha. Nhưng Nhân - Tứ linh tứ hoàn toàn không có ở đó!”

“Nó không nằm trong tập hồ sơ kia ạ, thưa đại nhân?” Mã Vinh thắc mắc. “Thư mục đó cũng được ký hiệu bằng chữ nhân.”

“Vớ vẩn!” Địch Công ngắt lời. “Không phải ta đã giảng giải cho các ngươi biết là trong văn khố của quân trại, bọn họ có hai hồ sơ được ký hiệu chữ nhân, nhân cho nhân sự nhân cho thương nhân hay sao? Ở hồ sơ thứ hai, tài liệu Nhân - Tứ linh ngũ liên quan đến việc mua sắm dây đai đã viện dẫn rõ ràng: ‘Tham khảo Nhân - Tứ linh tứ!’ Điều đó chứng tỏ Nhân - Tứ linh tứ chắc chắn thuộc về thương nhân, chứ không phải là nhân sự.”

“Thưa đại nhân, cái công vụ thủ tục giấy tờ quan liêu này hơi làm khó thuộc hạ! Hơn nữa, hai tập hồ sơ ký hiệu bởi chữ nhân đó chỉ chứa đựng những bản sao thông tin mà quân trại chuyển đến cho chúng ta. Còn bây giờ, về phần cái quân trại ấy, thưa ngài, chúng ta...”

“Đó không chỉ là thói quan liêu,” Địch Công ngắt lời y, tỏ vẻ không hài lòng. “Nó liên quan đến việc giám sát chặt chẽ các công vụ thường nhật được triều đình dày công thiết lập, không có nó thì cả bộ máy cai trị của vương triều chúng ta sẽ bị gián đoạn.” Nhận thấy ánh nhìn không vui vẻ gì trên gương mặt sạm nắng của hai trợ thủ, Địch Công gượng cười rồi nói tiếp với giọng điệu thân thiện hơn, “Trong bốn tuần mà hai ngươi làm việc cho ta tại Bồng Lai này, hai ngươi đã chứng tỏ được bản thân có năng lực giải quyết những sự vụ nan giải một cách hiệu quả. Thế nhưng, nhiệm vụ của một quan viên nha phủ còn bao gồm nhiều việc khác chứ không chỉ là bắt giữ những tên tội phạm nguy hiểm. Họ buộc phải nắm rõ như lòng bàn tay tất cả các công vụ thường nhật của huyện nha, cảm nhận thấu suốt đến cả những chi tiết nhỏ của nó, và nhận ra được tầm quan trọng của việc tôn trọng chúng - một lề thói mà thi thoảng bị những kẻ ngoài cuộc ngu dốt quy kết thành tệ quan liêu. Bây giờ, tài liệu Nhân - Tứ linh tứ này có thể không quá quan trọng. Thế nhưng, bản chất việc thất lạc mới khiến nó trở nên tối quan trọng.”

Thu tay vào trong ống tay áo rộng thùng thình, ông nói tiếp, “Mã Vinh đã nhận ra đúng là hai hồ sơ được ký hiệu chữ nhân ấy chẳng có giá trị gì vì chỉ toàn là những bản sao chép, cụ thể là thư từ trao đổi qua lại giữa quân trại với Bộ Binh ở kinh thành. Những văn thư ấy giải quyết các quân vụ thuần túy mà không dính dáng trực tiếp đến chúng ta. Tuy nhiên, điều chúng ta thật sự cần bận tâm chính là mỗi một tài liệu trong nha phủ này, cho dù có quan trọng hay không, thì cũng phải được lưu trữ có trật tự, và trên hết là bắt buộc phải đầy đủ!”

Giơ ngón trỏ lên nhấn mạnh, Địch Công nói tiếp, “Bây giờ hãy nhớ, lần này là lần cuối, các ngươi phải có khả năng trông cậy hoàn toàn vào các hồ sơ giấy tờ của mình, và các ngươi chỉ có thể làm vậy chừng nào các ngươi tuyệt đối chắc chắn rằng chúng đầy đủ. Một tài liệu thiếu sót không có chỗ trong một nha phủ được cai quản tốt. Một tài liệu không hoàn chỉnh chỉ là thứ vô dụng!”

“Vậy thì, chúng ta hãy ném cái hồ sơ chữ nhân đó ra ngoài cửa sổ thôi!” Mã Vinh thốt lên. Đoạn y gấp gáp bổ sung:

“Bẩm đại nhân, xin ngài lượng thứ, thật ra là thuộc hạ và cả Kiều huynh đây đều đang có chút chuyện đau lòng. Sáng nay, chúng thuộc hạ vừa nghe tin hảo bằng hữu của mình, Hiệu úy Mạnh Quốc Thái, đêm qua đã bị buộc tội sát hại Quả nghị Đô úy Tô Văn Hổ.”

Địch Công ngồi thẳng dậy. “Vậy là hai ngươi có quen biết với họ Mạnh à? Ta đã nghe tin về vụ án mạng đó vào hôm kia. Do quá bận viết báo cáo để lão Hồng gửi về kinh thành nên ta chưa thực hiện điều tra. Dù sao đi nữa, nó cũng là một vụ án quân sự nằm trong thẩm quyền của Đô úy. Nhưng hai ngươi quen biết họ Mạnh kia như thế nào?”

“Ôi,” Mã Vinh đáp, “vài tuần trước, chúng thuộc hạ tình cờ chạm mặt y tại một tửu điếm lúc y vào trong thành hưởng thụ ngày nghỉ phép. Y thành thạo cưỡi ngựa phóng thương, lại có tài bắn tên bách phát bách trúng. Bọn thuộc hạ trở thành hảo bằng hữu, y thường dành những buổi chiều được nghỉ phép để bù khú với bọn thuộc hạ. Và bây giờ thì thiên hạ đang kháo nhau rằng y đã bắn chết họ Tô! Thật là chuyện phi lý, lố bịch...”

“Đừng lo,” Kiều Thái an ủi y. “Đại nhân của chúng ta sẽ giải quyết được chuyện đó!”

“Chuyện là như thế này, thưa đại nhân,” Mã Vinh hăm hở bắt đầu. “Ngày hôm kia, gã họ Tô...”

Địch Công phẩy tay ngăn y lại. “Thứ nhất,” ông lãnh đạm lên tiếng, “bản quan không thể can thiệp vào chuyện của quân trại. Thứ hai, cho dù có thể, thì ta sẽ không quan tâm lời đồn đại về vụ án mạng. Tuy nhiên, do các ngươi có quen biết với bị cáo, nên Mã - Kiều hai ngươi cũng có thể kể cho ta nghe thêm vài điều, để tiện cho ta có được định hướng về vụ án.”

“Họ Mạnh là một kẻ bộc trực, ngay thẳng!” Mã Vinh bật thốt nên lời. “Bọn thuộc hạ đã cùng nhau tỉ thí võ công, rượu chè say sưa rồi đi chơi kỹ viện. Thật tình mà nói, đại nhân à, đó chính là cách để thấu hiểu một nam nhân từ trong ra ngoài! Còn họ Tô kia lại là một kẻ chuyên quyền, thích áp đặt quân lệnh để phục chúng, là một kẻ ác ôn. Họ Mạnh cũng đã từng bị hắn chửi bới thậm tệ. Thuộc hạ có thể mường tượng ra một ngày nào đó, Mạnh Quốc Thái có lẽ sẽ nổi cơn thịnh nộ và động đến nắm đấm hay gươm đao. Thế nhưng, sau đó y sẽ lập tức xuôi tay chịu trói, sẵn sàng chịu mọi hình phạt. Là một nam nhân đầu đội trời chân đạp đất, y dám làm dám chịu, sẵn sàng đối mặt với hậu quả do mình gây ra. Còn dùng ám tiễn bắn chết một kẻ đang say giấc, rồi chối bỏ điều đó... Không, thưa đại nhân, y sẽ không làm vậy. Không đời nào!”

“Thế ngươi có tình cờ biết được Phương Đô úy nghĩ sao về việc đó không?” Địch Công hỏi. “Ngài ấy đã chủ trì đại cuộc tại quân sự pháp đình nhỉ.”

“Đúng là ngài ấy,” Kiều Thái đáp lời. “Và ngài ấy đã chuẩn y phán quyết về vụ cố sát. Phương Đô úy là một nam nhân lầm lì và kiêu ngạo. Thế nhưng, dư luận lại đồn rằng ngài ấy không vui vẻ gì với phán quyết đó, dù thực tế là mọi bằng chứng đều chĩa thẳng mũi dùi vào họ Mạnh. Điều đó cũng đủ chứng minh y được lòng người đến thế nào, ngay cả đối với Đô úy, chỉ huy quân trại!”

“Lần cuối hai ngươi gặp họ Mạnh là khi nào?” Địch Công hỏi.

“Ngay đêm trước khi họ Tô bị hạ sát,” Mã Vinh đáp. “Chúng thuộc hạ cùng nhau ăn nhẹ bữa khuya tại tửu quán bán cua trên bến tàu. Lúc sau, khi trời đã về khuya, hai thương nhân Cao Câu Ly nhập hội với chúng thuộc hạ, rồi cả năm người đã có một chầu say bí tỉ thật thống khoái. Phải quá nửa đêm một hồi lâu thì Kiều huynh mới đưa Mạnh Quốc Thái lên chiếc xuồng lớn của chiến thuyền để chở y về quân trại.”

Địch Công ngồi trở lại trên ghế và chầm chậm giật giật hàng tóc mai dài của mình. Mã Vinh vội đứng dậy và châm cho ông một chén trà. Địch Công nhấp vài ngụm, đoạn đặt chén xuống rồi mạnh mẽ cất lời:

“Ta vẫn chưa đáp lễ cuộc viếng thăm xã giao của Phương Đô úy. Giờ hẵng còn là sáng sớm; nếu chúng ta rời đi lập tức thì sẽ có mặt ở quân trại ngay trước bữa cơm trưa. Hãy bảo Bộ đầu chuẩn bị sẵn kiệu để đưa chúng ta đến bến tàu. Trong khi chờ đợi, bản quan sẽ đi thay lễ phục.” Ông đứng dậy khỏi ghế. Trông thấy vẻ mặt đắc ý của hai thuộc hạ, ông nói thêm, “Ta phải cảnh báo trước với các ngươi là ta, thân là mệnh quan triều đình phải tuân thủ kỷ cương phép nước, lề lối pháp trị của Đại Đường, nên không thể áp đặt sự tương trợ của mình lên Đô úy. Nếu ngài ấy không yêu cầu lời tư vấn của ta, thì mọi sự sẽ kết thúc tại đây. Trong bất cứ trường hợp nào, ta cũng sẽ tranh thủ cơ hội để yêu cầu Đô úy cho thêm một bản sao của tài liệu bị thất lạc đó.”

Phu chèo thuyền tráng kiện lèo lái chiếc xuồng chiến nặng trịch xuôi về phía Bắc dòng sông trong vòng chưa tới nửa canh giờ. Trên mé bờ sông thấp bên trái nổi lên những bức tường gớm ghiếc của quân trại; phía trước là vùng nước đục ngầu ở khu vực cửa sông, trải dài ra vùng mặt biển rộng lớn tràn ngập ánh nắng phía xa xa.

Mã Vinh và Kiều Thái phi thân lên bến tàu nằm bên dưới cổng sắt cao ngất. Lúc đội trưởng đội lính gác nhận ra Địch Công, y lập tức đưa ông băng qua sân trong lát đá để đi đến tòa nhà chính. Mã Vinh và Kiều Thái ở lại phía sau, tại cổng gác, vì Địch Công đã chỉ thị bọn họ thu thập bất cứ mẩu chuyện tầm phào nào liên quan đến vụ án mạng đang làm xôn xao dư luận bách tính kia.

Trước khi bước vào trong, Địch Công ngưỡng mộ nhìn lướt qua những bức tường dày dạn vững chãi. Quân trại này chỉ mới được dựng lên vài năm trước, khi Cao Câu Ly khởi nghĩa chống lại vương triều Đại Đường, và hạm đội chiến thuyền của họ đang chuẩn bị xâm lược bờ biển Đông Bắc Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa đã bị lực lượng quân viễn chinh Trung Hoa bóp nát trong hai chiến dịch đầy cam go. Vậy nhưng người Cao Câu Ly vẫn còn mang nỗi căm hờn nhức nhối với thất bại. Thế nên vẫn có khả năng cho một cuộc tấn công bất ngờ, một đòn đánh chớp nhoáng được trù tính sẽ xảy ra. Cửa sông nơi quân trại đang trấn thủ, đã được triều đình ban bố là một khu vực giới nghiêm, nên cho dù nó tọa lạc trong địa phận Bồng Lai, Địch Công cũng không có quyền hành can dự vào địa phận đặc thù này.

Đô úy Phương Minh Liêm bước đến tiếp kiến Địch Công ở chân cầu thang, rồi đưa ông đi lên chính sảnh. Phương Đô úy mời Địch Công ngồi xuống bên cạnh mình trên một bộ trường kỷ rộng rãi kê sát bức tường chắn.

Họ Phương cũng vẫn lịch sự và kiệm lời như lúc y tới diện kiến Địch Công tại nha phủ Bồng Lai. Y ngồi thẳng tắp với vẻ cứng nhắc, toàn thân bọc kín trong bộ giáp trụ nặng trịch, với phần đệm ngực và hai cầu vai làm bằng sắt. Vừa ngó nhìn Địch Công từ bên dưới hàng lông mày sâu róm xám xịt với vẻ u ám, họ Phương vừa ngập ngừng bày tỏ vài lời cảm tạ chuyến viếng thăm.

Địch Công nói những lời thăm hỏi lịch sự thông thường. Đô úy cộc cằn đáp rằng y vẫn nghĩ chức vị hiện tại của mình không thích hợp với một chiến binh lão luyện từng xông pha trận mạc bao năm. Y không cho là quân Cao Câu Ly sẽ gây hấn lần nữa; họ cần nhiều năm để bù đắp những tổn thất của mình. Còn trong lúc đó thì một Đô úy, phải duy trì trật tự trị an giữa hơn một ngàn quân sĩ và binh lính ăn không ngồi rồi bị giam cầm tù túng trong quân trại này.

Địch Công tỏ vẻ cảm thông, rồi nói tiếp, “Ta nghe nói trong quân trại mới xảy ra một vụ án mạng. Hung thủ đã bị bắt giữ và kết tội, dù vậy ta vẫn mong được biết tường tận cặn kẽ hơn về vụ án. Như ngài cũng biết, Huyện lệnh Bồng Lai là cương vị quan án đầu tiên của Địch mỗ, và ta rất mong có cơ hội được mở rộng kinh nghiệm cho bản thân.”

Đô úy trao cho ông một cái nhìn sắc lẹm. Y sờ chòm ria mép xám xịt ngắn cũn một lát, đoạn y thình lình bật dậy và xẵng giọng nói:

“Việc này hà tất phải khách khí? Địch Huyện lệnh nếu có hứng thú thì xin mời đi cùng ta, ta sẽ cho ngài xem hiện trường và cách thức vụ án xảy ra.”

Lúc bước ngang qua hai tên lính hầu đang đứng nghiêm chỉnh cạnh cửa, y quát họ:

“Gọi Mao Binh tào và Thi Thương tào cho ta!”

Đô úy dẫn đường băng qua sân trong đến một tòa nhà hai tầng rộng lớn. Khi họ bước lên một cầu thang gác rộng rãi, y lầm bầm, “Nói thật với ngài, vụ án khiến ta lo âu!” Ở phía đầu cầu thang, bốn binh sĩ đang ngồi trên một chiếc trường kỷ. Họ nhanh chóng đứng ngay hàng thẳng lối. Đô úy dẫn đường cho Địch Công đi xuống một hành lang dài vắng vẻ hướng về phía bên trái. Cuối hành lang là một cánh cửa nặng nề; phía trên ổ khóa của nó bị niêm phong bằng một dải giấy có dấu triện của Đô úy. Phương Minh Liêm xé nát nó, rồi đá cửa mở ra và nói:

“Đây là phòng của Tô Văn Hổ. Ông ta bị sát hại ngay trên chiếc trường kỷ đằng kia.”

Trước lúc bước qua ngưỡng cửa, Địch Công nhanh chóng quan sát gian phòng rộng trống trải. Bên phải ông là một khung cửa sổ hình vòm mở toang, cao khoảng năm thước và rộng chừng bảy thước. Ở hốc tường bên dưới có đặt một bao đựng tên bằng da bóng loáng, bên trong chứa chừng một tá mũi tên đầu bịt sắt, cán màu đỏ. Thêm bốn mũi tên bị rơi ra ngoài bao đựng. Gian phòng không còn cửa sổ hay cửa ra vào nào khác. Một án thư đơn sơ bằng gỗ mộc được kê bên trái gian phòng, trên đó đặt một chiếc mũ sắt cùng một mũi tên khác. Tựa vào bức tường chắn là một chiếc trường kỷ lớn bằng trúc. Tấm chiếu cói trải phía trên nó bị vấy những đốm màu nâu quái gở. Sàn nhà lát ván thô; không trải thảm hay chiếu lót sàn.

Sau khi họ đi vào phòng, Phương Đô úy lên tiếng:

“Sau mỗi buổi thao luyện, trưa nào Tô Văn Hổ cũng đến đây vào khoảng cuối giờ Ngọ để chợp mắt một giấc trưa ngắn ngủi ước chừng nửa canh giờ, sau đó ông ta sẽ xuống phòng ăn tập thể để dùng cơm trưa. Vào hôm kia, Thi Thành Long, là Thương tào hỗ trợ họ Tô quản lý công vụ về sổ sách giấy tờ, đã bất ngờ đến đây vào khoảng giữa giờ Mùi. Y dự định cùng Tô Văn Hổ đi xuống phòng ăn, và có vài lời riêng với họ Tô về một vụ vi phạm quân lệnh liên quan đến Cao Hỏa trưởng. Thi Thành Long gõ cửa phòng. Thấy không ai đáp lại, nên y ngỡ có lẽ họ Tô đã đi xuống rồi. Y bước vào trong để chắc chắn chuyện đó, và trông thấy họ Tô đang nằm trên chiếc trường kỷ đằng kia. Trên người ông ta mặc bộ giáp ngoài, nhưng mũi tên thì đang cắm vào phần bụng không được che chắn, còn chiếc quần dài bằng da thì bê bết máu. Tay của ông ta đang siết quanh cán tên - rõ là ông ta đã cố sức bình sinh một cách vô vọng để rút nó ra. Nhưng ngài cũng nhìn thấy đó, đầu mũi tên có ngạnh như móc câu. Vậy là họ Tô chết thẳng cẳng.”

Đô úy hắng giọng, rồi tiếp tục, “Ngài đã hiểu chuyện gì xảy ra rồi chứ? Tô Văn Hổ đi vào đây, quăng bao tên của mình vào trong cái hốc ở kia, vứt mũ sắt lên án thư, rồi nằm vật xuống chiếc trường kỷ, không màng cởi bỏ giáp trụ hay tháo ủng ra. Lúc ông ta bắt đầu say giấc ngủ thì...”

Hai nam nhân tiến vào và kính cẩn hành lễ. Đô úy ra hiệu cho gã cao lớn trong bộ quân phục da nâu tiến lên trước, rồi y làu bàu nói:

“Đây là Thương tào Thi Thành Long, người đã phát hiện ra thi thể.”

Địch Công ngó nhìn gương mặt nặng nề in hằn những nếp nhăn của y, đôi vai rộng và hai cánh tay dài ngoằng như vượn. Y có hàng ria mép ngắn cùng một hàm râu quai nón. Đôi mắt lờ đờ của y nhìn chằm chằm vào Huyện lệnh với vẻ ủ rũ.

Chỉ tay vào gã nam nhân béo lùn mặc bộ giáp ngoài ngắn cũn, đội mũ chóp nhọn và mặc chiếc quần thụng dài của chấp pháp quan, Đô úy nói thêm, “Còn đây là Binh tào Mao Tấn Nguyên, người chịu trách nhiệm điều tra, từng là người đứng đầu đội do thám quân của ta trong suốt chiến dịch chống lại Cao Câu Ly. Là một nam nhân rất có năng lực.”

Địch Công gật đầu chào lấy lệ. Ông thầm nghĩ gương mặt gầy gò, đầy vẻ bất cần và bất tín của họ Mao trông có vẻ hơi xảo quyệt.

“Ta vừa mới trình bày các chi tiết về vụ án với Huyện lệnh đại nhân,” Phương Đô úy nói với hai nam nhân kia. “Bản tướng nghĩ rằng chúng ta cũng cần tham vấn ý kiến của ngài ấy.”

Hai người vừa tới vẫn im lặng. Rồi Thi Thành Long phá vỡ khoảng trầm lặng lúng túng ấy. Y nói với giọng thâm trầm, hơi khàn khàn, “Ty chức hy vọng Huyện lệnh đại nhân sẽ tìm ra được một giải pháp khác. Theo ngu kiến của ty chức, Mạnh Quốc Thái không phải là một kẻ sát nhân, chứ đừng nói đến chuyện hắn nhẫn tâm bắn chết một người đang say giấc.”

“Ý kiến của ngươi không quan trọng,” Phương Đô úy lãnh đạm bình luận. “Chúng ta chỉ xử lý theo sự thật. Rồi trên cơ sở đó, chúng ta sẽ nhất trí đưa ra một lời kết án phán xử tội danh.”

Phương Đô úy kéo sợi đai đeo kiếm của mình lên. Y đưa Địch Công đến khung cửa sổ hình vòm bản lớn rồi trỏ vào tòa nhà ba tầng ở phía đối diện. “Tầng trệt và tầng hai ở bên kia sân là các nhà kho không có cửa sổ. Nhưng ngài có nhìn thấy khung cửa sổ lớn phía trên tầng thượng không? Đó chính là võ khố.”

Địch Công nhìn thấy khung cửa sổ kia có cùng kiểu dáng và kích cỡ với khung cửa sổ trong phòng này. Đô úy xoay người lại và nói tiếp, “Xem nào, Tô Văn Hổ đang nằm duỗi chân về phía cửa sổ này. Các cuộc thử nghiệm với một hình nộm bằng rơm chứng thực mũi tên chắc chắn đã được bắn ra từ khung cửa sổ trên cao của võ khố. Và vào thời điểm ấy, không có ai ở đó ngoại trừ Mạnh Quốc Thái.”

“Một khoảng cách khá xa đó,” Địch Công nhận xét. “Ta ước chừng khoảng sáu mươi thước.”

“Mạnh Hiệu úy là xạ thủ vô địch của quân trại, nổi tiếng bách phát bách trúng,” họ Mao bình phẩm.

“Một xạ thủ mới tập tành cung nỏ thì không thể thực hiện được,” Phương Đô úy thừa nhận, “nhưng hoàn toàn trong khả năng của một tay thiện xạ.”

Huyện lệnh gật đầu. Sau một thoáng suy ngẫm, ông hỏi, “Mũi tên này có thể nào được bắn ngay bên trong gian phòng này không?”

“Không thể,” Đô úy xẵng giọng đáp. “Bốn binh sĩ đứng gác bất kể ngày đêm ở đầu cầu thang và ở phía cuối dãy hành lang. Bọn họ khai rằng sau khi Tô Văn Hổ đi lên đây và trước khi Thi Thành Long đến thì không có ai đi ngang qua chỗ họ cả.”

“Thế tên sát nhân không thể trèo tường rồi đột nhập vào qua lối cửa sổ và dùng mũi tên đâm chết Quả nghị Đô úy đại nhân hay sao?” Địch Công hỏi. “Bản quan chỉ đang cố gắng bao quát hết mọi khả năng thôi,” ông mau lẹ nói thêm khi nhận thấy cái nhìn chế nhạo của những người kia.

“Bức tường rất nhẵn, không ai có thể leo lên được,” Phương Minh Liêm nói. “Ngay cả Thi Thành Long vốn là cao thủ leo trèo. Ngoài ra, luôn có lính tuần tra tới lui trong sân bên dưới, vì vậy không kẻ nào có thể diễn trò trên tường mà không bị phát giác.”

“Ta hiểu,” Địch Công nói. Ông vuốt chòm râu dài đen nhánh của mình, đoạn nói, “Vậy tại sao Mạnh Quốc Thái lại muốn sát hại Quả nghị Đô úy đại nhân chứ?”

“Tô đại nhân là một võ quan có năng lực, nhưng lại nóng nảy và hơi độc mồm độc miệng. Bốn ngày trước, ông ấy đã mắng chửi họ Mạnh trước mặt toàn quân, bởi y bênh vực Cao Hỏa trưởng.”

“Ty chức đã có mặt ở đó,” Mao Binh tào kể. “Họ Mạnh đã kiềm chế bản thân, nhưng gương mặt y thì tím tái lại. Y ấm ức vì sự nhục mạ ấy, và rồi...” Họ Mao dừng lại vẻ ngụ ý.

“Dạo trước thì Mạnh Quốc Thái từng bị Tô đại nhân quát vào mặt rồi,” Thi Thương tào bình phẩm. “Y chẳng lạ gì với chuyện đó, nên cũng không quá để tâm xem là nghiêm trọng.”

Địch Công nói với Phương Đô úy, “Trước đây, ngài có đề cập đến việc vi phạm kỷ luật của Cao Hỏa trưởng. Thế y đã làm gì?”

“Quả nghị Đô úy la rầy họ Cao vì chiếc dây đai của hắn bị nứt. Cao Hỏa trưởng cãi lại nên họ Tô định sẽ nghiêm trị hắn. Mạnh Hiệu úy đã lên tiếng nói đỡ cho họ Cao, thế là họ Tô chuyển sang đả kích y.”

“Ty chức cũng tính nói đỡ cho họ Cao,” Thi Thương tào lên tiếng. “Đó là lý do ty chức đến đây để nói đôi câu, ngay sau buổi thao luyện võ trường ban sáng. Ty chức cho là nếu mình nói chuyện riêng với Tô đại nhân, thì biết đâu mình có thể khiến ông ấy bỏ qua vụ án này. Thế mà định mệnh lại an bài cho họ Cao làm nhân chứng quan trọng chống lại Mạnh Hiệu úy, người đã bảo vệ cho y!”

“Thế là sao?” Địch Công hỏi.

Phương Đô úy thở dài. “Ai cũng biết Tô Văn Hổ luôn đến đây để chợp mắt sau buổi thao luyện ban sáng. Và Mạnh Quốc Thái thì có thói quen đi lên võ khố để luyện trường thương trước khi xuống phòng ăn. Y khỏe như vâm, chẳng biết mệt mỏi là gì. Vậy mà vào hôm kia, họ Mạnh lại nói với các đồng đội rằng y cảm thấy khó chịu do say rượu, nên sẽ không lên võ khố sau buổi thao luyện. Nhưng rồi họ Mạnh vẫn đi đến đó! Nhìn đi, ngài có nhìn thấy cái cửa sổ nhỏ hơn phía trên kia không, cao chừng hai mươi thước nằm ở bên trái cửa sổ của võ khố ấy? Đó là của gian phòng cất giữ đồ da. Chỉ có Chủ sự Võ khố mới đi lên trên đó, mà cũng chỉ độ nửa tháng một lần. Nhưng họ Cao lại đinh ninh đi tìm một chiếc dây đai mới bằng da ở đó, bởi Quả nghị Đô úy đã quở trách dữ dội y về cái dây cũ. Tên Hỏa trưởng khó tính, hay kén cá chọn canh này, mất khá lâu mới chọn được một chiếc dây vừa ý mình. Lúc đi về phía cánh cửa thông giữa gian phòng đó với võ khố, chợt y ngó ra ngoài cửa sổ. Họ Cao trông thấy Thi Thương tào bước vào căn phòng này của Quả nghị Đô úy. Họ Thi bỗng đột ngột đứng lại ngay trước cánh cửa sổ hình vòm, y cúi xuống rồi bắt đầu vẫy tay và chạy ra khỏi phòng, hét toáng lên. Họ Cao mở cánh cửa võ khố để chạy xuống và phát hiện ra điều bất thường ở tòa nhà phía đối diện, suýt va vào Mạnh Hiệu úy, lúc đó đang đứng đó săm soi vớ vẩn một cây cung. Cả hai người cùng lao xuống và đến đây vừa lúc các binh sĩ của đội tuần tra được Thi Thương tào báo động chạy đến. Sau đó, họ Thi đi tìm ta và Mao Binh tào. Lúc chúng ta tới đây, thì biết ngay mũi tên ấy được bắn ra từ chỗ nào, rồi ta đã cho bắt giam Mạnh Quốc Thái, nghi can đáng ngờ nhất.”

“Thế còn Cao Hỏa trưởng?” Địch Công thắc mắc.

Họ Mao lẳng lặng đưa ông đến bên cửa sổ và chỉ ra bên ngoài. Địch Công ngước lên nhìn và nhận ra mặc dù từ cửa sổ của gian phòng chứa đồ có thể bao quát được cửa phòng của Tô Văn Hổ và không gian đằng trước cánh cửa sổ hình vòm, nhưng còn phía bên kia gian phòng, nơi đặt chiếc trường kỷ, thì lại ở ngoài tầm với.

“Mạnh Quốc Thái giải thích như thế nào về sự có mặt của mình trong võ khố?” Địch Công hỏi Đô úy. “Chẳng phải hôm ấy, rõ ràng y đã nói là mình sẽ không lên đó hay sao?”

Phương Minh Liêm gật đầu vẻ không hài lòng. “Tên ngốc đó nói rằng sau khi đi lên phòng mình để nằm nghỉ thì y tìm thấy một bức thư ngắn do Quả nghị Đô úy gửi đến, lệnh cho y đến gặp ông ta ở võ khố vào giữa giờ Mùi. Khi được yêu cầu trình ra bức thư đó thì y lại bảo mình quẳng nó đi rồi! Chúng ta coi chuyện đó chính là bằng chứng đanh thép cho tội ác của Mạnh Quốc Thái.”

“Điều đó quả thật gây bất lợi cho y,” Địch Công tán thành. “Họ Mạnh không hề biết Cao Hỏa trưởng sẽ đi lên gian phòng chứa đồ da. Nếu họ Cao không bắt quả tang y, thì sau khi hành động xong xuôi, y sẽ lẻn về phòng mình, và thế là sẽ không ai nghi ngờ y cả.” Ông bước lại gần án thư và cầm mũi tên nằm cạnh chiếc mũ sắt lên. Nó dài chừng bốn thước, và nặng hơn nhiều so với ông tưởng. Đầu mũi tên bằng sắt dài và rất sắc nhọn với hai ngạnh, dính vài đốm nâu nhạt. “Bản quan cho rằng đây là mũi tên đã kết liễu Quả nghị Đô úy đại nhân, phải không?”

Đô úy gật đầu. “Chúng ta đã rất vất vả mới lôi được mũi tên ra,” y cảm thán, “chỉ tại mấy cái ngạnh đó.”

Địch Công xem xét kĩ lưỡng mũi tên. Mũi tên được sơn son, với những sợi lông vũ đen gắn ở phần đuôi. Ngay dưới đầu mũi bằng sắt, cán tên được gia cố bằng dải băng đỏ quấn chặt quanh nó.

“Chẳng có gì đặc biệt về mũi tên cả,” họ Mao nói vẻ mất kiên nhẫn. “Chỉ là loại binh khí quân dụng thông thường.”

“Ta thấy dải băng đỏ ấy bị rách rồi,” Địch Công bình phẩm. “Có một vết rách lởm chởm chạy dọc theo thân tên.”

Những người khác không bình luận gì thêm. Những lời nhận xét của Địch Công dường như không được họ xem là quá xuất sắc. Bản thân Địch Công cũng chẳng đánh giá cao về bọn họ. Buông tiếng thở dài, ông đặt lại mũi tên lên án thư và nói:

“Bản quan phải thừa nhận rằng đây là một vụ án nghiêm trọng và rất bất lợi cho Mạnh Hiệu úy. Y có động cơ, thời cơ, cùng kĩ năng đặc thù cần thiết để tận dụng cơ hội ấy. Ta sẽ phải cẩn trọng cân nhắc vấn đề này trước khi đưa ra quyết định. Dù vậy, trước khi rời khỏi quân trại, ta vẫn mong muốn được gặp Mạnh Hiệu úy. Cao Hỏa trưởng có thể đưa ta đến gặp y, rồi ta sẽ gặp tất cả những người có can hệ đến vụ án đang gây sóng gió này.”

Đô úy trao cho Địch Công một ánh nhìn dò xét. Y có vẻ lưỡng lự, rồi quát lên ra lệnh cho Mao Binh tào.

Trong lúc Cao Hỏa trưởng dẫn đường đưa Địch Công tới đại lao nằm ở phía sau quân trại, ông kín đáo quan sát kẻ đang đi cùng mình. Họ Cao là một nam nhân trẻ tuổi tuấn tú, vô cùng chỉnh tề trong bộ giáp trụ vừa vặn ôm sát người cùng với một chiếc mũ tròn. Địch Công cố gắng khơi gợi y kể về vụ án mạng, nhưng chỉ nhận được những câu đáp trả cụt ngủn. Nam nhân trẻ tuổi ấy trông có vẻ vừa kính sợ vừa cực kỳ lo ngại.

Bóng dáng hộ pháp của một nam nhân, hai tay chắp sau lưng, đang đi qua đi lại bên trong xà lim. Nhác thấy hai người đi đến trước song sắt lớn, mặt y sáng bừng lên và nói với chất giọng trầm:

“Thật tốt khi gặp ngươi, Cao huynh đệ! Có tin tức gì không?”

“Thưa ngài, Huyện lệnh đại nhân đang ở đây,” họ Cao hơi rụt rè lên tiếng. “Đại nhân muốn hỏi ngài vài câu.”

Địch Công bảo họ Cao có thể rời đi. Rồi ông nói chuyện với gã phạm nhân:

“Phương Đô úy nói với ta rằng phiên quân sự pháp đình đã xử ngươi tội cố sát. Nếu ngươi có thể viện dẫn ra bất cứ điều gì để biện hộ nhằm có được sự khoan hồng, thì bản quan sẽ vui lòng giúp ngươi truyền đạt lại rõ ràng những lời bào chữa ấy. Hai thuộc hạ Mã - Kiều của ta đã nói những lời tốt đẹp về ngươi.”

“Thưa đại nhân, kẻ hèn này không hề giết hại Quả nghị Đô úy Tô Văn Hổ,” gã hộ pháp cộc cằn cất lời. “Vậy mà bọn họ lại ghép tội cho ty chức, thế thì cứ để họ chặt đầu Mạnh mỗ đi. Đó là quân pháp, dù sao thì một nam nhân sớm muộn gì cũng phải bỏ mạng mà thôi. Không cần phải bào chữa gì cả.”

“Nếu ngươi bị oan uổng,” Địch Công nói tiếp, “thì nghĩa là kẻ thủ ác phải có một lý do bắt buộc nào đó khi muốn loại bỏ cả Tô đại nhân và ngươi. Chính vì điều đó mà hắn gửi cho ngươi một bức thư giả mạo, rồi biến ngươi thành một con dê tế thần, thành kẻ chịu tội thay. Vậy là việc này đã giúp thu hẹp số lượng nghi phạm. Liệu ngươi nghĩ ra được kẻ nào có lý do để căm ghét cả ngươi và Tô đại nhân hay không?”

“Có quá nhiều kẻ căm ghét Tô đại nhân. Ông ta là một người cầm quân có tài nhưng thực sự quá cứng nhắc, lúc nào cũng quân lệnh như sơn; ông ta có thể trừng phạt binh sĩ chỉ vì những lỗi nhỏ nhặt, tầm thường. À, còn về phần mình, ty chức luôn coi tất cả mọi người là bằng hữu. Nếu ty chức có lỡ làm phật lòng ai đó, thì đó chỉ là vô ý thôi. Do thế, chuyện ấy cũng chẳng nói lên được gì nhiều.”

Địch Công trầm ngâm đồng ý. Ông ngẫm nghĩ một hồi, đoạn nói tiếp, “Hãy kể chính xác cho ta nghe ngươi đã làm những gì sau khi trở về quân trại, vào đêm trước vụ án mạng.”

“Nói đúng ra là buổi sáng!” Mạnh Quốc Thái nói với một nụ cười gượng gạo. “Ngài biết đó, lúc ấy cũng quá khuya rồi! Chuyến du ngoạn trên thuyền trở về khiến cho ty chức hơi chút tỉnh rượu, nhưng Mạnh mỗ vẫn còn trong trạng thái lâng lâng. Đầu lĩnh đội lính gác là một gã tốt tính, y đã giúp ty chức tỉnh táo ra để về tư phòng. Chính ty chức quấy rầy y, không cho y rời đi, cứ khăng khăng kể tất tần tật với y về khoảng thời gian vui vẻ mà mình vừa trải qua, về sự dễ mến của hai gã người Cao Câu Ly đó, và về lòng hiếu khách đáng trọng của bọn họ. Phác và Doãn, những cái tên của họ được phát âm thật buồn cười!” Y gãi gãi mái đầu rối bù như tổ quạ của mình, đoạn tiếp tục, “Đúng rồi, ty chức nhớ là mình chỉ để cho gã đầu lĩnh rời đi sau khi y đã nghiêm trang hứa rằng tuần tới y cũng sẽ lại đến đây cùng hàn huyên với Mạnh mỗ. Ty chức đã kể với y rằng họ Phác và họ Doãn khoe mình thậm chí sẽ còn kiếm được nhiều ngân lượng hơn nữa để tiêu xài, và rằng họ nhất định sẽ tổ chức một bữa tiệc thực sự đường hoàng để chiêu đãi Mạnh mỗ cùng toàn thể bằng hữu. Ty chức mặc nguyên y phục mà quăng mình xuống giường, cảm thấy cực kỳ hài lòng. Thế nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang, đến sáng hôm sau, ty chức chẳng thể vui vẻ thêm nữa rồi! Đầu ty chức đau nhức đến mức kêu cha gọi mẹ. Không hiểu bằng cách nào mà bản thân mình có thể xoay xở vượt qua được buổi thao luyện ban sáng, nhưng ty chức đã rất mừng vui khi buổi tập chấm dứt và mình có thể đi lên tư phòng để chợp mắt nghỉ ngơi. Sau đó, ngay lúc ty chức sắp sửa lăn ra ngủ thì nhìn thấy một bức thư ngắn. Ty chức...”

“Ngươi không thể nhận ra nó là giả mạo à?” Địch Công xen vào.

“Trời ơi không, ty chức không hứng thú lắm đối với nghệ thuật thư pháp! Vả lại, trong thư chỉ có vài chữ được viết nguệch ngoạc. Tuy nhiên, trên đó có dấu triện của Tô đại nhân và nó là thật - Mạnh mỗ đã nhìn thấy nó hàng trăm lần trên đủ mọi thể loại giấy tờ. Nếu không có dấu triện trên đó thì ty chức sẽ nghĩ đó là trò chơi khăm của một gã đồng đội, nên sẽ xác minh lại với Tô đại nhân. Nhưng dấu triện đã xác minh bức thư là thật, thế là ty chức lập tức đi lên võ khố. Tô đại nhân không ưa những kẻ dám chất vấn các mệnh lệnh của mình! Và thế là rắc rối của của ty chức bắt đầu diễn ra!”

“Lúc ở võ khố, ngươi không ngó ra bên ngoài cửa sổ à?”

“Sao mà ty chức phải làm như vậy chứ? Ty chức chờ đợi Tô đại nhân sẽ xuất hiện bất cứ lúc nào, nên đã ở đó nghiên cứu một cặp cung nỏ, chuyện chỉ có thế.”

Địch Công săm soi gương mặt to bản, đầy vẻ chất phác, thật thà của họ Mạnh. Thình lình, ông tiến đến gần song sắt và quát lên đây phẫn nộ.

“Mạnh Quốc Thái, ngươi đang bao che cho kẻ khác!”

Gương mặt họ Mạnh thoáng chốc trở nên đỏ bừng. Nắm chặt song sắt bằng đôi bàn tay to lớn đầy sức mạnh của mình, y gầm gừ, “Ngài đang nói hươu nói vượn gì đó! Ngài không thuộc về giới quân nhân. Tốt hơn hết là ngài đừng có mà nhúng tay can thiệp vào sự vụ của quân trại!” Y quay người đi và tiếp tục lượn qua lượn lại.

“Được thôi, ta sẽ để ngươi muốn ra sao thì ra!” Địch Công cất giọng lạnh lùng. Ông bước xuống dãy hành lang. Tên lính giữ chìa khóa đại lao mở cánh cửa sắt nặng nề ra, và họ Cao dẫn đường đưa Địch Công quay lại chính sảnh gặp Đô úy.

“À, ngài nghĩ gì về Mạnh Hiệu úy?” Phương Minh Liêm hỏi.

“Ta phải công nhận rằng hắn không có vẻ là hạng tiểu nhân sát hại một người đang ngủ,” Địch Công đáp vẻ thận trọng. “Nhưng dĩ nhiên nhân sinh không ai lường hết được mọi sự. Tri nhân tri diện bất tri tâm. Tiện thể, ta lỡ để mất một trong những bản sao văn thư công vụ mà ngài vẫn luôn tử tế chuyển đến. Bản quan có thể xin thêm một bản sao khác không, chỉ để hoàn chỉnh hồ sơ của mình? Số hiệu của bản văn thư ấy là Nhân - Tứ linh tứ.”

Đô úy trông đầy vẻ ngỡ ngàng với lời yêu cầu bất ngờ ấy, dù vậy y vẫn lệnh cho phụ tá của mình đi đến văn khố để lấy bức văn thư.

Lục sự nhanh chóng quay trở lại. Y trao tay cho Đô úy hai tờ văn thư. Phương Minh Liêm liếc nhìn thoáng qua chúng, rồi trao cho Địch Công, đoạn nói, “Của ngài đây! Công vụ thường nhật thôi.”

Trên tờ giấy thứ nhất, Địch Công nhìn thấy một lời đề bạt họ Cao và ba Hỏa trưởng khác thăng chức lên Đội chính, đi kèm là một danh sách gồm danh tính, tên tuổi và thời hạn quân ngũ của họ. Nó được đóng dấu triện của Quả nghị Đô úy. Tờ thứ hai chỉ có vài dòng, trong đó Đô úy bày tỏ niềm hy vọng rằng Bộ Binh sẽ mau chóng chuẩn y lời đề bạt của mình. Phía trên nó là dấu triện lớn của Phương Đô úy, ngày tháng và số hiệu Nhân - Tứ linh tứ.

Địch Công lắc đầu. “Chắc chắn là có sai sót ở chỗ nào đó. Tờ văn thư bị thất lạc ắt phải liên quan đến xử lý việc mua sắm vật tư, vì số hiệu tiếp theo Nhân - Tứ linh ngũ, là một yêu cầu cung ứng các dây đai bằng da, có chỉ dẫn đến văn thư Nhân - Tứ linh tứ. Do đó, nhân trong Nhân - Tứ linh tứ phải đại diện cho thương nhân, chứ không phải là nhân sự.”

“Thánh thần thiên địa ơi!” Đô úy la lên. “Thỉnh thoảng các Lục sự cũng phải nhầm lẫn chứ, đúng không? Ôi, ta vô cùng đa tạ chuyến viếng thăm của Huyện lệnh đại nhân. Chừng nào ngài trình bày rõ ràng ý kiến của mình về vụ sát hại Quả nghị Đô úy Tô Văn Hổ thì hãy báo cho bản tướng biết nhé.”

Trong lúc Địch Công bước ra ngoài, ông loáng thoáng nghe được Đô úy lầm bầm vài điều với phụ tá của mình về “thói quan liêu ngớ ngẩn”.

Ánh nắng mặt trời thiêu đốt giữa ban ngày đã biến bến tàu đằng trước cổng thành một cái lò gạch, nhưng ngay khi con thuyền lớn lướt trôi êm ả ra sông, thì lại có một làn gió mát mẻ dễ chịu nổi lên. Phu chèo thuyền đã đảm bảo thu xếp cho Huyện lệnh cùng hai trợ thủ của ông có chỗ ngồi thoải mái trên cái bệ phía cuối thuyền, bên dưới tấm vải bạt làm bằng vải màu lục.

Ngay khi tên lính hầu dâng trà xong và lui vào trong khoang, Mã Vinh và Kiều Thái chất vấn dồn dập Địch Công với hàng loạt câu hỏi.

“Bản quan quả thực không biết nên nghĩ gì,” Địch Công chậm rãi nói. “Mọi hiện trạng đều chống lại Mạnh Quốc Thái, nhưng ta lại có cảm giác mơ hồ ngờ vực rằng tên ngốc ấy đang che giấu, lấp liếm cho kẻ nào đó. Hai ngươi có tìm hiểu được gì không?”

Mã Vinh và Kiều Thái lắc đầu. Họ Kiều nói:

“Chúng thuộc hạ đã trò chuyện khá lâu với đầu lĩnh đội lính gác, là kẻ đang làm nhiệm vụ tuần tra lúc Mạnh Quốc Thái trở về quân trại sau cuộc vui chơi chè chén lu bù của y với chúng thuộc hạ. Y có hảo cảm với họ Mạnh, cũng giống như những người khác trong quân trại. Y hầu như không thấy phiền hà khi phải vác họ Mạnh lên phòng, dù đó không phải là việc dễ dàng gì!

Còn họ Mạnh lúc ấy cứ nghêu ngao hát mấy bài tục tĩu bằng tông giọng cao nhất của mình. Chắc hẳn y đã đánh thức toàn bộ đồng đội của mình ấy chứ, thuộc hạ sợ là thế! Gã đầu lĩnh ấy cũng bảo rằng Mạnh Quốc Thái không phải là bằng hữu đặc biệt gì của Tô Văn Hổ cả, ấy vậy mà họ Mạnh lại ngưỡng mộ họ Tô là một quan viên có năng lực, và y cũng không quá để tâm đến những cơn thịnh nộ thường xuyên của họ Tô.”

Địch Công không bình luận gì thêm. Ông trầm mặc hồi lâu. Nhấp một ngụm trà, ông ngắm nhìn khung cảnh yên bình đang trôi nổi qua trước mắt mình. Hai bên bờ sông xếp dọc những cánh đồng lúa xanh mướt, rải rác đó đây là những chiếc mũ rơm vàng của các nông phu đang làm đồng. Bất chợt ông nói, “Thi Thương tào cũng cho là họ Mạnh vô tội. Thế nhưng chấp pháp quan Mao Binh tào lại tin là y có tội.”

“Mạnh Quốc Thái thường kể cho chúng thuộc hạ nghe về Thi Thành Long,” Mã Vinh nói. “Họ Mạnh là một xạ thủ vô địch, không đối thủ ở chốn đây, còn họ Thi lại là quán quân về trò leo tường. Hắn là một gã cơ bắp cuồn cuộn đó! Hắn đang trông coi việc thao luyện binh lính về kĩ năng ấy. Bọn họ cởi hết y phục trừ tiết khố, và vượt qua một bức tường cũ bằng đôi chân trần. Họ được học sử dụng ngón chân như thể là ngón tay. Khi tìm được điểm tựa, họ sẽ chuyển động những ngón chân của mình vào một khe nứt bên dưới, rồi rướn người lên để tìm điểm tựa ở chỗ cao hơn, lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi họ lên đến được đầu tường. Lúc nào đó thuộc hạ cũng muốn tự mình thử trò ấy! Còn về Mao Binh tào, hắn là hạng người vô cùng giả dối, đa nghi, ai cũng đồng ý với điều đó!”

Địch Công gật gù. “Theo như họ Mạnh nói, thì hai gã Cao Câu Ly kia đã chi trả toàn bộ ngân lượng cho bữa tiệc tùng của các ngươi.”

“Ồ,” Kiều Thái nói với vẻ hơi ngượng ngùng, “ấy là vì trò tinh quái khá là ngớ ngẩn mà chúng thuộc hạ đã chơi khăm hai tên ấy! Chúng thuộc hạ đang cao hứng, và khi gã họ Phác hỏi về nghề nghiệp, thì chúng thuộc hạ bảo rằng cả ba người đều là thổ phỉ cả. Hai gã đó tin ngay; chúng còn bảo có thể sẽ làm việc cho bọn này vào một ngày nào đó! Lúc chúng thuộc hạ muốn chi trả cho phần của mình, thì mới biết hóa ra họ đã thanh toán hết toàn bộ rồi.”

“Dù vậy, chúng thuộc hạ sắp sửa tái ngộ họ vào tuần tới sau khi họ trở về từ kinh thành,” Mã Vinh nói. “Rồi chúng thuộc hạ sẽ khai thật với họ và dành cả buổi chiều với nhau. Mã - Kiều này không thiết tha gì việc ăn chực cả.”

“Chuyện ấy có thể khiến họ thất vọng,” Kiều Thái thêm vào, “bởi họ Phác và họ Doãn đang trông đợi khoản ngân lượng chi trả cho ba chiếc thuyền buồm, và họ đã dự định thiết đãi một bữa tiệc ăn mừng lớn vào lúc đó. À mà Mã đệ này, đệ có nghe chuyện hài về ba chiếc thuyền ấy không? Sau khi họ Phác và họ Doãn kể cho chúng ta nghe thương vụ làm ăn đó, cả hai người bọn họ cười rộ lên đến độ gần như lăn xuống bàn!”

“Khi ấy, đệ cũng suýt nữa lăn xuống đó!” Mã Vinh rầu rĩ nói. Địch Công không nghe thấy lời bình phẩm sau cùng, ông đang chìm trong suy tư, chậm rãi vuốt chòm râu đen nhánh của mình. Chợt ông nói với Mã Vinh, “Kể cho ta nghe thêm về đêm hôm đó! Nhất là cách thức hành động của Mạnh Quốc Thái và những gì y đã nói.”

“Thế này,” Mã Vinh đáp, “Kiều huynh cùng thuộc hạ đến tửu quán bán cua gần bến tàu, nơi đó dễ chịu và mát mẻ. Độ chừng giờ cơm tối, chúng thuộc hạ trông thấy chiếc xuồng chiến cập bến, rồi Mạnh Quốc Thái cùng một gã khác bước ra ngoài. Bọn họ tạm biệt nhau, và họ Mạnh tản bộ về phía chúng thuộc hạ trên lầu thượng. Y nói mình đã có một ngày khá mệt nhọc ở quân trại, vì thế cả bọn nên dùng một chầu ăn thật ngon. Và đó là những gì chúng thuộc hạ đã làm. Sau đó...”

“Thế Mạnh Quốc Thái có nói bất cứ điều gì về họ Tô hoặc về họ Cao hay không?” Huyện lệnh cắt ngang lời y.

“Không hé nửa lời ạ!”

“Vậy y có vẻ như đang lo lắng, bất an về điều gì chăng?”

“Không có gì ngoài ham muốn thuần túy về một nữ nhân xinh đẹp!” Mã Vinh đáp lời với một nụ cười nhăn nhở. “Vì thế, chúng thuộc hạ cùng nhau đi tới chỗ mấy chiếc thuyền hoa, và đến nơi thì Mạnh Quốc Thái vứt hết mọi suy nghĩ về vấn đề riêng tư của mình. Khi chúng thuộc hạ đã uống vài tuần rượu trên khoang, hai gã họ Phác và họ Doãn ấy đi thuyền đến, đã say khướt rồi. Mụ tú bà không thể khiến họ hứng thú với công chuyện kinh doanh của thuyền hoa, dù mụ đã phô trương ra những ả kỹ nữ đẹp nhất của mình. Điều duy nhất mà họ Phác và họ Doãn muốn chính là nhiều rượu hơn nữa, và rất nhiều là đằng khác, cùng một cuộc hàn huyên thân mật. Thế nên năm người chúng thuộc hạ bắt đầu lao vào một cuộc đọ rượu kéo dài. Thuộc hạ không nhớ rõ phần còn lại, tốt nhất là hãy để Kiều huynh tiếp tục câu chuyện sau đó!”

“Đệ đã biến mất dạng khỏi tầm mắt của mọi người, mà thôi để chuyện đó lại,” Kiều Thái lạnh nhạt nói. “Còn thuộc hạ, một canh giờ sau lúc nửa đêm, thuộc hạ đã giúp Mạnh Quốc Thái kéo hai gã người Cao Câu Ly xuống một con thuyền có mái chèo, để đưa về khu phố Cao Câu Ly nằm bên kia dòng kênh. Tiếp đó, thuộc hạ cùng họ Mạnh huýt gió gọi một chiếc thuyền khác đưa mình đến bến tàu. Khi thuộc hạ tiễn họ Mạnh lên chiếc xuồng chiến đang đợi sẵn ở đó, thì thuộc hạ cảm thấy hơi mệt, và vì tửu quán bán cua rất gần đó, nên thuộc hạ bảo họ cho mình một chỗ để tá túc tạm qua đêm. Đó là tất cả mọi chuyện.”

“Ta hiểu rồi,” Địch Công nói.

Ông uống thêm vài chén trà, rồi ông chợt đặt chén xuống và hỏi, “Chúng ta đang ở chỗ nào thế?”

Mã Vinh quan sát bờ sông, rồi đáp, “Khoảng phân nửa đoạn đường về Bồng Lai, thuộc hạ đoán vậy.”

“Bảo phu chèo thuyền quay lại để đưa chúng ta về quân trại,” Địch Công ra lệnh.

Mã Vinh và Kiều Thái cố khơi gợi Địch Công nói ra nguyên nhân cho quyết định đột ngột này, thế nhưng ông chỉ bảo mình muốn kiểm chứng lại hai hay ba luận điểm đã bỏ sót.

Trở lại quân trại, một cận vệ thông báo với họ rằng Phương Đô úy đang tham dự một cuộc họp nội bộ tuyệt mật, thảo luận các báo cáo về những tin thám báo quan trọng vừa được chuyển đến.

“Đừng quấy rầy ngài ấy!” Địch Công nói với y. “Gọi Mao Binh tào cho ta!”

Ông giải thích với chấp pháp quan đang kinh ngạc rằng mình muốn xem xét lại hiện trường vụ án mạng, và ông hy vọng y sẽ có mặt với tư cách một nhân chứng.

Trông có vẻ hoài nghi hơn bao giờ hết, Mao Binh tào dẫn đầu ba nam nhân đi lên lầu. Y xé bỏ dải giấy đã được dán lại trên ổ khóa cửa phòng của Tô Văn Hổ, rồi mời Địch Công tiến vào.

Trước khi bước vào trong, Địch Công bảo Mã Vinh và Kiều Thái, “Ta đang tìm một vật nhỏ và sắc, chẳng hạn như mảnh sắt vụn, hoặc phần đầu của một cây đinh, phỏng chừng nằm bên trong khu vực này.” Ông chỉ vào một khoảng không gian vuông vắn của sàn nhà, bắt đầu từ cánh cửa ra vào và kết thúc ở giữa gian phòng phía trước cánh cửa sổ hình vòm. Đoạn Địch Công ngồi xổm xuống và bắt đầu từng bước xem xét các tấm ván sàn. Hai trợ thủ của ông cũng nhập cuộc.

“Nếu ngài đang tìm một cánh cửa sập bí mật hay bất cứ mấy mánh khóe nào kiểu đó,” Mao Binh tào nói với vẻ mỉa mai chua chát, “thì ty chức phải khiến ngài thất vọng rồi. Quân trại này được xây dựng cách đây chỉ một vài năm trước thôi, ngài biết đó!”

“Đây, thuộc hạ tìm thấy cái gì này!” Mã Vinh thốt lên. Y chỉ vào một vị trí ở trước khung cửa sổ, có một đầu đinh sắc nhọn nhô ra từ tấm ván sàn.

“Tốt lắm!” Địch Công thốt lên. Ông khuỵu gối quỳ xuống và cẩn trọng quan sát đầu đinh ấy. Đoạn ông đứng lên và bảo họ Mao, “Phiền ngươi gỡ mảnh vải nhỏ màu đỏ dính ở đầu đinh ra được không? Đồng thời hãy nhìn kĩ những đốm nhỏ màu nâu nhạt ở trên tấm gỗ đằng kia!”

Họ Mao thẳng người dậy, hoài nghi quan sát dải băng nhỏ màu đỏ trên ngón tay cái của mình.

“Đúng lúc,” Địch Công nghiêm nghị nói, “bản quan cần ngươi làm chứng rằng dải băng đỏ ấy thực sự được phát hiện dính vào đầu đinh. Ngoài ra, những đốm nâu được tìm thấy gần đó rất có khả năng là vết máu người.” Phớt lờ những câu hỏi đầy kích động của Mao Binh tào, Địch Công nhặt lấy mũi tên từ trên án thư và cắm nó xuống sàn nhà bên cạnh đầu đinh. “Cái này sẽ đánh dấu vị trí chính xác!” Ông ngẫm nghĩ một lát, đoạn hỏi, “Chuyện gì đã xảy ra với đồ đạc tư trang của người quá cố, và với những thứ nằm trong ngăn kéo của án thư thế?”

Bực bội trước giọng điệu dứt khoát của Địch Công, họ Mao lạnh lùng đáp lại:

“Những vật dụng đó được thu thập cất vào hai rương riêng biệt, ty chức đã yêu cầu Đô úy đại nhân niêm phong chúng lại. Tất thảy được cất giữ cẩn thận trong phòng công vụ của Mao mỗ. Ty chức là chấp pháp quan, tất nhiên là không tài giỏi và giàu kinh nghiệm bằng các quan viên của nha phủ, nhưng ty chức biết việc của mình, ty chức tin là như vậy!”

“Được rồi, được rồi!” Địch Công nói vẻ hết kiên nhẫn. “Đưa chúng ta đến phòng công vụ của ngươi!”

Mao Binh tào mời Địch Công an tọa tại chiếc án thư lớn bừa bộn giấy tờ của mình. Mã Vinh và Kiều Thái vẫn đứng cạnh cửa ra vào. Họ Mao mở khóa một chiếc rương sắt và lấy ra hai gói đồ được bọc trong giấy dầu. Đặt một gói trước mặt Địch Công, y nói:

“Đây là những gì ty chức tìm thấy trong chiếc túi da mà Quả nghị Đô úy đại nhân treo trên một sợi dây đeo quanh cổ, bên dưới bộ giáp ngoài của ngài ấy.”

Địch Công xé bỏ niêm phong và xếp đặt lên án thư một giấy thông hành của phủ binh được gấp lại, một biên nhận mua nhà đã thanh toán từ bảy năm trước, cùng cái tráp vuông nhỏ nhắn bằng gấm đựng dấu triện cá nhân. Ông mở tráp ra, và có vẻ vừa lòng khi nó trống rỗng. “Ta đoán chừng,” ông nói với họ Mao, “có phải dấu triện được tìm thấy trong ngăn kéo ở chiếc án thư của người quá cố?”

“Đúng vậy. Nó nằm trong gói đồ thứ hai, cùng với những giấy tờ mà ty chức tìm thấy trong ngăn kéo. Ty chức cứ nghĩ là Tô đại nhân hơi bất cẩn khi để dấu triện cá nhân nằm vất vưởng trong ngăn kéo mà không khóa lại. Theo lệ thường thì người ta luôn mang theo con dấu bên người mình.”

“Đúng vậy,” Địch Công nói. Ông đứng lên và nói thêm, “Ta không cần thiết phải tra xét gói đồ còn lại. Chúng ta hãy đi xem liệu Phương Đô úy đã nghị sự xong chưa nào.”

Hai tên lính gác, đang đứng canh bên ngoài cửa chính sảnh của hội đồng tham quân, thông báo rằng cuộc nghị sự mới vừa kết thúc và họ sẽ mau chóng dâng trà. Địch Công không nhiều lời, đi lướt qua họ.

Phương Đô úy đang an tọa tại chiếc bàn chính ở giữa gian phòng. Phía chiếc bàn kê sát tường bên trái y là Thi Thương tào ngồi cùng với một quan viên khác mà Địch Công không quen biết. Tại chiếc bàn bên phía còn lại có hai quan viên phẩm hàm cao đang ngồi, còn Cao Hỏa trưởng thì đang sắp xếp một đống giấy tờ trên một chiếc bàn nhỏ tách biệt; rõ là y đã ghi chép lại quá trình nghị sự. Tất cả đều đứng dậy khỏi ghế khi họ trông thấy Huyện lệnh tiến vào.

“Xin thứ lỗi cho sự mạo phạm này,” Địch Công điềm tĩnh nói khi ông sải bước tiến đến bàn của Đô úy. “Ta đến để trình báo những phát hiện của mình liên quan đến vụ án mạng Quả nghị Đô úy Tô Văn Hổ. Ta cho là các vị quan nhân đang tề tựu ở đây đủ tạo thành số đại diện cần thiết cho một phiên quân sự pháp đình, có đúng không?”

“Nếu ngài tính luôn cả Mao Binh tào ở đằng kia, thì đúng là vậy đó,” Phương Minh Liêm chậm rãi đáp.

“Tốt lắm! Xin hãy cho áp giải Mạnh Hiệu úy vào đây, như thế thì chúng ta sẽ có thể tổ chức một buổi thăng đường như thường lệ của phiên quân sự pháp đình.”

Đô úy truyền lệnh cho phụ tá, đoạn y kéo một cái ghế lại gần bàn của mình rồi mời Địch Công ngồi xuống bên cạnh. Mã Vinh và Kiều Thái đi đến đứng đằng sau ghế của chủ nhân mình.

Hai lính hầu bưng vài cái khay đi vào. Tất cả cùng dùng trà trong im lặng.

Rồi cánh cửa lại mở ra. Bốn chấp pháp vệ được vũ trang đầy đủ vây xung quanh Mạnh Hiệu úy tiến vào. Họ Mạnh bước đến gần chiếc bàn trung tâm và kính cẩn hành lễ.

Đô úy hắng giọng. “Hôm nay chúng ta được triệu tập để lắng nghe báo cáo của Địch Huyện lệnh, và để quyết định xem báo cáo được trình bày có đòi hỏi cần phải tra xét lại vụ án của Hiệu úy Mạnh Quốc Thái - kẻ đã bị phán tội cố sát Quả nghị Đô úy Tô Văn Hổ của quân trại này hay không. Bản tướng yêu cầu Địch Huyện lệnh bắt đầu báo cáo.”

“Động cơ của vụ sát nhân này,” Địch Công bắt đầu với một giọng điệu đều đều, “là để ngăn chặn Quả nghị Đô úy đại nhân khởi sự điều tra một vụ gian trá ma mãnh, trong đó tên tội phạm mong muốn biển thủ được một lượng kim ngân lớn.

Ta phải nhắc lại cho các ngài nghe về công vụ thường nhật liên quan đến những yêu cầu mua sắm quân nhu cần thiết cho quân trại này. Sau khi một đề xuất được Đô úy và hội đồng tham quân phê duyệt, một Lục sự sẽ soạn ra thành văn thư chính thức rồi chuyển đến Quả nghị Đô úy, là người sẽ kiểm tra nội dung và đóng dấu triện lên mỗi tờ giấy. Sau đó, ông ấy sẽ chuyển giao giấy tờ đó cho Đô úy để kiểm tra lại và đóng triện lên trang cuối cùng. Sau khi đã sao chép đủ số lượng theo quy định, thì bản chính sẽ được đặt vào trong một phong thư đề nơi đến là Bộ Binh ở kinh thành, được niêm phong lại và chuyển đi qua mã quân truyền thư.”

Địch Công nhấp một ngụm trà, đoạn nói tiếp, “Hệ thống này chỉ có một lỗ hổng pháp lý. Nếu văn thư có nhiều hơn một tờ, thì một kẻ gian trá có khả năng tiếp cận với thư từ công vụ sẽ có thể thủ tiêu mọi tờ giấy trừ tờ cuối cùng có in dấu triện của Đô úy, tráo đổi những tờ giả mạo rồi sau đó gửi văn thư về kinh thành, bao gồm cả trang giấy cuối đã được xác thực.”

“Không thể nào!” Phương Đô úy ngắt lời. “Những tờ khác buộc phải có dấu triện của Quả nghị Đô úy chứ!”

“Đó là nguyên do khiến ông ấy bị sát hại!” Địch Công nói. “Hung thủ đã trộm dấu triện của Quả nghị Đô úy, và bị ông ta phát hiện. Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào việc đó, đầu tiên bản quan sẽ diễn giải làm thế nào mà sự tận tâm đáng ca ngợi đối với công vụ thường nhật của một Lục sự ở nơi này đã giúp ta lần theo được dấu vết của hung thủ.

Ba ngày trước, một yêu cầu thăng chức cho bốn Hỏa trưởng đã tạo cơ hội cho hung thủ. Lời đề bạt được viết ra thành bản chính thức, gồm hai tờ giấy. Tờ thứ nhất bao gồm nội dung yêu cầu cùng với danh tính, tuổi tác... của bốn nhân vật liên quan. Tờ thứ hai chỉ có lời tiến cử của ngài Đô úy mong được mau chóng chuẩn y - nói theo ngôn ngữ đại khái thôi, phiền ngài! - ngày tháng và số hiệu hồ sơ, nhân cho nhân sự và con số tứ linh tứ. Tờ đầu tiên có dấu triện của Quả nghị Đô úy, còn tờ thứ hai có dấu triện của Đô úy.

Hung thủ đoạt được giấy tờ ấy khi nó đang trên đường đến bộ phận truyền thư. Hắn đã thủ tiêu tờ thứ nhất và tráo nó bằng một tờ giả mạo khác mà trên đó hắn đã viết một lời yêu cầu cần kíp về việc mua ba thuyền buồm từ hai thương nhân Cao Câu Ly họ Phác và họ Doãn, chúng kể rằng Bộ Binh sắp sửa chi trả ngân lượng theo đúng giá mua hàng - một gia tài kếch xù! Sau khi kẻ thủ ác đã đóng con dấu trộm được từ Quả nghị Đô úy lên tờ giấy giả mạo ấy, hắn tự mình đặt nó vào một phong thư và đề địa chỉ gửi thư: Bộ Binh, Bộ phận Cung ứng quân nhu. Cuối cùng, hắn đề ở góc phong thư số hiệu của văn thư, cụ thể là Nhân - Tứ linh tứ, theo như quy định. Hắn trao phong thư đã được dán kín cho viên Lục sự truyền thư, còn những bản sao thêm của bức thư gốc về yêu cầu thăng cấp cho bốn Hỏa trưởng thì hắn đã tự mình cất vào văn khố. Do không quen với những quy định mới trong việc phân phối thư tín, nên hắn đã bỏ sót để cho một trong số những bản sao được chuyển đến huyện nha.

Bây giờ chúng ta thấy thật ngẫu nhiên là viên Lục sự tùng gửi bức thư đã phong kín được đánh dấu Nhân - Tứ linh tứ, cũng đồng thời nhận được bức thư khác có số hiệu Nhân - Tứ linh ngũ bao gồm yêu cầu mua sắm đồ da ngay trong ngày hôm đó. Y nhớ ra hai chữ nhân, ký hiệu cho thương nhân nhân sự, đôi lúc làm nảy sinh sự nhầm lẫn trong văn khố. Do thế, là một quan viên hành chính tốt, y đã thêm vào số hiệu Nhân - Tứ linh ngữ ấy một dòng ghi chú rằng: ‘Tham khảo Nhân - Tứ linh tứ; vì mặc dù không xem công văn Nhân - Tứ linh tứ, nhưng y nhớ rằng Bộ phận Cung ứng đã được đề cập đến trên phong thư. Viên Lục sự đã phân phối chính xác những bản sao của Nhân - Tứ linh tứ, bao gồm cả một bản sao thêm gửi cho bản quan. Thế nhưng lúc kiểm tra hồ sơ Thương nhân của mình, thì ta lại phát hiện Nhân - Tứ linh tứ bị thất lạc. Điều đó khiến ta khó chịu, vì ta tin rằng mình đã lưu trữ các hồ sơ đầy đủ. Do vậy, ta đã yêu cầu Đô úy đại nhân cho ta thêm một bản sao khác. Ông ấy đã trao cho ta một lá thư liên quan đến việc thăng chức của bốn Hỏa trưởng thành ra lại thuộc về Nhân sự’.”

Đô úy, đang nôn nóng ngồi nhấp nhổm không yên trên ghế, giờ thốt lên, “Ông không thể lướt qua mọi chi tiết đó được à? Tất cả những chuyện vô nghĩa về ba chiến thuyền là gì vậy?”

“Hung thủ,” Địch Công điềm tĩnh đáp, “đã câu kết với hai thương nhân họ Phác và họ Doãn. Sau khi nhận được ngân lượng ở kinh thành cho vụ mua bán tưởng tượng này, bọn chúng dự định ăn chia với hung thủ. Do sẽ mất nhiều tuần trước khi các cuộc kiểm tra theo thông lệ của Bộ Binh lật tẩy sự thiếu nhất quán trong các báo cáo của Đô úy đại nhân về số lượng quân nhu nhận được, nên hung thủ có nhiều thời gian để chuẩn bị lẩn trốn sự trừng phạt của vương pháp, cao chạy xa bay với số ngân lượng ấy.

Thật là một mưu đồ lưỡng toàn, nhưng lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt. Vào đêm trước vụ án mạng, Mạnh Hiệu úy cùng hai vị thủ hạ của ta đã hội ngộ hai gã thương nhân Cao Câu Ly trong thành và họ chè chén say sưa với nhau. Hai gã thương nhân ấy cứ ngỡ người là mấy tên thổ phỉ, nên đã kể vài chuyện về mấy chiếc thuyền buồm và số ngân lượng mà bọn chúng sắp sửa thu được ở kinh thành. Các trợ thủ của ta đã bẩm báo lại việc đó, thế là ta đã suy ra được cái kết luận vững như bàn thạch này. Tuy nhiên, khi Mạnh Quốc Thái trở về quân trại, y đã khoác lác với đội trưởng đội lính gác về sự hào phóng của hai gã họ Phác và họ Doãn, cùng nhiều điều khác nữa. Kẻ thủ ác nghe trộm được chuyện đó và tưởng lầm rằng họ Mạnh đã biết quá nhiều, điều đó đã khiến hắn kiên định hơn với kế hoạch biến họ Mạnh thành một con dê tế thần, một kẻ gánh tội thay. Vào sáng hôm sau, khi tên tội phạm biết được Mạnh Quốc Thái bị khó ở do say rượu và quyết định không đi lên võ khố, hắn đã gửi cho y một lời nhắn giả mạo, trên đó đóng dấu triện của Quả nghị Đô úy mà hắn vẫn đang giữ.”

“Ta không cần biết tất cả những chuyện đó!” Đô úy gắt gỏng quát lên. “Điều mà ta muốn biết chính là: ai đã bắn chết Quả nghị Đô úy Tô Văn Hổ, và bằng cách nào?”

“Được thôi!” Địch Công nói. “Chính Thương tào Thi Thành Long đã hạ sát Tô đại nhân.”

Không gian chìm trong im lặng. Rồi Đô úy giận dữ cất giọng:

“Hoàn toàn không thể! Cao Hỏa trưởng đã trông thấy Thi Thương tào tiến vào rồi rời khỏi phòng của Quả nghị Đô úy Tô Văn Hổ, thậm chí y còn không đến gần trường kỷ của họ Tô nữa!”

Địch Công điềm đạm nói tiếp, “Thi Thương tào đi lên phòng của Quả nghị Đô úy đại nhân vào thời điểm trước giữa giờ Mùi một chút, ngay sau buổi thao luyện leo tường. Có nghĩa là hắn chỉ mặc độc một bộ tiết khố, và đi chân trần. Hắn không thể đem theo bất kỳ loại vũ khí nào, vả lại hắn cũng không cần phải mang theo. Bởi vì hắn biết Tô đại nhân có thói quen quẳng bao tên của mình vào trong hốc cửa sổ, và kế hoạch của hắn là chộp lấy một mũi tên rồi đâm chết Tô đại nhân khi ông ta đang ngủ.”

“Thế nhưng, lúc Thi Thành Long bước vào thì lại trông thấy Tô đại nhân đã thức giấc. Ông ta mang ủng và đang đứng trước trường kỷ, lại mặc bộ giáp ngoài. Vì thế, Thi Thành Long không thể đâm chết Tô đại nhân theo kế hoạch đã trù tính. Nhưng rồi hung thủ nhìn thấy một mũi tên rơi ra khỏi bao đựng và nằm lay lắt trên sàn nhà chĩa về phía Tô đại nhân. Thi Thành Long giẫm lên nó, dùng ngón chân cái và ngón chân trỏ kẹp lấy mũi tên, và với một cú đá đầy mãnh lực đã phóng nó bay thẳng vào phần bụng không được bảo hộ của Tô đại nhân. Cùng lúc ấy, hắn diễn trò cho họ Mạnh xem, phòng khi y đang nhìn ra ngoài cửa sổ võ khố; hắn vẫy tay và bắt đầu hét toáng lên - nhằm át đi những tiếng kêu la của nạn nhân khi Tô đại nhân ngã ngửa xuống trường kỷ. Khi chắc chắn nạn nhân đã tử vong, hắn đi ra ngoài và gọi lính canh. Sau đó, lúc trở lại phòng cùng Phương Đô úy và Mao Binh tào, hắn nhét dấu triện của Quả nghị Đô úy vào trong ngăn kéo của án thư giữa lúc tình hình xung quanh đang hỗn loạn. Chuyện đã được xử lý gọn ghẽ; nhưng hắn đã coi nhẹ duy chỉ một việc, cụ thể là người chết sẽ bị phát hiện là vẫn còn mang ủng. Điều đó gợi ý cho ta rằng Tô Văn Hổ không bị sát hại trong khi ngủ. Việc ông ta mặc nguyên bộ giáp trên người trong khi chợp mắt cũng là chuyện dễ hiểu, vì việc cởi nó ra cũng khá mệt. Nhưng ông ta đã ném mũ sắt lên án thư, và hẳn là ông ta cũng phải cởi ủng ra trước khi nằm xuống.”

Địch Công ngừng lại. Bây giờ, mọi con mắt đều đổ dồn lên Thi Thương tào. Hắn trao cho Địch Công một ánh nhìn khinh khỉnh và hỏi với vẻ nhạo báng:

“Vậy ngài định chứng minh cho cái giả thuyết kỳ lạ ấy như thế nào?”

“Ngay lúc này,” Địch Công bình thản đáp, “bằng sự thật là ngươi có một vết xước tệ hại ở đầu ngón cái của bàn chân phải. Do ở chỗ mũi tên nằm lúc ấy, có cạnh sắc của một đầu đinh nhô lên từ các tấm ván sàn. Đầu đinh làm rách dải băng đỏ quấn quanh cán tên lúc ngươi đá nó lên, và đồng thời cũng làm cho ngón chân ngươi bị trầy xước. Những vết máu nhỏ tạo thành đốm nâu. Bằng chứng cuối cùng lát sau sẽ có mặt ở đây, khi họ Phác và họ Doãn bị bắt giữ, và cả văn thư giả mạo bị phát hiện ra ở Bộ Binh.”

Gương mặt Thi Thành Long trở nên tím tái, môi hắn co rúm lại. Nhưng rồi hắn trấn tĩnh và cất giọng bình thản, “Ngài không cần phải đợi đâu. Chính ta đã giết chết Tô Văn Hổ. Thi mỗ nợ nần chồng chất và rất cần ngân lượng. Trong vòng mười ngày tới, ta sẽ cáo ốm xin nghỉ, và không bao giờ quay trở lại nữa. Ta không có ý định giết họ Tô. Ta đã hy vọng vật có thể về cố chủ bằng cách để lại ấn triện trên án thư của hắn. Vậy mà hắn lại phát hiện việc ấn triện mất tích quá sớm, thế nên ta quyết định phải tiên hạ thủ vi cường, dùng mũi tên đâm chết họ Tô lúc hắn đang ngủ. Nhưng lúc đi vào thì ta lại thấy hắn đã thức dậy, rời giường và đang đi tới lui. Hắn quát vào mặt ta, ‘Bây giờ ta đã xác thực được nghi ngờ của mình, chính ngươi đã trộm ấn triện của ta!’ Ta nghĩ mình thất bại rồi, vì việc giải quyết họ Tô chỉ bằng một mũi tên là một vấn đề khó khăn, và nếu họ Mạnh ngó ra ngoài cửa sổ thì y sẽ nhìn thấy trận xung đột của bọn ta. Rồi ánh mắt của ta chạm phải mũi tên đang nằm lay lắt trên sàn nhà, và ta đã đá tung nó lên phóng vào bụng của họ Tô.”

Hắn lau mồ hôi trên trán và kết lại rằng, “Thi Thành Long này chết không hối tiếc, vì Tô Văn Hổ là một tên khốn ti tiện. Mạnh huynh đệ, ta hối hận đã khiến ngươi thành kẻ chịu tội thay, nhưng cũng chẳng thể làm được gì khác. Đó là tất cả câu chuyện!”

Đô úy đứng dậy. “Hãy giao nộp kiếm của ngươi, Thi Thành Long!”

Khi họ Thi tháo sợi đai đeo kiếm của mình, hắn nói với Huyện lệnh vẻ chua chát, “Ông là một tay cáo già! Làm thế nào ông lần ra vết tích của ta?”

Địch Công nghiêm nghị đáp lời, “Chủ yếu nhờ thói quan liêu đó!”

« Lùi
Tiến »