Địch Gia Bát Án

Lượt đọc: 2721 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vũ dạ án

Thanh quan rời chốn kinh thành

Xuôi về tiểu huyện vô danh ẩn mình.

Hoàng Kim phá án tài tình

Địch đem tài trí dựng hình nước non.

Ngày xưa chân cứng đá mòn

Giờ đây bó gối đâu còn chí trai?

Bỗng đâu Vũ Thánh tác oai

Oan khiên một kẻ, nặng vai một người...

-Tùng Vũ-

---❊ ❖ ❊---

Câu chuyện thứ ba cũng lấy bối cảnh ở huyện Bồng Lai khoảng nửa năm sau. Trong thời gian đó, hai phu nhân của Địch Công và nhi tử của họ đã đến Bồng Lai, an cư tại tư gia của Huyện lệnh tọa lạc ở phía sau nha phủ. Ngay sau đó, Tào thị đã tới sống cùng Địch gia. Hồi 15 của tập Hoàng kim án đã mô tả chi tiết chuyện Địch Công giải cứu Tào thị khỏi một tình huống khủng khiếp. Khi Đại phu nhân của Địch Công gặp Tào thị, bà nhanh chóng quý mến nàng và trở thành bằng hữu tâm giao. Sau đó, vào một ngày mưa giữa thời điểm oi bức nhất mùa hè, đã xảy ra một vụ án kỳ lạ liên quan đến câu chuyện dưới đây.

“Cái rương này cũng chẳng được nốt!”

Đại phu nhân bình phẩm vẻ ghê tởm. “Nhìn mốc xám ăn dọc theo đường may của chiếc váy màu xanh này!” Bà đóng sầm nắp rương quần áo bằng da màu đỏ, đoạn quay sang Nhị phu nhân. “Tỷ chưa bao giờ thấy một mùa hè nóng nực, oi bức như thế này. Cả trận mưa lớn như trút nước đêm qua nữa! Tưởng chừng mưa sẽ không bao giờ ngừng. Giúp tỷ một tay, được chứ?”

Địch Công đang ngồi ở bàn uống trà cạnh cửa sổ mở toang của gian phòng ngủ rộng lớn, không tham gia vào công việc nhưng vẫn ngắm nhìn hai phu nhân của mình đặt rương quần áo xuống sàn nhà, rồi nhìn sang người thứ ba đang đứng giữa đống quần áo đó. Tào tiểu thư, bằng hữu và là tri kỷ tâm giao của Đại phu nhân, đang hong khô những chiếc áo choàng trên lò than bằng đồng thau nằm trong góc, phủ chúng lên tấm vỉ đồng bên trên những cục than hồng sáng rực. Sức nóng của lò than cùng hơi nước bốc lên từ quần áo đang hong khô khiến bầu không khí trong phòng gần như ngột ngạt không thể chịu nổi, nhưng ba nữ nhân dường như không cảm nhận được gì cả.

Thở dài, ông quay lưng lại và nhìn ra bên ngoài. Từ phòng ngủ ở tầng hai của dinh thự, Địch Công luôn có được tầm nhìn đẹp để phóng tầm mắt ngắm ra những mái nhà cong cong trong thành, nhưng bây giờ mọi thứ đều bị bao phủ trong một màn sương mù dày đặc, xám xịt như chì làm che mờ hết tất cả những đường nét của cảnh vật. Sương mù dường như đã ăn vào máu thịt, nở ra co lại phập phù theo nhịp đập huyết quản của ông. Giờ đây, trong thâm tâm ông rất hối tiếc về cơn bốc đồng đã khiến ông muốn có tấm trường bào xám chuyên mặc vào mùa hè. Yêu cầu đó đã khiến Đại phu nhân kiểm tra bốn rương quần áo, và bà phát hiện ra vải đã bị mốc. Bà ngay lập tức triệu hồi Nhị phu nhân và Tào tiểu thư. Bây giờ cả ba đang mải mê lao vào công việc của mình, rõ là không thiết gì đến trà sáng, và quên luôn cả bữa điểm tâm. Đây là lần đầu tiên họ trải qua tiết Đại thử ở Bồng Lai, do chỉ mới có bảy tháng kể từ ngày Địch Công bắt đầu nhậm chức Huyện lệnh ở chốn này. Ông duỗi thẳng chân, bởi đầu gối và bàn chân ông đã cảm thấy ê ẩm, sưng phồng lên. Tào tiểu thư ngừng lại và nhấc chiếc váy trắng khỏi lò than.

“Cái này đã khô hoàn toàn,” nàng thông báo. Khi Tào thị kiễng chân để treo nó lên giá, Địch Công nhận ra thân hình mảnh mai, cân đối của nàng. Đột nhiên ông hỏi Đại phu nhân, “Nàng không thể để tất cả việc này cho các nữ tì làm à?”

“Tất nhiên là được,” bà ngoảnh lại và trả lời. “Nhưng trước tiên thiếp muốn tự mình xem có bị hư hỏng gì không. Trời ơi, hãy nhìn cái áo choàng màu đỏ này đi, tiểu muội!” Bà quay sang phía Tào tiểu thư. “Mốc đã hoàn toàn ăn vào sợi vải! Mà muội luôn khen tỷ mặc chiếc váy này trông rất vừa vặn và xinh đẹp!”

Thình lình, Địch Công đứng bật dậy. Mùi huân hương và son phấn nhàn nhạt trộn lẫn với mùi quần áo ẩm ướt phảng phất đâu đây đã mang đến cho gian phòng nóng nực một bầu không khí ngập tràn hương vị nữ tính, đột nhiên gây khó chịu cho tâm trạng vốn dĩ đã căng thẳng của ông. “Ta đi ra ngoài tản bộ một chút nhé,” ông nói.

“Trước khi phu quân dùng trà buổi sớm sao?” Đại phu nhân hỏi. Nhưng đôi mắt của bà vẫn không rời khỏi những vết bạc màu trên chiếc váy đỏ trong tay mình.

“Ta sẽ quay lại dùng điểm tâm sau,” Địch Công lẩm bẩm. “Hãy đưa cho ta tấm trường bào màu lam đằng kia đi!” Tào tiểu thư giúp Nhị phu nhân khoác trường bào lên vai Địch Công và hỏi đầy vẻ quan tâm, “Y phục này chẳng phải là hơi quá dày trong thời tiết nóng nực hay sao?”

“Ít nhất thì nó cũng khô ráo,” ông nói cộc lốc. Cùng lúc đó, Địch Công thất vọng nhận ra Tào thị đã hoàn toàn đúng, lớp vải dày bám chặt vào tấm lưng ẩm ướt của ông như một bộ giáp kim loại đan khít. Ông lẩm bẩm một câu từ biệt và đi xuống cầu thang.

Địch Công nhanh chóng bước qua hành lang lờ mờ tối dẫn đến cánh cửa sau nhỏ bé của nha phủ. Ông mừng vì lão bằng hữu lâu năm và cũng là vị quân sư tin cẩn của mình, Hồng Sư gia vẫn chưa xuất hiện. Sư gia tường tận tâm ý của ông tới mức lão sẽ ngay lập tức cảm nhận được tâm trạng tồi tệ lúc này của Địch Công, và lão sẽ thắc mắc về tất cả những gì đã xảy ra.

Địch Công mở cánh cửa sau bằng chìa khóa riêng của mình và bước ra con phố hoang vắng, ẩm ướt. Tất cả chuyện này là gì, thực sự là gì? Ông tự hỏi mình khi xuyên qua màn sương ướt đẫm tiến về phía trước. Ôi, bảy tháng đầu tiên ông rời triều đình về nhậm chức tại địa phương thật đáng thất vọng, dĩ nhiên rồi. Vài ngày đầu rất thú vị, rồi xảy ra vụ sát hại Hồ phu nhân, và vụ án mạng ở quân trại. Nhưng sau đó thì chẳng còn gì để làm ngoài mấy công vụ thường nhật chán ngắt, khiến Địch Công chẳng thể nào vui nổi: những mẫu đơn phải điền, tài liệu cần sắp xếp, giấy phép cấp cho bách tính... Ở kinh thành, Địch Công cũng từng phải làm nhiều công việc giấy tờ, nhưng tất thảy đều là những chuyện quan trọng. Hơn nữa, huyện này không thực sự đặt dưới quyền cai quản của ông. Toàn bộ khu vực tính từ phía Bắc sông là vùng chiến lược, thuộc quyền sinh quyền sát của quân đội. Và khu phố Cao Câu Ly bên ngoài cổng Đông thành cũng có quyền tự trị riêng. Ông giận dữ đá một hòn cuội, rồi bật ra một tiếng chửi thề. Cái thứ trông giống hòn cuội kia thực ra lại là phần chóp của một tảng đá lát đường, và ngón chân ông cực kỳ đau đớn. Ông phải đưa ra quyết định về Tào tiểu thư. Đêm hôm trước, khi đang cùng nhau ái ân mặn nồng trên chiếc trường kỷ uyên ương, Đại phu nhân lại lần nữa thúc giục ông lập Tào thị làm Tam phu nhân. Bà và Nhị phu nhân đều cảm mến Tào thị, bà đã nói thế, còn chính bản thân Tào tiểu thư cũng chẳng mong mỏi gì hơn. “Bên cạnh đó,” với sự bộc trực thường thấy, Đại phu nhân nói thêm, “nhị muội là một nữ nhân tốt nhưng muội ấy không phải là con nhà gia giáo, và nếu có được một nữ nhân thông minh, học cao hiểu rộng như Tào tiểu thư ở đây sẽ khiến cuộc sống của mọi người đều trở nên tốt đẹp hơn.” Nhưng nếu như Tào thị chỉ muốn lấy thân báo đáp vì Địch Công đã cứu nàng thoát khỏi vũng bùn lầy của số phận? Một mặt, chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu ông không thích nàng nhiều đến vậy. Mặt khác, có công bằng không khi kết hôn với một nữ nhân mà mình không thực sự yêu mến? Là một Huyện lệnh, ông được quyền có bốn thê thiếp, nhưng cá nhân ông giữ quan điểm rằng hai nữ nhân quán xuyến gia đình đã là đủ, trừ khi họ đều không thể sinh hạ hài tử để hương khói mai sau cho Địch gia. Thật khó nghĩ và khiến người ta bối rối. Ông kéo áo choàng sát thân mình hơn, vì trời đã bắt đầu mưa rả rích.

Ông thở phào khuây khỏa khi nhìn thấy những bậc thang rộng đưa lối lên đến miếu Khổng Tử. Tầng thứ ba của ngôi tháp phía Tây đã được chuyển đổi thành một trà lâu nhỏ. Địch Công sẽ dùng trà sáng ở đó, rồi quay trở lại nha phủ.

Trong gian phòng hình bát giác trần thấp, một tiểu nhị ăn mặc nhếch nhác đang dựa lưng vào quầy thu ngân, cời củi cho bếp trà bé tẹo cháy to hơn bằng cái kẹp sắt. Địch Công hài lòng nhận thấy tiểu tử kia không nhận ra mình, vì ông không có tâm trạng để đón nhận sự cung kính nhã nhặn của kẻ khác vào lúc này. Ông gọi một ấm trà, một chiếc khăn khô và ngồi xuống chiếc bàn trúc đặt trước quầy.

Tiểu nhị trao cho ông một chiếc khăn lau không mấy sạch sẽ đặt trong cái giỏ trúc. “Vị khách quan này, xin chờ một chút. Nước sắp sôi rồi.” Sau khi Địch Công lau khô bộ râu dài bằng chiếc khăn, tiểu nhị tiếp tục, “Khách quan dậy sớm thế này, chắc là đã nghe nói về chuyện mới phát sinh ngoài kia chứ.” Y chỉ ngón tay cái vào cánh cửa sổ đang mở tung, và khi Địch Công lắc đầu, y hí hửng tiếp tục, “Đêm qua, một kẻ đã bị băm thành nhiều mảnh tại tòa tháp canh bỏ hoang ngoài đầm lầy.”

Địch Công mau chóng đặt chiếc khăn xuống.

“Một vụ án mạng ư? Làm sao ngươi biết?”

“Tiểu tử bán tạp hóa kể cho ta nghe, thưa ngài. Y đến đây để giao hàng lúc ta đang cọ sàn. Khi bình minh, nó đã đến tháp canh để thu mua trứng vịt của nha đầu ngốc sống trên đó, và y đã trông thấy đống hỗn độn ấy. Nha đầu kia thì đang ngồi thu lu một góc và khóc. Chạy vội trở lại thành, tiểu tử đó đã bẩm báo sự việc với chấp pháp vệ ở đồn gác, sau đó Đội chính liền đi tới tòa tháp cổ cùng với vài thuộc hạ. Nhìn kìa, họ ở kia!”

Địch Công đứng dậy và đến bên cửa sổ. Từ vị trí quan sát thuận lợi này, ông có thể nhìn thấy qua đầu tường thành lởm chởm lỗ châu mai là một khoảng không gian xanh mướt mênh mông của vùng đầm lầy um tùm lau sậy, và xa hơn về phía Bắc, trong vùng sương mù, là màu nước xám xịt của dòng sông chảy lượn lờ. Một con đường lát đá đi từ bến tàu ở phía Bắc thành hướng thẳng tới tòa tháp bằng gạch, vốn đã bị thời tiết hủy hoại, trơ trọi đứng giữa đầm lầy. Vài chấp pháp vệ đội mũ sắt chóp nhọn đang đi tuần trên con đường dẫn tới đồn gác đứng bơ vơ giữa tòa tháp và bến tàu.

“Có phải nam nhân bị sát hại là một binh sĩ không?” Địch Công hỏi nhanh. Mặc dù khu vực Bắc thành thuộc thẩm quyền của quân đội, nhưng bất kỳ tội ác nào liên quan đến thường dân đều phải được chuyển đến cho nha phủ.

“Có lẽ vậy. Nha đầu ngốc đó bị câm điếc, nhưng cũng có chút nhan sắc. Có thể là một tên lính đã đi lên tháp để tâm sự với ả, nếu khách quan hiểu ý ta. A, nước sôi rồi!”

Địch Công căng mắt ra nhìn. Bấy giờ hai chấp pháp vệ đang cưỡi ngựa đi từ đồn gác vào thành, những con ngựa của họ bắn nước tung tóe làm ngập hết một phần con đường vốn được đắp nổi lên.

“Trà của ngài đây, thưa khách quan! Cẩn thận, chén rất nóng. Ta sẽ để nó ở đây, trên bậu cửa cho ngài. Không, nghĩ lại thì kẻ bị giết không phải binh sĩ đâu. Tiểu tử bán tạp hóa nói rằng nạn nhân là một lão thương nhân đang sống gần cổng Bắc thành - y từng nhìn thấy lão nhưng không rõ danh tính. À, chấp pháp đội sẽ nhanh chóng tóm được kẻ sát nhân thôi. Họ rất cứng rắn và bền bỉ mà!” Y hào hứng thúc khuỷu tay vào Địch Công. “Ngài đây rồi! Ta vừa nói với ngài rằng họ rất bền bỉ phải không? Ngài có thấy kẻ đang bị xiềng xích mà họ đang kéo lê từ đồn gác về không? Hắn mặc y phục màu nâu của ngư dân. Ôi, bây giờ họ sẽ giải hắn đến quân trại, và.. .”

“Họ sẽ chẳng làm được như thế đâu!” Địch Công giận dữ cắt ngang. Ông vội vã nhấp một ngụm trà đến nỗi làm bỏng miệng mình. Ông chi trả ngân lượng và lao xuống tầng dưới. Một thường dân sát hại một thường dân khác, đó rõ ràng là một vụ án của huyện nha! Đây là dịp tốt để nói cho quân trại biết chính xác đâu là điểm dừng của họ! Một lần và mãi mãi.

Tất cả sự thờ ơ đã dần tiêu tan trong ông. Địch Công thuê một con ngựa của gã thợ rèn ở góc phố, nhảy lên yên và giục vó buông cương thẳng tiến cổng Bắc thành. Các tuần đinh ném cái nhìn kinh ngạc về phía kỵ sĩ nhếch nhác với chiếc mũ đội xệ trên đầu. Nhưng rồi họ nhận ra Huyện lệnh của mình và nhanh chóng dàn đội hình xếp ngay hàng thẳng lối. Địch Công xuống ngựa và ra hiệu cho trương tuần đi theo ông vào đồn gác bên cạnh cổng thành. “Sự hỗn loạn xảy ra ở ngoài đầm lầy kia là chuyện gì vậy?,” ông hỏi.

“Một nam nhân được phát hiện đã bị sát hại trong tòa tháp canh bỏ hoang, thưa đại nhân. Chấp pháp quân đã bắt giữ hung thủ rồi; giờ họ đang thẩm vấn hắn trong đồn gác. Thuộc hạ đang chờ họ xuống bến tàu.”

Địch Công ngồi xuống chiếc trường kỷ bằng trúc và trao cho trương tuần vài đồng bạc. “Bảo người của ngươi đi mua cho ta hai chiếc bánh khô dầu!”

Những chiếc bánh khô dầu mới ra lò dậy mùi hành tỏi thơm phức, nhưng Địch Công không thấy ngon mấy, mặc dù ông đang đói. Trà nóng đã làm bỏng lưỡi ông, còn đầu óc của ông đang bận bịu vì sự lạm dụng quyền lực của bộ máy quân sự. Ông phiền muộn ngẫm nghĩ rằng ở chốn kinh thành, người ta không phải đối mặt với những vấn đề khó chịu như vậy. Nơi đó, các điều luật chi tiết ấn định chính xác phạm vi thẩm quyền của mỗi chức vụ, dù phẩm hàm là cao hay thấp. Khi ông vừa ăn xong bánh khô dầu thì trương tuần bước vào.

“Chấp pháp đội đang áp giải phạm nhân đến đồn gác của họ trên bến tàu, thưa đại nhân.”

Địch Công bật dậy. “Dẫn bốn nam nhân đi theo ta!”

Tại bến tàu trên sông, một làn gió nhẹ hiu hiu đang xua tan màn sương mù. Trường bào của Địch Công ẩm ướt bết chặt vào vai ông. “Đây đúng là loại thời tiết dễ khiến người ta bị phong hàn,” ông lẩm bẩm. Một tên lính gác mặc nhung y võ phục gọn gàng dẫn ông vào gian tiền sảnh trống trải của đồn gác.

Ở phía sau, một nam nhân cao lớn, mặc giáp trụ đan kết bằng kim loại, đầu đội chiếc mũ chóp nhọn của chấp pháp vệ, đang ngồi đằng sau chiếc án thư bằng gỗ sần sùi. Gã miệt mài viết một mẫu đơn công vụ, cây bút lông đưa lên những nét chữ chậm chạp.

“Ta là Huyện lệnh Địch Nhân Kiệt,” ông bắt đầu lên tiếng. “Ta yêu cầu được biết...” Đột nhiên ông khựng lại. Đội chính đã ngước nhìn lên. Nổi bật trên khuôn mặt gã là một vết sẹo trắng khủng khiếp chạy dọc theo má trái, ngang qua miệng. Đôi môi méo mó của gã khuất dưới hàng ria mép lởm chởm. Trước khi Địch Công kịp trấn tĩnh lại sau cơn choáng váng này, Đội chính đã đứng dậy. Gã nhã nhặn hành lễ và nói nhanh gọn, dứt khoát:

“Địch Huyện lệnh đến rất đúng lúc. Ty chức vừa hoàn thành bản báo cáo của mình cho ngài.” Chỉ tay vào chiếc cáng được phủ một tấm chăn nằm lay lắt dưới sàn nhà ở góc phòng, gã nói thêm, “Đó là thi thể nạn nhân, còn hung thủ đang bị giam trong hậu thất bên đó. Hắn là một ngư dân, nên theo lệ hẳn là ngài muốn hắn được áp tải đến đại lao của nha phủ?”

“Đúng thế, dĩ nhiên rồi,” Địch Công đáp lời, vẻ không nhiệt thành cho lắm.

“Được lắm.” Đội chính gấp tờ giấy đã viết lại và trao cho Địch Công. “Xin mời đại nhân an tọa. Nếu ngài có một chút rảnh rỗi, ty chức muốn được trực tiếp kể cho ngài nghe về vụ án.”

Địch Công lấy một cái ghế để ngồi xuống cạnh án thư và ra hiệu cho Đội chính cùng an tọa. Vuốt bộ râu dài, ông tự nhủ với bản thân rằng tất cả những điều này hóa ra lại hoàn toàn khác so với những gì mình mong đợi.

“Là thế này,” Đội chính bắt đầu, “ty chức nắm rõ vùng đầm lầy như lòng bàn tay. Nữ nhân câm điếc sống ở tòa tháp này là một kẻ ngốc nghếch và vô hại, vì vậy khi ty chức được báo rằng một nam nhân đã bị sát hại trong phòng của ả, ty chức liền nghĩ ngay tới một vụ hành hung, cướp của và giết người. Ty chức liền cắt cử thuộc hạ của mình đi lục soát quanh vùng đầm lầy giữa tòa tháp và bờ sông.”

“Tại sao chỉ riêng khu vực đó?” Địch Công xen ngang. “Án mạng cũng có thể xảy ra trên đường, phải không? Sau đó, hung thủ mới giấu thi thể vào trong tòa tháp?”

“Không, thưa đại nhân. Đồn gác của ty chức nằm ở giữa đoạn đường từ bến tàu tới tòa tháp cũ. Từ đó, chấp pháp đội luôn được lệnh giám sát con đường suốt cả ngày để ngăn chặn các gian tế Cao Câu Ly ra vào thành. Và bọn họ cũng tuần tra trên đường cả ban đêm. Tiện đây, ty chức xin thưa, đó là con đường độc đạo băng qua đầm lầy. Vùng đất hiểm trở ấy, bất cứ ai cố gắng vượt qua đều có nguy cơ bị sa vào bùn lầy hay cát lún, để rồi sẽ chết đuối. Hiện giờ, chấp pháp đội phát hiện thấy thi thể vẫn còn ấm, nên kết luận nam nhân ấy mới bị sát hại chỉ vài canh giờ trước lúc bình minh. Do không ai băng qua đồn gác ngoài tiểu tử bán tạp hóa, nên theo đó có thể luận ra nạn nhân và hung thủ đều đến từ phía Bắc. Có một lối mòn xuyên qua đám lau sậy từ tòa tháp đến bờ sông, và kẻ quen thuộc địa hình có thể lẻn qua ngả đó mà không bị đám thuộc hạ của ty chức phát giác.” Đội chính vuốt râu, đoạn nói tiếp, “Nếu hắn qua mặt được các đội tuần tra bờ sông thì là vậy đó.”

“Và các thuộc hạ của ông đã bắt được hung thủ ở ven bờ sông?”

“Đúng vậy, thưa đại nhân. Bọn họ phát hiện một ngư dân trẻ tuổi, tên là Vương Tam Lang, đang lẩn trốn trên chiếc thuyền nhỏ của mình giữa đám cỏ lau, ngay phía Bắc của tòa tháp. Y đang cố giặt cái quần vấy máu của mình. Khi người của ty chức gọi y, y lập tức chống sào đẩy thuyền đi xa, cố gắng chèo lái ra giữa dòng sông. Các cung thủ đã bắn vài mũi tên dây cắm vào thuyền của y. Trước khi kịp nhận ra mình đang ở đâu thì y đã bị kéo ngược vào bờ, cả thuyền lẫn người. Kẻ này chối bỏ mọi liên quan với nam nhân đã tử nạn trong tòa tháp, khăng khăng mình đang trên đường mang cho thiếu nữ câm điếc một con cá chép lớn, và máu đã dính lên quần y khi y làm cá. Y đang chờ bình minh để tới thăm nha đầu ấy. Chấp pháp quân đã lục soát người y, và tìm thấy thứ này trong dây đai của y.”

Đội chính mở một gói giấy nhỏ ra trên án thư và cho Huyện lệnh thấy ba lượng bạc sáng loáng. “Chấp pháp đội đã nhận dạng thi thể bằng những tấm bái thiếp.” Gã lắc tay dốc một phong bì lớn ra bàn. Ngoài một xấp bái thiếp, còn có hai chìa khóa, ít bạc lẻ, và một thẻ cầm đồ. Chỉ tay vào tấm thẻ, Đội chính tiếp tục lên tiếng, “Mảnh giấy đó nằm trên sàn nhà, sát ngay nạn nhân. Chắc hẳn nó đã rơi ra từ áo của lão. Nạn nhân là Chung Mộ Kỳ, một chủ một tiệm cầm đồ lớn và khá nổi tiếng ngay bên trong cổng Bắc thành. Đó là một nam nhân giàu có. Sở thích của lão là câu cá. Giả thuyết của ty chức là Chung Mộ Kỳ đã gặp Vương Tam Lang ở đâu đó trên bến tàu vào tối qua, và thuê hắn chèo thuyền đưa mình đi câu cá qua đêm trên sông. Khi họ đến một khu vực hoang vắng ở phía Bắc tòa tháp, họ Vương đã lừa gạt lão già kia vào trong tháp rồi hạ sát lão ta. Y trù tính giấu thi thể ở đâu đó trong tòa tháp vốn đã đổ nát, do nữ nhân kia chỉ sử dụng tầng hai - nhưng ả đã tỉnh dậy và bắt quả tang y giữa chừng. Vì vậy, y chỉ lấy bạc và bỏ đi. Đây chỉ là một giả thuyết, bởi nha đầu đó là nhân chứng vô giá trị. Người của ty chức đã cố khai thác thông tin từ ả, nhưng nữ nhân ấy chỉ viết nguệch ngoạc ra những từ vô nghĩa, rời rạc về thần mưa và bọn yêu tinh. Sau đó, ả lại nổi cơn điên loạn, bắt đầu vừa cười vừa khóc. Một nữ nhân ngốc nghếch đáng thương, chẳng thể làm hại gì được ai.” Gã đứng dậy, bước về phía chiếc cáng và nhấc tấm chăn lên. “Đây là thi thể nạn nhân.”

Địch Công cúi xuống một thi thể khô quắt gầy còm khoác tấm trường bào màu nâu đơn giản, ngực đọng từng tảng máu đông, ống tay áo phủ đầy bùn khô. Gương mặt trông thật bình an, nhưng vô cùng xấu xí: đầy nếp nhăn như đèn lồng, với cái mũi khoằm hơi lệch, và đôi môi mỏng dính nằm trên cái miệng quá lớn. Đầu lão để trần với mái tóc dài chớm hoa râm.

“Không phải là một bậc trượng phu khôi ngô tuấn tú,” Đội chính nhận xét. “Mặc dù ty chức nên là người cuối cùng đưa ra lời bình phẩm như vậy!” Một cơn co thắt khiến khuôn mặt vốn đã biến dạng của gã càng thêm méo mó. Đội chính nâng bờ vai của thi thể lên và cho Địch Công thấy vết đỏ lớn trên lưng. “Nguyên nhân tử vong là do bị một con dao đâm từ phía sau, chắc hẳn đã xuyên tim. Nạn nhân đang nằm ngửa trên sàn nhà, ngay bên trong cánh cửa phòng của nha đầu.” Đội chính buông phần thân trên của thi thể xuống. “Tên ngư dân đó cũng thật tàn độc. Sau khi hạ sát Chung Mộ Kỳ, y bắt đầu chém lên ngực và bụng của người xấu số thêm nhiều nhát. Ty chức nói là sau khi y sát hại họ Chung, vì như đại nhân đã thấy, những vết thương ở phía trước tuy chém sâu nhưng không chảy máu nhiều. À, còn vật chứng cuối cùng! Suýt chút nữa quên mất!” Gã kéo cái ngăn kéo trong án thư ra và mở một gói hình thuôn bọc giấy dầu. Trao cho Địch Công một con dao dài và mỏng, gã nói, “Thứ này được tìm thấy trong thuyền của Vương Tam Lang, thưa đại nhân. Y nói mình dùng nó để cạo vẩy cá. Không có vết máu trên đó. Nhưng y đang ở giữa sông, nên hẳn là y đã rửa sạch máu rồi! Thế đó, ấy là chuyện đã xảy ra, thưa đại nhân. Ty chức hy vọng họ Vương sẽ phải tâm phục khẩu phục để cung khai nhận tội. Ty chức biết cái loại tiểu tử lưu manh đó. Ban đầu chúng sẽ ngoan cố phủ nhận tất cả, nhưng sau một hồi thẩm vấn gắt gao, chúng liền suy sụp, không thể kiểm soát được bản thân nữa rồi sẽ phun ra hết thảy. Đại nhân còn ra lệnh gì nữa không ạ?”

“Đầu tiên, ta phải thông báo cho thân bằng quyến thuộc của Chung Mộ Kỳ để họ chính thức nhận dạng thi thể. Vì thế, bản quan...”

“Ty chức đã giải quyết chuyện đó, thưa đại nhân. Chung Mộ Kỳ góa vợ và hai nhi tử của lão đều đang sống ở chốn kinh thành. Thi thể vừa được Lâm Tự Xương chính thức nhận dạng. Hắn là đồng sự của nạn nhân, và cũng sống cùng với lão.”

“Ông và các thủ hạ của mình đã thực hiện công việc rất tuyệt vời,” Địch Công nói. “Hãy nói thủ hạ của ông chuyển giao phạm nhân và thi thể cho các tuần đinh mà bản quan mang theo.” Đứng dậy, Địch Công nói thêm, “Ta thực sự vô cùng cảm kích hành động ứng biến mau lẹ và hiệu quả của ông, Đội chính à. Đây là một vụ án dân sự, ông chỉ cần trình báo án mạng cho huyện nha và ông có thể để nó ở đó. Ông đã vượt ngoài phạm vi chức trách của mình để hỗ trợ bản quan và...”

Đội chính giơ tay lên làm một cử chỉ phản đối và nói với giọng uể oải lạ lùng, “Đó là một niềm vinh hạnh, thưa ngài. Ty chức là một trong những thuộc cấp của Mạnh Hiệu úy. Bọn ta sẽ luôn làm tất cả những gì có thể để tương trợ ngài. Tất cả bọn ta, luôn luôn.”

Cơn co thắt làm biến dạng khuôn mặt méo mó của gã hóa ra là một nụ cười. Địch Công quay trở lại đồn gác ở cổng Bắc thành. Ông đã quyết định sẽ ngay lập tức thẩm vấn phạm nhân ở đó, rồi tới hiện trường vụ án. Nếu ông chuyển giao cuộc điều tra cho huyện nha, manh mối có thể sẽ không còn mới nữa. Dường như đây là một vụ án khá đơn giản, rạch ròi, nhưng người ta không bao giờ biết được chắc chắn chuyện gì sẽ xảy ra.

Ông ngồi xuống chiếc bàn duy nhất trong tiền sảnh trống trải, nghiên cứu bản báo cáo của Đội chính. Nội dung của nó không khác biệt nhiều so với những gì mà gã vừa thuật với Địch Công. Danh tính đầy đủ của nạn nhân là Chung Mộ Kỳ, năm mươi sáu tuổi, thiếu nữ câm điếc có tên là Hoàng Oanh, tuổi vừa đôi mươi, còn tên ngư dân kia hai mươi hai tuổi. Địch Công lấy xấp bái thiếp và tấm thẻ cầm đồ từ ống tay áo mình ra. Bái thiếp ghi Chung Mộ Kỳ có nguyên quán Sơn Tây. Thẻ cầm đồ là một tờ giấy ghi nợ, được đóng dấu triện lớn màu đỏ của tiệm cầm đồ Chung ký; về bốn tấm trường bào gấm do Bùi thị cầm cố một ngày trước đó để đổi ba lượng bạc, sẽ được chuộc lại trong vòng ba tháng với lãi suất hàng tháng là năm phần trăm.

Trương tuần tiến vào, theo sau là hai lính gác khiêng cáng.

“Hãy đặt nó xuống đằng kia, ở trong góc,” Địch Công ra lệnh. “Ngươi có biết nữ nhân câm điếc sống trong tháp canh không? Đội chính chỉ ghi tên của ả là Hoàng Oanh.”

“Vâng, thưa đại nhân, ả được gọi như vậy. Ả vốn là một cô nhi, được một bà lão bán trái cây gần cổng thành nuôi nấng, dạy ả ít chữ và một chút ngôn ngữ ký hiệu. Khi bà lão qua đời cách đây hai năm, nha đầu ấy chuyển đến sống hẳn trong tòa tháp bỏ hoang vì ả luôn bị đám tiểu tử bụi đời quấy rầy. Ả nuôi vịt ở đó và bán trứng. Mọi người gọi tên Hoàng Oanh để chế nhạo ả câm, và biệt danh ấy gắn chặt với ả từ đó.”

“Được rồi. Giải phạm nhân đến trước mặt ta.”

Các tuần đinh quay trở lại, áp giải một thanh niên thấp lùn, thân hình rắn rỏi. Mái tóc rối bù của y xõa xuống hàng lông mày nhăn nhó trên gương mặt ngăm đen giận dữ. Chiếc áo tơi và quần dài màu nâu được vá chằng vá đụp nhiều chỗ một cách vụng về. Hai tay y bị xích lại sau lưng, thêm một vòng dây xích mỏng quấn quanh cái cổ thô lậu trần trụi. Đám lính canh ấn y khuỵu gối quỳ xuống trước mặt Huyện lệnh.

Địch Công trầm ngâm quan sát y một lúc, băn khoăn chọn cách tốt nhất để bắt đầu cuộc thẩm vấn. Chỉ còn tiếng mưa tí tách rơi bên ngoài, và hơi thở nặng nề của phạm nhân. Địch Công lấy ra ba lượng bạc từ ống tay áo của mình.

“Ngươi lấy bạc này ở đâu?”

Tên ngư dân trẻ tuổi lẩm bẩm điều gì đó bằng thứ thổ ngữ nặng nề mà Địch Công hoàn toàn không hiểu gì. Một tuần đinh đá y một cú và gầm gừ, “Nói to hơn!”

“Đó là khoản tích trữ của ta, dành để mua một chiếc thuyền mới, không ngờ lại bị đám cướp đường này lục soát lấy mất.”

“Lần đầu tiên ngươi gặp Chung Mộ Kỳ là khi nào?”

Vương Tam Lang bật ra một tràng dài những câu chửi rủa tục tĩu. Tuần đinh đứng bên cạnh phải ngăn kẻ ngông cuồng này lại bằng cách dùng bản kiếm đánh lên đầu hắn. Họ Vương lắc đầu, rồi nói một cách mơ hồ, “Chỉ biết mặt họ Chung vì lão thường quanh quẩn tới lui ở bến tàu.” Đột nhiên y hằn học nói tiếp, “Nếu từng gặp lão, chắc ta đã giết con lợn bẩn thỉu, tên lừa đảo khốn nạn ấy...”

“Họ Chung đã lừa gạt ngươi khi ngươi cầm đồ trong tiệm của lão phải không?” Địch Công hỏi nhanh.

“Ta có thứ gì đáng để cầm cố hay sao?”

“Vậy tại sao ngươi lại gọi lão là tên lừa đảo?”

Vương Tam Lang ngước lên nhìn Huyện lệnh. Địch Công nghĩ mình bắt gặp một tia sáng xảo quyệt lóe lên trong đôi mắt ti hí đỏ ngầu của y. Y lại cúi đầu và đáp với giọng rầu rĩ:

“Bởi vì tất cả những kẻ mở tiệm cầm đồ để hút máu người đều là bọn lừa đảo.”

“Ngươi đã làm gì đêm qua?”

“Ta đã khai với chấp pháp đội rồi. Ăn một bát mì tại quầy hàng trên bến tàu rồi đi ra sông. Sau khi bắt được một con cá lớn, ta neo thuyền trên bờ Bắc của tòa tháp và chợp mắt một giấc. Ta định khi trời sáng sẽ mang cá đến tháp cho Hoàng Oanh tiểu thư.”

Có điều gì đó trong cách y phát âm tên nữ nhân kia khiến Địch Công chú ý. Ông chậm rãi nói, “Ngươi phủ nhận việc đã sát hại lão chủ tiệm cầm đồ. Vậy thì, lúc đó chỉ có Hoàng Oanh ở trong tháp, nên chắc chắn chính ả đã hạ sát họ Chung.”

Bất thình lình, Vương Tam Lang nhảy dựng lên và lao về phía Huyện lệnh. Y di chuyển nhanh đến nỗi hai tuần đinh chỉ vừa kịp giữ y lại. Y đá họ, để rồi nhận lại một cú đánh vào đầu khiến y ngã ngửa về phía sau, dây xích đập loảng xoảng xuống sàn đá.

“Tên cẩu quan, đồ...”” y gào lên, cố gắng vùng vẫy chống chọi. Trương tuần phi một cước vào mặt khiến đầu y đập sầm xuống sàn đánh huỵch một tiếng. Y nằm ngay đơ, máu chảy ra từ khóe miệng bị rách.

Địch Công đứng dậy và cúi xuống xem xét thân hình bất động kia. Y đã bất tỉnh.

“Không được ngược đãi phạm nhân trừ khi các ngươi nhận được mệnh lệnh,” Huyện lệnh nghiêm khắc nói với trương tuần. “Đem y đi, tống vào đại lao. Sau đó ta sẽ chính thức thẩm vấn y trong phiên thăng đường buổi chiều. Ngươi hãy đưa thi thể đến nha phủ. Trình báo cho Hồng Sư gia và trao cho lão quân sư bản báo cáo do Đội chính đã soạn thảo. Nói với Sư gia rằng ta sẽ về nha phủ ngay sau khi thẩm vấn vài nhân chứng ở đây.” Ông nhìn ra cửa sổ. Trời vẫn còn mưa. “Lấy cho ta một tấm vải dầu!”

Trước khi Địch Công đi ra ngoài, ông trùm tấm vải dầu qua đầu và vai, rồi nhảy lên yên con ngựa vừa mới thuê. Ông cưỡi ngựa phóng dọc theo bến tàu và tiến vào con đường hiểm trở dẫn tới khu đầm lầy.

Sương mù đã dần tan đi một chút khi Địch Công giục ngựa buông cương trên lối đi. Ông tò mò nhìn vào không gian xanh mướt, hoang sơ hai bên đường. Những con mương hẹp uốn lượn quanh co xuyên qua đám lau sậy vương vãi trải rộng đây đó đổ ra những hồ nước lớn, hắt lên thứ ánh sáng xám nhạt mờ ảo. Một đàn chim nước đột ngột bay vút lên, mang theo những tiếng kêu lanh lảnh vang dội, kỳ quái vọng khắp đầm lầy hoang tàn. Ông nhận thấy nước đang rút xuống sau trận mưa xối xả tối qua; con đường giờ đã khô ráo, chỉ còn sót lại những mảnh bèo tấm to lớn bám chằng chịt trên mặt đất. Khi Địch Công sắp sửa vượt qua đồn gác, chấp pháp vệ hối hả ngăn ông lại, nhưng rồi họ lại để ông đi qua ngay khi trông thấy lệnh bài mà Địch Công giắt dưới ủng.

Tháp canh cũ kĩ là một tòa nhà năm tầng vuông vức, xù xì nằm trên một bệ nổi tạo thành từ những khối đá lớn được đẽo gọt thô ráp. Những cánh cửa chớp hình vòm rơi rụng vung vãi, và mái của tầng trên cùng đã sập xuống. Hai con quạ đen lớn đang đậu trên một thanh xà bị gãy.

Khi đến gần hơn, ông nghe thấy những tiếng kêu quang quác ầm ĩ. Vài chục con vịt đang túm tụm sát nhau cạnh ao bùn bên dưới chân tháp.

Khi Địch Công xuống ngựa và buộc chặt dây cương vào một cột đá phủ đầy rong rêu, những con vịt bắt đầu đạp nước tung tóe, quàng quạc kêu lên đầy phẫn nộ.

Tầng trệt của tòa tháp chỉ là một căn hầm thấp, tối tăm và trống trải, chẳng có gì ngoại trừ đống nội thất cũ kĩ đã hư hỏng nằm lăn lóc. Một chiếc cầu thang bằng gỗ hẹp, ọp ẹp dẫn lên tầng trên. Địch Công trèo lên, tìm điểm tựa để với tay trái bám vào bức tường ẩm ướt đầy nấm mốc, vì lan can cầu thang đã biến mất.

Khi ông bước chân vào một gian phòng trống trải, lờ mờ tối, có thứ gì đó chuyển động giữa đống giẻ rách chất đống trên tấm phản xù xì bên dưới khung cửa sổ hình vòm. Vài âm thanh khàn khàn vang lên từ dưới tấm chăn chắp vá lấm bẩn. Nhìn qua là có thể thấy căn phòng chỉ có một cái bàn thô sơ và chiếc ấm trà nứt vỡ, cùng một chiếc trường kỷ bằng trúc kê sát vách. Trong góc là cái bếp lò bằng gạch, trên đặt một cái chảo lớn; bên cạnh là cái giỏ mây đựng than. Mùi ẩm mốc và mồ hôi dơ dáy luẩn quẩn trong bầu không khí.

Đột nhiên cái chăn bị ném xuống sàn nhà. Một nữ nhân bán lõa thể với mái tóc dài, bù xù nhảy từ tấm phản gỗ xuống. Sau khi ngó nhìn Địch Công, nha đầu ấy lại phát ra vài âm thanh kỳ lạ, khàn khàn và vội vàng lẩn nhanh vào góc xa nhất của gian phòng. Rồi ả ngã khuỵu xuống, cuống cuồng run rẩy.

Địch Công nhận ra rằng ngoại hình của mình hiện nay không khiến người khác an lòng cho lắm. Ông nhanh chóng lấy lệnh bài từ ủng ra và bước về phía nha đầu đang co rúm lại vì run sợ. Ngón trỏ của Địch Công chỉ vào dấu triện lớn màu đỏ của nha phủ, đoạn ông chỉ vào chính mình.

Rõ là ả đã hiểu, thế là ả liền nhanh chóng nhổm dậy và nhìn chằm chằm vào ông. Đôi mắt to tròn toát lên nỗi sợ hãi của một con thú nhỏ bé đang run rẩy. Ả không mặc gì ngoài chiếc váy rách nát tả tơi, quấn quanh eo bằng một sợi dây rơm. Ả có thân hình cân đối, nảy nở với làn da trắng ngần làm ngỡ ngàng người đối diện. Khuôn mặt tròn trĩnh tuy dính bẩn, lấm lem nhem nhuốc nhưng vẫn không mất đi nét quyến rũ. Địch Công kéo chiếc trường kỷ lại gần bàn và ngồi xuống. Cảm thấy nên có một số cử chỉ quen thuộc để trấn an thiếu nữ đang sợ hãi này, ông lấy ấm trà và tu ừng ực từ vòi, như cách các nông phu vẫn làm.

Thiếu nữ tiến lại gần bàn, nhổ lên mặt bàn cáu bẩn và dùng ngón trỏ vẽ một vài ký tự xiên xẹo xấu xí. Chúng tạo thành câu chữ:

“Vương không giết lão.”

Quan án gật đầu. Ông rót trà lên mặt bàn và ra hiệu cho nha đầu lau sạch. Ả ngoan ngoãn đi tới bên giường, lấy một miếng giẻ rách và bắt đầu lau chùi bóng láng mặt bàn một cách vội vàng, háo hức. Địch Công bước về phía bếp lò và chọn vài cục than. Quay lại chỗ ngồi của mình, ông dùng than viết lên bàn:

“Ai đã giết lão?”

Ả rùng mình, cầm lấy cục than khác và viết:

“Hắc yêu tinh xấu xa.”

Nha đầu hào hứng chỉ vào những chữ đó, rồi lẹ làng viết nguệch ngoạc, “Yêu tinh xấu xa biến hóa Thần Mưa tốt bụng.”

“Ngươi đã trông thấy những con yêu tình?” Địch Công viết.

Ả dứt khoát lắc lắc cái đầu bù xù như tổ quạ của mình. Ả gõ ngón trỏ của mình liên tục lên từ hắc, rồi chỉ vào đôi mắt nhắm chặt của mình và lại lắc đầu. Địch Công thở dài. Ông viết:

“Ngươi biết họ Chung chứ?”

Ả lúng túng ngó nhìn những chữ ông viết, ngón tay ngậm trong miệng. Địch Công nhận thấy nha đầu này không biết ký tự Chung phức tạp. Ông gạch chéo nó và viết lão già.

Ả lại lắc đầu. Thể hiện nỗi ghê tởm, thiếu nữ khoanh tròn từ lão già và thêm vào, “Nhiều máu. Thần Mưa tốt bụng sẽ không đến nữa. Không có bạc cho Vương mua thuyền nữa.” Nước mắt nhỏ xuống gò má do dáy khi tay ả run rẩy viết, “Thần Mưa tốt bụng luôn ngủ với ta.” Nha đầu chỉ vào chiếc phản gỗ.

Địch Công trao cho ả một cái nhìn dò xét. Ông biết Thần Mưa đóng vai trò nổi bật trong văn hóa dân gian địa phương, do đó cũng là chuyện thường tình khi hình tượng đó hiện ra trong những giấc mơ và ám ảnh tính khí thất thường của thiếu nữ sớm già trước tuổi này. Mặt khác, ả đã đề cập đến bạc. Ông viết, “Thần Mưa trông như thế nào?”

Khuôn mặt tròn trĩnh của ả sáng lên. Nở một nụ cười rạng rỡ, ả viết ra những nét chữ lớn, vụng về, “Cao. Tuấn tú. Tử tế.” Ả khoanh tròn từng chữ một, rồi ném than lên bàn, ôm lấy bầu ngực trần của mình, bắt đầu cười khúc khích một cách đê mê.

Địch Công hướng ánh nhìn ngỡ ngàng, thảng thốt của mình đi nơi khác. Khi ông quay lại nhìn thiếu nữ lần nữa, ả đã buông xuôi hai tay và đứng đó nhìn thẳng trừng trừng về phía trước, đôi mắt long lanh mở to. Đột nhiên biểu hiện của ả lại thay đổi. Với một cử chỉ mau lẹ, nữ nhân chỉ tay vào cánh cửa sổ hình vòm và phát ra những âm thanh kỳ lạ. Ông quay lại. Một màu sắc mờ nhạt mong manh hiện ra trên bầu trời âm u xám xịt. Dấu vết của cầu vồng! Ả nhìn chằm chằm vào nó trong niềm vui sướng ngây ngô của trẻ thơ, đôi môi hơi hé mở. Địch Công cầm lên một cục than và đưa ra câu hỏi cuối cùng:

“Khi nào thì Thần Mưa đến?”

Ả nhìn chằm chằm vào những từ này một hồi lâu, những ngón tay lơ đãng chải những lọn tóc dài bết của mình. Cuối cùng, Hoàng Oanh cúi xuống bàn và viết:

“Đêm tối và mưa nhiều.” Ả lại khoanh tròn các từ tối mưa, sau đó thêm vào:

“Người đến trong màn mưa.”

Bất thình lình, Hoàng Oanh đưa bàn tay lên che mặt và bắt đầu khóc nức nở. Âm thanh trộn lẫn với tiếng kêu quang quác náo động của đàn vịt bên dưới. Nhận ra ả không thể nghe thấy tiếng vịt kêu, Địch Công đứng dậy và đặt tay lên bờ vai trần của thiếu nữ. Khi ả ngẩng đầu lên, ông kinh ngạc trước tia sáng yếu ớt lập lòe hoang dại, nửa điên nửa tỉnh trong đôi mắt to tròn ngây ngô đó. Ông nhanh chóng vẽ một con vịt lên bàn, và thêm vào từ “đói”. Thiếu nữ siết chặt tay bụm miệng lại và chạy đến bên bếp lò.

Địch Công xem xét kĩ lưỡng những phiến đá lát đường ở phía trước lối vào. Ông thấy có một khoảng trống sạch sẽ trơ trọi trên sàn nhà dơ bẩn phủ đầy bụi. Rõ ràng thi thể của nam nhân xấu số từng chơ vơ nằm đó, và chấp pháp đội đã quét dọn sạch sẽ rồi. Địch Công phiền muộn nhớ lại những suy nghĩ không hay của mình về họ. Âm thanh chặt chém khiến ông quay lại. Nha đầu kia đang cắt những chiếc bánh gạo đã ôi thiu thành nhiều miếng trên một chiếc thớt thô sơ cũ kĩ. Địch Công cau mày lo lắng nhìn dáng vẻ sử dụng con dao bếp to bản rất khéo léo của thiếu nữ. Đột nhiên, ả đẩy mũi dao sắc nhọn dài ngoằng vào trong giá, đoạn đổ những chiếc bánh gạo xắt nhỏ vào cái chảo đặt trên bếp lò. Hoàng Oanh ngoái lại, gửi cho Địch Công một nụ cười hạnh phúc viên mãn. Ông gật đầu với thiếu nữ và đi xuống chiếc cầu thang ọp ẹp kêu cót két.

Mưa đã ngớt. Một màn sương mỏng mảnh đang tụ lại, vắt vẻo giăng ngang qua khu đầm lầy. Trong khi tháo dây cương, ông nói với những con vịt ồn ào:

“Đừng lo, bữa sáng của các ngươi sắp tới rồi!” Địch Công dong ngựa tiến về phía trước.

Sương mù dạt ra từ phía dòng sông. Những đám mây hình thù kỳ lạ đang bồng bềnh trôi nổi vắt qua đám lau sậy cao nghều nghệu, đâu đó tan ra thành những vệt dài vằn vện giống như xúc tu của một con thủy quái khổng lồ. Ông ước mình biết nhiều hơn về những tín ngưỡng cổ xưa đã bén rễ ăn sâu vào tâm tưởng của bách tính địa phương. Ở nhiều nơi, dân chúng vẫn sùng bái Hà Bá, các nông dân và ngư dân vẫn thường cúng tế ở ven sông. Rõ ràng những điều như thế đã và đang hiện hữu lớn lao trong tâm trí non nớt của thiếu nữ câm điếc kia, liên tục biến chuyển từ thực tại sang hư ảo, từ đời thường sang mộng mị hư vô, và không thể kiểm soát được bản ngã ham muốn ngày càng lớn dần lên trong một cơ thể đang nảy nở, đơm hoa kết trái của nữ nhi thường tình. Địch Công giục ngựa phi nước đại.

Trở lại cổng Bắc thành, ông bảo trương tuần đưa mình đến tiệm cầm đồ của Chung Mộ Kỳ.

Khi họ dừng lại trước cửa tiệm trông có vẻ phát đạt, trương tuần nói rằng tư gia của họ Chung nằm ngay trong con hẻm phía sau tiệm. Địch Công bảo trương tuần rằng y có thể quay về, rồi đích thân ông gõ vào cánh cổng sơn đen.

Một nam nhân mảnh khảnh, ăn mặc chỉnh tề mở cửa. Nhìn vị khách râu dài, ướt đẫm mồ hôi, hắn bối rối nói:

“Quý khách có vật gì muốn cầm cố? Cửa tiệm ở đầu hẻm, ta cũng đang chuẩn bị đến đó, có thể dẫn ngài đi.”

“Ta là Huyện lệnh,” Địch Công bảo hắn, vẻ mất kiên nhẫn. “Ta vừa mới từ hiện trường nơi Chung Mộ Kỳ bị sát hại tới đây. Chúng ta hãy vào bên trong, có vài món di vật của Chung chưởng quỹ ta muốn trao lại cho ngươi.”

Lâm Tự Xương cúi đầu thi lễ và dẫn đường đưa vị khách cao quý đến khách đường. Khách đường tuy nhỏ nhưng thoải mái, được bài trí theo phong cách cổ điển vô cùng trang nhã, ở giữa treo một cuộn tranh sơn thủy, hai bên là đôi câu đối thếp vàng, huân hương thơm ngát, tiếng chim líu lo. Hắn trịnh trọng mời Địch Công an tọa trên chiếc trường kỷ rộng rãi ở phía sau. Trong lúc gia chủ bảo lão bộc dâng trà và bánh ngọt, Địch Công tò mò ngó nhìn lồng chim lớn đặt trên chiếc bàn bằng gỗ tử đàn kê sát tường. Khoảng một tá chim tước đang đập cánh hót vang bên trong lồng.

“Chim chóc đều là do Chung lão gia nuôi nấng,” họ Lâm nói với một nụ cười hiền hòa. “Đó là sở thích của lão.”

Với bộ râu cằm được cắt tỉa gọn gàng cùng hàng ria mép nhỏ xám xịt, thoạt nhìn thì Lâm Tự Xương có vẻ chỉ là một chủ tiệm trung lưu điển hình. Nhưng quan sát kĩ càng hơn, Địch Công trông thấy những nếp nhăn hằn sâu quanh cái miệng mỏng dính của hắn cùng đôi mắt to, sẫm màu, chỉ ra đây là một nam nhân có tính cách dứt khoát. Địch Công đặt chén trà xuống và trịnh trọng bày tỏ sự cảm thông của mình đối với nỗi mất mát của tiệm. Sau đó, ông lấy một phong thư từ ống tay áo ra và dốc xuống những tấm bái thiếp, ít bạc lẻ, thẻ cầm đồ và hai chiếc chìa khóa. “Đây là tất cả, Lâm chưởng quỹ à. Đồng sự của ông có thường mang nhiều ngân lượng ở trong người không?”

Họ Lâm lặng lẽ liếc nhìn những đồ vật trên bàn. Hắn đưa tay vuốt râu, đoạn đáp:

“Bẩm không, thưa ngài. Kể từ khi hồi hưu an dưỡng tuổi già hai năm về trước, lão cũng không cần phải mang quá nhiều ngân lượng theo mình. Nhưng chắc chắn lão đã mang theo nhiều ngân lượng hơn thế này khi ra ngoài đêm qua.”

“Lão ra ngoài vào lúc nào?”

“Khoảng giờ Tuất, thưa ngài. Sau bữa tối, lão nói rằng muốn đi dạo dọc theo bến tàu một chút.”

“Họ Chung có thường xuyên làm vậy không?”

“Ồ có, thưa ngài! Chung lão gia trời sinh tính tình cô độc, ít nói. Sau cái chết của phu nhân hai năm về trước, lão thường ra ngoài tản bộ mỗi tối, và lúc nào cũng chỉ độc hành. Lão luôn dùng bữa tối tại thư phòng nhỏ của mình ở trên lầu, mặc dù thảo dân cũng sống ở đây, trong cùng gia trang này, ở mé bên trái. Tuy nhiên, đêm qua có một vấn đề về việc buôn bán cần thương nghị nên lão đã xuống ăn cùng với thảo dân.”

“Ông không có gia quyến sao, Lâm chưởng quỹ?”

“Không, thưa ngài. Thảo dân chưa bao giờ có thời gian để thành gia lập thất! Họ Chung góp vốn liếng, nhưng sự vụ kinh doanh thực tế của tiệm cầm đồ thì lão để phần lớn cho thảo dân giải quyết. Và từ khi hồi hưu, lão hầu như không đặt chân đến tiệm.”

“Ta hiểu rồi. Lại nhắc chuyện đêm qua, họ Chung có nói khi nào mình sẽ quay về không?”

“Không, thưa đại nhân. Gia nhân luôn được lệnh là không cần thức chờ lão. Chung lão gia là một ngư dân đầy nhiệt huyết. Nếu lão nghĩ thời tiết thích hợp để câu cá ở bến tàu, thì Chung lão gia sẽ thuê một chiếc thuyền và qua đêm trên sông.”

Địch Công chậm rãi gật đầu, “Chấp pháp đội đã bắt giữ một ngư dân trẻ tuổi là Vương Tam Lang. Chung chưởng quỹ thường thuê thuyền của y phải không?”

“Điều đó thì thảo dân không rõ, thưa ngài. Có nhiều ngư dân quẩn quanh ở bến tàu, như ngài thấy, và hầu hết bọn họ đều háo hức kiếm thêm một vài đồng bạc cắc. Nhưng nếu Chung lão gia thuê thuyền của Vương Tam Lang, thì thảo dân sẽ không ngạc nhiên khi lão gặp nạn, bởi họ Vương là một tên lưu manh hung tợn. Thảo dân cũng thích câu cá, nên thỉnh thoảng được nghe những ngư dân khác kháo nhau về họ Vương. Một tiểu tử không thân thiện, chẳng dễ dàng kết bạn.”

Lâm Tự Xương thở dài. “Thảo dân cũng muốn đi ra ngoài câu cá thường xuyên như Chung lão gia, chỉ là không có nhiều thời gian như vậy... Ôi, đa tạ đại nhân đã đưa những chiếc chìa khóa này tới đây. May mắn là họ Vương đã không đoạt lấy và vứt chúng đi! Chìa lớn hơn dùng cho thư phòng của Chung lão gia, chìa kia là của cái rương sắt cất giữ giấy tờ quan trọng của lão.” Hắn vươn tay ra để đón lấy chìa khóa, nhưng Địch Công đã mau lẹ cầm chúng lên và nhét vào trong ống tay áo.

“Bản quan đã tới đây rồi,” Địch Công nói, “thì sẽ xem xét các giấy tờ của họ Chung luôn. Đây là một vụ án mạng, và cho đến khi nó được giải quyết, thì tất cả di vật của nạn nhân tạm thời thuộc thẩm quyền cai quản, tùy nghi sử dụng của quan phủ nhằm tìm ra manh mối. Phiền Lâm chưởng quỹ dẫn ta đến thư phòng.”

“Dĩ nhiên rồi, thưa ngài.” Họ Lâm dẫn Địch Công đi lên một cầu thang rộng rãi và chỉ vào cánh cửa ở cuối hành lang. Địch Công dùng chiếc chìa khóa lớn hơn để mở cửa.

“Đa tạ Lâm chưởng quỹ. Bản quan sẽ xuống lầu gặp ông nhanh thôi.”

Lâm Tự Xương hiểu ý, cúi đầu thi lễ rồi đi xuống lầu chờ đợi. Địch Công bước vào thư phòng, khóa trái cửa sau lưng mình, đoạn bước tới đẩy cánh cửa sổ rộng và thấp mở bung ra. Những mái nhà lân cận lập lòe ánh sáng trong màn sương mù xám xịt. Ông quay người và ngồi xuống chiếc ghế bành rộng rãi đằng sau án thư làm việc bằng gỗ tử đàn đối diện cửa sổ. Sau khi nhìn qua chiếc rương bọc sắt nằm dưới sàn nhà, bên cạnh chiếc ghế, Địch Công ngả người ra sau và trầm ngâm quan sát cẩn trọng xung quanh mình. Thư phòng tuy nhỏ nhưng cực kỳ sạch sẽ, nội thất tuy cũ kĩ nhưng rất trang nhã. Trên những bức vách trắng tinh treo hai bức tranh phong thủy, trên chiếc bàn gỗ mun cứng cáp cạnh tường đặt một bình sứ trắng tinh tế, bên trong cắm một bó hoa hồng héo rũ. Một loạt sách có bìa bọc gấm được xếp gọn gàng trên kệ sách bằng tương phi trúc.

Khoanh tay lại, Địch Công không rõ thư phòng tuy xa hoa không đủ nhưng trang nhã có thừa, dường như thuộc về một nho sĩ hơn là một chủ tiệm cầm đồ này có liên quan gì với gian phòng tối tăm, trống trải trong tòa tháp canh tồi tàn, đổ nát, bốc mùi nghèo hèn, uể oải và tàn tạ kia hay không. Sau một hồi, ông lắc đầu, cúi xuống và mở chiếc rương. Những thứ bên trong cũng được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp như gian phòng: từng chồng tài liệu được buộc bằng một dải băng màu lục kèm theo nhãn khắc chữ. Địch Công chọn các chồng được đánh dấu là Thư từ cá nhân cùng với Giao dịch và biên nhận. Chồng giấy đầu tiên bao gồm vài bức thư quan trọng về đầu tư vốn liếng và thư tín gửi từ hai nhi tử của Chung Mộ Kỳ, chủ yếu là về công việc gia đình và hỏi ý kiến cũng như lời khuyên của lão. Lật nhanh và đọc lướt qua chồng giấy thứ hai, đôi mắt lão luyện của Địch Công ngay lập tức nhận ra người quá cố đã trải qua một cuộc sống cần kiệm, gần như là khắc khổ. Đột nhiên ông cau mày. Ông tìm thấy một biên lai màu hồng mang dấu triện của kỹ viện. Thời điểm là vào một năm rưỡi trước. Ông nhanh chóng lướt qua chồng giấy tờ và tìm thấy nửa tá biên lai tương tự, cái gần nhất đã cách đây sáu tháng. Rõ ràng là họ Chung, sau khi góa vợ, đã hy vọng tìm thấy niềm an ủi qua thứ tình yêu đánh đổi bằng vật chất, nhưng chẳng mấy chốc đã phát hiện ra đó chỉ là niềm vô vọng. Thở dài, Địch Công mở chiếc phong bì lớn lấy từ đáy rương. Nó được đề tựa Chúc thư và di nguyện. Ngày tháng là vào một năm trước, nội dung nói rõ tất cả điền sản của họ Chung - rất giá trị - sẽ được để lại cho hai nhi tử, cùng với hai phần ba gia tài của lão. Một phần ba còn lại, cùng tiệm cầm đồ, được di tặng cho Lâm chưởng quỹ nhằm ghi nhận sự phục vụ lâu dài và trung thành của hắn đối với tiệm.

Địch Công cất giấy tờ về chỗ cũ. Ông đứng dậy và bước tới kiểm tra tủ sách. Ông phát hiện ra ngoại trừ hai cuốn từ điển có nếp gấp ở góc, tất cả sổ sách còn lại đều là những bộ sưu tập thơ ca, các ấn phẩm hoàn chỉnh của hầu hết những thi nhân trữ tình tiêu biểu nhất thời xưa. Ông đọc lướt qua một quyển. Mỗi từ khó hiểu đều được chú thích bằng mực son, với nét bút non nớt, khá vụng về và lóng ngóng. Chậm rãi gật đầu, ông trả quyển sách về vị trí cũ. Phải, giờ đây Địch Công đã hiểu. Họ Chung đã dấn thân vào một ngành nghề không có chỗ cho những cảm xúc riêng tư, cụ thể là nghề cầm đồ. Gương mặt xấu xí của lão lại càng khiến cho cảm giác luyến ái lứa đôi, tâm linh tương hợp khó thành hiện thực. Thế nhưng, tận cùng trong sâu thẳm trái tim mình, Chung Mộ Kỳ là một nam nhân lãng mạn, khát khao những điều cao đẹp hơn trong cuộc sống, nhưng lại rất xấu hổ và tự ti về những mong ước cháy bỏng này. Dĩ nhiên, là một thương nhân, lão chỉ được thụ hưởng nền tảng giáo dục cơ bản, do đó họ Chung đã ra sức cố gắng để mở mang kiến thức văn chương của mình, đọc những bài cổ thi với một cuốn từ điển trong thư phòng này, và luôn khóa cửa cài then cẩn thận.

Địch Công lại ngồi xuống và lấy chiếc quạt xếp từ tay áo ra. Tự phe phẩy quạt cho bản thân, ông tập trung suy nghĩ về lão chủ tiệm cầm đồ kỳ lạ. Người đời chỉ có thể nhận ra bản tính nhạy cảm của nam nhân này qua tình yêu của lão dành cho loài chim, thể hiện qua những con chim tước ở tầng dưới. Cuối cùng, Địch Công đứng dậy. Chuẩn bị bỏ cây quạt vào ống tay áo, đột ngột ông khựng lại. Ông lơ đãng ngó nhìn chiếc quạt một lúc, rồi đặt nó lên án thư. Ngắm nhìn thư phòng lần cuối, Địch Công bước xuống cầu thang.

Gia chủ mời ông dùng thêm một chén trà nhưng Địch Công lắc đầu. Trao cho họ Lâm hai chiếc chìa khóa, ông nói, “Bản quan phải quay lại nha phủ bây giờ. Ta không tìm thấy thứ gì trong đống giấy tờ của họ Chung chỉ dấu cho thấy lão có bất cứ cừu nhân nào, nên ta nghĩ vụ án này chẳng có uẩn khúc gì đâu, chỉ là một vụ án mạng cướp của giết người. Đối với một nam nhân nghèo khổ, ba lượng bạc là cả một gia tài. Tại sao những con chim đó lại vỗ cánh kích động nháo nhào như vậy?” Ông đi lại gần cái lồng. “À, nước của chúng bẩn rồi. Ông nên bảo gia nhân thay nước đi, Lâm chưởng quỹ à.”

Lâm Tự Xương lẩm bẩm điều gì đó rồi vỗ tay. Địch Công mò mẫm trong tay áo. “Ta thật bất cẩn làm sao!,” ông thốt lên. “Ta để quên cây quạt ở thư phòng trên tầng rồi. Phiền Lâm chưởng quỹ đi lấy hộ ta được không?”

Ngay lúc họ Lâm vội vã chạy đến cầu thang, lão bộc tiến vào. Khi Địch Công bảo với lão rằng nước trong máng chứa của lồng chim nên được thay hàng ngày, lão lắc đầu và nói, “Tiểu nhân cũng bẩm với Lâm chưởng quỹ như vậy, nhưng ngài ấy không nghe. Không quan tâm đến lũ chim. Chung lão gia rất yêu quý chúng, ngài ấy...”

“Phải, Lâm chưởng quỹ đã kể cho ta nghe rằng đêm qua ông ấy đã tranh cãi với lão gia của ngươi về những con chim đó.”

“Ôi đúng vậy, thưa đại nhân, cả hai người bọn họ đều hơi quá kích động. Cãi nhau về chuyện gì vậy ạ, thưa đại nhân? Khi dọn cơm, tiểu nhân chỉ nghe loáng thoáng được vài từ về lũ chim.”

“Không quan trọng gì đâu,” Địch Công nói nhanh. Ông đã nghe tiếng bước chân của họ Lâm đi xuống cầu thang. “À, Lâm chưởng quỹ, đa tạ vì chén trà. Khoảng nửa canh giờ nữa, hãy đến công đường với những giấy tờ liên quan đến tài sản của Chung Mộ Kỳ. Chánh Lục sự sẽ giúp ông điền vào các mẫu đơn chính thức và đăng ký bản di chúc của Chung chưởng quỹ.”

Lâm Tự Xương đa tạ Huyện lệnh và kính cẩn tiễn ông ra cửa.

Địch Công bảo đám lính gác tại nha môn đem trả con ngựa đã thuê cho gã thợ rèn, rồi ông đi thẳng đến tư gia của mình ở phía sau công đường. Lão quản gia thông báo rằng Hồng Sư gia đang đợi trong thư phòng của Huyện lệnh. Địch Công gật đầu. “Bảo nô bộc rằng ta muốn tắm gội ngay bây giờ.”

Trong phòng thay y phục được lát ngói đen nằm sát ngay bên phòng tắm, Địch Công nhanh chóng cởi chiếc áo choàng ướt đẫm mồ hôi và nước mưa ra. Ông cảm thấy dơ bẩn cả trên cơ thể và trong tâm trí mình. Nô bộc xối nước lạnh lên người Địch Công và kỳ cọ mạnh tấm lưng trần. Nhưng chỉ sau khi nằm xuống cái hồ tràn bờ một hồi thì ông mới cảm thấy dễ chịu hơn. Rồi ông bảo nô bộc xoa bóp vai cho mình. Sau khi đã được chà xát, lau người khô ráo, ông khoác trường bào vải bông màu lam sạch sẽ tinh tươm vào, và đội chiếc mũ the đen mỏng lên đầu. Vận nguyên bộ y phục này, ông tản bộ tới chỗ ở của các phu nhân Địch gia.

Sắp sửa tiến vào căn phòng trong khu vườn, nơi các phu nhân thường ở đó cả buổi sáng, ông chợt dừng chân lại trong khoảnh khắc để tận hưởng khung cảnh yên bình. Hai phu nhân của ông vận những chiếc váy lụa mỏng thêu hoa, họ đang ngồi với Tào tiểu thư bên chiếc bàn sơn son phía trước cánh cửa trượt đang mở rộng. Ở bên ngoài, giữa những bức tường che chắn, hoa viên mở ra một không gian mát mẻ dễ chịu dưới bóng giả sơn, cùng những hàng dương xỉ và trúc xào xạc trong gió. Đây là thế giới của riêng ông, một nơi trú ẩn bình yên để Địch Công nương náu, lánh xa thế giới đầy rẫy sự tàn bạo phũ phàng, tha hóa luân thường đạo lý đáng ghê tởm bên ngoài kia mà công việc của ông là phải giải quyết mỗi ngày. Ông đã hạ quyết tâm phải giữ gìn cuộc sống gia đình hòa hợp được trọn vẹn trước sau, mãi mãi là vậy.

Đại phu nhân đặt khung thêu xuống và nhanh chóng tiến đến gặp ông. “Bọn thiếp đã đợi chàng về cùng dùng điểm tâm trong gần nửa canh giờ!” Bà nói với ông đầy vẻ trách móc.

“Thứ lỗi cho ta. Thực tế đã xảy ra rắc rối ở cổng Bắc thành và ta phải đích thân giải quyết ngay lập tức. Bây giờ ta phải lên công đường rồi, nhưng ta sẽ về dùng cơm trưa với các nàng.” Bà cung tiễn Địch Công ra cửa. Khi bà cúi chào, ông thấp giọng nói với Đại phu nhân, “Nhân tiện, ta sẽ làm theo lời khuyên của nàng về vấn đề mà chúng ta đã thảo luận tối qua. Hãy tiến hành những sắp xếp cần thiết.”

Nở một nụ cười hài lòng, Đại phu nhân cúi chào lần nữa, và Địch Công đi xuống hành lang dẫn đến công đường.

Địch Công tìm thấy Hồng Sư gia đang ngồi trên một chiếc ghế bành ở góc thư phòng của ông. Lão quân sư đứng dậy và chúc ông một buổi sáng tốt lành. Đề cập đến tập giấy tờ trong tay, Sư gia nói, “Lão phu cảm thấy nhẹ nhõm khi nhận được báo cáo này, thưa đại nhân, vì mọi người đang dần lo lắng về sự vắng mặt kéo dài của ngài ở đây! Lão phu đã cho giải phạm nhân vào đại lao, và thi thể nạn nhân đã được gửi trong nhà xác. Sau khi lão phu và Ngỗ tác cùng xem xét nó, Mã Vinh và Kiều Thái đã phi ngựa đến cổng Bắc thành để xem liệu ngài có cần sự trợ giúp nào hay không.” Địch Công ngồi xuống sau án thư. Ông ngó nhìn chồng hồ sơ với vẻ ngờ vực. “Có bất cứ sự vụ khẩn thiết nào trong số các văn thư mới đến không, lão Hồng?”

“Bẩm không, thưa đại nhân. Tất cả những giấy tờ đó đều chỉ liên quan đến những vấn đề quản lý thường nhật.”

“Tốt lắm. Giờ thì chúng ta sẽ dành cả phiên thăng đường buổi chiều cho vụ sát hại Chung Mộ Kỳ, chưởng quỹ tiệm cầm đồ.”

Sư gia gật đầu vẻ hài lòng. “Lão phu đã xem báo cáo của Đội chính, thưa đại nhân, cho rằng đây là một vụ án khá đơn giản. Và do chúng ta đã giam giữ cẩn thận nghi phạm vụ án mạng trong đại lao, nên...”

Địch Công lắc đầu. “Không, lão Hồng, ta không xem nó là một vụ án đơn giản như vậy đâu. Nhưng nhờ vào tài ứng biến nhanh chóng của chấp pháp đội, và cơ duyên may mắn đã đưa bản quan đến đúng lúc đúng chỗ, nên đã phát hiện ra một tầng uẩn khúc.”

Ông vỗ tay khi Bộ đầu tiến vào và cúi đầu hành lễ, Huyện lệnh ra lệnh cho y áp giải phạm nhân họ Vương đến diện kiến mình. Ông tiếp tục nói với Sư gia, “Ta hoàn toàn nhận thức được, lão Hồng à, rằng một Huyện quan phải thẩm vấn công khai bị cáo tại công đường. Nhưng đây không phải là một phiên thăng đường chính thức. Một cuộc trò chuyện nhằm định hướng vụ án thì đúng hơn.”

Trông Hồng Sư gia đầy vẻ nghi ngờ, nhưng Địch Công không hạ cố giải thích thêm gì nữa. Ông bắt đầu mở nhanh và đọc lướt qua mớ giấy tờ nằm trên án thư. Ông ngước lên nhìn khi Bộ đầu dẫn giải Vương Tam Lang vào bên trong. Xiềng xích đã được tháo ra khỏi người y, nhưng khuôn mặt ngăm đen của họ Vương trông vẫn giận dữ như trước. Bộ đầu ấn y khuỵu gối quỳ xuống, rồi đứng kèm phía sau lưng phạm nhân, tay lăm lăm cầm cây roi nặng trịch.

“Sự hiện diện của ngươi là không cần thiết, Bộ đầu,” Địch Công cộc lốc nói với y.

Bộ đầu đưa mắt nhìn qua Hồng Sư gia đầy lo lắng. “Đây là một tên côn đồ hung hăng, thưa đại nhân,” y dè dặt cất lời. “Y có thể...”

“Ngươi nghe ta nói chứ!” Địch Công ngắt lời.

Sau khi viên Bộ đầu chưng hửng lui ra, Địch Công dựa lưng vào ghế. Ông hỏi tên ngư dân trẻ với giọng điệu hòa nhã, thân mật, “Ngươi đã sống ở bến tàu bao lâu rồi, họ Vương kia?”

“Kể từ khi ta có thể nhớ được,” tiểu tử lầm bầm.

“Đây là một vùng đất kỳ lạ,” Địch Công chậm rãi nói với Hồng Sư gia. “Trong lúc cưỡi ngựa băng qua đầm lầy vào sáng nay, ta trông thấy những đám mây có hình thù kỳ quái đang lững lờ trôi dạt bồng bềnh, và những dải sương mù trông như những cánh tay dài ngoằng vươn lên chấp chới từ mặt nước, cứ như thể...”

Tiểu tử kia nãy giờ chăm chú lắng nghe. Đến đây y mau chóng ngắt lời:

“Tốt hơn là không nên nói về những thứ đó!”

“Phải, ngươi biết tất cả về những điều ấy. Vào những đêm dông bão, chắc chắn phải có nhiều thứ diễn ra ở vùng đầm lầy hơn những gì mà chúng ta, những người sống trong thành, có thể nhận ra.”

Họ Vương mạnh mẽ gật đầu. “Ta đã tận mắt thấy nhiều thứ.” Y hạ thấp giọng, “Tất cả chúng đều ngoi lên từ mặt nước. Một số có thể làm hại người, số khác lại cứu người chết đuối, đôi khi là vậy. Nhưng tốt hơn là tránh xa chúng, nên thế.”

“Chính xác! Thế nhưng, ngươi đã liều lĩnh can thiệp vào, họ Vương kia. Và xem điều gì đã xảy ra với ngươi bây giờ nào! Ngươi đang bị bắt giam, bị đấm đá, bị đánh đập, và giờ ngươi là một nghi phạm bị buộc tội sát nhân!”

“Ta đã nói là mình không giết lão ta rồi mà!”

“Phải. Nhưng ngươi có biết ai hay thứ gì đã giết lão không? Mà ngươi cũng đã đâm lão khi kẻ xấu số đã chết rồi. Vài lần.”

“Ta trông thấy...” Vương Tam Lang lẩm bẩm. “Nếu biết sớm hơn, có lẽ ta đã cắt cổ họng lão. Vì Vương mỗ chỉ mới thoáng thấy qua họ Chung, con chuột nhắt ấy...”

“Giữ mồm giữ miệng!” Địch Công cắt ngang lời y, giọng ông chói tai. “Ngươi chém người quá cố thêm nhiều nhát, đó là một hành động hèn hạ, thấp kém!” Ông tiếp tục cất lời, giọng bình tĩnh hơn, “Tuy nhiên, vì ngay cả trong cơn cuồng nộ mù quáng của bản thân, ngươi cũng nín nhịn, không hề hãm hại Hoàng Oanh, mà chẳng một lời thanh minh giải thích, nên bản quan sẵn sàng quên đi những gì mà ngươi từng làm. Ngươi qua lại với nha đầu ấy trong bao lâu rồi?”

“Hơn một năm nay. Nàng ngọt ngào, và cũng rất thông minh. Đừng cho rằng nàng là một kẻ ngốc! Nàng có thể viết hơn một trăm chữ. Trong khi ta chỉ đọc được khoảng một tá.”

Địch Công lấy ra ba lượng bạc từ ống tay áo và đặt chúng lên án thư. “Hãy cầm lấy chỗ bạc này, chúng thuộc về ngươi và nha đầu kia một cách chính đáng. Hãy mua thuyền và kết hôn với ả. Nha đầu ấy cần ngươi, Vương Tam Lang.” Tiểu tử vồ lấy bạc và nhét nó vào dây đai của mình. Địch Công tiếp tục nói thêm, “Ngươi sẽ phải quay về đại lao thêm vài canh giờ nữa, vì ta không thể phóng thích ngươi cho đến khi ngươi chính thức được xóa tội sát nhân. Sau đó ngươi sẽ được thả ra. Nên hãy học cách sửa đổi tâm tính đi!” Ông vỗ tay. Bộ đầu lập tức tiến vào. Y đã chờ đợi ngay bên ngoài cửa, sẵn sàng xông vào bên trong ngay khi xuất hiện tín hiệu rắc rối đầu tiên.

“Hãy đưa phạm nhân trở lại đại lao, Bộ đầu. Sau đó đi tìm Lâm chưởng quỹ. Ngươi sẽ thấy hắn ở công đường.”

Hồng Sư gia đã lắng nghe nãy giờ, càng ngày càng tỏ vẻ kinh ngạc. Lúc này, lão hỏi với một cái nhìn lúng túng, đầy nghi hoặc, “Đại nhân đã nói gì với tên ngư dân đó vậy? Lão phu thật không thể theo kịp được diễn tiến và đoán định được ý tứ của đại nhân. Ngài thực sự định thả hắn đi ư?”

Địch Công đứng dậy và đi tới bên cửa sổ. Nhìn ra ngoài khoảng sân ẩm ướt toát lên một màu ảm đạm, ông nói, “Trời lại mưa! Ta đang nói về chuyện gì ấy nhỉ, lão Hồng? Ta chỉ kiểm tra xem liệu Vương Tam Lang có thực sự tin vào tất cả những điều mê tín, siêu nhiên đó hay không. Hôm nào rảnh, Hồng Sư gia à, lão có thể tìm trong văn khố của chúng ta một quyển sách về văn hóa dân gian địa phương.”

“Nhưng ngài không tin tất cả những chuyện vô nghĩa, phi lý đó chứ, thưa đại nhân!”

“Không, ta không tin. Không phải tất cả chuyện đó. Tuy nhiên, bản quan cảm thấy mình nên đọc để nghiên cứu thêm về chủ đề này, vì nó đóng vai trò to lớn đối với đời sống thường nhật của lê dân bách tính trong huyện chúng ta. Phiền lão châm cho ta một chén trà nhé?”

Trong khi Sư gia chuẩn bị trà, Địch Công lại ngồi xuống ghế và tập trung vào các tài liệu công vụ trên án thư. Sau khi ông uống xong chén thứ hai, có tiếng gõ cửa vang lên. Bộ đầu dẫn Lâm Tự Xương tiến vào bên trong, rồi dè dặt thoái lui.

“Mời an tọa, Lâm chưởng quỹ!” Địch Công nói đầy vẻ thân thiện với vị khách của mình. “Bản quan tin là Chánh Lục sự đã trao cho ngươi những hướng dẫn cần thiết về các tài liệu soạn ra rồi chứ?”

“Thưa vâng. Bẩm đại nhân, thảo dân vừa mới kiểm tra điền sản với sổ trước bạ và...”

“Theo như di chúc được soạn thảo cách đây một năm,” Địch Công xen vào nói, “Chung Mộ Kỳ đã có di nguyện để lại toàn bộ đất đai cho hai nhi tử của mình, cùng với hai phần ba gia tài của Chung gia, như ngươi biết đó. Một phần ba số còn lại và tiệm cầm đồ, họ Chung để lại cho ngươi. Ngươi có dự định tiếp tục công việc kinh doanh không?”

“Bẩm không, thưa ngài,” Lâm Tự Xương trả lời với nụ cười yếu ớt. “Thảo dân đã làm việc trong tiệm cầm đồ đó hơn ba mươi năm, quần quật từ sáng sớm đến tối mịt. Thảo dân sẽ bán nó và sống nhờ vào tiền thuê nhà từ vốn liếng của mình.”

“Chính xác. Nhưng giả như Chung chưởng quỹ đã viết một di chúc mới thì sao? Nội dung bao gồm một điều khoản mới khẳng định rằng ngươi chỉ được thừa hưởng tiệm cầm đồ?” Khi khuôn mặt của Lâm Tự Xương trở nên tái mét, Địch Công nhanh chóng nói tiếp, “Đây là một tiệm buôn bán phát đạt, nhưng ngươi sẽ phải mất từ bốn đến năm năm mới gom góp đủ vốn để hồi hưu dưỡng già. Và ngươi đang ngày càng lớn tuổi, Lâm chưởng quỹ à.”

“Không thể nào! Làm sao... Làm sao lão có thể.. Lâm Tự Xương lắp bắp. Rồi hắn chợt nói, “Ngài tìm thấy bản di chúc mới trong cái rương của Chung lão gia phải không?”

Thay vì trả lời câu hỏi, Địch Công lạnh lùng nói, “Họ Chung có một tình nhân, Lâm chưởng quỹ à. Tình yêu của ả có ý nghĩa đối với lão hơn bất cứ thứ gì khác.”

Lâm Tự Xương chồm lên. “Có phải ý ngài nói là lão già ngu ngốc ấy có di nguyện để lại tài sản của mình cho ả dâm nữ câm điếc kia?”

“Phải, ngươi đã biết tất cả về chuyện đó, họ Lâm kia. Bởi đêm qua, khi Chung chưởng quỹ nói chuyện với ngươi, hai người đã có một cuộc tranh cãi nảy lửa. Không, đừng cố phủ nhận điều này! Lão bộc của ngươi đã tình cờ nghe được những gì ngươi nói, và lão sẽ đứng ra làm chứng tại công đường.”

Lâm Tự Xương lại ngồi xuống. Hắn lau khuôn mặt ẩm ướt nhớp nháp của mình. Đoạn hắn cất lời, giờ đã bình tĩnh hơn, “Vâng, thưa ngài, thảo dân thừa nhận tối qua bản thân đã rất tức giận khi Chung lão gia thông báo rằng lão yêu ả tiện nữ đó. Lão muốn đưa ả tới một nơi xa xôi và tục huyền với ả. Thảo dân đã cố gắng khiến cho lão nhận ra như vậy là ngu xuẩn như thế nào, nhưng lão bảo thảo dân đừng quản chuyện của lão và đùng đùng giận dữ chạy ra khỏi nhà. Thảo dân không biết lão có đến tòa tháp hay không. Chuyện thường tình mà ai cũng biết là tên tiểu tử lưu manh họ Vương kia đang dan díu ái tình với ả nha đầu ngốc nghếch đó. Vương Tam Lang đã khiến cả hai bất ngờ, và y đã ra tay sát hại Chung lão gia. Lâm mỗ xin tạ tội vì đã không đề cập đến những tình tiết này cho ngài sáng nay, thưa đại nhân. Thảo dân không dám làm tổn hại đến danh tiếng của vị đồng sự quá cố ấy... Nhưng nếu ngài đã bắt giữ tên sát nhân, thì mọi chuyện kiểu gì cũng sẽ bị vạch trần trên công đường...” Y lắc đầu. “Thảo dân cũng phải chịu một phần trách nhiệm, thưa ngài. Đáng lẽ thảo dân nên đi theo Chung lão gia vào tối qua, thảo dân nên...”

“Nhưng ngươi quả thật đã đi theo Chung chưởng quỹ, họ Lâm kia,” Địch Công cộc lốc ngắt lời. “Cũng là một ngư dân, ngươi biết rõ vùng đầm lầy, và họ Chung cũng vậy. Thông thường người ta không thể nào vượt qua khu vực đó, nhưng sau một trận mưa lớn, nước dâng lên, một kẻ chèo thuyền từng trải chỉ cần ngồi trong một chiếc xuồng nhỏ cũng có thể chèo qua những kênh, rạch và hồ nước.”

“Không thể nào! Chấp pháp vệ luôn tuần tra trên đường cả đêm!”

“Chỉ cần cuộn mình trong một chiếc xuồng nhỏ là có thể ẩn sau đám lau sậy cao vút, Lâm chưởng quỹ à. Vì vậy lão đồng sự của ngươi chỉ có thể ghé thăm tòa tháp vào ban đêm, sau một trận mưa lớn. Và do thế mà nha đầu ngốc nghếch tội nghiệp kia đã hình tượng hóa lão thành một nhân vật siêu nhiên, một Thần Mưa. Vì lão đến khi trời mưa.” Địch Công thở dài. Thình lình ông nhìn họ Lâm bằng đôi mắt sắc lẹm và nghiêm nghị nói, “Tối qua, khi Chung chưởng quỹ nói với ngươi về những dự định đó, ngươi nhận ra bao hy vọng ấp ủ lâu nay về một cuộc sống an nhàn và xa hoa đã tan thành mây khói. Vì vậy, ngươi bám theo họ Chung rồi ra tay hạ sát lão đồng sự của mình trong tòa tháp bằng cách đâm một dao vào lưng lão.”

Lâm Tự Xương giơ tay lên. “Thật là một giả thuyết tuyệt vời, thưa ngài! Ngài định làm thế nào để chứng minh lời buộc tội vu khống này?”

“Trước hết là bằng tấm thẻ cầm đồ của Bùi thị. Nó được chấp pháp đội tìm thấy ở hiện trường tội ác. Họ Chung đã hoàn toàn nghỉ hưu, lánh xa công việc kinh doanh, như ngươi đã nói. Vậy thì tại sao khi ấy, lão lại mang theo một cái thẻ cầm đồ vừa được phát hành đúng ngày hôm đó?” Do Lâm Tự Xương vẫn im lặng, Địch Công lại tiếp tục, “Ngươi không hề đắn đo suy nghĩ, đã quyết định ra tay hạ sát họ Chung, rồi ngươi liền chạy đuổi theo lão đồng sự của mình. Lúc đó là sau giờ cơm tối, nên các chủ tiệm trong khu phố đang tất bật dọn hàng khi ngươi đi qua. Cũng tại bến tàu, nơi ngươi đưa chiếc xuồng nhỏ của mình xuống nước, hôm đó lại đông người đến bất thường, bởi vì trời như đang sắp đổ mưa to.” Một tia hoảng loạn chợt lóe lên trong đôi mắt của Lâm Tự Xương là sự xác nhận cuối cùng mà Địch Công đang chờ đợi. Ông kết luận với giọng đều đều, “Nếu ngươi thú nhận ngay lập tức, miễn cho bản quan phải tra hỏi các nhân chứng trên công đường, thì ta sẵn sàng khoan hồng đối với bản án tử dành cho ngươi, với lý do đây là một vụ sát nhân không có dự mưu từ trước.”

Lâm Tự Xương nhìn chằm chằm về phía trước với ánh mắt trống rỗng. Đột nhiên, khuôn mặt nhợt nhạt của hắn trở nên méo mó trong một cơn thịnh nộ bùng phát. “Lão già dâm đãng đê tiện!” Hắn khạc ra. “Khiến ta đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm việc quần quật như trâu như ngựa bao năm qua... Vậy mà giờ đây lão lại định ném tất cả gia tài cho một ả dâm nữ ti tiện, ngờ nghệch! Số ngân lượng mà ta vất vả kiếm được cho lão...” Hắn dán mắt nhìn thẳng vào Địch Công khi cất lời nói với giọng quả quyết, “Đúng, ta đã giết lão. Lão đáng bị như vậy.”

Địch Công ra dấu cho Sư gia. Khi lão Hồng đi đến cửa ra vào, Huyện lệnh nói với chưởng quỹ tiệm cầm đồ, “Ta sẽ nghe lời cung khai thú tội đầy đủ của ngươi trong phiên thăng đường buổi chiều.”

Họ chờ đợi trong im lặng cho đến khi Sư gia quay lại cùng với Bộ đầu và hai Bộ khoái. Họ đeo gông vào cổ họ Lâm và giải hắn đi.

“Một vụ án bẩn thỉu, thưa ngài,” Hồng Sư gia bình phẩm vẻ chán ngán.

Địch Công nhấp một ngụm trà rồi chìa chén ra để được châm đầy lại. “Thảm hại thì đúng hơn. Ta thậm chí có thể gọi Lâm Tự Xương là thảm hại, nếu như hắn không cố đổ vấy tội trạng cho Vương Tam Lang.”

“Thưa đại nhân, vai trò của Vương Tam Lang trong chuyện này là thế nào? Đại nhân thậm chí còn không hỏi y đã làm những gì vào sáng nay!”

“Không cần làm thế, vì chuyện đã xảy ra cũng rõ như ban ngày. Hoàng Oanh từng nói với Vương Tam Lang rằng Thần Mưa đến thăm ả vào ban đêm và đôi khi vẫn cho ả ngân lượng. Họ Vương coi đó là một vinh hạnh lớn lao khi ả có mối quan hệ với Thần Mưa. Hãy nhớ rằng chỉ mới nửa thế kỷ trước thôi, ở nhiều vùng sông nước trong Đường triều chúng ta, hàng năm bách tính đều giết một đồng nam hoặc một đồng nữ, xem là nhân mạng cúng tế cho Hà Bá địa phương, tận cho đến khi triều đình can thiệp vào thì hủ tục đó mới chấm dứt. Sáng nay, khi đến tòa tháp để mang cá cho Hoàng Oanh, họ Vương phát hiện ra trong phòng của ả có thi thể của một nam nhân đã chết nằm úp xuống sàn. Hoàng Oanh khóc lóc nói với hắn rằng những con hắc yêu tính đã giết chết Thần Mưa và biến ngài thành một lão già khô quắt xấu xí. Khi Vương Tam Lang lật thi thể lại và nhận ra lão họ Chung, y đột nhiên hiểu được mình và Hoàng Oanh đã bị lừa. Trong cơn giận dữ mù quáng, y rút dao ra và đâm tới tấp vào kẻ đã chết. Rồi họ Vương nhận ra đây là một vụ án mạng và mình sẽ bị nghi ngờ. Vì vậy, y đào tẩu. Chấp pháp quân tóm được Vương Tam Lang trong lúc y đang cố gắng giặt chiếc quần dài vấy máu của họ Chung.”

Hồng Sư gia gật gù, “Làm sao ngài khám phá ra tất cả điều này chỉ trong một vài canh giờ, thưa đại nhân?”

“Thoạt đầu, ta nghĩ giả thuyết của viên Đội chính đã mô tả chính xác hoàn cảnh vụ án. Điểm duy nhất khiến ta bận tâm là khoảng thời gian dài giữa thời điểm tử vong và thời điểm nạn nhân bị chém vào ngực và bụng. Ta không băn khoăn chút nào về tấm thẻ cầm đồ, vì chuyện một chủ tiệm cầm đồ mang theo tấm thẻ vừa xuất cùng ngày hôm đó là hoàn toàn bình thường. Sau đó, khi ta thẩm vấn Vương Tam Lang, hắn đã gọi Chung Mộ Kỳ là một kẻ lừa đảo. Việc này đánh động đến tâm thức của ta. Đó chỉ là buột miệng, vì Vương Tam Lang đã quyết tâm giữ cho cả mình và Hoàng Oanh không dính dáng gì đến vụ này, không phải tiết lộ rằng họ bị rơi vào cái bẫy lừa gạt. Trong lúc ta thẩm tra Hoàng Oanh, ả khẳng định ‘yêu tinh’ đã giết chết và thay đổi nhân dạng Thần Mưa của mình. Ta không hiểu điều đó chút nào. Mãi cho đến sau chuyến viếng thăm họ Lâm thì rốt cuộc ta mới biết mình đã đi đúng hướng. Lâm Tự Xương đang căng thẳng và vì thế rất ba hoa, hắn kể lể dài dòng với bản quan về việc lão đồng sự của hắn không còn tham gia vào công việc kinh doanh nữa. Ta nhớ lại cái thẻ cầm đồ được tìm thấy tại hiện trường án mạng, và bắt đầu nghi ngờ họ Lâm. Nhưng chỉ sau khi đã xem xét thư phòng của nạn nhân xấu số và có ấn tượng rõ ràng về tính cách của lão, thì ta mới có được biện pháp phá giải vụ án. Ta đã kiểm tra giả thuyết của mình bằng cách khơi gợi cho lão bộc kể về vụ tranh cãi giữa Lâm Tự Xương và Chung Mộ Kỳ về Hoàng Oanh vào đêm hôm trước. Cái tên Hoàng Oanh dĩ nhiên không có nghĩa lý gì đối với lão bộc cả, nhưng lão kể rằng họ đã nói về lũ chim. Phần còn lại chỉ là thủ tục thôi.”

Địch Công đặt chén trà xuống. “Ta học được từ vụ án này tầm quan trọng của việc nghiên cứu kĩ lưỡng các cẩm nang tra án cổ xưa của chúng ta, lão Hồng à. Ở đó, tiền nhân đã lặp đi lặp lại rằng bước đầu tiên của việc điều tra một vụ án mạng là tìm hiểu tính cách, cuộc sống thường nhật cùng những thói quen của nạn nhân. Và trong vụ án này, quả thật cá tính của nạn nhân đã cung cấp chìa khóa để mở nút thắt câu chuyện.”

Hồng Sư gia vân vê bộ ria mép xám xịt của mình với một nụ cười hài lòng. “Thiếu nữ kia và tình lang của ả thật rất may mắn khi được đại nhân đích thân điều tra! Vì tất cả các bằng chứng đều chĩa mũi dùi thẳng vào Vương Tam Lang, nên y đã có thể bị kết án và xử trảm. Do nha đầu kia là một nữ nhân câm điếc, còn họ Vương cũng không phải là kẻ mồm miệng lanh lợi để có thế tự biện giải được cho bản thân!”

Địch Công gật đầu. Dựa lưng vào ghế, ông nói với một nụ cười uể oải:

“Điều đó đem lại cho ta một lợi ích chính mà ta vừa rút ra được từ vụ án này, lão Hồng à. Một lợi ích rất cá nhân và vô cùng quan trọng. Ta phải thú thật với lão rằng sáng sớm hôm nay, Địch mỗ đã cảm thấy hơi phiền muộn, và trong một khoảnh khắc nào đó, ta thực sự đã nghi ngờ rốt cuộc đây có phải là công việc phù hợp với mình hay không. Ta thật ngốc. Nơi này là một thư phòng tráng lệ, tuyệt vời, lão Hồng à! Bởi vì nó cho phép chúng ta nói thay lời những thường dân bách tính vốn không thể tự lên tiếng cho bản thân mình.”

« Lùi
Tiến »