Địch Gia Bát Án

Lượt đọc: 2722 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Liên trì án

Thế gian biến hóa nhiệm màu

Vô tri vô giác bỗng đâu cất lời.

Trên cao số mệnh ông trời

Địch Công giải án xóa lời thị phi.

-Tùng Vũ-

---❊ ❖ ❊---

Vụ án này xảy ra vào năm 667 sau Công nguyên tại Hán Nguyên, một trấn huyện cổ kính ven hồ, gần kinh thành. Tại đây, Địch Công phải phá giải vụ sát hại một thi sĩ già đang vui thú điền viên tại gia trang thanh bạch phía sau Dương Liễu Ổ, là nơi trú ngụ của các kỹ nữ và ca nương. Lão thi sĩ ấy bị sát hại khi đang bình an thưởng ngoạn đêm trăng tại lương đình giữa hồ sen. Không có một nhân chứng nào cả - hoặc dường như là vậy.

Từ tiểu lương đình ở giữa hồ sen, hắn có thể quan sát toàn bộ hoa viên đang tắm trong ánh trăng sáng vằng vặc. Hắn chăm chú lắng nghe. Vạn vật vẫn tĩnh lặng. Nở nụ cười hài lòng, - hắn ngó xuống nam nhân đã chết trong chiếc ghế bành bằng tre, nhìn vào chuôi thanh chủy thủ nhô ra từ lồng ngực lão. Chỉ có vài giọt máu nhỏ xuống tấm trường bào vải xám của nạn nhân. Hắn cầm một trong hai chiếc chén sứ đặt bên bầu rượu trên chiếc bàn tròn lên. Nốc một hơi cạn sạch, hắn đắc ý thì thầm nói với thi thể, “An tâm đi Tây Thiên đi! Nếu ngươi chỉ là một kẻ khù khờ, thì có lẽ ta đã tha mạng cho ngươi. Nhưng ngươi lại là một kẻ khờ thích xía vào chuyện của người khác...”

Hắn nhún vai. Mọi chuyện đã diễn ra tốt đẹp. Lúc này đã quá nửa đêm; sẽ không ai lai vãng đến điền trang hẻo lánh tại vùng ngoại ô kinh thành này cả. Trong gian nhà tối om nằm ở phía bên kia hoa viên, cũng không có động tĩnh gì. Hắn săm soi đôi bàn tay của mình - không vương một vết máu nào cả. Rồi hắn khom người xem xét kĩ mặt sàn của ngôi tiểu đình, cùng chiếc ghế mà hắn từng ngồi đối diện với nam nhân quá cố. Không, hắn không để lại bất kỳ manh mối nào. Giờ thì hắn có thể rời khỏi đây rồi, an toàn tuyệt đối.

Thình lình hắn nghe thấy một tiếng rơi tõm sau lưng mình. Hắn quay ngoắt lại, giật mình hoảng hốt. Thế rồi hắn thở phào nhẹ nhõm; đó chỉ là một con ếch xanh to lớn. Nó nhảy ra khỏi hồ, nhào lên mấy bậc thềm cẩm thạch của ngôi đình. Bây giờ nó ngồi đó, nghiêm trang ngước nhìn hắn bằng cặp mắt lồi nhấp nháy.

“Mày không biết nói, đồ khốn à!,” hắn cười chế nhạo. “Nhưng cẩn tắc vô ưu!” Nói đoạn, hắn tung một cước ác ý nhằm vào con ếch khiến nó va sầm vào chân bàn. Cặp chi sau dài ngoằng của con vật giật giật, rồi nó nằm im bất động. Hắn cầm chén rượu thứ hai lên, là cái mà nạn nhân đã uống. Hắn quan sát nó một chút, rồi bỏ vào ống tay áo rộng thùng thình của mình. Giờ thì hắn đã sẵn sàng. Lúc xoay người định bước đi, ánh mắt hắn rơi vào con ếch đã chết.

“Đi gặp tổ tông của mày đi!,” hắn nói với vẻ khinh miệt rồi đá nó văng xuống nước. Con ếch rơi tõm xuống giữa mấy nhánh sen, nước văng tung tóe. Ngay lập tức, tiếng kêu ộp ộp của hàng trăm con ếch bị kinh sợ xé toang màn đêm tĩnh mịch.

Hắn gắt lên một câu chửi thề, rồi mau chóng băng qua cây cầu cong cong bắc qua hồ sen dẫn đến cửa hoa viên. Sau khi hắn lẻn ra ngoài và đóng sập cánh cửa vào, đàn ếch yên lặng trở lại.

Vài canh giờ sau, có ba kỵ sĩ đang phi ngựa dọc theo con đường ven hồ để quay về thành. Ánh rạng đông đỏ rực soi chiếu lên những tấm áo choàng đi săn nâu sẫm cùng những chiếc mũ đen của họ. Làn gió mát lành buổi sáng cuốn nước hồ lăn tăn gợn sóng, nhưng chẳng mấy chốc thời tiết bỗng trở nên nóng hơn, bởi lúc này đất trời đang vào độ giữa hạ.

Nam nhân râu dài vai rộng, tươi cười trò chuyện với vị bằng hữu lớn tuổi có thân hình mảnh khảnh đang đồng hành cùng mình, “Chuyến săn vịt của chúng ta đã gợi ý một phương pháp hữu dụng để tóm được những tên tội phạm xảo trá! Chỉ cần nhử mồi, rồi nấp ở một bên với cái lưới giăng sẵn. Chừng nào con mồi lộ diện, thì hãy quăng lưới tóm gọn nó!”

Bốn nông phu đang đi ngược chiều vội đặt những gánh rau mà mình đang gánh xuống, rồi quỳ mọp bên vệ đường. Bọn họ đã nhận ra nam nhân có râu, đó chính là Địch Huyện lệnh của huyện Hán Nguyên.

“Chúng ta thực sự đã tạo ra một tiếng nổ mạnh giữa đám lau sậy, thưa đại nhân,” nam nhân vạm vỡ đang cưỡi ngựa đằng sau họ đưa ra lời bình phẩm đầy vẻ châm biếm. “Nhưng tất cả những gì chúng ta săn được chỉ là vài cây rong tảo!”

“Mã Vinh à, dù sao thì nó cũng là bài tập luyện tốt!” Địch Công nói với qua vai với thủ hạ của mình. Rồi ông nói tiếp với nam nhân gầy gò đang cưỡi ngựa bên cạnh mình, “Viên tiên sinh này, nếu mỗi sáng chúng ta đều đi săn, thì sẽ không bao giờ cần tới thuốc viên hay thuốc bột của ông nữa đâu!”

Nam nhân mảnh khảnh mỉm cười vẻ ảm đạm. Hắn là Viên Khải, chưởng quỹ của dược đường lớn nhất trong huyện. Săn vịt chính là trò tiêu khiển ưa thích của hắn.

Địch Công tiếp tục cưỡi ngựa tiến về phía trước. Chẳng mấy chốc, họ đã tiến vào thành Hán Nguyên, vốn được xây dựng theo thế dựa lưng vào sườn núi. Tại khu chợ trước miếu Khổng Tử, ba nam nhân xuống ngựa; rồi họ leo lên những bậc thềm đá dẫn đến con đường nơi nha phủ sừng sững đứng đó, trông xuống toàn thành và cả quang cảnh hồ nước diễm lệ.

Mã Vinh chỉ vào nam nhân béo lùn đang đứng trước cánh cửa đồ sộ của nha phủ. “Trời ơi!” Mã Vinh làu bàu, “Thuộc hạ chưa từng thấy Bộ đầu giỏi giang của chúng ta lên đây vào lúc sớm tinh mơ như thế. Thuộc hạ e là y đang lâm trọng bệnh đó!”

Bộ đầu chạy vội về phía họ. Y cúi đầu chào thi lễ, rồi kích động nói với Địch Công, “Bẩm đại nhân, thi sĩ Mạnh Lam vừa bị sát hại! Khoảng hai khắc trước, thị đồng của ông ta hấp tấp xông vào đây để trình báo rằng y đã phát hiện ra thi thể của chủ nhân mình trong tòa lương đình.”

“Mạnh Lam? Một thi sĩ ư?” Địch Công cau mày lên tiếng. “Ta đến Hán Nguyên cũng đã một năm, nhưng chưa từng nghe đến cái tên này.”

“Thưa ngài, ông ấy sống trong một điền trang cổ kính nằm gần vùng đầm lầy phía Đông thành,” vị dược sư nói. “Ở vùng này, họ Mạnh không quá nổi tiếng; ông ta bản tính điềm đạm, không ưa giao du, hiếm khi vào trong thành. Tuy nhiên, nghe nói thơ của ông ta từ lâu đã chấn động chốn kinh thành, họ Mạnh cũng được coi là một danh sĩ.”

“Tốt hơn là chúng ta nên đến đó ngay lập tức,” Địch Công nói. “Bộ đầu này, Hồng Sư gia cùng hai thủ hạ của ta đã trở lại hay chưa?”

“Vẫn chưa, thưa ngài, bọn họ còn lưu tại ngôi làng gần ranh giới phía Tây của huyện ta. Ngay sau khi đại nhân rời đi lúc sáng nay, có một nam nhân đưa tin từ Hồng Sư gia tới. Trong đó đề rằng họ vẫn chưa phát hiện ra manh mối nào về những kẻ đã cướp bóc Thư lệnh sử đại nhân của Bộ Hộ.”

Địch Công vuốt chòm râu dài của mình. “Đó là một vụ án nan giải. Thư lệnh sử đại nhân khi đó đang mang theo trong mình mười hai đĩnh vàng. Và nay chúng ta lại có trong tay một vụ án mạng! Thôi không sao, Mã Vinh à, chúng ta sẽ xoay xở được. Ngươi có biết đường đi đến điền trang của lão thi sĩ quá cố không?”

“Tại hạ biết một lối tắt xuyên qua khu vực phía Đông, thưa lão gia,” Viên Khải nói. “Nếu lão gia cho phép tại hạ...”

“Dĩ nhiên rồi! Bộ đầu, ngươi cũng đi cùng. Ta tin là ngươi đã phái hai Bộ khoái đi trước cùng với thị đồng của họ Mạnh để đảm bảo hiện trường không bị xáo trộn rồi chứ?”

“Thưa ngài, tất nhiên thuộc hạ đã lo liệu rồi ạ!” Bộ đầu trịnh trọng đáp.

“Ngươi đang ngày càng tiến bộ đó,” Địch Công nhận xét. Trông thấy nụ cười tự mãn của Bộ đầu, ông lạnh nhạt nói thêm, “Đáng tiếc là đà tiến bộ ấy quá chậm. Hãy dẫn bốn con ngựa trong chuồng ra!”

Dược sư cưỡi ngựa đi trước dẫn đường đưa đoàn người qua vài ngõ hẻm chật hẹp, chạy quanh co xuống bờ hồ. Chẳng mấy chốc, họ đã tới một con đường nhỏ rợp bóng dương liễu. Vậy nên nơi này mới được đặt tên là Dương Liễu Ổ, nơi cư ngụ của các vũ cơ và kỹ nữ ở phía Đông thành.

“Kể cho ta nghe về Mạnh Lam xem,” Huyện lệnh nói với dược sư.

“Tại hạ không biết tường tận về ông ta, thưa ngài. Tại hạ chỉ viếng thăm Mạnh tiên sinh vài lần, thế nhưng ông ta có vẻ là một nam nhân khiêm nhường, tử tế. Hai năm trước, ông ta đến ẩn cư tại một điền trang cổ kính đằng sau Dương Liễu Ổ. Nơi đó chỉ có đại khái ba gian phòng, nhưng lại có một hoa viên lớn tuyệt đẹp, cùng một hồ sen.”

“Ông ấy có cả một gia đình bề thế à?”

“Không, thưa ngài, lúc đến vùng này thì ông ta là một người góa vợ, hai nhi tử đã trưởng thành của ông đều sống ở kinh sư. Năm ngoái, ông gặp gỡ một kỹ nữ xuất thân từ Dương Liễu Ổ. Mạnh tiên sinh chuộc thân cho nàng ra khỏi kỹ viện, rồi tục huyền với nàng. Bản thân nàng ta không có gì đáng giá ngoại trừ nhan sắc - nàng ấy không biết đọc cũng chẳng biết viết, ca hát hay nhảy múa đều không rành rọt. Vì thế, Mạnh Lam đã có thể mua nàng ta với cái giá rẻ mạt, thế nhưng việc này lại tiêu tốn toàn bộ khoản tiết kiệm của thi sĩ. Ông ta đang sống nhờ vào khoản trợ cấp thường niên ít ỏi mà một người ái mộ ở chốn kinh kỳ gửi đến cho mình. Tại hạ nghe nói đó là một cuộc hôn nhân viên mãn, mặc dù tất nhiên họ Mạnh lớn tuổi hơn nàng ta nhiều.”

“Thường thì,” Địch Công bình phẩm, “một thi sĩ nên chọn một hồng nhan tri kỷ, vậy mới có thể xướng tùy hòa hợp, nếu không thì người nhã kẻ tục, không cùng chí hướng, sống chung lâu ngày ắt sẽ nhàm chán, không thể gọi là viên mãn.”

“Thưa ngài, Mạnh phu nhân dù không tinh thông văn chương thơ phú, nhưng tính nết dịu dàng, thùy mị,” dược sư nhún vai nói. “Và nàng hầu hạ họ Mạnh vô cùng chu đáo.”

“Mạnh Lam là một khách nhân khôn ngoan, dù rằng lão chỉ là kẻ viết thơ ca,” Mã Vinh lẩm bẩm. “Được một cô nương dịu dàng, nhu mì hầu hạ chu đáo - một đấng nam nhi khó có thể mong gì hơn thế!”

Con đường rợp bóng dương liễu hẹp dần thành một lối mòn nhỏ. Nó xuyên qua hàng cây sồi cao vun vút cùng tầng cây thấp dày đặc đánh dấu vùng đầm lầy phụ cận phía sau Dương Liễu Ổ.

Bốn nam nhân xuống ngựa ở phía trước hàng dậu trúc. Hai Bộ khoái đang đứng gác ở đó cúi đầu thi lễ, rồi đây cổng mở ra. Địch Công tiến vào, lập tức thấy một hoa viên yên tĩnh, trang nhã. Ven bờ hồ sen, cỏ hoa xanh rờn, ong bướm vờn bay. Trên hồ, hoa sen vừa nở, hương thơm từng trận. Gió nhẹ thổi qua, lá sen khẽ động, sóng nước dập dờn, cảnh vật như thơ như họa.

“Mạnh Lam rất yêu thích hoa viên này, thường ở đây ngâm thơ thưởng trà,” Viên Khải cảm thán.

Địch Công gật đầu. Ông ngắm nhìn cây cầu gỗ sơn son bắc qua mặt nước dẫn đến tòa lương đình hình lục giác, mở rộng thoáng đãng ra mọi phía. Những cây cột trụ thon mảnh chống đỡ các mái nhà chóp nhọn, lợp mái ngói lưu ly. Phía xa xa hồ nước, ở phía cuối hoa viên, ông trông thấy một gian nhà cổ bằng gỗ thấp lè tè, có khuôn viên rộng lớn. Những cây sồi cao vút mọc phía sau gian nhà phủ bóng che khuất quá nửa mái tranh.

Trời đang nóng dần. Địch Công lau mồ hôi chảy trên trán và băng qua cây cầu chật hẹp, ba nam nhân kia bén gót đi theo phía sau ông. Tiểu đình chỉ vừa chỗ đứng cho bốn người. Địch Công nhìn một hồi thi thể gầy gò mặc tấm trường bào màu xám đơn giản, đang nằm ngả vào chiếc ghế bành bằng tre. Sau đó, ông sờ nắn đôi vai và cánh tay mềm nhũn của thi thể. Đứng thẳng dậy, Địch Công nói, “Thi thể chỉ mới bắt đầu cứng lại. Dưới thời tiết nóng bức và ẩm ướt như thế này, thật khó để xác định được thời gian tử vong. Dù thế nào thì cũng phải sau nửa đêm, ta dám chắc vậy.” Ông cẩn thận rút thanh chủy thủ ra khỏi ngực nạn nhân xấu số. Địch Công kiểm tra lưỡi dao dài, mảnh với cán dao bằng ngà voi mài nhẵn. Mã Vinh bĩu môi nói, “Cũng chẳng ích gì đâu, thưa ngài. Loại chủy thủ rẻ mạt này chỗ nào trong thành cũng có thể mua được, không phải loại hiếm lạ gì.”

Địch Công lặng lẽ trao thanh chủy thủ cho y. Mã Vinh gói gọn nó trong một tấm giấy dầu rồi cất vào trong ống tay áo. Địch Công quan sát gương mặt gầy gò, giờ đã cứng đơ lại với một khuôn miệng méo xệch kỳ quái của người chết. Mạnh thi sĩ có một hàng ria mép dài lởm chởm cùng chòm râu dê lưa thưa xám xịt; Địch Công đoán chừng tuổi ông ta khoảng độ lục tuần. Ông cầm lấy bầu rượu lên, lắc lắc mấy lần. Chỉ còn một ít rượu sót lại. Đoạn ông nhặt cái chén sứ lên, đặt bên cạnh nó và xem xét. Có vẻ bối rối, Địch Công cất nó vào trong ống tay áo. Quay sang Bộ đầu, ông nói:

“Bảo các Bộ khoái lấy vài nhánh cây đan thành một cái cáng, rồi vận chuyển thi thể về nha phủ để tiến hành nghiệm thi.” Rồi Địch Công nói với Viên Khải:

“Ông có thế ngồi trên chiếc trường kỷ bằng đá gần hàng rào ở đằng kia trong chốc lát. Ta sẽ xong nhanh thôi.” Địch Công ra hiệu cho Mã Vinh đi theo mình.

Họ lại lần nữa băng qua cây cầu. Những tấm ván mỏng cọt kẹt kêu dưới sức nặng của hai nam nhân vạm vỡ. Họ đi vòng qua hồ sen rồi đi tiếp đến gian nhà. Địch Công khoan khoái hít vào một hơi, tận hưởng bầu không khí mát mẻ trong bóng râm dưới hàng hiên. Mã Vinh gõ cửa.

Một thị đồng trẻ tuổi khôi ngô tuấn tú nhưng có vẻ cáu kỉnh ra mở cửa. Mã Vinh bảo y rằng Huyện lệnh muốn gặp Mạnh phu nhân. Trong khi tiểu tử ấy vội vàng đi vào phía trong, Địch Công ngồi xuống chiếc bàn tre lung lay ọp ẹp ở giữa gian phòng, nội thất xung quanh được bày biện thưa thớt. Mã Vinh đứng khoanh tay phía sau ghế của ông. Địch Công ngắm nhìn những đồ đạc cũ kĩ hỏng hóc, cùng những vách tường thạch cao nứt nẻ. Ông lên tiếng, “Rõ ràng động cơ gây án không thể nào là trộm cắp!”

“Kia kìa, động cơ gây án đang tới, thưa ngài!” Mã Vinh thầm thì nói. “Một phu quân già khú, lại có phu nhân trẻ trung nhan sắc mỹ miều thế kia - mấy chuyện còn lại thì quá dễ hiểu rồi!”

Địch Công ngẩng đầu và trông thấy một thiếu phụ yêu kiều, độ hai mươi lăm xuân sắc, xuất hiện nơi cánh cửa đang mở rộng. Nàng mặt hoa da tuyết, tóc đen buông lơi, mắt phượng mày ngài, hai bên gò má vẫn còn lưu dấu vết của những giọt lệ đài trang. Mặc dù xiêm y đơn giản, trang sức mộc mạc, nhưng vẫn không thể che giấu được vẻ yểu điệu, thướt tha của một giai nhân. Sau khi ngó nhìn Huyện lệnh với vẻ sợ sệt, nàng cúi rạp mình hành lễ, rồi cụp mắt đứng yên đó, kính cẩn chờ Địch Công hỏi mình.

“Phu nhân, ta rất đau buồn,” Địch Công nói với giọng điệu hòa nhã, “khi phải đến quấy rầy ngay khi thảm kịch vừa xảy ra. Tuy nhiên, ta tin là phu nhân sẽ hiểu được rằng ta buộc phải hành sự mau lẹ để bắt kẻ sát nhân hèn hạ phải đền tội trước công đường.” Thấy nàng gật đầu, ông nói tiếp, “Lần cuối phu nhân nhìn thấy Mạnh tiên sinh là khi nào?”

“Phu thê dân phụ ăn cơm tối tại đây, trong gian phòng này,” Mạnh phu nhân đáp lời, giọng nói dịu dàng êm ái. “Sau đó, khi dân phụ dọn bàn xong, tướng công đọc sách ở đây suốt vài canh giờ, rồi hồi sau lại bảo rằng vì ngoài kia trăng lung linh sáng đẹp nên chàng sẽ ra lương đình uống vài chén rượu.”

“Ông ấy có thường ra lương đình uống rượu không?”

“Bẩm có, hầu như mỗi tối chàng đều ra ngoài đó, để tận hưởng làn gió đêm mát mẻ, và ngâm nga mấy câu thơ.”

“Mạnh tiên sinh có thường tiếp khách ở đó không?”

“Bẩm đại nhân, chẳng bao giờ cả. Tướng công thích được ở một mình, ít giao du, tiếp đãi khách khứa đến chơi. Nếu có khách đến gặp tướng công thì chàng đều tiếp đón vào lúc ban ngày, và chỉ ở trong đại sảnh này, để tiện việc mời trà đàm đạo. Dân phụ ưa thích cuộc sống bình yên ấy, tướng công vô cùng chu đáo, chàng ấy...”

Đôi mắt nàng bắt đầu ngân ngấn nước và đôi môi nàng run rẩy. Thế nhưng, nàng mau chóng trấn tĩnh bản thân rồi tiếp tục, “Dân phụ đã hâm sẵn một bầu rượu ấm, rồi mang ra ngoài lương đình. Tướng công bảo dân phụ không cần phải thức chờ chàng, vì chàng định sẽ ngồi ở đó đến tận khuya. Do đó, dân phụ lên giường đi ngủ. Sáng sớm hôm nay, khi thị đồng dồn dập gõ cửa, dân phụ mới nhận ra tướng công không về phòng đêm qua. Thị đồng báo rằng y đã tìm thấy chàng trong ngôi đình...”

“Tiểu tử đó có sống trong căn nhà này không?” Địch Công hỏi.

“Bẩm đại nhân, không ạ, y sống cùng phụ thân, là hoa tượng của một tòa đại viện ở Dương Liễu Ổ. Tiểu tử ấy chỉ đến đây lúc ban ngày, y rời đi khi tiện thiếp đã chuẩn bị cơm tối xong.”

“Phu nhân có nghe thấy bất cứ điều gì bất thường trong đêm qua không?” Địch Công hỏi.

Mạnh phu nhân cau mày, đoạn trả lời, “Dân phụ tỉnh giấc một lần, khoảng sau nửa đêm. Khi đó, lũ ếch trong hồ đang kêu ầm ĩ. Vào ban ngày thì không bao giờ nghe thấy tiếng chúng cả, chúng ở dưới nước. Ngay cả lúc dân phụ lội xuống hồ để hái hoa sen, chúng vẫn im hơi lặng tiếng. Nhưng vào ban đêm, chúng sẽ ngoi lên và dễ bị kinh sợ. Vì thế, dân phụ cứ nghĩ tướng công trên đường trở về phòng làm rơi hòn đá hoặc đại loại thế xuống hồ. Vậy nên dân phụ lại mơ màng ngủ tiếp.”

“Ta hiểu,” Địch Công nói. Ông suy ngẫm một chốc, vuốt hàng tóc mai dài của mình. “Gương mặt của Mạnh tiên sinh không thể hiện bất cứ một dấu hiệu khiếp sợ hay kinh ngạc nào; chắc hẳn ông ấy đã bị đâm khá đột ngột. Họ Mạnh đã chết trước khi kịp nhận thức được chuyện gì đang xảy ra. Điều đó chứng tỏ ông ấy biết rõ kẻ sát nhân; bọn họ chắc chắn đang ngồi đó uống rượu với nhau. Bầu rượu lớn đã gần cạn, vậy mà chỉ có một cái chén. Ta muốn hỏi phu nhân, nếu muốn kiểm tra chén sứ trong nhà vẫn còn đủ hay thiếu có khó khăn lắm không?”

“Việc đó không khó chút nào,” Mạnh phu nhân đáp với một nụ cười yếu ớt. “Trong nhà chỉ có bảy cái chén, một bộ gồm sáu cái bằng sứ màu lục, và một cái chén lớn hơn bằng sứ trắng, chính là cái mà tướng công thường dùng.”

Địch Công nhướn mày. Cái chén ông tìm thấy có màu lục. Ông hỏi tiếp:

“Thế Mạnh tiên sinh có cừu nhân nào không?”

“Không ạ, thưa đại nhân!,” nàng thốt lên. “Dân phụ không thể hiểu nổi kẻ nào...”

“Vậy còn phu nhân có từng đắc tội với kẻ nào không?” Địch Công xen ngang.

Gò má nàng chợt ửng đỏ. Nàng cắn môi một lát, rồi nói, vẻ hối lỗi, “Tất nhiên đại nhân cũng biết là cho đến tận một năm trước, thì dân phụ vẫn ở khu phố đằng kia. Thi thoảng dân phụ có khước từ một khách nhân nào đó tìm kiếm sự sủng ái của mình, nhưng dân phụ hoàn toàn chắc chắn không ai trong số họ sẽ... Còn sau ngần ấy thời gian thì...” Giọng nàng nhỏ dần, rồi ngừng hẳn.

Địch Công đứng lên. Ông cảm tạ Mạnh phu nhân, biểu lộ sự cảm thông của mình rồi đứng dậy cáo từ.

Lúc hai người đang bước xuống con đường mòn nhỏ nơi hoa viên, Mã Vinh nói, “Đại nhân, ngài lẽ ra cũng nên hỏi thăm về các bằng hữu của nàng ta!”

“Bản quan trông cậy vào ngươi điều tra những tin tức ấy, Mã Vinh. Không phải ngươi vẫn qua lại với một cô nương ở Dương Liễu Ổ sao, tên nàng ta là Tảo Hoa thì phải.”

“Là Bích Đào, thưa ngài. Đương nhiên là thuộc hạ vẫn qua lại với nàng!”

“Tốt lắm. Ngươi hãy đến con phố đó ngay bây giờ, rồi làm sao khiến cô nương ấy kể cho ngươi nghe mọi điều mình biết về Mạnh phu nhân vào thời điểm nàng ta còn ở đó. Đặc biệt là về những nam nhân mà nàng ta đã từng giao du.”

“Hiện tại hẵng còn quá sớm, thưa ngài.” Mã Vinh ngờ vực nói. “Chắc nàng ấy vẫn đang say ngủ.”

“Thế thì ngươi đánh thức nàng ta dậy! Lên đường đi!”

Mã Vinh trông có vẻ thất vọng, thế nhưng y vẫn vội vàng đi ra cổng. Địch Công vẩn vơ ngẫm rằng nếu mình phái tên thủ hạ hào hoa, đa tình kiếm khách vô tình kiếm, của mình đi thẩm vấn các nữ bằng hữu của y vào trước bữa sáng, thì ông còn có thể trị được nhược điểm này của y. Thường thì sau một đêm thức khuya, các nàng ấy sẽ không có được diện mạo xinh đẹp nhất vào lúc sáng sớm.

Viên Khải đang đứng gần hồ sen, nghiêm túc trò chuyện với một người xa lạ. Đó là một nam nhân cao lớn, áo mũ chỉnh tề, mặt to cằm xệ. Dược sư giới thiệu y là Văn Cảnh Phương, phường chủ mới được bầu chọn của phường buôn trà. Văn phường chủ cúi đầu thi lễ, rồi bắt đầu một lời cáo lỗi tỉ mỉ, dông dài giải thích vì sao mình vẫn chưa viếng thăm Huyện lệnh đại nhân. Địch Công ngắt lời y, nhàn nhạt hỏi, “Hà cớ gì Văn phường chủ lại quá bộ đến nơi này vào sáng sớm tinh mơ thế?”

Họ Văn có vẻ ngạc nhiên trước câu hỏi đột ngột ấy. Y lắp bắp, “Tại hạ... tại hạ nghe tin dữ về Mạnh tiên sinh, nên muốn tới chia buồn với Mạnh phu nhân, và... để hỏi xem liệu Văn mỗ có giúp gì được cho nàng ấy hay không...”

“Vậy ra Văn phường chủ biết rất rõ Mạnh gia ư?” Địch Công thắc mắc.

“Bẩm đại nhân, vừa nãy tại hạ đang bàn sự vụ này với Văn lão đệ,” Viên Khải vội xen vào, “và quyết định bẩm báo với đại nhân ngay rằng năm đó, cả họ Văn và tại hạ đều từng theo đuổi với Mạnh phu nhân khi nàng còn ở Dương Liễu Ổ, nhưng chẳng ai thành công cả. Cả hai đều muốn khẳng định mình hoàn toàn hiểu được rằng một kỹ nữ có quyền chấp nhận hoặc khước từ những kẻ ái mộ mình, và không ai có ác ý gì với nàng cả. Hơn nữa tại hạ vô cùng kính trọng Mạnh Lam, và hân hoan vì cuộc hôn nhân của họ hóa ra lại vô cùng viên mãn. Vì thế...”

“Vậy để chứng minh sự ngay thẳng của bản thân,” Địch Công ngắt lời, “hai ông có thể chứng minh tối qua mình không tới nơi này chứ?”

Dược sư trao cho vị bằng hữu của mình một ánh nhìn bối rối. Văn Cảnh Phương rụt rè đáp, “Bẩm đại nhân, sự thật là tối qua, chúng tại hạ đã tham gia một bữa tiệc được tổ chức tại tòa đại viện ở Dương Liễu Ổ. Sau đó chúng tại hạ, à... nghỉ ngơi trên lầu, cùng với à... hồng nhan tri kỷ. Chúng tại hạ trở về nhà khoảng vài canh giờ sau nửa đêm.”

“Tại hạ đã chợp mắt trong chốc lát tại tư gia,” Viên Khải bổ sung, “tiếp đó thay trang phục đi săn rồi đến nha phủ để cùng đại nhân đi săn vịt.”

“Ta hiểu,” Địch Công nói. “Ta rất hài lòng vì hai người đã kể cho ta nghe, điều này giúp ta giảm bớt những việc thừa thãi.”

“Hồ sen này quả thật cảnh sắc mê người,” Văn Cảnh Phương lên tiếng, trông có vẻ nhẹ nhõm hơn. Khi họ cùng Huyện lệnh ra cổng, y nói thêm, “Thật không may là những cái hồ như thế này thường hay bị ếch tràn vào phá hoại.”

“Đôi lúc bọn chúng kêu to đến đinh tai nhức óc,” Viên Khải nhận xét lúc y mở cổng cho Địch Công. Huyện lệnh lên ngựa rồi giục ngựa về nha phủ.

Bộ đầu bước đến diện kiến Địch Công ở sân trong và bẩm báo rằng ở sảnh bên mọi thứ đã sẵn sàng cho cuộc nghiệm thi. Địch Công trước tiên đi vào thư phòng. Trong lúc Lục sự châm cho ông một chén trà nóng thì Địch Công thảo một bức thư ngắn gọn gửi cho Mã Vinh, vạch đường chỉ lối cho y thăm dò hai kỹ nữ mà Viên Khải và Văn Cảnh Phương đã chung chăn gối vào đêm hôm trước. Suy tư trong thoáng chốc, ông viết thêm:

“Ngoài ra, hãy xác minh xem tối qua tên thị đồng của Mạnh gia có qua đêm tại nhà của phụ thân hắn hay không.” Ông phong kín lá thư rồi lệnh cho Lục sự lập tức chuyển nó tới tay Mã Vinh đang ở Dương Liễu Ổ. Sau đó Địch Công trệu trạo nhai vội vài khối hương cao, uống một chén trà, rồi đi sang sảnh bên, nơi Ngỗ tác cùng hai trợ thủ đang chờ ông.

Cuộc khám nghiệm không đưa ra ánh sáng điều gì mới mẻ cả. Trước lúc bị giết, thi sĩ vẫn đang trong tình trạng khỏe mạnh; nguyên nhân tử vong là do bị một thanh chủy thủ đâm xuyên tim. Quan án ra lệnh cho Bộ đầu đặt thi thể vào trong một cỗ quan tài tạm, chờ khi kết thúc vụ án sẽ đưa đi an táng. Ông quay trở về thư phòng và bắt tay vào xử lý các giấy tờ công vụ vừa tới, với sự trợ giúp của Chánh Lục sự.

Khi Mã Vinh trở về thì đã gần trưa. Sau khi Địch Công cho Chánh Lục sự lui ra khỏi phòng, Mã Vinh ngồi xuống phía đối diện án thư của ông. Y xoắn xuýt chòm ria ngắn ngủn của mình và bắt đầu với một nụ cười ra dáng tự mãn, “Bẩm đại nhân, Bích Đào đã sớm rời giường rồi! Khi thuộc hạ gõ cửa thì đúng lúc nàng ấy đang rửa mặt chải tóc, điểm phẩn tô son. Đêm qua, do được nghỉ nên Bích Đào đã lên giường đi ngủ từ sớm. Trông nàng ấy càng yêu kiều quyến rũ hơn bao giờ hết, thuộc hạ...”

“Được rồi, được rồi, vào việc chính của ngươi đi!” Địch Công cáu kỉnh ngắt lời y. Một phần mưu mẹo của ông rõ là đã phản tác dụng. “Chắc hẳn nữ nhân ấy đã kể cho ngươi nghe khá nhiều thứ,” ông nói tiếp, “vì ngươi đã đi gần hết cả buổi sáng rồi.”

Mã Vinh trao cho Huyện lệnh cái nhìn đầy ngượng ngùng. Y nói với vẻ nghiêm túc, “Phải cẩn trọng đối đãi với mấy cô nương ấy, thưa đại nhân. Thuộc hạ cùng nàng thưởng thức bữa sáng rồi thuộc hạ rào trước đón sau, dần dần dẫn dắt Bích Đào vào đề tài về Mạnh phu nhân. Nghệ danh của nàng ấy là Mạt Lỵ, tên thật là Sử Hiểu Lan; vốn là nhi nữ của một nông phu xuất thân từ phương Bắc. Ba năm về trước, vào thời điểm trận đại hạn hán gây ra nạn đói và dân chúng chết như ngả rạ, phụ thân của nàng đã phải bán nàng cho một kẻ buôn người, rồi kẻ ấy lại bán nàng vào cùng một kỹ viện với Bích Đào. Nàng ấy là một nữ nhân kiều diễm, cử chỉ thanh tao lịch sự, tính nết ôn hòa nhã nhặn. Tú bà xác nhận việc Viên Khải từng theo đuổi, tìm kiếm sự sủng ái của Mạt Lỵ, nhưng nàng đã khước từ. Hắn nghĩ nàng làm thế cốt yếu chỉ để nâng giá trị của mình lên, vì trông nàng có vẻ khá hối hận khi gã dược sư không đeo đuổi nàng nữa mà lại tìm cho mình một tình nương khác. Còn Văn Cảnh Phương thì hơi khác một chút. Họ Văn là một gã khá rụt rè, lúc Mạt Lỵ không đáp lại những lời đề nghị tình cảm ban đầu của mình thì y không cố nài ép mà kìm nén bản thân, chỉ ái mộ nàng từ xa. Rồi Mạnh Lam gặp gỡ Mạt Lỵ, và chuộc thân cho nàng ngay lập tức. Thế nhưng Bích Đào nghĩ rằng họ Văn vẫn còn thương nhớ Mạt Lỵ, vì y vẫn thường nói về nàng ấy với những cô nương khác, rằng thật đáng tiếc, Mạt Lỵ lại gả cho một lão già khô quắt, cằn cỗi và vô vị, thật là bông hoa nhài cắm bãi phân trâu. Thuộc hạ cũng hỏi thăm được Mạt Lỵ có một đệ đệ, tên là Sử Hiểu Minh, và y quả thật là một kẻ bất hảo. Y say mê rượu chè, cờ bạc, thường lê la ở chốn này để ăn bám tỷ tỷ mình. Cách đây một năm, y lặn mất tăm hơi, ngay trước khi Mạnh Lam chuộc thân cho Mạt Lỵ. Thế nhưng vào tuần trước, y đột nhiên xuất đầu lộ diện và hỏi thăm tin tức về tỷ tỷ của mình. Lúc tú bà bảo hắn rằng Mạnh Lam đã chuộc thân rồi kết hôn với nàng ấy, Sử Hiểu Minh ngay lập tức đi đến điền trang của họ. Sau đó, thị đồng của họ Mạnh đã kể với mọi người rằng Sử Hiểu Minh đã tranh cãi với Mạnh Lam; y không hiểu họ cãi nhau vì chuyện gì, nhưng có điều gì đó liên quan đến ngân lượng. Mạnh phu nhân khóc lóc vô cùng thương tâm, còn Sử Hiểu Minh giận dữ rời khỏi đó. Sau đó thì không còn ai trông thấy y nữa.”

Mã Vinh ngừng lại, nhưng Địch Công không bình luận gì. Ông chậm rãi thưởng trà, hàng lông mày rậm rạp nhíu lại hình thành một vết nhăn sâu hoắm. Bỗng nhiên ông hỏi, “Đêm qua tên thị đồng của Mạnh gia có đi ra ngoài không?”

“Bẩm đại nhân, không ạ. Thuộc hạ đã thẩm vấn phụ thân của y, lão hoa tượng già và cả hàng xóm của họ. Tiểu tử ấy trở về nhà ngay sau bữa cơm tối, lập tức lăn ra giường ngủ cùng với hai huynh đệ của mình, rồi nằm đó ngáy khò khò cho đến tảng sáng. Thế rồi điều đó gợi nhắc cho thuộc hạ nhớ đến lời dặn dò thứ hai của ngài, thưa đại nhân. Thuộc hạ đã hỏi được rằng vào đêm trước, Mẫu Đơn đã hầu hạ Viên Khải. Hắn lên phòng nàng ta lúc nửa đêm, và sau đó một canh giờ thì họ Viên rời khỏi kỹ viện, rồi thong dong tản bộ để thưởng thức ánh trăng sáng, hắn đã nói thế. Văn Cảnh Phương thì ở cùng một cô nương tên là Đỗ Quyên, một cô nương dễ thương, mặc dù sáng nay tâm trạng nàng ta hơi ủ rũ. Dường như họ Văn đã uống khá nhiều trong yến tiệc, nên khi lên đến phòng của Đỗ Quyên thì y ngả mình xuống giường rồi bất tỉnh nhân sự ra đó. Đỗ Quyên cố đánh thức y dậy nhưng vô ích, nên sang chơi bài với những cô nương ở gian phòng kế bên và quên luôn y. Phải đến canh ba, y mới hồi tỉnh, nhưng lại khiến Đỗ Quyên phải thất vọng vì y vẫn còn say mèm nên đã về thẳng nhà mình, và cũng đi bộ. Họ Văn thích đi bộ hơn là ngồi kiệu, vì y hy vọng gió đêm mát mẻ sẽ giúp mình tỉnh rượu, và còn có thể thưởng thức phong cảnh ven hồ. Bẩm đại nhân, đó là tất cả mọi chuyện thuộc hạ đã điều tra được. Thuộc hạ cho rằng Sử Hiểu Minh chính là đối tượng khả nghi nhất. Có thể nói khi kết hôn với tỷ tỷ của họ Sử, Mạnh Lam đã cướp đi chén cơm của y. Thuộc hạ sẽ bảo Bộ đầu truy nã Sử Hiểu Minh chứ ạ? Thuộc hạ có một bản mô tả rõ ràng về y rồi.”

“Vậy hãy làm đi,” Địch Công nói. “Bây giờ ngươi có thể đi ăn cơm rồi nghỉ trưa. Từ giờ cho đến tối, ta sẽ chưa cần đến ngươi đâu.”

“Vậy thuộc hạ sẽ đi chợp mắt một chút,” Mã Vinh nói với vẻ hài lòng. “Thuộc hạ đã trải qua một buổi sáng khá vất vả. Nào là chuyến săn vịt rồi còn những chuyện khác nữa chứ.”

“Ta không nghi ngờ chuyện đó!” Địch Công lạnh nhạt đáp.

Sau khi Mã Vinh đã nói lời cáo từ và rời đi, Địch Công đi lên lầu thượng được lát đá cẩm thạch - từ đây có thể phóng tầm mắt trông ra hồ nước. Ông ngồi xuống một ghế bành rộng rãi, rồi dùng bữa cơm trưa được dọn ra ở đó. Ông không muốn đi về tư gia ở phía sau nha phủ; bởi nếu đang bận tâm tới một vụ án mạng, thì ông sẽ không thiết tha gì đến thê tử. Khi đã dùng bữa xong, ông kéo chiếc ghế bành vào một góc tối trên lầu thượng. Thế nhưng ngay lúc Địch Công đang chuẩn bị chợp mắt đôi chút thì có tín sứ đến, trao cho ông một bản báo cáo dài của Hồng Sư gia. Lão quân sư viết rằng việc điều tra ở khu vực phía Tây Hán Nguyên đã phát hiện ra vụ tấn công nhằm vào Thư lệnh sử đại nhân của Bộ Hộ là do một toán gồm sáu tên côn đồ gây nên. Sau khi đã đánh vị mệnh quan triều đình này bất tỉnh và đoạt lấy túi đựng vàng, bọn chúng bình tĩnh đi đến một tiểu khách điếm gần ranh giới phía Tây của huyện để ăn một bữa linh đình. Rồi một kẻ lạ mặt đi đến, y che khăn choàng cổ khuất mũi miệng mình, mọi người trong khách điếm ấy chưa từng trông thấy y trước đây. Tên cầm đầu toán cướp giao túi vàng cho hắn, sau đó cả bọn rời đi thẳng về phía khu rừng của huyện lân cận. Lát sau, thi thể của kẻ lạ mặt ấy được tìm thấy trong một con hào, cách không xa khách điếm. Y được nhận diện thông qua trang phục trên người; còn khuôn mặt y đã bị đánh tơi tả, bầm giập. Ngỗ tác địa phương là một nam nhân giàu kinh nghiệm; ông ta đã kiểm tra dạ dày của người chết, và phát hiện ra dấu vết của một loại độc dược mạnh. Còn chiếc túi đựng vàng tất nhiên đã biến mất. “Như thế, vụ tấn công Thư lệnh sử đại nhân đã được trù tính kế hoạch chu đáo,” Sư gia viết kết luận, “do một kẻ nào đó vẫn còn đứng đằng sau, giật dây những tên khác, và thao túng mọi chuyện. Hắn sai khiến một tên đồng bọn thuê đám lưu manh thực hiện hành vi cướp bóc hung bạo, rồi lại phái chính tên ấy đến tiểu khách điếm để thu lấy chiến lợi phẩm. Đích thân hắn bám theo kẻ đồng lõa, hạ độc rồi đánh chết y, bởi hắn muốn trừ khử một nhân chứng có khả năng gây bất lợi cho mình, hoặc bởi hắn không muốn chia chác ngân lượng ấy cho kẻ đồng lõa. Để truy lùng ra dấu vết hung thủ đứng đằng sau vụ này, chúng ta sẽ phải thỉnh cầu sự hợp tác từ đồng liêu của đại nhân ở các huyện lân cận. Lão phu kính thỉnh đại nhân lên đường đến nơi đây.”

Địch Công chậm rãi cuộn báo cáo lại. Sư gia đã đúng, ông nên đi đến nơi đó ngay. Tuy nhiên, vụ án mạng của Mạnh thi sĩ cũng cần ông phải lưu tâm. Cả Viên Khải và Văn Cảnh Phương đều có khả năng gây án, nhưng không ai trong số họ có động cơ thủ ác cả. Tiểu đệ của Mạnh phu nhân thì quả thực có động cơ, nhưng nếu y là kẻ gây án thì chắc chắn giờ này y đã lẩn trốn đến một nơi xa xôi hẻo lánh nào đó rồi. Thở dài, Địch Công ngả người dựa lưng vào ghế, trầm ngâm vuốt ve chòm râu. Trước khi nhận thức được chuyện gì xảy ra thì ông đã chìm vào giấc ngủ say...

Lúc tỉnh dậy, ông buồn bực nhận ra mình đã ngủ quá lâu rồi, hoàng hôn đã buông xuống tự lúc nào. Mã Vinh cùng Bộ đầu đang đứng gần hàng chấn song. Bộ đâu bẩm báo rằng lệnh truy nã Sử Hiểu Minh đã được cáo thị, nhưng vẫn chưa phát hiện được tung tích của y.

Địch Công đưa bản báo cáo của lão quân sư cho Mã Vinh, đoạn nói, “Ngươi hãy đọc kĩ đi. Sau đó, ngươi có thể tiến hành những chuẩn bị cần thiết cho chuyến đi đến ranh giới phía Tây của Hán Nguyên, vì chúng ta sẽ khởi hành đến đó vào sáng sớm mai. Trong các thư từ được chuyển đến có một lá thư từ Bộ Hộ trong kinh thành, ra lệnh cho ta lập tức bẩm báo về vụ cướp. Chỉ một xâu đồng xu bị mất cũng khiến họ mất ngủ nhiều đêm, huống hồ tận mười hai đĩnh vàng ròng!”

Địch Công đi xuống lầu. Trong thư phòng, ông thảo một bản báo cáo sơ bộ gửi cho Bộ Hộ. Sau đó, ông dùng cơm chiều được dọn ra trên án thư của mình. Ông hầu như không nếm được vị gì, mọi suy nghĩ của Địch Công đang ở nơi khác. Buông đũa xuống, ông thở dài ngẫm nghĩ thật quá xui xẻo khi hai vụ án lại xảy ra gần như cùng một thời điểm. Bất chợt, Địch Công đặt chén trà xuống. Ông đứng dậy và bắt đầu rảo bước qua lại quanh phòng. Ông nghĩ mình đã tìm ra được lời giải thích cho chén rượu bị mất, phải xác minh điều đó ngay lập tức. Địch Công bước đến bên cửa sổ và nhìn ra khoảng sân bên ngoài. Khi thấy không có ai ở gần đó, ông vội vàng băng qua cửa hông và im hơi lặng tiếng rời khỏi nha phủ.

Trên đường đi, ông kéo cổ áo lên, che kín nửa mặt mình, rồi ở khúc quanh ông thuê một chiếc kiệu nhỏ có mái che. Địch Công trả ngân lượng cho các tay phu hạ kiệu đằng trước tòa đại viện ở Dương Liễu Ổ. Những âm thanh đàn phách hát ca cùng tiếng cười đùa phóng đãng hỗn tạp vọng ra từ những khung cửa sổ sáng đèn rực rỡ; rõ là một yến tiệc vui vẻ đang diễn ra ở đó. Địch Công vội bước tiếp và bắt đầu đi dọc theo con đường mòn dẫn đến điền trang của Mạnh Lam.

Khi tiến đến gần cổng điền trang, ông nhận thấy nơi này đang rất yên tĩnh, hàng cây chặn đứng những tiếng ồn ào huyên náo từ Dương Liễu Ổ. Ông nhẹ nhàng đẩy cánh cổng mở ra và quan sát hoa viên. Ánh trăng sáng soi chiếu trên hồ sen, còn gian nhà phía sau hoa viên lại tối đen như mực. Địch Công đi vòng quanh hồ, rồi cúi xuống nhặt lên một viên đá. Ông ném nó vào trong hồ. Tức thì đàn ếch bắt đầu đồng thanh phát ra tiếng kêu ộp ộp. Nở nụ cười hài lòng, Địch Công đi tiếp đến cửa ra vào, và lại lần nữa kéo cổ áo lên che kín mũi miệng mình. Đứng dưới bóng râm của hàng hiên, ông gõ cửa.

Một tia sáng lóe ra từ sau cửa sổ. Rồi cánh cửa mở ra và ông nghe thấy giọng Mạnh phu nhân thì thầm, “Vào trong, nhanh lên!”

Nàng ta đang đứng ở khung cửa, thân thể lõa lồ. Nàng chỉ vận một chiếc tiết khố mỏng manh quấn quanh eo, còn mái tóc thì buộc lỏng lẻo. Khi Huyện lệnh kéo cổ áo xuống, nữ nhân thốt ra một tiếng kêu cố kìm nén.

“Ta không phải là kẻ mà phu nhân đang chờ mong đâu,” ông lạnh lùng nói, “nhưng dù sao ta cũng sẽ đi vào”. Ông bước vào trong, đóng lại cánh cửa sau lưng mình rồi nghiêm nghị nói tiếp với nữ nhân đang co rúm người lại, “Phu nhân đang chờ ai thế?”

Đôi môi mỹ nhân mấp máy nhưng không có âm thanh nào thoát ra.

“Nói to lên!” Địch Công quát.

Giữ chặt tiết khố quấn quanh eo mình, nàng ta lắp bắp nói, “Dân phụ không đợi ai cả. Dân phụ bị tiếng kêu của lũ ếch đánh thức, rồi lo sợ có kẻ đột nhập vào. Thế nên, dân phụ mới đi ra để nhìn xem và...”

“Và yêu cầu kẻ đột nhập đi vào trong nhanh lên sao! Nếu buộc phải nói dối, thì phu nhân nên khôn khéo hơn! Dẫn ta đi xem gian phòng mà phu nhân đang đợi tình lang ấy!”

Nàng ta lặng lẽ cầm lấy ngọn nến từ trên bàn, rồi dẫn Huyện lệnh đến một gian phòng nhỏ tẹo ở mé nhà. Bên trong chỉ có một chiếc phản gỗ chật hẹp, trải trên đó là manh chiếu cói mỏng tanh. Địch Công vội bước đến bên chiếc giường và chạm vào tấm chiếu. Nó vẫn còn phả ra hơi ấm từ thân thể nàng ta. Đứng thẳng dậy, ông gay gắt tra hỏi, “Phu nhân luôn ngủ ở đây sao?”

“Bẩm đại nhân, không ạ, đó là gian phòng của thị đồng, y dùng nó để chợp mắt ban trưa. Phòng của dân phụ nằm ở phía bên kia của gian sảnh mà chúng ta vừa đi qua khi nãy.”

“Đưa ta đến đó!”

Lúc nàng ta đi qua sảnh đường và đưa Địch Công vào xem gian phòng rộng lớn, ông đoạt lấy ngọn nến từ tay nữ nhân và mau chóng tra xét gian phòng. Có một chiếc bàn trang điểm cùng một ghế bành bằng trúc, bốn rương chứa y phục và một khung giường lớn. Địch Công vén bức rèm che giường sang một bên. Ông trông thấy tấm chiếu tranh dày mềm mại đã được cuộn lại cùng những chiếc gối được cất vào trong hốc ở trên tường. Ông xoay sang nàng ta và giận dữ nói, “Bản quan không quan tâm ngươi sắp sửa ngủ với tình lang của mình ở đâu, ta chỉ muốn biết danh tính của y. Nói to lên!”

Nữ nhân không đáp lời, nàng ta chỉ trao cho ông một cái liếc trộm đầy cạnh khóe. Đoạn tiết khố của nàng ta trôi tuột xuống sàn nhà và giai nhân đứng trơ ra đó, toàn thân lõa lồ. Dùng đôi bàn tay che đậy thân thể mình, nàng ta nhìn ông, ra dáng bẽn lẽn.

Địch Công quay sang chỗ khác, “Những mánh lới xuẩn ngốc kiểu này khiến ta phát chán,” ông lạnh lùng nói. “Mặc y phục vào ngay, ngươi sẽ đi cùng ta đến nha phủ và trải qua đêm nay ở trong đại lao. Ngày mai, ta sẽ thẩm vấn ngươi ở công đường, nếu cần thiết sẽ tiến hành tra khảo.”

Nàng ta lặng lẽ mở một chiếc rương đựng y phục và bắt đầu mặc xiêm y vào. Địch Công đi đến sảnh đường và ngồi ở đó. Ông ngẫm rằng nàng ta đã sẵn sàng toan tính đường đi nước bước cho cả một quá trình lâu dài để bao che cho tình lang của mình. Đoạn ông nhún vai. Vì nàng ta từng là một kỹ nữ, nên việc đó quả thực không quá khó khăn. Khi nữ nhân tiến vào, trang phục đã tề chỉnh, ông ra hiệu cho nàng ta đi theo mình.

Họ gặp trương tuần cùng một đội tuần đinh tại lối vào Dương Liễu Ổ. Huyện lệnh bảo trương tuần đưa Mạnh phu nhân đến nha phủ bằng một chiếc kiệu có mái che, rồi giao nàng ta cho Giám ngục. Ông cũng đặc phái bốn tuần đinh đến điền trang của thi sĩ quá cố, bọn họ sẽ chuẩn bị ẩn nấp trong sảnh đường và bắt giữ bất cứ kẻ nào đến gõ cửa. Sau đó, Địch Công thong thả tản bộ trở về. Ông lại miên man chìm trong suy nghĩ.

Khi đi ngang qua vọng gác cổng của nha phủ, ông trông thấy Mã Vinh đang ngồi trong đó trò chuyện cùng đám nha dịch. Ông triệu thủ hạ của mình đến thư phòng. Lúc Địch Công kể cho y nghe về những gì đã xảy ra tại điền trang, Mã Vinh buồn bã lắc đầu và nói, “Vậy là nàng ta có một gã tình nhân bí mật, và chính hắn chứ không ai khác, là kẻ đã giết hại phu quân nàng. Tốt lắm, điều đó có nghĩa là vụ án thực tế đã được phá giải. Thêm vài lời thuyết phục thấu tình đạt lý, nàng ta sẽ cung khai ra điều mà chúng ta cần, danh tính của kẻ sát nhân.”

Địch Công nhấp một ngụm trà, rồi chậm rãi cất lời, “Dù vậy, vẫn còn một vài điểm khiến ta lo âu. Ở đây tồn tại một mối liên kết rõ ràng giữa vụ án tại Mạnh gia với vụ tấn công nhằm vào ngài Thư lệnh sử của Bộ Hộ, nhưng ta vẫn chẳng có một chút ý tưởng nào, dù là nhỏ nhặt nhất, về ý nghĩa của sợi dây ràng buộc đó. Tuy nhiên, bản quan muốn nghe ý kiến của ngươi về hai lập luận khác. Đầu tiên, làm thế nào mà Mạnh phu nhân có thể đắp xây được một mối tình vụng trộm như thế? Nàng ta cùng phu quân của mình hầu như chẳng bao giờ bước chân ra ngoài, còn một vài vị khách mà họ tiếp đón thì lại đến vào ban ngày. Thứ hai, ta đã xác thực rằng tối nay nàng ta đang ngủ trong phòng của thị đồng, trên một chiếc phản chật hẹp. Tại sao nàng ta lại không chuẩn bị đón tiếp tình lang của mình trong phòng ngủ, nơi có một chiếc giường rộng lớn và thoải mái? Sự tôn trọng dành cho phu quân quá cố có lẽ không thể nào ngăn cản nàng ta làm điều đó, bởi nàng ta đã từng vui vẻ lừa dối sau lưng đức phu quân! Tất nhiên, ta biết là những kẻ gian phu dâm phụ như thế không quá để tâm đến việc thoải mái hay không, nhưng cho dù là vậy, cái phản chật hẹp thô cứng ấy..””

“Ối, à,” Mã Vinh nói với một nụ cười nhăn nhở, “về điểm thứ nhất, giả như một thiếu phụ quyết tâm có những cuộc vui thú ngắn ngủi qua đường, thì ngài có thể hoàn toàn chắc rằng, nàng ta sẽ bất chấp xoay xở tìm ra mọi cách thức và phương tiện để được hoan lạc trong cuộc phiêu lưu tình ái vụng trộm kia. Có lẽ chính tên thị đồng của Mạnh gia là người mà nàng đang dại khờ lao vào cuộc yêu đương, vậy thì những niềm vui thú riêng tư của nàng không dính dáng gì đến vụ án mạng cả. Còn về điểm thứ hai, thuộc hạ cũng thường xuyên ngủ trên phản, nhưng phải thú nhận rằng Mã Vinh này chưa từng nghĩ đến việc sẽ chia sẻ nó với người khác. Dù vậy, thuộc hạ sẽ rất sẵn lòng tới Dương Liễu Ổ, và tiến hành những cuộc điều tra về lợi thế đặc biệt của nó, nếu có.” Y nhìn Huyện lệnh đầy hy vọng.

Địch Công nhìn chằm chằm vào Mã Vinh, nhưng tâm tư của ông có vẻ đang ở nơi nào khác. Chậm rãi vuốt râu, ông trầm lặng một hồi. Chợt Địch Công mỉm cười. “Đúng,” ông nói, “chúng ta có thể thử cách đó xem.” Mã Vinh trông có vẻ vừa ý. Thế nhưng, mặt y lại xịu xuống khi Địch Công hùng hồn nói tiếp, “Hãy đi ngay đến Hồng Lý tửu điếm, phía sau khu chợ cá. Bảo Bang chủ Cái Bang ở đó triệu tập mười hai tên hành khất hay lai vãng quanh Dương Liễu Ổ, rồi đưa tất cả những kẻ đó đến đây. Nhớ nói với Bang chủ rằng ta muốn tra hỏi bọn họ về những tình tiết quan trọng mới được đưa ra ánh sáng, liên quan đến vụ sát hại thi sĩ Mạnh Lam. Đừng giữ bí mật về chuyện đó. Trái lại, hãy lo liệu để đảm bảo rằng tất cả lê dân bách tính đều biết chuyện ta đang triệu tập những tên hành khất ấy cho mục đích gì. Lên đường đi!”

Trong khi Mã Vinh vẫn còn ngồi thừ ra đó, lặng người nhìn Huyện lệnh, ông nói thêm, “Nếu kế hoạch của ta thành công, bản quan sẽ giải quyết được cả vụ án mạng tại Mạnh gia và vụ cướp vàng. Hãy cố gắng hết sức!”

Mã Vinh đứng lên và vội vã bước ra ngoài.

Khi Mã Vinh dẫn theo bốn tên hành khất ăn mặc rách rưới trở lại thư phòng của Địch Công, y nhìn thấy trên chiếc bàn kê sát tường bày những chiếc đĩa lớn đựng quả tươi, bánh ngọt, cùng vài bầu rượu.

Địch Công khiến những kẻ đang kinh sợ cảm thấy thoải mái hơn bằng vài câu chào hỏi thân thiện, rồi bảo họ nếm thử thức ăn và uống một chén rượu. Khi mấy tên hành khất đang kinh ngạc lê bước đến bên bàn và ngắm nghía đồ ăn với vẻ đói khát, Địch Công tách Mã Vinh sang một bên rồi thấp giọng nói:

“Hãy tới vọng gác và chọn ra ba Bộ khoái có năng lực. Ngươi cùng họ đợi ở cổng. Trong khoảng nửa canh giờ, ta sẽ thả bốn tên hành khất này đi. Phải bí mật bám theo sát từng tên một, không được rời mắt. Hãy bắt giữ bất kỳ ai xáp đến gần để bắt chuyện với một trong những tên này, rồi áp giải hắn đến đây, cùng với kẻ mà hắn đã tiếp cận.”

Rồi Địch Công quay sang những tên hành khất, và khuyến khích họ tự nhiên ăn uống. Những kẻ lang thang đang lúng túng ấy chần chừ rất lâu trước khi bắt đầu sốt sắng nhập bữa, nhưng rồi sau đó mấy chiếc đĩa và bầu rượu đã sạch trơn trong một thời gian ngắn đến đáng kinh ngạc. Đại ca của chúng, một tên côn đồ độc nhãn, chùi đôi bàn tay lên chòm râu vấy mỡ, rồi lẩm bẩm vẻ cam chịu với đồng bọn của mình, “Giờ thì lão sẽ khiến chúng mình đầu lìa khỏi cổ đó. Nhưng ta phải nói rằng đây quả là bữa ăn cuối cùng thịnh soạn.”

Tuy nhiên, trong sự ngạc nhiên của đám hành khất, Địch Công đã bảo bọn họ ngồi xuống mấy chiếc ghế đẩu phía trước án thư của mình. Ông hỏi thăm từng người về xuất thân, tuổi tác, gia thế cùng nhiều chi tiết vô thưởng vô phạt khác.

Khi nhóm hành khất nhận ra Huyện lệnh không đả động đến bất cứ chủ đề khó xử nào, họ bắt đầu nói chuyện thoải mái hơn, và nửa canh giờ mau chóng trôi qua.

Địch Công đứng lên, cảm tạ sự hợp tác của đám hành khất rồi bảo rằng họ có thể rời đi. Sau đó, ông bắt đầu rảo bước qua lại trên sàn nhà, đôi bàn tay đan chặt sau lưng.

Một tiếng gõ cửa vang lên sớm hơn ông dự đoán. Mã Vinh bước vào, kéo lê theo gã hành khất độc nhãn.

“Lão gia anh minh, tiểu nhân thật là oan uổng! Một lượng bạc này là người kia nhét vào tay của tiểu nhân!,” gã chột mắt rên rỉ. “Tiểu nhân xin thề mình không hề móc túi y! Tiểu nhân còn chưa kịp hiểu chuyện gì, đã bị vị quan gia này tóm lấy.”

“Bản quan biết ngươi không làm thế,” Địch Công nói. “Đừng lo lắng, ngươi có thể giữ lại lượng bạc đó. Chỉ cần kể cho bản quan biết y đã nói với ngươi những gì.”

“Bẩm lão gia, y đến gần lúc tiểu nhân đang lảng vảng ở góc đường, rồi dúi một lượng bạc ấy vào trong tay tiểu nhân. Y bảo rằng, ‘Đi với ta, kể cho ta nghe Huyện lệnh đã hỏi ngươi và các bằng hữu những gì, rồi ngươi sẽ được thêm một lượng bạc nữa’, Bẩm đại nhân, tiểu nhân xin thề đó là sự thật, không có nửa câu dối trá!”

“Tốt lắm! Ngươi có thể đi rồi. Đừng có tiêu ngân lượng vào rượu chè, cờ bạc nữa!” Khi gã hành khất gấp gáp chạy đi, Địch Công nói với Mã Vinh, “Giải phạm nhân ra đây!”

Dược sư Viên Khải bắt đầu lớn tiếng phản đối ngay khi vừa bước chân vào bên trong. “Một thường dân đường hoàng, đứng đắn mà lại bị bắt giam như một tên tội phạm tầm thường! Tại hạ yêu cầu được biết...”

“Và bản quan cũng yêu cầu được biết,” Địch Công lạnh lùng ngắt lời hắn, “tại sao ngươi mai phục gã hành khất đó, và lý do gì khiến ngươi dò hỏi y.”

“Thưa đại nhân, tất nhiên là vì tại hạ cực kỳ hứng thú với diễn tiến của cuộc điều tra! Tại hạ háo hức muốn được biết phải chăng...”

“Phải chăng bản quan đã tìm ra một manh mối nào đó chỉ dấu đến ngươi mà họ Viên ngươi đã bỏ sót,” Địch Công hoàn chỉnh câu nói của hắn. “Viên Khải, ngươi đã sát hại thi sĩ Mạnh Lam, và cả Sử Hiểu Minh, kẻ mà ngươi đã lợi dụng để liên lạc với bọn côn đồ thực hiện hành vi cướp của mệnh quan triều đình, Thư lệnh sử đại nhân. Hãy thú tội đi!”

Gương mặt Viên Khải tái đi. Nhưng hắn vẫn giữ giọng điệu bình tĩnh khi cất tiếng lanh lảnh chất vấn, “Tại hạ cho rằng đại nhân có đủ cơ sở vững chắc để đưa ra những cáo trạng nghiêm trọng đó chứ?”

“Ta có. Mạnh phu nhân khẳng định rằng Mạnh tiên sinh chưa bao giờ tiếp khách vào ban đêm. Nàng ấy cũng đề cập chuyện đàn ếch trong hồ sen không bao giờ kêu ộp ộp vào ban ngày. Thế nhưng, ngươi từng bình phẩm về tiếng ồn mà đôi khi chúng gây ra. Điều ấy chứng tỏ ngươi đã có mặt tại đó vào buổi đêm. Hơn nữa, họ Mạnh đã uống rượu cùng kẻ sát hại mình, tên sát nhân đã để lại cái chén của bản thân ở trên bàn, nhưng lại lấy đi cái chén đặc biệt của họ Mạnh. Điều đó, kết hợp với gương mặt điềm tĩnh của họ Mạnh, đã cho ta biết ông ấy đã bị hạ độc trước khi bị giết hại, và hung thủ đã lấy đi chén rượu của nạn nhân vì hắn sợ rằng nó vẫn còn bốc mùi sau khi bỏ thuốc, dù cho hắn đã rửa sạch nó ngay tại hồ. Còn tên đồng lõa của hung thủ, là kẻ đã tổ chức vụ tấn công Thư lệnh sử đại nhân của Bộ Hộ - cũng đã bị hạ độc trước khi vong mạng. Điều này gợi ra rằng cả hai vụ án đều được thực hiện bởi cùng một kẻ ác nhân. Chính đầu mối đó khiến bản quan hoài nghi ngươi, bởi là một dược sư thì ngươi ắt biết rõ về các loại thuốc, và cũng vì ngươi có cơ hội để ra tay hạ độc thủ với Mạnh Lam sau khi rời khỏi Dương Liễu Ổ. Ngoài ra, bản quan còn nhớ lại trong chuyến săn vịt sáng nay, chúng ta chẳng săn được gì, tay trắng ra về, dù có một chuyên gia săn bắn như ngươi dẫn dắt. Ngươi đã đuối sức, bởi vừa phải trải qua một đêm khá vất vả, hao tâm tổn sức trước đó. Thế nhưng, bằng việc dạy cho ta cách giăng lưới bẫy vịt, ngươi đã gợi ý cho bản quan một phương thức đơn giản để xác thực những nghi kỵ của mình. Đêm nay ta đã sử dụng đám hành khất làm mồi nhử, và ta đã bắt được ngươi.”

“Vậy còn động cơ của tại hạ?” Viên Khải chậm rãi hỏi.

“Một số việc không liên quan đến ngươi lại khiến bản quan phát hiện ra Mạnh phu nhân đang trông chờ tiểu đệ của mình là Sử Hiểu Minh bí mật đến thăm nàng vào ban đêm, và việc đó chứng tỏ nàng ta biết chuyện y đã phạm phải một tội ác nào đó. Khi Sử Hiểu Minh ghé thăm tỷ tỷ và tỷ phu của hắn vào tuần trước, và lúc họ từ chối đưa ngân lượng cho y, họ Sử đã trở nên giận dữ và khoác lác rằng ngươi đã tranh thủ sự trợ giúp của hắn trong một sự vụ có thể kiếm được rất nhiều kim ngân. Họ Mạnh cùng phu nhân của ông ta biết Sử Hiểu Minh chẳng phải là kẻ tốt lành gì, thế nên khi nghe tin về vụ tấn công Thư lệnh sử đại nhân của Bộ Hộ, và việc Sử Hiểu Minh không xuất đầu lộ diện, thì họ đã kết luận được đó chắc chắn là vụ làm ăn mà y từng ám chỉ đến. Mạnh Lam là một nam nhân trung thực, và ông ấy đã buộc tội ngươi về vụ cướp - đó chính là động cơ ra tay đê hèn của ngươi. Mạnh phu nhân muốn bao che cho tiểu đệ của mình, nhưng ngay khi nàng ta biết được chính ngươi đã hạ sát phu quân và cả tiểu đệ của mình, thì nàng ấy sẽ lên tiếng cung khai, và sự chứng thực của nàng sẽ kết lại vụ án theo hướng bất lợi cho ngươi, Viên Khải.”

Gã dược sư nhìn xuống; hắn thở dài nặng nhọc. Địch Công nói tiếp, “Ta sẽ tạ lỗi với Mạnh phu nhân. Cái nghề không may mắn mà nàng từng trải qua không hề ảnh hưởng đến phẩm chất trung trinh của nàng. Mạt Lỵ thật tâm ái mộ phu quân mình, và mặc dù biết tiểu đệ là kẻ vô tích sự, nàng vẫn sẵn lòng bị trừng phạt tại công đường, thay vì tố cáo tiểu đệ mình. À, nàng ấy sẽ sớm trở thành một thiếu phụ giàu có, vì một nửa gia sản của ngươi sẽ được chuyển giao cho Mạnh phu nhân, xem như khoản bồi thường cho cái chết của phu quân nàng. Và chắc chắn Văn Cảnh Phương sẽ thừa dịp này cầu hôn Mạt Lỵ, bởi y vẫn yêu thương nàng ấy sâu nặng. Còn về phần ngươi, Viên Khải, ngươi là một tên sát nhân bẩn thỉu, và đầu ngươi sẽ rơi xuống trên pháp trường.”

Thình lình họ Viên ngẩng đầu lên nhìn. Hắn thều thào nói, “Chính con ếch đáng ghét đã gây họa cho ta! Ta đã giết chết con súc sinh ấy, rồi đá nó xuống hồ. Chính việc đó đã làm kinh động những con ếch khác.” Đoạn hắn chua chát nói thêm, “Và ta thật ngu xuẩn khi cho rằng loài ếch không thể nói!”

“Chúng có thể đó,” Địch Công nghiêm nghị nói. “Và chúng đã lên tiếng.”

« Lùi
Tiến »