Địch Gia Bát Án

Lượt đọc: 2723 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hai gã hành khất

Nhân gian lụy bởi chữ tình

Cái bang tráo đổi bóng hình giai nhân.

Vì ai chấp nhận phong trần

Để cho thảm án một lần chia ly...

-Tùng Vũ-

---❊ ❖ ❊---

Câu chuyện này giải thích lý do tại sao Địch Công lại đến muộn trong bữa ăn tối quây quần cùng gia đình vào lễ hội Hoa Đăng. Đây là lễ hội kết thúc các hoạt động chào mừng năm mới được kéo dài trong nhiều ngày. Vào buổi tối, một bữa ăn thân mật trong gia đình được tố chức, và các nữ nhân sẽ xin gieo một quẻ bói xem vận hạn trong năm tới. Bối cảnh của câu chuyện này xảy ra tại huyện Phổ Dương, vốn đã rất quen thuộc đối với độc giả của tập “Bí mật quả chuông” thuộc bộ “Địch Công kỳ án”. Hồi 9 trong câu chuyện ấy có đề cập đến Lỗ Huyện lệnh, vị đồng liêu nhẹ dạ của Địch Công, là quan phụ mẫu của huyện Quyên Thành lân cận. Giờ đây, Lỗ Huyện lệnh vẫn tiếp tục góp vai trò trong câu chuyện về định mệnh đáng buồn giáng xuống cuộc đời hai gã hành khất.

Khi khách nhân cuối cùng đã ra về, Địch Công dựa lưng vào ghế, trút một hơi thở dài nhẹ nhõm. Đôi mắt mệt mỏi của ông nhìn về phía khu vườn đang chìm trong không gian ảm đạm của buổi hoàng hôn sắp tắt, ở đó ba nhi tử bé nhỏ của ông đang chơi đùa quanh các bụi cây. Trên những nhành cây trong vườn, bọn trẻ treo lên những chiếc đèn lồng được thắp sáng, lấp lánh trên đó là hình vẽ Bát Tiên.

Đó là ngày Mười Lăm tháng Giêng, lễ hội Hoa Đăng. Bách tính đang hối hả treo những chiếc đèn lồng đủ mọi hình dạng và kích cỡ được tô điếm sặc sỡ ở bên trong và bên ngoài nhà của mình, biến cả huyện thành một khung cảnh huyên náo lung linh sắc màu. Địch Công nghe thấy từ phía bên kia bức tường của khu vườn vọng lại tiếng cười nói của bách tính đang nhàn tản dạo bộ trong vườn bách thảo.

Cả trưa nay, các thân hào chí sĩ của huyện Phổ Dương trù phú, nơi Địch Công đương chức Huyện lệnh đã được một năm, đến tư gia của Địch Công ở đằng sau nha phủ để gửi đến ông những lời chúc tụng nhân ngày cát tường này. Ông đẩy chiếc mũ ô sa cánh chuồn ngược ra sau trán, đưa bàn tay vuốt mặt. Ông không quen uống quá nhiều rượu vào ban ngày; Địch Công cảm thấy có chút gì đó như muốn phát bệnh. Nghiêng người về phía trước, ông lấy một bông hồng lớn màu trắng từ trong cái bát trên bàn uống trà ra, bởi mùi thơm của nó được cho là có thể giải rượu. Hít sâu hương hoa hồng thơm ngát còn vương mùi tươi mới, Địch Công ngẫm ra vị khách cuối cùng của mình, Lăng phường chủ của phường kim hoàn, thật sự đã lưu lại quá lâu, cứ như mọc rễ trên ghế vậy. Còn Địch Công thì phải thay đổi y phục và tranh thủ chợp mắt trước khi đến nơi ở của ba vị phu nhân, họ đang giám sát việc chuẩn bị bữa ăn tối mừng lễ hội của Địch gia.

Giọng nói sôi nổi của những đứa trẻ vang lên từ khu vườn. Địch Công nhìn quanh và thấy hai đứa con trai lớn của mình đang vật lộn với nhau để tranh giành chiếc đèn lồng màu sắc sặc sỡ.

“Các con nên đi vào trong và tắm gội đi!” Địch Công lớn tiếng với chúng.

“A Khôi muốn giành chiếc đèn lồng đẹp nhất do đại tỷ và con cùng làm!,” trưởng nam của ông la lên phẫn nộ.

Địch Công sắp sửa lặp lại yêu cầu thì ông trông thấy cánh cửa ở hậu sảnh được mở ra. Hồng Sư gia, vị quân sư tin cẩn của ông, đang lê bước tiến vào bên trong. Nhận thấy lão trông thật sự rất mệt mỏi và uể oải, Địch Công nhanh chóng nói, “Hãy an tọa và dùng một chén trà, lão Hồng! Ta lấy làm tiếc phải để lại tất cả các công vụ thường nhật của nha phủ cho lão trong hôm nay. Bản quan lẽ ra phải đi đến công đường và xử lý một số công việc sau khi khách khứa ra về, nhưng Lăng phường chủ lại lắm chuyện hơn bao giờ hết. Y vừa rời khỏi đây chỉ vài khắc trước.”

“Cũng không có sự vụ gì đặc biệt quan trọng, thưa đại nhân,” Hồng Sư gia nói, khi lão rót cho Địch Công và chính mình một chén trà. “Khó khăn duy nhất của lão phu là khiến cho các Lục sự miệt mài làm việc. Không khí của lễ hội hôm nay đã chiếm hết tâm trí họ!”

Lão Hồng ngồi xuống và nhấp từng ngụm trà, ngón cái tay trái đang cẩn trọng giơ cao hàm râu xám xịt xơ xác của mình.

“À, lễ hội Hoa Đăng đang diễn ra,” Địch Công nói, đoạn ông đặt bông hồng trắng lên bàn. “Miễn là không có vụ án khẩn cấp nào thì chúng ta có thể cho phép nới lỏng giới nghiêm một chút nhân dịp này.”

Hồng Sư gia gật đầu. “Tuần đinh ở khu phía Bắc đã đến công đường ngay trước buổi trưa để trình báo một tai nạn, thưa ngài. Một gã hành khất đã ngã xuống cái cống thoát nước sâu hun hút, ở con hẻm cách không xa tư gia của Lăng phường chủ lắm. Đầu gã hành khất bị va đập vào tảng đá sắc nhọn, và gã đã về chầu trời. Ngỗ tác của chúng ta đã tiến hành một cuộc nghiệm thi và ký giấy chứng tử. Nam nhân khốn khổ, đáng thương ấy chỉ mặc một tấm áo choàng rách nát tả tơi, thậm chí còn không có đến một chiếc mũ trên đầu, và mái tóc hoa râm thì xõa tung, rối bù. Gã là một kẻ tàn tật. Chắc chắn gã đã trượt chân ngã xuống cống khi ra ngoài vào lúc bình minh để bắt đầu những lượt hành khất ban sáng của mình. Thẩm Bát, Bang chủ Cái Bang, không thể nhận diện kẻ xấu số.

Gã hành khất tội nghiệp này hẳn là đến thành từ vùng nội đô để mong muốn kiếm được kha khá ngân lượng trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Nếu không ai đến nhận diện thi thể, chúng ta sẽ cho hỏa táng vào ngày mai.”

Địch Công nhìn quanh, thấy trưởng nam của mình đang di chuyển một chiếc ghế bành giữa những hàng cột trụ ở trước tiền sảnh. Ông cáu gắt nói:

“Đừng có tốn thời gian làm mấy chuyện vô bổ với chiếc ghế đó nữa, hãy làm như phụ thân đã bảo đi! Cả ba đứa!”

“Dạ thưa phụ thân!,” cả ba nhi tử đồng thanh đáp to.

Trong khi bọn trẻ đang vội vã chạy đi, Địch Công nói với lão Hồng:

“Hãy bảo tuần đinh đậy chiếc cống thoát nước đúng cách, và mắng cho y một trận! Bản quan muốn bọn họ phải đảm bảo giữ cho mọi con đường trong khu phố của mình ở trạng thái tốt. Tiện đây, Địch gia trông đợi lão sẽ cùng dự bữa tối nho nhỏ với gia đình vào đêm nay, Hồng Sư gia à!”

Lão Hồng cúi đầu thi lễ với một nụ cười hài lòng.

“Bây giờ, lão phu sẽ đi tới công đường và khóa cửa lại, thưa đại nhân! Lão phu sẽ có mặt tại tư gia của ngài trong nửa canh giờ nữa.”

Sau khi Sư gia rời bước, Địch Công ngẫm rằng mình cũng nên thay bộ lễ phục bằng gấm màu xanh lục cứng nhắc chuyển sang tấm trường bào thoải mái hơn. Nhưng ông cảm thấy bất đắc dĩ phải rời khỏi bầu không khí yên tĩnh của đại sảnh hiện đang trống vắng này, và nghĩ mình cũng có thể dùng thêm một chén trà nữa. Ở vườn bách thảo bên ngoài, không gian trở nên yên lặng; thường dân bách tính đã về nhà dùng cơm tối. Sau đó, họ sẽ lại tụ họp trên đường phố để chiêm ngưỡng màn trình diễn đèn lồng và uống say bí tỉ trong các tửu điếm bên đường. Đặt chén trà xuống, Địch Công ngẫm nghĩ lẽ ra ông không nên cho Mã Vinh và hai thủ hạ kia của mình nghỉ một đêm, vì lúc đêm muộn có thể xảy ra những trận cãi vã ầm ĩ trong khu phố hoa. Ông phải nhớ bảo Bộ đầu dẫn đám Bộ khoái tăng cường gấp đôi việc canh phòng tuần tra ban đêm.

Ông vươn tay cầm lấy chén trà. Bất thình lình, Địch Công dừng lại. Ông nhìn chằm chằm, dán mắt vào bóng tối im lìm ở hậu sảnh. Một lão già cao lớn bước vào. Trông như lão đang khoác một tấm áo choàng rách nát, đầu để trần với mái tóc dài rũ rượi. Lão lặng lẽ khập khiễng băng qua sảnh, chống một chiếc nạng. Nam nhân đó dường như không chú ý đến Địch Công, vẫn bước tới, đầu cắm cúi tiến về phía trước.

Địch Công sắp sửa hét to lên và hỏi kẻ kia có ý gì khi đi vào mà không hề báo trước, nhưng ông không bao giờ thốt ra được những lời đó. Toàn thân Địch Công như tê dại, hóa băng giá trong nỗi kinh hoàng bất chợt ập tới. Nam nhân ấy dường như nhẹ nhàng đi vụt xuyên qua cái tủ lớn, rồi im lìm bước vào khu vườn.

Địch Công bật dậy và chạy xuống các bậc thang trong vườn. “Quay lại đây, tên kia!” Địch Công hét lên giận dữ.

Không có lời đáp lại.

Địch Công bước chân xuống khu vườn tràn ngập ánh trăng. Không có ai ở đó. Ông nhanh chóng tìm kiếm khắp những bụi cây thấp dọc theo bức tường, nhưng không phát hiện được gì cả. Cánh cổng nhỏ dẫn đến vườn bách thảo bên ngoài vẫn được khóa chặt và cài then như thường lệ.

Địch Công vẫn đứng đó. Bất giác rùng mình, ông kéo chiếc áo choàng sát vào thân mình hơn. Ông đã thấy bóng ma của gã hành khất quá cố.

Một lúc sau, Địch Công trấn tĩnh lại bản thân. Ông đột ngột quay lưng, đi về sảnh và tiến vào hành lang tối lờ mờ dẫn đến tư gia của mình. Ông hời hợt đáp lại lời chào hỏi cung kính của tên lính gác đang thắp sáng hai chiếc đèn lồng màu sắc sặc sỡ ở cổng, sau đó băng qua sân trong nha phủ và đi thẳng đến công đường.

Các Lục sự đã về nhà; giờ chỉ còn Hồng Sư gia ở đó, đang phân loại một đống giấy tờ trên án thư nhờ vào ánh sáng leo lét của một ngọn nến duy nhất. Lão ngạc nhiên ngước lên nhìn khi thấy Huyện lệnh bước vào.

“Ta nghĩ mình nên xem qua thi thể gã hành khất một chút.” Địch Công bình thản nói.

Lão Hồng nhanh chóng thắp sáng một cây nến mới. Sư gia dẫn Địch Công đi qua những hành lang tối tăm, hoang vắng đến đại lao nằm phía sau công đường. Ở sảnh bên, một vóc dáng mảnh khảnh đang nằm trên chiếc bàn bằng gỗ thông, được phủ một tấm chiếu.

Địch Công cầm cây nến từ Hồng Sư gia, và ra hiệu cho lão giở tấm chiếu ra. Giơ cây nến lên, Địch Công nhìn chằm chằm vào khuôn mặt vô hồn, hốc hác nọ. Đôi má hóp lại, sâu hoắm, hằn sâu những nếp nhăn, nhưng không hề có chút thô kệch nào của một gã hành khất phàm phu tục tử như thói đời thường nghĩ. Gã khoảng ngũ tuần; mái tóc hoa râm dài, rối bù. Đôi môi mỏng dính bên dưới hàng ria mép ngắn ngủn bị biến dạng trong một điệu bộ nhăn nhó ghê tởm. Gã không có râu.

Huyện lệnh kéo mở phần dưới của chiếc áo choàng rách nát, vá chằng vá đụp. Chỉ vào cẳng chân trái dị dạng, Địch Công bình phẩm, “Gã chắc hẳn từng vỡ đầu gối một lần, và nó đã bị cố định lại rất tệ hại. Gã hành khất chắc đã phải đi khập khiễng thấy rõ.”

Hồng Sư gia nhặt một cái nạng dài dựng ở góc lên và nói, “Do khá cao nên gã đã chống cái nạng này. Nó được tìm thấy bên cạnh gã, dưới đáy cống.”

Địch Công gật đầu. Ông cố nâng cánh tay trái của thi thể lên, nhưng nó gần như cứng đơ. Cúi người xuống, ông quan sát bàn tay của thi thể, rồi thẳng người lại, Địch Công nói, “Nhìn này, lão Hồng! Bàn tay mềm mại này không có bất kỳ vết chai sạn nào, móng tay dài, được chăm sóc kĩ lưỡng! Hãy lật thi thể lại!”

Khi Sư gia đã lăn thi thể cứng ngắc cho nằm úp mặt lại, Địch Công nghiên cứu vết thương nứt toạc ở mặt sau của hộp sọ. Một hồi sau, ông đưa cây nến cho lão Hồng, và lấy một chiếc khăn giấy từ tay áo của mình ra, ông dùng nó để cẩn thận gạt mái tóc hoa râm rối bù bị đọng máu khô sang một bên. Sau đó ông xem xét kĩ lưỡng chiếc khăn dưới ánh nến. Chìa cho Hồng Sư gia xem cùng, Địch Công nói xẵng, “Lão thấy cát mịn và sạn trắng chứ? Lão có tin rằng sẽ tìm thấy chúng ở dưới đáy cống thoát nước không?”

Hồng Sư gia lắc đầu bối rối vẻ khó hiểu. Lão chậm rãi trả lời, “Không, thưa ngài. Đúng hơn phải là nhớt rêu và bùn đất, lão phu đoán vậy.”

Địch Công bước về phía cuối bàn rồi nhìn vào bàn chân trần trắng trẻo và lòng bàn chân mềm mại. Quay sang Sư gia, ông nghiêm nghị nói, “Bản quan e rằng đầu óc của Ngỗ tác chúng ta mải nghĩ về lễ hội tối nay hơn là về nhiệm vụ của mình khi y thực hiện cuộc nghiệm thi. Nam nhân này chẳng phải là hành khất, và gã cũng không vô tình rơi xuống cống. Gã bị ném xuống đó sau khi chết, do chính tay kẻ thủ ác đã hạ sát gã.”

Hồng Sư gia gật đầu, buồn bã vuốt bộ râu xám ngắn ngủn của mình. “Vâng, tên sát nhân chắc chắn đã lột trần gã, và khoác cho gã tấm áo choàng hành khất. Lẽ ra lão phu phải nhận ra ngay lập tức là nam nhân này lõa thể dưới tấm áo choàng rách nát tả tơi đó. Thậm chí ngay cả một tên hành khất nghèo đói cũng phải mặc gì đó bên trong; vào buổi tối, trời vẫn còn khá lạnh lẽo.” Nhìn lại vết thương đã nứt toạc, Sư gia hỏi:

“Ngài có nghĩ đầu gã bị đập mạnh bởi một cây gậy to không, thưa đại nhân?”

“Có lẽ thế,” Địch Công đáp lời. Ông vuốt bộ râu dài đen nhánh của mình. “Có ai bị trình báo mất tích gần đây không?”

“Thưa có, bẩm đại nhân! Lăng phường chủ đã gửi một bức thư ngắn vào ngày hôm qua đề cập đến việc Vương tiên sinh, phu tử của nhà ông ấy, đã không quay trở lại sau kỳ nghỉ hàng tuần cách đây hai ngày.”

“Thật kỳ lạ, họ Lăng không nhắc đến điều đó khi y đến viếng thăm ta vừa mới đây thôi!” Địch Công lẩm bẩm. “Hãy bảo Bộ đầu chuẩn bị sẵn kiệu cho bản quan! Kêu quản gia thông báo cho Đại phu nhân đừng chờ ta về ăn tối!”

Sau khi lão Hồng đã rời đi, Địch Công vẫn đứng đó, nhìn xuống nam nhân xấu số, mà mới đây thôi ông còn trông thấy hồn ma của gã băng ngang qua sảnh đường.

Lăng phường chủ chạy vội ra sân trước khi những người phu hạ kiệu của Địch Công xuống. Vừa đỡ Huyện lệnh bước xuống, họ Lăng vừa vồn vã hỏi thăm, “Chà, chà, vận may nào đã khiến tại hạ có được niềm vinh dự bất ngờ này đây?”

Rõ là họ Lăng vừa rời khỏi bữa tiệc tối chào mừng lễ hội của gia đình, bởi người y nồng nặc mùi rượu, giọng điệu lè nhè và lời nói thốt ra cứ líu ra líu ríu.

“Khó có thể cho là may mắn được, ta e là thế,” Địch Công bình phẩm trong lúc họ Lăng dẫn ông và Hồng Sư gia đến sảnh đường. “Ông có thể mô tả diện mạo vị phu tử của Lăng gia cho bản quan biết được hay không, chính là nam nhân đã mất tích ấy?”

“Trời ơi, tại hạ thực sự hy vọng ông ấy không vướng phải rắc rối gì! Ôi, ông ta trông không có gì đặc biệt cả. Một nam nhân dáng cao, vóc người mảnh khảnh, với hàng ria mép ngắn, không có râu. Ông ta bước đi khập khiễng, chân trái bị biến dạng nặng nề.”

“Ông ấy đã gặp phải một tai nạn chết người,” Địch Công điềm tĩnh nói.

Họ Lăng trao cho Địch Công một cái nhìn lướt nhanh, rồi ra hiệu mời vị khách của mình ngồi xuống vị trí danh dự tại bàn trung tâm, bên dưới chiếc đèn lồng khổng lồ làm bằng lụa màu thắp sáng cho bữa tiệc. Bản thân y cũng an tọa đối diện với Địch Công. Hồng Sư gia vẫn đứng đằng sau ghế của chủ nhân mình. Trong khi quản gia dâng trà, Lăng phường chủ chậm rãi nói, “Vậy ra đó là lý do tại sao Vương tiên sinh không xuất hiện ở đây vào hai ngày trước, sau ngày nghỉ hàng tuần của ông ấy!” Tin tức bất ngờ có vẻ như đã khiến họ Lăng tỉnh rượu hẳn ra.

“Ông ấy đã đi đâu?” Địch Công hỏi.

“Có trời mới biết! Tại hạ không phải là người hay tò mò săm soi công việc riêng của người làm trong gia đình. Vương tiên sinh được nghỉ vào mỗi thứ Năm hàng tuần; ông ta sẽ rời khỏi đây vào đêm thứ Tư trước bữa ăn tối, và trở về vào tối thứ Năm, cũng vào giờ ăn. Đó là tất cả những gì tại hạ biết, và cần biết, thưa đại nhân!”

“Ông ấy đã ở Lăng gia bao lâu rồi?”

“Khoảng một năm. Vương tiên sinh đến từ kinh thành theo lời giới thiệu của một thợ kim hoàn nổi danh. Vì cần một phu tử để dạy dỗ nội tôn của mình, nên tại hạ đã thuê ông ấy. Tại hạ nhận thấy Vương tiên sinh là một nam nhân lịch sự, hòa nhã. Cũng rất có năng lực nữa.”

“Ông có biết tại sao họ Vương quyết định rời chốn kinh kỳ hoa lệ để tìm kiếm việc làm tại Phổ Dương này không? Ông ta có gia thất ở đây chăng?”

“Tại hạ không biết,” họ Lăng đáp lại, giọng gắt gỏng. “Tại hạ không có thói quen bàn luận với ông ta bất cứ điều gì ngoại trừ sự tiến bộ trong học tập của các cháu mình.”

“Hãy cho gọi quản gia của ông!”

Lăng phường chủ quay người lại trên ghế và vẫy tay ra hiệu cho quản gia đang lảng vảng ở phía hậu sảnh rộng rãi.

Khi hắn đến gần bàn và cúi rạp mình thi lễ, Địch Công nói, “Họ Vương đã gặp một tai nạn và nha phủ phải thông báo cho thân bằng quyến thuộc của ông ấy. Bản quan nghĩ ngươi biết địa chỉ của họ hàng ông ta ở đây, phải không?”

Quản gia ném một cái nhìn thoáng qua về phía chủ nhân mình với vẻ băn khoăn, lo lắng. Hắn lắp bắp, “Ông ấy... theo như tiểu nhân biết thì Vương tiên sinh không có bất cứ họ hàng nào sống ở huyện Phổ Dương, thưa đại nhân.”

“Họ Vương đã đi đâu trong ngày nghỉ hàng tuần của mình?”

“Ông ta chưa bao giờ kể với kẻ hèn này, thưa ngài. Tiểu nhân cho là ông ấy đi gặp bằng hữu hay đại loại thế.” Trông thấy nét mặt hoài nghi của Địch Công, hắn nhanh chóng tiếp tục, “Vương tiên sinh là một nam nhân lầm lì ít nói, thưa đại nhân, và ông ấy luôn lảng tránh những câu hỏi về chuyện riêng tư của mình. Ông ta thích sự cô độc, và thường dành thời gian rảnh rỗi ở trong gian phòng nhỏ bé của mình tại sân sau của dinh thự này. Thú giải trí duy nhất của ông ấy là những chuyến tản bộ ngắn ngủi trong hoa viên.”

“Ông ấy đã không nhận hay gửi bất kỳ lá thư nào à?”

“Tiểu nhân không biết, thưa ngài.” Quản gia do dự một chút. “Nhân có lần nghe được những bình phẩm của Vương tiên sinh về cuộc sống trước đây ở chốn kinh thành, tiểu nhân biết được thông tin là Vương phu nhân đã rời bỏ ông ấy. Có vẻ như bà ta là một nữ nhân có tính khí rất ghen tuông.” Hắn đưa mắt lo lắng liếc nhìn nhanh chủ nhân của mình. Khi thấy họ Lăng đang nhìn chằm chằm về phía trước và dường như không lắng nghe gì, y lại tiếp tục nói với vẻ tự tin hơn, “Vương tiên sinh không có tài sản riêng gì cả, thưa ngài, và là một kẻ rất bủn xỉn. Hầu như ông ta không tiêu xài một xu nào trong tiền lương của mình, thậm chí chẳng bao giờ ngồi kiệu khi đi ra ngoài. Nhưng ông ấy hẳn đã từng rất giàu có. Tiểu nhân có thể nói vậy qua những kiểu cách nhỏ nhặt của Vương tiên sinh. Tiểu nhân nghĩ rằng ông ấy thậm chí còn từng là một quan viên triều đình, vì thỉnh thoảng khi mất cảnh giác, Vương tiên sinh nói chuyện với tiểu nhân bằng giọng điệu của người có quyền thế. Tiểu nhân cho là ông ta đã mất mọi thứ, từ tiền tài cho đến địa vị của mình. Dù vậy, dường như Vương tiên sinh không bận tâm lắm đến chuyện đó. Có lần ông ấy nói với tiểu nhân, ‘Ngân lượng chẳng có ích lợi gì nếu như các hạ không tiêu xài nó để tận hưởng cuộc sống; và khi ngân lượng của các hạ đã cạn sạch, cuộc sống chính thức sẽ mất đi vẻ quyến rũ của nó.’ Tiểu nhân nghĩ một nhận xét phù phiếm như vậy chỉ có thể được nói ra từ một bậc đại nho mà thôi. Liệu tiểu nhân có nói gì quá đáng không, thưa ngài.”

Họ Lăng trừng trừng nhìn hắn, đoạn nhếch mép cười và nói, “Ngươi chỉ lãng phí thời gian trong khi chẳng làm gì ra hồn trong cái nhà này! Cứ tán gẫu chuyện tầm phào thay vì đi giám sát đám gia nhân làm việc!”

“Hãy để hắn nói!” Địch Công ngắt lời họ Lăng. Và ông nói với quản gia, “Ngươi hoàn toàn không có manh mối nào về nơi mà Vương tiên sinh thường đi đến trong ngày nghỉ của mình à? Ngươi phải biết chứ; ngươi trông thấy ông ta đi ra đi vào Lăng gia bao nhiêu lần rồi mà, đúng không?”

Quản gia cau mày. Rồi hắn trả lời, “À, điều khiến tiểu nhân thực sự chú ý là Vương tiên sinh dường như luôn vui vẻ khi đi, nhưng lúc trở về lại thường khá phiền muộn. Đôi khi, ông ta mang tâm trạng u uất. Tuy nhiên, điều đó chưa bao giờ ảnh hưởng đến việc giảng dạy của ông ấy, thưa ngài. Ông ta luôn sẵn sàng trả lời những câu hỏi khó mà tiểu thư đặt ra nữa.”

“Ông đã nói rõ họ Vương chỉ dạy cho nội tôn của mình,” Địch Công gằn giọng hỏi họ Lăng. “Bây giờ hóa ra họ Vương cũng dạy cho lệnh ái của ông nữa!”

Lăng phường chủ trao cho viên quản gia một cái nhìn giận dữ. Họ Lăng liếm môi, đoạn cộc lốc đáp lời, “Ông ấy đã dạy. Cho đến khi tiểu nữ của tại hạ xuất giá hai tháng trước.”

“Ta hiểu.” Địch Công nhổm dậy khỏi ghế và nói với quản gia:

“Cho ta xem qua phòng của Vương tiên sinh!” Ông ra hiệu cho Hồng Sư gia đi cùng. Khi họ Lăng dợm bước định tháp tùng, Địch Công nói:

“Sự có mặt của ông là không cần thiết.”

Quản gia dẫn Địch Công và Hồng Sư gia đi qua một hành lang ngoằn ngoèo, rối rắm như mê cung dẫn đến sân sau của tòa nhà rộng rãi. Y mở một cánh cửa hẹp, nhấc cây nến lên và chỉ cho họ thấy một gian phòng nhỏ được bài trí sơ sài. Chỉ có một chiếc trường kỷ bằng trúc, một án thư đơn sơ cùng với chiếc ghế lưng thẳng, một giá bằng tre xếp vài cuốn sách cùng cái rương quần áo bằng da màu đen. Các bức vách treo những cuộn tranh họa hình phác thảo hoa lan với những đường nét khéo léo tinh xảo. Theo sau cái nhìn thoáng qua của Địch Công, quản gia nói:

“Đó là sở thích duy nhất của Vương tiên sinh, thưa ngài. Ông ta yêu hoa lan, biết mọi điều về cách chăm sóc chúng.”

“Ông ta không có vài chậu lan à?” Địch Công hỏi.

“Không, thưa ngài. Tiểu nhân không nghĩ ông ấy có thể mua được chúng - khá là đắt đỏ, thưa đại nhân!”

Địch Công gật đầu. Ông nhặt lên một vài quyển sách có nếp gấp ở góc nằm trên giá và liếc nhanh qua nội dung của chúng. Đó là các phiên bản về thơ ca lãng mạn được bán với giá rẻ. Sau đó, ông mở rương quần áo. Nó được nhồi nhét nhiều trang phục của nam nhân, đã mòn vẹt xác xơ, nhưng chất lượng vẫn còn tốt. Túi bạc ở đáy rương chỉ chứa một vài đồng lẻ. Địch Công quay về phía án thư. Ngăn kéo không có khóa. Bên trong là những tài liệu viết thông thường, nhưng chẳng có chút ngân lượng hay một mẩu giấy ghi chép, thậm chí không có nổi một hóa đơn đã thanh toán nào cả. Ông đóng sầm ngăn kéo và giận dữ hỏi quản gia, “Ai đã lục lọi và cuỗm hết đồ đạc trong gian phòng này khi Vương tiên sinh vắng mặt?”

“Không có ai cả, thưa đại nhân!,” quản gia sợ hãi lắp bắp. “Vương tiên sinh luôn khóa cửa khi đi ra ngoài, và chỉ mình tiểu nhân có chìa khóa dự phòng.”

“Chính ngươi nói với bản quan rằng họ Vương không tiêu xài một đồng xu nào cả, phải không? Điều gì đã xảy ra với khoản tiết kiệm của ông ấy trong năm qua? Chỉ còn vài đồng lẻ ở đây!”

Quản gia lắc đầu bối rối. “Tiểu nhân thực sự không biết được, thưa đại nhân! Tiểu nhân chắc chắn không ai bước vào trong đây. Và tất cả các nô bộc đều đã làm việc cho Lăng gia nhiều năm. Chưa bao giờ có bất kỳ vụ trộm cắp nào diễn ra, tiểu nhân có thể đảm bảo với ngài, thưa đại nhân!”

Địch Công vẫn đứng một lúc bên án thư. Ông nhìn chằm chằm vào những bức tranh, chậm rãi giật mạnh bộ râu của mình. Rồi ông quay lại và nói:

“Đưa chúng ta trở lại sảnh!” Trong khi quản gia đang dẫn đường cho họ đi qua những hành lang quanh co lần nữa, Địch Công bình thản nhận xét, “Dinh thự này tọa lạc tại một khu phố yên tĩnh, thật đẹp.”

“Ồ, vâng, thưa ngài, rất yên tĩnh và khả kính!”

“Chính xác đây là một khu phố đẹp đẽ, khả kính cho những kẻ muốn tìm kiếm các kỹ viện tươm tất hơn để hẹn hò tình ái,” Địch Công lạnh nhạt bình phẩm. “Có kỹ viện nào ở gần đây không?”

Quản gia dường như sửng sốt bởi câu hỏi bất ngờ này. Hắn hắng giọng và trả lời rụt rè, “Chỉ một, thưa ngài, cách đây hai con phố. Nó do Khang ma ma cai quản, rất sang trọng, dành cho tầng lớp thượng lưu, chỉ đón tiếp những vương tôn công tử. Không bao giờ xảy ra xô xát hay ẩu đả ở đó, thưa đại nhân.”

“Ta rất mừng khi nghe điều đó,” Địch Công nói.

Quay trở lại đại sảnh, Địch Công bảo với Lăng phường chủ rằng y sẽ phải tháp tùng ông đến nha phủ để chính thức nhận dạng nam nhân quá cố. Khi ngồi kiệu cùng Địch Công, Lăng phường chủ tỏ vẻ im lặng cáu kỉnh.

Sau khi họ Lăng đã xác định rõ thi thể quả thật là của vị phu tử nhà mình và điền vào các giấy tờ cần thiết, Địch Công để y đi. Rồi ông nói với Hồng Sư gia, “Bây giờ ta sẽ thay một tấm trường bào thoải mái hơn. Trong lúc đó, lão hãy bảo Bộ đầu đợi sẵn ở sân trong cùng hai Bộ khoái.”

Hồng Sư gia tìm thấy Huyện lệnh trong thư phòng. Địch Công đã thay một tấm trường bào vải bông giản đơn màu xám sẫm cùng với một chiếc khăn choàng cổ bản rộng màu đen, và đội chiếc mũ chỏm nhỏ đen tuyền trên đầu.

Lão Hồng muốn hỏi ông rằng họ sắp sửa đi đâu, nhưng trông thấy sắc mặt lo lắng của Địch Công, Sư gia nghĩ tốt hơn là nên lặng lẽ theo Địch Công ra ngoài sân.

Bộ đầu và hai Bộ khoái đứng nghiêm trang, tề chỉnh lại khi trông thấy Huyện lệnh.

“Ngươi có biết địa chỉ của kỹ viện ở khu phố phía Bắc, gần tư gia của Lăng phường chủ không?” Địch Công hỏi.

“Dĩ nhiên là có, thưa đại nhân!” Bộ đầu lăng xăng trả lời. Đó là cơ ngơi của Khang ma ma, được cấp môn bài hợp lệ là một kỹ viện thượng hạng, chỉ dành cho giới vương tôn quý tộc, thưa ngài...”

“Ta biết, ta biết!” Địch Công sốt ruột ngắt lời y. “Chúng ta sẽ đi ra ngoài đó. Ngươi hãy cùng với các thuộc hạ dẫn đường đi!”

Những con đường giờ lại đông đúc bách tính. Họ đang tha thẩn đi dạo dưới các vòng hoa của những chiếc đèn lồng màu sắc sặc sỡ trải dài qua từng con phố và được trang hoàng ở mặt tiền của mọi trà lâu tửu quán. Bộ đầu và hai Bộ khoái chẳng nề hà thúc khuỷu tay nhằm dẹp bách tính sang hai bên, mở lối cho Huyện lệnh và Hồng Sư gia tiến bước.

Ngay cả trong ngõ hẻm nơi Khang ma ma sinh sống cũng có rất nhiều thường dân bách tính qua lại. Khi Bộ đầu gõ cửa và bảo với tên gác cổng rằng Huyện lệnh đã đến, lão già sợ hãi vội vã dẫn đường đưa Địch Công và Hồng Sư gia tới tiền sảnh được bày biện sang trọng ở sân trước.

Một nữ tì lớn tuổi, ăn mặc nghiêm chỉnh đặt một bộ trà sứ cổ xưa tinh xảo lên bàn. Sau đó, một nữ nhân yêu kiều yểu điệu, má phấn môi son, khoảng ba mươi tuổi bước vào, cúi đầu thi lễ và tự giới thiệu mình là Khang ma ma, vốn là một quả phụ. Mụ mặc chiếc áo choàng tà xuông, tay dài, kiểu cách đơn giản nhưng được làm bằng loại vải gấm hoa tía xa xỉ. Đích thân mụ rót trà mời Địch Công, bàn tay trái giơ cao nâng ống tay áo bên phải lên đầy tao nhã. Mụ vẫn đứng trước mặt Huyện lệnh, kính cẩn chờ đợi ông hỏi chuyện. Hồng Sư gia yên vị phía sau ghế của Địch Công, hai tay khoanh lại trong ống tay rộng của mình.

Thong thả nếm vị trà thơm ngát, Địch Công nhận thấy không gian thật yên ắng làm sao; tất cả tiếng ồn được ngăn lại sau những bức màn trướng thêu hoa cùng những tấm thảm treo tường thêu kim tuyến nặng trịch. Mùi thơm dịu nhẹ của loại hương trầm quý hiếm và đắt đỏ phảng phất trong không khí. Quả thật mọi thứ đều thuộc đẳng cấp thượng hạng của giới danh gia vọng tộc. Ông đặt chén xuống và bắt đầu, “Bản quan không tán thành việc kinh doanh của ngươi, Khang ma ma à. Tuy nhiên, ta nhận ra rằng đó là một chuyện không muốn nhưng vẫn phải chấp nhận trong xã hội Đại Đường này. Miễn là ngươi gìn giữ trật tự nền nếp, trên không vi phạm quốc pháp, dưới không kinh động đến thế thái nhân tình, và đối xử tốt với các nữ nhân, thì ta sẽ không gây ra bất cứ rắc rối nào cho ngươi. Hãy cho bản quan biết, có bao nhiêu nữ nhân đang làm việc ở đây?”

“Tám, thưa lão gia. Dĩ nhiên là tất cả đều được mua theo cung cách thông thường, chủ yếu trực tiếp từ song thân của họ. Cứ ba tháng một lần, sổ cái ghi chép thu nhập của họ được gửi đến nha phủ, để định giá số thuế phải nộp của tiện thiếp. Tiện thiếp tin rằng...”

“Không, bản quan không phàn nàn về chuyện đó. Chỉ là ta nghe nói có nữ nhân vừa được một khách quen giàu có chuộc thân. Ai là cô nương may mắn ấy?”

Khang ma ma tỏ vẻ kinh ngạc một cách nhã nhặn. “Chắc hẳn có sự hiểu lầm nào đó ở đây, thưa lão gia. Tất cả các muội muội của tiện thiếp tại nơi này vẫn còn rất trẻ - người lớn nhất cũng chỉ mới mười chín tuổi - và vẫn chưa thành thạo ca vũ. Dĩ nhiên, các muội ấy ra sức cố gắng để làm hài lòng các vị thượng khách, nhưng không ai trong số họ chiếm được lòng sủng ái của một khách quen giàu có nào đủ để thiết lập một... à, mối quan hệ bền vững hơn.” Mụ dừng lại, đoạn nghiêm nghị nói tiếp, “Tất nhiên, mặc dù một thương vụ như vậy nghĩa là tiện thiếp sẽ nhận được khoản ngân lượng rất lớn, nhưng tiện thiếp không khuyến khích điều đó cho đến khi một kỹ nữ đã bước vào độ tuổi hai mươi, và đã gặt hái được sự thành công hoàn mỹ về mọi phương diện trong nghề nghiệp của mình.”

“Bản quan hiểu,” Địch Công nói. Ông buồn bã nghĩ rằng thông tin này đã thực sự bác bỏ giả thuyết hấp dẫn của mình. Giờ đây, linh cảm của ông đã bị chứng thực là sai lầm, nên vụ án này sẽ đòi hỏi một cuộc điều tra dài hơi, bắt đầu với người thợ kim hoàn ở kinh thành đã giới thiệu họ Vương cho Lăng phường chủ. Đột nhiên, một khả năng khác lóe lên trong đầu Địch Công. Phải, ông nghĩ mình có thể tận dụng cơ hội này. Trao cho Khang ma ma một cái nhìn nghiêm nghị, ông lạnh lùng nói:

“Đừng lập lờ quanh co nữa, Khang ma ma! Ngoài tám kỹ nữ đang sống ở đây, ngươi còn sắp đặt mối lái một nữ nhân khác tại tư gia của ả. Đó là một hành vi phạm tội nghiêm trọng, vì môn bài của ngươi chỉ đảm bảo hiệu lực tại kỹ viện này thôi.”

Khang ma ma vén lại mái tóc được chải theo kiểu dáng cầu kỳ trau chuốt. Cử chỉ đó khiến tay áo dài của mụ trượt xuống, để lộ cẳng tay tròn trĩnh trắng ngần. Rồi nữ nhân bình tĩnh đáp lời:

“Thông tin đó chỉ đúng phần nào, thưa đại nhân. Tiện thiếp cho rằng nó đề cập đến Lương cô nương đang sống ở phố bên cạnh. Muội ấy là một kỹ nữ tài sắc vẹn toàn đến từ kinh thành, khoảng ba mươi tuổi, nghệ danh là Hồng Sương. Vì rất nổi tiếng trong giới buôn phấn bán son ở kinh đô, nên muội ấy tiết kiệm được rất nhiều ngân lượng và đã tự chuộc thân ra khỏi chốn thanh lâu, tuy nhiên không hề được trao giấy cho phép hành nghề tự do. Hồng Sương muốn ổn định cuộc sống nên đã đến Phổ Dương để nghỉ ngơi một thời gian, có ý thong thả quan sát xung quanh để tìm chọn cho mình cho một ý trung nhân phù hợp. Muội ấy là một nữ nhân rất thông minh, thưa lão gia; muội ấy biết tất cả những nam nhân trẻ tuổi, hào hoa phong nhã ở chốn kinh thành đều sẽ không gắn bó lâu dài với mình, tình cảm dù có đơm hoa kết trái cũng sẽ lụi tàn vì những toan tính của thói đời đen bạc. Vì vậy Hồng Sương muốn tìm một nam nhân đứng tuổi, ổn định cả về tài sản lẫn địa vị. Chỉ thỉnh thoảng thì muội ấy mới tiếp những vị khách được chọn lọc kĩ lưỡng tại trong kỹ viện này của tiện thiếp. Lão gia sẽ tìm thấy những khoản mục có liên quan trong một sổ cái riêng biệt, cũng thường xuyên được nộp đúng hạn theo định kỳ để kiểm tra. Do Lương cô nương đã có giấy cho phép hành nghề, và thuế tính trên thu nhập của muội ấy đã được chi trả...”

Khang ma ma để cho giọng nói của mình lạc hẳn đi. Địch Công mừng thầm, vì ông biết rốt cuộc thì bây giờ mình đã đi đúng hướng. Nhưng ông vẫn vờ khoác cho mình một bộ mặt giận dữ. Địch Công đấm nắm tay xuống bàn và quát lên, “Vậy ra nam nhân định chuộc thân cho Hồng Sương nhằm cưới ả về lại bị lừa dối một cách ti tiện như thế à! Vì đúng ra y chẳng hề phải trả một khoản phí chuộc lại nào cả! Không phải trả cho ngươi hay cho chủ nhân cũ của ả ở chốn kinh thành! Nói đi! Có phải ngươi và nữ nhân kia sắp sửa chia chác nhau khoản phí ấy không, ngân lượng mà các ngươi đoạt được từ vị khách giàu có cả tin bằng cách ngụy tạo tình huống để thực hiện mưu đồ lừa đảo bất chính, đúng không?”

Lúc này Khang ma ma rốt cuộc đã mất bình tĩnh. Mụ khuỵu gối quỳ xuống trước ghế của Địch Công và liên tục dập đầu xuống sàn. Nhìn lên, nữ nhân kêu gào than khóc, “Cầu xin lượng hải hà của quan trên thứ tội cho tiện thiếp ngu dốt, thưa lão gia! Số ngân lượng đó vẫn chưa được trao tay. Vị khách quen của muội ấy là một nhân vật quyền cao chức trọng, thưa lão gia, một đồng liêu của ngài, thực ra là Huyện lệnh của một huyện trong vùng này. Nếu biết được tin này, ngài ấy sẽ...”

Nữ nhân òa khóc thổn thức!

Địch Công quay lại và trao cho Hồng Sư gia một cái nhìn đầy ngụ ý. Đó không thể là ai khác ngoài vị đồng liêu phong lưu đa tình của Địch Công ở huyện Quyên Thành, Lỗ Huyện lệnh! Ông quát Khang ma ma:

“Quả thật chính Lỗ Huyện lệnh đã yêu cầu bản quan điều tra. Hãy nói cho ta biết Lương thị đang sống ở đâu; đích thân bản quan sẽ thẩm vấn ả về sự việc đáng hổ thẹn này!”

Một chuyến tản bộ ngắn đã đưa Địch Công và các thuộc hạ của mình đến con phố kế bên theo địa chỉ mà Khang ma ma vừa khóc vừa trao cho ông.

Trước khi gõ cửa, Bộ đầu liếc nhìn lên xuống con đường, rồi nói, “Thưa ngài, nếu thuộc hạ không lầm thì cái cống mà gã hành khất té xuống nằm ngay phía sau gian nhà này.”

“Được lắm!” Địch Công thốt lên. “Ở đây nhé, ta sẽ gõ cửa. Ngươi và hai thuộc hạ của mình cứ túc trực sẵn ở gần bờ tường trong lúc bản quan đi vào bên trong cùng với Sư gia. Hãy đợi ở đây cho đến khi ta gọi các ngươi!”

Sau vài lần gõ cửa, nắp đậy lỗ nhỏ nhìn ra bên ngoài trên cánh cổng mở ra và giọng của một nữ nhân cất lên, “Ai ngoài đó?”

“Tại hạ chuyển lời nhắn từ Lỗ Huyện lệnh tới cho tiểu thư Hồng Sương,” Địch Công lịch thiệp nói.

Cánh cửa mở ra ngay lập tức. Một thiếu phụ nhỏ nhắn vận xiêm y lụa trắng mỏng manh mời hai nam nhân bước vào. Khi ả dấn bước lên phía trước họ để tiến về gian sảnh mở rộng ở sân trước, Địch Công nhận ra mặc dù ả có vóc dáng liễu yếu đào tơ, mỏng manh như sương mai trong gió, nhưng ả vẫn có một thân hình tuyệt mỹ.

Khi họ đã ở bên trong, ánh mắt nữ nhân ngó nhìn hai khách nhân đầy vẻ tò mò, đoạn mời họ ngồi xuống chiếc trường kỷ làm bằng gỗ tử đàn chạm trổ. Ả nói có phần hơi rụt rè:

“Tiện thiếp chính là Hồng Sương. Tiện thiếp có vinh dự tiếp đón ai...”

“Chúng ta sẽ không làm mất nhiều thời gian của nàng đâu, Lương cô nương à,” Địch Công mau lẹ ngắt lời. Đôi mắt ông nhìn lướt qua ả. Nữ nhân này mặt hoa mày liễu, mắt hạnh môi đào, toát lên vẻ phong lưu tình tứ, quyến rũ vô song. Thế nhưng, vẫn có điều gì đó không phù hợp với giả thuyết của Địch Công.

Ông quan sát gian sảnh được bài trí trang nhã. Ánh mắt của Địch Công rơi vào một chiếc kệ cao bằng trúc óng ả, kê phía trước cửa sổ bên hông. Ba ngăn kệ được xếp chồng lên nhau, mỗi ngăn đều đặt một hàng phong lan được trồng trong những chiếc bát sứ tinh mỹ. Hương hoa tinh tế tràn ngập không gian. Chỉ tay vào chiếc kệ, Địch Công nói:

“Lỗ Huyện lệnh có nói với ta về bộ sưu tập hoa lan trác tuyệt của nàng, Lương cô nương. Bản thân ta cũng là một người rất trân quý hoa lan. Nhìn kìa, thật đáng tiếc! Cây thứ hai trên hàng cao nhất bị héo mất rồi, nó cần được chăm sóc đặc biệt, ta nghĩ vậy. Nàng có thể lấy nó xuống và cho ta xem qua được chăng?”

Nữ nhân nhìn ông một cách hoài nghi, nhưng rõ ràng nàng đã quyết định tốt hơn là nên làm vừa lòng vị bằng hữu kỳ quái này của Lỗ Huyện lệnh. Lương thị lấy thang tre trong góc ra, đặt nó ở phía trước cái kệ, và lanh lẹ trèo lên, e lệ khép vạt áo choàng mỏng mảnh quanh đôi chân thon thả. Khi ả chuẩn bị nhấc cái chậu lên, Địch Công đột nhiên tiến lại gần cái thang và bình thản nhận xét:

“Vương tiên sinh từng gọi nàng là Lan Hoa, phải không, Lương cô nương? Tên này nghe hợp hơn rất nhiều so với Hồng Sương, chắc chắn đấy!” Khi Lương thị đứng đó, bất động như trời trồng, ngó xuống Địch Công với đôi mắt chợt mở to chứa đầy sợ hãi, ông sắc sảo nói thêm, “Vương tiên sinh từng đứng tại đúng chỗ mà ta đang đứng lúc này, khi đó nàng đã đập tan tành chậu hoa xuống đầu ông ấy, phải không?”

Lương thị bắt đầu lảo đảo. Thét lên một tiếng, ả cuống cuồng tìm nơi bấu víu. Địch Công nhanh chóng giữ cố định cái thang. Với tay lên, ông tóm lấy bờ eo của ả và đặt ả xuống sàn. Nữ nhân siết chặt hai bàn tay vào lồng ngực phập phồng và thở hổn hển:

“Ta không... Ngài là ai?”

“Bản quan là Huyện lệnh Phổ Dương,” Địch Công lạnh lùng đáp lời. “Sau khi hạ sát Vương tiên sinh, ngươi đã thay thế chậu hoa vỡ bằng một cái chậu mới, và trồng lại cây lan. Đó là lý do nó bị héo, phải không?”

“Đó là một lời nói dối!” Lương thị thét lên. “Sự vu khống xấu xa. Ta sẽ...”

“Ta có bằng chứng!” Địch Công ngắt lời ả. “Một nô bộc của nhà hàng xóm đã thấy ngươi kéo lê thi thể đến cống thoát nước ở sau nhà. Và ta tìm thấy trong phòng của Vương tiên sinh một bức thư ngắn ghi rằng ông ta e sợ sẽ bị ngươi làm hại, rằng giờ đây đã có một khách quen giàu có khác muốn cưới ngươi về.”

“Tên cẩu tặc bội bạc!” Lương thị hét lên. “Hắn đã thề không giữ bất cứ một mảnh giấy nào liên quan đến...” Ả đột nhiên dừng lại, giận dữ cắn đôi môi thắm.

“Bản quan đã biết mọi điều,” Địch Công nói. “Họ Vương muốn nhiều hơn, chứ không chỉ là những chuyến viếng thăm hàng tuần. Vì thế, ông ta đe dọa mối quan hệ của ngươi với Lỗ Huyện lệnh, một thương vụ không những mang lại khoản ngân lượng lớn cho ngươi và Khang ma ma, mà còn giúp ngươi có đủ lưng vốn sống dư dả trong suốt phần đời còn lại của mình. Vì lẽ đó, ngươi đã nhẫn tâm sát hại tình nhân của mình.”

“Tình nhân?,” ả thét lên. “Ngài nghĩ rằng ta cho phép tên què quặt gớm ghiếc đó chạm vào tấm thân ngà ngọc này sao? Ta phải chịu đựng những cái ôm ấp kinh tởm của hắn khi còn ở tại kinh thành đã là tệ hại lắm rồi!”

“Thế nhưng ngươi vẫn cho phép ông ta chung chăn chung gối ở đây,” Địch Công nói với vẻ khinh khi.

“Ngài biết hắn ngủ ở đâu không? Trong nhà bếp! Lẽ ra ta không nên cho phép hắn đến, nhưng vì họ Vương kia vẫn còn hữu dụng khi giúp ta trả lời những bức thư tình, và hắn còn chi trả cũng như chăm sóc cho những cây lan đó để ta có hoa cài trên tóc. Hắn cũng sắm vai tên gác cổng và dâng trà bánh khi có một trong số những tình nhân của ta lui tới chốn đây. Chứ ngài nghĩ ta cho phép hắn ta đến đây để làm gì?”

“Vì ông ta đã để lại toàn bộ gia sản của mình cho ngươi, nên bản quan nghĩ có lẽ...” Địch Công lạnh nhạt nói.

“Tên ngu ngốc đáng nguyền rủa!” Hồng Sương lại bật thốt nên lời. “Ngay cả sau khi ta đã đoạn tuyệt với họ Vương, hắn vẫn tiếp tục theo đuổi ta, nói rằng hắn chẳng thể nào sống trên cõi đời này nếu như không được trông thấy dung nhan của ta, đúng là một tên hành khất xu phụ hèn hạ! Sự tận tụy lố bịch của hắn đã hủy hoại danh tiếng của bản cô nương đây. Chính vì hắn mà ta đã phải rời khỏi kinh thành để chôn vùi bản thân ở cái chốn ảm đạm này. Và ta, thật ngu ngốc, lại trót tin vào cái kẻ đê tiện có nụ cười ngờ nghệch ấy! Thật không ngờ hắn có thể để lại một bức thư cáo buộc ta! Hắn đã hủy hoại ta, kẻ phản bội bẩn thỉu!”

Khuôn mặt kiều diễm của mỹ nhân đã hóa thành một tấm mặt nạ độc ác. Ả giậm bàn chân nhỏ nhắn của mình xuống sàn trong cơn giận dữ bất lực.

“Không,” Địch Công nói, giọng mệt mỏi, “họ Vương không hề buộc tội ngươi. Những gì bản quan vừa nói về bức thư đó chỉ là ngụy tạo. Ngoài một vài bức tranh hoa lan mà ông ấy đã vẽ khi nghĩ về người trong mộng, không có một manh mối nào chỉ dấu đến ngươi trong gian phòng của họ Vương. Gã nam nhân nghèo khổ, lầm đường lạc lối ấy vẫn luôn trung thành với ngươi cho đến những thời khắc cuối cùng của đời mình!” Địch Công vỗ tay. Khi Bộ đầu cùng hai Bộ khoái xông vào, ông ra lệnh, “Trói nữ nhân này lại và tống vào đại lao. Ả đã thú nhận vụ giết người bẩn thỉu ấy.”

Khi hai Bộ khoái nắm lấy cánh tay nữ nhân để Bộ đầu trói Lương thị lại, Địch Công nói, “Vì ngươi không có lý do nào để cầu xin sự khoan hồng của vương pháp, ngươi sẽ bị xử trảm tại pháp trường.”

Địch Công quay lưng và rời đi, theo sau là Hồng Sư gia. Tiếng gào khóc điên cuồng của nữ nhân bị át đi sau những tiếng hò hét và cười nói vang rền của một nhóm nam thanh nữ tú đang vui vẻ tràn ra đường phố, đung đưa vung vẩy những chiếc đèn lồng màu sắc rực rõ.

Khi họ trở lại nha phủ, Địch Công dẫn lão Hồng đi thẳng tới tư gia của mình. Trong khi tản bộ cùng lão quân sư đến hậu sảnh, ông nói, “Chúng ta hãy dùng một chén trà trước khi cùng tham dự bữa tối với các phu nhân nhà ta.”

Hai nam nhân ngồi xuống bên cái bàn tròn. Một chiếc đèn lồng to lớn treo lủng lẳng trên mái hiên, và những chiếc đèn khác được giăng mắc giữa những bụi cây trong vườn đều đã mờ dần. Nhưng vầng trăng tròn vằng vặc vẫn soi rọi gian sảnh bằng ánh sáng lạ lùng của nó.

Địch Công nhanh chóng uống cạn chén trà, rồi ông ngả người ra ghế và bắt đầu nói mà không rào trước đón sau gì cả:

“Trước khi chúng ta đến gặp Lăng phường chủ, bản quan chỉ biết gã hành khất đó thực chất không phải là một gã hành khất, và ông ta đã bị hung thủ sát hại ở một nơi khác bằng cách đập mạnh vào đầu, có lẽ là sử dụng một chậu hoa như giả thuyết ta đã đưa ra khi phát hiện có cát mịn và sạn trắng. Sau đó, trong cuộc hỏi cung họ Lăng, từng có lúc ta nghi ngờ y liên đới đến tội ác này. Y không hé một lời nào về sự biến mất của họ Vương khi viếng thăm bản quan, và ta nghĩ cũng thật kỳ lạ là sau đó, họ Lăng cũng chẳng hề hỏi thăm chuyện gì đã xảy ra với họ Vương. Nhưng rồi ta sớm nhận ra rằng họ Lăng là loại người khó chịu, chẳng hề mảy may quan tâm chút nào đến những gia nhân mình, và y đã bực mình vì ta làm gián đoạn bữa tiệc đoàn viên của Lăng gia. Những gì mà quản gia kể cho ta nghe về họ Vương đã làm sáng tỏ bối cảnh chung khá là rõ ràng của câu chuyện. Hắn nói cuộc sống gia đình của họ Vương bị đổ vỡ do ông ta đã hoang phí tài sản của mình, rồi việc y đề cập đến sự ghen tuông của Vương phu nhân đã chỉ dấu đến một nữ nhân khác có liên quan đến vụ án này. Vậy nên ta suy ra rằng họ Vương đã si mê đắm đuối một danh kĩ nào đó.”

“Tại sao đó lại không phải là một thiếu nữ đoan trang, tử tế nào đó hoặc thậm chí là một kỹ nữ bình thường?,” lão Hồng phản đối.

“Nếu đó là một nữ nhân đứng đắn, họ Vương sẽ không cần phải tán gia bại sản cho ả; ông ta có thể đã hưu thê và kết hôn với tình nương. Còn nếu như nữ nhân ấy là một kỹ nữ bình thường, thì họ Vương đã có thể chuộc thân cho ả với một mức giá vừa phải, và mua cho ả một gian nhà nhỏ bé, mà không cần phải hy sinh gia sản và địa vị của mình. Không, bản quan dám chắc tình nương của họ Vương phải là một danh kĩ ở chốn kinh thành. Một giai nhân như vậy mới đủ khả năng tước đoạt mọi thứ từ tình nhân của mình, sau đó loại bỏ y và tiếp tục trò chơi ái tình với kẻ cuồng si tiếp theo. Nhưng bản quan cho rằng họ Vương không chấp nhận để cho mình bị vắt chanh bỏ vỏ, và thế là ông ấy đã tự mua dây buộc mình. Ả đã rời bỏ chốn kinh thành đến Phổ Dương là để bắt đầu lại trò chơi ái tình một lần nữa, vì huyện này nổi tiếng có nhiều thương nhân giàu có đang sinh sống. Ta suy đoán là họ Vương đã lần ra dấu vết của ả ở đây và buộc Lương thị cho phép ông ta thường xuyên đến thăm nom, đồng thời đe dọa vạch trần thủ đoạn làm tiền tàn nhẫn của ả nếu ả từ chối. Cuối cùng, sau khi Lương thị đã thu phục được vị đồng liêu si tình xuẩn ngốc họ Lỗ của bản quan, họ Vương bắt đầu tống tiền nữ nhân ấy, thế là ả đã sát hại ông ta.” Ông thở dài, rồi nói thêm, “Bây giờ, chúng ta đã biết rằng câu chuyện lại hoàn toàn khác. Vương tiên sinh đã hy sinh tất cả cho Lương thị, thậm chí cả thù lao rẻ mạt nhận được từ công việc dạy học cũng được dành để mua hoa lan cho ả. Ông ấy khá hài lòng khi được phép gặp gỡ và trò chuyện với ả mỗi tuần, dù thường xuyên bị lăng mạ và sỉ nhục. Đôi khi, lão Hồng à, sự điên rồ của một nam nhân lại sinh ra từ nỗi si mê cuồng dại và đầy khinh suất, khiến y thêm phần cao thượng đến thảm hại.”

Hồng Sư gia trầm ngâm vuốt bộ ria mép xám xịt bù xù của mình. Một lúc sau, lão quân sư hỏi, “Có rất nhiều kỹ nữ tại Phổ Dương này. Làm sao đại nhân biết tình nhân của họ Vương ở kỹ viện của Khang ma ma? Và tại sao cứ phải là giai nhân của họ Vương đã hạ sát ông ta, mà không phải là một kẻ khác, một tình địch ghen tuông chẳng hạn?”

“Họ Vương thường đi bộ đến đó. Vì ông ta là một người tàn tật, chứng tỏ rằng nữ nhân ấy phải sống gần tư gia của Lăng phường chủ, và điều đó đã dẫn chúng ta đến cơ ngơi của Khang ma ma. Ta đã hỏi mụ về kỹ nữ nào vừa được chuộc thân gần đây, bởi vì chỉ có sự việc như vậy mới dẫn đến động cơ hợp lý nhất cho vụ án mạng, cụ thể là kỹ nữ ấy phải đoạn tuyệt với một tình nhân cũ phiền nhiễu. À, giờ thì chúng ta đã biết Vương tiên sinh quả thật đã gây rắc rối cho Lương thị, nhưng không phải là đe dọa tống tiền ả hay bất cứ mưu đồ thâm độc nào khác. Chỉ là sự tận tụy giống như một tên cẩu nô tài khiến ả chán ghét và khinh khi. Còn về những khả năng khác mà lão vừa đề cập, dĩ nhiên ta cũng đã tính toán, cân nhắc đến chúng. Nhưng nếu kẻ giết người là một nam nhân, thì hắn sẽ đưa thi thể đến một địa điểm xa xôi nào đó, và hắn cũng sẽ ra sức che giấu cẩn thận nhân dạng của nạn nhân. Nhưng nỗ lực của kẻ giết người chỉ giới hạn trong việc mặc cho nạn nhân chiếc áo khoác của kẻ hành khất rách rưới, nới lỏng búi tóc và làm rối bù đầu tóc của ông ta. Điều này chứng tỏ một nữ nhân đã gây án. Giới quần thoa vốn cho rằng chỉ cần thay đổi trang phục và mái tóc là đã có thể thay đổi hoàn toàn diện mạo của mình. Lương thị đã áp dụng phương pháp này cho một nam nhân - và đó là một sai lầm tệ hại.”

Địch Công nhấp một ngụm trà mà Sư gia vừa châm lại cho ông, rồi nói tiếp, “Theo lẽ thường, đó cũng có thể là một mưu đồ gian manh, trí trá để buộc tội Lương thị. Nhưng bản quan cho rằng đó là một khả năng mong manh. Chính Lương thị là nghi phạm đáng ngờ nhất của chúng ta. Khi Bộ đầu thông báo cho bản quan biết gã hành khất đã chết được tìm thấy ở phía sau nhà của ả, ta đã biết rằng giả thuyết của mình hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, khi chúng ta vào trong nhà, ta thấy đó là một nữ nhân ẻo lả, không thể đập vào đầu một nạn nhân cao lớn. Vì thế, lúc đó bản quan đã lập tức quan sát xung quanh để tìm kiếm một địa điểm phù hợp, và phát hiện ra vị trí những chậu lan trên kệ cao, nơi cái cây héo rũ đã cung cấp manh mối cuối cùng. Chắc hẳn ả đã leo lên cái thang, có lẽ ả đã yêu cầu họ Vương giữ chắc nó cho mình. Rồi ả đã nói gì đó khiến Vương tiến sinh quay đầu lại, thế là ả liền đập mạnh cái chậu hoa lên đầu ông ấy. Các chi tiết này và những điều khác nữa, chúng ta sẽ được biết vào ngày mai khi bản quan hỏi cung ả tại công đường nha phủ. Còn bây giờ, về vai trò của Khang ma ma, ta nghĩ mụ không làm gì hơn việc giúp Lương thị dựng lên kế hoạch chiếm đoạt khoản ngân lượng chuộc thân tưởng tượng từ Lỗ tiên sinh. Tú bà duyên dáng của chúng ta không can dự vào vụ án mạng này; nên nhớ, kỹ viện của mụ là nơi dành cho giới vương tôn quý tộc vãng lai!”

Hồng Sư gia gật gù. “Đại nhân không chỉ vạch trần chân tướng một vụ án mạng tàn nhẫn, mà đồng thời còn cứu Lỗ Huyện lệnh khỏi mối quan hệ với một nữ nhân xấu xa và độc ác!”

Địch Công mỉm cười uể oải. Ông nói, “Lần tới gặp Lỗ tiên sinh, bản quan sẽ kể cho ông ấy nghe vụ án này mà dĩ nhiên là không đề cập đến việc ta đã biết Lỗ tiên sinh là người chu cấp cho Lương thị. Bằng hữu phong lưu đa tình của ta chắc hẳn đang ẩn danh vi hành đến huyện Phổ Dương! Vụ án này sẽ dạy cho ông ấy một bài học, ta hy vọng thế!”

Lão Hồng kín đáo kiềm chế không nhận xét thêm điều gì về đồng liêu của chủ nhân mình. Lão bình phẩm với một nụ cười hài lòng:

“Vậy là giờ đây, mọi chi tiết của vụ án kỳ lạ này đã được làm sáng tỏ hoàn toàn!”

Địch Công nâng chén trà lên, uống một hơi dài. Khi đặt chén xuống, ông lắc đầu và nói với vẻ chẳng vui tươi gì:

“Không, lão Hồng à. Không hoàn toàn đâu.”

Ông nghĩ mình cũng có thể kể cho Sư gia nghe ngay bây giờ về sự xuất hiện của hồn ma gã hành khất đã chết, mà nếu không có nó, thì vụ án mạng này có khi lại bị cho qua như một tai nạn bình thường. Nhưng ngay khi ông sắp sửa cất lời, trưởng nam của Địch gia đã chạy ào vào phòng. Trông thấy cái nhìn giận dữ của phụ thân, tiểu hài tử mau lẹ cúi chào và nói, “Mẫu thân bảo chúng con có thể mang chiếc đèn lồng đẹp đẽ đó về phòng của mình, thưa phụ thân!”

Ông vừa gật đầu, tiểu hài tử liền đẩy chiếc ghế bành đến dưới một cây cột. Tiểu hài tử leo lên lưng ghế cao, với tay gỡ chiếc đèn lồng lớn bằng lụa nhuộm màu đang treo trên mái hiên xuống. Tiểu hài tử nhảy xuống, châm lửa thắp sáng ngọn nến bên trong, và giơ chiếc đèn lồng lên cho phụ thân xem.

“Đại tỷ và con đã mất hai ngày để làm ra nó, thưa phụ thân!,” tiểu hài tử nói, vẻ tự hào. “Vì vậy, chúng con không muốn A Khôi làm hỏng nó. Chúng con thích tiên ông bất tử Lý Thiết Quải, ông ấy là một lão già xấu xí, đáng thương!”

Chỉ tay vào dáng hình mà bọn trẻ đã vẽ trên đèn lồng, Địch Công hỏi:

“Con có biết câu chuyện về ông ấy không?” Khi tiểu hài tử lắc đầu, Địch Công tiếp tục nói:

“Nhiều, nhiều năm về trước, Lý chân nhân là một nhà luyện đan rất khôi ngô tuấn tú. Ông đã đọc mọi quyển sách và học được mọi phép thần thông. Ông có thể xuất hồn ra khỏi cơ thể và thăng thiên bất cứ khi nào mình muốn, để lại thân xác trống rỗng phía sau, rồi lại nhập lại khi ông trở về trần gian. Tuy nhiên, một ngày nọ, khi Lý chân nhân bất cẩn để lại thân xác của mình ngoài một cánh đồng, thì có một số nông phu tình cờ trông thấy. Họ cứ nghĩ đó là một tử thi bị bỏ mặc nên đã hỏa táng nó. Vì vậy, khi Lý chân nhân quay trở lại, ông phát hiện cái xác phàm đẹp đẽ của mình đã biến mất. Trong lúc tuyệt vọng, ông phải nhập vào xác của một lão hành khất tàn tật tội nghiệp nằm bên vệ đường, thế là Lý chân nhân phải mang hình dạng xấu xí đó mãi mãi. Mặc dù sau đó đã tìm ra thần dược trường sinh, nhưng ông không bao giờ có thể chữa được sai lầm khi xưa. Ở trong bộ dạng này, ông đã gia nhập vào hàng ngũ Bát Tiên: Lý Thiết Quải chống nạng, tiên ông hành khất bất tử.”

Tiểu hài tử đặt chiếc đèn lồng xuống. “Con không thích ông ấy nữa!” Tiểu hài tử nói với vẻ coi thường. “Con sẽ kể cho đại tỷ nghe họ Lý là một kẻ ngu ngốc và ông ta xứng đáng bị như vậy!”

Tiểu hài tử quỳ xuống, chúc phụ thân và lão Hồng ngủ ngon, rồi nháo nhào chạy đi.

Địch Công nhìn theo nhi tử của mình với một nụ cười bao dung. Ông cầm chiếc đèn lồng lên, định thổi tắt ngọn nến bên trong. Đột nhiên, ông dừng lại. Địch Công nhìn chằm chằm vào bóng hình cao lớn của tiên ông hành khất soi lên vách tường thạch cao. Đoạn ông ngập ngừng xoay vòng chiếc đèn lồng, khi nó quay theo luồng gió lùa. Ông trông thấy bóng ma của một ông già tàn tật di chuyển chầm chậm dọc theo bức tường, rồi biến mất vào trong khu vườn.

Trút một hơi thở dài, Huyện lệnh thổi tắt cây nến và đặt chiếc đèn lồng xuống sàn. Ông nghiêm nghị nói với Hồng Sư gia, “Rốt cuộc, lão đã đúng, quân sư à! Tất cả những nghi ngờ của chúng ta đều được giải quyết - ít nhất là về gã hành khất phàm tục. Ông ta đúng là một kẻ ngốc. Còn về tiên ông bất tử thì ta không dám chắc lắm.” Địch Công đứng dậy, nở nụ cười uể oải, và nói tiếp, “Nếu chúng ta đo lường tri thức của mình qua những điều chưa biết, chứ không phải những điều đã biết, thì chúng ta cũng chỉ là những kẻ ngu dốt khờ khạo, lão Hồng à, tất cả chúng ta! Hãy đi thôi, cùng nhập tiệc với Địch gia nào.”

« Lùi
Tiến »