Địch Gia Bát Án

Lượt đọc: 2724 | 7 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lưỡi gươm oan nghiệt

Thế gian cũng bởi chữ Tình

Gây bao oan nghiệt tội tình thị phi

Lòng lang dạ sói làm chi

Oan oan tương báo giết đi trẻ khờ!

-Tùng Vũ-

---❊ ❖ ❊---

Vụ án này xảy ra tại huyện Phổ Dương. Hẳn độc giả của tập truyện “Bí mật quả chuông” vẫn còn nhớ, huyện Phổ Dương nằm tiếp giáp huyện Quyên Thành, là nơi Lỗ Huyện lệnh đang nắm quyền cai quản, và sát cạnh huyện Ngưu Dị, do Bàng Huyện lệnh khắc khổ quản lý. Vụ án mạng được kể lại trong câu chuyện dưới đây xảy ra trong lúc Địch Công vắng mặt tại Phổ Dương; ông đã tới Ngưu Dị để thảo luận với vị đồng liêu họ Bàng về một vụ án liên quan đến cả hai huyện. Địch Công khởi hành rời khỏi Phổ Dương từ ba ngày trước, cùng đi với ông có Hồng Sư gia và Đào Cam, còn Mã Vinh và Kiều Thái được cắt cử ở lại trông nom nha phủ. Ba ngày đã trôi qua bình yên vô sự; chỉ đến ngày cuối cùng, vào ngay buổi tối mà Địch Công dự kiến sẽ trở về, thì sóng gió đột nhiên bắt đầu nổi lên.

“Huynh trả ngân lượng cho bốn con cua nhồi thịt đi!” Mã Vinh hả hê bảo Kiều Thái khi y cất con xúc xắc vào trong hộp.

“Cũng đáng giá đó chứ,” Kiều Thái chép môi nói. Y cầm bát rượu lên và tu một hơi cạn sạch.

Hai phụ tá vạm vỡ của Địch Công đang ngồi bên một chiếc bàn nhỏ gần cửa sổ trên tầng hai của Thúy Điểu tửu quán, một địa điểm yêu thích của họ. Tọa lạc bên dòng sông nhỏ chảy qua thành Phổ Dương, cửa sổ ở tầng hai của tửu quán mở ra cho thực khách một khung cảnh tráng lệ với ánh tà dương đang dần ngả về phía Tây thành.

Những âm thanh náo nhiệt của tiếng vỗ tay rộ lên từ con phố bên dưới. Mã Vinh thò đầu ra ngoài cửa sổ và nhìn xuống đám đông đang tụ tập bên bờ sông.

“Đó là gánh hát đã đến đây từ bốn ngày trước,” Mã Vinh nhận xét. “Ban ngày, họ làm xiếc trên đường phố, đêm đến, họ diễn kịch ở chùa Hộ Quốc.”

“Huynh biết,” Kiều Thái nói. “Thương nhân buôn gạo Lao Tùng Phủ đã giúp họ thuê sân chùa Hộ Quốc để lập ra sân khấu biểu diễn. Hôm kia, họ Lao đã đến đăng ký ở nha phủ. Chủ gánh hát đi cùng gã, đó là một nam nhân khôi ngô, tên là Bào Thập Lang. Gánh hát bao gồm cả bầu đoàn gia thất của họ Bào: một phu nhân họ Vương, cùng một nhi nữ và một nhi tử.” Y lại rót rượu đầy bát của mình và nói thêm, “Ta đang định tới chùa Hộ Quốc; nghe nói họ Bào kia múa kiếm vô cùng xuất sắc, Kiều mỗ muốn xem để mở rộng tầm mắt một phen. Nhưng bởi vì Địch đại nhân đi vắng và chúng ta chịu trách nhiệm về tất cả mọi việc, huynh không muốn rời khỏi nha phủ quá lâu.”

“À, ở đây ít ra chúng ta cũng có chỗ ngồi mãn nhãn để xem các màn nhào lộn của họ,” Mã Vinh nói với vẻ thỏa mãn. Y xoay ghế hướng ra cửa sổ và tỳ cánh tay lên bậu cửa. Kiều Thái cũng làm theo.

Trên đường phố bên dưới, một tấm chiếu cói vuông vức đã được trải ra, vây quanh là đám đông náo nhiệt. Một tiểu hài tử khoảng tám tuổi đang nhào lộn ở dưới đó, sự nhanh nhẹn của nó khiến tất thảy bách tính đều kinh ngạc. Hai diễn viên khác, gồm một nam nhân cao gầy và một nữ nhân rắn rỏi đứng khoanh tay hai bên tả hữu tấm chiếu, cùng một thiếu nữ ngồi xổm bên cái rương trúc chứa đạo cụ. Trên nóc rương là một giá đỡ thấp bằng gỗ; trên dưới đặt hai thanh đao sáng loáng. Cả bốn diễn viên đều mặc y phục đen, quanh hông thắt đai màu đỏ, trên đầu cũng quấn khăn đỏ. Một lão già mặc bộ trường bào màu lam cũ mòn đang ngồi trên chiếc ghế đẩu gần đó, mạnh mẽ gõ nhịp lên một cái trống da dê được kẹp chặt giữa hai đầu gối xương xẩu.

“Ước gì ta có thể thấy mặt cô nương kia,” Mã Vinh nói vẻ khao khát. “Nhìn xem, Lao chưởng quỹ cũng đang có mặt ở đó; hình như gã đang gặp rắc rối!”

Y chỉ xuống, ngón tay nhắm vào một nam nhân trung niên, ăn mặc gọn gàng, đầu đội chiếc mũ ô sa, đang đứng phía sau cái rương trúc. Gã đang cãi nhau với một tên côn đồ to lớn có mái tóc bờm xờm như một con ngựa bất kham, được buộc lại bằng một miếng giẻ rách màu xanh. Hắn tóm lấy tay áo của họ Lao nhưng bị đẩy ra. Hai nam nhân không thèm quan tâm đến tiểu hài tử đang trồng cây chuối đi vòng quanh tấm chiếu cói, trên lòng bàn chân giữ thăng bằng một vò rượu lớn.

“Ta chưa từng thấy tên đại hán đó trước đây,” Kiều Thái bình phẩm. “Chắc chắn hắn đến từ bên ngoài thành.”

“Bây giờ chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng tường tận mấy nữ nhân kia!” Mã Vinh cười nhăn nhở nói.

Tiểu hài tử đã biểu diễn xong. Chủ gánh hát đứng giữa tấm chiếu, hai chân xuống tấn. Vương thị đặt chân phải lên đầu gối y, rồi uyển chuyển leo lên vai y. Khi Bào Thập Lang hét vang một tiếng, thiếu nữ leo lên đặt một chân vào vai trái y, nắm lấy cánh tay của Vương thị bằng một tay, cánh tay và cẳng chân còn lại duỗi dài. Gần như cùng lúc ấy, hài tử kia bắt chước thiếu nữ và giữ thăng bằng bên vai phải của họ Bào. Khi y đứng đó, vững chãi như một kim tự tháp sừng sững, lão già trong bộ trường y bạc màu lại cực lực gõ trống. Đám đông vỡ òa trong tiếng hò reo tán thưởng cuồng nhiệt.

Khuôn mặt của Vương thị cùng nhi nữ và nhi tử chỉ cách chỗ ngồi của Mã Vinh và Kiều Thái khoảng bốn thước. Kiều Thái thì thầm với vẻ nhiệt tình:

“Hãy nhìn vào thân hình tuyệt mỹ của nàng ấy! Gương mặt cũng thật ưa nhìn!”

“Đệ thích thiếu nữ kia hơn!” Mã Vinh háo hức nói.

“Trẻ quá! Vương thị đã khoảng ba mươi tuổi rồi. Chừng ấy mới có nhiều kinh nghiệm, từng trải và hiểu đời!”

Lão già đánh trống dừng lại; Vương thị và hai đứa con nhảy từ vai họ Bào xuống. Cả bốn diễn viên duyên dáng cúi đầu chào khán giả, sau đó thiếu nữ cầm cái bát gỗ đi vòng quanh để xin tiền. Mã Vinh lấy một xâu tiền đồng từ tay áo ra và ném xuống cho ả. Ả đón lấy một cách thành thạo và đền đáp Mã Vinh bằng một nụ cười quyến rũ.

“Đó là ném tiền qua cửa sổ theo đúng nghĩa đen!” Kiều Thái cộc lốc bình luận.

“Phải gọi là đầu tư vào một kế hoạch đầy hứa hẹn chứ!” Mã Vinh phản bác với một nụ cười toe toét đầy mãn nguyện. “Tiếp theo là gì đây?”

Tiểu hài tử đang đứng giữa tấm chiếu cói, chắp tay sau lưng và ngước cằm lên. Khi lão già bắt đầu đánh trống, Bào Thập Lang vươn cánh tay phải để trần nắm lấy thanh gươm đặt trên giá đỡ. Với một cử động nhanh như chớp, y đâm thanh gươm vào hài tử nọ. Máu tươi bắn vọt ra; hài tử lảo đảo về phía sau khi Bào Thập Lang lại rút thanh gươm ra. Có những tiếng thét kinh hoàng vang lên trong đám đông.

“Đệ đã thấy thủ thuật này trước đây rồi,” Mã Vinh nói, “Có trời mới biết họ làm như thế nào! Thanh gươm trông rất thực.” Y quay lưng lại và cầm bát rượu lên.

Có tiếng nữ nhân gào khóc thê thảm át cả tiếng rì rầm xôn xao của đám đông. Kiều Thái, nãy giờ vẫn chăm chú nhìn xuống, đột ngột đứng bật dậy. Y ngắt lời:

“Không phải là thủ thuật đâu, Mã đệ à! Đó là một vụ sát nhân rõ ràng! Cùng đi đến đó nào!”

Hai nam nhân phóng nhanh xuống cầu thang và chạy ra bên ngoài. Họ huých khuỷu tay mở đường xuyên qua đám đông đang kích động để đến bên tấm chiếu. Hài tử kia nằm ngửa, ngực đầm đìa máu. Vương thị đang quỳ bên cạnh, thổn thức vừa khóc nức nở vừa vuốt ve khuôn mặt nhỏ bé, bất động của hài tử. Bào Thập Lang và thiếu nữ kia đứng ngây như phỗng, mặt tái mét, nhìn chằm chằm vào thi thể của hài tử đáng thương ấy. Họ Bào vẫn còn cầm thanh gươm nhuốm máu.

Mã Vinh giật mạnh nó ra khỏi tay họ Bào và giận dữ hỏi:

“Tại sao ngươi làm như vậy?”

Bào Thập Lang sực tình khỏi trạng thái sững sờ. Nhìn Mã Vinh thảng thốt, y lắp bắp:

“Không phải thanh gươm đó!”

“Ta có thể giải thích, Mã quan gia!,” thương nhân buôn gạo họ Lao lên tiếng. “Đó là một tai nạn!”

Một nam nhân béo lùn bước đến; đó là lý chính của khu phía Tây thành. Kiều Thái ra lệnh cho y cuộn thi thể hài tử lại trong tấm chiếu cói và đưa về nha phủ để Ngỗ tác khám nghiệm. Khi lý chính nhẹ nhàng đỡ mẫu thân của hài tử đứng lên, Kiều Thái nói với Mã Vinh, “Chúng ta hãy đưa những kẻ này lên Thúy Điểu tửu quán hỏi rõ ngọn ngành đã!” Mã Vinh gật đầu. Kẹp thanh gươm dưới nách, y nói với Lao Tùng Phủ, “Ngươi cũng phải đi cùng, Lao chưởng quỹ. Và hãy bảo lão già kia mang cái rương cùng thanh gươm còn lại theo.”

Y tìm kiếm tên lưu manh cao lớn đã gây hấn với họ Lao, nhưng giờ đây hắn đã biến mất không thấy tăm hơi đâu cả. Lên tầng hai của Thúy Điểu tửu quán, Mã Vinh bảo họ Bào, hai nữ nhân đang khóc lóc và lão già đánh trống ngồi xuống bên chiếc bàn ở góc phòng. Y rót rượu từ cái vò mà y và Kiều Thái đang uống ra mời họ. Y hy vọng rượu mạnh sẽ giúp cho họ bình tĩnh lại. Sau đó, Mã Vinh quay sang Lao Tùng Phủ và ra lệnh cho gã giải thích. Y biết rằng ca kịch là sở thích của họ Lao, gã tham dự tất cả những buổi trình diễn của các gánh hát giang hồ. Khuôn mặt chữ điền của họ Lao, với hàng ria mép và chòm râu dê đen ngắn ngủn, trông thật nhợt nhạt và buồn rầu. Gã chỉnh lại chiếc mũ ô sa, rồi bắt đầu dè dặt nói:

“Như ngài có thể đã biết, Mã quan gia, Bào Thập Lang là chủ gánh hát, sở trường là diễn xiếc và ảo thuật.” Gã dừng lại, đưa bàn tay vuốt mặt, sau đó cầm lấy thanh gươm thứ hai mà lão già đánh trống đã đặt trên bàn. “Ngài có thể đã nhận ra những thanh gươm đặc biệt này,” họ Lao tiếp tục nói. “Lưỡi gươm rỗng và chứa đầy máu lợn. Đầu mũi gươm được làm giả dài khoảng hai thốn, có thể trượt ngược vào lưỡi nếu thanh gươm đâm vào thứ gì đó. Do vậy, cứ như thể là khi mũi gươm đâm sâu vào, máu lợn sẽ bắn ra tạo ảo giác hoàn toàn như thật. Khi thanh gươm được rút ra, mũi gươm trở về vị trí ban dẫu, lại được đẩy ra ngoài nhờ một vòng mây hình xoắn ốc ẩn bên trong. Ngài có thể tự mình kiểm tra!”

Mã Vinh cầm lấy thanh gươm từ tay họ Lao.

Y nhận thấy có một đường rãnh mỏng bao quanh nó, bên dưới mũi gươm cùn khoảng vài thốn. Y quay lại và đâm kiếm xuống sàn gỗ. Mũi gươm trượt vào trong, và máu đỏ bắn vọt ra. Vương thị bắt đầu gào lên. Chồng thị vội vàng đưa cánh tay quàng quanh bờ vai vợ mình. Thiếu nữ vẫn ngồi im, bất động tựa như hóa đá. Lão già giận dữ lầm bầm và giật mạnh chòm râu lởm chởm của mình.

“Không khéo léo cho lắm, Mã đệ à!” Kiều Thái ngắt lời.

“Đệ phải xác thực chứ, đúng không nào?” Mã Vinh nói với vẻ ăn năn. Y cầm lấy thanh gươm thật trong tay, và cân bằng cả hai vũ khí một cách cẩn thận. “Hai thanh kiếm này ước chừng có trọng lượng xấp xỉ nhau.” Y lẩm bẩm. “Và trông cũng giống nhau hoàn toàn. Thật nguy hiểm!”

“Thanh gươm giả đáng ra phải nằm bên trên,” họ Lao nói, “còn thanh gươm thật nằm bên dưới. Sau màn ảo thuật đâm gươm, tiểu hài tử sẽ đứng dậy, rồi cầm thanh gươm thật múa cùng phụ thân.”

Họ Bào đứng lên. Tiến đến bên Mã Vinh, y khàn giọng hỏi:

“Ai đã tráo đổi hai thanh gươm?” Khi thấy Mã Vinh chỉ mím chặt môi, họ Bào nắm lấy vai y và hét lên:

“Ai đã làm vậy, ta hỏi ngài?”

Mã Vinh nhẹ nhàng nới lỏng nắm tay của họ Bào và đẩy y ngồi xuống. “Chúng ta sẽ tìm ra,” y nói. “Ngươi hoàn toàn chắc chắn rằng mình đặt thanh gươm giả lên trên giá đỡ chứ”

“Dĩ nhiên! Chẳng phải bọn ta đã diễn trò đó đến cả trăm, cả ngàn lần rồi hay sao?”

Mã Vinh hét xuống phía cầu thang để kêu thêm rượu. Y ra hiệu cho Kiều Thái và Lao Tùng Phủ theo mình đến ngồi bên chiếc bàn phía trước cửa sổ. Khi họ đã an tọa, y thì thầm với họ Lao, “Bọn ta đã xem diễn trò từ cửa sổ này. Bọn ta thấy ngươi và một đại hán đứng gần cái rương trúc và giá đặt gươm. Còn ai khác đứng gần hai người không?”

“Ta thực sự không biết,” họ Lao cau mày, đáp lời. “Khi hài tử đang diễn trò nhào lộn thì tên đại hán vốn đã đứng cạnh ta một lúc đó đột nhiên quay sang xin tiền. Khi ta từ chối, hắn bắt đầu đe dọa Lao mỗ. Ta bảo hắn là hãy biến đi. Sau đó... có chút động chân động tay.”

“Hắn là ai?” Kiều Thái hỏi.

“Ta chưa bao giờ trông thấy hắn trước đây. Có lẽ Bào Thập Lang biết.”

Kiều Thái đứng lên và hỏi các diễn viên. Họ Bào cùng hai nữ nhân kia đều lắc đầu, nhưng lão già đánh trống khò khè nói, “Lão biết hắn rất rõ, thưa ngài! Hắn đến xem kịch ở sân chùa Hộ Quốc mỗi đêm, chỉ trả có một đồng! Hắn là một kẻ lang thang vô lại; tên là Ngô Đại Trùng.”

“Lão có thấy bất cứ ai khác đến gần giá gươm không?” Kiều Thái hỏi.

“Làm sao lão biết được, các ngài không thấy lão phải để mắt đến buổi biểu diễn suốt hay sao?,” lão già phẫn nộ trả lời. “Lão chỉ nhận ra Lao chưởng quỹ và Ngô Đại Trùng, do đã quen biết họ từ trước. Nhưng còn nhiều người khác cũng đứng xem gần đó, chen chen lấn lấn. Làm sao mà lão có thể nhìn thấy rõ ràng chứ?”

“Rõ là lão không thể nhìn được,” Kiều Thái nói vẻ cam chịu. “Và chúng ta cũng không thể bắt giữ cả đám đông.” Lại quay sang Bào Thập Lang, y hỏi:

“Ngươi có nhận ra bất cứ người quen nào đứng gần tấm chiếu không?”

“Ta không biết bất cứ ai ở chốn đây,” họ Bào đáp lời bằng giọng ỉu xìu. “Bọn ta đã đến huyện Ngưu Dị và huyện Quyên Thành, nhưng đây là lần đầu tiên gánh hát đến huyện này. Ta chỉ biết Lao chưởng quỹ. Gã tự giới thiệu với ta khi Bào mỗ đến khảo sát khu vực sân chùa để dựng sân khấu, và gã đã tử tế đề nghị giúp đỡ.”

Kiều Thái gật đầu. Y thích gương mặt cởi mở, thông minh của Bào Thập Lang. Y quay lại với những người khác và nói với Lao Tùng Phủ, “Ngươi nên dẫn các diễn viên này về nơi họ trú ngụ. Hãy nói với họ rằng dự kiến tối nay, Huyện lệnh đại nhân sẽ trở về, và nha phủ sẽ ngay lập tức điều tra vụ án mạng bẩn thỉu này. Ngày mai, họ sẽ phải có mặt tại phiên thăng đường buổi sáng để nghe thẩm án. Sau đó, thi thể của hài tử sẽ được trao lại cho Bào gia để an táng.”

“Ta cũng có thể đến đó chứ, Kiều quan gia? Họ Bào là một nam nhân tốt; ta muốn làm tất cả những gì có thể để giúp đỡ y thoát khỏi tình thế khốn khổ này.”

“Kiểu gì thì ngươi cũng sẽ phải có mặt ở đó!” Mã Vinh lạnh nhạt nói. “Ngươi là một nhân chứng quan trọng.”

Mã Vinh và Kiều Thái đứng lên rồi nói vài lời an ủi với gia đình bất hạnh ấy. Khi Lao Tùng Phủ dẫn họ và lão già xuống lầu dưới, hai bằng hữu lại ngồi bên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Yên lặng, họ uống cạn bát rượu của mình. Trong lúc Mã Vinh lại rót đầy bát cho cả hai, y nói, “Ôi, đệ hy vọng vậy là xong rồi. Tối nay chúng ta phải thuật lại toàn bộ cho đại nhân. Đây sẽ là một vụ án rất nan giải. Ngay cả đối với đại nhân!”

Y trao cho bằng hữu của mình một cái nhìn thâm trầm, nhưng Kiều Thái không bình luận thêm gì. Y vẩn vơ quan sát tiểu nhị đang đi lên lầu, mang theo một ngọn đèn dầu lớn. Khi tiểu nhị đã rời khỏi, Kiều Thái dằn mạnh bát rượu xuống bàn và chua chát nói, “Thật là một vụ giết người bẩn thỉu! Lừa phụ thân tự tay giết chết nhi tử của chính mình, và lại ngay trước mắt mẫu thân nữa chứ! Đệ biết không? Chúng ta phải bắt được tên khốn kiếp hèn hạ đã mượn đao giết người đó! Ở đây và ngay bây giờ!”

“Đệ đồng ý,” Mã Vinh chậm rãi nói, “nhưng vụ án mạng này không phải là chuyện nhỏ. Đệ không dám chắc là Địch đại nhân có muốn chúng ta nhúng tay can thiệp vào việc điều tra hay không. Sai một ly đi một dặm, huynh biết đó!”

“Nếu chỉ làm những điều mà đại nhân có khả năng sẽ ra lệnh, thì chúng ta sẽ không gây tổn hại nhiều nhặn gì đâu.”

Mã Vinh gật đầu. Sau đó, y mạnh mẽ nói:

“Được rồi, đệ cùng với huynh! Cát tường nhé!”

Cạn chén xong, y nói thêm với nụ cười nhăn nhở, “Đây là cơ hội để chúng ta chứng minh khí phách mình! Khi bọn thân hào chí sĩ đó nói chuyện với chúng ta ở đây, họ không hề hé môi chê bai gì. Nhưng sau lưng chúng ta, họ nói rằng Mã - Kiều chỉ là một cặp đôi võ biền thô tục, chỉ giỏi ỷ mạnh hiếp yếu, là thứ vai u thịt bắp, đầu óc ngu si tứ chi phát triển!”

“Ở một mức độ nào đó,” Kiều Thái thận trọng nói, “thì họ nói đúng. Chúng ta không phải là thư hương môn đệ. Đó là lý do tại sao huynh không mơ màng đến việc giải quyết một vụ án liên quan đến lớp người cao quý trong triều đình, chẳng hạn thế. Tuy nhiên, vụ án mạng này là dành cho chúng ta, vì tất cả những kẻ liên quan đều thuộc tầng lớp thường dân mà chúng ta vốn đã quen thuộc.”

“Chúng ta hãy lên kế hoạch chi tiết cho công tác điều tra nào!” Mã Vinh gầm gừ. Y lại rót đầy bát rượu của cả hai.

“Địch đại nhân luôn bắt đầu với động cơ và cơ hội gây án,” Kiều Thái nói. “Trong vụ án này, động cơ rõ như ban ngày. Hiển nhiên hung thủ không thể có thâm cừu đại hận với một hài tử tám tuổi, nên có thể suy đoán chắc chắn hắn vô cùng căm ghét Bào Thập Lang.”

“Phải. Và do họ Bào mới đến Phổ Dương lần đầu tiên, nên các nghi phạm được thu hẹp lại, chỉ còn những kẻ đã có quan hệ với y và gánh hát trong vài ngày gần đây.”

“Vẫn có khả năng là họ Bào đã chạm mặt một kẻ thù cũ tại chốn này,” Kiều Thái phản đối.

“Trong trường hợp đó thì có lẽ họ Bào đã kể cho chúng ta nghe ngay lập tức rồi,” Mã Vinh nói. Y suy nghĩ đăm chiêu một hồi. “Đệ không chắc rằng đã chẳng có kẻ nào trù tính mưu hại tiểu hài tử đó. Những hài tử như vậy có thể bất cẩn đi vào những nơi không nên đi; rồi nhìn thấy hoặc nghe thấy điều gì mà mình không nên biết. Một kẻ nào đó đã muốn giết người diệt khẩu, và thanh gươm giả là một cơ hội trời ban cho hẳn.”

“Phải,” Kiều Thái thừa nhận. “Trời ơi, có nhiều khả năng quá!” Y nhấp một ngụm rượu, đoạn cau mày và đặt bát xuống. “Thứ này có mùi vị buồn cười sao đó!,” y nhận xét đầy vẻ kinh ngạc.

“Nó cũng vẫn là rượu mà chúng ta uống hồi nãy, nhưng giờ đây đệ cũng nếm thấy vị không ngon nữa! Rượu chỉ ngon khi huynh đang hạnh phúc và thảnh thơi! Huynh không thể thưởng rượu được khi đang có bao nhiêu điều bận tâm!”

“Đó là lý do tại sao đại nhân chỉ uống trà, tội nghiệp ngài ấy!” Kiều Thái quắc mắc cau có nhìn vò rượu, đoạn y cầm lấy nó và đặt xuống bên dưới bàn, để lăn lóc trên sàn nhà. Khoanh cánh tay cơ bắp lại trong tay áo, y nói tiếp:

“Còn nói về cơ hội, cả họ Lao và họ Ngô đều đứng gần giá đỡ, ai trong số họ cũng có thể tráo đổi hai thanh gươm. Thế còn động cơ của bọn họ thì sao?”

Mã Vinh xoa cằm. Sau một hồi, y trả lời, “Liên quan đến họ Ngô, đệ chỉ có thể nghĩ đến duy nhất một người. Hoặc đúng hơn là hai. Đó là Vương thị và nhi nữ của thị. Trời ơi, đệ cũng chẳng trách được những nữ tử giang hồ ấy! Cứ nghĩ về những màn trình diễn của họ mà xem! Giả sử Ngô Đại Trùng có ý đồ xấu với một trong hai người hoặc cả hai, và Bào Thập Lang đã bảo hắn không được đụng chạm đến họ. Thế rồi họ Ngô đã ôm hận trong lòng?”

“Có thể. Nếu họ Ngô là một tên suy đồi bại hoại, một kẻ vô lại ti tiện, thì hắn có thể trả thù Bào gia theo cách bẩn thỉu như thế. Nhưng còn Lao Tùng Phủ thì thế sao?”

“Không có khả năng đó! Lao Tùng Phủ là loại người gàn bướng, cổ hủ. Gã nhiệt tình với gánh hát của Bào gia chỉ là do tâm tính yêu thích những trò giang hồ mãi nghệ mà thôi. Nếu muốn mua vui, gã sẽ lặng lẽ và lén lút đến một thanh lâu kín đáo nào đó. Họ Lao sẽ chẳng dám khởi sự vụng trộm với một nữ diễn viên đâu.”

“Huynh đồng ý rằng Ngô Đại Trùng là nghi phạm lớn nhất của chúng ta,” Kiều Thái nói. “Ta sẽ đi tìm và hỏi chuyện hắn. Sau đó, ta cũng sẽ đến gặp họ Lao, chỉ là để hoàn thành thủ tục điều tra thôi, có thể nói như thế. Còn đệ nên đi tới chùa Hộ Quốc, Mã đệ à, để tìm hiểu nội tình. Đại nhân nhất định sẽ muốn biết rõ về Bào gia, huynh cho là vậy.”

“Được rồi, đệ sẽ dò hỏi hai nữ nhân; đó là cách tiếp cận nhẹ nhàng nhất, đệ dám chắc là thế!” Mã Vinh đứng lên đầy mạnh mẽ.

“Có lẽ không được nhẹ nhàng như đệ nghĩ đâu,” Kiều Thái lạnh lùng nói khi y cũng đứng dậy. “Hai nữ nhân đó đều là diễn viên nhào lộn, nhớ đó! Họ biết cách sử dụng bàn tay của mình thế nào nếu đệ quấy rầy họ! Thôi vậy, chúng ta sẽ gặp nhau sau, tại nha phủ.”

Kiều Thái đi thẳng vào tửu điếm nhỏ nằm ở phía Đông thành, là nơi mà Thẩm Bát, Bang chủ Cái Bang đặt đại bản doanh ở đó.

Kẻ duy nhất có mặt tại tửu điếm bẩn thỉu ấy là một nam nhân vai u thịt bắp, to lớn khác thường, đang tựa đầu nằm ngả nghiêng trên ghế bành. Hắn ngáy ầm ĩ. Đôi cánh tay to như cột buồm của hắn khoanh lại trên chiếc bụng trần to tướng, lòi ra từ chiếc áo khoác màu đen mòn vẹt xác xơ.

Kiều Thái nắm lấy Thẩm Bát, lắc một cách thô bạo. Hắn giật mình thức dậy. Trao cho Kiều Thái một cái nhìn đầy hiểm ác, hắn cáu kỉnh nói, “Ngươi đã khiến lão già này sợ hết hồn! Nhưng dù gì cũng hãy ngồi xuống đây. Nói cho ta nghe ta có lợi gì từ cuộc nói chuyện với ngươi.”

“Ta đang rất vội. Ngươi biết một tên lưu manh tên là Ngô Đại Trùng chứ?”

Thẩm Bát chậm rãi lắc cái đầu to tướng của mình. “Không,” hắn nói vẻ chán ngán, “ta chẳng biết gì về hắn cả.”

Kiều Thái bắt gặp cái nhìn xảo quyệt, ma mãnh vừa lóe lên trong đôi mắt của kẻ đối diện. Y nôn nóng nói, “Ngươi có thể chưa gặp hắn, nhưng chắc chắn phải biết về hắn, đồ lừa đảo! Người ta vẫn thấy trông thấy hắn loanh quanh trong sân chùa Hộ Quốc.”

“Đừng có chửi ta!” Thẩm Bát nói giọng đầy tổn thương. Rồi hắn nói thêm, vẻ tiếc nuối, “À, cái sân chùa ấy! Đại bản doanh cũ của ta. Những ngày đã qua, huynh đệ ơi! Vui vẻ và vô ưu! Hãy nhìn Thẩm Bát này bây giờ, Bang chủ Cái Bang, hai vai chồng chất gánh nặng của nhiệm vụ cai quản! Ta?..”

“Gánh nặng duy nhất mà ngươi mang vác chính là cái bụng phệ này,” Kiều Thái xen ngang. “Nói đi, ta có thể tìm được họ Ngô ở đâu?”

“Ôi,” Thẩm Bát đáp lời vẻ cam chịu, “nếu ngươi buộc phải đẩy vấn đề đến mức cực đoan như thế... Ta từng nghe nói có một nam nhân tự gọi mình bằng cái tên đó thường xuyên xuất hiện ở một tửu quán bên dưới tường thành phía Đông, đó là tửu quán thứ năm về phía Bắc tính từ cổng Đông thành. Đó chỉ là lời đồn đại, phiền ngươi, ta...”

“Đa tạ Bang chủ!” Kiều Thái chạy ra ngoài.

Trên đường phố, y nhét chiếc mũ vào tay áo, và vò cho mái tóc mình rối bù lên. Đi một quãng ngắn thì y đến một nhà kho ọp ẹp được dựng bằng những tấm ván cũ kĩ tựa sát vào chân tường thành. Kiều Thái quan sát khu vực tối tăm, hoang tàn xung quanh đó, rồi y kéo tấm màn treo trước cửa ra và bước vào bên trong.

Cả nhà kho được chiếu sáng lờ mờ bằng một ngọn đèn dầu tỏa khói. Nó tràn ngập mùi hôi thối tởm lợm của dầu ôi và rượu rẻ tiền. Một lão già với đôi mắt lờ đờ, uể oải đang phục vụ rượu cặn đằng sau một quầy thu ngân bằng tre ọp ẹp. Ba nam nhân mặc y phục rách nát tả tơi đang đứng trước quầy. Vóc dáng cao lớn của Ngô Đại Trùng trội hơn hẳn những kẻ khác.

Kiều Thái đứng kế bên họ Ngô. Những kẻ kia lãnh đạm nhìn y; rõ là bọn họ không hề biết Kiều Thái là một quan viên của nha phủ. Y gọi thức uống. Sau khi hớp một ngụm từ cái bát cơm nứt nẻ được dùng thay thế cho bát rượu, y nhổ toẹt xuống nền nhà và gầm gừ với họ Ngô, “Gớm quá! Thật tệ hại, đồng cắc cuối cùng trong túi lại tiêu vào cái thứ rượu này!”

Một nụ cười nhăn nhở hiện lên trên khuôn mặt to bản, rám nắng của họ Ngô. Kiều Thái nghĩ rằng hắn trông giống như một tên côn đồ thô lỗ, nhưng không hoàn toàn khó ưa. Y tiếp tục nói, “Ngươi có biết chỗ nào kiếm ăn được chút không?” “Không, ta không biết. Đáng lẽ ra, Ngô mỗ là người cuối cùng được hỏi câu này, huynh đệ à! Mấy ngày gần đây, ta cũng liên tục gặp chuyện xúi quẩy. Mới tuần trước, ta dự định cướp hai xe chở gạo ở Ngưu Dị. Việc dễ như trở bàn tay, chỉ phải hạ gục hai tên phu xe. Sự vụ đã được lên kế hoạch tỉ mỉ để ra tay trên một con đường vắng vẻ trong rừng. Nhưng vận đen của ta đã làm hỏng nó!”

“Ngươi quá già để hành nghề thảo khấu rồi!” Kiều Thái cười chế nhạo.

“Câm miệng lại và nghe đây! Ngay khi ta hạ gục tên phu xe thứ nhất, một tiểu tử từ đâu bỗng chạy tới, nhìn ta từ đầu xuống chân và hỏi ngớ ngẩn thế này, ‘Ông làm như thế vì lẽ gì?’ Ta nghe thấy có tiếng ồn, liền nhảy vào bụi cây thấp gần đó. Từ chỗ ẩn nấp của mình, ta nhìn thấy một cỗ xe có mui đang chở gánh hát đi qua khúc quanh. Tên mã phu thứ hai kể lại câu chuyện không hay vừa xảy ra cho bọn họ nghe, nói rằng ta đã cao chạy xa bay. Cả đám bọn họ đi cùng nhau, cả xe chở gạo cũng đi mất!”

“Xúi quẩy thật!” Kiều Thái đồng ý. “Ngày hôm qua ta thấy một gánh hát đang trình diễn trên phố, có một tiểu tử diễn trò nhào lộn. Nếu đúng là tiểu tử đó thì tốt hơn là ngươi nên cẩn thận. Tiểu tử đó có thể nhận ra ngươi đó.”

“Đã nhận ra ta rồi! Lại bắt quả tang một lần nữa! Lần này là ta với tỷ tỷ của tiểu quỷ đó! Ngươi có thể tưởng tượng là ta đen như chó mực đến thế nào không? Nhưng tiểu quỷ đó còn gặp vận xui hơn. Nó đã chết rồi!”

Kiều Thái siết chặt dây đai đeo lưng của mình. Đây rốt cuộc là một vụ án đơn giản. Y lịch thiệp nói, “Ngươi dĩ nhiên là rất đen đủi, Ngô Đại Trùng! Ta là quan viên của nha phủ, và ta yêu cầu ngươi đi cùng ta!”

Họ Ngô chửi rủa tục tĩu, đoạn quay sang hét vào mặt hai tên khác, “Các chiến hữu nghe y nói rồi chứ, đây là tên cẩu nô tài của nha phủ! Nào huynh đệ, chúng ta hãy cho tên săn trộm này một trận!”

Hai kẻ lang thang kia chậm rãi lắc đầu. Tên đứng tuổi hơn nói, “Ngươi không phải là người ở đây, huynh đệ à. Hãy tự mình giải quyết mọi chuyện!”

“Chết tiệt! “, và hắn quay sang Kiều Thái, “hãy ra ngoài đấu một trận ra trò!”

Một tên hành khất đang lảng vảng trong ngõ hẻm tối tăm đã nháo nhào lủi đi chỗ khác khi trông thấy hai nam nhân đi ra ngoài, thủ thế chuẩn bị phân tài cao thấp.

Ngô Đại Trùng bắt đầu vung lên song quyền vào quai hàm Kiều Thái, nhưng y đã thành thạo tránh né, gạt cú đấm sang một bên, rồi thuận thế trả đòn bằng cú giật cùi chỏ vào bản mặt đối thủ. Họ Ngô cúi nhanh để né tránh, dùng cánh tay dài, vạm vỡ để tóm lấy eo Kiều Thái. Kiều Thái nhận ra khi đánh cận chiến thì họ Ngô không phải là một đối thủ tầm thường; hắn cao bằng Kiều Thái nhưng nặng cân hơn nhiều và hắn đang tận dụng lợi thế này. Chẳng mấy chốc cả hai nam nhân đều hổn hển thở dốc nặng nề. Nhưng về kĩ thuật cận chiến thì Kiều Thái nhỉnh hơn, y dồn sức thoát khỏi hùng chưởng của họ Ngô. Kiều Thái lùi bước, đoạn nện một quyền vào giữa mi tâm của y. Họ Ngô lắc lắc đầu, rồi tiến lại gần Kiều Thái, gầm gừ giận dữ.

Kiều Thái thủ thế đề phòng các tiểu xảo gian trá hiểm ác, nhưng rõ là họ Ngô cũng không thích chơi xấu. Hắn thực hiện đòn nhử, rồi lại đấm một cú trời giáng vào bụng Kiều Thái. Chiêu thức Mãnh Hổ Thôi Sơn uy lực mạnh mẽ, nếu y không né tránh được và đón đỡ bằng ngực thì khả năng cao là sẽ đo sàn. Kiều Thái vờ bị trúng đòn và lảo đảo lùi lại. Ngô Đại Trùng dụng độc thủ Độc Long Xuất Hải tung một cú đấm nhắm thẳng vào quai hàm của Kiều Thái để kết liễu y. Kiều Thái bắt lấy quả đấm của họ Ngô bằng cả hai bàn tay, uyển chuyển theo chiêu thế Hầu Tử Trộm Đào luồn xuống dưới cánh tay của họ Ngô, nâng hắn lên rồi ném qua lưng mình. Có âm thanh răng rắc vang lên khi xương bả vai của tên lưu manh bị trật khớp, hắn rơi sầm xuống đất, đầu đập vào một hòn đá tảng đánh uỵch một tiếng. Họ Ngô nằm im bất động.

Kiều Thái lại đi vào nhà kho và bảo lão già đưa cho mình một sợi dây thừng, sau đó hãy chạy ra ngoài gọi lý chính cùng vài thuộc hạ.

Kiều Thái trói chắc hai chân họ Ngô lại. Sau đó y ngồi xuống và đợi lý chính tới. Họ Ngô được khiêng về nha phủ trên một cái cáng tạm bợ. Kiều Thái lệnh cho Giám ngục tống giam họ Ngô vào một xà lim, cho gọi Ngỗ tác và yêu cầu y hồi sức cho hắn, rồi nắn lại xương vai.

Sau khi thu xếp xong mọi việc, Kiều Thái tản bộ về phía công đường, y chìm sâu trong suy nghĩ. Có một điều gì đó khiến y lo lắng. Sau tất cả, vụ án có lẽ không quá đơn giản như thế.

Trong lúc đó, Mã Vinh đã từ Thúy Điểu tửu quán trở về nha phủ. Tắm rửa xong, y vận một bộ trường bào sạch sẽ tinh tươm, rồi tản bộ đến sân chùa Hộ Quốc.

Một đám đông hỗn tạp đang đứng lộn xộn quanh sân khấu được dựng bằng cọc tre. Sân khấu được chiếu sáng từ hai chiếc đèn lồng bằng giấy lớn. Buổi biểu diễn đã bắt đầu. Bào Thập Lang đã định khế thư, không dám để cái chết của nhi tử làm gián đoạn chương trình sân khấu thường nhật. Y cùng thê nhi, cả ba người đều vận trang phục lộng lẫy, đứng ở phía trước hai chiếc bàn chồng lên nhau tượng trưng cho ngai vàng. Vương thị phất tay áo dài, ảo não hát một khúc ca theo nhịp đàn.

Mã Vinh đến bên khung tre cạnh sân khấu, nơi lão già đang cực lực kéo đàn, cùng lúc chân phải lão gõ một cái chiêng đồng. Mã Vinh chờ đợi cho đến khi lão đặt cây đàn sang một bên và đổi qua chơi một cặp phách gỗ. Y vỗ nhẹ vào lão và hỏi với một nụ cười toe toét đầy hàm ý:

“Ta có thể gặp các vị cô nương ở đâu?”

Lão già hất cái cằm đầy râu ria về phía cái thang gấp đằng sau lưng, sau đó lại gõ mạnh hơn vào cặp phách gỗ.

Mã Vinh leo lên gian phòng nghỉ được dựng tạm bợ, ngăn cách với sân khấu bằng những tấm chiếu trúc. Chỉ có một cái bàn trang điểm rẻ tiền đứng trơ trọi, trên đó vứt bừa bãi những cái đĩa đựng son phấn, cùng một chiếc ghế đẩu thấp lè tè.

Những tiếng hò reo tán thưởng của khán giả ầm ĩ vang lên báo hiệu các diên viên vừa xong một cảnh. Bức màn xanh dơ bẩn được kéo sang một bên và Bào tiểu thư bước vào.

Ả vận tráng phục khá giống của một công chúa, thân mặc tấm trường bào màu lục lấp lánh những lá đồng trang trí, đầu đội phượng quan lộng lẫy được trang hoàng hoa giấy sặc sỡ. Hai lọn tóc đen dài óng ả xõa xuống hai bên thái dương. Mặc dù gương mặt ả tô son điểm phấn hóa trang dày cộp, nhưng Mã Vinh nghĩ rằng thiếu nữ trông vẫn vô cùng quyến rũ. Á liếc mắt nhìn Mã Vinh một cái, sau đó ngồi xuống chiếc ghế đẩu. Nghiêng người về phía tấm gương để kiểm tra lại hàng lông mày vẽ của mình, ả hỏi với vẻ bơ phờ:

“Có tin tức gì mới sao?”

“Không có gì đặc biệt cả!” Mã Vinh vui vẻ đáp lời. “Ta chỉ đến đây để thăm viếng và trò chuyện cùng giai nhân thôi!”

Bào tiểu thư quay đầu lại và trao cho Mã Vinh một cái nhìn khinh khỉnh. “Nếu ngài nghĩ chuyện đó sẽ đưa mối quan hệ giữa ngài với ta tiến xa hơn,” ả ngắt lời Mã Vinh, “thì ngài sai rồi!”

“Ta muốn nói chuyện về song thân của nàng!,” y nói, sửng sốt trước lời cự tuyệt đột ngột này.

“Song thân? về mẫu thân của ta, ý ngài thế à! Ôi, về gia mẫu, ngài không cần người trung gian, gia mẫu luôn cởi mở với những cuộc đổi chác tình tiền sòng phẳng!”

Đột nhiên, thiếu nữ vùi mặt vào hai bàn tay và bắt đầu khóc thổn thức. Kiều Thái bước lại gần và vỗ nhẹ vào lưng ả. “Bào tiểu thư đừng quá bi ai! Tất nhiên câu chuyện khủng khiếp về tiểu đệ của nàng...”

“Nó không phải tiểu đệ của ta!,” ả ngắt lời y. “Cuộc sống này... Ta không thế chịu đựng thêm được nữa! Gia mẫu là một kỹ nữ, còn gia phụ là một kẻ xuẩn ngốc rất mực si tình... Ngài có biết ta đang đóng vai gì không? Ta là công chúa, là kim chi ngọc diệp của phụ vương cao quý và mẫu hậu tiết hạnh! Thật là một trò đùa!”

Ả giận dữ lắc đầu, sau đó bắt đầu mạnh mẽ thoa phấn lên mặt. Thiếu nữ tiếp tục nói, giọng điệu đã bình tĩnh hơn, “Hãy tưởng tượng mà xem, nửa năm trước, gia mẫu đã đem hài tử đó về đây, chẳng hề báo trước gì cả! Nói với gia phụ rằng hài tử này là kết quả của một sai lầm nhỏ cách đây tám năm. Kẻ từng khiến gia mẫu gặp rắc rối ấy đã chăm sóc hài tử trong suốt thời gian đó, bây giờ thì hắn quyết định không giữ nó lại nữa. Gia phụ lại bỏ qua, như mọi khi...”” ả cắn môi.

“Nàng nghĩ,” Mã Vinh hỏi, “tối nay kẻ nào đã giở quỷ kế lừa gạt phụ thân nàng? Có lẽ y đã gặp một kẻ thù cũ tại chốn đây chăng?”

“Tại sao ngài lại nghĩ có kẻ đã cố ý tráo đổi hai thanh gươm?,” ả nói xẵng. “Gia phụ có thể bất cẩn nên cầm nhầm, đúng không? Hai thanh gươm giống hệt nhau mà. Chúng phải giống nhau, không thì trò ảo thuật trông sẽ không chân thực.”

“Phụ thân của nàng nói chắc như đinh đóng cột rằng có kẻ đã mượn đao giết người,” Mã Vinh bình phẩm.

Đột nhiên thiếu nữ giậm chân xuống sàn và kêu lên, “Đời ta thực khổ! Ta hận nó! Lạy trời, ta sắp có một sự khởi đầu mới. Cuối cùng, ta đã gặp được một nam nhân tử tế sẵn sàng trả một khoản sính lễ hào phóng cho gia phụ, và cưới ta về làm thiếp.”

“Làm tiểu thiếp người ta không phải lúc nào cũng dễ chịu đâu!”

“Không, ta sẽ không phải chịu thân phận tiểu thiếp quá lâu đâu, quan gia à! Chính thất của ông ấy đang bệnh nặng, đại phu nói mụ cũng không sống thêm được quá một năm nữa.”

“Mà nam nhân may mắn đó là ai vậy?”

Bào tiểu thư ngần ngừ trong giây lát trước khi đáp lời, “Ta sẽ kể cho ngài vì ngài là một quan viên nha phủ. Hãy giữ kín việc này một thời gian nữa, được không? Đó là chưởng quỹ Lao Tùng Phủ. Ông ta gần đây làm ăn không tốt, nên chưa muốn thưa chuyện này với gia phụ trước khi có đủ ngân lượng. Ông ta hơi lớn tuổi, tất nhiên rồi, lại còn bảo thủ, gàn bướng, nhưng ta đã phát chán những gã thiếu niên vô công rồi nghề, chỉ biết uống rượu mua vui, dụ dỗ nữ nhân, thề non hẹn biển rồi lại cao chạy xa bay!”

“Rốt cuộc làm thế nào mà nàng quen biết họ Lao?”

“Ta gặp Lao chưởng quỹ đúng ngày Bào gia đến huyện Phổ Dương. Ông ấy đề nghị giúp đỡ gia phụ thuê sân khấu này. Lao chưởng quỹ vừa gặp đã yêu ta, ông ấy...”

Giọng nói của ả chìm trong tiếng vỗ tay đinh tai nhức óc từ bên ngoài vọng vào. Ả đứng bật dậy, đội phượng quan ngay ngắn rồi vội vã nói:

“Ta phải đi đây! Cáo từ!”

Bào tiểu thư biến mất sau bức màn trướng.

Mã Vinh thấy bằng hữu của mình đang ngồi đơn độc trong công đường vắng vẻ. Kiều Thái ngước lên nhìn và nói, “Dường như vụ án của chúng ta đã được giải quyết, Mã đệ à! Huynh đã bắt giam nghi phạm vào đại lao!”

“Tốt lắm!” Mã Vinh kéo ghế ngồi xuống và lắng nghe câu chuyện của Kiều Thái. Sau đó y kể cho Kiều Thái nghe về cuộc gặp Bào tiểu thư. “Kết hợp thông tin của hai chúng ta,” y kết luận, “hóa ra Bào tiểu thư đã có khoảng thời gian mặn nồng ngắn ngủi với họ Ngô, giữa những lần hẹn hò với họ Lao kia. Ồ, trông huynh như đang lo lắng về điều gì vậy?”

“Mới nãy ta quên nói với đệ,” Kiều Thái chậm rãi đáp lời, “Ngô Đại Trùng không ngoan ngoãn bó tay chịu trói, mà huynh đã phải đấu với hắn một trận kịch liệt. Nhưng họ Ngô chiến đấu đường hoàng, không hề dùng một quyền cước xấu xa, bỉ ổi nào cả. Ta có thể mường tượng ra cảnh họ Ngô bẻ gãy cổ hài tử trong cơn thịnh nộ lôi đình khi hắn bắt gặp nó nhìn trộm mình đang bận rộn yêu đương với tỷ tỷ của nó, nhưng để giở trò tiểu xảo ti tiện là tráo đổi hai thanh gươm thì... Không, Mã đệ à, đó không phải là tính cách của một hảo hán như hắn, huynh dám khẳng định với đệ!”

“Có những kẻ sở hữu đủ loại tính cách cùng một lúc,” Mã Vinh nhún vai nói. “Chúng ta hãy đi xem tên khốn đó ra sao rồi.”

Họ đứng dậy và đi tới đại lao phía sau công đường xử án. Kiều Thái bảo Giám ngục đưa Chánh Lục sự đến làm nhân chứng và ghi chép lại quá trình hỏi cung. Họ Ngô đang ngồi trên chiếc trường kỷ trong một xà lim nhỏ bé tối đen, tay và chân bị xích vào tường. Khi Kiều Thái nâng cao ngọn nến, họ Ngô nhìn lên và nói vẻ chua chát:

“Tên cẩu nô tài kia, ta ghét phải thừa nhận điều này, nhưng đó là một cú ném khá hiểm đấy!”

“Quá khen rồi! Giờ ngươi hãy kể cho ta nghe thêm về vụ cướp mà ngươi đã trót làm hỏng.”

“Sao mà không dám kể chứ! Cùng lắm các người chỉ có thể buộc tội hành hung cho ta thôi. Ngô mỗ chỉ hạ gục một tên phu xe, thậm chí còn chẳng chạm đến một bao gạo nào.”

“Ngươi định bán lại hai xe gạo như thế nào?” Mã Vinh hỏi vẻ tò mò. “Ngươi không thể bán được nhiều gạo đến thế, ngươi đâu có thuộc phường buôn gạo.”

“Có buôn bán gì đâu!” Họ Ngô nói với một nụ cười toe toét. “Ta sẽ ném những bao gạo xuống sông, toàn bộ luôn!” Nhìn thấy nét mặt ngạc nhiên của huynh đệ Mã Kiều, hắn nói thêm, “Số gạo đó đã bị hỏng hết rồi. Gã buôn gạo muốn ta giúp đánh cắp số gạo đó, và rồi có lẽ phường buôn sẽ đền bù cho gã. Nhưng do ta thực hiện sự vụ cẩu thả, nên gạo đã được giao đúng lúc, bị phát hiện ra là gạo xấu. Vì thế gã thương gia kia phải trả lại tất cả số ngân lượng mà gã đã nhận từ người mua. Thật xui xẻo. Tuy nhiên, ta vẫn nghĩ rằng gã nợ mình một lượng bạc cho những rắc rối mà ta phải chịu. Nhưng khi ta bảo với gã vậy, gã đã từ chối nhả ngân lượng ra!”

“Gã đó là ai?” Kiều Thái hỏi.

“Một thương nhân buôn gạo ở huyện này, Lao Tùng Phủ.”

Kiều Thái bối rối nhìn Mã Vinh. Rồi Mã Vinh hỏi:

“Làm sao mà ngươi lại quen biết họ Lao? Ngươi đến từ Ngưu Dị phải không?”

“Họ Lao là bằng hữu của ta từ lâu rồi! Ta quen biết gã đã nhiều năm, gã thường xuyên đến chơi huyện Ngưu Dị. Họ Lao miệng lưỡi trơn tru, ăn nói ngọt xớt, nhưng luôn sẵn đủ trò lường gạt. Tên khốn đạo đức giả ấy có một tổ uyên ương bí mật ở Ngưu Dị. Nữ nhân mà gã nuôi tại đó là bằng hữu với ả kỹ nữ của ta, từ đó mà ta được giới thiệu với họ Lao. Nhưng quả thật, một số kẻ có khiếu thẩm mỹ thật kỳ cục. Nữ nhân của ta là một ả lẳng lơ phong tình, còn tình nương của họ Lao lại là một mụ dạ xoa xấu xí. Thế nhưng, ả kỹ nữ của ta đã kể rằng mụ đã sinh một nhi tử cho gã. Có lẽ tám năm về trước, mụ có nhan sắc khá hơn bây giờ. Có trời mới biết!”

“Lại nói về các nữ nhân,” Mã Vinh lên tiếng, “làm sao ngươi bắt chuyện được với Bào tiểu thư?”

“Đơn giản thôi! Vừa nhìn thấy nàng trên sân khấu trong đêm diễn đầu tiên là ta đã thương nàng rồi. Đêm đó, rồi đêm sau đó nữa, ta dần lân la làm quen nhưng vẫn không được! Tối hôm qua, ta đã cố gắng lần nữa nhưng cũng vô ích, khi ấy ta vẫn đang chờ họ Lao trả công một lượng bạc. Đến khuya, sau buổi trình diễn, Bào tiểu thư trông rất mệt mỏi; dường như nàng rất căng thẳng và phiền muộn. Nhưng ta vẫn cứ hỏi nàng, và nàng cũng đã đáp lại, ‘Được rồi. Nhưng ngươi phải hầu hạ ta cho tốt, đây là cuộc vui cuối cùng của ta!’ Thế là chúng ta lẻn vào một quầy hàng trống trải trong góc sân yên tĩnh, nhưng khi chúng ta vừa bắt đầu, hài tử kia thình lình xuất hiện tìm tỷ tỷ. Ta bảo nó cút xéo, và nó cút ngay. Ta không biết là do sự gián đoạn ấy hay vì thiếu rèn luyện, nhưng dù sao thì những điều xảy ra sau đó cũng đã khiến ta thất vọng. Cũng là chuyện thường tình thôi, các ngươi biết mà, có khi mọi thứ tốt đẹp hơn mong đợi, nhưng có khi lại tồi tệ hơn. Tuy nhiên, những gì ta nhận được đều là ái tình miễn phí, thì sao ta dám phàn nàn cơ chứ?”

“Hôm nay ta thấy ngươi cãi nhau với Lao Tùng Phủ trên phố,” Kiều Thái nói. “Lúc đó, hai người đều đứng gần giá gươm. Ngươi có thấy ai động tay động chân đến hai thanh gươm đó không?”

Họ Ngô nhíu mày, lắc đầu nói, “Lúc đó ta vừa lưu ý đến tên khốn họ Lao vừa để mắt đến hai nữ nhân kia. Bào tiểu thư đứng ngay trước mặt ta khi hài tử bắt đầu trò nhào lộn. Ta đã định véo mông nàng, nhưng thấy nàng quá lạnh nhạt, ta bèn véo mẫu thân nàng thay vậy, nhằm lúc thị đang đẩy cái rương tre sang bên cạnh một chút. Ngô mỗ chỉ nhận được phần thưởng duy nhất là một cái nhìn khinh bỉ. Lúc đó, họ Lao đã cố gắng thoát khỏi ta, gã suýt vấp phải cái rương khi ta nắm lấy tay áo kéo gã lại. Bất cứ ai cũng có thể tráo đổi hai cái tăm xỉa răng đó trên giá đỡ.”

“Bao gồm cả ngươi!” Mã Vinh lạnh lùng nói.

Họ Ngô cố gắng đứng bật dậy, chuỗi dây xích bị kéo căng ra kêu leng keng ầm ĩ. Hắn ngã xuống với một tiếng kêu la đau đớn. “Vậy ra đó là những gì mà các ngươi muốn, bọn khốn!” Hắn hét toáng lên, “Muốn đổ vụ án mạng đê hèn ấy cho ta ư? Thật là ti tiện...” Hắn nhìn Kiều Thái và gào to, “Ngươi không thể làm vậy với ta, tên cẩu quan kia! Ngô Đại Trùng ta đã đánh thì sẽ đánh quang minh chính đại trước mặt, chứ không bao giờ dùng mưu hèn kế bẩn sau lưng. Giết một tiểu hài tử như vậy...”

“Hãy cẩn thận nghĩ lại đi!” Mã Vinh khàn giọng nói. “Chúng ta có đủ cách thức và phương tiện để moi được sự thật từ miệng ngươi!”

“Quỷ tha ma bắt ngươi đi!” Họ Ngô gào lên.

Trở lại công đường, Mã Vinh và Kiều Thái ngồi xuống án thư lớn đặt sát bức tường chắn. Chánh Lục sự ngồi đối diện với họ, gần ngọn nến. Hai bằng hữu rầu rĩ quan sát y trong lúc y lấy từ ngăn kéo ra vài tờ giấy trắng và thấm ướt cây bút để ghi chép lại cuộc thẩm vấn. Sau một hồi yên lặng, Mã Vinh nói:

“Phải, đệ đồng ý với huynh rằng có lẽ họ Ngô đã không đổi hai thanh gươm. Dù vậy, tên khốn đó đã gây ra một tội khác. Hắn đã khiến vụ án rối tung lên!”

Kiều Thái gật đầu, chẳng vui vẻ gì cho cam. “Lao Tùng Phủ là một tên lừa đảo, cũng là một kẻ phóng đãng núp dưới cái vẻ ngoài đứng đắn. Đầu tiên là dan díu với một nữ nhân ở Ngưu Dị, bây giờ gã lại có ý đồ với Bào tiểu thư. Về tác phong, ả chẳng phải một ni cô; nhưng về dung mạo, trông ả cũng xinh xắn. Một khi đã định cưới ả về làm thiếp, họ Lao chẳng có lý do gì để sát hại nhi tử của Bào Thập Lang, nhưng dù thế nào thì chúng ta cũng sẽ giam gã vào đại lao. Khi Địch đại nhân trở về, ngài ấy sẽ muốn tái thẩm họ Ngô.”

“Tại sao không để cho Bộ đầu đưa cả ba người Bào gia cùng với lão già đánh trống đến đây đêm nay? Thế là đại nhân sẽ có sẵn tất cả chi tiết liên quan đến vụ án trước mặt mình. Trong phiên thăng đường sáng mai, ngài ấy sẽ có thể bắt đầu thẩm án ngay lập tức!”

“Được lắm, Mã đệ à.”

Khi Mã Vinh quay trở lại, Chánh Lục sự đã hoàn thành các ghi chép của mình. Sau khi y đọc to lên cho Mã Vinh và Kiều Thái duyệt, Kiều Thái nói, “Ông múa bút khéo lắm, thôi thì ông viết luôn cả báo cáo hộ chúng ta đi nhé!”

Chánh Lục sự nhẫn nhịn lấy ra một xấp giấy mới. Mã Vinh dựa lưng vào ghế, đẩy mũ ra khỏi trán. Y kể lại câu chuyện, bắt đầu từ khi họ chứng kiến vụ án mạng từ cửa sổ của Thúy Điêu tửu quán. Sau đó, Kiều Thái đọc bản trình báo của mình về vụ bắt giữ Ngô Đại Trùng. Đây là một công việc khó khăn, vì họ biết rằng Địch Công không thích các báo cáo dài dòng, nhưng ông vẫn đòi hỏi phải có đầy đủ chi tiết. Cuối cùng, sau khi hoàn thành công việc, mặt họ cũng đã ướt đẫm mồ hôi.

Khi Địch Công trở lại huyện Phổ Dương, thời gian cũng đã gần nửa đêm. Ông bước vào công đường, vẫn khoác tấm áo choàng lữ hành màu nâu, trông có vẻ mệt mỏi và lo lắng. Khi ba nam nhân vội vã bật dậy, quan án gay gắt hỏi:

“Đã xảy ra chuyện gì? Khi ta vừa bước xuống kiệu, Bộ đầu lập tức bẩm báo rằng các ngươi đã giam hai nghi phạm sát nhân vào đại lao, và triệu tập bốn nhân chứng!”

“À, thưa đại nhân,” Mã Vinh dè dặt cất lời, “đó là một vụ án mạng khá ly kỳ, một tiểu hài tử bị sát hại. Kiều huynh và thuộc hạ đã điều tra đôi chút; tất cả đều được ghi chép cụ thể và tỉ mỉ ở đây. Bắt đầu là...”

“Hãy đến thư phòng của ta!” Địch Công cộc lốc cắt ngang. “Đem giấy tờ theo.”

Ông ra lệnh cho Chánh Lục sự mang một ấm trà lớn nóng hổi đến thư phòng rồi bước đi, theo sau là hai phụ tá. Ngồi xuống chiếc ghế bành lớn đặt sau án thư, Địch Công nói, “Công vụ ở huyện Ngưu Dị đã được giải quyết ổn thỏa. Vị đồng liêu họ Bàng của ta rất có năng lực, làm việc với ngài ấy khá dễ chịu. Hồng Sư gia và Đào Cam ở lại đó thêm một ngày để tra xét vài chi tiết.”

Ông nhấp một ngụm trà nóng, rồi ngả người ra sau ghế và bắt đầu xem tập giấy tờ.

Mã Vinh và Kiều Thái ngồi thẳng đơ trên chiếc ghế đẩu phía trước án thư. Cổ họng khô rang, nhưng bọn họ không nhận ra điều đó. Mã - Kiều lo lắng quan sát khuôn mặt của Địch Công để dò xét phản ứng của ông.

Thoạt đầu, Địch Công nhíu chặt hai hàng lông mày. Tuy nhiên, càng đọc gương mặt ông càng dãn dần ra. Đến trang cuối cùng, Địch Công đọc lại một số đoạn, và yêu cầu Mã - Kiều thuật lại một số đoạn đối thoại đúng nguyên văn từng chữ một. Sau đó, ông ném tập giấy tờ lên án thư. Ngồi thẳng lưng lên, chậm rãi nở một nụ cười, ông nói:

“Cổ nhân có câu, kẻ sĩ cách biệt ba ngày, khi gặp lại phải nhìn nhau bằng con mắt khác. Ta mới đi có ba ngày, các ngươi không chỉ xử lý rất tốt các công vụ thường nhật, mà còn điều tra cẩn thận vụ kỳ án này, hành động mau lẹ, khám phá ra các manh mối quan trọng, không hổ là trợ thủ của ta. Về sau, ta có thể yên tâm để các ngươi hành động độc lập rồi. Hai vụ bắt giữ này hoàn toàn hợp lý.”

Hai phụ tá của Địch Công cười toe toét. Mà Vinh cầm lấy ấm trà và nhanh chóng châm đầy chén cho Kiều Thái và mình.

“Bây giờ,” Địch Công nói tiếp, “chúng ta hãy xét lại vụ án. Trước tiên, chúng ta thực sự chưa có đủ chứng cứ để chứng minh đây là một vụ giết người. Bào Thập Lang đã rất vội vàng, vì sau khi diễn trò nhào lộn, họ phải chạy về chùa Hộ Quốc để chuẩn bị diễn kịch; mà trời lại sắp tối. Nên rất có thể họ Bào đã cầm nhầm thanh gươm. Chính y đã kêu oan, nhưng có lẽ là do sợ bị khép vào tội ngộ sát, các diễn viên giang hồ vốn sợ chết khiếp quan quân triều đình.” Địch Công dừng lại và vuốt bộ râu dài. “Mặt khác, những dữ kiện mà các ngươi tìm hiểu được từ những người có liên quan đến sự cố này cho thấy có nhiều lý do khác nhau khiến họ có thể đã cố tình tráo đổi hai thanh gươm. Kể cả họ Bào.”

“Tại sao Bào Thập Lang muốn giết nhi tử của mình?” Mã Vinh thốt lên.

“Để trả thù người vợ lẳng lơ của mình và gã tình nhân của thị, thương nhân buôn gạo họ Lao.” Giơ tay lên ra dấu yêu cầu các thuộc hạ đang sửng sốt hãy im lặng, Địch Công tiếp tục, “Hai ngươi không nghi ngờ hài tử được sinh ra từ tổ uyên ương ở Ngưu Dị là đứa con ngoài giá thú của Vương thị à? Lao Tùng Phủ hứng thú với sân khấu, kịch nghệ; ta cho rằng gã gặp Vương thị khi gánh hát đang biểu diễn ở Ngưu Dị. Khi nhi tử của họ ra đời, đôi gian phu dâm phụ đã giao nó cho một bà lão ở Ngưu Dị nuôi dưỡng. Tám năm sau, Vương thị quyết định nhận lại đứa trẻ, điều đó nghĩa là thị phải thú nhận sự không chung thủy của mình với phu quân. Bào thị khẳng định phụ thân mình đón nhận chuyện ấy rất bình tĩnh, nhưng sự thờ ơ của Bào Thập Lang có thể chỉ là giả tạo. Hôm nay, khi họ Bào thấy Lao Tùng Phủ đang đứng gần giá gươm, y nhận ra đây là cơ hội tuyệt vời để trả thù người vợ bội bạc của mình, loại bỏ được đứa con bất hợp pháp và lôi kéo họ Lao vào một vụ án mạng. Bởi y lường trước chúng ta cũng có thể nghi ngờ họ Lao là hung thủ.”

Thêm một lần nữa, Mã Vinh và Kiều Thái muốn lên tiếng, nhưng Địch Công lại ra hiệu cho họ im lặng và nói tiếp:

“Lao Tùng Phủ cũng có cơ hội, kiến thức đặc biệt của gã về các đạo cụ sân khấu đã được tận dụng, và không chỉ có một động cơ. Tống tiền là động cơ đầu tiên mà bản quan nghĩ đến. Khi gánh hát của Bào gia đến huyện Phổ Dương, Lao Tùng Phủ đã đề nghị trợ giúp, có lẽ hy vọng ôn lại mộng xưa với Vương thị. Thế nhưng, phu phụ Bào gia đã cố gắng tống tiền gã ta. Tiểu hài tử đó chính là bằng chứng sống cho các hành vi phóng đãng, cẩu thả của họ Lao tại Ngưu Dị. Bằng cách tráo đổi thanh gươm, họ Lao sẽ hủy hoại bằng chứng đó, và gã có thể bắt họ Bào phải im miệng bằng cách đe dọa sẽ tố cáo rằng y đã sát hại đứa con ngoài giá thú của vợ mình vì ghen tuông.

Và còn Vương thị nữa. Nhi nữ của thị đã kể cho Mã Vinh nghe rằng mẫu thân của mình thực tế là một kỹ nữ, mà những cảm xúc của kỹ nữ thường rất khó đánh giá. Khi Vương thị nhận ra rằng Lao Tùng Phủ, tình nhân cũ, giờ đã chuyển tình cảm yêu mến sang nhi nữ của mình, thị có thể trả thù gã bằng cách sát hại nhi tử của họ Lao. Tuy nhiên, chúng ta không nên quá coi trọng lời khai của Bào thị, bởi vì ả cũng hành xử thật hoang đường. Ả không ngần ngại gọi mẫu thân mình là một kỹ nữ và phụ thân là một kẻ ngốc, nhưng chính mình thì vừa đồng ý làm thiếp của Lao Tùng Phủ, lại vừa không kiêng dè chút nào đi dan díu với một kẻ lang thang. Chỉ không rõ Bào thị có biết họ Lao từng là tình nhân của mẫu thân mình hay không.”

Mã Vinh nói, “Thuộc hạ thấy Bào tiểu thư buồn bã vô cùng, hẳn là khi lưu lạc giang hồ đã tao ngộ rất nhiều bất hạnh, nàng có ý muốn rời khỏi gánh hát như vậy, chắc chắn phải có nỗi khổ không thể nói rõ trong lòng.”

Địch Công suy tư nhìn hai phụ tá của mình, đoạn nói, “Ta chỉ đang xem xét mọi khả năng. Chẳng ích lợi gì khi điều tra sâu xa hơn trước lúc hiểu rõ các mối quan hệ tình cảm của những kẻ có liên quan.”

Địch Công cầm giấy tờ lên một lần nữa, lật nhanh và đọc lướt qua chúng, thỉnh thoảng dừng lại nghiên cứu một đoạn nào đó. Đặt chúng xuống, ông trầm ngâm nói, “Phải nhớ rằng những nữ tử giang hồ này sống ở hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Trên sân khấu, họ là công chúa giai lệ, kim chi ngọc diệp, thoắt lại biến thành tiên nữ Dao đài, Lạc thần Mật Phi, thoắt lại thành hồng phấn anh hùng, cân quắc nữ hiệp. Rời khỏi ánh đèn sân khấu, họ chỉ là phận bèo trôi dạt, vận mệnh bấp bênh, chịu đủ ức hiếp, sinh hoạt khổ sở. Một cuộc sống hai mặt như thế có thể bóp méo tính cách của con người, hình thành những tư tưởng kỳ dị, cử chỉ hành vi không hợp lễ pháp.”

Địch Công chìm sâu vào thinh lặng, ông hớp một ngụm trà, đoạn lại ngồi xuống miên man suy nghĩ trong hồi lâu, chậm rãi vuốt hàng tóc mai dài của mình.

“Đại nhân có cho rằng Ngô Đại Trùng vô tội không?” Kiều Thái hỏi.

“Không. Ít nhất là tại thời điểm này. Đúng là Ngô Đại Trùng đã gây một ấn tượng tốt với cả hai ngươi, và ta biết đánh giá của hai ngươi về hắn có thể hoàn toàn chính xác. Tuy nhiên, những kẻ côn đồ sống lang thang rày đây mai đó đôi khi có những tính cách rất kỳ lạ. Ngô Đại Trùng đã ra sức nhấn mạnh rằng do lỗi của Bào thị mà cuộc giao hoan của họ đã không thành công, và hắn đề cập đến nguyên nhân của sự gián đoạn là do tiểu hài tử kia gây ra. Nhưng câu chuyện rất có thể hoàn toàn trái ngược, cụ thể chính là do bản thân họ Ngô đã bất lực. Có thể hắn lo sợ khả năng tình dục của mình đã bị hủy hoại vĩnh viễn, và nỗi ám ảnh đó thôi thúc lòng hận thù bạo lực với hài tử ấy. Ta nghĩ thật là kỳ lạ khi họ Ngô lại kể lể dông dài như vậy về thói trăng hoa của mình với hai quan viên đang hỏi cung hắn trong đại lao. Điều đó khiến bản quan không khỏi nghi ngờ rằng hắn bị ám ảnh về vấn đề ấy ở một mức độ nào đó nên phải chăm chăm nói về nó. Và do họ Ngô đã có lần nói chuyện với lão già đánh trống, hắn cũng có cơ hội để tìm hiểu về hai thanh gươm ấy. Nhưng mặt khác, có thể họ Ngô nói nhiều về đời sống ái tình của mình chẳng qua chỉ là muốn khoe khoang mà thôi.” Địch Công đứng dậy và mạnh mẽ nói tiếp, “Bây giờ ta sẽ triệu kiến những kẻ có liên quan đến vụ án này. Thư phòng này quá nhỏ bé. Hãy bảo Bộ đầu đưa tất cả bọn họ đến nha sảnh. Và kêu Chánh Lục sự gọi thêm hai Lục sự đến, để quy trình tra án có thể được tiến hành phù hợp. Trong khi hai ngươi lo liệu mọi sự, ta sẽ đi tắm qua.”

---❊ ❖ ❊---

Nha sảnh rộng rãi, đèn đuốc sáng choang. Trên án thư giữa phòng đặt hai giá nến lớn bằng bạc, ống bút, nghiên mực cùng kinh đường mộc. Phu thê Bào Thập Lang, Bào tiểu thư và lão già đánh trống đang ngồi ở hàng ghế phía trước án thư. Ngô Đại Trùng đứng bên trái giữa hai Bộ khoái, còn Lao Tùng Phủ đứng ở phía đối diện, cũng bị kẹp giữa hai Bộ khoái khác. Chánh Lục sự và hai phụ tá ngồi tại một chiếc bàn nhỏ hơn. Các diễn viên và phạm nhân cố tình phớt lờ nhau; tất cả đều nhìn thẳng về phía trước. Một không gian yên tĩnh đầy chết chóc bao trùm cả gian sảnh.

Đột nhiên, cánh cửa đôi được Bộ đầu mở tung ra. Địch Công tiến vào, theo sau là Mã Vinh và Kiều Thái. Ông đội mũ ô sa, đeo đai ngọc chỉnh tề, quan bào xanh lục nhạt thêu kim tuyến. Tất cả mọi người đều cúi thấp đầu khi ông đến bên án thư và ngồi xuống chiếc ghế bành lớn bằng gỗ mun chạm trổ. Hai trợ thủ đứng ở hai bên Địch Công. Không khí trong nha sảnh vô cùng trang nghiêm, yên lặng như tờ.

Thoạt đầu, Địch Công quan sát hai phạm nhân, họ Ngô trông có vẻ cáu kỉnh còn họ Lao thì đạo mạo, kiểu cách. Ông nghĩ các trợ thủ của mình đã miêu tả rất chính xác về hai nam nhân này. Sau đó, Địch Công lặng lẽ quan sát ba diễn viên. Nhận thấy họ có vẻ nhợt nhạt và mệt mỏi, ông nghĩ về một ngày dài nặng nề mà họ vừa trải qua, Địch Công cảm thấy hơi áy náy khi phải đánh tâm lý chiến với họ, như ông đang trù tính. Quan án thở dài, sau đó hắng giọng và bình thản nói:

“Trước khi ta đặt câu hỏi thẩm vấn với hai phạm nhân, đầu tiên bản quan muốn được biết chính xác mối quan hệ gia đình giữa những người ở đây với hài tử quá cố.” Dán chặt ánh mắt vào Vương thị, Địch Công tiếp tục:

“Vương thị, bản quan được biết rằng hài tử đó là đứa con ngoài giá thú của ngươi. Đúng vậy chứ?”

“Vâng, thưa đại nhân,” thị trả lời với một giọng nói đầy mệt mỏi.

“Tại sao ngươi không đem hài tử về nhà nuôi mà lại đợi cho đến tận khi nó được tám tuổi?”

“Bởi vì dân nữ ngại ngần phải kể với phu quân của mình, và do phụ thân của đứa bé đã hứa sẽ chăm sóc nó. Từng có thời điểm, dân nữ nghĩ rằng mình đã yêu nam nhân đó; vì gã mà dân nữ đã bỏ rơi phu quân mình trong hơn một năm. Gã nói rằng phu nhân của mình đang mắc bệnh nan y, và sau khi mụ chết thì gã sẽ tục huyền với dân nữ. Nhưng sau khi phát hiện ra gã thực ra chỉ là một tên ngụy quân tử phẩm hạnh bất chính, dân nữ đã đoạn tuyệt với gã. Dân nữ không gặp lại gã, cho đến cách đây nửa năm, dân nữ lại tình cờ chạm mặt gã khi Bào gia đang biểu diễn ở kinh thành. Gã muốn nối lại tình xưa nghĩa cũ với dân nữ. Khi dân nữ khước từ thì gã nói nếu vậy, gã không còn lý do gì để phải chi trả ngân lượng nuôi hài tử kia nữa. Sau đó, dân nữ đã kể lại ngọn nguồn mọi chuyện cho phu quân nghe, cầu xin chàng khoan dung mà thu nhận hài tử kia.” Thị nhìn người diễn viên bên cạnh mình đầy trìu mến và tiếp tục, “Bào lang tâm địa thiện lương, chàng không hề quở trách dân nữ. Chàng nói rằng hài tử là những gì mình cần để hoàn thiện gánh hát này, và chàng sẽ đào tạo nó trở thành một nghệ nhân nhào lộn giỏi. Bào lang quả thật đã làm thế! Thiên hạ coi thường nghề nghiệp này, thưa đại nhân, nhưng phu quân và dân nữ lại rất tự hào. Phu quân vô cùng yêu thương nhi tử, coi nó như con thân sinh vậy, chàng...”

Thị cắn đôi môi co giật của mình. Sau giây lát im lặng, Địch Công hỏi, “Ngươi có kể cho phu quân của mình biết gã tình lang đó là ai không?”

“Không, thưa đại nhân. Nam nhân ấy đối xử với dân nữ rất đê tiện, nhưng dân nữ thấy không cần phải hủy hoại danh tiếng của gã. Ngay cả bây giờ cũng không. Và Bào lang cũng chưa bao giờ tra hỏi dân nữ cả.”

“Ta hiểu,” Địch Công nói. Lời cung khai thẳng thắn của Vương thị đã xác nhận một sự thật. Bây giờ ông đã biết ai là kẻ đã sát hại tiểu hài tử kia. Và cũng biết cả động cơ, đó là giết người diệt khẩu, đúng như Mã Vinh đã suy đoán rất chính xác ngay từ đầu. Nhưng sau đó trợ thủ của ông đã thất bại khi áp dụng giả thuyết này vào các manh mối được đưa ra ánh sáng. Giật mạnh hàng ria mép, Địch Công phiền muộn ngẫm rằng mặc dù bây giờ ông đã biết kẻ nào tráo đổi hai thanh gươm, nhưng lại chẳng có bằng chứng. Nếu không nhanh chóng hành động thì ông sẽ không bao giờ có thể chứng minh được ai là kẻ sát nhân. Ông phải khiến cho hung thủ thú nhận tại đây, ngay bây giờ, trước khi kẻ đó có thời gian để hiểu ra đầy đủ hàm ý trong lời cung khai của Vương thị. Địch Công cộc lốc nói với Bộ đầu:

“Đưa bị cáo họ Lao ra trước công đường, diện kiến bản quan!”

Khi thương nhân buôn gạo đứng trước án thư, Địch Công gay gắt nói với gã:

“Lao Tùng Phủ, ở huyện Phổ Dương này, ngươi đã cẩn thận xây dựng danh tiếng của một thương nhân buôn gạo trung thực, đạo mạo, một chính nhân quân tử, nhưng ta biết tất cả hành tung của ngươi tại huyện Ngưu Dị. Ngươi đã cố gắng đánh lừa phường buôn gạo, và ngươi có một tình nhân bí mật ở đó. Ngô Đại Trùng đã cung cấp thêm các chi tiết. Ta khuyên ngươi nên thành thật trả lời các câu hỏi ta, không được hàm hồ, quanh co. Ngươi có thừa nhận mình chính là kẻ từng có gian tình với Vương thị tám năm về trước không?”

“Tiểu nhân thừa nhận,” Lao Tùng Phủ trả lời với giọng nói run rẩy, hoang mang. “Kẻ hèn này cầu xin đại nhân...”

Có một tiếng kêu uất nghẹn vang lên. Bào tiểu thư chồm dậy khỏi ghế của mình. Siết chặt hai tay, ả nhìn chằm chằm vào họ Lao, mắt hạnh trợn tròn. Gã lùi lại, lẩm bẩm gì đó. Đột nhiên ả lao vọt tới trước mặt họ Lao, giáng cho gã một cái tát:

“Ta đã ước định chung thân với ngươi, nhưng hóa ra ngươi lại là kẻ mặt người dạ thú như vậy! Năm đó lừa mẫu thân ta, giờ lại muốn vấy bẩn ta ư? Chỉ hận ta có mắt không tròng nên mới bị ngươi lừa gạt! Ta sợ tiểu đệ sẽ nói ra chuyện của ta với Ngô Đại Trùng, nên mới lén tráo đổi hai thanh gươm, giết người diệt khẩu, toàn tâm toàn ý mong chờ ngày được về làm thiếp của ngươi! Trời ơi! Ta còn sống làm gì? Ta đã tin lầm kẻ súc sinh, phạm vào tội nghiệt thương thiên hại lý...”

Ả như phát điên, tấn công gã nam nhân đang co rúm, đôi tay giơ lên như móng vuốt, vừa khóc vừa mắng. Hai Bộ khoái vội vàng bước đến phía trước và tóm lấy hai cánh tay của ả. Khi Địch Công ra hiệu, họ giải ả đi, Bào tiểu thư vừa giãy giụa vừa kêu khóc, thê thảm đến xé lòng.

Phu thê họ Bào nhìn theo nhi nữ, ánh mắt họ ngỡ ngàng không dám tin đó là sự thật. Rồi Vương thị òa lên khóc nức nở.

Địch Công đập kinh đường mộc lên bàn. “Ngày mai, ta sẽ nghe lời thú tội của Bào thị tại công đường. Còn đối với ngươi, Lao Tùng Phủ, bản quan sẽ tiến hành một cuộc điều tra kĩ lưỡng, thấu đáo nhắm vào tất cả những thương vụ của ngươi, và ta đảm bảo rằng ngươi sẽ phải lãnh một bản án tù rất dài. Ta căm ghét những kẻ như ngươi và Ngô Đại Trùng, các ngươi mặc dù không phải là thủ phạm của vụ án này, nhưng hành vi cẩu thả, đồi phong bại tục, lễ pháp khó dung. Ta phán họ Ngô phải sung vào Bắc Trân quân một năm lao dịch khổ sai, nhằm sửa chữa tính nết, cải tà quy chính. Sau đó, ngươi cũng có thể xin tòng quân, trở thành một binh sĩ chính thức, phụng sự triều đình.”

Quay về phía Bộ đầu, Địch Công nói thêm:

“Hãy áp giải hai phạm nhân trở lại đại lao.”

Trong một lúc, Địch Công lặng lẽ ngó nhìn phu thê Bào gia. Nữ nhân đã ngừng khóc, ngồi thừ ra đó, đôi mắt thất thần u uất. Bào Thập Lang lo lắng ngó nhìn vợ của mình, những nếp nhăn trên gương mặt đầy biểu cảm của y càng hằn sâu. Địch Công ôn hòa nói với họ:

“Nhi nữ của các ngươi không thể đối chọi với cuộc đời cay nghiệt mà số phận áp đặt cho mình, nhân phẩm của ả đã bị hủy hoại hoàn toàn. Ta phải đưa ra án tử cho ả. Điều đó có nghĩa là phu thê các ngươi bị mất cả nhi tử và nhi nữ của mình chỉ trong cùng một ngày. Nhưng thời gian sẽ chữa lành vết thương ác nghiệt này. Cả hai ngươi vẫn còn tráng niên, các ngươi yêu nhau và yêu nghề, đó sẽ là nguồn an ủi cho hai ngươi. Dù tương lai phía trước tưởng chừng chỉ là một màn đêm tăm tối, nhưng hãy nhớ rằng sau những đám mây đen sẽ là ánh bình minh rực sáng.”

Họ đứng dậy, cúi đầu thi lễ, từ biệt và rời đi.

« Lùi
Tiến »