Địch Công xông thẳng Soái đường
Giải dân oan án, diệt phường ác gian
Thương cho số kiếp hồng nhan
Trong cơn lửa loạn, Địch can hành hình
Ai gây nên án tày đình
Dậy cơn binh biến, dân tình lầm than
Sơn hà đương lúc nguy nan
Ô sa cũng mặc, báo ngàn thánh ân
Tướng quân gặp lúc phân vân
Hùng tài đại trí Địch cân cơ đồ
Tam quân thoát lúc mơ hồ
Muôn binh vạn mã diệt đồ ngoại xâm...
-Tùng Vũ-
---❊ ❖ ❊---
Các sự kiện được miêu tả trong câu chuyện này xảy ra vào lúc Địch Công đang giữ chức Huyện lệnh lần thứ tư, cụ thể là ở Lan Phường, một huyện lị biệt lập nằm ở biên giới phía Tây của vương triều Đại Đường hưng thịnh. Tại đây, ông đã gặp rắc rối lớn khi bắt đầu thực thi các nhiệm vụ của mình, như đã được mô tả ở tập “Mê cung án” trong cùng bộ tiểu thuyết “Địch Công kỳ án”. Câu chuyện dưới đây kể về cuộc khủng hoảng nghiêm trọng đe dọa đến vận mệnh vương triều hai năm sau đó, vào mùa đông năm 672 sau Công nguyên, và làm thế nào mà Địch Công đã hóa giải thành công hai vấn đề hóc búa chỉ trong cùng một đêm, một tác động đến vận mệnh quốc gia, một tác động đến số phận của hai thường dân thấp hèn.
Ngay khi Địch Công bước vào thực phòng trên tầng thượng của tửu điếm, ông đã biết yến tiệc này rồi sẽ là một sự kiện ảm đạm. Ánh sáng từ hai giá nến lớn bằng bạc soi rọi lên những món đồ cổ nội thất đẹp đẽ, ấy vậy mà gian phòng trống trải chỉ được sưởi ấm bằng một lò than nhỏ bé, với hai ba hòn than đang dần cháy lụi trong đám tro tàn. Những bức màn lót lụa thêu không thể ngăn cản được làn gió lạnh lẽo lùa vào gian phòng, gợi nhớ đến vùng đồng bằng tuyết phủ trải dài hàng nghìn dặm ngoài biên giới phía Tây của vương triều Đại Đường.
Tại chiếc bàn tròn chỉ có một nam nhân cao niên gầy gò đang ngồi, đó là Huyện lệnh của Đại Thạch Khẩu, vùng huyện lị giáp ranh biên giới xa xôi hẻo lánh này. Hai nữ nhân đang đứng đằng sau ghế của ông ta bơ phờ ngó nhìn một nam nhân cao lớn, râu dài vừa đến.
Khuông Huyện lệnh vội đứng dậy và bước tới nghênh tiếp Địch Công.
“Khuông mỗ hết sức xin lỗi vì sự chuẩn bị nghèo nàn này!,” ông ta lên tiếng với một nụ cười ảm đạm. “Ta cũng đã mời hai vị Hiệu úy cùng hai vị phường chủ tới đây. Nhưng các vị Hiệu úy lại bị triệu tập đột xuất đến đại bản doanh của Chu Đô đốc, còn mấy vị phường chủ thì bị Chủ sự Võ khố gọi đi. Sự khẩn cấp này...” Khuông Huyện lệnh giơ tay lên với dáng vẻ lực bất tòng tâm.
“Vậy là đêm nay chỉ Địch mỗ có vinh hạnh được đối ẩm với ngài!” Địch Công lịch sự lên tiếng.
Gia chủ đưa Địch Công đến bên bàn và giới thiệu thiếu nữ đứng bên trái mình là Tường Vi, thiếu nữ kia là Mạt Lỵ. Cả hai đều phục sức lòe loẹt và vận mấy bộ xiêm y lộng lẫy rẻ tiền. Họ chỉ là hai kỹ nữ tầm thường, không phải là những cô nương phong lưu tao nhã mà người ta thường trông đợi ở một bữa dạ yến. Tuy nhiên, Địch Công biết rằng hiện giờ mọi kỹ nữ thượng hạng ở Đại Thạch Khẩu này đều được dành riêng cho các tướng quân ở đại bản doanh của Chu Đô đốc. Khi Mạt Lỵ đã rót đầy chén rượu của Địch Công, Khuông Huyện lệnh cũng nâng chén của mình lên và nói:
“Địch Huyện lệnh đêm nay là khách quý của Khuông mỗ. Hãy nâng chén mừng chiến thắng của đại quân chúng ta!”
“Chúc mừng thắng lợi!” Địch Công cất lời rồi uống cạn một hơi.
Từ con phố bên dưới vọng lên tiếng động ầm ầm của những bánh xe ngựa bọc sắt đang chạy trên mặt đất đóng băng.
“Đó sẽ là những đoàn quân cuối cùng xông pha ra tiền tuyến cho cuộc phản công của chúng ta,” Địch Công nói với vẻ mãn nguyện.
Khuông Huyện lệnh chăm chú lắng nghe. Ông ta buồn bã lắc đầu, “Không phải đâu,” ông ta xẵng giọng nói, “họ tiến quân quá chậm chạp. Đại quân đang từ chiến trường trở về.”
Địch Công đứng lên, kéo bức màn sang một bên rồi mở cửa sổ, bất chấp cơn gió lạnh lẽo ùa vào. Dưới ánh trăng sáng lạ lùng, ông ngó xuống bên dưới thấy một hàng dài những chiếc xe được lũ ngựa ốm yếu, tiều tụy kéo đi. Chúng đang chở đầy thương binh và những thân hình gầy ốm phủ vải bạt. Địch Công mau chóng đóng cửa sổ lại.
“Chúng ta dùng bữa thôi!” Khuông Huyện lệnh lên tiếng, dùng đũa trỏ vào bát đĩa bằng bạc đặt trên bàn. Mỗi chiếc chỉ đựng chút dưa muối, vài lát thịt sấy khô cùng với một ít đậu chín.
“Bữa ăn của phu xe trong bát vàng đĩa bạc, hoàn cảnh bây giờ là thế đấy!” Khuông Huyện lệnh nói vẻ chua chát. “Trước khi chiến tranh xảy ra, huyện ta vô cùng trù phú. Nay thì tất cả lương thực đang cạn kiệt dần. Nếu mọi sự không sớm thay đổi thì chúng ta sẽ phải đối mặt với nạn đói.”
Địch Công vốn muốn an ủi Khuông Huyện lệnh, thế nhưng ông vội vàng lấy tay che miệng mình. Một cơn ho kịch liệt khiến thân hình mạnh mẽ của Địch Công cũng phải run rẩy. Vị đồng liêu nhìn ông với vẻ lo lắng và hỏi thăm, “Bệnh lao phổi cũng đã lan đến huyện của ngài rồi sao?”
Địch Công đợi cho đến khi cơn ho đã qua, đoạn ông vội uống cạn chén rượu rồi khàn giọng đáp lời, “Chỉ vài ca đơn lẻ thôi, vả lại chưa có trường hợp nào quá nặng. Ở dạng nhẹ, giống như ta thôi.”
“Vận khí của ngài còn tốt đó,” Khuông Huyện lệnh nói với vẻ vô tâm. “Ở nơi này, phần lớn những người mắc bệnh trong vòng một hai ngày đều bắt đầu ho ra máu. Họ đang chết như ngả rạ. Ta hy vọng là phòng của ngài sẽ thoải mái và ấm cúng,” ông ta băn khoăn nói thêm.
“Ồ, đúng rồi, ta đã thuê một gian phòng tốt trong một khách điếm rộng rãi,” Địch Công đáp lời. Thực tế là ông phải chia sẻ một căn gác mái gió lùa với ba quan viên khác, nhưng Địch Công không muốn khiến gia chủ thêm lo lắng muộn phiền nữa. Khuông Huyện lệnh không thể mời Địch Công lưu trú tại công quán vì nó đã bị quân đội trưng dụng, còn Huyện lệnh bị cưỡng bách dọn đi cùng toàn bộ gia quyến đến ở tại một gian nhà nhỏ xiêu vẹo, đổ nát. Đây quả là một hoàn cảnh kỳ lạ! Trong thời bình, một Huyện lệnh hầu như thâu tóm mọi quyền hành, là người có quyền lực cai trị cao nhất ở huyện của mình. Thế nhưng giờ đây, quân đội đã tiếp quản.
“Sáng mai, ta sẽ trở lại Lan Phường,” Địch Công nói tiếp. “Có nhiều việc cần giải quyết lắm, ở huyện ta cũng đang khan hiếm lương thực.”
Khuông Huyện lệnh rầu rĩ gật gật đầu, đoạn ông hỏi thăm:
“Tại sao Chu Đô đốc lại triệu tập ngài đến? Từ Lan Phường đến đây là một hành trình dài đến hai ngày, đường sá thì tệ hại nữa chứ.”
“Hãn quốc Đột Quyết dựng lều ở bờ bên kia con sông giáp với huyện ta,” Địch Công đáp lời. “Chu Đô đốc muốn biết liệu họ có khả năng gia nhập quân Thát Đát hay không. Ta đã báo với ngài ấy rằng...” Ông chợt im bặt và nhìn hai kỹ nữ kia với vẻ nghi ngờ. Gián điệp Thát Đát trà trộn khắp nơi.
“Bọn họ ổn cả,” Khuông Huyện lệnh vội lên tiếng.
“À, ta đã bẩm báo với Chu Đô đốc rằng Đột Quyết chỉ có thể đưa hai ngàn binh ra trận, và Khả hãn của họ đã tham gia vào một chuyến săn bắn dài ngày tới Trung Á, ngay trước khi các sứ giả Thát Đát đến doanh trại của hắn để đề nghị liên quân. Khả hãn Đột Quyết là một kẻ khôn ngoan. Chúng ta đang giữ nhi tử mà hắn sủng ái nhất làm con tin ở kinh thành.”
“Hai ngàn quân dù thế nào cũng chẳng tạo nên sự khác biệt gì, cũng không thể thay đổi được cục diện nơi sa trường.” Khuông Huyện lệnh nhận định. “Bọn Thát Đát có tận ba mươi vạn binh sĩ đang án ngữ tại biên giới Đại Đường, trong tư thế sẵn sàng tiến công. Tiền quân chúng ta đang vỡ vụn chỉ qua các cuộc tấn công thăm dò của chúng, còn Chu Đô đốc thì vẫn cứ khư khư giữ hai mươi vạn quân nhàn rỗi của mình ở nơi này, thay vì khởi sự một cuộc phản công như đã hứa hẹn.”
Hai nam nhân lặng lẽ ăn một hồi, còn các kỹ nữ thì liên tục châm rượu. Lúc họ đã dùng hết đậu và dưa muối, Khuông Huyện lệnh ngước lên nhìn, nôn nóng hỏi Tường Vi, “Cơm đâu rồi?”
“Bẩm đại nhân, tiểu nhị nói là họ không có cơm ạ,” Tường Vi đáp.
“Vớ vẩn!” Khuông Huyện lệnh giận dữ la lên. Ông đứng dậy và nói với Địch Công:
“Xin miễn thứ cho ta một lát. Ta sẽ đích thân xử lý việc này!”
Khi Khuông Huyện lệnh đã theo Tường Vi xuống lầu, nữ nhân còn lại nhẹ giọng thưa chuyện với Địch Công, “Thưa đại nhân, ngài có thể ban cho tiện thiếp một đặc ân được không?”
Địch Công ngước lên nhìn nàng. Đó là một nữ nhân, tuổi chừng đôi mươi, cũng có chút nhan sắc. Nhưng lớp son phấn dày cộp trên mặt không thể che phủ được nước da vàng vọt cùng hai gò má hõm sâu của nàng ta. Đôi mắt nàng ta mở to bất thường, có vẻ hừng hực như phát sốt.
“Có việc gì thế?,” ông thắc mắc.
“Bẩm đại nhân, tiện thiếp cảm thấy trong người không khỏe. Nếu ngài có thể rời đi sớm một chút và đưa tiện thiếp theo cùng, tiện thiếp rất hân hạnh được tiếp đãi ngài, chỉ xin một lát nghỉ ngơi lấy sức.”
Ông nhận ra đôi chân nữ nhân đang run lên vì mệt nhọc. “Ta rất sẵn lòng,” ông đáp lời. “Nhưng sau khi đưa nàng về tư gia, bản quan sẽ về khách điếm mình trọ.” Ông nói thêm với một nụ cười mờ nhạt, “Nàng cũng thấy rồi đó, chính ta cũng không được khỏe.”
Nữ nhân trao cho Địch Công một cái nhìn đầy cảm kích.
Lúc Khuông Huyện lệnh cùng Tường Vi quay trở lại, ông ta nói với vẻ hối lỗi, “Địch Huyện lệnh à, ta vô cùng tạ lỗi, nhưng đúng là thế. Đã hết sạch gạo rồi.”
“Không sao,” Địch Công cất lời, “ta rất vui trước cuộc hội ngộ của chúng ta. Mạt Lỵ cô nương đây là một nữ nhân khá quyến rũ. Nhưng nếu lúc này, ta xin cáo từ thì ngài có cho là ta quá khiếm nhã hay không?”
Khuông Huyện lệnh phản đối rằng tàn tiệc như vậy là quá sớm, nhưng rõ ràng ông ta cũng nghĩ đó là cách xử trí ổn thỏa nhất. Ông ta cung tiễn Địch Công xuống lầu rồi cáo biệt ở sảnh đường. Mạt Lỵ giúp Địch Công mặc chiếc áo choàng lông thú nặng trịch vào, rồi họ bước ra ngoài con phố lạnh lẽo. Không còn kiệu nữa; tất cả phu kiệu đều đã bị sung quân vào đội công binh.
Mấy cỗ xe chở thương binh và tử sĩ vẫn len lỏi trên đường. Địch Công cùng cô nương đồng hành thường phải nép sát người vào tường những căn nhà ven đường để nhường lối cho đám mã quân truyền thư vừa cưỡi những con ngựa kiệt sức lảo đảo băng qua, vừa buông những tiếng chửi rủa thô tục.
Mạt Lỵ dẫn Địch Công vào con hẻm nhỏ hẹp dẫn đến một gian nhà nhỏ, tồi tàn và dơ dáy, dựa lưng vào dãy nhà kho cao nghều nghệu, tối đen. Hai cây thông xiêu vẹo trồng bên cánh cửa đã nứt nẻ, các nhánh cây trĩu thấp xuống dưới sức nặng của tuyết đóng băng.
Địch Công lấy từ ống tay áo ra một lượng bạc. Trao nó cho nữ nhân, ông nói, “Được rồi, ta sẽ đi ngay luôn đây, khách điếm mà ta trọ...” Một trận ho dữ dội đột ngột ngắt lời ông.
“Mời ngài vào trong, ít nhất cũng hãy uống một chén trà gừng làm nóng người,” nàng ta kiên quyết nói. “Giờ ngài không đi bộ nổi đâu.” Mạt Lỵ mở cửa ra và lôi kéo Huyện lệnh vẫn còn ho sù sụ vào bên trong.
Cơn ho chỉ giảm bớt sau khi nàng ta cởi tấm áo choàng lông thú của Địch Công ra và mời ông ngồi xuống chiếc ghế bành bằng tre bên bàn trà lung lay ọp ẹp. Gian phòng nhỏ bé tối tăm này rất ấm áp, lò than bằng đồng nằm trong góc nhà đầy than hồng nóng rực. Nhận ra cái nhìn kinh ngạc của Địch Công, Mạt Lỵ lên tiếng với một nụ cười giễu cợt, “Đây chính là lợi thế của nghề ca kĩ ở thời buổi này. Bọn thiếp nhận được rất nhiều than, do quân đội phân phối. Nhờ phục vụ cho các binh sĩ hào hoa phong nhã của chúng ta!”
Nàng cầm lấy ngọn nến, châm lửa nhờ lò than, rồi đặt nó trở lại bàn. Nữ nhân chợt biến mất qua bức rèm cửa ở bức tường chắn. Địch Công quan sát gian phòng dưới ánh lửa lập lòe của ngọn nến. Phía bức tường đối diện ông kê sát một khung giường lớn; rèm che của nó được kéo lên, lộ ra tấm chăn bông nhăn nhúm cùng một cái gối đôi dơ bẩn.
Thình lình ông nghe thấy một tiếng động lạ.
Địch Công ngó nhìn quanh. Nó phát ra từ đằng sau bức màn lam bạc thếch đang che phủ một vật gì đó gần sát bức tường. Tâm trí ông chợt lóe lên rằng đó nhiều khả năng là một cái bẫy. Nếu bắt được, chấp pháp đội thường đánh bọn đạo tặc đến tan xương nát thịt, thế nhưng nạn trộm cướp và hành hung vẫn hoành hành trong thành. Ông vội vàng đứng dậy, bước đến gần bức màn và gạt phắt nó sang một bên.
Ông ngượng đỏ mặt. Một chiếc giường cũi bằng gỗ được đặt sát tường. Cái đầu tròn trịa nhỏ nhắn của một hài nhi lấp ló bên dưới tấm chăn bông dày cộp vá chằng vá đụp. Nó chăm chú ngước nhìn ông với đôi mắt mở to lanh lợi. Huyện lệnh vội kéo rèm đóng lại, và quay về chỗ ngồi của mình.
Nữ nhân bước vào mang theo một ấm trà lớn. Châm cho Địch Công một chén, nàng lên tiếng, “Đây, mời ngài uống trà gừng, nóng người lên, sẽ không còn ho khan nữa.”
Nàng đi ra phía sau bức màn rồi trở lại với hài nhi trong tay. Nàng ẵm nó đến bên giường, một tay kéo phẳng tấm chăn bông và lật chiếc gối lên.
“Thứ lỗi cho sự bừa bộn này,” nàng lên tiếng lúc đặt hài nhi lên giường. “Tiện thiếp vừa tiếp khách ở đây ngay trước lúc Khuông Huyện lệnh cho gọi thiếp đến hầu rượu.” Với vẻ hờ hững điển hình của một nữ tử chốn phong trần, nàng trút bỏ áo choàng của mình. Vận độc một chiếc quần thô rộng, Mạt Lỵ ngồi lên giường và dựa lưng vào chiếc gối, thở hắt ra một hơi dài nhẹ nhõm. Sau đó, nàng bế hài nhi lên rồi áp nó sát vào bầu ngực trái của mình. Nó bắt đầu bú với vẻ thỏa mãn.
Địch Công nhấm nháp trà gừng cay nồng. Sau một thoáng, ông hỏi chuyện nàng ta:
“Hài tử của ngươi mấy tuổi rồi?”
“Hai tháng,” nữ nhân bơ phờ đáp lời. “Tiểu nhi là một nam tử.”
Ánh mắt của Địch Công rơi xuống những vết sẹo dài trắng bệch chạy dọc đôi bờ vai nữ nhân; một lằn roi loang lổ gây tổn hại nghiêm trọng cho bầu ngực phải. Nàng ngước lên và trông thấy cái liếc nhìn của ông. Nàng thờ ơ lên tiếng, “À, bọn họ không định làm thế đâu, đó là do lỗi của chính tiện thiếp. Trong lúc đang chịu phạt roi, tiện thiếp lại cố sức kéo giật người né tránh, thế là một đầu lưỡi của cây roi quấn quanh vai rồi cắt toạc ngực ra.”
“Tại sao nàng bị phạt roi?” Địch Công hỏi.
“Kể ra thì thật dài!,” nàng ta cộc lốc nói. Nữ nhân lại chú tâm vào đứa trẻ.
Địch Công im lặng uống cạn chén trà của mình. Lúc này hô hấp của ông đã thông thuận hơn, nhưng đầu vẫn đang nhoi nhói một cơn đau âm ỉ. Lúc ông đã uống chén thứ hai, Mạt Lỵ ôm đứa trẻ về chiếc giường cũi rồi kéo màn khép lại. Nàng bước đến bên bàn, duỗi thẳng người ra và ngáp ngắn ngáp dài. Chỉ tay về phía khung giường, nàng hỏi, “Còn chuyện này thì sao? Tiện thiếp đã nghỉ ngơi một chút rồi, vả lại mấy chén trà khó mà bù đắp nổi thịnh tình mà đại nhân đã ban cho tiện thiếp.”
“Trà của nàng rất ngon,” Địch Công mệt mỏi lên tiếng, “tình cảm của nó cũng quá đủ đầy so với những gì ta đã làm cho Mạt Lỵ cô nương.” Để không làm tổn thương phận má hồng, ông vội nói thêm, “Ta sẽ không mạo hiểm lây chứng lao phổi quái ác này sang cho nàng. Dùng thêm một chén trà nữa, rồi ta xin cáo từ.”
“Tùy ngài thôi!” Ngồi xuống đối diện Huyện lệnh, nàng ta nói thêm, “Tiện thiếp cũng uống một chén, tiện thiếp khát khô cổ rồi.”
Ngoài phố, có tiếng bước chân lạo xạo trên tuyết. Đó là những canh phu. Tiếng gõ mõ khuấy động màn đêm tĩnh mịch. Mạt Lỵ co ro trong chiếc ghế của mình. Đặt bàn tay lên cổ họng, nàng thở hổn hển khó nhọc, “Đã nửa đêm rồi ư?”
“Đúng,” Địch Công lo lắng nói, “nếu chúng ta không sớm phản công, ta e là lũ Thát Đát ấy sẽ chọc thủng trận tuyến và tràn vào vùng này. Tất nhiên, đại quân sẽ lại đẩy lùi bọn chúng, nhưng nàng còn có một hài tử, tốt hơn là nên mau chóng thu dọn hành trang, sáng mai sang phía Đông thành tị nạn đi. Nếu lỡ xảy ra chuyện không may thì ăn nói làm sao với phụ thân của nó đây?”
Mạt Lỵ nhìn thẳng về phía trước, nỗi đau đớn hiển hiện trong đôi mắt đờ đẫn như phát sốt. Rồi nàng lên tiếng, như vừa nói với Địch Công, vừa lẩm bẩm với chính mình, “Còn ba canh giờ nữa thôi!” Rồi nhìn thẳng vào Huyện lệnh, nàng nói thêm, “Hài tử của thiếp ư? Vào lúc bình minh, phụ thân của nó sẽ bị xử trảm.”
Địch Công đặt chén xuống. “Bị xử trảm ư?,” ông thốt lên. “Y là ai?”
“Một Đội chính, họ Ngô.”
“Y đã phạm tội gì?”
“Không gì cả.”
“Lẽ nào không phạm tội gì mà vô duyên vô cớ bị xử trảm!” Địch Công gắt gỏng nói.
“Chàng bị oan. Bọn họ vu cáo chàng đã siết cổ phu nhân của Phan Đội chính. Chàng bị đưa ra xét xử ở pháp đình quân sự và bị kết án tử. Ngô lang đã ở trong đại lao của chấp pháp quân gần một năm rồi, để chờ đến ngày thi hành án tử. Chính là hôm nay.”
Địch Công giật mạnh chòm râu. “Bản quan thường hợp tác với đội chấp pháp,” ông nói, “kỷ luật nhà binh của họ ngặt nghèo hơn so với chúng ta, tuy vậy bản quan luôn thấy họ hành sự hiệu quả và rất tận tâm. Họ không phạm sai lầm.”
“Họ đã lầm trong vụ án này,” Mạt Lỵ nói. Nàng nói tiếp, vẻ lực bất tòng tâm, “Không gì có thể cứu vãn được nữa, đã quá muộn rồi.”
“Đúng, nếu y sẽ bị hành hình vào lúc hừng đông, thì chúng ta chẳng thể làm được gì nhiều nhặn nữa,” Địch Công đồng ý. Ngẫm nghĩ trong một lúc, đoạn ông nói tiếp, “Thế sao nàng không kể cho ta nghe vụ án này? Nàng sẽ khiến cho tâm trí ta thoát khỏi những lo âu phiền muộn của bản thân mình, và có lẽ điều đó có thể giúp nàng giết thời gian đó.”
“À, vâng,” nàng ta nhún vai nói, “Dù gì thì tiện thiếp cũng đang cảm thấy khổ sở không ngủ được. Chuyện là thế này. Khoảng một năm rưỡi trước, có hai Đội chính đóng tại Đại Thạch Khẩu này thường hay lui tới xóm hoa. Một người họ Phan, người kia họ Ngô. Họ phải làm việc chung vì cùng thuộc một quân doanh, ấy vậy mà cả hai lại không hề hòa thuận với nhau chút nào; bọn họ khác nhau một trời một vực. Họ Phan là một kẻ hèn hạ, mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, trông giống nho sinh hơn là một binh sĩ. Hắn là kẻ khẩu Phật tâm xạ, nên các cô nương đều không ưa hắn. Còn Ngô lang thì trái lại, chàng là một nam tử chân chất, lại tinh thông võ thuật, kiếm cung, nhanh tay mau miệng. Nghe nói rằng các binh sĩ cũng nguyện lên núi đao xuống biển lửa vì Ngô lang. Chàng ấy không tuấn tú khôi ngô, nhưng tiện thiếp đã yêu chàng. Và chàng cũng không có ai khác ngoài thiếp cả. Ngô lang đều đặn trả ngân lượng cho tú bà, nên tiện thiếp không phải tiếp khách nữa. Chàng hứa rằng sẽ chuộc thiếp ra và cưới thiếp ngay khi chàng được thăng quan tiến chức, đó là lý do vì sao tiện thiếp không ngại mang trong mình cốt nhục của chàng. Thường thì bọn kỹ nữ như thiếp sẽ phá thai hoặc nếu sinh ra thì cũng sẽ đem bán hài tử đi. Nhưng tiện thiếp muốn có hài tử này.” Mạt Lỵ uống cạn chén trà, vén một lọn tóc ra khỏi vầng trán, đoạn nói tiếp, “Khi ấy, mọi sự đều tốt đẹp. Rồi sau đó, vào một đêm khoảng mười tháng trước, Phan Đội chính về nhà và phát hiện ra phu nhân của mình bị siết cổ chết trên giường, còn Ngô lang thì đang đứng bên cạnh, có vẻ choáng váng, sững sờ. Họ Phan đã gọi một chấp pháp vệ vừa đi ngang qua đó vào, rồi tố cáo Ngô lang đã sát hạt phu nhân mình. Cả hai được đưa đến trước quân sự pháp đình. Họ Phan nói Ngô lang thường đùa giỡn phu nhân của hắn, nhưng bị cự tuyệt. Tên khốn gian trá ấy bảo rằng hắn đã cảnh cáo Ngô lang rất nhiều lần; hắn không muốn tố giác chàng với chấp pháp đội vì Ngô lang là đồng đội của mình! Thế rồi, họ Phan nói thêm rằng Ngô lang biết hắn phải trực đêm ở võ khố vào tối hôm đó, nên chàng đã tới Phan gia với ý đồ bất chính. Phan thị đã khước từ, thế là Ngô lang thẹn quá hóa giận, siết cổ thị. Đó là toàn bộ câu chuyện.”
“Họ Ngô đã biện bạch thế nào về chuyện đó?” Địch Công hỏi.
“Ngô lang bảo rằng Phan Đội chính là một kẻ dối trá bẩn thỉu. Chàng biết họ Phan căm ghét mình, và chính hắn đã tự tay siết cổ vợ mình để hãm hại Ngô lang.”
“Không khéo chút nào, cái gã Đội chính của nàng đó.” Huyện lệnh lạnh nhạt nhận xét.
“Nghe tiện thiếp kể hết đã, được chứ? Ngô lang nói rằng lúc chàng đi ngang qua võ khố vào đêm đó, Phan Đội chính đã gọi chàng lại và nhờ chàng ghé thăm Phan gia xem phu nhân của hắn có cần gì hay không, vì trưa hôm đó thị cảm thấy khó chịu trong người. Lúc Ngô lang đến nơi, cổng trước đang mở toang, còn gia nhân thì đã đi đâu hết cả rồi. Gọi mãi mà không thấy ai đáp lại, nên chàng đã đi vào trong phòng ngủ và phát hiện ra thi thể của Phan thị. Sau đó, Phan Đội chính xộc thẳng vào trong rồi bắt đầu la hét gọi chấp pháp đội.”
“Một câu chuyện kỳ quặc,” Địch Công nói. “Quân pháp ty đã tuyên án như thế nào? Nhưng mà thôi, tất nhiên nàng không thể biết được chuyện đó.”
“Tiện thiếp biết chứ. Chính bản thân Mạt Lỵ đã có mặt ở đó, trà trộn vào bên trong cùng những người khác. Lúc ấy, tiện thiếp toát hết cả mồ hôi hột vì sợ, ngài biết không, vì nếu họ tóm được một kỹ nữ trong quân doanh thì người đó sẽ bị phạt roi. Ôi, quân pháp ty phán rằng Ngô lang đã phạm tội thông gian với phu nhân của đồng đội, nên kết án tử cho chàng. Ông ta bảo sẽ không nói nhiều về vụ án mạng, vì chấp pháp đội đã phát hiện ra chính họ Phan từng ra lệnh cho đám gia nhân của hắn ra về sau bữa tối hôm đó, và ngay khi đi trực ở võ khố, họ Phan đã kể với mấy chấp pháp vệ rằng mình vừa được cảnh báo về bọn đạo tặc ở quanh đây, rồi nhờ họ để ý trông chừng Phan gia cho hắn. Quân pháp ty nói rằng có khả năng họ Phan đã phát hiện ra phu nhân của mình đang dan díu với Ngô lang, nên hắn đã siết cổ thị. Đó là quyền của hắn; theo vương pháp, hắn có thể giết cả Ngô lang, nếu hắn bắt quả tang bọn họ đang ân ái, người ta vẫn nói thế. Nhưng có lẽ họ Phan đã e ngại khi phải đối đầu trực tiếp với Ngô lang nên hắn đã chọn cách thức vòng vo này để hãm hại chàng. Dù gì thì cũng chẳng còn quan trọng nữa, quân pháp ty đã nói thế. Sự thật là Ngô lang đã vụng trộm với phu nhân của đồng đội, và điều đó gây ảnh hưởng xấu đến nhuệ khí của binh sĩ. Do đó, chàng phải bị xử trảm.”
Mạt Lỵ chìm vào im lặng. Địch Công vuốt mái tóc mai dài của mình. Một lát sau, ông lên tiếng, “Xem qua thì ta sẽ nói rằng quân pháp ty hoàn toàn đúng. Phán quyết của ông ta phù hợp với cá tính của hai nam nhân mà nàng đã miêu tả cho bản quan. Nhưng sao nàng dám chắc rằng họ Ngô không có tư tình với Phan thị?”
“Bởi vì Ngô lang yêu tiện thiếp, và thậm chí còn không liếc nhìn đến bất kỳ nữ nhân nào khác nữa,” Mạt Lỵ mau lẹ đáp ngay.
Địch Công nghĩ đó quả là một lý lẽ điển hình của nữ nhân. Để đổi chủ đề, ông hỏi, “Ai đã tra tấn nàng, và vì sao?”
“Hết thảy chỉ là một câu chuyện ngớ ngẩn!” Mạt Lỵ nói với giọng khổ sở. “Sau phiên thăng đường ấy, tiện thiếp nổi giận với Ngô lang. Tiện thiếp phát hiện ra mình đã mang thai, thế mà kẻ đê tiện đó lại lén tằng tịu với Phan thị trong suốt thời gian ấy, ngay sau lưng thiếp! Vì thế, tiện thiếp đã chạy đến đại lao và đi vào trong bằng cách nói với lính gác rằng mình là muội muội của Ngô lang. Lúc gặp chàng, thiếp đã nhổ vào mặt Ngô lang, mắng chàng là một kẻ phóng đãng bội bạc, rồi chạy đi. Nhưng khi đã kiệt sức đến nỗi không thể làm việc được nữa, tiện thiếp đã tự vấn lại mọi chuyện thật kĩ càng, để rồi nhận ra mình đã hành xử như một kẻ xuẩn ngốc, và rằng Ngô lang đã yêu mình. Vì thế tám tuần trước, sau khi hài tử của thiếp chào đời và bản thân thiếp đã khá hơn một chút, thiếp lại đến đại lao để ngỏ lời tạ lỗi với Ngô lang. Thế nhưng, Ngô lang chắc hẳn đã mách cho đám lính gác về chuyện dạo trước thiếp từng lừa gạt họ như thế nào; chàng làm vậy cũng đúng, bởi thiếp đã quát vào mặt chàng như thế! Ngay khi thân hèn này vừa bước vào trong thì họ trói nghiến tiện thiếp vào cái giá rồi tiến hành đòn roi tra tấn. Tiện thiếp vẫn còn may, vì có quen biết với tên lính cầm roi, nên y đã không đánh quá mạnh tay, nếu không thì có lẽ quân doanh đã phải xuất ra một cỗ quan tài. Chuyện cũng đã xảy ra rồi, lưng và vai của tiện thiếp bị nát tả tơi, máu chảy đầm đìa như lợn bị chọc tiết. Tuy nhiên, tiện thiếp không phải là phận nữ nhi liễu yếu đào tơ và đã vượt qua cơn nguy khốn đó. Khỏe như một tá điền, phụ thân từng nói về tiện thiếp như thế trước lúc ông buộc phải bán Mạt Lỵ đi để trả tiền thuê ruộng. Một thời gian sau, bắt đầu dấy lên những tin đồn rằng bọn Thát Đát dự định tấn công. Tổng tư lệnh bị triệu về kinh, và rồi chiến tranh nổ ra. Vì thời cuộc nhiễu nhương hỗn loạn, công vụ triều đình cấp bách bận rộn, mà vụ án của Ngô lang bị trì hoãn lâu hơn người ta tưởng. Sáng nay lệnh bài rốt cuộc cũng đến, và bọn họ sẽ xử trảm chàng vào lúc bình minh.”
Thình lình nàng ta vùi mặt vào bàn tay và bắt đầu khóc như mưa. Địch Công chậm rãi giật giật chòm râu dài đen nhánh của mình, đợi cho đến khi Mạt Lỵ bình tĩnh lại. Đoạn ông hỏi:
“Cuộc hôn nhân của Phan gia có hạnh phúc không?”
“Làm sao tiện thiếp biết được chứ? Ngài cho là tiện thiếp ngủ dưới giường họ à?”
“Bọn họ có hài tử nào không?”
“Thưa không.”
“Họ đã thành thân được bao lâu rồi?”
“Để thiếp xem. Khoảng một năm rưỡi, áng chừng vậy. Vào lần đầu thiếp gặp hai vị Đội chính ấy, Ngô lang đã kể với tiện thiếp rằng họ Phan vừa bị phụ thân gọi về nhà để kết hôn với một cô nương mà song thân hắn đã an bài.”
“Nàng có biết danh tính của phụ thân hắn không?”
“Không, họ Phan từng có lần khoác lác rằng phụ thân mình là một nhân vật quan trọng ở Tô Châu.”
“Đó chắc hẳn là Thứ sử Tô Châu, Phan Duy Lương,” Địch Công đáp ngay. “Ngài ấy là một danh sĩ, có kiến thức trác tuyệt về cổ sử. Ta chưa bao giờ diện kiến ngài, nhưng ta đã đọc rất nhiều sách của Phan Thứ sử. Khá hay. Phan công tử vẫn còn ở đây chứ?”
“Còn, hắn chết dí ở đại bản doanh. Nếu đại nhân ngưỡng mộ Phan gia như vậy, thì tốt hơn ngài nên đến đó và kết thân với tên khốn hèn hạ ấy đi!” Mạt Lỵ khinh bỉ nói.
Địch Công đứng lên. “Ta sẽ làm thế,” ông nói, nửa cho Mạt Lỵ nghe, nửa như nói với chính mình.
Nàng ta phun một tiếng chửi tục. “Các người đều như nhau cả, tất cả các người!” Mạt Lỵ cáu kỉnh nói. “Ta có nên vui vì mình chỉ là một kỹ nữ thành thật? Đại nhân đây thật kén cá chọn canh, không muốn ngủ với một nữ nhân có nửa bầu ngực đã hỏng, đúng chứ? Có muốn lấy lại ngân lượng không?”
“Cứ giữ lấy!” Địch Công bình tĩnh lên tiếng.
“Quỷ tha ma bắt ngươi đi!” Mạt Lỵ nói. Nàng ta nhổ nước bọt xuống sàn rồi quay lưng về phía ông.
Địch Công lặng lẽ choàng chiếc áo khoác lông thú và rời đi. Vừa đi trên con đường lớn vẫn tấp nập binh sĩ, ông vừa ngẫm ra rằng mọi việc không có vẻ khả quan cho lắm. Cho dù Địch Công tìm gặp được Phan Đội chính, rồi thậm chí ông thành công trong việc moi ra được từ miệng hắn những thông tin cần cho việc kiểm chứng giả thuyết của mình, thì sau đó ông cũng sẽ phải cố gắng tìm cách yết kiến Chu Đô đốc, vì trong bối cảnh hiện tại, duy chỉ ngài ấy mới có khả năng can thiệp đến lệnh thi hành án. Thế nhưng, Chu Đô đốc đang chỉ huy mười vạn đại quân, chuẩn bị phát động chiến dịch phản công, lúc này quân tình như lửa, quân cơ vạn biến, vô cùng bận rộn, đâu có thời gian lật lại án cũ, phúc thẩm cho một binh sĩ sắp chịu án tử? Thêm nữa, lão tướng dày dạn trận mạc ấy không phải là một kẻ ôn hòa nho nhã. Địch Công nghiến răng kèn kẹt. Nếu Đại Đường rơi vào nghịch cảnh đến nỗi một quan án không thể ngăn cản việc một nam nhân vô tội bị chém đầu thì.”.
Bởi vì chiến sự cấp bách, Đô đốc phủ đã dời đến Điền Liệp Cung của Thái tử quá cố. Đó là một cung điện rộng lớn, phía sau là khu rừng thẳng cánh cò bay mà tiên hoàng đã tiêu tốn không biết bao nhiêu kim ngân để xây dựng cho Thái tử cưỡi ngựa bắn cung săn thú. Thái tử lúc sinh thời thường tới săn bắn ở phía Tây biên cảnh, chính trong một chuyến đi săn mà Điện hạ đã bất hạnh qua đời. Nguyện vọng trước khi lâm chung của Điện hạ là được chôn cất ở Đại Thạch Khẩu. Quan quách của Thái tử Điện hạ được đặt tại lăng mộ trong cung điện, và sau này cả quan quách của Thái tử phi cũng được đưa đến nơi này hợp táng.
Địch Công phải năn nỉ hết lời mới được mấy tên lính gác cho vào, họ luôn quan sát mọi thường dân với vẻ nghi kỵ. Nhưng rồi cuối cùng ông cũng được dẫn đến một gian phòng nhỏ bé, bốn bề trống trải, gió thổi lồng lộng. Một tên lính cầm lấy tấm bái thiếp của Địch Công chuyển cho Phan Đội chính. Sau hồi lâu chờ đợi, một sĩ quan trẻ tuổi đi vào. Bộ giáp trụ vừa khít cùng với đai đeo kiếm to bản càng tôn lên thân hình mảnh dẻ của hắn. Chiếc mũ sắt càng làm tăng sức thu hút của gương mặt khôi ngô tuấn tú nhưng lạnh lùng, với một hàng ria mép nhỏ màu đen. Hắn cứng nhắc hành lễ chào hỏi, rồi ngồi xuống chờ đợi trong sự im lặng đầy kiêu ngạo cho đến khi Địch Công bắt chuyện với hắn. Theo lẽ thường, Huyện lệnh có phẩm hàm cao hơn nhiều so với một Đội chính trong quân ngũ, thế nhưng thái độ của họ Phan lại ám chỉ rằng trong thời chiến thì mọi sự đã khác.
“An tọa, an tọa!” Địch Công vui vẻ nói. “Quân tử nhất ngôn tứ mã nan truy, bản quan vẫn luôn nói thế! Thà muộn còn hơn không!”
Phan Đội chính ngồi xuống ở phía bên kia bàn trà, trông có vẻ kinh ngạc một cách nhã nhặn.
“Vào nửa năm trước,” Địch Công tiếp tục, “trên đường đến Lan Phường, lúc đi ngang Tô Châu, ta đã đến bái phỏng lệnh tôn đại nhân. Lệnh tôn đại nhân đức cao vọng trọng, Địch mỗ vô cùng kính phục! Trước lúc chia tay, lệnh tôn đại nhân đã nói rằng, ‘Khuyển tử đang phụng sự triều đình tại quân doanh ở Đại Thạch Khẩu, huyện láng giềng của ông. Nếu ông có dịp đi ngang qua, thì hãy giúp ta trông nom nó một chút. Khuyển tử mới gặp chuyện vô cùng bất hạnh.’ Thế rồi, hôm qua Chu Đô đốc có triệu tập bản quan đến đây, nên trước khi trở về Lan Phường, ta muốn giữ lời hứa của mình.”
“Làm phiền Địch đại nhân rồi!” Họ Phan lầm bầm vẻ bối rối. “Xin hãy thứ lỗi cho sự lỗ mãng của ty chức khi nãy. Ty chức không biết là... còn tình trạng của ty chức lại đang rất tệ hại. Tình hình đang rất nguy cấp ở tiền tuyến, ngài cũng thấy đó...” Hắn quát lên ra lệnh. Một tên lính vội mang ấm trà vào. “Gia phụ đã kể cho ngài nghe về bất hạnh đó không, thưa đại nhân?”
“Lệnh tôn đã kể chuyện phu nhân đã bị sát hại ở đây vào năm ngoái. Xin hãy đón nhận sự thành kính phân ưu của bản quan.. .”
“Gia phụ vốn không nên ép ty chức phải thành thân, thưa ngài!,” Phan Đội chính thốt lên. “Ty chức đã thưa chuyện với phụ thân... cố giãi bày với người... gia phụ lại luôn quá bận rộn, chẳng bao giờ có thời gian để...” Họ Phan vận sức cố trấn tĩnh bản thân, đoạn tiếp tục, “Ty chức nghĩ rằng mình còn quá trẻ, chưa rành thế sự, chưa kiến công lập nghiệp, thì không nên thành gia lập thất. Ty chức vẫn mong gia phụ trì hoãn hôn sự. Chỉ vài năm thôi, cho đến khi Phan mỗ đã thỏa chí bình sinh. Cho ty chức thời gian để... để sắp xếp mọi việc.”
“Ông trót đem lòng yêu thương nữ nhân khác rồi sao?”
“Đó là chuyện thiên địa bất dung,” vị sĩ quan trẻ tuổi thốt lên. “Đại trượng phu sao có thể làm chuyện cẩu thả như vậy? Ty chức chỉ là... cảm thấy mình không phù hợp với hôn nhân, vẫn chưa đến lúc.”
“Có phải phu nhân bị đạo tặc sát hại hay không?”
Phan Đội chính rầu rĩ lắc đầu, sắc mặt hắn như tro nguội. “Bẩm đại nhân, hung thủ là một đồng đội của ty chức. Kẻ này là một tên ác ma phóng đãng, chuyên tìm hoa hỏi liễu, hãm hại nữ tử nhà lành. Chỉ toàn nói chuyện sắc dục, luôn để bản thân bị cuốn vào mấy trò ti tiện bẩn thỉu của bọn kỹ nữ...” Vị sĩ quan trẻ tuổi nhanh chóng phun ra những lời cuối cùng đó một cách đầy giận dữ. Hắn mau lẹ nốc cạn chén trà, rồi nói thêm với một giọng điệu thẫn thờ, “Hắn nảy sinh tà niệm với phu nhân của ty chức, bị nàng từ chối, thẹn quá hóa giận, liền hạ độc thủ, siết cổ nàng đến chết. Trời xanh có mắt, thiên lý rõ ràng, hắn sẽ bị xử trảm vào tảng sáng nay.” Dứt lời, hắn thở dài rồi lấy hai tay bưng mặt.
Địch Công lẳng lặng quan sát nam nhân đang xúc động nọ trong một lúc. Rồi ông mềm mỏng nói:
“Phải, ông quả thật rất xui xẻo.” Địch Công đứng lên và nói nhanh, “Ta phải gặp Chu Đô đốc lần nữa. Phiền ông đưa bản quan đến đó.”
Phan Đội chính vội vàng đứng lên. Trong lúc dẫn đường đưa Địch Công xuống một dãy hành lang dài dằng dặc, binh sĩ đi lại tới lui tất bật, hắn lên tiếng, “Thưa đại nhân, ty chức chỉ có thể cung tiễn ngài đến tiền sảnh mà thôi. Vì chỉ những người của Đô đốc phủ mới được cho phép tiến xa hơn.”
“Vậy cũng được rồi,” Địch Công nói.
Phan Đội chính dẫn đường cho Huyện lệnh đi vào một gian sảnh đông nghịt các quan viên, rồi bảo rằng hắn sẽ đợi ở bên ngoài để đưa Địch Công trở lại cửa chính. Ngay khi Địch Công bước vào, âm thanh ồn ào huyên náo bất chợt im bặt. Một Hiệu úy tiến đến gần ông. Sau khi liếc nhìn qua chiếc mũ ô sa của Địch Công, y lạnh lùng hỏi:
“Tại hạ có thể giúp được gì cho ngài, Huyện lệnh đại nhân?”
“Bản quan có công vụ khẩn cấp xin cầu kiến Chu Đô đốc.”
“Không được!” Hiệu úy xấc xược nói.
“Chu Đô đốc đang nghị sự. Tại hạ nhận được nghiêm lệnh tuyệt không cho bất cứ ai bước vào.”
“Một nhân mạng đang lâm nguy,” Huyện lệnh nghiêm giọng nói.
“Một nhân mạng, ngài nói thế à!” Hiệu úy thốt lên với một nụ cười khinh bỉ. “Đô đốc đang bận cân nhắc sinh tử của hai mươi vạn nhân mạng đang nguy khốn đó, thưa Huyện lệnh đại nhân! Có cần tại hạ tống tiễn không?”
Địch Công tái mặt. Ông đã thất bại. Với cung cách lịch sự, Hiệu úy kiên quyết dẫn Huyện lệnh đến lối ra, y nói, “Tại hạ tin là ngài sẽ hiểu, thưa Huyện lệnh...”
“Huyện lệnh đại nhân!” Một Hiệu úy khác vừa la lớn vừa xông vào phòng. Dù trời giá rét, mặt y vẫn đầm đìa mồ hôi. “Ngài có biết vị đồng liêu họ Địch của mình đang ở đâu không?”
“Ta là Địch Huyện lệnh đây,” Địch Công đáp.
“Lạy trời! Tại hạ đã tìm kiếm ngài hàng canh giờ rồi! Đô đốc muốn gặp ngài!”
Y kéo Địch Công đi qua một cánh cửa ở cuối gian phòng thông đến một hành lang tranh tối tranh sáng. Màn trướng vải dạ dày cộp đã hãm bớt mọi âm thanh. Y mở cánh cửa nặng trịch phía cuối hành lang, rồi để Địch Công đi vào bên trong.
Không gian tĩnh lặng đến lạ kỳ trong đại sảnh mênh mông của cung điện. Một nhóm các tướng lĩnh phẩm hàm cao mặc những bộ giáp trụ sáng choang đang quây quần đứng quanh một án thư đồ sộ chất đầy địa đồ và giấy tờ. Mọi người lẳng lặng dõi theo một nam nhân hộ pháp đang đi qua đi lại phía trước án thư, tay ông chắp lại sau lưng.
Ông ta mặc một bộ giáp xích bình thường, với cầu vai bằng sắt cùng chiếc quần da thuộc của kỵ binh. Nhưng phía trên chóp mũ sắt cao của ông là một con kỳ lân vàng đang ngạo nghễ nghênh sừng, tượng trưng cho chức vị Đô đốc. Trong lúc đi qua đi lại, giậm từng bước nặng nề lên sàn, Đô đốc bất cẩn để cho đầu mũi kiếm to bản treo lủng lẳng ở thắt lưng mình va chạm leng keng lên sàn đá cẩm thạch được chạm trổ tinh xảo.
Địch Công khuỵu gối quỳ xuống. Hiệu úy kia bước tới gần ngài chỉ huy. Đứng nghiêm theo khuôn phép quân doanh, y nói gì đó với giọng nhát gừng.
“Họ Địch sao?” Đô đốc quát lớn. “Giờ thì không cần y nữa, đuổi y ra! Khoan đã, chờ chút! Ta vẫn còn vài canh giờ trước khi ra lệnh rút quân! “ Đoạn ông ta quát vào mặt Huyện lệnh, “Này tên kia, đừng có bò lê trên sàn nữa! Lại đây!”
Địch Công vội đứng lên, đi đến bên Đô đốc và cúi đầu hành lễ. Rồi ông đứng thẳng dậy. Địch Công vốn là một nam nhân cao lớn, vậy mà vị tướng quân này còn cao hơn ông ít nhất hai thốn. Đặt ngón tay cái vào đai đeo kiếm của mình, vị hộ pháp đại nhân kia trừng trừng ngó nhìn Địch Công bằng một con mắt bên phải đầy dữ tợn. Mắt trái của ông ta bị một dải băng đen che lại, nó đã bị xạ thủ Thát Đát bắn trúng trong chiến dịch Bắc phạt của Đại Đường.
“Địch Nhân Kiệt, nghe nói ngươi xử án như thần, ham mê giải đố, giờ bản tướng có một câu đố này cần ngươi giải, không những vô cùng khó khăn, mà còn vô cùng gấp gáp!” Quay lại phía án thư, Đô đốc quát lớn, “Mâu tướng quân! Lưu tướng quân! Lại đây!”
Hai nam nhân mặc giáp tướng quân vội vàng tách mình ra khỏi nhóm người đang đứng quây quanh án thư. Địch Công nhận ra vị tướng quân mảnh khảnh trong bộ giáp trụ sáng lóa là họ Lưu, Tả quân tiên phong. Còn nam nhân béo lùn vai rộng, mặc giáp tấm, đầu đội mũ sắt, chính là họ Mâu, Trung quân Chiêu thảo sứ. Chỉ có Đặng tướng quân, Hữu quân tiên phong, đang ở trận tiền, chưa kịp trở về. Cùng với Chu Đô đốc là thống soái ba quân, thì ba người họ là những tướng quân cao cấp nhất, nắm trong tay toàn bộ cục diện chiến sự của phòng tuyến phía Tây.
Huyện lệnh cúi đầu thi lễ. Hai vị tướng quân trao cho ông một ánh nhìn sắt đá.
Chu Đô đốc sải bước đi qua sảnh đường và đá một cánh cửa mở tung ra. Bọn họ lặng lẽ băng qua những hành lang rộng lớn trống trải, tiếng ủng sắt của ba vị tướng quân vang rền trên sàn đá cẩm thạch. Rồi họ đi tiếp xuống một cầu thang rộng rãi. Ở phía cuối, hai lính canh vội bật đứng dậy chỉn chu lại hàng lối. Khi Chu Đô đốc ra hiệu, họ chậm rãi đẩy một cánh cổng đôi nặng trịch mở ra.
Bọn họ tiến vào một hầm mộ khổng lồ, được chiếu sáng lờ mờ bằng hai ngọn đèn dầu bằng bạc cao vút đặt ở những khoảng trống giữa các hốc tường cao vời vợi không cửa sổ. Ở giữa hầm mộ là hai bộ quan quách sơn son đồ sộ, có kích thước bằng nhau, ước chừng rộng một trượng, dài ba trượng và cao hơn một trượng rưỡi.
Chu Đô đốc tiến lên, khấu đầu lễ bái, rồi ba nam nhân kia cũng làm theo. Đoạn vị thống soái dày dạn trận mạc kia quay sang Địch Công và lên tiếng, tay chỉ vào những bộ quan quách, “Địch Nhân Kiệt, đây chính là câu đố của ngươi! Trưa nay, ngay lúc ta sắp sửa ra lệnh tấn công, thì Đặng tướng quân đến và mật báo với ta rằng Lưu tướng quân đã lén lập giao ước với Khả hãn Thát Đát rằng ngay khi đại quân của chúng ta tấn công, họ Lưu sẽ cùng quân sĩ của y quay đầu theo địch. Sau đó, khi đại sự cáo thành, họ Lưu sẽ nhận một nửa phía Nam lãnh thổ của Đại Đường làm phần thưởng. Còn bằng chứng ư? Đặng tướng quân nói rằng Lưu tướng quân đã cất giấu trong quan quách của Thái tử hai trăm bộ thiết giáp tề chỉnh với đầy đủ mũ và kiếm, chúng được đánh dấu một ký hiệu đặc biệt. Khi thời cơ chín muồi, Lưu tướng quân sẽ dẫn những kẻ thân tín phá quách, lấy thiết giáp đã đánh dấu phân phát cho những tướng sĩ đồng mưu, trước hết sẽ tàn sát tất cả quan quân Đô đốc phủ, sau đó mở rộng cổng thành, nghênh đón kỵ binh Thát Đát.”
Địch Công kinh hãi, bắt đầu quan sát Lưu tướng quân. Nam nhân mảnh khảnh vẫn đứng thẳng, nhìn chằm chằm về phía trước, gương mặt tái nhợt đầy căng thẳng.
“Ta tin tưởng Lưu tướng quân tuyệt đối trung thành với triều đình, như tin chính bản thân mình,” Chu Đô đốc hung hăng nói tiếp, “thế nhưng Đặng tướng quân đã nhiều năm kinh qua sa trường, chiến công hiển hách, nên ta không thể khinh suất mà mạo hiểm với an nguy của sơn hà xã tắc. Ta buộc phải chứng thực cáo trạng này, và phải xử lý thật nhanh. Kế sách cho cuộc phản công của quân đội Đại Đường đã được trù tính chu toàn. Lưu tướng quân sẽ cầm đầu mười lăm ngàn tinh binh tạo ra mũi dùi chọc thẳng vào Hữu quân Kiêu kỵ doanh Thát Đát. Sau đó, bản tướng sẽ dẫn mười lăm vạn quân mã vào trung lộ, đánh tan Trung quân Đại doanh Thát Đát, đuổi đám cẩu tặc ấy về lại thảo nguyên của chúng. Thế nhưng, đang có những dấu hiệu cho thấy gió sắp sửa đổi hướng, nếu bản tướng hoãn binh quá lâu thì chúng ta sẽ phải chiến đấu với bão tuyết và mưa đá táp thẳng vào mặt.
Ta đã kiểm tra tường tận quan quách của Thái tử trong hàng canh giờ, cùng với các thủ hạ giỏi nhất của Mâu tướng quân, nhưng chúng ta không thể tìm ra bất cứ một dấu hiệu nào cho thấy nó đã bị động tới. Đặng tướng quân vẫn khăng khăng cho rằng bọn chúng đã cạo một lớp sơn bên ngoài, khoét một cái lỗ, nhét thiết giáp vào trong rồi sơn lại một lớp như cũ. Theo y, có những kẻ chuyên nghiệp có thể làm được điều đó mà không để lại vết tích nào. Có thể đúng vậy, nhưng bản tướng buộc phải tìm ra bằng chứng xác thực. Có điều ta không thể mạo phạm quan quách của Thái tử. Không có sự ân chuẩn của Thánh thượng thì ngay cả một lớp sơn ta cũng không dám cạo. Nhưng nếu đem đầu đuôi sự tình tâu rõ với Thánh thượng, thì cũng phải mất mười ngày nửa tháng cả đi lẫn về. Mặt khác, ta không thể tấn công trước khi chắc chắn mọi lời cáo buộc của Đặng tướng quân là sai lầm. Nếu không thể phá giải được nghi án này trong vòng một canh giờ nữa thì bản tướng sẽ phải ra lệnh cho toàn bộ đại quân thoái lui. Địch Nhân Kiệt, ngươi tiến hành đi!”
Địch Công bước vòng quanh bộ quan quách của Thái tử, rồi ông cũng nhanh chóng săm soi bộ quan quách của Thái tử phi. Trỏ vào vài cây sào dài đang nằm dưới sàn, ông hỏi, “Những cái đó dùng để làm gì?”
“Ta đã cho lật nghiêng bộ quan quách,” Mâu tướng quân lạnh lùng nói, “để xác minh xem phần đáy có bị động tay động chân vào hay không. Tất cả những biện pháp có thể thì ta đều thực hiện rồi.”
Địch Công gật gù. Ông trầm ngâm nói, “Ta từng đọc bản mô tả về cung điện này. Ta nhớ trong đó viết rằng đầu tiên thi hài được đặt trong một chiếc hòm bằng vàng ròng, sau đó được cho vào trong một chiếc hòm bạc, và tiếp đến là vào trong hòm chì. Phần không gian trống xung quanh thi hài được lấp đầy bằng những đồ tùy táng và các bộ triều phục của Thái tử Điện hạ. Bản thân bộ quan quách này được làm bằng những thớt gỗ tuyết tùng nguyên khối, bao phủ bên ngoài là một lớp sơn mài. Hai năm sau đó, khi Thái tử phi qua đời cũng theo pháp chế như vậy. Vì nương nương từng yêu thích du hồ, nên đằng sau cung điện có đào một cái hồ lớn, với mô hình của những con thuyền từng được nương nương và các nữ quan sử dụng. Chính xác chứ ạ?”
“Dĩ nhiên,” Chu Đô đốc làu bàu. “Đó chỉ là thường thức thôi. Địch Nhân Kiệt, đừng có đứng đó mà nói nhăng nói cuội nữa! Vào chính sự đi!”
“Ngài có thể triệu tập cho hạ quan một trăm công binh được không, thưa tướng quân?”
“Để làm gì? Không phải bản tướng đã bảo là chúng ta không thể động tay vào bộ quan quách đó ư?”
“Thưa ngài, hạ quan e là bọn Thát Đát cũng biết rõ về những bộ quan quách này. Nếu chúng nhất thời chiếm được thành này, thì chúng sẽ đập vỡ những bộ quan quách ra để cướp bóc trân bảo. Nhằm phòng ngừa thi hài Điện hạ bị bọn mọi rợ đó mạo phạm, hạ quan đề nghị dìm quan quách xuống đáy hồ.”
Chu Đô đốc lặng người nhìn Địch Công. Đoạn ông ta gầm lên, “Ngươi, tên ngu xuẩn đáng nguyền rủa này! Ngươi không biết là những bộ quan quách ấy có khoang rỗng à? Chúng sẽ không đời nào chìm xuống đâu. Ngươi...”
“Không phải ý đó, thưa tướng quân!” Địch Công vội nói. “Thế nhưng kế hoạch đánh chìm sẽ tạo cho chúng ta một cái lý do xác đáng để dịch chuyển chúng.”
Chu Đô đốc trừng trừng nhìn Địch Công bằng độc nhãn hung tợn của mình. Chợt ông ta hét lớn, “Hoàng thiên chứng giám! Địch Nhân Kiệt, ta nghĩ là ngươi đã làm được!” Quay sang Mâu tướng quân, ông ta quát, “Mau phái một trăm công binh đến đây, đem theo thừng, chão và trục lăn! Ngay lập tức!”
Sau khi họ Mâu đã lao ra cầu thang, Đô đốc bắt đầu rảo bước qua lại trên sàn nhà, lẩm bẩm với chính mình. Lưu tướng quân ngấm ngầm quan sát Huyện lệnh. Địch Công vẫn đứng trước bộ quan quách của Thái tử, im lặng nhìn chằm chằm vào nó, tay ông khoanh lại trong ống tay áo dài.
Mâu tướng quân mau chóng quay trở lại. Những nam nhân rắn rỏi di chuyển theo một hàng tiến bước vào phía trong theo sau y. Bọn họ mặc áo khoác và quần dài bằng da nâu, đội mũ chóp cùng chất liệu, với vành tai và vành cổ dài. Một số vác những cọc gỗ lớn đã được vót tròn, số khác lăn những cuộn dây thừng, dây chão dày. Đó chính là lực lượng công binh, chuyên phụ trách đào đường hầm, lắp ráp dụng cụ phục vụ việc leo tường công thành, xây đập ngăn sông cùng tất cả những kĩ năng đặc biệt khác được sử dụng trong chiến tranh.
Sau khi Chu Đô đốc ra lệnh cho chỉ huy của họ, mười hai công binh chạy đến chiếc cổng cao ở phía sau hầm mộ và mở nó ra. Ánh trăng ảm đạm soi chiếu lên một gò đất cao rộng được lát đá cẩm thạch. Ba bậc thang dẫn xuống mặt hồ đang phủ một lớp băng mỏng.
Những công binh còn lại vây quanh bộ quan quách của Thái tử như những chú kiến thợ bận rộn. Không gian xung quanh khó mà nghe thấy tiếng động nào, vì các công binh chỉ truyền lệnh cho nhau bằng cách ra dấu tay. Bọn họ im ru đến nỗi có thể đào được một đường hầm ngay bên dưới một tòa nhà, mà những kẻ cư ngụ ở đó chỉ bắt đầu nhận thức được chuyện gì đang xảy ra khi các bức tường và sàn nhà bỗng dưng bị đánh sập. Ba mươi công binh lật nghiêng bộ quan quách của Thái tử, dùng những cọc gỗ dài như các đòn bẩy; một đội đặt trục lăn bên dưới nó, đội khác thì quàng những sợi chão dày vòng quanh bộ quan quách đồ sộ.
Đô đốc quan sát họ trong một lúc, rồi ông đi ra ngoài đến bên gò đất cao, Địch Công và các vị tướng quân nối gót theo sau. Bọn họ cứ lặng lẽ đứng bên mép nước, đăm đăm ngó nhìn về hướng mặt hồ đóng băng.
Bất chợt, họ nghe thấy thứ âm thanh ầm ầm trầm thấp kéo dài vang lên đằng sau mình. Một bộ quan quách khổng lồ chầm chậm lăn ra khỏi cổng. Ba mươi công binh kéo nó bằng những sợi dây thừng lớn, còn những kẻ khác tiếp tục đặt những trục lăn mới bên dưới nó. Bộ quan quách được kéo qua gò đất cao, rồi đưa xuống nước cứ như thể nó là một thân tàu cũ kĩ nặng nề đang được hạ thủy. Lớp băng nứt ra, bộ quan quách lắc lư một hồi, rồi khoảng hai phần ba chìm vào trong nước. Một cơn gió lạnh lẽo thổi trên mặt hồ đóng băng, và Địch Công bắt đầu ho dữ dội. Ông kéo cọ áo lên che khuất nửa dưới khuôn mặt mình, vẫy tay ra hiệu cho chỉ huy đội công binh rồi chỉ vào bộ quan quách của Thái tử phi trong hầm mộ phía sau lưng họ.
Lại một tiếng động ầm ầm trầm thấp vang lên. Bộ quan quách thứ hai lăn qua gò đất. Các công binh đưa nó xuống nước, để nó nổi bên cạnh bộ quan quách của Thái tử. Đô đốc khom người xuống quan sát kĩ hai bộ quan quách, so sánh mực nước. Hầu như không có sự khác biệt nào cả, nếu có thì đó là bộ quan quách của Thái tử phi hơi nặng hơn một chút.
Chu Đô đốc đứng thẳng dậy. Ông ta vỗ thật mạnh vào vai Lưu tướng quân. “Bản tướng biết mình có thể tin tưởng ngươi!” Ông hét lên. “Này, ngươi còn chờ gì nữa nào? Phát hiệu lệnh đi, dân quân tiến lên phía trước! Ba canh giờ nữa ta sẽ giục quân theo sau. Chúc thuận buồm xuôi gió!”
Một nụ cười dần tỏa sáng trên nét mặt lạnh lùng của họ Lưu. Y hành lễ cáo từ, rồi xoay người sải bước đi. Chỉ huy đội công binh bước đến và cung kính thưa với Chu Đô đốc:
“Bẩm tướng quân, bây giờ chúng ta nên buộc đá tảng vào hai bộ quan quách này, rồi chúng ta...”
“Ta đã phạm phải một sai lầm,” Đô đốc xẵng giọng ngắt lời y. “Hãy kéo chúng lên bờ, rồi đưa vào vị trí cũ.” Rồi ông quát Mâu tướng quân, “Hãy đem theo một trăm binh sĩ tới doanh trại của Đặng tướng quân bên ngoài cổng Tây. Bắt giữ Đặng tướng quân vì tội mưu phản, rồi gông lại và áp giải hắn đến kinh thành. Cao tướng quân sẽ tiếp quản quân sĩ của hắn.” Sau đó, ông ta quay sang Địch Công, nãy giờ vẫn còn đang ho. “Ngươi hiểu chuyện này mà, đúng không? Đặng tướng quân cao niên hơn Lưu tướng quân, hắn không thể nuốt trôi việc họ Lưu được bổ nhiệm lên cùng cấp bậc với mình. Ngươi không nhận ra sao, chính Đặng tướng quân mới là kẻ đã thông đồng với gã Khả hãn kia? Cái trò cáo buộc tưởng tượng của hắn chỉ để nhằm ngăn cản cuộc phản công của chúng ta. Hắn sẽ hiệp đồng cùng lũ Thát Đát tấn công ngay khi đại quân của chúng ta vừa bắt đầu lui binh. Dừng cái cơn ho chết tiệt ấy đi, Địch Nhân Kiệt! Nó làm ta thấy bực mình rồi đó. Chúng ta rời khỏi nơi này thôi, đi theo bản tướng nào!”
Soái trướng giờ đang như nước sôi lửa bỏng. Những tấm địa đồ lớn được trải rộng khắp dưới sàn. Các vị tướng quân đang kiểm tra lại mọi chi tiết của cuộc phản công đã được trù tính trước đó. Một vị hào hứng thưa với Đô đốc:
“Bẩm tướng quân, còn về việc bổ sung thêm năm ngàn quân cho đội phục binh phía sau dãy đồi này thì sao ạ?”
Chu Đô đốc cúi khom người trên tấm địa đồ. Chẳng mấy chốc, họ lại đắm chìm vào một cuộc bàn luận phức tạp về binh pháp chốn sa trường. Địch Công lo âu nhìn về phía chiếc đại thủy biểu nằm trong góc. Phần nước ngập cho thấy bình minh sẽ đến trong nửa canh giờ nữa. Ông tiến đến bên Chu Đô đốc và dè dặt hỏi:
“Bẩm tướng quân, hạ quan mạn phép xin ngài ban cho một ân huệ được không?”
Chu Đô đốc thẳng người dậy. Ông gắt gỏng hỏi:
“Hả? Giờ là chuyện gì đây?”
“Hạ quan mong ngài tra xét lại vụ án một Đội chính họ Ngô. Y sẽ bị xử trảm lúc bình minh, nhưng y vô tội.”
Chu Đô đốc tím mặt. Ông ta gầm lên:
“Quân tình cực kỳ gấp gáp, như lửa cháy xém lông mày, ta đâu có rảnh rỗi đi phúc thẩm một vụ án của quân pháp ty đã quyết? Ta còn đang phải suy nghĩ cho tính mạng của mười vạn binh sĩ...”
Địch Công kiên định nhìn vào con mắt đang trợn tròn kia. Ông điềm tính nói, “Mười vạn binh sĩ cũng sẽ buộc phải hy sinh nếu vì giang sơn xã tắc, vì những yêu cầu cấp thiết của quân đội để đại cuộc cáo thành. Thế nhưng, ngay cả một nhân mạng nhỏ nhoi cũng không được đánh mất nếu không hoàn toàn cần thiết.”
Chu Đô đốc tuôn ra một tràng chửi tục, nhưng rồi ông ta chợt khựng lại. Vừa cười ông vừa nói, “Địch Nhân Kiệt, nếu có lúc nào ngươi phát chán công vụ dân sự hào nhoáng rỗng tuếch ấy thì hãy đến gặp ta. Hoàng thiên chứng giám, bản tướng sẽ nhào nặn ngươi thành một vị thống soái! Ngươi nói là phúc thẩm một vụ án ư? Vớ vẩn, ta sẽ giải quyết nó, bây giờ và ngay tại đây! Ngươi truyền lệnh đi!”
Địch Công quay sang một Hiệu úy vừa chạy về phía họ khi y nghe thấy Đô đốc chửi rủa. Huyện lệnh nói, “Ở tiền sảnh có một Đội chính họ Phan đang đợi ta. Hắn đã cáo buộc tội sát nhân oan uổng cho một Đội chính khác. Ông có thể mang hắn đến đây không?”
“Đưa cả thượng cấp của hắn tới đây!,” Chu Đô đốc bổ sung. “Ngay lập tức!”
Trong lúc Hiệu úy gấp gáp đi về phía cửa, một tiếng kèn rền rĩ vang lên từ bên ngoài. Âm lượng của nó mạnh mẽ dần, len lỏi qua các bức tường dày của cung điện. Đó là tiếng tù và ngân dài, phát tín hiệu tập hợp cho cuộc tấn công.
Chu Đô đốc vươn bờ vai rộng. Ông cười nói:
“Nghe kìa, Địch Nhân Kiệt! Đó là thứ âm nhạc tuyệt diệu nhất từ trên đời!” Sau đó, ông ta quay lại với mấy tấm địa đồ trên sàn nhà.
Địch Công dán mắt nhìn chăm chăm vào cửa. Chỉ trong chớp mắt, Hiệu úy đã quay trở lại. Một lão tướng quân tiến vào, Phan Đội chính theo sau. Địch Công bẩm với Chu Đô đốc, “Thưa tướng quân, họ đây.”
Đô đốc quay ngoắt lại, đặt ngón tay cái vào trong đai đeo kiếm và quắc mắt với hai nam nhân vừa đến. Họ yên lặng đứng thẳng người, hai chân khép lại, tay áp sát sườn, với ánh mắt vô cùng chuyên chú. Đây là lần đầu tiên bọn họ được diện kiến chiến binh vĩ đại nhất của vương triều. Nam nhân hộ pháp ấy cáu kỉnh bảo vị tướng quân lớn tuổi:
“Báo cáo về gã Đội chính này!”
“Một chỉ huy xuất sắc, luôn tuân thủ quân lệnh. Không thể hòa thuận với đồng đội, không có kinh nghiệm trận mạc...” Vị lão tướng tuôn ra một tràng dài.
“Còn vụ án của ngươi?” Đô đốc hỏi Địch Công.
Huyện lệnh lạnh lùng nói với viên Đội chính trẻ tuổi, “Phan Đội chính, ngươi không phù hợp để thành thân. Ngươi không thích nữ nhân. Ngươi thích đồng đội họ Ngô của mình, nhưng hắn đã hắt hủi ngươi. Để rồi sau đó, ngươi đã siết cổ phu nhân mình, và ngậm máu phun người, vu cáo họ Ngô.”
“Thật thế không?” Đô đốc quát vào mặt họ Phan.
“Đúng, thưa tướng quân.” Phan Đội chính đáp lời như thể đang bị thôi miên.
“Đưa hắn ra ngoài,” Chu Đô đốc lệnh cho Hiệu úy “rồi dùng trượng hình, từ từ đánh chết hắn.”
“Thưa ngài, hạ quan cầu xin sự khoan hồng!” Địch Công vội can thiệp. “Gã Đội chính này phải thành thân theo lệnh của phụ thân hắn. Tạo hóa đã định ra hắn khác biệt, và hắn không thể đương đầu với những hậu quả phát sinh từ sự khác biệt đó. Hạ quan xin đề nghị thi hành án đơn giản thôi.”
“Ân chuẩn!,” rồi Đô đốc nói với họ Phan, “Ngươi có thể chết hiên ngang như một viên tướng xông pha sa trường, đầu đội trời chân đạp đất chứ?”
“Vâng, thưa tướng quân!” Họ Phan lần nữa cất lời.
“Giúp hắn đi!” Đô đốc quát vị lão tướng.
Phan Đội chính nới lỏng chiếc khăn choàng cổ màu tía của mình rồi trao nó cho thượng cấp. Sau đó, hắn rút kiếm ra. Quỳ xuống trước mặt Đô đốc, họ Phan cầm chuôi kiếm bằng tay phải mình, và nắm lấy mũi kiếm nơi tay trái. Lưỡi kiếm sắc nhọn cắt sâu vào những ngón tay, nhưng dường như hắn không hề để ý đến điều đó. Vị lão tướng tiến lại gần nam nhân đang quỳ, trải rộng chiếc khăn choàng cổ trên tay. Ngẩng đầu lên, họ Phan ngó nhìn thân hình cao sừng sững của Chu Đô đốc. Hắn hô to:
“Thánh thượng vạn tuế, vạn vạn tuế!”
Rồi bằng một cử chỉ dứt khoát, hắn cứa vào cổ họng mình. Vị lão tướng nhanh chóng cột chặt khăn choàng quanh phần cổ của nam nhân đang ngã xuống để cầm máu lại. Đô đốc gật đầu. Ông nói với thượng cấp của họ Phan, “Phan Đội chính đã chết như một tướng sĩ. Hãy đi lo liệu để hắn được an táng theo nghi lễ quân doanh!” Rồi ông nói với Địch Công, “Ngươi hãy trông nom cho gã Đội chính kia. Phóng thích hắn, phục hồi lại phẩm hàm cũ, và những chuyện liên quan khác.” Sau đó, Đô đốc lại cúi xuống tấm địa đồ và quát vị tướng quân kia, “Đặt thêm năm ngàn quân tại lối ra vào của thung lũng này!”
Trong lúc bốn tên lính khiêng thi thể của họ Phan ra ngoài, Địch Công đi đến chiếc án thư lớn, tóm lấy một cây bút rồi mau chóng viết sơ lược vài dòng lên một tờ văn thư công vụ của Đô đốc phủ. Một Hiệu úy đóng dấu đại triện vuông vức của Chu Đô đốc lên đó, rồi phê chuẩn. Trước khi chạy ra ngoài, Địch Công liếc vội chiếc đại thủy biểu. Ông vẫn còn hai khắc nữa.
Ông phải mất khoảng thời gian dài để đi hết một quãng đường ngắn từ cung điện tới đại lao của quân doanh. Trên phố tấp nập kỵ binh qua lại; họ cưỡi ngựa thành sáu hàng sánh vai nhau, tay lăm lăm giơ cao trường kích. Đó là thứ vũ khí lợi hại mà bọn Thát Đát vô cùng khiếp sợ. Hàng hàng chiến mã trông có vẻ đã được ăn uống no đủ, giáp trụ che phủ sáng bừng dưới những tia nắng đỏ rực của sớm bình minh. Đó chính là những tinh binh trong đội quân tiên phong do Lưu tướng quân chỉ huy. Tiếp đó là âm thanh sâu thẳm của trống đánh vang rền, hiệu lệnh cho đoàn quân của Chu Đô đốc hòa vào để cùng hợp binh tác chiến. Một cuộc phản công vĩ đại, bừng bừng khí thế đã bắt đầu.
Tờ văn thư có dấu triện của Chu Đô đốc đã giúp Địch Công được vào gặp Giám ngục ngay tức khắc. Một nam nhân dáng vóc cường tráng được bốn lính canh đưa vào; chiếc cổ dày như của một đấu sĩ của y đã được lột trần, sẵn sàng cho lưỡi gươm của đao phủ. Giám ngục đọc to bức văn thư với y, sau đó hắn ra lệnh cho Chủ sự võ khố hỗ trợ Ngô Đội chính mặc lại giáp trụ. Lúc họ Ngô đã đội mũ sắt vào, Giám ngục tự mình trao lại kiếm cho y. Địch Công nhận ra tuy họ Ngô trông không quá khôn khéo, lanh lợi, nhưng y lại có một gương mặt cởi mở, dễ chịu. “Đi theo ta!,” ông nói với y.
Ngô Đội chính ngẩn người nhìn chằm chằm vào chiếc mũ đen nhánh của Huyện lệnh, rồi thắc mắc:
“Làm thế nào mà ngài lại liên đới đến vụ án này, thưa Huyện lệnh đại nhân?”
“Ồ,” Địch Công lơ đãng đáp lời, “ta tình cờ có mặt tại đại bản doanh lúc vụ án của ngươi được phúc thẩm. Do hiện giờ ở đó, tất cả bọn họ đều đang rất bận rộn, nên họ bảo ta hãy lo liệu mấy thủ tục này.”
Khi cả hai bước ra ngoài phố, Ngô Đội chính lẩm bẩm:
“Ty chức ở trong đại lao gần một năm rồi. Ty chức chẳng có nơi nào để đi cả.”
“Ngươi có thể đi cùng ta,” Địch Công nói.
Trong lúc bọn họ đang đi, Ngô Đội chính nghe thấy âm thanh vang rền của tiếng trống trận. “Ra thế, vậy là cuối cùng quân ta cũng đang tấn công phải không?,” y ủ ê nói. “Tốt, ty chức được phóng thích vừa kịp lúc để gia nhập vào hàng ngũ đại quân. Chí ít Ngô mỗ cũng sẽ có đất dụng võ. Mặc dù chết trận ở nơi sa trường, nhưng sẽ lưu danh thiên cổ, không uổng là nam nhi một đời.”
“Tại sao ngươi cứ nhất nhất tìm đến cái chết thế?” Địch Công hỏi.
“Tại sao ư? Bởi vì ty chức là một kẻ ngu xuẩn, đó là lý do! Ty chức chẳng bao giờ chạm vào Phan thị cả, nhưng lại đã phụ bạc một nữ nhân tử tế từng đến thăm mình trong ngục tối. Chấp pháp quân đã đánh nàng ấy đến diết.”
Địch Công vẫn giữ im lặng. Bây giờ, họ đang băng ngang qua một con ngõ nhỏ yên ắng. Ông dừng lại trước một ngôi nhà tồi tàn được dựng sát gian nhà kho bỏ không. “Chúng ta đang ở đâu đây?” Ngô Đội chính hỏi, vẻ kinh ngạc.
“Một nữ nhân can trường, cùng với hài tử mà nàng đã sinh ra cho ngươi, đang sống ở đây,” Địch Công ngắn gọn đáp. “Đây là tổ ấm của ngươi đó, Ngô Đội chính. Cáo từ.”
Ông mau chóng bước đi.
Khi Địch Công vòng qua góc phố, một luồng gió lạnh buốt thổi tuyết vào mặt ông. Ông kéo cổ áo lên che mũi miệng mình lại, cố kìm một cơn ho. Ông hy vọng là các gia nhân đã lo liệu chu toàn ở khách điếm. Ông chỉ hy vọng về đến nơi sẽ được uống một chén trà lớn nóng hổi.