Trong cơn đau đớn vật vờ
Án oan thật giả, ai ngờ được đâu...
Lòng người ai biết nông sâu
Dở hay nhắm mắt, trôi mau kiếp người.
-Tùng Vũ-
---❊ ❖ ❊---
Bối cảnh của câu chuyện này cũng diễn ra tại Lan Phường. Theo thông lệ, nhiệm kỳ của một Huyện lệnh là ba năm. Thế nhưng vào cuối năm 674 sau Công nguyên, khi Địch Công đã phụng sự triều đình bốn năm ở Lan Phường, ông vẫn chưa nhận được bất cứ tin tức gì từ kinh thành. Đây là câu chuyện kể về những sự việc đã xảy ra vào buổi tối cuối cùng của cái năm ảm đạm ấy. Trong những vụ án lớn mà Địch Công từng phá trước kia, các giả thuyết của ông luôn được chứng tỏ là đúng đắn vào đoạn kết. Tuy nhiên, độc giả sẽ thấy rằng ở vụ án đặc biệt này, Địch Công đã phạm phải hai sai lầm to lớn. Nhưng trái với lẽ thường, lần này hai sai lầm lại tạo nên một điều đúng đắn!
Địch Công bỏ tập hồ sơ cuối cùng vào ngăn kéo của án thư và khóa lại, ông đột nhiên rùng mình. Ông đứng dậy và kéo chiếc áo choàng độn bông sát hơn vào thân hình cao lớn của mình, bước dọc theo thư phòng lạnh lẽo, trống trải đến bên cửa sổ. Ông đẩy nó mở tung ra, tuy nhiên sau một thoáng nhìn vào khoảng sân tối om bên ngoài nha phủ, Địch Công nhanh chóng kéo cửa đóng sập lại. Tuyết đã ngừng rơi nhưng có một cơn gió băng giá lạnh lẽo suýt thổi tắt phụt ngọn nến trên án thư.
Địch Công đi đến chiếc trường kỷ kê sát bức tường chắn. Thở dài, ông bắt đầu gấp những tấm mền bông lại. Đêm đó, đêm cuối cùng của một năm mệt mỏi đã trôi qua, là năm thứ tư ông ngụ ở Lan Phường, Địch Công sẽ ngủ trong thư phòng. Vì tư gia của ông ở phía sau của nha phủ giờ đang vắng vẻ, chỉ có vài nô bộc. Cách đây hai tháng, Đại phu nhân đã khởi hành về thăm mẫu thân của mình ở quê nhà, hai vị phu nhân kia cùng với nhi tử của ông đã tháp tùng bà trên đường, đi cùng họ là lão quân sư trung thành của ông, Hồng Lượng. Họ sẽ sớm quay lại khi tiết xuân sang chớm nở, nhưng nhìn khung cảnh ban đêm lạnh lẽo và thê lương ảm đạm này, có vẻ như mùa xuân còn rất lâu mới tới.
Với tay lấy cái ấm để châm chén trà cuối cùng, Địch Công cảm nhận tinh thần của mình đã lạc trôi đi đâu hết rồi bởi tiết trời đang ngày càng giá lạnh hơn. Ông định vỗ tay gọi Lục sự, lại chợt nhớ ra mình đã cho tất cả người của nha phủ, kể cả ba trợ thủ riêng, được nghỉ ngơi đêm nay. Những nam nhân duy nhất còn lại ở đây là các Bộ khoái đang thực thi nhiệm vụ canh gác tại cổng chính. Kéo chiếc mũ da xuống che tai, ông cầm giá nến lên và đi qua công đường tối tăm của nha phủ để đến đồn gác.
Bốn Bộ khoái đang ngồi xổm quanh một đống lửa cháy sáng rực ở giữa sàn đá vội đứng bật dậy khi trông thấy Địch Công tiến vào và hấp tấp chỉnh trang ngay ngắn tề chỉnh lại mũ sắt của mình. Huyện lệnh chỉ có thể nhìn thấy được tấm lưng to bè của Bộ đầu. Y đang đứng nghiêng người dựa vào cửa sổ, miệng nguyền rủa nhiếc mắng một kẻ nào đó bên ngoài.
“Này” Địch Công quát y. Khi Bộ đầu quay lại và cúi đầu thi lễ, Địch Công nói xẵng, “Đêm giao thừa mà làm sao mở miệng ra đã chửi mắng người khác?”
Bộ đầu lầu bầu gì đó về một tiểu hài tử nhếch nhác, láo xược cả gan lao vào nha phủ vào đêm giao thừa thế này. “Một tiểu hầu tử muốn thuộc hạ tìm mẫu thân cho nó!” Y nói thêm, vẻ chán ghét, “Thuộc hạ là bảo mẫu chắc?”
“Không đâu!” Địch Công lạnh nhạt đáp. “Nhưng tóm lại là có chuyện gì thế?,” ông bước đến gần cửa sổ và nhìn ra ngoài. Ở con đường bên dưới, một nam hài nhỏ thó đang ngồi co ro nép mình vào bức tường như thể muốn tìm một chỗ nương náu để cố chống lại cơn gió băng hàn lạnh lẽo. Ánh trăng soi rọi lên gương mặt lấm lem nước mắt của nó. Tiểu hài tử khóc nấc, “Mẫu thân... mẫu thân đi đâu rồi? Sao trên sàn toàn là máu. Hài nhi bị trượt chân ngã ...”
Tiểu hài tử nhìn chằm chằm đôi bàn tay nhỏ nhắn, rồi cố chà chúng sạch sẽ vào chiếc áo vá chằng vá đụp mỏng manh của mình. Địch Công nhìn thấy những vết bẩn màu đỏ. Vội vàng quay lại, ông ra lệnh cho Bộ đầu, “Dắt ngựa ra đây và dẫn hai thuộc hạ đi theo ta.”
Ngay khi vừa ra ngoài, Địch Công liền nhấc hài tử đặt lên yên ngựa. Rồi ông đặt chân lên bàn đạp và chậm rãi leo lên ngựa, ngồi phía sau hài tử. Thoáng nhăn mặt, ông nhớ lại cách đây không lâu, một Địch Nhân Kiệt oai phong lẫm lẫm vẫn có thể nhảy phắt lên ngựa thật dễ dàng. Vậy mà một chút bệnh thấp khớp gần đây đã khiến ông phiền muộn. Đột nhiên, Địch Công cảm thấy mệt mỏi và già nua. Bốn năm ở Lan Phường... Ông cố bình tĩnh lại. Địch Công nói bằng giọng vui vẻ với hài tử đang khóc nức nở, “Bây giờ chúng ta sẽ đi cùng nhau và tìm mẫu thân cho cháu! Phụ thân của cháu là ai và cháu sống ở đâu?”
“Phụ thân cháu họ Vương, bán hàng rong,” hài tử nói, cố nuốt nước mắt, “Gia đình cháu sống ở con ngõ nhỏ thứ hai tính từ phía Tây miếu Khổng Tử, cách cửa sông không xa.”
“Vậy dễ thôi,” Địch Công nói. Ông cẩn thận giục ngựa chạy dọc theo con đường phủ đầy tuyết. Bộ đầu và hai Bộ khoái lặng lẽ cưỡi ngựa bám theo sau. Một cơn gió mạnh thổi tuyết từ các mái nhà rơi xuống lộp bộp. Những hạt tuyết xốp mịn đập vào mặt họ, rát như kim châm. Lau mắt, Địch Công hỏi lại lần nữa, “Cháu tên là gì, tiểu hài tử?”
“Cháu là Tiểu Bảo, thưa đại nhân.” Tiểu hài tử trả lời, giọng trẻ thơ vẫn còn run sợ.
“Tiểu Bảo, có nghĩa là một kho báu nhỏ,” Địch Công nói. “Thật là một cái tên hay. Bây giờ phụ thân của cháu đang ở đâu?”
“Cháu không biết, thưa ngài!” Tiểu hài tử kêu lên đầy khổ sở. “Khi vừa trở về nhà, phụ thân đã cãi nhau dữ dội với mẫu thân. Mẫu thân chẳng chuẩn bị bữa tất niên gì cả. Mẫu thân nói trong nhà không còn chút mì nào hết. Sau đó... sau đó, phụ thân bắt đầu trách mắng mẫu thân, bảo mẫu thân cứ theo lão chủ tiệm cầm đồ họ Thẩm đi. Mẫu thân bắt đầu khóc, và cháu chạy ra ngoài. Cháu nghĩ không chừng mình có thể mua chịu được một gói mì từ tiệm tạp hóa để làm cho phụ thân vui vẻ trở lại. Nhưng có một đám đông đứng trước tiệm, cháu không chen vào được, đành phải tiu nghỉu trở về nhà. Nhưng rồi phụ mẫu đều không còn ở đó nữa, chỉ có máu, đầy khắp sàn. Cháu trượt chân và...”
Tiểu hài tử bật khóc nức nở, tấm lưng bé nhỏ run lên bần bật. Địch Công kéo hài tử sát vào lòng mình, ủ nó trong vạt áo lông thú ông đang mặc. Họ tiếp tục cưỡi ngựa trong thinh lặng.
Khi nhìn thấy cánh cổng lớn của miếu Khổng Tử hiện ra lờ mờ phía xa, thấp thoáng in bóng trên nền bầu trời mùa đông, Địch Công xuống ngựa. Đặt hài tử xuống cùng, ông nói với Bộ đầu, “Chúng ta gần đến nơi rồi, hãy buộc ngựa lại đây, ngay tại cổng. Tốt hơn là chúng ta nên bất ngờ đến đó, đừng cao giọng nói chuyện.”
Họ tiến vào một ngõ hẹp, hai bên là những dãy nhà gỗ xiêu vẹo đổ nát. Tiểu hài tử chỉ tay vào một cánh cửa đang khép hờ. Ánh sáng chập choạng lờ mờ hắt ra từ phía sau cửa sổ dán giấy, nhưng tầng hai thì lại đèn đuốc sáng choang, tiếng ồn ào lộn xộn của những âm thanh la hét, hát hò vọng ra từ đó.
“Ai sống trên đó?” Địch Công hỏi và dừng lại trước cửa.
“Đó là nhà bác thợ may họ Lưu,” hài tử nói. “Tối nay nhà họ mở tiệc rượu, mời rất nhiều khách.”
“Cháu hãy dẫn đường cho Bộ đầu thúc thúc lên trên đó nhé Tiểu Bảo,” Địch Công nói. Quay sang Bộ đầu, ông hạ thấp giọng nói tiếp, “Để hài tử ở lại trên đó với mọi người, nhưng mang gã họ Lưu xuống đây để ta thẩm vấn.” Rồi ông tiến vào nhà, theo sau là hai Bộ khoái.
Gian phòng lạnh lẽo, trống trải được thắp sáng chỉ nhờ một ngọn nến leo lét đặt trên cái giá ọp ẹp trong tít góc phòng. Ở chính giữa, trên một chiếc bàn lớn được đóng hết sức sơ sài có đặt ba chiếc bát bằng đất nung nứt nẻ, ở đầu bàn là một con dao pha làm bếp vấy đầy máu đang nằm lay lắt. Trên sàn nhà lát đá đọng lại một vũng lớn.
Chỉ tay vào con dao pha, Bộ khoái đứng tuổi hơn bình luận:
“Dính nhiều máu như vậy, con dao này chắc hẳn là hung khí rồi, thưa ngài!”
Địch Công gật đầu. Ông cảm nhận vết máu dính trên dao bằng ngón trỏ của mình và phát hiện nó vẫn còn ướt. Nhìn quanh, ông nhanh chóng quan sát phần không gian còn lại của gian phòng tối lờ mờ. Dựa lưng vào bức tường chắn là chiếc trường kỷ lớn với tấm màn lam đã bạc màu, cùng với một chiếc giường nhỏ không rèm được kê sát vào tường bên trái, hiển nhiên là giường của hài tử. Vách tường trát vữa đã bong tróc, đôi chỗ được chắp vá vụng về. Địch Công đi đến cánh cửa đóng kín kế bên khung giường. Nó dẫn đến một gian bếp nhỏ tẹo. Đống tro tàn trong bếp lò đã nguội lạnh.
Khi ông bước trở lại căn phòng, Bộ khoái trẻ tuổi hơn bình phẩm với giọng coi thường:
“Đây không phải là một nơi đáng để bọn cướp ghé thăm, thưa đại nhân! Thuộc hạ từng nghe nói về gã bán rong họ Vương này, hắn nghèo mạt rệp!”
“Động cơ là ái tình,” Địch Công nói gọn. Ông chỉ vào chiếc khăn tay lụa nằm trên sàn, gần cái giường. Ánh sáng nhấp nháy của ngọn nến soi rọi lên một chữ Thẩm lớn, được thêu bằng chỉ vàng. “Sau khi hài tử rời khỏi nhà để đi mua mì,” Địch Công tiếp tục nói, “Gã bán rong tìm thấy chiếc khăn tay này, do tên gian phu bỏ lại. Máu nóng bốc lên dẫn đến trận cãi cọ kịch liệt, điều này đã quá sức chịu đựng của một nam nhân. Y cầm lấy con dao pha và sát hại vợ mình. Một câu chuyện không mới, cũng chẳng hiếm thấy ở đời.” Ông nhún vai, đoạn nói tiếp, “Hắn chắc đã đi phi tang thi thể rồi. Gã bán hàng rong này có phải là một nam nhân khỏe mạnh không?”
“Khỏe như vâm, thưa đại nhân,” Bộ khoái đứng tuổi đáp. “Thuộc hạ thường thấy y quanh đây, đi bộ trên đường từ sáng sớm đến tận buổi đêm, quẩy gánh hàng nặng trịch ấy trên lưng.”
Địch Công liếc nhìn gánh hàng vuông vức to lớn được phủ vải dầu đang nằm kế bên cánh cửa. Ông chậm rãi gật đầu.
Bộ đầu đi vào, đẩy ra trước mặt mình một nam nhân gầy khẳng khiu và cao lòng ngòng. Gã có vẻ đang say túy lúy. Đi đứng loạng choạng, gã trao cho Huyện lệnh một cái nhìn lờ đờ từ đôi mắt ti hí, gian xảo của mình. Bộ đầu nắm lấy cổ áo và buộc gã quỳ gối. Địch Công khoanh tay trong ống tay áo rộng, nói cộc lốc, “Một vụ án mạng đã xảy ra ở chốn đây. Hãy kể lại chính xác những gì mà ngươi từng mắt thấy tai nghe!”
“Chắc chắn là lỗi của nữ nhân đó!,” gã thợ may líu lưỡi nói. “Ả luôn quanh quẩn khắp nơi, nữ nhân như thế thì có gì tử tế? Ả thậm chí còn chưa bao giờ để mắt đến một đấng trượng phu đường hoàng như tiểu nhân!” Gã ợ lên. “Trong mắt ả, tiểu nhân và phu quân của ả đều là những kẻ nghèo hèn. Dâm phụ đó chỉ biết đến ngân lượng của lão chủ tiệm cầm đồ mà thôi!”
“Coi chừng miệng lưỡi của ngươi đó,” Địch Công giận dữ nói. “Và hãy trả lời câu hỏi của ta! Trần nhà ở đây chỉ làm bằng những tấm ván mỏng; chắc chắn ngươi phải nghe được họ gây gổ với nhau.”
Bộ đầu đá gã một cước vào mạng sườn và quát:
“Nói đi.”
“Kẻ hèn này không nghe thấy gì cả, thưa đại nhân!,” gã thợ may kinh sợ rên rỉ. “Những kẻ trên lầu tất thảy đều say sưa túy lúy hết, bọn chúng đang la hét và hát hò từ nãy đến giờ! Chuyết kinh đã đánh đổ một cái chậu gỗ lớn và nàng quá say nên không buồn lau chùi. Tiểu nhân đã phải lay nàng ta mãi thì nàng ta mới bắt tay vào dọn dẹp.”
“Không có ai rời khỏi phòng chứ?” Địch Công hỏi.
“Không ai cả!,” gã thợ may lẩm bẩm. “Tất cả đều mải xem Lý đồ tể mổ lợn! Và ai phải nướng thịt nào? Tiểu nhân chứ ai! Những kẻ kia chỉ biết nốc ừng ực rượu của Lưu mỗ, thậm chí bọn họ lười biếng đến mức chẳng thèm canh cho than còn ấm lửa để cháy nữa chứ! Căn phòng ám đầy khói đến nỗi tiểu nhân phải mở tung cửa sổ ra. Rồi tiểu nhân trông thấy ả dâm phụ kia bất thình lình chạy vọt đi!”
Địch Công nhíu mày. Ông suy nghĩ trong chốc lát, đoạn hỏi, “Phu quân của nàng ta có đi cùng không?”
“Ả muốn hắn đi cùng chắc?” Gã thợ may cười chế nhạo, “Ả chỉ nên đi một mình thôi.”
Huyện lệnh mau chóng quay lại. Ông cúi xuống và quan sát sàn nhà. Địch Công để ý giữa các dấu chân lộn xộn vấy đầy máu là dấu vết của đôi hài mũi nhọn nhỏ bé dẫn ra cánh cửa. Ông hỏi gã thợ may, giọng căng thẳng, “Nàng ta đi hướng nào?”
“Về phía cửa sông!” Gã nam nhân ủ rũ trả lời.
Địch Công kéo chiếc áo khoác lông thú sát quanh mình. “Dẫn kẻ này lên lầu!,” ông ra lệnh cho các Bộ khoái. Đi ra phía cửa, Địch Công vội vã thì thầm với Bộ đầu, “Ngươi đợi ta ở trong này. Khi họ Vương trở về, hãy bắt giữ hắn! Lão chủ tiệm cầm đồ chắc hẳn đã vội vã ghé qua nơi này để lấy chiếc khăn tay của mình, nào ngờ ngay khi ấy, họ Vương - vừa cãi nhau với vợ - đã phát hiện ra. Họ Vương xuống tay giết họ Thẩm, còn vợ hắn thì đã bỏ trốn.”
Địch Công đi ra ngoài, ông nặng nề bước trên con đường tuyết rơi trắng xóa để tới con phố kế bên. Ông lên ngựa và giật cương phi thẳng đến cửa sông, hối hả lao đi nhanh nhất có thể. Một cái chết đã là quá đủ, ông nghĩ.
Đến cuối những bậc thang bằng đá dẫn lên tháp canh, ông nhảy xuống và vội vã đi lên cầu thang dốc, trơn trượt do tuyết đóng băng. Trên đỉnh tháp, ông trông thấy một nữ nhân đang đứng tại lan can phía xa nhất. Nàng quấn áo choàng quanh thân, cong mình nhìn xuống dòng nước lượn lờ chảy trong con hào bao quanh thành ở phía xa bên dưới.
Địch Công phóng đến trước mặt nàng, đặt bàn tay mình lên cánh tay nữ nhân. “Nàng không nên làm thế, Vương nương!,” ông nghiêm nghị nói. “Tự tử cũng sẽ chẳng mang được người chết về dương thế!”
Nữ nhân lùi bước lại, dựa lưng vào bức tường thành lởm chởm lỗ châu mai. Nàng nhìn Huyện lệnh với cặp mắt thảng thốt, đôi môi mấp máy sợ hãi. Địch Công nhận thấy mặc dù sắc mặt nàng u sầu và hốc hác, nhưng cũng có mấy phần tư sắc.
“Ngài là quan viên của nha phủ!,” nữ nhân ấp úng. “Vậy ra họ đã phát hiện phu quân tội nghiệp của ta chính là kẻ sát nhân! Và đó đều là lỗi của ta!” Nàng nói rồi khóc òa lên nức nở vì thương tâm.
“Có phải lão chủ tiệm cầm đồ họ Thẩm đã bị phu quân nàng hạ sát không?” Địch Công hỏi.
Nàng khổ sở gật đầu, rồi thét lên:
“Ta thật là một kẻ ngu ngốc! Ta thề là không có gì bất chính xảy ra giữa họ Thẩm với ta; ta chỉ muốn trêu chọc phu quân mình đôi chút..Nàng gạt một lọn tóc ướt trên trán. “Thẩm lão gia đã đặt ta thêu một bộ khăn tay lụa để làm món quà mừng năm mới tặng cho tiểu thiếp. Ta đã không nói với phu quân mình, ta muốn làm chàng ngạc nhiên với số ngân lượng kiếm được. Tối nay, khi Vương lang phát hiện chiếc khăn tay cuối cùng ta đang làm, chàng đã đi lấy con dao làm bếp, hét lên rằng mình sẽ giết chết họ Thẩm và ta. Ta phải lẩn trốn ra ngoài; định đi tới tư gia của tỷ tỷ ở con phố kế bên, nhưng nhà đã khóa cửa, tỷ tỷ đi ra ngoài rồi. Ta không biết làm sao, nên đành quay về nhà, lại thấy phu quân đã đi rồi và... trong phòng toàn máu là máu.”
Nàng lấy hai bàn tay che mặt, rồi lại thổn thức khóc, “Thẩm lão gia... chắc hẳn đã tới chỉ vì chiếc khăn tay, vậy mà... Vương lang không phân tốt xấu, đã giết chết lão. Đó đều là lỗi của ta, giờ hại một mạng người, phu quân cũng vướng vào vòng lao lý, làm sao ta có thể tiếp tục sống trên cõi đời này đây...?” Nói rồi nước mắt lại rơi như mưa.
“Hãy nhớ rằng nàng còn một hài tử phải chăm sóc,” Địch Công ngắt lời Vương thị. Ông nắm chặt cánh tay nàng và dẫn xuống cầu thang.
Trở lại nhà họ Vương, ông bảo Bộ đầu đưa nữ nhân ấy lên lầu. Khi y đã làm xong, Địch Công nói, “Chúng ta sẽ đứng gần cửa, dựa sát vào tường. Chúng ta chỉ phải đợi kẻ sát nhân quay về. Họ Vương đã hạ sát họ Thẩm ở nơi này, sau đó đi ra ngoài để che giấu thi thể của nạn nhân. Hắn ta dự tính quay lại chốn đây để dọn dẹp sạch sẽ chỗ máu đó, nhưng nhi tử của hắn đã đưa chúng ta đến trước, và kế hoạch của họ Vương sụp đổ hoàn toàn.” Sau một hồi, ông nói thêm với một tiếng thở dài, “Ta lấy làm tiếc cho hài tử đó, thật là một tiểu bằng hữu đáng yêu!”
Bốn nam nhân đứng dựa lưng sát vách, mỗi bên cánh cửa là hai người, Địch Công đứng cạnh gánh hàng của họ Vương. Ở lầu trên, vài giọng nói lỗ mãng đang la hét trong cơn cãi vã.
Đột nhiên cánh cửa mở ra và một nam nhân cao to, lưng dài vai rộng tiến vào. Các Bộ khoái nhảy xổ vào hắn. Họ hành động đầy bất ngờ, trước khi hắn kịp nhận biết chuyện gì đang xảy ra, mọi người đã trói quặp cánh tay họ Vương ra sau lưng, đoạn ấn hắn quỳ xuống. Một gói giấy dầu rơi từ ống tay áo của hắn ra, mì đổ tràn xuống sàn nhà. Một Bộ khoái đá gói mì lăn lóc vào góc phòng.
Ở tầng trên, một số người vẫn đang nhảy múa. Những tấm ván mỏng trên trần nhà trĩu xuống kêu cọt kẹt.
“Đừng vứt đồ ăn ngon đi!” Địch Công quát, tức tối với gã Bộ khoái đó. “Nhặt nó lên!”
Bị quở trách, Bộ khoái vội vã nhặt mì. Khi đặt chúng lên bàn, y lẩm bẩm, “Chúng không còn ngon lành gì nữa, bụi bẩn rơi xuống từ trần nhà xuống đã làm hỏng chúng.”
“Có máu dính trên bàn tay phải của tên vô lại này, thưa đại nhân!” Bộ đầu, đang kiểm tra những dây xích họ Vương, hào hứng thốt lên.
Đôi mắt họ Vương mở to đang nhìn chằm chằm vào vũng máu dưới sàn nhà trước mặt. Môi hắn mấp máy không nói nên lời. Giờ thì hắn ngẩng mặt lên nhìn Huyện lệnh và cất tiếng hỏi, “Vợ ta đâu rồi? Chuyện gì đã xảy ra với nàng?”
Địch Công ngồi xuống gánh hàng và khoanh tay trong ống tay áo rộng. Ông lạnh lùng nói, “Giờ khắc này bản quan mới là người hỏi ngươi! Nói cho ta biết...”
“Nàng ấy đâu rồi?,” họ Vương hét lên điên cuồng. Hắn muốn vùng vẫy thoát ra nhưng Bộ đầu đã dùng cán roi da nặng trịch đánh lên đầu họ Vương. Hắn sững sờ lắc đầu, lắp bắp nói, “Nàng ấy... và tiểu nhi...”
“Nói ngay! Tối nay đã có chuyện gì xảy ra ở đây?” Địch Công hỏi.
“Tối nay...” Họ Vương nói bằng giọng vô hồn, rồi ngập ngừng.
Bộ đầu đá cho hắn một cước. “Trả lời đi và chỉ được nói sự thật thôi!” Y gầm gừ.
Họ Vương nhíu mày. Hắn lại nhìn vào vũng máu vương vãi trên sàn nhà. Cuối cùng họ Vương bắt đầu nói, “Tối nay, khi thảo dân trên đường về nhà, thì gã bán tạp hóa nói với thảo dân rằng lão chủ tiệm cầm đồ họ Thẩm đã ở đây. Và khi thảo dân bước vào nhà thì thấy bếp lò nguội lạnh, bữa tất niên chưa hề chuẩn bị, thậm chí món mì mừng năm mới cũng không nốt. Vương mỗ đã nói với nàng rằng mình không muốn thấy mặt nàng nữa, nàng có thể đến với họ Thẩm kia, và ở lại đó với lão. Thảo dân nói rằng toàn bộ hàng xóm láng giềng đều đã biết chuyện lão đến thăm nàng ấy khi phu quân ra ngoài. Nàng ấy chẳng nói gì. Rồi thảo dân phát hiện thấy chiếc khăn tay ở đó, ngay bên giường. Vương mỗ liền đi lấy con dao pha. Thảo dân định sẽ giết dâm phụ trước tiên, rồi sau đó đi tính sổ với họ Thẩm kia. Nhưng khi thảo dân cầm dao từ nhà bếp ra, nàng đã bỏ chạy mất. Thảo dân liền chộp lấy chiếc khăn tay, bởi muốn ném nó vào mặt họ Thẩm trước khi mình cắt cổ lão. Bàn tay thảo dân bị cào xước vì cái kim vẫn còn cắm trên khăn.”
Họ Vương dừng lại. Hắn cắn môi và nuốt nước bọt. “Thảo dân biết khi ấy mình thật đúng là một tên đại ngốc. Họ Thẩm đã không đánh rơi chiếc khăn tay ở đó; mà là lão đã đặt nàng thêu, và nàng vẫn còn một đường viền chưa thêu xong... Thảo dân đã đi ra ngoài để tìm nàng ấy. Thảo dân đến nhà tỷ tỷ của nàng, nhưng không có ai ở đó cả. Rồi thảo dân đi tới tiệm cầm đồ của họ Thẩm; Vương mỗ muốn cầm chiếc áo và mua quà cho nàng. Nhưng họ Thẩm nói lão nợ thảo dân một xâu tiền xu cho bộ hai mươi tấm khăn tay mà lão đã đặt nàng ấy thêu. Tấm khăn cuối cùng chưa được thêu xong khi lão viếng thăm nhà của thảo dân vào ban trưa, nhưng tiểu thiếp của họ Thẩm rất hài lòng với những tấm khăn được trao tặng. Và đêm nay là đêm giao thừa, nên lão nói kiểu gì cũng phải hết trả thù lao cho thảo dân. Vương mỗ đã mua một gói mì, và một cây trâm hoa cho nàng để bồi tội, rồi về đây.” Nhìn chằm chằm vào Huyện lệnh, họ Vương kêu lên, “Hãy nói cho thảo dân biết, chuyện gì đã xảy ra với nàng? Nàng đang ở đâu?”
Bộ đầu bật cười ha hả. Y hét lên, “Tên cẩu tặc này sao dám khua môi múa mép dối trá xuẩn ngốc đến vậy! Hắn hy vọng kéo dài thời gian đây!” Giơ cán roi lên, y hỏi Huyện lệnh, “Thuộc hạ sẽ đập gãy răng hắn, thưa đại nhân, để hắn mau chóng nói ra sự thật, được chứ ạ?”
Địch Công lắc đầu. Chậm rãi vuốt hàng tóc mai dài, ánh mắt ông dán chặt vào khuôn mặt âu sầu của gã bán rong đang quỳ trước mặt mình. Rồi Địch Công ra lệnh cho Bộ đầu:
“Hãy xem hắn có mang một cây trâm hoa trên người không!”
Bộ đầu đưa tay vào ngực áo của gã bán rong và lấy ra một cây trâm hoa màu đỏ. Y giơ nó lên để Huyện lệnh nhìn thấy, rồi khinh khỉnh ném nó xuống sàn nhà và đạp lên.
Địch Công đứng dậy. Ông bước về phía khung giường, cầm chiếc khăn tay lên và ngắm nhìn nó cẩn thận. Sau đó, ông tới bên bàn và đứng đó một lát, nhìn chằm chằm xuống những cọng mì vấy bẩn nằm trên mảnh giấy dầu. Âm thanh duy nhất trong gian phòng là hơi thở nặng nề của nam nhân đang quỳ.
Thình lình, tiếng ồn ào của những giọng nói ở tầng trên lại vang lên lần nữa. Địch Công nhìn vào trần nhà. Rồi ông quay sang Bộ đầu và ra lệnh:
“Mang hai người đó xuống đây!”
Ngay khi gã bán rong nhìn thấy thê nhi của mình, miệng hắn há hốc trong niềm vui sướng kinh ngạc tột độ. Hắn la lớn:
“Tạ ơn trời đất, nàng và tiểu nhi vẫn bình yên vô sự!” Hắn có lẽ đã muốn bật dậy, nhưng các Bộ khoái lại thô bạo ấn họ Vương khuỵu xuống lần nữa.
Vương thị ném mình xuống sàn nhà, ngay trước mặt nam nhân đang quỳ gối. Nàng rên rỉ, “Tha thứ cho thiếp, tha thứ cho thiếp! Thiếp thật ngốc nghếch, thiếp chỉ muốn trêu chọc chàng! Thiếp đã làm gì, thiếp đã làm gì! Bây giờ chàng phải... Họ sẽ đưa chàng đi và...”
“Đứng dậy đi, cả hai ngươi!” Giọng nói nghiêm khắc của Địch Công vang lên cắt ngang lời nữ nhân. Với điệu bộ cương quyết của ông, hai Bộ khoái buông vai họ Vương ra.
“Cởi trói cho hắn!” Địch Công ra lệnh. Khi Bộ đầu ngẩn người thực hiện mệnh lệnh này, Địch Công tiếp tục nói với họ Vương, “Tối nay, sự ghen tuông ngu ngốc của ngươi suýt chút nữa đã gây ra đại họa. Vợ ngươi là một nữ nhân hiền hậu. Tiểu Bảo, nhi tử của ngươi vô cùng thông minh đáng yêu, tối nay nếu không có tiểu tử đó thì các ngươi đã cửa nát nhà tan rồi. Hãy để câu chuyện tối nay là một bài học cho các ngươi, cả hai ngươi, ngươi và vợ mình. Đêm giao thừa là một thời khắc đáng nhớ. Để ghi nhớ hồng phúc trời ban cho mình, ân huệ mà những kẻ phàm phu tục tử được nhận quá nhiều nên chẳng bận tâm, cứ coi đó là lẽ thường tình, để rồi lại mau chóng quên đi. Các ngươi yêu thương nhau, có sức khỏe an khang, và có một nhi tử ngoan ngoãn. Đó là những điều mà bao kẻ mong muốn cũng chẳng được! Từ giờ trở đi, các ngươi phải cố gắng chứng tỏ bản thân xứng đáng với những hồng ân đó!”
Quay sang tiểu hài tử, Địch Công vỗ nhẹ vào đầu nó và nói thêm:
“Sợ các ngươi quên, bản quan ra lệnh cho phu thê hai người đổi tên cho hài tử này thành Đại Bảo, nghĩa là kho báu lớn!”
Ông ra dấu cho ba thuộc hạ và đi ra phía cửa.
“Nhưng... bẩm đại nhân, vụ án mạng đó..”
Vương thị ấp úng.
Ngừng bước lại trước ô cửa mở rộng, Địch Công nói với một nụ cười lãnh đạm:
“Không có vụ án mạng nào cả. Khi những kẻ ở tầng trên mổ lợn, Lưu thị đã làm đổ chậu tiết, và thị quá say nên không thể lau chùi sạch sẽ ngay lập tức. Tiết lợn rò rỉ qua những vết nứt trên trần nhà và chảy xuống gian phòng này. Cáo từ!”
Nữ nhân đặt bàn tay lên miệng cố kìm lại tiếng kêu la vui sướng. Phu quân của nàng mỉm cười ngờ nghệch, rồi cúi xuống và nhặt cây trâm hoa lên. Vụng về vuốt thẳng nó ra, họ Vương tiến lại gần và cài hoa lên mái tóc nàng. Hài tử ngước lên nhìn song thân mình, một nụ cười tươi tắn nở rộ trên gương mặt nhỏ nhắn của nó.
Bộ đầu đã dẫn tuấn mã của Địch Công ra trước cửa. Chỉ sau khi đã nhảy lên yên ngựa, ông mới chợt nhận ra bệnh thấp khớp của mình đã tan biến đi đâu mất.
Tiếng mõ của canh phu báo hiệu đã đến nửa đêm. Pháo bắt đầu nổ vang rền trong khu chợ. Khi Địch Công giục ngựa buông cương, ông xoay người trên yên ngựa và nói to:
“Cung chúc tân xuân!”
Ông không rõ liệu ba người đang đứng ở khung cửa có nghe thấy mình nói gì hay không. Nhưng điều đó thật ra cũng không quan trọng lắm.