Cuộc gọi đến vào lúc cực kỳ không thích hợp.
Khi ấy cả hai người họ đều đang ở trong phòng.
Florence đã quần áo chỉnh tề, bà chủ tiệc thường mặc đồ nhanh hơn phu quân. Cô phải xuống nhà xem xét để chắc chắn rằng mọi thứ đều đã sẵn sàng. Bình thường thì vào giờ này cô hẳn đã có mặt dưới nhà. Chuyện không ổn với chuỗi hạt giữ chân cô lại trong phòng. Cái chốt bị long, cô phải mất một lúc để gắn lại cho đúng.
Trong buồng ngủ chung của hai vợ chồng có cái hốc nhỏ để đặt điện thoại. Về sau, máu anh như đông cứng khi nghĩ về việc mình đã may mắn đến thế nào khi cô không kịp nhận cuộc gọi đấy. Vào lúc ấy, cô thậm chí đang đứng gần chiếc điện thoại hơn cả anh, chỉ cách một tầm tay với. Nếu không phải vì cái chốt dây chuyền khiến hai tay cô bận rộn…
“Hugh,” cô gọi, hất đầu ra hiệu. “Em hy vọng đừng có ai gọi đến báo hủy vào phút chót, sau khi em đã thu xếp tất cả xong xuôi.”
Anh đang bận rộn với cái cà vạt. “Để họ nhận cuộc gọi dưới nhà đi,” anh nói.
Chuông lại reo lần nữa. “Sẽ chỉ một đứa lên được đây thôi, vì chúng phải luôn có mặt ở dưới nhà bất kỳ lúc nào.” Cứ hễ buông rơi chuỗi hạt, nó sẽ trượt khỏi tay cô rớt xuống sàn, cô vẫn chưa nối chúng lại được.
Tiếng chuông đã dừng lại.
Một cô hầu gái gõ cửa. “Điện thoại cho ngài Strickland ạ.”
Chuỗi hạt đã đánh thức bản tính cứng đầu tiềm tàng trong con người Florence. Cô cầm nó ngồi xuống bàn trang điểm, dùng kẹp tóc sửa cái chốt, như một chuyên gia sửa đồng hồ.
“Không cần biết có tiệc hay không, em sẽ không rời khỏi đây cho đến khi sửa nó xong. Vì em sẽ đeo chuỗi hạt này dự tiệc, nên em sẽ không xuống mà không mang nó theo. Anh thực sự nên lấy nó và nhờ người sửa cho em, Hugh; lần trước cũng y hệt thế này.”
Anh đã đứng cạnh chiếc điện thoại.
“A lô?” Anh thận trọng nói.
“A lô,” vọng lại là một giọng nữ cao chế nhạo.
Cú sốc đến với anh như thể bị tạt một gáo nước lạnh.
Thật may đúng lúc này cô không trông thấy anh, mắt cô đang tập trung vào cái chốt. Anh quay ngoắt sang chỗ khác, chỗ chỉ có cái điện thoại, và quay lưng lại với cô.
“A lô, Grainger,” anh nói.
“Grainger?” Giọng nữ cao cười nhạo. “Từ bao giờ thế? Thôi được rồi, anh nói theo cách của anh, em nói theo cách của em. Và em sẽ là người gợi chuyện cho anh.”
Nếu anh gác máy bây giờ, mọi chuyện sẽ tệ hơn; Florence hẳn sẽ thắc mắc về hành động của anh.
“Giờ tôi hơi bận,” anh nói.
“Nói với tư cách chủ doanh nghiệp nhé. Tháng này anh có quên cái gì không đấy? Anh thanh toán hơi lâu đấy nhỉ? Quá mười lăm ngày rồi. Em đã đợi lâu nhất có thể rồi, nhưng các hóa đơn của em thì không biết đợi, anh biết đấy.”
“Tôi đã nói rồi,” anh nói gọn lỏn. “Từ giờ anh sẽ phải tự giải quyết, cố gắng hết sức có thể đi.”
“Em không chấp nhận lời anh nói. Anh không thể bỏ đi dễ dàng như thế được.”
“Nghe này, mai gọi đến văn phòng tôi đi.”
“Ồ không được. Cả tuần nay em đã thử rồi. Cả tuần trước nữa. Và cả tuần trước đó nữa. Nhưng không tài nào gọi được xuống đó. Anh đã chặn hết rồi. Thế nên đêm nay em buộc phải gọi cho anh, đến nơi anh đang sống. Giờ thì em có thể tới tìm anh bất cứ khi nào em muốn rồi nhỉ? Lẽ ra em nên nghĩ ra từ trước chứ.”
Florence cuối cùng cũng sửa được sợi dây chuyền. Cô đứng dậy chuẩn bị rời phòng. Bước đến cửa cô quay lại, vung tay về phía anh với vẻ khó chịu nôn nóng. “Ôi vì Chúa, bảo hắn thôi đi, mặc xác hắn là ai đi nữa, Hugh! Em cần anh xuống với em, khách sẽ đến vào bất cứ lúc nào đấy.”
Cánh cửa đóng lại. Nhưng giờ sẽ còn tệ hơn nữa. Cô có thể dùng máy chính dưới kia và vô tình xen vào giữa hai người bọn họ.
Anh cố gắng kết thúc cuộc gọi một cách thô lỗ.
“Nghe này, con khốn,” anh cáu kỉnh nói. “Tôi xong với cô rồi nhé. Tôi chịu đựng cô quá đủ rồi đây.”
“Ái chà, bà xã rời phòng rồi chứ gì? Anh nợ tôi một nghìn rưỡi tháng này và thêm nghìn rưỡi quỵt tháng trước. Anh có chịu mang tiền xuống cho tôi không thì bảo?”
“Cứ việc ra ngoài vẫy đuôi trên phố đi.”
“Hoặc anh qua đây hoặc tôi lên đó. Tôi sẽ bước thẳng vào, trước mặt vợ anh cùng quan khách của cô ấy, và cho cả thế giới biết chuyện của chúng ta. Tôi sẽ đợi anh đến chín giờ.”
“Tao sẽ giết mày!” Anh ta điên cuồng thề thốt. “Mày mà dám lởn vởn quanh đây thì chính tay tao sẽ giết chết mày!”
Ả cất lên một tràng cười nhạo báng trong như tiếng bạc khi ngắt máy.
Vũ hội bắt đầu vào khoảng chín giờ, sau một bữa tiệc hóa ra là một trong những bữa tiệc tối đáng nhớ và tuyệt vời nhất của Florence. Những vị khách dự bị, chỉ được mời đến để khiêu vũ, đông hơn số người có mặt ban đầu gấp ba, bốn lần. Nó đáp ứng được bất kỳ tiêu chí nào của một buổi khiêu vũ chính thức, thậm chí thuê cả một ban nhạc danh tiếng và rải rác có những màn múa hát góp vui. Khi Florence nhìn lại, cô có thể tự hào rằng mình đã làm tất cả những gì có thể nhằm đảm bảo bữa tiệc diễn ra thành công.
Anh đang làm bổn phận của mình trước một trong những cô bạn lớn tuổi và kém quyến rũ của Florence, kiểu khách mời mà chủ tiệc có tâm sẽ chú ý đặc biệt; không phải vì lợi ích của họ, mà vì lợi ích bữa tiệc của chính anh ta, để ngăn không cho bữa tiệc đi đến chỗ chán ngắt. Và khi bà ta lủi lại về phía sau trước mặt anh, má đánh phấn hồng đậm, đeo đầy đồ trang sức và môi nở nụ cười quá điệu, trong bước nhảy ngắn cách quãng có thể là hình mẫu sống động cuối cùng của vũ điệu nhịp hai-bốn hồi năm 1905, lối vào rộng rãi tới phòng khiêu vũ chậm chạp biến thành tấm ảnh phối cảnh chiều dọc thẳng trước mắt anh.
Bất ngờ anh trông thấy ả ngoài đó. Cao ráo, uyển chuyển và chói lọi trong bộ đầm trắng ánh kim, anh nhận ra ả ngay lập tức, dù là ở khoảng cách xa đến thế. Ả đang trao cho người quản gia chiếc áo khoác ngoài bằng lông chồn. Chiếc áo choàng anh đã tặng cho ả, từ lâu lắm thuở họ còn yêu nhau. Anh biết điệu bộ giả tạo của ả, anh thấy ả chuẩn bị tiến vào rất nhiều phòng. Duyên dáng quay nửa vòng sang bên, gối chân này khẽ khép vào gối chân kia. Anh biết cách ả mỉm cười mãn nguyện, hai mí mắt nhìn xuống nửa chừng, thường khiến phụ nữ tức điên lên, nhưng dù sao điệu bộ ấy cũng chẳng dành cho họ. Giờ ả đang làm đúng như thế. Anh biết cái mánh của ả, gập tay lại nhẹ nhàng và vuốt ve bất kỳ chiếc vòng nào ả đang đeo trên tay, vô tình khiến chúng trượt xuống tận khuỷu. Ả cũng đang làm đúng như thế.
Ả đã thay đổi kiểu tóc, trong nhiều tuần kể từ khi anh tránh mặt ả. Có thời gian ả còn chẳng buồn thay đổi kiểu tóc, nếu không có anh gần như luôn ngắm ả khi ả làm thế; giờ thì ả có khối thời gian.
Không hay rồi. Chẳng điều gì ở cô ả khiến anh vui, dù là những sự thay đổi hay những điều xưa cũ. Anh không còn thích ả nữa.
Điều đó thậm chí còn khắc chế nỗi sợ hãi, giận dữ và căm ghét của anh; bằng cách nào đó khiến anh vẫn đứng vững, nếu là vào lúc khác thì hẳn anh đã sụp đổ vì hoang mang.
Anh nhìn xung quanh, Florence đang đứng ở đầu kia của căn phòng rộng lớn. (Họ thực sự sở hữu một căn phòng mênh mông, dành riêng cho việc khiêu vũ, và lần đầu tiên anh thấy vui vì điều đó.) Cô sẽ không nhìn thấy ả, cho đến khi vũ điệu chậm rãi đưa cô xoay đến chỗ anh đang đứng. Nhưng một khi cô làm thế… dù họ chưa từng gặp nhau, dù ả có là một vị khách vô danh, một vị khách xa lạ, nhưng Florence rất tinh tường với những chuyện như thế. Anh phải ra ngoài kia trước đã.
Anh làm một cú xoay bất ngờ, điên rồ sang một bên, mục đích nhằm rũ bỏ bạn nhảy, bỏ mặc bà ta tẽn tò đứng một mình ngay giữa buổi khiêu vũ. Buông tay bà ta mà không nói lời nào, anh đứng yên một lúc ngay ngoài cửa phòng, rồi tiến thẳng xuống hành lang lối vào. Gương mặt anh tuy hơi buồn, nhưng lạnh lùng. Trái tim anh đang sục sôi vì căm ghét.
“Chào buổi tối, ngài Strickland,” ả thân mật nói. “Thật tuyệt khi ngài đã mời tôi.”
“Tôi á?” Anh nói bằng giọng vô cùng khẽ, đôi môi gần như không cử động.
Đáp lại là nụ cười lơ đãng nổi tiếng của ả, đôi mắt khép lại nửa chừng. “Bữa tiệc đáng yêu làm sao! Và đây là một trong những bài hát ưa thích của tôi. Chúng ta vào nhảy chứ?”
Một lần nữa đôi môi anh gần như bất động. “Còn nhớ tôi đã nói sẽ làm gì cô không?” Bóng dáng viên quản gia lởn vởn ở hậu cảnh. “Chờ chút. Chưa có tiền ngay đâu.”
Ả lúc nào cũng hết sức nhanh trí. Và đêm nay ả sẽ tận dụng nó hết mức; cũng chính nhờ khôn ngoan ả mới đến được đây. Ả làm bộ lơ đễnh, tay trái đưa lên vai. “Rất tốt, đi lấy đi. Cứ yên tâm. Anh không thể mong tôi để tiền rơi trên sàn nhảy đâu.” Bàn tay ả len lỏi vào cánh tay anh. “Ngài có khiêu vũ cùng tôi không đây, ngài Strickland?”
Lúc này anh ra hiệu cho viên quản gia lùi lại, tránh khỏi tầm nghe. “Cô không yên với chuyện này đâu,” anh thở hắt ra, tức tối.
Ả chẳng buồn nghe. Ả phóng tầm mắt về phía xa qua vai anh. “Cô ta đáng yêu thật,” ả lầm bầm gần như say mê. “Thế mà anh lại không biết trân trọng. Chắc mắt anh bị mù hay sao rồi. Làm sao anh lại có thể thích…?” Ả ngưng bặt. Trong một thoáng, dường như ả có vẻ thực sự chân thành. Thực sự.
Anh nhanh chóng đảo mắt quan sát xung quanh, và thấy Florence đang chậm rãi lướt qua lối vào phòng khiêu vũ trong vòng tay một bạn nhảy. Lúc này cô không hề nhìn về phía họ. Một giây trước có thể cô đã thấy; bất kỳ giây phút nào cô cũng có thể sẽ thấy. Anh không thể rời mắt khỏi cô.
Giọt mồ hôi từ trên trán anh chảy xuống.
“Tiền có giải quyết được không?” Anh nói nhanh.
Ả trả lời theo cách lạ lùng nhất. Ả dùng chiếc khăn tay mỏng tang, nhẹ bẫng, thoảng hương nước hoa khẽ lau trán cho anh.
“Đứng tránh sang bên một lúc đi,” anh nói. “Đừng nói chuyện với ai.”
“Tôi chưa từng đi ăn tiệc kiểu này, chẳng được ai giới thiệu,” ả nhắc anh. “Cho tôi biết tên ai đó đi, phòng khi…”
“Cô là bạn của Bob Mallory. Hắn đang say khướt đằng kia kìa. Có ra đây với cô thì hắn cũng chẳng biết cái quái gì đâu.”
Anh nhanh chóng thoát khỏi ả và lao vào trong thư viện. Anh vừa định khóa cửa thì trông thấy một cặp đôi đang ôm nhau trong tư thế úp thìa dưới ánh đèn. Trong tư thế nằm nghiêng họ ngẩng đầu lên nhìn anh.
“Cho tôi xin lỗi!” Anh hấp tấp nói.
“Ồ, không sao mà,” chàng thanh niên trấn an. “Chúng tôi không phiền nếu có người vào đâu.” Và cả hai lại chuẩn bị trở lại tư thế cũ.
“Ý tôi là tôi muốn ở một mình trong phòng.”
Cô gái huých nhẹ vào sườn bạn tình, thì thầm rõ mồn một, “Chắc là chủ nhà của chúng ta đấy,” và họ tay trong tay rời khỏi phòng, rúc rích cười với nhau.
“Chúng tôi không biết làm thế là quá giới hạn,” chàng trai ngoảnh lại hờ hững nói. “Phải nói ngay từ đầu chứ.”
Strickland khóa cửa lại. Anh mở két gắn trên tường, lấy ra một cái hộp đựng tiền. Bên trong hộp có một nghìn đô la chẵn. Anh lấy nó ra, run rẩy viết nguệch ngoạc tờ séc xuất thêm năm trăm đô la nữa, trả cho người cầm séc. Anh biết ả sẽ không chấp nhận bất kỳ cách nào khác. Trong cơn bối rối và hấp tấp anh làm hỏng tờ séc thứ nhất, phải viết tờ thứ hai.
Xong xuôi anh mở cửa, tìm đến chỗ ả.
Ả vẫn ngồi nguyên chỗ cũ nơi vừa bị anh bỏ lại; ả vẫn chưa bị ai phát hiện.
“Cho tôi mượn túi xách của cô một chút,” anh nói bằng khóe miệng.
Anh để tiền vào trong túi rồi đưa trả lại cho ả.
“Giờ thì…” Anh liếc mắt đầy hàm ý ra cửa.
Ả đứng dậy, từ tốn mà duyên dáng. Ả khẽ ra hiệu chỉ bằng những đầu ngón tay uốn cong, viên quản gia bước đến mặc lên người ả chiếc áo khoác lông chồn.
“Đây là một bữa tiệc tuyệt vời,” ả nói với Strickland bằng giọng buồn bã dễ chịu. “Vậy nên tôi phải ăn mặc thật tử tế.”
“Harris,” anh nói, “phiền ông gọi taxi cho quý cô đây.”
Trong một khoảnh khắc chỉ còn lại hai người đứng trên ngưỡng cửa.
“Đừng bao giờ làm thế với tôi nữa đấy,” anh dứt khoát nói.
Sau đó nhà Roger ra về, chỉ còn lại hai cặp vợ chồng, nhà Whitting và nhà Devraux. Và khi họ đang nhấp nhổm, chính Florence lại là người mời mọc họ nán lại thêm một lúc nữa. Cô luôn nôn nóng giữ chân khách ở lại, nhất là sau một sự kiện mệt mỏi như đêm nay.
“Phần cuối của mọi bữa tiệc, cô biết đấy. Ca khúc cũ biến đâu hết rồi? ‘Đó là phần thực sự hay nhất đấy.’ Hãy cùng vào phòng làm việc uống chén rượu trước khi ngủ đi. Tôi phát ốm với cái chỗ này rồi.”
Cả sáu người cùng bước vào phòng làm việc và uống rượu.
“Nghe này, tôi sẽ nói rõ ý của tôi.” Cô ngả ngươi trên sofa, thoải mái tháo đôi sandal, đặt đôi chân trần xuống sàn nhà.
“Tại sao chúng ta lại mở tiệc nhỉ?” Cô hỏi. “Khi chúng kết thúc mới tuyệt làm sao.”
“Đó là lý do chúng ta mở tiệc,” một người trả lời. “Giống kiểu dùng búa tự đập vào đầu mình ấy.”
“Strick có vẻ mệt mỏi,” một người phụ nữ khác nói vẻ đồng cảm.
Thậm chí cô còn không buồn quay lại nhìn anh. “Hugh lúc nào chẳng mệt mỏi,” cô nói với giọng hơi hờn dỗi.
Họ chưa chịu về à? Anh muốn cúi xuống đấm hai tay thật mạnh xuống bàn, đấm đi đấm lại, cho đến khi nó nứt toác ra. Để chứng kiến họ ra về, chứng kiến những vẻ mặt choáng váng của họ, chứng kiến họ gấp gáp tiến ra cửa.
Nhưng anh không làm thế. Bạn chẳng bao giờ làm được điều bạn thật sự muốn làm, anh suy ngẫm.
Anh chỉ nhìn xuống mặt bàn bóng loáng. Rồi dằn khá mạnh ly rượu xuống bàn, phát ra một tiếng động lớn.
Anh không cố ý, nhưng nó lại tạo hiệu quả gần như tương đương với cái hành động bộc phát vừa thoáng qua óc anh.
Một trong số những người phụ nữ đứng bật dậy. Một người khác đứng dậy sau đó vài giây. Trên nét mặt họ nhanh chóng có cùng biểu cảm.
“Chà, giờ chúng ta phải về thật rồi, Flo…”
“Phải đấy, trước khi bị tống cổ.”
Chẳng ai nhìn về phía anh, nhưng anh biết toàn bộ năm con người trong căn phòng đều hiểu quá rõ ai đã gây ra cơn náo động vừa rồi.
Những thái độ hòa nhã khốn kiếp.
Trước khi cô tiễn khách xong, anh đã lên phòng ngủ của hai vợ chồng.
Anh cởi bỏ áo choàng ngủ, khoác lên người chiếc áo jacket công sở, trang phục đầu tiên nằm trong tầm tay anh.
Tiếp theo anh đến bên tủ hồ sơ, mở ngăn kéo, rút ra khẩu súng ngắn mà hai vợ chồng đã để trong đó, kể từ lần họ bị trói và bị cướp ngay trong nhà mình sáu năm trước. Mọi thứ sau này đã phục hồi lại như cũ, nhưng những giây phút đối mặt với khẩu súng thực sự tồi tệ.
Anh nhét khẩu súng vào trong áo khoác.
Cô bước vào phòng, bình thản và quyến rũ. Bình thản và quyến rũ như thể bây giờ là tám giờ tối thay vì ba giờ sáng. Như thể chẳng có bữa tiệc nào cả. Như thể họ chẳng phải tiếp thêm bất kỳ vị khách không mời nào. (Chà, có thể chỉ với riêng cô thôi.)
Cô đóng cửa phòng ngủ, miệng mỉm cười nhẹ nhàng.
“Anh à…” cô nhẹ nhàng nói. Cô đưa tay ra sau gáy và bắt đầu tháo chuỗi vòng cổ kim cương. Cô vừa làm thế vừa đi ngang phòng. “… Anh nghĩ sao về bữa tiệc? Em cho rằng đó là một thành công của bọn mình, phải vậy không?”
“Cái gì cơ?” Anh nói, cố gắng quay lại phía cô.
Cô bật cười khoan dung. “Bữa tiệc anh ơi.” Dường như đêm nay chẳng có điều gì khiến cô phiền lòng.
Ôi, trời ạ, bữa tiệc đó! Anh rùng mình từ trong thâm tâm.
“Lúc tàn tiệc anh hơi bị thô lỗ đấy nhá.”
“Đầu anh,” anh đáp, “nó sắp nổ tung lên đây.”
“Sao anh không uống aspirin?” Cô hỏi, rồi kết thúc luôn câu anh định nói. “À mà aspirin chẳng giúp được gì đúng không?”
Anh nhìn cô nghi ngờ. Cô ấy nói thế là sao nhỉ? Cô ấy đã biết gì rồi?
Rõ ràng cô nói thế chẳng có ý gì, cô chẳng biết gì; chỉ là anh võ đoán thôi. Giờ cô đã thay chiếc váy đầm dạ tiệc bằng chiếc áo ngủ bằng vải lụa, điềm tĩnh, bình thản.
Bỗng anh nhận ra lúc nãy cô đã đứng gần cái tủ, đúng cái ngăn kéo đó; cô đã rời khỏi cái tủ đó, đang bước ra xa nó, vào lúc chi tiết này đánh động anh.
“Vừa nãy em lại gần đó làm gì vậy?” Anh đột ngột hỏi.
“Em cất một thứ đi ấy mà,” cô mơ hồ đáp. Rồi cười lặng lẽ, như bạn sẽ cười khi gặp một đứa trẻ trên phố.
“Mở ngăn kéo tủ của chính em cũng bị cấm nữa à?”
Cô không thể thấy khẩu súng đã biến mất. Hẳn cô sẽ nói gì về chuyện đó, nhưng cô chẳng nói gì, một lời cũng không.
Thậm chí cô còn chẳng để ý đường viền trên chiếc quần ngủ của anh, phía dưới chiếc áo jacket công sở. Cô đang mải để ý đến bản thân, chìm đắm vào thế giới của riêng mình, có khả năng đang sống lại và thưởng thức lại bữa tiệc. Phụ nữ hay có thói quen làm thế, anh biết mà.
Bàn tay anh đặt lên núm cửa phòng ngủ. “Anh phải ra ngoài hít thở một chút,” anh nói. “Cách duy nhất để làm dịu cái đầu của anh.”
Cô không phản đối.
“Nhớ mang chìa khóa nhé anh yêu,” cô chỉ nói có vậy. “Đám người hầu sẽ chẳng nghe thấy tiếng anh gọi đâu, tội nghiệp.”
“Anh sẽ không đánh thức em đâu,” anh buồn bã hứa.
Cô bước đến bên anh, hết sức nhàn tản. “Giờ thì em sẽ chúc anh ngủ ngon,” cô nói, trao cho anh một nụ hôn chiếu lệ lên má.
Anh cứng người lại, quá muộn rồi.
Những đầu ngón tay của cô vừa nhẹ lướt qua nơi giấu khẩu súng. Chúng thật tinh quái làm sao, anh vừa nhận ra thì mọi việc đã xong, chúng đã đi qua rồi. Không hề ấn mạnh, chỉ là một cú vuốt qua bề mặt.
Cô không cho thấy dấu hiệu nào. Chắc cô nhầm nó với hộp đựng xì gà kềnh càng thi thoảng anh mang theo. Anh kín đáo nhìn qua người cô, chỉ để thấy nó đang nằm lù lù một đống bên kia phòng. Nhưng cô không liếc mắt về phía đó.
Cô bước về phía giường ngủ, khẽ khàng gạt tấm ga giường sang một bên. Cô đang mỉm cười, cô thật quyến rũ, cô bình thản đến cùng. Bạn hẳn sẽ nghĩ rằng những vị khách vẫn còn đang dự tiệc.
Hai đầu ngón tay của cô tựa lên bờ môi, xoay nhẹ về phía anh, gửi đến anh lời chúc ngủ ngon cuối cùng.
Cánh cửa từ từ khép lại, anh liếc nhìn cô lần cuối, ngồi trên giường lưng tựa vào gối, chuẩn bị cầm cuốn sách lên đọc cho dễ ngủ; quầng sáng từ chiếc đèn bên giường tỏa hồng gương mặt và bờ vai cô; mái tóc bạch kim, mềm mại như tóc mây thiếu nữ, với những lọn tóc dày buông rủ xuống vai.
Trông cô giống như một nữ Hầu tước thế kỷ mười tám đang chuẩn bị tiếp khách trong phòng ngủ.
Anh rảo chân bước xuống cầu thang dài uốn cong (thứ anh luôn căm ghét vì mất thời gian). Cái bóng ghê rợn của chính anh đang run rẩy bước bên cạnh, trên các tấm ốp tường màu ngà nhạt nhờ ngọn đèn ngủ đang cháy từ khu sảnh rộng bên dưới hắt lên. Giống như một hồn ma giảo hoạt đang xúi giục anh làm chuyện xấu.
Anh để ý thấy một thứ lạ lùng khi bước qua sảnh, một vật lưu niệm tầm thường, dù có hơi kỳ dị, bị bỏ quên trong bữa tiệc, mà lúc này đây anh ngỡ như nó đã diễn ra từ cả ngàn năm trước. Một ly rượu sâm banh đã tan hết bọt đang nằm chơ vơ trên mép chiếc bàn cạnh tường, một cái ghế trống không đặt cạnh cái ly. Một ý nghĩ chợt lóe lên, chắc hẳn đây là ly của ả ta rồi. Ả đã ngồi đây chờ một lúc, trên chính cái ghế này. Cho dù anh không thể nhớ nổi đã trông thấy ả cầm hay nhấp một ly sâm banh nào hay chưa, nhưng hẳn là ả đã gọi một ly hoặc viên quản gia đã mang cho ả một ly mà không đợi phải bảo.
Bất chợt, trong một thoáng giận dữ, anh bước đến chỗ cái bàn, giơ cái ly lên ngang vai như một nghi lễ ác độc nào đó, rồi dốc ngược cái ly đến khi nó cạn nhẵn. Anh vừa nâng cốc chúc mừng cái chết của ả bằng chính thứ rượu mà ả đã uống.
Một làn gió lạnh buốt sống lưng len vào sảnh, cánh cửa đóng sầm lại, anh rời khỏi nhà.
Anh không nhấn chuông, anh không gõ cửa. Anh không cần phải làm thế. Anh rút chiếc chìa khóa mà ả đã đưa cho anh, khá lâu trước đó, và nhẹ nhàng mở cửa.
Rút chìa khóa khỏi ổ, anh bước vào nhà, đóng cửa lại nhẹ hết sức có thể.
Anh biết ngay công tắc ở đâu, biết nên đặt tay ở đâu mà chẳng cần nhìn. Anh ấn công tắc, những ngọn đèn trần màu đào chói mắt mà ả ưa thích bừng sáng thành cụm tròn.
Nơi này anh thuộc như lòng bàn tay. Anh biết hết tất cả mọi thứ. Nơi đây như ngôi nhà thứ hai của anh. Không, đã từng là ngôi nhà thứ nhất, và cái nơi anh vừa từ đó đến đây là ngôi nhà thứ hai của anh. Thật hài hước khi bạn thấy mình đã thay đổi.
Từng món đồ nội thất, từng đồ vật, tùng cái ghế, tất cả đều từng là một phần trong quá khứ của anh. Cái ghế đó… ngay đằng kia… nơi anh đã từng ngồi đó cả đêm khi thấy hơi chuếnh choáng, nhớ về những ngày xưa và thề rằng anh sẽ không bao giờ quay về với Florence nữa; rằng anh sẽ đoạn tuyệt hoàn toàn với cô; phải, chính là lúc đó. Ả đã ngồi bên cạnh anh trên tay ghế, phỉnh phờ và can ngăn anh, cuối cùng nhẹ nhàng gỡ chiếc điện thoại mà lúc đó anh đang nắm trong tay. Ả xoa dịu lớp lông nhím đang xù lên của anh, nháy mắt với anh đầy tinh quái, rồi nói, “Chúng mình đang ổn mà; sao phải ra ngoài tìm rắc rối làm gì? Đây, anh uống thêm đi và giả vờ mình đang độc thân nhé; hiệu quả lắm đấy.”
Vào đêm bầu cử, hai người cùng đặt tiền lên đó, trên chiếc radio. Anh cá đảng Dân chủ sẽ thắng, còn ả tất nhiên phải chọn đảng Cộng hòa; vì chẳng còn đảng nào nữa. Nhưng có thể ả không hề ngốc. Anh đã thử ả, chỉ để xem ả sẽ phản ứng thế nào, và ả vui vẻ chấp nhận thất bại; không sưng sỉa, không than vãn, rên rỉ, không một mực cho rằng anh ăn gian hay ép anh phải nhận thua. Ngày hôm sau ả đã diện trên người chiếc áo khoác lông chồn và lấy lại hết khoản tiền ả thua cược. Làm sao ả biết làm thế sẽ hiệu quả nhỉ? Như thể vừa đêm hôm trước ả cho ai đó vay năm trăm đô la (mà ban đầu nó vốn là của anh), rồi sáng hôm sau được người ta trả lãi bằng cái áo khoác lông thú. Quá giỏi!
Khi anh đi qua, trên giá để sách nhạc của cây đàn dương cầm, có một bản nhạc đang mở. Anh liếc nhìn nó, môi anh cong lên khi đọc lời ca khúc. “Sớm hay muộn rồi anh cũng sẽ đến…”
Lần này thì sai rồi nhé cưng, sẽ chẳng có lần sau nữa đâu. Anh túm lấy nó bằng một tay, vo nó thành quả bóng rồi ném sang bên kia phòng.
Cánh cửa phòng ngủ dạng gương mở hé. Anh mở ra đến hết tầm, đứng yên đó ngắm nhìn ả. Ánh sáng vừa đủ, tỏa sang từ căn phòng khách sáng choang bên cạnh soi tỏ mọi thứ, để lại những cái bóng xanh nhợt nhạt khắp phòng.
Ả đang ngủ trên giường, nằm nghiêng sang bên, quay lưng về phía anh. Hình ảnh ả ngủ say, chẳng biết mình vừa làm gì, một lần nữa thổi bùng cơn giận trong anh.
Chiếc áo khoác lông chồn được vắt trên lưng ghế; tạo thành một cái lều, với lưng ghế là cột chống. Chiếc váy trắng đang treo trên mắc áo, nhưng thay vì được cất vào tủ, cái mắc áo lại được móc lên trên cánh cửa ra vào; chiếc váy được treo ở đó, cẩu thả, tựa vào cánh cửa.
Mùi nước hoa của ả thơm nồng trong không khí. Ả từng nói với anh tên của nó. Styx. Anh thêm một chữ “n” vào cái tên, và cả hai cười ầm lên[*]. Ả không hề nói cho anh biết nó bao nhiêu tiền, nhưng anh từng thấy nó trên quá nhiều tài khoản mua bán chịu. Các tài khoản này đã hết hiệu lực lâu rồi, trước khi sức ép và trò tống tiền thật sự bắt đầu.
Stynx: Đọc gần giống như “stink” (hôi thối).
Anh đứng đó nhìn ả một lúc, nuôi dưỡng cơn giận của mình.
Thế rồi không một tiếng động, bằng một động tác khoan thai đến lạnh lùng, anh cởi khuy áo jacket cài chéo, trĩu nặng vì khẩu súng. Cởi xong, anh gập nó lại theo chiều dọc từ cổ trở xuống rồi vắt lên lưng ghế.
Tiếp theo anh bước đến đóng kín các cửa sổ, đảm bảo chặn đứng… hoặc giảm thiểu… bất kỳ âm thanh nào lọt ra ngoài. Anh quay lại chỗ cũ, đứng sau tấm lưng đang nhấp nhô của ả, cởi khóa thắt lưng. Anh kéo nó ra, nắm chắc đầu có khóa như một cái chuôi.
Anh cúi xuống và khẽ hất cái chăn nhẹ hều khỏi người ả, làm nó phồng lên. Những tấm ga giường bóng như lụa kêu sột soạt. Giờ ả nằm đó, phơi trọn thân hình quyến rũ như tượng tạc, bộ đồ ngủ màu đen mỏng kéo dài đến eo như báo điềm gở.
Anh nhếch mép trong thù hằn và giơ cao thắt lưng lên quá đầu, như thể đang túm đầu một con rắn đang quằn quại. Đây là cách mày đối xử với bọn đàn bà như ả! Đây là thứ chúng đáng được nhận! Đây là những gì chúng hưởng! Đây là cách trừng trị duy nhất chúng hiểu!
Âm thanh của chiếc thắt lưng quật xuống nghe như tiếng vỗ tay chậm rãi, đều đặn. Lần nữa, lần nữa rồi lại lần nữa; nhanh hơn và nhanh hơn nữa. Quật xuống cặp xương bả vai mỏng manh, xuống hông, xuống đùi. Những vết rách trắng hiện ra trên bộ đồ ngủ đen, như thể sau mỗi cú quật lại có một lớp bụi trần được rũ bỏ. Nó phồng lên, khẽ lay động rồi lại xẹp xuống, với từng cú đánh.
Nhưng đó là cử động duy nhất…
Bỗng sự thù ghét sôi sục đang che mờ đôi mắt anh tan biến, khi anh nhận ra rằng ả không hề la hét, không hề nhảy dựng lên, cũng không lăn tròn khỏi giường để tránh đòn. Những việc mà lẽ ra ả đã phải làm ngay từ đầu.
Anh vứt thắt lưng xuống như một đống bùng nhùng. Anh cúi xuống giường, túm tóc kéo đầu ả quay lại phía mình. Đầu ả quay lại quá ngoan ngoãn, quá lỏng lẻo. Cái đầu quay lại, nhưng cơ thể của ả thì không, cổ ả đã gãy.
Những phút vừa rồi anh đã đánh một xác chết.
Giờ đây, cái bóng trên những tấm ốp tường không ngừng đuổi theo anh trên các bậc cầu thang uốn cong trải dài, buộc anh phải chạy trốn. Nhưng khi đến khúc quanh, cái bóng lạnh lùng bắt kịp anh, quay ngoắt lại đối mặt với anh, như muốn tố cáo khi anh lên đến đầu cầu thang. Anh nheo mắt lại tránh né, giơ lòng bàn tay lên xua đuổi, lao qua cái bóng xanh ngắt vô hình đến cánh cửa vào phòng ngủ. Cái bóng không thể đuổi theo anh vào trong đó. Nhưng nó đang đợi bên ngoài.
Anh hít một hơi thật sâu, xoay chìa khóa vào cửa phòng ngủ.
Cô đã ngủ say, hay hình như thế. Quầng sáng hồng đã tắt. Mái đầu của cô, nếu anh có thể thấy, đã ngả xuống gối sâu hơn một chút so với lúc anh rời khỏi nhà. Đôi mắt cô rõ ràng đang nhắm chặt. Ánh sáng ban mai lọt qua tấm mành gỗ như những thỏi chì.
Anh cất khẩu súng đi, cẩn thận liếc nhìn cô qua vai. Mí mắt cô không hề cử động.
Anh bước vào buồng tắm, run rẩy một chút, thậm chí còn nức nở một chút, thần kinh căng như dây đàn. Rồi anh lấy khăn mặt lau nước mắt, ngồi trên mép bồn tắm một lúc, bình thản nhưng mất hết tinh thần. Cuối cùng, vẫn ngồi yên tại chỗ, anh cởi một phần quần áo: áo khoác, cà vạt, cởi cúc áo sơ mi đến thắt lưng; chỉ thế thôi.
Ngủ, ngủ, anh cần phải ngủ; đó là cách duy nhất để thoát khỏi chuyện này, cách duy nhất để xua đuổi nó. Anh lấy lòng bàn tay đánh nhẹ vào đầu mấy lần, như thể muốn dỗ giấc ngủ đến. Nhưng nó không thể đến theo cách đó. Bởi bên trong anh là ác mộng hỗn loạn, ngay cả khi anh vẫn tỉnh táo.
Anh mở tủ lấy ra lọ thuốc ngủ. Anh đổ hai viên ra tay, rồi ba viên. Anh giơ bàn tay lên nửa chừng, như một cái muỗng. Rồi bất chợt anh nhăn nhó rên rỉ và quăng hết tất cả đi. Ngủ kiểu đó chỉ tổ khiến cơn ác mộng ghim sâu hơn vào đầu óc anh mà thôi.
Anh không thể vượt qua chuyện này một mình. Không thể giữ nó cho riêng mình. Anh phải nói chuyện với ai đó, anh phải nói chuyện với cô. Dù sao thì cũng đã đến nước này rồi, cô sẽ phải giúp anh.
Anh lại bước vào phòng ngủ. Những thỏi chì đã biến thành những thỏi bạc. Và chúng sẽ sớm biến thành những thỏi vàng, nhưng chưa đến lúc.
Thế rồi trước khi tiến đến giường ngủ, anh thấy cuối cùng cô đã tỉnh. Chắc cô vừa tỉnh thôi.
“Florence…” anh hổn hển nói. “Florence…”
“Anh có gì muốn nói với em à?” Ngữ điệu câu hỏi yếu đến mức nó gần như không tồn tại. Đó không phải là câu hỏi, mà là một câu tường thuật, nhưng anh không có thời gian để mà phân tích sắc thái ngôn ngữ.
“Phải, phải. Nghe cho kĩ này.”
Anh ngồi xuống cạnh cô trên giường ngủ. Anh lại đứng dậy, bước vòng quanh giường sang phía bên kia. Rồi anh ngồi xuống, đó là phía trái tim cô.
“Em tỉnh ngủ hẳn chưa để nghe nào?”
“Tỉnh hẳn rồi.” Hình như câu này thốt ra hơi cụt.
“Người phụ nữ đó…” Anh lại ngập ngừng, tự hỏi nên nói tiếp thế nào. “Tối nay có một người phụ nữ ở đây. Anh không biết em có nhận ra cô ta không…”
Cô mỉm cười, vẻ mỉa mai gần như không thể nhận ra. “Để em nhớ xem. Cái váy hiệu Hattie Carnegie, màu trắng, rơi vào khoảng một trăm năm mươi đô la. Nhưng em nghĩ nó là váy được mua với giá khuyến mãi, sau khi đã qua mùa kinh doanh, rồi sẽ bán lại cho ai đó… bán nguyên giá. Giày cao gót hiệu Perugia hàng xịn. Có lẽ cao năm phân, không hơn. Tất cả toát lên vẻ sành điệu, rất sành điệu, tuy nhiên…” cô lắc đầu và nhăn mũi. “Lớp kem nền thì rẻ tiền, cô ta không thể làm được gì để che giấu, nó cứ lộ ra hết. Nhìn qua có vẻ đã ba mươi lăm tuổi, nhưng có thể sân siu cho là hai mươi tám.”
Cô ấy hai mươi tám tuổi, anh những muốn phản đối nhưng kìm lại được. Nhỡ đâu ả ba mươi lăm tuổi thật mà anh chẳng biết.
“Loại nước hoa cô ta dùng có vẻ là Styx, nhớp nháp và ngọt ngào.”
Anh trợn tròn mắt và cấm khẩu.
“Đúng rồi, Hugh. Đúng rồi, em tin rằng em hiểu ý anh muốn nói đến ai.”
Cô châm một điếu thuốc, như thể cho phép anh có thời gian trấn tĩnh. Thậm chí cô còn mời anh một điếu. Anh từ chối.
“Anh… ờ, anh không biết phải nói thế nào, Florence. Có một sự dính líu mà em không bao giờ biết…”
Lại là nụ cười mỉa mai ấy. “Liệu em có nên giúp anh không, Hugh?”
Cô vẩy đám tàn thuốc đầu tiên vào chiếc đĩa phẳng nhỏ được trang trí kiểu kháp ti pháp lang[*] trên giá, hít hà làn khói thuốc, mắt nhìn lên trần nhà ra dáng trầm tư, như thể đang sắp xếp lại những thông tin mình có nhằm giúp được anh tốt nhất.
Kháp ti pháp lang (cloissonné): “Pháp lang”, hay còn gọi là “pháp lam” nhằm để chỉ những loại đồ tráng men. Dựa vào phương pháp chế tạo thai cốt và kĩ thuật thể hiện men màu, họa tiết, có thể chia chế phẩm pháp lang thành bốn loại: Kháp ti pháp lang, Họa pháp lang, Tạm thai pháp lang, Thấu minh pháp lang. Trong đó, kháp ti pháp lang là pháp lang làm theo kiểu ngăn chia ô hộc.
“Tên cô ta là Esther Holliday. Cô ta sống tại 1604 đường Farragut Drive, căn hộ D-7. Tiền thuê nhà của cô ta là một trăm lẻ năm đô la một tháng. Số điện thoại là Warfield 7176. Cô ta bước vào cuộc đời anh… hay em nên nói là làm anh bực mình… cũng khoảng bốn năm rồi, có lâu hơn một chút. Em chẳng có nhãn thông hay gì đâu, Hugh. Em không thể nói chính xác anh đã gặp cô ta vào ngày nào, hay tháng nào. Những chuyện này diễn ra rất chậm chạp. Nhưng em có thể cho anh biết chính xác mùa nào và năm nào, mùa xuân năm 1943. ‘Xuân đến ông già cũng biết tương tư…’ Lẽ ra em không nên đắm chìm quá vào ghen tuông như thế.” Cô nói câu này hoàn toàn chẳng liên quan gì, với động tác khẽ hướng lên của ngón đeo nhẫn như lời cảnh cáo nhẹ nhàng nhưng quyến rũ. “Anh đã yêu cô ta ba năm. Trong một năm rưỡi qua, anh không còn yêu cô ta nữa, nhưng anh quá nhu nhược không dám thú nhận điều đó.”
Dường như anh đã sẵn sàng sụp đổ, như thể anh được treo lên bởi những sợi dây lỏng lẻo, như một con rối luống cuống khi bàn tay người điều khiển thôi không còn nắm những sợi dây. “Em đã biết. Em đã biết tất cả.”
“Em biết mấy năm rồi,” cô nói thật tự nhiên. Như thể cho rằng mình hút thế đã đủ, cô dụi tắt điếu thuốc; nó đã hoàn thành vai trò hỗ trợ cuộc đối thoại. Chỉ vì anh.
“Còn giờ thì là chuyện gì? Chuyện gì đã khiến anh… phải thổ lộ tâm tư vào giờ đặc biệt thế này? Không phải là em không đánh giá cao việc này đâu. Anh biết đấy, thà ít còn hơn là chẳng có gì.”
“Florence, anh đã tới đó để… để…”
Lần này cô để mặc cho anh nói hết.
“Để giết cô ta.”
“Em biết.”
“Ôi, Florence,” cuối cùng anh nói, ngồi sụp xuống, như thể thấy mệt mỏi vì cố gắng cho cô biết những điều mà cô đã biết từ lâu. Cô khiến cho màn tự thú của anh bỗng trở thành một trò hề.
“Rõ ràng quá còn gì,” cô nói. “Áo jacket công sở mặc ngoài quần ngủ. Có gì đó cộm lên dưới áo anh. Khẩu súng ngắn biến mất khỏi ngăn kéo. Anh chẳng hề kín đáo chút nào hết, anh yêu ạ.” Rồi cô nói thêm, hoàn toàn dửng dưng. “Anh có làm được không?”
Anh nhìn cô trừng trừng khiếp đảm.
“Em chỉ nói vậy thôi. Nét mặt anh cho thấy rõ ý định đó, thế mà khi em nói ra thì anh lại sợ…”
“Nhưng em có cần phải khắc nghiệt đến vậy không?” Anh van xin gần như chua xót.
“Tha lỗi cho em,” cô nói. “Em xin lỗi.” Giọng cô có vẻ ăn năn. “Em không quen sống chung với bạo lực, anh biết đấy. Em sẽ phải học cách tự kiềm chế.”
Đầu anh càng rũ xuống sâu thêm, cho cô thấy một phần tóc anh. Hai bàn tay anh úp lên mặt, anh nói giữa những ngón tay. Giọng anh như nghẹt đi.
“Cô ta chết rồi. Anh thấy cô ta đang nằm đó, chết hẳn rồi. Kẻ nào đó… Anh không biết là ai… Anh chỉ biết rằng mình không làm thế.”
Cô đưa tay ra nắm lấy tay anh. Cô vỗ nhẹ vào mu bàn tay, như một người mẹ.
“Tất nhiên là không rồi. Tất nhiên rồi.”
Anh ngẩng đầu lên, có một chút đề phòng, như chợt nhớ ra điều gì đó. “Anh có thể chứng minh điều đó. Anh có thể cho em thấy anh không làm thế. Chờ chút, cái áo đâu…” Trong một lúc anh càng hốt hoảng hơn, khi thấy mình không còn mặc áo khoác nữa. Anh nhảy dựng lên, lao vào buồng tắm rồi quay lại, cầm chiếc áo trên tay. “Đây. Nó đây rồi. Anh thấy nó nằm trong căn phòng ấy.” Anh trao mảnh giấy cho cô.
Cô đọc to nó lên. “Giờ ngài cảm thấy thế nào, ngài Strickland?”
Suy nghĩ của cô luôn nhanh hơn anh. “Lẽ ra anh nên để mẩu giấy này ở chỗ cũ,” cô nói ngay lập tức. “Nó phải ở lại đấy mới đúng, nơi anh tìm thấy nó. Chứ không phải ở đây, nơi chẳng ai có thể thấy.”
“Nhưng anh không muốn bị dính líu…”
Cô đột ngột đổi ý. “Có lẽ như thế tốt hơn. Phải, có lẽ anh nói đúng. Cứ giữ lấy nó, dù cho có chuyện gì xảy ra đi nữa. Phải chắc chắn không được để mất nó. Nếu phải trình nó ra, cứ việc đưa cho họ xem. Nhưng anh thấy không, anh đã phá tan tành phần lớn giá trị của mẩu giấy này. Anh không thể chứng minh anh tìm thấy mẩu giấy này trong căn phòng ấy, và giờ anh lại mang nó về. Anh có thể chứng minh, hoặc họ có thể chứng minh rằng mẩu giấy này không phải do anh viết, nhưng anh có thể tìm thấy nó ở bất kỳ đâu. Nó có thể đến từ bất kỳ nơi nào. Giờ thì quá trễ rồi.” Thế rồi nhìn vẻ hoảng loạn hiện rõ trên đôi mắt anh, cô nói thêm. “Nhưng kể cả không có mẩu giấy này, anh cũng vẫn an toàn mà. Họ không thể đổ hết tội cho anh được, khi mà anh thực sự không làm thế. Đó hoàn toàn là một vụ án oan đúng nghĩa. Những chuyện đó không xảy ra đâu.”
“Nhưng họ sẽ tới đây. Họ buộc phải làm thế. Họ sẽ hỏi những câu hỏi…”
Cô gật đầu tiếc nuối. “Họ sẽ truy ngược về quá khứ của cô ta. Và sự liên đới… khá dài đấy.”
“Florence, em phải giúp anh! Không cần biết họ phát hiện ra điều gì trong quá khứ, sẽ chẳng nhiều nhặn gì đâu; ít nhất chúng ta phải khiến họ không phát hiện được gì về buổi tối nay. Em không thấy sao? Buổi tiệc lớn em đã tổ chức tối nay. Đúng là tuyệt vời. Hơn hai chục người; tất cả bọn họ đều nhìn thấy anh tối nay, đến tận khi kết thúc tiệc. Florence, anh không rời khỏi nhà sau khi những vị khách của chúng ta ra về! Anh chưa hề rời khỏi nhà, em có hiểu không? Florence, em sẽ không quay lưng với anh, đúng không? Em sẽ sát cánh bên anh chứ? Em là hy vọng cuối cùng của anh.”
“Em là vợ anh mà, Hugh,” cô chỉ nói có vậy. “Anh quên rồi sao? Em là vợ anh mà.” Khi bốn mắt họ gặp nhau, anh chỉ nhìn thấy trong mắt cô sự dâng hiến chân thành.
Đầu anh ngả về phía trước tựa lên ngực cô, kèm theo tiếng thở nhẹ nhõm xúc động, gần như tiếng nức nở.
Bàn tay cô vuốt ve mái tóc anh thật dịu dàng, khiến anh cảm thấy an tâm. Đầy khoan dung, đầy thấu hiểu, với tất cả sự lo lắng, quan tâm của những người vợ trên thế gian này.
Ả chết vào đêm thứ Ba rạng sáng ngày thứ Tư. Chẳng có gì xảy ra hôm thứ Tư. Chẳng có gì xảy ra hôm thứ Năm. Chỉ có một dòng chữ đen trên nền trắng, lạnh lùng tẻ nhạt, bâng quơ. Anh nín thở. Nhưng đến thứ Sáu, cuối cùng nó cũng nhảy ra khỏi giấy tờ, trở thành một sinh vật sống và xuất hiện dưới hình dạng của một người đàn ông trên ngưỡng cửa nhà anh.
“Cho anh ta vào,” anh nói với Harris.
Nhưng rồi anh cân nhắc lại mệnh lệnh. “Không, chờ chút đã.” Anh thử làm bộ làm tịch bên bàn làm việc, xem xét vài giấy tờ nào đó. Không đúng, đây đâu phải văn phòng. Anh thử cái ghế lớn bọc da, ngồi lún sâu vào ghế, vắt tréo hai chân. Anh lại ngồi dậy, lựa một cuốn sách từ trên giá, rút một điếu xì gà từ trong hộp, rồi quay lại ghế ngồi.
“Rồi, mời anh ta vào đi.”
Người này trông chẳng ấn tượng chút nào. Anh ta là một chàng trai cao lớn, gầy nhẳng, hai má hõm sâu. Anh ta có vẻ bối rối, như lính mới. Chiếc áo sơ mi của anh ta mấy ngày rồi chưa thay, có một sợi vải bị sờn đang thò ra phía cổ tay áo.
Anh ta nói, “Xin lỗi vì đã quấy rầy ngài, ngài Strickland. Tôi đến từ đồn cảnh sát. Ngài không phiền trả lời tôi mấy câu chứ?”
Strickland đáp, “Xin mời ngồi. Tôi không phiền đâu.”
Người đàn ông ngồi xuống, ngả quá về phía trước; toàn bộ phần cổ tay thò ra ngoài tay áo. Anh ta kinh ngạc nhìn quanh phòng. Rồi anh ta kinh ngạc nhìn Strickland. Như thể anh ta không thể tin nổi rằng một cuộc sống sung túc cỡ này có tồn tại.
“Hút thuốc không?” Strickland nói, muốn làm anh ta cảm thấy dễ chịu. “Đây, lửa đây.”
Nhưng anh lại cầm nhầm bình mực.
“Không, ngay cạnh ngài kìa.”
Ngay cả khi cầm bật lửa trên tay, anh vẫn không biết phải làm gì.
“Ngài chỉ cần ấn xuống thôi. Nhẹ thôi.”
Nhưng vào lúc đó anh đã bỏ cuộc, thay vào đó anh dùng diêm.
Sau đó anh lại chẳng biết phải làm gì với que diêm; nên đành kẹp chúng giữa các ngón tay.
Khốn thật, mình sợ cái quái gì không biết? Strickland nghĩ.
“Những câu hỏi gì vậy?” Anh nhắc.
Người đàn ông thoáng giật mình, như thể anh ta quên béng mất chính mình vừa hỏi cái gì. “Ô… à. Vâng. A… ngài có quen biết một phụ nữ… một phu nhân… tên là Esther Holliday không?”
“Có, tôi có quen,” Strickland nói ngay lập tức.
“Vậy sao?”
“Cũng như mọi thằng đàn ông thôi mà.” Anh cho anh ta thời gian để tiếp nhận câu nói, rồi tiếp tục, “Tôi rất thẳng thắn về chuyện này, cậu biết đấy.” Rồi lại nói tiếp, “Nhưng đã một thời gian rồi. Chuyện đó đã kết thúc một năm rưỡi trước đây.”
Người đàn ông bồn chồn với điếu thuốc. Chứng kiến anh ta như thế thật tội nghiệp. Hẳn bạn sẽ nghĩ Strickland mới là người hỏi, còn anh ta là người trả lời.
“Ngài biết không, cô ta chết rồi.”
“Bị giết,” Strickland chỉnh lại. “Tôi có đọc trên báo. Đọc hết rồi.”
“Dạo này ngài không còn gặp gỡ cô ta nữa, phải không, ngài Strickland?”
“Không.”
“Lần cuối cùng là khi nào?”
“Có lẽ là hơn sáu tháng trước.”
“Ồ.” Rồi anh ta nói thêm. “Chà…” Nhạt toẹt như món nước ướp gừng để từ tuần trước. “Trong trường hợp đó…” Đến đây thì dường như chẳng biết nói gì thêm nữa, anh ta bèn đứng dậy.
Strickland cũng đứng dậy. Anh vô tình đặt cuốn sách xuống cái bàn cạnh hai người.
Người đàn ông có vẻ bối rối với cuốn sách, theo kiểu một kẻ vụng về không biết làm sao để kết thúc buổi thẩm vấn một cách lịch thiệp, hay nên hành xử sao cho đúng trước mặt người khác, nên anh ta cứ nghịch hết cái này đến cái kia.
“Sách mới à?”
“Ngược lại,” Strickland nói ra vẻ trịch thượng, “nó cũ lắm rồi.”
“Ồ, tôi chỉ nghĩ vậy vì vài trang vẫn chưa được rọc kìa…”
“Tôi chưa đọc đến đấy.” Việc cần làm trong những trường hợp thế này là phải trả lời thật nhanh, khoảng thời gian giữa hỏi và trả lời phải càng ngắn càng tốt.
Cameron lơ đãng rà ngón tay cái xuống mép một trang. Đó là trang mở đầu. Nó dính liền với ba hoặc bốn trang tiếp theo.
Rồi anh ta đóng sách lại, quên luôn nó đi và ra về.
Họ đang chuẩn bị đi ngủ, cũng một đêm như thế. Anh đang ngồi bên mép giường, đã mặc đồ ngủ, nhưng không hề sẵn sàng, hoặc không thể nằm xuống nghỉ ngơi. Cái lưng đau nhức, đôi vai trũng xuống, đôi bàn tay yếu ớt, thất vọng, mắt nhìn trừng trừng xuống sàn nhà.
Trong khi đó, cô đang ngồi trước bàn trang điểm. Đầu cô cũng hơi cúi xuống, nhưng chỉ là chăm chú vào việc đang làm, chứ không trầm tư mặc tưởng như anh. Cô đang bận giũa móng tay.
Cuối cùng cô lên tiếng.
“Đôi tay cô ta đẹp không? Cô ta, anh biết đấy.”
Anh biết. Anh nhếch mép, đưa mép bàn tay lên lau miệng, như thể xua đi dư vị khó chịu nào đó.
“Em gợi chuyện thế anh không phiền chứ?” Cô khéo léo hỏi.
“Không,” anh đáp kèm tiếng thở dài. “Anh cũng đang nghĩ đến nó. Lúc nào anh cũng nghĩ. Chúng… à, anh cho rằng phụ nữ thì ai cũng thế: mềm mại và trắng trẻo hơn tay đàn ông…”
“Không, ý em là chúng nằm ở đâu? Chúng thế nào? Anh đã nói mà, anh nói đến cổ cô ta.”
“Ồ.” Lần này thì anh đã hiểu. “Chúng giơ lên như thế này này.” Anh cho cô xem. “Đang cố gắng bảo vệ cái cổ, cố gắng giải thoát nó. Thành những móng vuốt đông cứng, em biết đấy. Ai cũng làm thế thôi.”
Cô bắt chước hành động ấy, trên chính cổ mình. Xem xét nó trong gương.
“Vậy thì cô ta chắc phải cào xước tay hắn. Tạo dấu vết trên tay hắn.”
“Anh cho là vậy. Đó là điều duy nhất cô ta có thể làm.”
Vì cô không nói thêm gì nữa, nên anh ngẩng đầu lên, “Sao em lại hỏi thế?”
“Liên kết các ý tưởng, em nghĩ vậy. Lúc này em đang nhìn xuống chính tay mình, nền em nghĩ đến tay cô ta. Em xin lỗi nếu…”
“Không sao mà,” anh nói. Đầu anh lại rũ xuống.
Cô tắt cả hai ngọn đèn có chụp bằng lụa trên bàn trang điểm. Cô đứng dậy bước đến chiếc giường thứ hai. Với mỗi cử động của thân hình, chiếc váy ngủ bằng lụa lại khẽ kêu lên sột soạt êm tai. Rồi cô dừng bước, tiếng sột soạt ngưng lại chỗ gần khuỷu tay. Cô quay lại, liếc nhìn anh ái ngại.
“Anh sẽ ngủ được chứ?”
“Anh sẽ cố.”
“Vâng, nhưng anh liệu có ngủ được không? Điều đó mới quan trọng.”
“Đừng lo cho anh. Em tắt đèn được rồi.”
“Vâng, nhưng anh không thể cứ ngồi trên mép giường như thế cả đêm được.”
“Anh e rằng anh mà ngủ bây giờ, tất cả sẽ quay lại. Cả đêm qua anh đã bị thế rồi. Cứ hễ ngủ gà gật lơ mơ cái là mồ hôi toát ra khắp người. Cuối cùng anh đã thấy một chuyện khủng khiếp. Lần đầu tiên anh thấy một thứ như thế. Nó cứ đến như thế, bất ngờ…” Nhưng vấn đề cốt lõi anh vẫn chưa nói với cô: việc anh đã làm với cái thắt lưng.
Cô đưa móng tay ngón trỏ lên gãi nhẹ khóe miệng, rất nhẹ.
“Đêm nay anh không thể bị như thế nữa,” cô nói. “Nếu chuyện đó còn xảy ra nữa anh sẽ phải đi gặp bác sĩ. Em nghĩ em biết chúng mình nên làm gì rồi.”
Cô chỉnh lại váy, bước vào phòng tắm một lúc. Khi quay ra trên tay cô là lọ thuốc ngủ.
“Thử cái này xem,” cô nói. “Cho đến khi cú sốc qua đi. Anh chìa tay ra đi.”
Anh ngoan ngoãn chìa tay ra như một đứa trẻ.
Cô cầm thẳng cái lọ, đọc nhãn dán ghi trên đó. “Nó ghi uống hai viên là liều bình thường. Em nghĩ với tình trạng của anh có thể uống ba viên.” Cô đổ thêm một viên nữa. Rồi cô hỏi, “Uống bốn viên anh có sợ không?”
“Không,” anh đáp. “Bất kỳ thứ gì cũng tốt hơn…”
Cô đổ ra viên thứ tư, rồi đậy nắp lọ. “Em sẽ mang nước đến cho anh,” cô nói.
Anh nuốt và xả chúng xuống cổ họng. Khi cô quay lại thì chỉ còn vị của chúng vương trong miệng anh.
“Giờ thì nằm xuống ngủ đi,” cô nói. “Đừng cố gắng chống lại chúng. Anh có muốn gối đầu lên tay em không?”
Anh bẽn lẽn mỉm cười. “Không, cảm ơn em,” anh nói, xấu hổ liếc trộm cô thật nhanh. “Em tốt với anh quá, Florence.”
“Thế anh muốn em làm gì?” Cô hỏi, nháy mắt tình tứ.
“Rốt cuộc, cô ta đã…”
“Chuyện đã qua rồi thì hãy để nó qua đi,” cô nói. “Em rất tiếc khi mọi chuyện lại kết thúc theo cách đáng sợ thế này. Nhưng chuyện qua rồi thì thôi, chừng nào anh và em còn quan tâm.”
Cô xếp mấy cái gối cho anh ngủ. Thậm chí cô còn kéo chăn lên tận vai cho anh, rồi với tay tắt ngọn đèn còn lại.
“Cảm ơn em, Florence,” anh nói nửa như nức nở.
“Suỵt,” cô trả lời khẽ khàng trong bóng tối. “Ngủ đi. Chỉ ngủ thôi.”
Nó hiệu quả được một lúc.
Có vài lần anh đã định ngừng kháng cự, những dây thần kinh siêu căng thẳng của anh, giống như lò xo, lại kéo anh về mỗi khi muốn thức tỉnh. Thế rồi cuối cùng, anh chìm xuống trong vùng nước u ám của sự lãng quên, không còn trồi lên nữa.
Có lần, trong giấc mơ, thứ gì đó như một chùm sáng đặc quánh trên bề mặt, trôi nổi lềnh bềnh phía trên, làm anh chói mắt bằng thứ ánh sáng nửa mơ hồ một lúc, rồi lại trôi đi.
Sáng hôm sau, tiếng hét kinh ngạc thất thanh của anh khiến cô lao bổ đến trước cửa buồng tắm.
Anh đang giơ hai tay lên theo hướng vuông góc, mu bàn tay quay vào trong.
“Nhìn này. Khắp người anh luôn. Anh đã làm gì với chính mình thế này? Anh bị những thứ này ở đâu? Giờ anh mới thấy chúng, khi vươn tay ra vặn vòi nước.”
Cô nhanh chóng đến bên anh, cầm lấy một trong hai bàn tay đang run rẩy của anh trong tay mình xem xét. Những vết gạch đỏ dọc khắp bàn tay, thành hàng khít nhau, cái ngắn cái dài; vài vệt hằn nông có màu hồng nhạt, vài vệt khác thâm tím hằn sâu hơn.
“Đừng sợ mà,” cô thuyết phục. “Chắc anh tự gây ra cho chính mình khi ngủ thôi.” Cô cầm bàn tay kia lên, xem lần lượt từng vết một rồi tặc lưỡi, nói vẻ thương xót, “Có lẽ anh bị dị ứng với loại thuốc an thần anh uống. Có thể máu hoặc da anh bị kích thích theo cách nào đó, khiến da nổi mẩn đỏ không kiểm soát được. Còn bị chỗ nào khác không?”
Anh kéo tay áo xuống. “Không, chỉ phần dưới cổ tay thôi. Có vài vết trên đó, nhưng chỉ đến thế thôi.” Anh nhìn cô với vẻ kinh hoàng, gần như mê tín. “Giờ anh nhớ rồi, anh đã nằm mơ. Cô ả ở trong giấc mơ đó. Chuyện ấy cuối cùng cũng tái diễn, nhưng lần này thì khác. Ôi kinh khủng lắm…” Anh rùng mình rất mạnh, lấy tay tựa vào chiếc gương trên tủ để đứng cho vững. “Ả muốn anh… ả không ngừng cố gắng bắt anh làm với ả cái điều thực sự xảy ra với ả. (Em biết rồi đấy.) Ả cầm cả hai tay anh trong tay ả, liên tục cố gắng đưa chúng đến gần cổ ả. Ả càng cố gắng kéo tay anh mạnh bao nhiêu, anh càng cố gắng giãy ra mạnh bấy nhiêu. Trong giấc mơ anh mới chính là người la hét, chứ không phải ả. Gọng kìm ghì siết của ả cứng như thép, các ngón tay của ả bấu chặt vào tay anh, anh không thể vùng thoát ra được. Cuối cùng anh giằng được ra, gương mặt của ả tan nhòa đi, giống như cái bóng đèn điện tắt dần ấy.” Anh đưa tay lên lau cái trán đẫm mồ hôi. “Và ả… ả mặc trên người váy ngủ của em! Đó là ả, nhưng ả mặc quần áo của em…”
“Suỵt,” cô nói. Cô đưa tay lên môi anh một lúc ngăn anh nói tiếp. “Đừng nhớ lại nó nữa. Hãy xem nó đang làm gì anh này. Chờ chút để em rửa vết thương cho anh.”
Cô lấy ra một nhúm bông, nhúng vào nước chiết từ vỏ và lá cây phỉ, chấm nhẹ lên những vết xước đã liền miệng.
“Vẫn thấy xót,” anh lấy làm lạ. “Chúng dai thật đây.”
“Chúng sẽ lặn đi mà,” cô hứa hẹn. “Trong vòng một tuần anh sẽ không còn thấy chúng nữa.”
Sau khi anh được triệu tập, khi xuống cầu thang, anh gặp Florence. Họ trao nhau ánh mắt - của cô là sự quan tâm, của anh là nỗi chán nản.
Họ không nói gì với nhau, nhưng anh im lặng giơ hai ngón tay lên với cô, cho thấy đây là lần thứ hai.
Cô gật đầu, bặm môi như thể bản thân cô cũng chẳng thích thú gì chuyện này.
Cuối cùng, cô nắm chặt phần trên cánh tay anh, trong lời động viên không nói ra lời. Khi làm thế, đôi mắt cô bất chợt chạm phải bàn tay anh, với những vết xước bí ẩn trong đêm vẫn đang rất dễ thấy trên mu bàn tay cho dù vào lúc này chúng đã chuyển sang màu nâu và đóng vảy.
Cô bối rối ra hiệu cho anh đứng nguyên đó chờ mình, đừng có đi đâu. Còn cô nhanh chóng chạy xuống các bậc thang còn lại, quay vào sảnh đến nơi vẫn cất trang phục ra phố. Anh có thể thấy cô đang lần mò trong các túi áo choàng của anh.
Rồi cô quay lại, trên tay cầm theo một đôi găng tay.
“Đeo chúng vào đi,” cô thở hổn hển.
“Nhưng liệu họ có thấy lạ lùng không? Ở trong nhà mà?”
“Nhưng những vết này… Họ có thể tin rằng chúng đến từ… Tốt hơn đừng để họ thấy.”
Anh hít vào một hơi thật sâu, đau khổ. “Anh chưa hề nghĩ đến chuyện đó, cho đến đúng lúc này!” Anh thở dốc, kinh hoàng. “Lạy Chúa tôi, họ có thể nghĩ là…”
“Họ sẽ chẳng nghĩ ra cái gì hết nếu họ không thấy. Cố gắng đừng để họ thấy nhé.”
“Nhưng đang ở trong nhà! Sao anh có thể?”
“Vậy thì, anh vừa mới vào nhà. Đây, như thế này này.” Cô lại chạy xuống. Lần này cô mang cho anh mũ và áo choàng. Đặt cái mũ vào trong tay anh, vắt chiếc áo lên cánh tay anh như thể anh vừa cởi chúng ra.
“Nhưng họ biết anh đã ở nhà khi họ đến đây. Anh đã nói với họ thế rồi.”
“Vậy thì anh vừa đi ra ngoài, anh sắp đi ra ngoài. Bất kể anh làm gì, phải nhớ không được bỏ găng tay ra.”
Cánh cửa thư viện bất ngờ bật mở, gương mặt của Cameron xuất hiện, ngạc nhiên ngó ra xem cái gì đang cản trở anh ta.
Hoạt cảnh khốn khổ, đầy bí ẩn của họ đang rục rịch chuyển cảnh, nhưng cái dư âm tội lỗi thì vẫn tiếp tục đeo bám. Họ xa cách nhau; anh tiếp tục suy sụp, cô tiếp tục lạc quan. Nhưng chỉ vài giây thôi cũng đã là quá muộn. Họ đã phối hợp không được tốt. Phần lớn là tại cô, ai cũng thấy cô tránh xa anh.
Anh bước xuống, một lần nữa mở cửa thư viện, vì Cameron đã đóng nó lại khi quay vào nhà sau cái liếc nhanh lúc nãy.
“Chào quý vị!” Anh ngọt ngào nói.
Trong phòng chỉ có ba người, hai người mới đến và một người đã đến hôm qua. Anh không thích điều này.
Họ để ý thấy mũ và áo choàng.
“Ngài chuẩn bị ra ngoài sao, ngài Strickland?”
“Vâng, tôi vừa định ra ngoài.”
“Tôi xin lỗi. Phải ưu tiên cho việc này thôi.” Có thể không nói thẳng ra, nhưng đây là mệnh lệnh.
“Tốt thôi,” anh ngoan ngoãn đáp. “Như các ngài muốn thôi.” Anh đặt áo choàng xuống ghế, cái mũ để lên trên cùng.
“Xin mời ngồi. Không có gì phải căng thẳng hết.” Người nói là Cameron. Vẫn là một mệnh lệnh không nói thẳng ra.
Anh ngồi xuống. Và bây giờ anh bất ngờ thấy rằng cô… hay đúng hơn là lời khuyên của cô… lại khiến đôi găng tay và hai bàn tay đang được chúng che phủ trở nên nổi bật hơn, chứ không phải ngược lại. Giờ anh mắc kẹt với đôi găng tay; anh không thể bỏ chúng ra mà không thu hút sự chú ý, cũng không thể giấu chúng đi vì lý do tương tự.
“Chỉ hỏi vài câu thôi mà,” lại là Cameron. Dễ chịu, duyên dáng, bạn có thể nói vậy. Hôm nay anh ta có vẻ bớt vụng về hơn.
Lúc này anh đang ngồi, buộc phải làm thế. Anh cố gắng cử động đôi tay đeo găng thật tinh tế, thu hút càng ít sự chú ý càng tốt. Một bàn tay anh cố gắng nhét sâu xuống dưới, giữa hông và tay ghế. Còn tay kia anh có thể nhét một phần vào túi áo jacket giữa hai hàng nút…
Đôi mắt của Cameron không hề dừng ở đôi bàn tay anh. Ngay cả bây giờ, khi nó bắt đầu trượt xuống cũng không. Anh biết chắc điều đó, vì anh đang nhìn xoáy vào mắt Cameron. Anh sắp sửa thoát…
Bất thình lình, một gói nhỏ màu trắng bóng bẩy chìa ra trước mặt anh. “Hút một điếu đi, ngài Strickland.”
Bàn tay anh vừa định đưa ra, nhưng kịp kìm lại. “Không, cảm ơn. Không… không phải bây giờ.”
“Thôi mà, hút cùng chúng tôi đi. Ai cũng hút một điếu. Xã giao thôi mà.”
“Chỉ là không phải bây giờ thôi. Tôi thích hút mà.”
Cái bao nhỏ màu trắng rụt lại, biến mất. Nó đã thất bại; hoặc chưa, có thể nó đã thành công.
“Cho tôi biết lý do tại sao ngài đi găng tay trong nhà được không, ngài Strickland?”
Máu chạy rần rật, mặt anh hết đỏ lại tái. “Tôi… tôi ra ngoài mà.”
“Nhưng ngài đã cởi mũ và áo choàng rồi mà.”
Anh thở dài thô lỗ, giữ vẻ ngạo mạn. “Nếu tôi vẫn muốn đi găng tay thì các ngài sẽ không bực mình chứ?”
“À không,” Cameron lịch sự đáp, “tôi chỉ nghĩ như thế sẽ khiến ngài khó chịu đấy. Găng tay của ngài đang lộn trái kìa.”
Đường viền bao quanh mỗi ngón tay dày và lắm sợi. Chắc cô đã cầm sai cách khi anh xỏ tay vào.
Vẻ kiêu ngạo của anh hoàn toàn biến mất. Thay vào đó, lúc này mặt anh đỏ lựng.
Tất cả đều đang đợi. Đôi bàn tay của anh đang bị soi cận cảnh, lúc này trông như thể nó dài bốn foot và rộng hai foot.
“Ngài không định tháo găng tay ra sao, ngài Strickland?” Nếu Cameron có thể được xem là lịch sự, thì anh cũng sẽ lịch sự.
“Các ngài không thể ép buộc tôi tháo găng tay ra khi tôi đang ở trong nhà mình, nếu tôi không muốn,” đó là tất cả những gì anh có thể thốt ra.
“Không. Nhưng chắc hẳn ngài có lý do đặc biệt để không tháo chúng ra.”
“Tôi không có! Chẳng có lý do nào hết!” Lúc này anh đang toát mồ hôi đầy người.
“Thế sao ngài không tháo chúng ra? Có vẻ ngài đang nóng. Nóng hơn tất cả chúng tôi.”
Những ngón tay của bàn tay kia kéo mạnh; găng tay rơi xuống sàn.
Hơi thở của anh nghe rõ mồn một trong bầu không khí câm lặng, như tiếng bước chân trên cát.
“Có phải đó là thứ ngài không muốn chúng tôi thấy? Những vết này xuất hiện từ đâu?”
“Tôi… tôi không biết. Một sáng tôi thức dậy và đã thấy chúng ở đó. Trong… trong giấc ngủ chắc tôi đã… tôi đã gặp ác mộng…”
Họ không nói một lời nào. Vẻ khinh miệt của họ còn vang hơn thế, to hơn bất kỳ lời nhạo báng nào có thể phát ra. Kể cả mí mắt của họ dường như cũng ném về phía anh những cái nhìn khinh bỉ.
Anh bị mấy vết ấy trong cơn ác mộng.
Thực ra, những câu hỏi của họ hóa ra chỉ có hai.
“Ngài có phủ nhận chuyện cô ta đã ở đây không? Rằng cô ta đã đến nhà ngài, vào trước buổi tối hôm đó, xin phép được tham dự bữa tiệc mà vợ ngài đang tổ chức không?”
“Có, tôi phủ nhận!” Anh mạnh mẽ nói.
“Cho gọi viên quản gia vào đây,” Cameron thản nhiên nói. “Và đưa bức ảnh chúng ta đã mang từ nhà cô ta tới ra. Ông ấy đã xác nhận với chúng tôi rồi. Chúng tôi sẽ đề nghị ông ấy làm lại lần nữa, trước mặt ngài.”
Anh chỉ còn biết giơ tay lên, như thể muốn né tránh; rồi lại thất thểu bỏ xuống, khuất phục và tuyệt vọng.
“Cô ta có thể đã đứng ở ngưỡng cửa. Tôi… tôi không thấy cô ta.”
“Chúng tôi không thể chứng minh được chuyện đó. Thị lực của ngài ra sao là chuyện của ngài. Nhưng chúng tôi có thể chứng minh rằng ngài đã nói chuyện với ai đó, trên ngưỡng cửa nhà mình, rằng ‘Đừng bao giờ làm thế với tôi nữa đấy.’ Chúng tôi có thể chứng minh rằng ai đó kia chính là cô ta. Và nó đã đưa chúng tôi đến một kết luận.”
Họ ngừng lời để anh thẩm thấu thông tin đó. Giờ anh đang sụp đổ, như tòa lâu đài cát trong cơn sóng triều.
Tiếp theo là câu hỏi thứ hai, câu hỏi cuối cùng.
“Thế này thì sao? Ngài có phủ nhận rằng ngài đã đến nhà cô ta, ngay tối muộn hôm đó, kiểu như… có thể nói là đáp lễ chuyến thăm của cô ta? Một cách có chủ ý.”
“Có, tôi phủ nhận! Hơn hai mươi người trong bữa tiệc này đã nhìn thấy tôi. Tôi đã lên gác tiến thẳng đến phòng ngủ!”
“Chúng tôi không thể xử lý hết hơn hai mươi người. Chỉ một người là đủ. Thế còn…” Cameron dường như đang ứng biến. Anh ta quay đầu về phía một trong hai người đi cùng. “… tay tài xế taxi đó, người đã nhận ra ngài từ bức ảnh, người đã đưa ngài đến tận cửa nhà cô ta. Cho anh ta vào đây để nhận diện luôn người thật.”
Một lần nữa bàn tay của Strickland giơ lên ngăn cản nhưng rồi lại mệt mỏi rũ xuống. Anh đã cho anh ta một nghìn đô la để giữ im lặng! Còn gì to hơn một nghìn đô la chứ? Tâm trí gửi đến anh câu trả lời khiến anh chết điếng, mà không cần hiểu ý nghĩa thật sự. Thế nếu có một người khác, trả cho anh ta một nghìn năm trăm, hay thậm chí là hai nghìn đô la để không giữ im lặng thì sao?
“Các người lấy đâu ra ảnh của tôi?” Anh do dự hỏi.
Họ không trả lời. Nét mặt của họ khiến anh cảm thấy hiếu kỳ. Khó hiểu. Anh không thể tìm hiểu được.
Bất ngờ, họ dẫn Florence vào phòng. Cô bước đi giữa hai người bọn họ. Florence miễn cưỡng, nhăn nhó với đôi mắt dễ thương. Quá rúm ró, bất lực giữa hai người đàn ông thô lỗ.
Anh dợm đứng lên. “Các quý ông, tôi phản đối…các ngài không thể làm thế này… tôi yêu cầu các ngài để vợ tôi yên!”
Họ giả bộ không nghe thấy gì. Họ đỡ cô ngồi xuống ghế, rất tử tế và chu đáo. Cô không phải là một nhân chứng ngẫu nhiên, để thay đổi chủ đề đối thoại, để nhử mồi, đánh lừa và giăng bẫy; cô như một đại phu nhân, đang thả bước xuống khỏi ngai vàng một lúc, vì sự cả nể duyên dáng mà sẵn sàng dạo gót sen bước vào thế giới của những gã đàn ông ngu ngốc.
“Bà Strickland, bà đã nói rằng chồng bà không rời khỏi nhà, vào đầu giờ sáng ngày ba mươi mốt tháng Năm, sau bữa tiệc bà đã tổ chức ở đây tối hôm đó?”
“Không hẳn,” cô đáp. “Tôi đã nói rằng, theo tôi biết chồng tôi không rời khỏi nhà, vào lúc đầu giờ sáng và những câu tương tự.”
“Tại sao bà cứ khăng khăng nói rõ ràng như thế?” Cameron hỏi.
“Tại sao anh cứ khăng khăng sửa lại câu tôi đã nói lúc đầu?” Cô phản pháo khá quyến rũ.
“Giờ chúng tôi sẽ hỏi bà có muốn chỉnh sửa, hoặc thay đổi tuyên bố của mình hay không.”
“Tôi không muốn,” cô đáp gọn lỏn.
“Bà đang lảng tránh chúng tôi,” Cameron lịch sự nói. “Tôi e rằng trí thông minh của bà vượt xa chúng tôi. Tôi đã thấy việc bà vừa làm. Bởi vì tôi đã dùng những từ như ‘bà có muốn’, theo đúng nghĩa bà trả lời là, ‘không, tôi không muốn’.”
“Tôi chỉ trả lời những gì ngài hỏi,” cô đáp dứt khoát. “Mà nếu tôi không bình thường, thì tôi sẽ thành cái gì?”
“Đây là vấn đề nghiêm trọng đấy, bà Strickland.”
Cô ngước lên với đôi mắt u buồn. “Cực kỳ nghiêm trọng.”
“Chúng ta không có cùng một điểm nhìn khi lần đầu tiên tôi hỏi bà. Đó là lý do tại sao tôi cho mời bà đến đây, để nhắc lại với bà điều đó. Một tài xế taxi, tên là Julius Glazer, đã xác nhận nhận với chúng tôi rằng chồng bà chính là người bắt chiếc taxi của anh ta tối hôm đó.” Anh ta lôi ra một phong bì. “Trong tay tôi đây là tờ một nghìn đô la anh ta trao cho tôi, buộc tội chồng bà đã dùng nó hối lộ anh ta, để tránh việc mình bị nhận diện. Chúng tôi hiểu sự chung thủy của bà, bà Strickland, nhưng nó chẳng vì mục đích nào cả. Giờ, tôi hỏi bà lần nữa: chồng bà có rời khỏi ngôi nhà này vào đầu giờ sáng sau bữa tiệc đó không?”
“Tôi có bị ép phải đưa ra bằng chứng chống lại chồng mình không?”
“Không, hoàn toàn không.”
Cô thở dài thật sâu, cúi đầu xuống, không đưa ra câu trả lời nào nữa.
Nhưng cô đã trả lời rồi!
Anh thấy họ trao nhau ánh nhìn đắc thắng. Đột nhiên sự hốt hoảng chiếm lấy anh. Đã đến lúc chơi con bài tẩy. Bây giờ không còn thứ gì cứu anh được nữa.
“Florence, cho họ xem mẩu giấy đi!” Anh thốt lên. “Mẩu giấy, Florence! Mẩu giấy anh đã trao cho em đó!”
Cô nhìn anh, bối rối.
“Florence, mẩu giấy!” Lúc này anh gần như thét lên.
Cô lắc đầu hoang mang, ném sang anh cái nhìn đau xót của một người mong mỏi muốn giúp người khác, người sẽ làm bất cứ điều gì trong khả năng của mình để làm điều đó, nhưng cũng là cái nhìn của người hoàn toàn không hiểu người khác đang chờ đợi điều gì ở mình.
“Mẩu giấy nào hả Hugh?” Cô nhẹ nhàng van xin.
“Florence… Florence…” Giờ họ phải ấn anh ngồi xuống ghế.
Cô lấy khăn tay ra chấm mắt, nức nở trong nỗi căm giận thực sự vì không thể hiểu nổi anh trông đợi cái gì ở mình. “Thứ duy nhất anh trao cho em…”
“Hả? Hả?” Tất cả đồng thanh thốt lên.
Cô tình cờ liếc nhìn túi xách của mình, để lộ vị trí của nó ngay trong nỗ lực đầu tiên ngăn cô đừng làm thế.
Cameron giơ tay ra lấy cái túi. Cô không muốn trao nó cho anh ta, nhưng cô cũng không cố giằng lại nó. Cô quá giống một đại phu nhân luôn sẵn sàng ra tay giúp đỡ người khác. Anh ta lấy cái túi từ trong lòng cô, mở ra và xem xét những thứ bên trong.
Một lúc sau anh ta lôi ra một mẩu giấy.
“Một tờ séc năm trăm đô la,” anh ta đọc dòng chữ viết trên đó. “Thanh toán cho người nhận séc. Thời gian là một ngày trước vụ án mạng…”
Cô đã đốt nhầm mẩu giấy. Cô đã phạm phải một sai lầm kinh khủng. Cô đã đốt mất tiêu cái mẩu giấy có thể đã cứu mạng anh, thay vì phải đốt cái tờ séc như anh đã bảo. Tuy nhiên thiệt hại cũng không đến mức quá nghiêm trọng; dù sao thì đây cũng chỉ là tờ séc thanh toán cho “Người nhận”. Nó có thể tìm thấy bất cứ ở đâu, không chỉ tại hiện trường vụ án mạng. Chẳng có nội dung nào của nó liên quan đến…
Cameron lật lại tờ séc, đọc phần mép của nó.
“Được chứng thực bởi Esther Holliday,” anh ta nói.
Một sự im lặng như hồi chuông báo tử bao trùm. Nó chỉ bị phá vỡ nhờ giọng cáu tiết của Strickland.
“Không! Không! Nó không được chứng thực khi tôi lấy lại… Không phải chữ ký của cô ta đâu! Không thể nào. Cô ta đã chết khi tôi nhặt… Thứ đó là giả mạo! Chắc chắn kẻ nào đó đã…”
Bất chợt anh trông thấy ánh mắt của Florence. Có điều gì đó với ánh mắt ấy… Lạnh lùng, không có nước mắt. Có nụ cười ẩn sâu đâu đó mà những người khác không thể thấy. Anh ngừng nói, giọng anh lạc đi như khi người ta tắt đài. Không còn từ ngữ nào bật ra khỏi môi anh nữa.
Cameron buông tay, tờ séc rơi xuống đất. “‘Khi tôi lấy lại’, anh vừa nói thế. ‘Cô ta đã chết khi tôi nhặt…’ Chắc chắn là thế rồi. Anh phải giết chết cô ta trước để lấy lại tờ séc.”
Anh ta quay sang nhìn những người khác. “Các quý ông, chúng ta có việc để làm đây. Đã đóng dấu, đã ký và đã chuyển đi.” Anh ta chỉ vào đôi bàn tay của Strickland. “Chữ ký bằng móng tay của phụ nữ, ở ngay đây. Chúng ta sẽ chụp một, hai bức ảnh, bởi vì kiểu chữ viết tay này chóng phai lắm.”
Anh ta mở cánh cửa dẫn ra sảnh, gọi với một ai đó, “Mang xe của ngài Strickland đến đây. Ông ấy cần đi cùng chúng tôi.”
Họ đỡ Strickland đứng dậy. Dù sao thì, lúc này anh cũng không thể đứng vững. Tuy nhiên cô vẫn ngồi nguyên chỗ cũ. Anh đã thấy, hoặc nghĩ rằng mình đã thấy, một điều khủng khiếp, mà chắc chắn những người khác không thể thấy, những người chẳng biết gì về cô.
Cô đang ngồi như thể cúi gục đầu xuống vì đau khổ; như thể bị nỗi đau nghiền nát đến nỗi không thể khóc hay cử động nổi. Cô chống khuỷu tay xuống bàn, bàn tay cô đưa lên mặt, che giấu đi đôi mắt, mà thực ra là cô không muốn ai nhìn thấy toàn bộ nửa trên của gương mặt mình. Nhưng từ nơi anh đứng có thể nhìn thấy khóe miệng cô; nó đang nhếch sang bên. Và cho dù nếp nhăn hẹp kéo giãn khóe miệng cô hơi lệch, họ có thể xem đó như là cái nhăn nhó vì đau khổ, nhưng anh biết rõ hơn thế, vì anh đã từng nhìn thấy nó. Đó là một nụ cười nhếch mép bất động, xấu xa không lẫn được. Biểu tượng chiến thắng vừa cay đắng vừa mặn chát. Nụ cười ám ảnh sau màn trả thù tinh tế.
Nó còn khủng khiếp hơn cả nét mặt nhăn nhó chết chóc của Esther Holliday, thế nhưng nó cũng lạnh lẽo như thế.
Anh quay người lại, khẩn khoản nhìn vào gương mặt nhân từ, đầy lòng trắc ẩn (so với vợ anh) của Cameron. “Cho phép tôi nói chuyện với vợ mình một chút. Chỉ hai chúng tôi, một phút thôi. Chỉ một phút rồi tôi sẽ đi ngay.”
“Chúng tôi không thể để ngài khuất tầm mắt được, ngài Strickland. Bắt đầu từ giờ phút này ngài đã bị bắt giữ.”
“Ở ngay trong căn phòng này thôi mà, các anh chỉ cần ra ngoài một chút…”
“Túi xách của bà, thưa bà.” Trước tiên họ lấy cái túi khỏi tay cô, như để đề phòng, sợ rằng cô và anh có âm mưu gì đó hủy hoại bản thân. Anh u sầu nghĩ họ chẳng cần phải lo lắng thế đâu. Chính bản thân cô là một âm mưu rồi, trọn vẹn con người cô.
Cô đứng dậy và không di chuyển, cách xa họ một quãng ngắn, gần hơn với bức tường, đợi anh bước đến bên cô. Cô thật lạnh lùng, thật tươi cười, thật quyến rũ. Trong con người cô lúc này, là tất cả những gì cô từng nói với anh, sự kiềm chế.
“Tại sao em lại làm thế với anh, Florence? Anh không giết ả đàn bà đó.”
Cô thận trọng chỉnh lại giọng, làm sao cho ngoài anh ra bất kỳ ai cũng không thể nghe thấy. Đôi môi của cô gần như không cử động, thế nhưng anh vẫn có thể nghe lọt từng từ rõ ràng đến khủng khiếp. (Cô luôn có kiểu phát âm tuyệt vời như thế.)
“Em biết anh không làm thế, Hugh. Và có lẽ đó chính là sai lầm lớn nhất của anh. Bởi nếu anh làm thế, tất cả những gì anh nợ em sẽ được trả hết. Sau đó hẳn em sẽ đứng về phía anh, bất chấp mọi khó khăn, em sẽ chiến đấu bên cạnh anh và ở bên anh cho đến phút cuối cùng. Nhưng anh lại không làm thế, anh đã không tự tay loại bỏ con khốn đó khỏi cuộc đời em. Vậy nên món nợ ấy vẫn còn nguyên vẹn. Và em sẽ không để yên như thế đâu. Anh có một hóa đơn phải trả đấy, Hugh. Cái giá phải trả cho ba năm nhục nhã và đau khổ ấy cao lắm, rất cao đấy.”
Trong hậu cảnh vang lên tiếng kim loại lanh canh, khi ai đó rút ra cái còng số tám.
Cô đứng đó mỉm cười với anh; lạnh lùng, quyến rũ và bất động.