ĐIỂM HẸN ĐEN

Lượt đọc: 1784 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 4
điểm hẹn thứ ba

Giờ vẫn là đêm, những tàn tích của đêm, cô đang nằm đó, im lặng, nhưng đã tỉnh hẳn, đang tuyệt vọng cầu nguyện cho đêm kéo dài lâu hơn chút nữa. Cô chưa từng nghĩ sẽ có ngày mình lại cầu nguyện như vậy. Cô luôn thích ban ngày, nhưng không thích buổi đêm; cô luôn thích ánh sáng, và không ưa bóng tối.

“Xin trời cứ tối thêm chút nữa thôi. Xin ánh sáng ban ngày hãy lùi xa thêm chút nữa thôi. Người có thể làm được mà. Con biết sớm hay muộn điều đó cũng sẽ đến. Nhưng lạy Chúa, xin Người hãy để nó đến thật chậm thôi.”

Đang nằm cầu nguyện trên ghế, đôi mắt cô ngước nhìn lên trần nhà mờ ảo, ngay phía xa là Mars[*], vị thần chiến tranh, có lẽ đang bay là là trên đầu, sắp xé nát cô ra làm đôi.

Sao Hỏa, trong tiếng Anh được gọi là Mars, theo tên của vị thần chiến tranh trong thần thoại La Mã.

Và trong khi cầu nguyện, hai tay cô đang nắm chặt một bàn tay. Bàn tay giá trị nhất trên thế gian này. Một bàn tay cô không bao giờ muốn buông ra, không bao giờ.

Không phải là một bàn tay đẹp đẽ gì. Không có hình dạng xác định, gân guốc, khỏe mạnh và có nhiều chỗ lồi lõm, lòng bàn tay chai sạn… Nhưng, ôi, bàn tay ấy!

Cô ngoảnh đầu sang, lại hôn lên bàn tay ấy, dễ đến mười lăm lần rồi.

Chiếc đồng hồ báo thức có thiết kế thông minh, có hai kiểu chuông, to và dịu, vang lên tiếng brừ brừ, rất nhẹ nhàng; và lời cầu nguyện của cô bị át đi. Nó thực sự rung nhiều hơn là phát ra tiếng. Khi nó vang lên êm dịu như thế, thì vỗ nhẹ một lần. Khi nó vang lên to hơn, vỗ nhẹ hai lần. Cô nhanh chóng đưa tay vỗ nhẹ và nó ngừng lại.

Bàn tay của cô lại quay về nằm trên ngực người sở hữu nó, miễn cưỡng để nó nằm yên đó. Như thể bàn tay ấy là thứ cô vay mượn và phải trả lại. Cô xuống giường, nhặt váy áo, đồ lót và tất rồi bước vào căn phòng tắm nhỏ, mặc đồ trong đó mà không quấy rầy anh. Với đôi mắt của cô lúc này, ánh sáng chẳng khác gì ngọn lửa đất đèn, nhưng cô nhanh chóng đóng cửa phòng tắm, giữ ánh sáng lại bên trong với mình, tránh xa khỏi phòng ngủ.

Thế rồi cô bắt đầu khóc. Cô khóc ngon lành vì biết đây là cơ hội cuối cùng mà mình có, cho đến sau khi tất cả đã chấm hết. Chính phủ đã nói rằng cô chắc phải vui sướng lắm. Bốn mươi tám bang nói rằng chắc cô phải hớn hở, thậm chí là hăng hái lắm. Bốn mươi tám bang đó chỉ là những vùng phẳng lì trên bản đồ, không có cả trái tim lẫn những mạch máu.

Cô bận rộn suốt mười lăm phút, trong cái căn hộ bé tí ấy đi vào rồi đi ra, mà không hề đánh thức anh.

Và bây giờ mọi thứ đã xong xuôi, chẳng còn gì để làm nữa. Giờ mới là phần khó khăn nhất. Giờ mới là lúc lật bài ngửa. Cô hít một hơi thật sâu để trấn tĩnh. Giờ bức rèm đã kéo lên. Giờ cô đã được hít thở không khí trong lành.

Cô bước đến bên giường, dịu dàng đặt tay lên ngực anh.

“Anh yêu,” cô nói. “Cả cuộc chiến đang chờ kìa.”

Anh mở mắt và cười toe, lười nhác.

“Ồ,” anh nhớ ra, “hôm nay là ngày anh lên đường.” Và anh nhổm dậy thật nhanh.

“Dao cạo của anh nằm sẵn trên giá rồi,” cô nói. “Thậm chí em còn lồng dao vào mà không đứt tay.” Cô liếm ngón cái. “À, không đứt tay nhiều lắm. Em đã mở sẵn nắp ống tuýp mà anh hay dùng. Có bắn ra ngoài một ít. Chắc tại lúc bóp em không để ý. Đó là tất cả những gì em biết làm trong cái căn hộ này. Không, không phải chúng. Có một bộ sạch sẽ đang chờ anh trên cái ghế đằng kia kìa.”

“Đằng nào thì anh cũng sẽ cởi chúng ra ngay ấy mà,” anh nói.

“Ôi, anh phải làm thế nữa à?” Cô thấy hơi phật ý. Chẳng nhẽ họ không thể có được dù chỉ là một chút riêng tư sao?

“Họ trao chúng cho mình mà,” anh nói.

Anh cạo râu và mặc quần áo.

“Trông có dài quá không?”

“Chưa đủ…” cô định nói thế, nhưng kịp sửa lại. “Chẳng dài chút nào.”

“Anh chưa bao giờ cạo râu nhanh đến thế. Da có hơi rát.”

“Sao anh không dùng bọt cạo râu?”

Anh phá lên cười. “Anh nghĩ hôm nay không nên dùng. Mùi của nó như kẹo ấy.”

Họ cùng ăn sáng.

“Em có sợ không?” Anh hỏi.

“Không,” cô nói dối bằng nụ cười rạng rỡ. “Còn anh?”

Anh nhún vai. Về chuyện này anh thành thật hơn cô. “Thật sự thì không. Chỉ hơi run chút thôi. Và một chút phấn khích nữa. Như những gì anh thường cảm thấy ở trường học, vào cái ngày kết quả thi tốt nghiệp sắp được công bố, khi anh không biết mình trượt hay đỗ. Và giống như cảm giác của anh vào ngày chúng mình cưới nhau. Ý anh là trước đó. Không phải sau đó.”

“Hôm nay em sẽ không ngồi ghế của mình. Nó… nó ở xa quá. Liệu anh có thấy chật không nếu em… Em và anh ngồi chung ghế được không?”

“Anh sẽ vòng tay ôm em để giữ em khỏi ngã. Mà ôm em chỉ cần một cánh tay là đủ.”

“Giữ chặt vào nhé,” cô thì thầm.

“Anh có muốn nghe đài không?” Cô đang ấp úng.

Anh nhìn cái đài hoài nghi. “Sớm thế này thì có gì đâu nhỉ? Chúng mình chưa từng nghe đài vào giờ này.” Rồi anh nói, “Thôi chúng mình nói chuyện đi.”

Cô thở dài. Đó cũng là điều cô muốn.

Anh bỏ khăn ăn xuống bàn. “Anh cho rằng tốt hơn nên…”

“Chỉ uống thêm một tách cà phê,” cô nhanh chóng ngắt lời.

“Còn em thì sao?”

“Cho em uống tách của anh.” Cô đẩy tách của mình ra thật xa.

Cô lại cầu nguyện. Cô cầu nguyện với tách cà phê. Anh không thể nghe thấy cô. “Hãy đổ đầy tách cà phê này. Đừng để nó hết sạch. Xin hãy làm đầy nó bằng cách nào đó, từ dưới lên. Bằng phép thuật, bằng phép màu. Người làm được mà.”

Cô lại đặt tách xuống.

“Hết sạch,” anh nói dứt khoát. Và anh nghiêng cái tách, đặt lại nó lên đĩa đựng chén với tiếng cạch cuối cùng.

Anh lấy khăn ăn lau miệng mình và cả miệng cô.

Vòng tay anh không còn ôm nữa, cô phải đứng dậy, nếu không hẳn sẽ ngã khỏi nửa cái ghế đang ngồi. Anh đứng dậy sau cô.

Bữa sáng đã kết thúc. Mãi mãi. Không bao giờ tái diễn, không bao giờ tái… Cô nhanh chóng lắc đầu xua đi hình ảnh đó.

Anh đã gói ghém đồ đạc xong từ đêm hôm trước. Đồ của anh cũng chẳng nhiều nhặn gì.

“Đêm qua chúng ta đã rà soát hết mọi thứ,” anh nhắc cô nhớ, “để không phải nhắc lại nữa. Em có hai cuốn sổ ngân hàng. Đừng làm mất nhé. Cuốn sổ có bìa xanh lá, lãi suất hai phần trăm. Cuốn sổ có màu xanh dương chỉ có một phẩy năm phần trăm thôi. Thế nên bất kỳ khoản nào không dùng đến trong những khoản mà anh gửi, em cho hết vào cuốn sổ bìa xanh dương nhé.”

“Xanh lá. Xanh dương. Em sẽ cố nhớ.” Nhưng trong thâm tâm, cô chẳng thể nào phân biệt nổi, cả hai cuốn sổ như hòa vào nhau làm một, trong một mớ hỗn độn.

“Mấy cái séc này thì em từng thấy anh dùng rồi đấy, mỗi lần viết séc em phải trả mười xu. Thế nên hãy để dành chúng cho những thứ quan trọng như tiền nhà, tiền gas. Nó an toàn hơn tiền mặt đấy.”

Giọng anh lạc đi trong chán chường. “Nói về séc sủng với lãi suất làm gì…”

“Em cũng…”

Bỗng họ lao vào nhau như hai người trong đường xe điện ngầm. “Này đừng khóc,” anh cảnh cáo giữa những nụ hôn. “Em hứa rồi mà.”

“Em không khóc, sẽ không khóc.”

Cô giúp anh đội mũ và mặc áo choàng, trao cho anh cái bọc nhỏ đóng gói từ trước.

“Em muốn đi tiễn anh lên tàu,” cô nói. Cô định để dành thứ này đến phút cuối cùng, vì e rằng sẽ bị từ chối nếu đưa ra quá sớm.

“Anh không đi thẳng đến đó đâu. Đầu tiên anh phải ghé qua ban tuyển quân đã. Họ tập hợp bọn anh lại rồi từ đó sẽ đi tiếp.” Anh nói thêm, như thể cho thấy họ rất hào phóng. “Họ trả tiền vé cho bọn anh.”

“Vậy hãy cho em đi cùng đến nơi tuyển quân nhé.” Mỗi khi nói đến cái từ này, một hình ảnh lạ lùng, cứ trở đi trở lại trong tâm trí cô, đó là một tấm ván gỗ thông được bào phẳng mà người ta hay ngả xuống mỗi khi phác thảo ý tưởng bằng bút chì; cho dù ngay từ đầu cô đã biết hết, tất nhiên.

“Mấy thằng khác lại nghĩ…”

“Em không xấu hổ khi ai đó biết rằng em yêu anh.”

Hiệu quả rồi. “Được rồi. Nhưng chỉ đến góc phố thôi đấy, không được tiễn đến tận cửa đâu.”

Cô đóng cửa lại mà không quay nhìn đằng sau. Cô không muốn nhìn lại nơi này.

Họ bắt xe buýt, chỉ còn một ghế trống, ngay cả khi trời vẫn còn sớm. Cô ấn anh ngồi xuống ghế. Cô thì thầm, “Hôm nay, em muốn anh ngồi xuống ghế, còn em sẽ đứng.”

“Eo, người ta nhìn kìa…” anh do dự.

“Ai quan tâm đâu?” Cô kiên quyết nói.

Một người đàn ông đứng dậy, nghiêng mũ và nhường ghế. Cô nhìn rồi lắc đầu. “Nó xa quá,” cô thì thầm với anh. Mà cái ghế chỉ nằm bên kia lối đi.

Họ xuống xe. “Lên lối này,” anh nói.

Cô nắm lấy cánh tay anh. Như thể tự mình bước lên đoạn đầu đài. Tự bước đi, không cần lính gác áp giải.

Họ đã đến góc phố. “Nó kia rồi, nằm ngay dưới kia,” anh nói.

Đó chỉ là một căn nhà chung cư to xám xịt. Cô ngạc nhiên khi phát hiện ra nhiều người đi phía trước đang sống trong các căn hộ khác, trong khi ban tuyển quân đang bận rộn thúc giục cư dân xuống tầng một. Thậm chí cô còn liếc thấy một phụ nữ đang giũ bụi cái giẻ lau nhà ngoài cửa sổ cách đó hai tầng.

“Con ước gì nó sẽ nổ tung,” cô cầu nguyện. “Con ước gì cả tòa nhà này sẽ sụp đổ, đúng vào lúc chúng con vẫn đang đứng nhìn.” Cô lại gạt đi, cho rằng nếu điều ước thành sự thật thì họ sẽ lại chuyển sang tòa nhà khác thôi.

Lúc này họ đang đứng đối mặt nhau. Dường như họ không biết phải nói gì. Có quá nhiều điều để nói, đúng vậy, chẳng ít gì đâu. Chỉ là chúng cứ tắc nghẹn trong cổ họng mà thôi.

“Nhìn này,” cô nói, đưa tay chỉ một cặp đôi đứng gần đó. “Họ cũng làm thế đấy. Cô ấy cũng đi cùng anh ấy đến tận đây.”

Anh chớp ngay cơ hội này cho cô một bài minh họa trực quan. “Thấy chưa? Cô ấy không khóc, em thấy không?”

Cô ta lừa anh thôi, cô ta không phải em, cô nghĩ.Em là đàn bà rồi.

Một người đàn ông một mình phóng tới góc phố, chạy ngang qua họ. Anh ta nhận ra Bucky, rõ ràng từ những lần cả hai đi diễu hành cùng nhau. Thậm chí dường như anh ta còn biết cả tên của anh.

“Đừng có đứng đực ra đó nữa, Paige,” anh ta gọi lại cảnh cáo. “Chỉ còn có hai phút nữa thôi đấy.”

“Cậu không bị muộn đâu,” Bucky gọi, với vẻ đùa cợt. “Cứ để họ chờ đi.”

“Chẳng có ai đi tiễn anh ấy sao?” Cô tò mò hỏi.

“Không, cậu ấy là một con sói cô đơn, anh chàng tội nghiệp.”

Cô nào đó không biết đến cảnh này đúng là may mắn thật, cô nghĩ.

“Mà anh đi đây…” Họ hôn nhau, rồi lại hôn nhau. Rồi lại hôn nhau, hôn nữa và hôn mãi. Thế rồi họ ngừng lại, rời xa vòng tay nhau.

“Giờ thì quay về nhà ngay. Đừng có đi lung tung đấy nhé.”

“Em sẽ về. Em sẽ không đi lung tung.”

Khi đang lùi dọc theo vỉa hè, với hai cánh tay mở sang hai bên trong một cử chỉ tự hào về bản thân, câu cuối cùng cô nói với anh là, “Nhìn này, Bucky. Em thậm chí còn không khóc này. Chẳng phải em đã nói em sẽ không khóc sao? Và nhìn đi này. Em không khóc.”

“Anh dám cá rồi em sẽ khóc thôi,” anh miễn cưỡng nói.

“Không, em sẽ không khóc. Anh sẽ thấy…”

Và rồi ý nghĩa những lời mình nói chợt làm cô choáng váng, gương mặt cô trong phút chốc nhăn nhó đến mức không kiểm soát được. Cô quay ngoắt lại và bỏ đi, để anh không trông thấy. Cô bước ngày càng nhanh hơn. Đầu tiên chỉ chạy từng bước ngắn, rồi vùng chạy. Cô lao lên con phố. Có một hiệu dược phẩm trên đó, nó đang mở cửa, thật may mắn làm sao. Cô lao vào trong. Cô tiến thẳng đến các buồng điện thoại, tất cả đều nằm phía sau cửa hàng. Tất cả đều trống rỗng. Cô tự nhốt mình trong một buồng điện thoại, quỳ sụp xuống trong đó, khuất khỏi tầm nhìn.

Cô khóc như chưa bao giờ được khóc. Cô khóc cho cả những năm tháng dài phía trước. Cô khóc, vì sự vô nghĩa của cuộc chiến.

Một người đàn ông cố gắng bước vào, mở bật cửa ra trước khi trông thấy cô ngồi một đống trong đó. Theo phép lịch sự ông ta nói, “Ôi, xin lỗi!” và lại đóng cửa buồng điện thoại. Nhưng cô chẳng buồn quan tâm, cô vẫn đang khóc.

Cô đang đứng trên lối vào hiệu dược phẩm, chờ đợi và ngắm nhìn anh, mười lăm phút sau khi anh cùng các đồng đội đi ngang qua. Cô biết không sớm thì muộn họ sẽ phải đi qua hiệu dược phẩm này, điểm dừng xe buýt nằm ngay góc phố.

Hiệu dược phẩm có hai lớp cửa ra vào bằng kính, cô lẩn vào giữa hai lớp cửa, không để cho anh nhìn thấy. Đó là một điểm lợi thế, cô có thể trông thấy anh.

Họ xếp thành hai hàng, bước đi cùng ba lô và tay nải, anh đi ở hàng bên trong, là người thứ ba từ dưới cùng tính lên.

Anh đang nói chuyện với người đi kế bên mình. Anh ấy đã có bạn rồi cơ đấy. Anh ta quay lại, nói điều gì đó với anh.

Cô chỉ trông thấy một bên mặt anh. Nhưng ôi, chính là nét mặt mà cô hằng yêu dấu!

Bàn tay cô áp lên mặt kính cố gắng giữ anh đứng yên, ngay tại chỗ, nhưng anh vẫn lướt đi, vì anh không thực sự ở đó. Chỉ là lớp kính mà thôi.

“Tạm biệt, Bucky,” cô thở hổn hển. “Tạm biệt, tình yêu của em.”

Nét mặt nghiêng của anh đi khuất, chỉ còn lớp kính vẫn ở nguyên chỗ cũ. Nhưng cô không cần lớp kính, cô cần Bucky.

Anh mang nó bên mình, như thể một thứ gì đó quý giá, sẽ bảo vệ anh trước cả thế giới này, anh sẽ giữ nó cho riêng anh và chỉ mình anh mà thôi. Anh bước vào trại lính, nơi vào giờ này chẳng có ai. Anh nằm cuộn tròn trên chiếc giường tầng cùng với nó. “Cuộn tròn” là một từ miêu tả hết sức chính xác; anh nằm nghiêng, co đầu gối lên tận cằm, tạo thành nửa vòng tròn bảo vệ xung quanh nó. Một thứ của riêng anh. Lá thư vuông vắn tỏa sáng rực rỡ trong một thế giới u ám đáng sợ.

Lá thư của cô.

Gửi chồng yêu dấu của em,

Không tính thư này thì em đã viết cho anh mười một lá thư rồi. Nhưng anh sẽ chẳng nhận được đâu vì em chẳng bao giờ gửi đi. Ai cũng bảo rằng, “Phấn chấn lên, chỉ viết những gì vui vẻ thôi, viết những lá thư tích cực thôi.” Em biết, em biết chứ. Nhưng sẽ chẳng hiệu quả đâu. Tại sao bây giờ em phải nói dối anh? Trước giờ em chưa từng nói dối anh.

Và đây là lá thư thứ mười hai. Lá thư trung thực. Mặc kệ các nhà kiểm duyệt nhíu mày, lắc đầu và cắt bỏ hết đi cũng được. Em chẳng quan tâm nữa.

Em không thể tiếp tục nữa. Em thấy anh ở khắp nơi, anh hiện diện trên mọi ngả đường em đi, đến đâu em cũng trông thấy bóng hình anh. Chúa không hề muốn chuyện này xảy ra với bất kỳ ai, quá nhiều chuyện xảy ra cùng lúc. Chúa không hề muốn đôi mắt em phải rơi lệ nhiều đến thế. Người không hề muốn trái tim em, tâm hồn em phải đớn đau nhiều đến thế. Người không thể xoa dịu nỗi đau, hoặc là Người muốn chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn.

Khi em ngồi xuống bàn ăn, em thấy anh ngồi ngay đối diện, nhưng anh chẳng nói gì với em, chúng ta không nói chuyện với nhau. Em van xin anh, em van xin nhưng anh chẳng nói gì. Khi em bước chân xuống phố, cánh tay trái của em trống rỗng và cô độc biết bao. Ngọn gió lạnh lẽo thốc ra từ góc phố và em cảm thấy ở phía ấy là vực sâu hun hút. Khi em đi mua sắm tại A &P, em quay lại và đưa anh mang giúp những gói đồ em mua, để rồi nhận ra rằng anh không còn ở bên em nữa. Em cứ đứng nguyên đó, đống đồ trên tay em cứ chìa mãi ra trên sàn nhà trống vắng.

Và khi em mang những tờ báo ngày Chủ nhật vào nhà, những mẩu truyện tranh vui nhộn luôn nằm trên trang nhất… Tại sao chúng luôn phải nằm trên trang nhất? Nhưng chẳng còn ai đó hay giật lấy chúng, như đã từng làm, rồi cắt cắt xé xé khắp các phía trang báo để lấy mấy cái truyện ấy ra nữa. Chẳng còn ai đó để nghe em gắt lên, như em hay làm mỗi ngày Chủ nhật. “Chờ đã, anh không chờ được à? Chờ đã. Anh bao nhiêu tuổi rồi hả, mười hai à?” Chúng nằm yên đó, khắp căn hộ này. Chẳng còn ai muốn đọc truyện cười nữa, sáng nào em cũng ngồi ôm lấy chúng, đợi chờ, nhưng chẳng còn ai giật chúng khỏi tay em nữa, chẳng còn ai cười khúc khích như thằng bé ở góc phố, chẳng còn ai giấu mặt phía sau những tờ báo. Cuối cùng em buộc phải đốt hết chúng đi, vì truyện cười không nên làm ta buồn đến thế, lẽ ra chúng phải khiến ta hạnh phúc. Thế rồi em thấy hối hận (“Nhỡ đâu anh ấy có thể bước ra từ phòng ngủ, sáng nay anh ấy chỉ ngủ quá giấc thôi.”) nhưng giờ thì không thể lấy lại được nữa rồi. Em vội vã chạy xuống tầng hầm, nhưng quá trễ mất rồi, chúng đã cháy thành tro trong lò.

Anh hiện diện ở khắp nơi, nhưng cũng chẳng ở đâu cả. Em không thể tiếp tục được nữa. Em không muốn trở thành vợ của một người hùng. Em chỉ muốn là vợ của Bucky. Nhưng họ sẽ không để em toại nguyện. Em có thể làm gì đây, em sẽ sống tiếp thế nào đây? Nói cho em biết đi, ôi hãy nói cho em biết đi, tình yêu của em, cho em biết đi, nhanh lên, vì em không thể chịu đựng lâu hơn được nữa.

Sharon.

… Em đã làm theo lời khuyên của anh mà nộp đơn đi xin việc. Họ hỏi em làm được gì. Em nói với họ, “Chẳng gì cả.” Họ hỏi em muốn làm gì. Em nói với họ, “Gì cũng được.” Em bảo họ em muốn làm việc ở nơi nào ầm ĩ nhất, ánh sáng chói gắt nhất, nhiều máy móc nhất và đông người nhất. Họ không hỏi em tại sao. Họ chỉ nhìn em và dường như họ hiểu…

… Nơi này như một thế giới mới, lạ lùng, nhưng nó giúp em không nghĩ về anh. Âm thanh loảng xoảng giúp em không thể nghe thấy tên anh. Ánh sáng chói gắt giúp em không thể nhìn thấy gương mặt anh. Đó là điều em muốn. Chúng ta sẽ đợi chờ cuộc chiến này kết thúc theo cách đó, em và anh. Chúng ta sẽ đánh lừa tất cả…

… Bây giờ em là một cỗ máy rồi. Không cảm xúc, không suy nghĩ, không đau đớn. Suốt ngày dài em tê liệt vì tiếng ồn, quá ầm ĩ đến mức không còn đau đớn. Suốt đêm dài em tê liệt vì kiệt sức, quá mệt mỏi đến mức chẳng còn đớn đau. Nhìn em cũng chẳng khác gì một cỗ máy. Chiếc mặt nạ bảo hộ đen ngòm ngăn cản anh nhìn thấy gương mặt em. Chiếc mũ trùm bằng nhôm ngăn cản anh nhìn thấy mái tóc em. Đôi găng tay sắt nặng nề ngăn cản anh nhìn thấy bàn tay em. Mặc cả bộ đồ bảo hộ, anh không thể nói em là phụ nữ nữa đâu. Người ta đều cười nhạo em bởi vì em đã mặc váy vào ngày đầu tiên đi làm. Em là người duy nhất trong cả nhà máy này mặc váy. Đám đàn ông hỏi nhau, “Đã bao giờ tôi từng thấy một người trong số họ chưa nhỉ?” Và rồi họ nói, “Đó là một cô gái, cậu nhớ không. Một trong những thứ mềm mại họ từng mặc trước chiến tranh.” Và rồi họ nói, “Chúng để làm gì nhỉ? Tôi quên rồi.”

Ít nhất thì em cũng không đau đớn.

Và thời gian thì luôn ủng hộ em. Ủng hộ chúng ta. Mỗi ngày trôi qua là cuộc chiến lại kéo dài thêm một ngày; nhưng đồng thời mỗi ngày trôi qua cuộc chiến cũng lại rút ngắn đi một ngày. Liệu anh có nghĩ rằng cuộc chiến đã trôi qua một nửa thời gian mà chẳng ai nhận thấy? Hãy nói rằng em đúng đi, hãy nói đi! Có thể đó là ngày hôm qua, thậm chí có thể là ngày hôm kia.

Từng có một thứ gọi là Hòa bình. Anh còn nhớ không? Còn nhớ không? Đã lâu lắm rồi và xa lắm rồi…

… Chị đồng nghiệp của em trông cũng giống cỗ máy như em, nhưng chị ấy vẫn còn giống một cô gái, rất là giống. (Dù em nghĩ rằng chị ấy chẳng hề biết đau đớn là gì.) Chị ấy yêu nhưng không để mình bị tổn thương. Em không biết chị ấy đã làm thế nào, nhưng chị ấy là người có nguyên tắc. “Như việc băng qua đường vậy thôi,” chị ấy nói. “Đi thật nhanh, tránh thật nhiều, và bạn sẽ không bị đâm.” Chị ấy có mái tóc màu đỏ sẫm. Em đã từng thấy mái tóc ấy trên phố, trên đường về nhà, và vì nó mà người ta gọi chị ấy là Rusty. Nếu anh gọi chị ấy bằng tên họ chính xác, chị ấy sẽ chẳng nhận ra nữa đâu, chị ấy còn chẳng biết đó là tên mình. “Không biết họ gọi ai vậy nhỉ,” chị ấy nói vậy. Em đã theo dõi chị ấy. Mỗi bộ váy thường mặc khoảng một tuần. “Các cửa hàng giờ đây đều cho thuê một tuần,” chị ấy nói. “Mặc lâu hơn làm gì chứ? Chúng sẽ bị mòn mất thôi.” Những ngày thứ Tư dường như là ngày chị ấy “mang váy cũ ra cửa hàng đổi lấy váy mới”. Đừng hỏi em tại sao. Đều đặn cứ vào thứ Tư hàng tuần là chị ấy đều diện bộ váy mới theo kiểu “dùng thử không thích thì đổi lại”. Em lúc nào cũng nghe nói về chúng suốt, kể cả trong bữa ăn trưa.

Bây giờ chị ấy có người mới rồi. Anh ta chờ chị ấy từ ngoài cổng, khi chị ấy đang rời khỏi nhà máy cùng một đám đông…

Khi chị trông thấy anh bị bao vây, bị tách khỏi phần còn lại của đám đông, và thực sự đang cầu khẩn chị gọi tên mình, chị đã ném cho anh một sợi dây thừng. Chị thực sự đã trao cho anh một sợi thòng lọng. Dụ anh bước vào và chính chị là người thắt nút.

“Em biết gì không?” Anh hỏi. Một câu hỏi không được hiểu theo nghĩa đen. Anh không quan tâm đến điều chị nghĩ.

“Anh biết gì không?” Chị đáp. Chị cũng chẳng quan tâm đến điều anh nghĩ.

Anh nghiêng mũ, cái phong tục từ thời trước chiến tranh lạc hậu, đã bị lãng quên trong giới này, nhưng nó khiến chị vui. Gần như được hôn tay vậy.

Chị cắm cúi đi tiếp, anh rảo bước bên cạnh, nhanh nhảu tìm một quán nào đó để ngồi.

Vẻ nghiêm trang, màu mè thậm chí còn lạc hậu hơn cả hành vi nghiêng mũ. Chắc cũng gần giống động tác nhún gối chào.

Chẳng ai đùa cợt, trêu ghẹo ai. Chẳng có thời gian, phải vào ngay vấn đề.

“Anh định đưa em đi đâu à?” Chị muốn biết.

“Em chọn quán đi.”

Chị chọn. “Được rồi. Quán Harry’s, gần quảng trường.” Và rồi, như thể muốn tránh lăn tăn về tài chính, chị nói thêm, “Đừng có chi quá đà đấy nhé. Em sẽ chọn quán Dutch nếu anh thấy ngại; em kiếm được chín mươi đô la mỗi tuần, và cái thứ chết tiệt ấy đang khiến em vướng quá. Em toàn phải nhét chúng xuống dưới đệm hàng đêm ấy.”

“Ai nói là anh ngại chứ?” Anh đáp. “Chỉ là vì anh muốn…”

“Ai vào đó trông cũng giống chúng ta hết. Ta nên làm gì nhỉ, thay đồ à? Đang có chiến tranh mà.”

Trên đường đi, anh nói, “Bạn em tối nay đâu rồi?”

Chị đáp, “Ồ, cô ấy hả?” Rồi nói thêm, “Anh để ý tới cô ấy à?”

“Chỉ vì cô ấy hay đi cùng em thôi,” anh đáp ngay.

“Anh không lôi cô ấy ra ngoài được đâu,” chị nói. “Cô ấy là một trong số các góa phụ chiến tranh. Ở lì trong phòng suốt buổi tối. Anh phải gặp cô ấy. Thậm chí cô ấy còn đổi sang mặc váy khi quay về nhà nữa cơ.”

Họ đến phòng ăn tối và khiêu vũ của quán Harry’s, và phải chen lấn đến bàn ăn của mình. Họ phải dùng bàn cùng một cặp đôi khác, nhưng cho dù khuỷu tay họ có va vào nhau và làn khói thuốc phả vào mặt nhau, thì hai cặp chẳng hề nói chuyện với nhau, hoàn toàn chỉ biết đến mình, như thể họ cách xa nhau hàng ngàn dặm. Chẳng ai tồn tại trong thế giới của ai.

Họ uống rượu khai vị. Họ giới thiệu tên tuổi với nhau. Anh bảo chị, tên anh là Joe Morris.

“Gọi tiếp rượu đi,” anh nói, khi giai đoạn này đã qua.

“Anh định chuốc cho em say, hay anh muốn em vẫn còn tỉnh táo? Chẳng tạo ra sự khác biệt nào đâu, vì em chỉ có thể dễ dãi khi em biết rõ mình đang làm gì.” Họ uống thêm rượu. Rồi chị nói, “Vận động chút đi anh. Như thế sẽ giúp giã rượu.”

Họ đứng dậy và bước ra sàn nhảy. Bạn có thể thấy những ánh đèn đôi khi lướt qua dưới chân họ, nhưng chỉ trong thoáng chốc.

Thế kỷ mười tám rộ lên điệu nhảy minuet. Thế kỷ mười chín là điệu valse. Những năm 1940 đến cùng những cơn cuồng sảng rượu cấp[*], có thể tự xuất hiện rồi dịu đi, không cần sự can thiệp của áo bó hay nhân viên y tế.

Cuồng sảng rượu cấp: Trạng thái mê sảng thường xảy ra khi người nghiện rượu nặng ngưng uống rượu. Biểu hiện của nó là lú lẫn, mất phương hướng, ảo giác, cảm xúc thất thường cũng như bộc phát hành vi ngang ngạnh hoặc bạo lực.

Anh mở rộng chân rồi đẩy chị ra xa, giống như thùng thư tuột xuống máng trượt; hãm rồi thình lình kéo giật chị lại, còn chị - thật kỳ diệu - lại vững chãi đứng thẳng trước mặt anh. Anh cúi xuống vác chị lăn tròn trên lưng, từ trái sang phải, rồi thả xuống sàn.

Chẳng ai va chạm với ai. Mà nếu có chăng nữa, họ cũng chỉ xem như một bước nhảy nữa, bạn không thể nói đó là lỗi hay là cố tình. Ngoại trừ những tai nạn trông có thể vui hơn một chút.

Họ nhảy xong và khen ngợi lẫn nhau.

“Anh nhảy giỏi lắm,” chị nói.

“Em cũng khá mà,” anh nói.

Họ gọi thêm hai ly rượu nữa. Sau đó mỗi người ăn một chiếc bánh sandwich để làm rượu dịu bớt. Thế rồi theo thông lệ của căn phòng này, hai người nhảy một lượt cuối. Họ đứng dậy cùng nhau bước ra. Hai người đã tận hưởng một buổi tối tĩnh lặng, dễ chịu và trọn vẹn trong thời chiến. Có thể hơi buồn tẻ một chút, không có đánh đấm nhau hay gì hết.

Anh cùng chị đi bộ về căn hộ chung cư của chị.

Đến nơi anh buông lơi vòng tay, bỏ mặc cánh tay chị chơi vơi trong không gian trống rỗng. “Anh sẽ gặp lại em,” anh nói.

Chị ném cho anh cái nhìn trống rỗng. Không một ánh mắt nào phẫn uất nhiều bằng ánh mắt cực kỳ hoang mang, không hiểu nổi.

“Vậy cả buổi tối nay là vì cái gì kia chứ? Chỉ là tình cảm chị em trong sáng thôi à?”

Anh mất một lúc mới trả lời, nhìn thẳng vào mắt chị một lúc, như thể đang tự hỏi chị sẽ tiếp nhận câu trả lời của anh thế nào. Anh mỉm cười với chị, nụ cười có sự pha trộn giữa vô tư và bẽn lẽn.

“Anh muốn được gặp cô bạn của em,” anh nói.

Tiếng chị đóng sầm cửa lại như thể tiếng nổ của vỏ đạn.

Anh rút một chân khỏi ngưỡng cửa, nhưng đó là cử động duy nhất của anh. Như thể anh đã đọc được chính xác những suy tư thầm kín của chị, chỉ với một ánh nhìn.

Cánh cửa lại mở ra. Anh vẫn đứng đó. Tiếng cười the thé của chị như xé tan màn đêm. Chị chìa tay ra, như một biểu hiện của tình bạn.

“Em không bao giờ buồn bất kỳ chuyện gì quá ba mươi giây. Đêm mai đến nhé. Em sẽ hẹn cô ấy cho anh.”

Tối hôm sau chị nói với Sharon, vào khoảng tám giờ kém mười lăm. “Xuống nhà vào phòng khách nhé, chị muốn em giúp chị một việc.” Chị nắm chặt cánh tay cô, cố gắng đẩy cô về phía trước bằng sức mạnh của một cái cối xay gió.

“Gì thế?” Sharon hỏi.

“Chị muốn em gặp một người bạn của chị.”

“Cô ta không tự lên đây được à? Có chuyện gì sao?”

“Là đàn ông em ơi, một anh chàng.”

Sharon rụt tay về, cố gắng cưỡng lại. Chị không thể làm cô nhúc nhích thêm nữa.

“Thôi mà,” Rusty van xin. “Chị muốn em giúp chị, giúp chị đi, đi mà.” Hai tay chị giơ lên đầy hào hứng. Rồi chị kéo ghế ra giữa phòng, đặt tay lên vai Sharon, ấn cô ngồi xuống ghế, như thể phải làm theo cách ấy cô mới chịu lắng nghe. Rồi chị kéo một chiếc ghế khác ra, dành cho chính mình, đặt đối diện chiếc ghế thứ nhất.

Chị rướn người về phía trước với sự tò mò mãnh liệt, hai bàn tay đặt lên đầu gối, hai khuỷu tay khuỳnh sang hai bên.

“Nghe này, em quý chị, đúng không?”

“Phải, em quý chị,” Sharon đáp, có phần hơi bối rối, như thể nhận ra là nếu cô tự thú lần này thì có thể sẽ phải tự thú tiếp những lần sau.

“Thế thì giúp chị một chuyện, thoát khỏi một tình huống khó khăn được không?” Và như thể để gây tác động lên câu trả lời, chị ranh mãnh nói thêm, “Nếu đổi lại người hỏi là em thì chị sẽ giúp ngay mà không nề hà.”

“Tình huống khó khăn như thế nào?”

Rusty hạ giọng xuống thành lời thì thầm khàn khàn, cho dù kể cả nãy giờ chắc chắn chẳng có ma nào nghe lén. Tuy nhiên, sự hồi hộp lại tăng lên.

“Dạo này chị đang qua lại với một anh chàng,” chị nói the thé, hai tay hoa lên như thể đánh tín hiệu. “Anh ấy là một chàng trai tốt, chẳng có gì để chê. Chỉ là tối nay chị… à, chị có những thu xếp khác. Hiện anh ấy đang đợi chị dưới kia, và chị không muốn làm anh ấy thất vọng.” Chị nắm lấy một bàn tay của Sharon, vỗ vỗ mu bàn tay ra chiều nịnh nọt. “Cắt đuôi anh ấy hộ chị với, chỉ tối nay thôi. Chị có hẹn với người khác mất rồi, và chị không thể hủy nó được. Chị ước gì mình có thể, nhưng không được.”

“Sao chị không tự đi mà nói với người ta?”

“Chị không muốn làm theo cách đó. Chị không muốn làm tổn thương những cảm xúc của anh ấy. Em thay chị đi chơi với anh ấy nhé. Giúp chị đi, nhé?”

Sharon đứng dậy, bước vòng ra phía sau ghế. “Em kết hôn rồi. Em không…”

Rusty liếc mắt, như thể muốn bày tỏ sự khó chịu thực sự. “Việc này chẳng liên quan gì. Có phải là hẹn hò đâu. Chị không bảo em đi hẹn hò. Anh chàng tội nghiệp ấy lúc nào cũng chỉ có một mình. Chỉ là tình bạn thôi mà. Em không cần phải quan tâm đến anh ấy. Em không thể dành thời gian giúp chị được à? Em chỉ cần đi với anh ấy nửa tiếng rồi về thôi.” Chị giơ cả hai tay lên cao quá đầu, như thể một kết thúc kịch tính.

“Em không thích ý tưởng này,” Sharon nói, nheo mắt chìm trong suy tư. “Suốt thời gian Bucky đi vắng, em chưa từng làm chuyện đó. Bây giờ em cũng sẽ không bắt đầu làm thế. Em không hiểu sao mình lại đồng ý để chị dụ…”

“Có sao đâu chứ, em không tin tưởng bản thân mình à?” Rusty không thể ngăn mình tung ra những lời nhạo báng. “Được rồi,” chị nói, không cho cô thời gian để đáp lại. “Được rồi.” Bàn tay chị lại có thêm một cử chỉ quyết liệt nữa, lần này là ngay trước trán, như thể muốn xua đuổi đi điều gì đó. “Chị em mình không nói về chuyện này nữa. Chủ đề này kết thúc rồi. Sẽ không nói một câu nào nữa. Quên hết những gì chị đã hỏi em đi.”

Chị lẳng hai cái ghế vào chỗ của chúng, sắc mặt của chị lúc này là sắc mặt của người hoàn toàn vỡ mộng, nhưng cũng vô cùng nhẫn nại. “Chỉ muốn nói với em thế này,” chị nói. “Bản chất con người nhộn thật đấy. Em chọn một cô gái làm bạn. Em rèn cặp cho cô ấy tại nhà máy. Em bênh vực khi cô ấy bị tên quản đốc mắng mỏ. Em ở chung phòng với cô ấy. Em làm tất cả mọi thứ có thể. Thế nhưng điều nhỏ bé đầu tiên em đề nghị…” Và chị nhanh chóng gạt đi hết bất kỳ lời xoa dịu nào sắp nghe, cho dù đến lúc ấy chẳng có sự xoa dịu nào, rồi kết luận, “Thôi bỏ đi. Quên hết những gì chị vừa nói đi.”

Sharon lắc đầu trong tuyệt vọng. Cô thở dài thườn thượt. Cô nhìn chị thật lạ lùng. Cuối cùng cô bước đến phía sau kẻ tử vì đạo kia, khẽ chạm lên vai chị.

“Vì Chúa, nếu chị xem đó là chuyện lớn… Được rồi, em sẽ đi. Chị và những rắc rối xã hội của chị.”

Ngay lập tức, lòng đầy biết ơn, Rusty lao vào chuẩn bị và hỗ trợ, không phí thời gian vào bất kỳ giai đoạn trung gian nào. “Được rồi, cái này được không? Cái này thì sao, em muốn mặc bộ này không?” Chị nhảy múa xung quanh cô mấy vòng, cố gắng trở nên thật sự hữu ích, thật sự nhanh nhảu. “Muốn dùng ít son bóng mới của chị không?” Chị cố gắng thoa nó cho cô, nhưng Sharon khéo léo ngoảnh mặt đi.

“Được rồi, đi thôi, chị sẽ đưa em xuống và giới thiệu em.” Chị hối thúc Sharon ra ngoài phòng trước mình, như thể sợ rằng cô sẽ đổi ý thì hỏng.

Anh ta đang ngồi trong căn phòng dưới nhà nghe đài, cố gắng lờ đi một người đàn ông khác, đang đợi chờ cô gái nào đấy trong cùng căn nhà đó, vào đúng lúc đó.

Anh ta đứng dậy. Trông anh ta không tệ như cô lo ngại.

Rusty giới thiệu vắn tắt họ với nhau, át tiếng đài.

“Joe Morris, đây là Sharon Paige.”

Phu nhân Sharon Paige,” Sharon sửa lại, lặng lẽ nhưng kiên quyết.

Anh ta ném cho cô một ánh nhìn lạ lùng mà cô không tài nào hiểu nổi. Dù là gì đi nữa, cô chắc chắn nó không phải là ánh mắt thất vọng. Bạn có thể nói, gần như trong ánh mắt ấy tiềm ẩn sự thỏa mãn đáng sợ.

Rusty vỗ lên lưng cả hai người, mạnh nhẹ không đều nhau. “Được rồi, hai người đi với nhau nhé,” chị nói. “Đừng chờ chị.”

“Cô không phiền nếu đi bộ chứ?” Anh ta kính cẩn hỏi Sharon.

Sự chấp nhận của cô gần như xuất phát từ sự thúc đẩy mạnh mẽ trong tính cách của Rusty, mà anh ta không thể nhìn ra từ sau lưng chị. Cô không trả lời ngay, mà quay lưng bước vào sảnh, thay lời đồng ý.

Anh ta đi theo, Rusty đứng lại ở phía sau.

Tuy nhiên, sau khi anh ta đã bước qua ngưỡng cửa, chị gọi anh ta nán lại một lúc bằng tiếng huýt sáo kín đáo nhưng sắc lạnh. Anh ta quay lại nơi chị đang chờ, và họ đứng đó, trán chị gần như chạm vào cằm anh ta, họ đang đứng quá gần nhau.

“Quà đền bù đâu?” Chị thì thầm.

Không nói một lời, anh ta lấy từ túi áo ra thứ gì đó, mà Sharon không thể nhìn thấy từ chỗ đang đứng. Anh ta xé lớp bọc ngoài, dúi nó vào bàn tay đang chờ của Rusty.

Chị không nhìn xuống, cũng chẳng tỏ ra ngạc nhiên. Bàn tay chị nắm lại như một con bạch tuộc nhỏ hồng hào, phàm ăn đang nhai cái gì đó.

Chị nháy mắt lạ lùng với anh ta.

Anh ta cũng nháy mắt đáp lại.

Không hiểu sao, ẩn trong từng cái nháy mắt là chút gì đó máu lạnh, thay vì sự vô tư, thoải mái mà những cái nháy mắt cần phải có.

Chị suồng sã đấm thùm thụp vào ngực anh ta bằng mu bàn tay.

“Đừng để em ấy về khuya quá đấy,” chị cười khúc khích.

Hai người tới một nơi được chiếu sáng rực rỡ. Khi họ đến nơi, quầng sáng màu cam phủ trùm lên họ, chậm rãi đi theo họ, gần như chẳng tốn chút công sức nào. Vỉa hè đầy chật người kéo họ trôi theo như thể đang ở trên băng chuyền.

Cô chẳng biết phải nói gì với anh ta, thế nên cô im lặng. Không biết có phải vì cùng lý do không, mà anh ta cũng chẳng nói gì với cô. Cô quyết định đợi anh ta nói trước.

“Cô có muốn uống gì không?”

“Tôi không uống gì hết,” cô nói mà không nhìn anh ta.

“Không. Ý tôi là uống soda hay nước cam ấy. Tôi không mời cô thứ gì khác đâu.”

“Không, cảm ơn. Tôi vừa ăn tối xong.”

Hai người tiếp tục bước giữa đám đông, như thể họ chẳng biết phải làm gì với bản thân.

Một mái hiên, toàn bộ phần dưới mái lắp các bóng đèn thắp sáng trông như đầu đinh, đang trôi về phía họ.

“Cô có muốn đi xem phim không?”

“Không!” Cô đáp, lần này rất dứt khoát. “Không… toàn phim về chiến tranh thôi.”

“Tôi hiểu,” anh ta chỉ nói có thế.

Cô có chút hối hận. Một chút thôi. “Đừng để tôi làm hỏng buổi tối của anh. Sao anh không đi và làm cái gì đó anh thích?”

“Tôi đang làm đúng điều tôi muốn,” anh ta trấn an cô.

Cô không thể nghĩ ra được bất kỳ câu nào đáp lại. Dường như câu nói này chỉ đứng một mình.

Họ tiếp tục bước đi.

“Anh ấy đang tham chiến đúng không?”

“Chồng tôi. Vâng.” Cô nghĩ, tại sao anh lại không?

Anh ta nói, “Tôi biết đúng lúc này cô đang nghĩ gì. ‘Tại sao anh thì không?’.”

Cô khéo léo thừa nhận bằng cách giữ im lặng.

“Tôi đã thử ba lần rồi. Còn làm được gì nữa chứ?”

Cô chẳng nói gì.

“Và tôi biết cô nghĩ gì cả lúc này nữa: ‘Bọn họ toàn nói thế mà.’”

Lần này, không cố ý, nhưng ngay lập tức cô quay sang nhìn anh ta một lúc. Một lần nữa lại là sự thừa nhận khéo léo.

Anh ta sờ tay vào túi sau. “Nhìn này, tôi sẽ cho cô xem thẻ phân loại của tôi.”

Cô xua tay tỏ ý không cần. Anh ta lại đọc được suy nghĩ của cô. “Tôi biết, cô không quan tâm.”

Nhưng anh ta vẫn lấy nó ra cho cô xem. Cô không nhìn vào nó. Cuối cùng anh ta cất thẻ đi.

“Tôi bị bệnh viêm phổi,” anh ta nói. Rồi anh ta mỉm cười và hỏi, “Giờ cô có sợ đi bộ cùng tôi không?”

“Không,” cô đáp. “Không. Tất nhiên là không.” Và cô thực sự nghĩ thế. Nhưng đột nhiên, và ngay bản thân cô cũng không hiểu nó đến với mình như thế nào, bỗng cô nhận thức được rằng mình đang ở sai vị trí. Nếu bây giờ cô bỏ rơi anh ta, quay lưng đi và trở về nhà, thì chính cô mới bị mang tiếng, chứ không phải anh ta. Phần lớn quyền tự do hành động của cô đã bị tước bỏ một cách tinh tế bởi vài nhận xét vô hại từ nãy tới giờ.

Tuy nhiên, cô đã bắt đầu cảm thấy có chút cảm thông với anh ta. Bản thân cô vẫn chưa nhận ra điều đó, nhưng nó đã bắt đầu. Và một điều không tránh khỏi, lòng thương xót luôn là sự khởi đầu của…

Anh ta nói, “À mà cô biết đấy, cô không phải sợ tôi còn vì một lý do nữa.”

“Lý do nào cơ?”

“Ồ, cô hiểu ý tôi mà. Nếu ở vào vị trí của tôi, một anh chàng sẽ tự xem mình may mắn khi chỉ đứng ngoài nhìn cuộc chiến, anh ta sẽ không cố gắng để…” Nói rồi anh ta nhìn thẳng vào mắt cô, thậm chí còn tỏ ra vui vẻ, rồi mỉm cười.

Thế nên cô cũng mỉm cười đáp lại. Trao cho nhau một nụ cười thôi mà, có gì đâu. Mày không thể cứ sắt đá như thế. Ngay cả Buck cũng sẽ chẳng quan tâm đến mày nữa nếu mày cứ như vậy.

Họ đã đến gần công viên, phía đối diện.

“Có chiếc ghế đá đằng kia,” anh ta nói. “Chúng ta qua đó ngồi chứ?”

“Tôi sẽ không ngồi trong công viên đâu,” cô cảnh báo anh ta.

“Không, chỉ ngồi ngoài công viên thôi mà, chỗ dưới ánh đèn đằng kia. Ngồi nghỉ một lúc thôi.”

Anh ta bị bệnh mà, cô tự nhắc mình. Có thể đi bộ khiến anh ta mệt. Có hại gì đâu cơ chứ?

Họ bước đến chiếc ghế đá và ngồi xuống, phía dưới những chùm tia sáng vòng cung màu trắng pha tím nhỏ như kim đang phai màu.

“Tôi phải về sớm đấy,” cô bảo anh ta.

Mình sẽ đứng dậy trong vòng ba phút, cô tự hứa với mình, và ra về.

“Kể cho tôi nghe về anh ấy đi,” anh ta nói.

“Anh muốn biết điều gì?”

“A, mọi thứ. Như anh ấy làm gì, anh ấy nói gì, anh ấy thích gì…”

Cô cất tấm ảnh đi. “Mấy giờ rồi nhỉ?” Cô thở dài hạnh phúc. “Chắc phải gần mười giờ rồi.” Cô chưa từng cảm thấy hạnh phúc đến thế, cô chưa từng cảm thấy bình yên đến thế kể từ khi chiến tranh bắt đầu.

Anh ta xem đồng hồ, lặng lẽ đáp, “Mười hai giờ năm phút.”

Họ đã ngồi đó suốt ba tiếng rưỡi.

Anh ta đang đợi cô ở đó, trên chiếc ghế đá của chúng mình - họ gọi nó như thế, bây giờ nó là ghế đá của “chúng mình” - dưới chùm tia sáng vòng cung có màu hoa phong lan sáng rực rỡ. Cô vội vã bước đi, cô chạy một chút băng qua đường để đến nhanh hơn.

Anh ta đứng dậy, chìa tay ra, chờ đợi bàn tay cô. Họ bắt tay nhau.

“Chào Joe.”

“Chào Sharon.”

Họ cùng ngồi xuống, cạnh nhau, giống như những người bạn cũ. Cánh tay anh ta đặt trên thành ghế đá, nhưng không choàng qua vai mà duỗi thẳng tay sau lưng cô, cánh tay cứ thế nằm bất động trên thành ghế đá.

“Hôm nay tôi nhận được một lá thư nữa của anh ấy,” cô hạnh phúc thú nhận. “Tôi không thể đợi được nên phải mang đến đây cho anh xem.”

“Đọc cho tôi nghe đi,” anh ta nói thoải mái, “trong khi tôi châm thuốc cho hai ta.”

Cô chỉ bỏ đi vài đoạn ngắn vì chúng quá riêng tư. Với từng lá thư tiếp nối nhau, những đoạn cô bỏ không đọc ngày càng ít hơn.

“Tôi gần như đã hiểu rõ con người anh ấy,” anh ta nói, sau khi cô đã đọc xong. “Tôi gần như bắt đầu cảm thấy muốn có anh ấy làm anh trai.”

“Tôi tự hỏi anh ấy sẽ nói gì nếu biết tôi đọc thư cho anh nghe?”

“Đừng nói với anh ấy,” anh ta lại nói, như từng nói trước kia. “Làm thế có thế tiết lộ nhiều chuyện. Em lẫn tôi đều biết rằng việc này chẳng có hại gì cả, nhưng nó có thể khiến cho những lá thư của anh ấy mất đi sự tự nhiên, mất đi cái…” Anh ta bỏ lửng câu nói.

“Anh không nghĩ làm thế là sai trái, đúng không?”

“Còn em thì sao?”

“Không,” cô sôi nổi đáp. “Không. Ôi Joe, anh chẳng khác gì thần may mắn đối với tôi. Anh không biết anh đã làm được gì cho tôi đâu. Anh đã khiến những giờ khắc trôi qua thật… Bất kỳ lúc nào ở bên anh tôi đều rất hạnh phúc. Chỉ cần có thể nói chuyện với anh như tôi đang làm, đọc cho anh nghe thư của anh ấy, cũng mang anh ấy đến gần tôi hơn. Thậm chí có lúc tôi còn hơi lẫn lộn, tôi nhầm anh là anh ấy và… anh ấy là anh.” Cô bật cười hơi ngượng ngùng.

“Tôi cũng rất hạnh phúc khi ở bên em. Rất có ý nghĩa với tôi. Thật khó giải thích chuyện này, nhưng tôi cũng vui lây với anh ấy, tôi được phép chia sẻ… những thứ mà tôi chưa từng có, và sẽ chẳng bao giờ có. Một người vợ, một cuộc hôn nhân hạnh phúc, một ai đó của riêng mình để quan tâm…”

“Hai chúng ta là những người đang quá hạnh phúc, phải vậy không?” Cô suy tư.

“Đọc cho tôi nghe đi,” anh ta nói, “trong khi tôi châm thuốc.”

Cô xé phong bì, mở nó ra, nghiêng nó ra phía có ánh sáng. Thế rồi chẳng gì xảy ra nữa.

“Có chuyện gì thế?” Anh ta nói. “Sao em không đọc?”

“Tôi không biết,” cô tuyệt vọng đáp. Nhưng vẫn chẳng có gì xảy ra.

“Có chữ nào em không đọc được à? Anh ấy có nói gì về tôi không?”

“Không,” cô đáp. “Tôi chưa hề nói với anh ấy về anh.”

Lá thư rơi xuống đất, tách ra thành mấy mảnh giấy khác nhau dưới chân cô. Ngay cả từ vị trí ấy, dưới ánh sáng rực rỡ, vẫn có thể nhìn thấy lời chào đầu thư. Gửi bà xã bé bỏng yêu dấu của anh.

“Chuyện gì thế?” Anh ta hỏi. “Vì sao em khóc?”

Một tiếng nức nở đau đớn bật ra. “Bởi vì… tự dưng… em không còn quan tâm đến những lá thư của anh ấy nữa. Em không biết đã xảy ra chuyện gì! Em không còn thích đọc thư… hay thậm chí là nhận thư nữa. Đến cái công viên này, ngồi bên anh, nó… nó…”

“Làm sao?” Anh ta khuyến khích cô. “Làm sao?”

Cô ép hai bàn tay lên trán trong nỗi chán chường. “Em không còn yêu anh ấy nữa. Mà em yêu anh. Ôi, Joe, đã xảy ra chuyện gì với em thế? Em đã gặp gỡ anh quá thường xuyên, trong khi đã quá lâu rồi em chưa gặp anh ấy. Hai người đã đổi chỗ cho nhau. Có chuyện không ổn rồi. Em không muốn vậy, nhưng… bây giờ anh là anh ấy, và anh ấy là anh.” Người cô run bắn lên không kiểm soát được. “Em đang ngồi đây bên tình yêu của em trên ghế đá công viên, nhưng em lại không ngừng nhận thư từ một kẻ xa lạ, mặc quân phục, ở nơi trú quân thật xa xôi.”

Anh ta vòng tay ôm lấy thân hình run rẩy của cô, cố gắng an ủi cô. “Chúng ta sẽ làm gì đây? Tôi có nên đứng lên và bỏ đi không? Tôi có nên bước đi, đi thật xa và chẳng bao giờ đến gần em nữa không? Em chỉ cần nói một lời thôi, và tôi sẽ đi luôn.”

Cô bật khóc tức tưởi. Cả hai bàn tay cô bấu chặt vào lưng anh ta.

“Không! Không! Joe, đừng bỏ em. Em không thể chịu đựng được khi thiếu anh. Anh là tất cả những gì em có lúc này. Nếu anh bỏ đi em sẽ chẳng còn gì hết, vì em không còn anh ấy nữa.”

“Anh muốn có em,” anh ta nói như nghẹt thở, “anh không thể cưỡng lại ham muốn đó được.”

“Đừng cưỡng lại nó. Đừng. Em không muốn anh cưỡng lại. Bản thân em cũng không thể… Ôi, em đây mà…”

Môi họ dán chặt vào nhau trong nụ hôn đầu. Họ tựa sát vào nhau như thể bị mất thăng bằng. Màn đêm như lộn nhào xung quanh họ, cả vòm trời lẫn những vì sao.

Chỉ là vô tình, nhưng đôi bàn chân cô trên mặt đất, vốn đang dịch chuyển theo sự háo hức với những cái vuốt ve của anh ta, giờ như cắm cọc xuống đất, giẫm mạnh lên lá thư, giày xéo lên nó.

Dòng chữ “Gửi bà xã… của anh” hiện ra, bị nghiền nát dưới gót giày của cô.

Bucky, anh yêu,

Em xin lỗi vì tuần trước đã không biên thư cho anh, nhưng rồi cứ chuyện này tiếp chuyện kia nên…

Thật sự chẳng có tin gì mới để báo cho anh. Mọi thứ vẫn đang diễn ra như thường lệ, chẳng có gì thay đổi…

Thời tiết dạo này rất dễ chịu, bọn em cảm thấy thực sự thoải mái…

Em phải làm việc đây, xe đưa đón nhân viên đã đến đón em và Rusty rồi. Em sẽ viết nhiều hơn lần sau nhé, anh yêu.

Tình yêu của em, Sharon.

Anh nhìn lá thư thứ hai với ánh mắt tò mò. Nó nằm lẫn trong đống thư của cô. “Gửi anh lính,” nó bắt đầu như thế. Và rồi:

Bởi vì vẫn chưa ai nói cho anh biết, thế nên tôi cho rằng mình sẽ là người làm chuyện đó. Và trong trường hợp anh nghĩ tôi đã gửi thư nhầm người, tôi xin nói thêm cô ta có mái tóc nâu và đôi mắt màu nâu lục nhạt. Cô ta cao một mét sáu mươi hai, nặng bốn mươi bảy cân, đi giày cỡ tám rưỡi và có đeo một món trang sức nhỏ, một chiếc cỏ bốn lá bằng vàng. Như thế đã có ý nghĩa với anh chưa?

Tối nào cô ta cũng gặp hắn trên ghế đá trong Công viên Thành phố. Anh biết Công viên Thành phố ở đâu đúng không? Chắc chắn là anh biết. Tối nào cô ta cũng chạy hết cả hơi đến gặp hắn, đến chừng nào đôi chân nhỏ nhắn của cô ta còn chịu được. Cô ta đã bao giờ chạy nhanh như thế đến gặp anh chưa, anh lính? Chúng hôn nhau. Thế rồi tôi thấy chúng ngồi đó, cho cả thành phố này thấy. Nhưng thậm chí chúng còn chẳng biết điều đó, chúng còn mải nhìn nhau đắm đuối.

Tội nghiệp anh lính, tôi cảm thấy tiếc thay cho anh. Anh lính à, anh đang mất vợ đấy.

(Không có chữ ký.)

Anh hét lên to đến mức ai trong trại lính cũng ngoảnh lại nhìn, những giọng nói cất lên hỏi han, “Cái gì thế? Đứa nào làm đấy? Chắc có thằng nào đâm kim vào người nó rồi.”

Người đồng đội nằm gần anh nhất hỏi, “Chuyện gì thế, Paige? Paige, chuyện gì? Chuyện gì mà cậu trùm chăn kín mít thế hả?”

Và cái chăn, đang run từ đầu đến chân, vọng ra tiếng ho như bị bóp nghẹt, “Không có gì.”

Giờ thì luôn là hai lá thư, luôn luôn là hai lá thư.

… Đôi khi con người ta thay đổi, Bucky ạ; anh phải nhìn nhận theo hướng đó. Tình yêu không như bê tông chỉ đổ một lần là xong, sau đó cứng lại và nằm yên đó mãi mãi. Tình yêu là chất lỏng, có lúc nó rò rỉ ra trước khỉ anh kịp ngăn nó lại và chảy đi chỗ khác.

Khi hai con người thấy rằng họ đã phạm sai lầm, anh không nghĩ rằng điều tốt đẹp nhất họ có thể làm không phải là cố gắng tiếp tục gắn bó với nhau trong cuộc sống tình cảm (điều đó chẳng giúp được ai, mà chỉ khiến sai càng sai thêm), mà là cả hai phải thừa nhận điều đó với người kia và cố gắng tìm ra lối thoát sao? Lẽ ra tôi không nên nói cho anh biết chuyện này, đặc biệt là vào lúc này, nhưng anh là người đã van xin điều đó trong các lá thư trước, liệu có chuyện gì đó nhầm lẫn…

… Chúng không còn ngồi trên ghế đá nữa, anh lính ạ. Thế chúng đi đâu? Chúng làm gì? Tôi đã cố gắng tìm hiểu cho anh nhưng không thể. Chúng biến mất kể từ thời điểm cô ta gặp hắn lúc tám giờ. Thế rồi hắn lại đưa cô ta về, lúc thì vào mười hai giờ lúc thì một giờ sáng. Suốt quãng thời gian đó chúng đã đi đâu?

Cô ta đi rồi, anh lính ạ, đi nhanh lắm. Đi rồi, biến mất rồi. Giờ thì vào bất cứ ngày nào. Hôn tạm biệt vợ anh đi nhé.

(Không có chữ ký.)

Sĩ quan chỉ huy của anh ăn cá trích muối vào bữa sáng. Những con cá trích muối chẳng hề hợp với khẩu vị của ông ta. Chân trái của ông ta có một cục chai. Và hôm nay nó đang lên tiếng, sắp có mưa. Ông ta không thích cái gì đó trên mặt anh. Nó quá thiểu não. Ông ta căm ghét những tên lính mang bộ mặt thiểu não. Thực ra ông ta căm ghét những tên lính mang bất cứ bộ mặt nào. Thực ra ông ta căm ghét những tên lính. Ông ta thực sự ghét.

Sĩ quan chỉ huy của anh bị vợ bỏ mười năm trước. Kể từ đó, ông ta muốn từng gã đàn ông trên thế gian này đều sẽ bị vợ bỏ. Ông ta ghen tỵ với tất cả những gã đàn ông hạnh phúc.

Ông ta rất lịch sự về chuyện đó. “Tất nhiên,” ông ta nhẹ nhàng nói. “Rất vui vì cậu đã đến tìm tôi vì chuyện đó. Cậu biết đấy, đó là lý do chúng ta ở đây. Để lắng nghe những vấn đề cá nhân của cậu. Chúng tôi rất muốn những người như cậu được hạnh phúc. Chúng tôi cũng sẵn lòng dừng cuộc chiến này lại vì cậu - chà, dừng nó lại một thời gian - trong khi cậu đang sắp xếp lại những vấn đề riêng tư này. Tôi chắc chắn Washington chẳng bận tâm đâu. Ngay lập tức tôi sẽ gửi cho họ một bức điện tín. ‘Binh nhì Paige có chuyện riêng ở nhà cần phải giải quyết, tạm hoãn tất cả các nhiệm vụ.’ Hai tuần liệu có đủ không? Hay cậu yêu cầu được nghỉ phép ba mươi ngày?”

“Vâng, thưa sếp.” Binh nhì Paige đứng nghiêm chào quay lưng bước ra ngoài. Anh hơi lảo đảo va vào cánh cửa; phải chống tay lên tường một lúc cho khỏi ngã.

Phòng giặt là của các trại lính vắng tanh trong bóng đêm lúc mờ sáng, lạnh buốt giá; nồng nặc mùi nước tiểu.

Anh bước vào phòng, mặc quần dài và áo lót, bên sườn cắp cái gì đó phồng ra. Trước tiên anh nhìn ngó xung quanh, để chắc chắn rằng không có ai ở trong phòng. Rồi anh vén áo lên, lấy khẩu súng ra, đặt nó lên thùng rửa.

Hơi thở của anh biến thành hơi nước trước mặt. Chà nó sẽ dừng lại, rất dễ thôi; đó là thứ duy nhất sẽ dừng lại.

Anh rút ra một điếu thuốc lá bị bỏ quên trong túi và châm thuốc. Điếu thuốc anh đã để dành cho lúc này. Rồi anh liên tục đi tới đi lui, mỗi lần như thế lại quay ngoắt thật nhanh, như thể bị nhốt trong lồng.

Cuối cùng anh dừng lại. Quẳng điếu thuốc xuống đất, anh giẫm lên nó theo thói quen (bằng không nó hẳn sẽ cháy lâu hơn anh, nhiều khả năng là thế). Sau đó anh cầm khẩu súng lên, thôi làm trò lố và vào vị trí thật nhanh.

Cánh cửa xoay trước đó chỉ khẽ rung động, mà anh không để ý, bất ngờ mở bung ra, và bạn của anh, Rubin, nhảy bổ vào lao về phía anh. Cậu ta tóm được cánh tay giơ lên của Paige và kéo nó xuống, vặn ra sau lưng, khiến khẩu súng rơi xuống sàn. Rồi cậu ta ghim người anh vào thùng rửa, đá khẩu súng văng ra xa trên sàn nhà.

Họ vật nhau một lúc, chỉ một lúc thôi. Chùm hơi nước đang phun phì phì nhanh hơn lúc nào hết từ hai lỗ mũi của Paige. Rốt cuộc nó đã lừa được anh; nó vẫn đang phun ra.

“Biết ngay là sắp có chuyện mà,” Rubin thở hồng hộc. “Tớ đã theo dõi cậu đấy.”

“Cút ngay ra khỏi đây. Ai khiến cậu xía vào?”

“Về giường đi… tự soi lại mặt mình xem… dòng chữ ‘chuyện này sắp đến’ viết rõ mồn một trên mặt cậu kìa.”

“Buông tớ ra ngay. Đừng có chạm vào người tớ.”

“Rồi, bình tĩnh nhé, bình tĩnh. Xoay người lại, rửa mặt bằng nước lạnh cho tỉnh đi.”

Cậu ta dùng sức kéo ghì đầu Paige xuống, giội nước khắp mặt anh. Rồi để mặc anh đứng lên và lấy lại hơi thở.

“Thế nào hả?” Cậu ta hỏi.

“Ướt,” là câu trả miếng bực bội. “Cậu nghĩ còn thế nào nữa?”

“Tớ biết,” Rubin nói, cười khúc khích, “nhưng nó sẽ khiến cậu tỉnh ra.” Cậu ta nắm tay thành nắm đấm, giả đò đấm thẳng vào quai hàm Paige, nhưng chỉ lướt qua. “Chết tiệt. Tớ không muốn phải bắt đầu tìm thằng khác làm bạn đâu, sau tất cả những rắc rối tớ đã trải qua cùng cậu. Tớ còn biết mượn tiền của ai để rồi quỵt không trả nữa đây? Tớ còn biết mượn thuốc của ai nữa đây?”

“Tớ không thể chịu nổi, Rube. Tớ không chịu được. Không thể ngủ được.”

“Rồi sẽ ổn mà. Đàn ông lên đi. Hãy đến đó. Tìm hiểu mọi chuyện. Lật bài ngửa. Cơ mà đừng có để bị đo ván đấy.” Cậu ta nhún đôi vai đồ sộ. “Mà cậu biết gì không? Chuyện này có thể không chính xác đâu.”

Paige rút ra một lá thư nhàu nát từ trong túi, trao cho cậu ta.

… Chúng biến mất kể từ thời điểm cô ta gặp hắn lúc tám giờ. Thế rồi, hắn lại đưa cô ta về…

“Là thật đấy,” anh cay đắng nói.

“Vậy hãy tới đó đi. Thế cái quái gì trên cánh tay cậu kia, hoa súng à?” Cậu ta giơ một trong hai cổ tay của Paige lên, rồi lại thả xuống. “Chúng ở đó là để cậu dùng, đúng chưa hả? Chiến đấu vì cô ấy đi. Cậu phải chiến đấu để gìn giữ chúng. Theo như tớ nghĩ thì, nếu chẳng còn ai cần mấy cái nắm đấm nữa, vậy thì cậu sẽ chẳng khác gì một thằng chơi vĩ cầm, có thể lúc đầu nó không xuôi chèo mát mái ngay đâu. Tớ từng trải qua chuyện tương tự rồi. Tớ từng bụp vào hàm một thằng trên lối đi dạo ở Coney Island để giành lại Sadie của tớ. Kể từ đó…” cậu ta chém mạnh bằng cạnh bàn tay, “tớ không bao giờ phải gặp rắc rối nữa. Tất cả những gì cô ấy làm là ở nhà và sinh con.”

“Tớ không được cho nghỉ phép.”

“Nghỉ phép cái mẹ gì? Cậu đếch có chân à? Ngoài kia đếch có đường à?” Cậu ta giơ tay lên dò hỏi, tựa vào vai anh. “Chỉ cần hỏi bản thân cậu một câu thôi, đó là tất cả những gì cậu phải làm. Được rồi, tớ sẽ cứu cậu khỏi rắc rối, tớ sẽ hỏi thay cậu. Cậu có muốn cô ấy không?”

“Tớ có muốn sống không?” Paige hỏi lại.

Ngay trước khi tới được phạm vi ngôi làng nhỏ, anh bước tránh vào một lùm cây bên vệ đường, nhanh chóng thay sang trang phục thường dân mà Rubin đã xoay xở kiếm được cho anh mang theo, giờ đang kẹp dưới nách. Hoặc đúng hơn là phủ ngoài bộ đồ anh đang mặc, vì mặc kiểu gì cũng chẳng thể vừa vặn. Anh chỉ bỏ đi cái áo jacket quân đội, được gấp ngay ngắn và nhét dưới một hòn đá to. Chiếc quần anh đang mặc phủ ngoài là quần dài đi bộ bó sát, áo khoác len mặc ngoài đầy dầu mỡ che giấu chiếc sơ mi bên trong do chính phủ cấp, trên đầu là chiếc mũ nỉ đã sờn rách. Vành mũ rộng đến lạ lùng ban đầu khiến anh có cảm tưởng như cái ô đội ngược.

Việc này thật không đơn giản, anh đang mạo hiểm từng bước chân. Đôi giày, mái tóc mới cắt, cái cách anh di chuyển, tất cả đều hiện lên rõ mồn một hai chữ “quân nhân”. Chỉ cần một chàng quân cảnh đi lạc vô tình phát hiện, anh sẽ trở thành mục tiêu rất dễ hạ, và anh biết điều đó. Thêm vào đó, chính việc giả trang cũng là một nguy cơ. Chiến tranh đang ở giai đoạn dầu sôi lửa bỏng, và bạn không còn thấy những người ở tuổi anh không vào quân ngũ mà lại đi tản bộ.

Chiến tranh. Chiến tranh. Anh căm ghét chiến tranh, anh nguyền rủa những kẻ gan dạ. Chiến tranh đã cướp cô khỏi tay anh. Chiến tranh lẽ ra phải chọn ai đó mạnh mẽ hơn chứ. Tại sao chiến tranh bắt người ta phải chịu cảnh chia uyên rẽ thúy? Anh có từng làm hại ai đâu.

Trời đang bắt đầu sáng dần khi anh xuất hiện trong làng, đứng chơ vơ bên đường. Ánh sáng không đủ để soi tỏ tất cả; mà chỉ khiến những tấm ván bẩn thỉu trông càng xiêu vẹo gấp đôi. Ngay cả những hàng cây xung quanh cũng hành xử như thể thấy xấu hổ, qua cái cách chúng cố gắng che đậy, giấu giếm. Một con gà trống cất tiếng gáy, một con chó sủa khi anh đi ngang qua. Chiếc đèn dầu tỏa ra ánh sáng lờ đờ phía sau một trong các mặt tiền cầu thang. Chẳng phải vì anh, chỉ là đã đến lúc tất cả cùng thức dậy.

Nếu có bất kỳ cảm xúc nào còn lại sau khi phải trải qua tấn bi kịch vừa rồi, hẳn anh sẽ cảm thấy tiếc cho bất kỳ ai phải sống trong khu ổ chuột đáng nguyền rủa như thế này. Tốt hơn là họ nên nằm trên giường cả ngày, đừng có bước ra ngoài và thấy cảnh này.

Dù sao thì cũng có một chuyến tàu hỏa chạy qua nơi này, và một nhà ga được dựng lên tại nơi được xem là điểm dừng.

Anh phải đợi khoảng nửa tiếng mới thấy nhân viên ra mở cổng để bước vào trong, và trông nó cũng chẳng kém tệ hơn là mấy.

Anh có mang theo tiền. Số tiền mà hai người đã gom góp từ khắp mọi nguồn có thể. Tất cả chỉ nhằm giúp một người đàn ông không mất vợ. Tất cả chỉ nhằm xoa dịu nỗi đau của một người đồng đội.

Anh bước đến chỗ cửa sổ.

“Gì vậy, anh bạn trẻ?” Ông già tóc hoa râm cộc cằn nói.

“Mấy giờ sẽ có chuyến mới ạ?”

“Chuyến mới đến đâu?”

“Đi khỏi cái nơi chết tiệt này.”

“Sáu.”

“Vậy là sắp…”

“Sáu giờ tối nay.”

Anh quay lại với con đường cao tốc chạy qua nơi này.

Có vẻ như mọi thứ đang tiến triển theo kiểu anh sẽ phải ngủ ngoài trời, rất tạm bợ. Nhưng lúc sau, có một chiếc xe tải chở hàng xuất khẩu đi qua và anh chặn xe lại bằng cách ném mũ vào nó. Theo bản năng tài xế phanh xe trước khi kịp nhận ra đó là cái mũ, mà chẳng thấy người đâu.

“Thằng lỏi nào thế?”

“Có cơ hội nào để đi nhờ không?”

“Được rồi, bám càng đi,” ông tài xế mệt mỏi đáp, “miễn là cậu để cho tôi đến được điểm dừng.”

Chiếc xe tải tiếp tục đi. Con đường trước mắt họ bỗng uốn khúc như tàu lượn, khi đến gần nó mở rộng mãi ra.

Ông tài xế rất cảnh giác, ông ta thi thoảng lại kín đáo liếc nhìn anh. Rồi ông ta nói, “Anh từ đâu đến vậy, có phải từ trại lính dưới kia không?”

“Không,” Paige thẳng thừng đáp. Anh rút một tờ từ trong chỗ tiền ít ỏi của mình trao cho ông ta.

Ông tài xế liếc mắt nhìn tờ tiền, rồi nhét vào túi. “Nếu cậu đã nói vậy thì có lẽ cậu không phải là lính,” ông ta nói, nháy mắt với anh.

Một lúc sau ông ta nói, “Cậu muốn tới đâu? Và với câu hỏi ấy xem như cậu đã trả tiền xe xong xuôi, không phải lo đâu.”

“Phía Đông,” Paige dứt khoát đáp. “Chỉ phía đấy thôi. Phía Đông thẳng tiến. Ông làm sao thì làm.”

Toa tàu đang ầm ầm lao qua hoàng hôn, như một chiếc lưỡi cày đâm xuyên qua vùng đất tối tăm màu nâu đỏ đằng xa. Các ô cửa sổ sáng đèn hắt xuống dải đất hai bên những chùm lốm đốm, thế nên nhìn con tàu như đang bơi giữa những gợn sóng lăn tăn, như thể trảng cỏ lay động dập dờn, khi chiếc xe nào đó phóng qua.

Con tàu lắc lư và rung lên bởi gia tốc của chính nó; các khớp nối kêu ken két, gầm gừ đe dọa sẽ long ra từng mảnh. Khớp nối trên các đường ray trái lại vẫn nằm yên. Nhưng ít nhất đối với những hành khách, con tàu dường như đang chạy rất chậm. Mặt đất trở nên quá rộng, quá to lớn, như đến bất tận. Phía Đông như ngày càng xa vời. Con tàu càng lao về phía trước nhanh bao nhiêu, bạn càng xa đích đến bấy nhiêu.

Những ngọn đèn trần dòm xuống qua làn khói thuốc mờ mịt trên đầu các hành khách đang đứng ken đặc lối đi, đu đua và nhấp nhô theo cùng một nhịp, nhưng không lo bị ngã, vì chẳng còn đủ chỗ để mà ngã nữa. Những chiếc cốc giấy đựng rượu gin và rượu ngô dùng một lần chuyền tay từ người này sang tay người khác, như mấy chiếc rơ le trong dây chuyền, từ trên cao chuyển xuống dưới thấp. Hát hò, la hét, cười nói, ánh mắt cáu kỉnh tạm thời xua tan đi tiếng cãi vã, sự uể oải, phờ phạc, tuy nhiên những âm thanh ấy vẫn vang lên từ quá nhiều chiếc cốc giấy đầy rượu; tiếng kèn harmonica, tiếng chơi cờ bạc với điểm nhấn là tám cái đầu gối. Màu quân phục và màu chết chóc hòa lẫn vào nhau, ngoại trừ một người mẹ trẻ và đứa con thụ động, đã quá quen với cảnh này, là một phần của nó, dõi mắt nhìn những trại lính xung quanh.

Trong cái toa đầy người này còn có một người không mặc quân phục khác, hình bóng này ngồi thu lu trên chiếc ghế trong góc, đầu cúi thấp, vành mũ che kín mặt, như thể đang say ngủ; cố gắng càng thu mình nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Nhờ vậy không ai có thể nhìn thấy anh; nhưng anh cũng chẳng thấy được ai.

Bất chợt một bàn tay đầy uy quyền, với ý định rõ ràng, tựa hẳn xuống vai anh ta, làm anh ta nao núng, sau đó lạnh toát toàn thân. Như cách động vật hay làm khi lần đầu tiên nó cảm thấy nguy cơ bị bắt trườn đến, nó chờ đợi, trong lo lắng và hồi hộp, tìm hiểu xem con đường nào an toàn nhất để chạy thoát thân.

Bàn tay anh chậm rãi đưa lên. Anh thận trọng hé vành mũ đang che kín mặt. Từ khóe mắt anh nhìn theo hướng bàn tay đang đặt trên người mình. Mong đợi được thấy bộ quân phục màu ô liu, chiếc băng tay màu trắng quen thuộc của một viên quân cảnh.

Nhưng thay vào đó, anh lại thấy một bộ quần áo may bằng vải xéc màu xanh thẫm, sáng bóng với những chiếc khuy đồng. Dưới cái mũ lưỡi trai chóp bẹt, là gương mặt một ông già. Tất cả những gì ông ta cầm ở tay kia là một xấp vé, không phải dùi cui.

Chỉ là người soát vé trên tàu, đến hỏi vé của anh.

“Mấy giờ thì tàu đến nơi?” Anh hỏi.

“Tám giờ mười lăm,” ông soát vé đáp.

“Em định gặp anh ta lúc mấy giờ?” Rusty hỏi.

“Tám rưỡi,” Sharon đáp.

Rusty nghiêng người qua thành giường, chống hai khuỷu tay ngắm cô sắp xếp đồ đạc vào chiếc va li đang mở, đặt ngay trên giường.

Trong một lúc chị ta chẳng nói gì thêm nữa - mà chỉ nhìn. Sharon có vẻ, hoặc giả vờ không nhận thức được rằng mình đang bị săm soi.

“Vậy là em định bỏ đi mãi mãi,” cuối cùng Rusty lên tiếng.

“Mãi mãi là đúng từ đấy,” Sharon đồng tình. “Mãi mãi là đúng từ đấy.”

“Chị có thể dùng từ khác,” Rusty lẩm bẩm không thể nghe thấy.

Sharon ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào chị ta. “Có chuyện gì thế, chị không đồng tình à?”

“Đó là việc của em.”

“Thế là không đồng ý rồi.” Cô đóng nắp va li. “Thế là tốt mà. Lây của chị. Tối nào cũng hẹn hò. Tối nào cũng là một người khác nhau.”

“Hẳn rồi, vì chị biết làm thế nào để giải quyết chuyện tình yêu, còn em thì không. Chị đón nhận tình yêu như một người đàn ông. Chị có thể phân phát tình yêu ra khắp nơi, nhưng không để nó thấm vào trong mình. Chị chống thấm rất hiệu quả đấy, cưng ạ. Sáng hôm sau chị sẽ vẫn là Rusty. Còn em đón nhận tình yêu như một người đàn bà. Em sẽ chết đuối ngay lập tức, mãi mãi không trồi lên được.”

Sharon xách va li lên, chuẩn bị tiến ra cửa.

“Sao em không đón nhận tình yêu một cách nhẹ nhàng?” Rusty nói, gần như van xin.

Sharon mở cửa. “Hỏi trái tim em ấy, đừng có hỏi em. Tai em sẽ lắng nghe, nhưng trái tim thì không.”

Cô giơ một bàn tay lên vẫy về phía chị ta, như một lời tạm biệt.

“Phần tiền nhà của em để trên bàn giấy. Chị có thể trả lại chìa khóa nhà của em cho quản lý, em để cùng chỗ với tiền đấy.”

Tuy nhiên, Rusty đã không còn ở trong phòng nữa. Chị ta bước theo cô xuống nhà, gần như giậm chân theo từng bước đi.

Dưới chân cầu thang, Sharon ngoảnh đầu lại, ném cho chị ta cái nhìn hơi sốt ruột, như thể việc kéo dài giây phút chia tay này giữa hai chị em khiến cô bực mình. “Chuyện gì thế, tối nay chị không hẹn hò ai à?”

“Chị có thể có tới hai, ba hay bốn cuộc hẹn hò. Nhưng hài lắm… có thể chính vì việc em đang làm… khiến chị bỗng dưng chẳng muốn hẹn hò nữa. Cuộc chơi dường như không còn vui nữa.”

“Vậy sao chị không xem nó là cơ hội để tìm một người cho riêng mình, giống như em, thay vì một trò chơi?” Sharon đanh đá hỏi.

“Để rồi lĩnh một quả chơi xấu, phải không?”

Sharon đã ra đến cửa trước. Cô không đáp lại câu nói này.

Một lần nữa Rusty đuổi theo cô, thậm chí chị ta còn đặt tay lên cửa, giữ nguyên cánh cửa ở vị trí cũ, chỉ lâu hơn một chút nữa thôi.

“Có phải đây là lời chia tay tốt nhất em có thể dành cho anh ấy không, Sharon?”

“Anh ấy? Ai cơ?” Thế rồi cô nhớ ra. “À. Anh ấy.”

“Chị đã đọc một trong những lá thư của anh ấy. Không phải chị cố tình, nhưng em rải thư của anh ấy khắp phòng, đúng lúc chị hết khăn giấy để tẩy son môi. Nó không được viết bằng mực. Anh ấy vẫn thường viết cho em những bức thư bằng máu như thế sao?”

Sharon buông va li rơi bộp xuống sàn, hít một hơi sâu, như thể có một cột mốc nào đó mà cô phải vượt qua, một lần và mãi mãi, trước khi có thể ra đi vào phút cuối. “Nghe này. Em có thể nhớ rằng mình đã kết hôn với một người xa lạ, rất lâu trước đây. Em có thể nhớ được tên anh ấy là gì. Nhưng chỉ vậy thôi. Em không thể mang anh ấy về đây trước mặt em được. Nó giống như đòi hỏi em phải cảm thấy hối tiếc vì ai đó mà em chưa bao giờ hiểu rõ vậy.”

“Ôi trời, toàn thánh nữ thế này,” Rusty nói, môi mím chặt. “Trao cho chị một cô quái chiêu như chị đi mà.”

Sharon lại cúi xuống xách va li lên.

Một chiếc điện thoại chợt reo chuông inh tai nhức óc phía sau sảnh, giống còi cứu hỏa hơn bất kỳ thứ gì khác.

Gần như là phản xạ, Rusty vươn tay ra nắm lấy hai cánh tay Sharon, như thể muốn níu chặt cô thêm một lúc nữa.

Một phụ nữ trung niên bước ra từ phía sau, trả lời điện thoại. Tiếp theo bà ta bước đến cầu thang, gọi với lên bằng chất giọng ngân nga sang sảng của một nhân viên điều phối tàu. “Fay MacKenzie đang trên đường dây! Fay MacKenzie đang trên đường dây!”

Tiếng đôi dép đi trong nhà chạy vội xuống, nghe như tiếng cánh quạt đạp nước. Một giọng nói cao vút vang lên, “A lô, Joe à,” rồi chìm xuống thành tiếng vo vo sung sướng, gần như không thể nghe thấy.

Cả hai cùng ngoảnh mặt đi.

“Chị có một linh cảm buồn cười lắm,” Rusty khàn khàn nói. “Đừng đi, Sharon.” Hai bàn tay chị ta vẫn vươn ra nắm chặt cánh tay người kia, cố gắng can ngăn cô.

Sharon phá lên cười một lúc. “Sao thế, lại sắp nức nở đấy à?”

“Nghe này, làm một việc cuối cùng vì chị thôi, được không? Trước giờ chị chưa từng cầu xin em điều gì. Làm việc này cho chị, xem như món quà chia tay nhé?”

“Không, nếu chị đề nghị em thay đổi…”

“Đợi nửa tiếng thôi. Cho anh ấy thêm ba mươi phút nữa. Anh ấy có thể gọi điện hoặc làm gì đó. Ít nhất hãy cho anh ấy cơ hội. Đừng có bỏ đi lạnh lùng như thế. Em đã đợi xe buýt lâu đến thế. Em đã đợi một bộ phim hạng B vào đêm thứ Bảy lâu đến thế. Em đã đợi một bàn ăn tại một nhà hàng chẳng ra làm sao lâu đến thế. Em đã đợi một chàng trai cùng mình đứng trên lề đường lâu đến thế. Hãy vì những ngày xưa cũ, hãy vì anh chàng dễ thương ấy. Rồi sau đó cứ việc đi nếu em thấy cần.”

Sharon nhìn chị ta. Rồi cô sải bước, chiếc va li tựa vào tường, ngay bên trong cửa. “Mười lăm phút,” cô nói dứt khoát. “Em không biết làm thế để làm gì, em không biết nó sẽ mang lại điều tốt lành gì, nhưng cái giọng run run của chị đã khiến em đổi ý. Chúng ta sẽ vào phòng khách, bật nhạc nghe trong lúc em ngồi chờ.”

Cô xoay cổ tay áo, lóng ngóng với dây dợ.

“Mười lăm phút,” cô nói, “vì một tình yêu đã chết và không bao giờ hồi sinh.”

Toa tàu lúc này đứng bất động một chỗ, một dải đất trũng trống rỗng với ánh đèn và khói thuốc mờ mịt, ken đặc những người là người, giữa màn đêm xanh thẫm xung quanh.

Họ không còn hát nhiều nữa, họ đã mỏi mồm rồi. Họ cũng không uống rượu nhiều nữa, họ uống say cả rồi. Hầu hết bọn họ đang ngủ lơ mơ, gà gật, cả khi đứng lẫn khi ngồi. Toa tàu câm lặng đến lạ lùng. Một lời nhận xét thi thoảng vang lên phá vỡ sự im lặng, âm vực còn cao hơn cả lúc đầu, cũng do không còn một giọng nói nào hòa ca nữa.

Đâu đó ngay bên ngoài đang phát ra tiếng lách cách không ngừng. Nó không xuất phát từ bản thân toa tàu, vốn vẫn đang đứng yên, mà là tiếng rung từ bên ngoài làm rung các khung cửa sổ, các bánh xe, thậm chí cả các đường ray dưới bánh xe như cũng rung lên. Chỉ một bên thôi, phía bên trái, trên con đường ray bên cạnh, một chuỗi dài các toa tàu tối om, kín mít dài như vô tận đang phóng vút qua, giống như những bóng ma. Không thấy một ánh sáng nào phát ra. Một đoàn tàu chết chóc. Một cỗ xe của địa ngục. Hàng tá toa tàu đen ngòm; làm rung chuyển đường ray, rung chuyển màn đêm, rung chuyển toa tàu đang đứng im.

Tất cả các toa tàu trên khắp đất nước này, trên khắp thế giới này đều đang đi về cõi chết. Giống như những quân cờ domino đen sì trên những bánh xe, như những hình cắt bằng giấy bay giữa bầu trời đêm. Không có ánh sáng, không có chút dấu hiệu của hàng nghìn con người đang chen chúc nhau trong những toa tàu đó, chỉ để tìm đường xuống địa ngục; hoặc tồi tệ hơn thế nữa.

Chiến tranh, chiến tranh. Sự điên rồ của toàn thể vũ trụ này.

Chân anh không ngừng đập mạnh trên sàn, nhanh hơn và càng lúc càng nhanh hơn nữa. Tiếng giẫm đạp như tiếng búa nện xuống nỗi tuyệt vọng, nỗi đau khổ của anh.

“Thôi đi!” Người đàn ông ngồi ghế bên cạnh cuối cùng cũng quát lên. “Tôi không chịu được nữa! Anh cứ làm thế mãi hàng giờ liền rồi. Thần kinh tôi căng thẳng lắm. Đứng yên đi.”

“Câm mồm,” anh gầm gừ đáng sợ, nhưng cũng dừng chân lại.

Anh giơ hai tay lên ôm đầu, trong một lúc.

Bất chợt anh đứng lên, len qua đống đầu gối của những người ngồi cạnh. Năm người nữa lập tức thức tỉnh khỏi trạng thái mơ màng, liền lao vào tranh nhau chỗ ngồi của anh. Hai người trong số họ nhảy vào cùng một lúc; chẳng ai chịu nhường ai. Cuối cùng họ thỏa thuận sẽ chia đôi, mỗi người ghé mông ngồi một bên.

Anh thô bạo chen lấn tiến đến cuối toa, thi thoảng đánh thức những người đang đứng ngủ gật, phá tan giấc mơ của vài cô gái, khi anh bước qua - giấc mơ về một bữa tối có gà tây ở nhà, về một cái giường tại hộp đêm nào đó. Mà cũng chẳng quan trọng nữa; đằng nào giấc mơ cũng bị phá rồi.

Anh xoay tay nắm mở cửa, bước ra hành lang.

Ở ngoài này tiếng ồn đinh tai nhức óc, cửa bên của tàu đang mở.

“Chuyện gì thế?” Anh hét lên. “Còn bao lâu nữa? Bốn mươi phút rồi.”

“Làm sao tôi biết được? Tôi chỉ là trưởng tàu thôi. Khi tàu dừng, thì tôi dừng theo. Có một toán lính đang ngáng đường chúng ta, hành quân tới điểm tập kết tiếp theo, tôi nghĩ vậy. Họ phải đến đó trước, anh biết đấy.” Nói rồi ông ta khinh khỉnh nhìn anh từ đầu đến chân, chiếc mũ nỉ sờn rách, áo khoác len nhờn mỡ và quần bó. “Nơi anh đang tới chẳng quan trọng đến vậy đâu. Đang có chiến tranh, anh biết đấy.”

“Im đi!” Anh rít lên, giơ bàn tay lên trước mặt, cắn chặt răng vào mu bàn tay như cách anh hay làm khi nỗi đau đớn trở nên không chịu đựng nổi, khi bạn không thể chịu được chuyện này nữa.

Thế rồi bất ngờ anh nắm chặt lấy tay vịn, nhảy vút qua bậc lên xuống vào vùng tối đen bên dưới. Bị nuốt chửng, biến mất, không còn dấu vết.

“Chà, một cách hay để tiếp tục lên đường,” gã trưởng tàu khô khan nhận xét với tay lính đứng cạnh mình. “Bằng chính khả năng của mình.”

Chiếc xe hơi màu đen hai chỗ của nhân viên bán hàng đang ầm ì chạy dọc đường cao tốc, ánh đèn pha hắt chùm sáng lẻ loi rọi tỏ vùng thôn quê đen ngòm cô độc. Bên trong chùm sáng ấy chỉ còn sự tĩnh lặng. Hai người đàn ông trong xe nhìn thẳng về phía trước, trái ngược với ánh đèn trên bảng điều khiển, gương mặt họ như những hình ô van tái nhợt.

Người cầm lái mang sắc mặt như thể bị xúc phạm, vẻ mặt của những người cố gắng bắt chuyện nhưng bị từ chối, anh ta quyết tâm không gợi chuyện nữa. Paige có cái nhìn lạnh lẽo, như thể gương mặt anh là tấm vữa xám xịt đã cứng lại rồi, chắc phải đập nát từng mảnh vữa ra mới thấy được nét mặt của anh.

“Anh không đẩy nhanh tốc độ hơn được à?” Anh bất ngờ lên tiếng, nhưng môi vẫn mím chặt.

“Tất nhiên là có thể,” câu trả lời lạnh lùng. “Nhưng tôi sẽ không làm thế. Đây là xe của tôi, và năm mươi cây là tốc độ tối đa rồi, ngay cả ở vùng nông thôn này vào ban đêm. Tôi còn vợ và hai con nhỏ. Nếu cậu muốn tiết kiệm thời gian…” Anh ta hất nhẹ đầu sang phía con đường mòn bên cạnh.

Một tiếng thở dài chế nhạo thốt ra qua đôi môi mím chặt của Paige. Anh khoanh hai tay trước ngực, như thể cố gắng kiềm chế. Bàn tay anh đặt trong chiếc áo khoác len, đang tựa lên báng khẩu súng công vụ của anh. Chúng khép lại xung quanh báng súng.

Anh thề, chỉ cần anh ta thở ra thêm một câu nữa thôi, anh ta sẽ văng khỏi ghế. Im lặng đi, tôi không muốn làm thế đâu, tôi đang cố ngăn mình làm thế đây.

Người đàn ông cầm lái im lặng, không nói thêm gì nữa.

Những ngón tay của Paige thả lỏng, rời khỏi báng súng.

Đồng hồ đo tốc độ trên bảng điều khiển hơi run rẩy, nhưng vẫn dừng ở con số năm mươi.

Gã tài xế không hề nhận thức được việc mình đang làm, bắt đầu ngâm nga. Anh ta đang hát những lời ca, bằng giọng thấp. Ai đó đã ăn cắp cô…

Những ngón tay của Paige lại siết chặt quanh báng súng, miết một phân lên phía trên.

Anh đau khổ cựa quậy trên ghế ngồi. Mày đang cố không giết người này, anh cố gắng kiềm chế. Mày không muốn giết bất kỳ ai hết. Mày chỉ muốn…

“Đừng,” anh nói, khẽ khàng đến mức gần như không thể nghe thấy.

Tuy nhiên, người bạn đồng hành chắc đã nhận ra dấu hiệu nhỏ nhoi nào đó. Anh ta nghiêng đầu sang Paige hỏi kiểu lăng mạ. “Gì thế hả?”

Paige ghì chặt lồng ngực mình. “Tôi nói là ‘Đừng’.”

Người đàn ông ném sang anh cái nhìn quở trách. Thế rồi anh ta ngoảnh lại nhìn đường. “Tự ái à?” Anh ta lẩm bẩm.

“Phải,” Paige đáp. “Tự ái đấy.”

Bất ngờ xe họ dừng lại.

“Anh dừng xe lại làm gì thế?”

“Đây là nơi chúng ta chia tay nhau. Anh không thấy cái ngã ba trước mặt à? Nếu anh muốn đi về phía Đông, anh phải tiếp tục đi thẳng trên đúng con đường này. Về nhà tôi thì đi đường kia. Xe tôi và tôi, chúng tôi ngoặt ở đây.”

Cổ tay Paige giật mạnh, khẩu súng xuất hiện, trưng ra toàn bộ hình ảnh đáng sợ.

“Xuống xe,” anh nói.

“Anh… anh muốn làm gì?”

“Cứ xuống xe và tránh xa ra.”

Để cho nhanh, anh lấn sang ghế tài xế, huých vào hông anh ta. Cánh cửa bật mở, người đàn ông ngã văng xuống đường, phải bò trên mặt đất để ngăn mình không ngã ngửa.

“Chờ đã, anh đang làm cái…? Tất cả hàng mẫu của tôi đều ở trên xe! Đó là lời cảm ơn vì tôi đã… tôi biết lẽ ra mình không nên nhận…”

Cửa xe đóng sầm lại. Đôi bàn tay của anh ta bám vào cánh cửa như van xin, cố gắng bám thật chặt.

Cái báng súng đánh xuống một cú không thương tiếc, có tiếng thét, đôi bàn tay anh ta không còn bám chặt nữa.

“Anh có thể đi về phía Nam. Nhưng xe của anh và tôi, chúng tôi sẽ đi về phía Đông.” Paige nhấn chân ga. “Và thưa ngài,” anh nói thêm, “ngài không biết mình may mắn thế nào khi vẫn còn sống đâu.”

Hai nắm đấm của anh đang đấm cửa điên cuồng bỗng khựng lại. Cánh cửa mở ra. Một cô gái bước ra, chậm rãi. Cô ta đóng cửa lại sau lưng mình, rồi đứng đó nhìn anh, lưng tựa vào cửa.

Cô ta đã nốc vài ly rượu và trông như thể cô ta uống một mình. Giữa hai môi cô ta là điếu thuốc đang cháy, chúng mấp máy nhưng không buông rơi điếu thuốc. Một điếu để dành nhét sau tai cô ta như bút chì.

“Anh đến trễ rồi,” cô ta buột miệng, không buồn giới thiệu bản thân. “Cô ấy mới bỏ đi mười lăm phút trước. Anh chậm chân mất rồi.”

“Làm sao cô biết tôi là ai…?”

“Nó lù lù trên đôi mắt anh kia kìa,” cô ta nói giọng khàn khàn. “Nhắm mắt tôi cũng biết. Sao anh không đến sớm hơn? Hay đúng ra phải là, anh đến đây để làm gì cơ chứ?”

“Cô ấy là vợ tôi. Cô ấy đã thề rằng tất cả cuộc đời chúng tôi… Họ đã đi đâu? Lối nào?”

Cô ta ngồi sụp xuống, lưng vẫn dựa vào cửa, như thể thấm mệt. Phát mệt vì cái thế giới này. “Cứ biết là họ đã ‘đi rồi’ và quên hết đi. ‘Đã bỏ anh đi rồi.’ Anh đã bị nẫng tay trên rồi. Có thể họ đang ở đâu đó trong thành phố này. Hoặc đang ở trong nhà nghỉ nào đó ngoài thành phố…”

Anh đưa bàn tay lên vò đầu, mặt mày nhăn nhúm.

“Kể cho tôi nghe đi,” cô ta nói với vẻ hiếu kỳ rõ nét. “Có tệ đến thế không? Bên trong anh có đau đớn giống như cách anh thể hiện ra bên ngoài không?”

Cô ta không bao giờ có được câu trả lời.

Cô ta vẫn đứng đó, đôi vai chùng xuống tựa vào cánh cửa, mệt mỏi, mệt mỏi vì cái thế giới này, rất lâu sau khi hình bóng của anh chìm sâu vào bóng tối, cánh cửa xe đóng lại kêu kẽo kẹt, và ngọn đèn đuôi lao đi như gió.

Bất chợt cô ta quăng mạnh điếu thuốc đi, nó bắn tung tàn lửa ra xung quanh khi rơi xuống đất.

“Lạy Chúa!” Cô ta cay đắng thốt lên. “Mình căm ghét tình yêu!” Cô ta quay gót, đóng sầm cửa lại.

Cô ở trong phòng một mình. Quá mệt mỏi do chờ đợi anh ta, nên cô ngủ thiếp đi. Bản thân hoạt cảnh này đã nói lên tất cả. Căn phòng ngập ánh sáng trong căn nhà trọ một tầng bằng gỗ, có khả năng được dành sẵn cho riêng cô từ trước, để anh ta có thể gặp cô ở đây. Nhưng anh ta lại không đến, thế nên cô đã ngủ trong lúc đợi.

Những tấm rèm trên cả hai cửa sổ đã kéo xuống hết, vì lúc nãy cô đã thay sang đồ ngủ. Túi xách của cô để mở nằm cân bằng trên hai tay ghế, vài thứ trong túi được bỏ ra ngoài. Những tấm ga giường xếp gọn thành một đường chéo.

Cô ngồi ngủ gật tại bàn trang điểm, đầu gối lên cánh tay. Trên người cô là bộ quần áo ngủ ban đêm, chiếc áo ngủ màu xanh nhạt mặc ngoài váy. Lược chải tóc cô dùng trước khi ngủ nằm trong tầm tay với. Cạnh đó là chiếc đồng hồ báo thức du lịch nhỏ nhắn mà cô đã lấy ra từ trong túi. Tiếng tích tắc của nó là âm thanh duy nhất trong phòng. Dường như nó làm nhấn mạnh khung cảnh này. Kim giờ và kim phút của nó lúc này đang chỉ mười một giờ kém năm, và cho dù chẳng có ai ngoài cô biết lẽ ra anh ta phải đến vào giờ nào - nhưng từ độ nghiêng của mái đầu mệt mỏi kia cho thấy thời điểm ấy đã trôi qua… đã mãi mãi trôi qua.

Và rồi núm cửa ra vào chậm rãi xoay, rất tinh tế không một tiếng động, như thể đang phải chịu sức ép nào đó từ bên ngoài, sức ép bí mật. Sức ép được xả ra, núm cửa trở lại hình dáng ban đầu.

Không có tiếng chân bước, không có âm thanh. Không ai đi ra cũng như chẳng có ai đi vào. Nhưng rồi một ô cửa sổ được nhẹ nhàng kéo lên phía sau những bức rèm chồng lên nhau, đã kéo xuống hết. Rèm cửa căng phồng lên. Người đàn ông thả một chân xuống sàn nhà phía sau tấm rèm. Tiếp theo là chân kia.

Cô không nghe thấy anh. Giấc ngủ của cô quá sâu còn anh quá thầm lặng.

Một bàn tay, những ngón tay cong cong của một bàn tay, siết chặt mép tấm rèm, kéo căng nó trong một phút, rồi buông tay hình thành các đường lồi lõm trong thoáng chốc.

Bucky bước ra từ phía sau tấm rèm, súng lăm lăm trong tay. Đôi mắt anh chỉ thực sự là đôi mắt khi nó chú mục nhìn cô. Khi đôi mắt ấy rời khỏi cô đi dò xét khắp căn phòng, chúng biến thành hai viên đá, lạnh lùng và cứng nhắc, gắn trên khuôn mặt anh.

Anh nhẹ nhàng đi tuần khắp phòng, với sự nhẹ nhàng khủng khiếp của tử thần. Anh dòm vào bồn tắm trước tiên, huơ súng lên thành nửa vòng tròn. Anh nhìn vào nhà vệ sinh. Cô treo váy áo của mình trong đó, những quần áo cô đã thay ra khi tới đây.

Không còn chỗ nào khác để dò xét nữa. Anh nhét súng vào túi. Hai viên đá cứng nhắc ấy lại liếc nhìn cô, lấy lại vẻ dịu dàng. Đôi mắt biết khoan dung. Anh lấy hết quần áo đang treo trên mắc, mang đến chỗ cái túi đang mở và nhét hết vào trong. Ngay cả với đống quần áo này, ngay cả với những món đồ tùy thân vô tri vô giác này, anh cũng vẫn rất nâng niu, chỉ vì chúng là của cô. Anh gấp chúng lại trước tiên, để có thể nhét vừa vặn vào túi, không bị nhàu nát, không bị hư hại.

Tất cả ngoại trừ áo khoác và váy. Anh bỏ chúng ra ngoài cho cô mặc, để về nhà với anh. Nhà ư? Đúng, nhà. Cho dù chẳng có ngôi nhà nào đang đợi chờ họ, cho dù chẳng có mái nhà nào trên đầu họ, nơi nào họ đến và ở bên nhau thì nơi đó chính là nhà.

Thế rồi anh khóa chặt túi lại, đặt xuống sàn nhà, sẵn sàng mang nó ra ngoài cho cô.

Dù cho cô chẳng hề nghe thấy tiếng khóa túi lách cách.

Rồi anh bước đến bên, để đánh thức cô.

Anh dừng chân ngay sau lưng cô và đứng yên ngắm nhìn cô một lúc. Nếu trông thấy gương mặt anh ngay lúc đó, hẳn cô sẽ biết rằng anh chẳng hề trách cô về chuyện này. Không một câu hỏi nào, không một lời oán trách nào được thốt ra. Chỉ cần giành lại được cô, thế là đủ.

Cuối cùng anh cúi xuống nhẹ hôn lên trên trán để đánh thức cô.

“Sharon,” anh dịu dàng thì thầm vào tai cô. “Sharon, dậy đi. Anh sẽ đưa em quay về với anh.”

Mái đầu cô hơi ngửa lên, dọc theo cánh tay, như một người chậm rãi trở về trạng thái thức tỉnh. Và cô đang toét miệng cười với anh, từ một bên (giờ anh có thể nhìn gương mặt nghiêng của cô). Cô cười một cách ranh mãnh, như yêu tinh.

Nhưng đôi mắt cô thì vẫn nhắm chặt…

Anh bất ngờ vươn tay về phía cái lược, nằm trước mặt cô. Nhưng thứ anh muốn giật lấy không phải là cái lược, mà là thứ nằm dưới nó.

Những dòng chữ viết bằng bút chì trên một mảnh giấy.

Giành lại được cô ấy rồi nhé, anh lính.

Đừng bảo tôi chẳng cho anh cái gì.

Anh gục xuống, trước tiên chỉ một, rồi cả hai gối, bên cạnh cô. Anh cố gắng ôm cô trong vòng tay mình, nhưng dù có cố thế nào, cơ thể cô vẫn đu đưa lủng lẳng, như thể chối bỏ vòng tay anh. Cuối cùng anh đành phải đặt cô nằm xuống sàn nhà. Cô vẫn đang mỉm cười với anh, ranh mãnh như yêu tinh.

Một mình và hoàn toàn bất lực, đôi bàn tay anh buông thõng hai bên người, cố gắng lấy ra cái gì đó, bất kể cái gì, từ trong hai túi quần để giúp đỡ cô. Nhưng anh không biết nên lấy cái gì.

Và rồi một trong hai bàn tay dừng lại, khi nó sờ thấy khẩu súng.

Thét lên một tiếng khàn khàn đầy đau đớn, anh hổn hển rên rỉ, “Anh không chấp nhận đâu, Sharon. Anh không chấp nhận đâu. Anh sẽ không để em rời xa anh, dù thế nào đi nữa.”

Anh cúi xuống, cho đến khi chạm vào khuôn miệng méo xệch đi vì đau đớn của cô. Anh hôn lên nó, như cách một người chồng hay làm, như cách một người chồng nên làm.

“Cảm ơn em, Sharon. Cảm ơn em vì đã yêu anh.”

Phát súng khiến cả hai chấn động như nhau, thi thể đã chết của cô và cơ thể vẫn còn sống của anh.

Nụ hôn của họ tự lặp lại chính nó, khi đôi môi anh lướt qua làn môi cô lần nữa, nằm yên ở đó. Một nụ hôn vĩnh hằng.

Nhận xét vu vơ trong cuộc đối thoại chuyên môn giữa thanh tra A và thanh tra B:

“… nhắc tôi nhớ đến một vụ chúng tôi từng đối mặt không lâu trước đây. Tìm thấy một mảnh giấy ghi rằng, ‘Giờ mày hiểu cảm giác ấy thế nào rồi chứ.’ Chúng tôi không thể phá án được, bởi vì cả hai đều đã chết. Ai viết thư cho ai…?”

Nhận xét vu vơ trong cuộc đối thoại giữa thanh tra B và thanh tra C (ba tuần sau):

“… giống như vụ mà A mới kể với tôi gần đây. Họ tìm thấy một mảnh giấy ghi rằng, ‘Giờ mày hiểu cảm giác ấy thế nào rồi chứ.’ Đại loại thế, tôi cũng không nhớ rõ lắm…”

Nhận xét vu vơ trong cuộc đối thoại giữa thanh tra C và Trung úy D (sếp của Cameron), sáu tuần sau:

“… B nói với tôi rằng anh ta từng nghe nói về một vụ như thế. Mảnh giấy này cũng có nội dung tương tự, và điều đó khiến tôi nghĩ đến nó. Họ không thể kết luận được nhiều, chỉ cho rằng đó là sản phẩm của gã lập dị nào đó…”

Lá thư từ Trung úy D gửi cho người đồng cấp tại đơn vị của A (hai tiếng rưỡi sau):

… rằng Maclain Cameron, theo đề nghị của chính cậu ta, sẽ hợp tác với văn phòng của ngài trên cơ sở tạm thời, làm việc cùng các nhân viên của ngài điều tra cái chết của Binh nhất Buck Paige và vợ anh ta, Sharon…

Hồi âm điện tín từ Trung úy A gửi Trung úy D (hai mươi phút sau):

RẤT HÂN HẠNH ĐƯỢC CHẤP NHẬN LỜI ĐỀ NGHỊ CỦA NGÀI. HÃY GỬI CẬU ẤY QUA ĐÂY.

Cameron và sếp của cậu ta quay lại với nhân chứng. “Thêm một câu hỏi nữa thôi, Celeste…”

Cô gái ngồi trên ghế, giậm mạnh chân đang vắt chữ ngũ xuống sàn nhà trong giận dữ. Cô ta giật mạnh thắt lưng, thành thạo vẩy tàn thuốc bằng ngón tay.

“Lại thế nữa rồi! Làm thế quái nào tôi biết các ông đang nói chuyện với tôi hả? Tôi cứ tưởng là đứa khác cơ, đứng sau lưng tôi đây này! Tên tôi là Rusty. Nghĩ tôi là ai hả? Một cô nàng bánh bèo à?”

Cameron và ông sếp nhìn nhau. “Xin lỗi, chúng tôi không có ý xúc phạm cô đâu,” ông sếp lạnh nhạt xin lỗi. “Không dễ dàng gì cho mấy kẻ thủ cựu như chúng tôi khi phải nhớ rằng, ngày nay tuyệt đối không được gọi các cô gái bằng tên thật của họ. Được rồi, Rusty.”

“Ít ra phải thế chứ,” cô ta dịu giọng hẳn đi. “Giờ thì tôi có thể làm gì cho các ông đây?”

“Sharon Paige có một mặt dây chuyền, đính trên sợi dây đeo trên cổ cô ấy. Chúng tôi muốn hỏi cô về nó.”

“Được, cứ hỏi đi.”

“Cô ta thường xuyên đeo nó đúng không?”

“Đeo suốt ngày. Cô ấy chỉ cởi nó ra khi tắm thôi. Sau đó lại đeo lên ngay.”

“Bây giờ mới đến phần chúng tôi muốn hỏi cô. Cô ấy đeo nó như thế nào? Cô cho chúng tôi biết được không? Cho chúng tôi xem đi.”

“Chà, giả dụ như đây là cổ áo của cô ấy.” Cô ta chìa cổ áo chiếc áo len chui đầu của mình cho họ xem, lấy tay chỉ, ngón tay cô ta biến mất trong khe cổ áo. “Như thế này này. Ngay phía dưới. Giấu tít tận trong này này.”

“Mặt dây chuyền đó không bao giờ lộ ra ngoài?”

“Không bao giờ. Các ông thấy đấy, nó không phải là vật trưng bày. Mà như một vật lưu niệm, tôi chỉ biết nó ở đó khi trông thấy lúc cô ấy thay đồ.”

“Nhưng chẳng lẽ không có ai đi qua cô ấy trên phố, hay thậm chí nói chuyện với cô ấy sau khi cô ấy thay đồ nhận ra nó à?”

“Soi qua máy chụp X quang thì có thể?”

“Cảm ơn cô. Cô có thể đi, Ce… à cô Rusty.”

Cô ta đứng dậy bỏ đi, bàn tay cô ta men theo bức tường và một que diêm sáng bừng lên..

“Này… Làm ơn…” ông sếp lắp bắp gần như là bất lực. “Đừng làm thế với tường của chúng tôi.”

“Chuyện quái gì với tường nhà các ông vậy?” Cô ta dịu dàng hỏi. “Bật diêm tốt mà.”

Cánh cửa đóng lại sau lưng cô ta.

“Anh hiểu vấn đề tôi nêu ra chưa? Rằng chẳng phải ai khác mà chính là thằng cha đó, chính kẻ đã giết chết cô ta đã viết những lá thư độc hại ấy cho người chồng! Ngay trong khi hắn ta đang giở trò cướp cô ấy khỏi tay Paige, hắn không ngừng thông báo cho anh ta về quá trình quyến rũ này. Gửi cho anh ta những thông tin hết sức chi tiết, ngay trong khi đang làm thế. Hắn đã sử dụng mặt dây chuyền đó, ở một trong những lá thư, như một cách để khẳng định rằng, cô gái mình đang quyến rũ chính là vợ của Paige, để Paige hoàn toàn không nghi ngờ gì nữa. Không một ai có thể nhìn thấy nó khi cô ấy đi dạo phố, không một ai có thể nhìn thấy nó khi cô ấy mặc đầy đủ quần áo trên người. Hắn là người duy nhất có thể gửi những lá thư đó.”

“Tại sao hắn lại chỉ điểm chính mình cơ chứ? Thật điên rồ.”

“Tàn nhẫn đến điên rồ, hai điều này không giống nhau. Một chứng bạo dâm tàn bạo. Hắn muốn bắt anh ta phải chịu đựng, và hắn đã làm thế. Anh đã nghe Rubin nói về chuyện này rồi.”

“Được rồi, nhưng giờ chúng ta có gì? Chứng minh được gì?”

“Chứng minh rằng hắn không có hứng thú với vợ anh ta; cũng không quan tâm đến chuyện yêu hay giết cô ấy. Hắn không giết cô ấy vì hắn có oán thù gì đó với cô ấy, mà là vì hắn có thù oán gì đó với Paige. Người chồng là mục tiêu, người vợ chỉ là hung khí hắn dùng để đánh gục anh ta.”

Ông sếp cố gắng lắc đầu, bác bỏ niềm tin đó.

“Chỉ trả lời tôi hai câu hỏi,” Cameron nói. “Cô ấy đã phải chịu đựng trong bao lâu?”

“Mười giây. Có thể là hai mươi. Thế rồi xong.”

“Còn anh ta chịu đựng trong bao lâu?”

“Nhiều tuần, tôi nghĩ vậy. Rubin cũng nói thế. Nhiều tuần đau khổ kéo dài.”

Cameron dang hai tay ra. “Ai trong hai người thực sự bị trừng phạt?”

“Điều này,” ông sếp buồn rầu nói, “mới mẻ đây.”

Cameron đã lặn lội đến tận Tulsa. Từ Tulsa anh ta lại đến Đại lộ Dixon. Từ Đại lộ Dixon anh đến tận điểm tận cùng của nó. Tuy vậy, hỏi han và điều tra kiên nhẫn đã được tiến hành từ trước đó mấy tuần, trước khi anh hiểu rõ mình phải đi đến đâu.

Anh đã sử dụng rất nhiều phương tiện để tới đó: xe lửa, rồi xe buýt, và cuối cùng là taxi vùng Tulsa.

Lúc này anh đang bước trên con đường lát đá, rung chuông cửa một ngôi nhà đã được xác định từ trước. Sau đó vài phút, một bà nội trợ nhỏ nhắn, quyến rũ với làn da sạm nắng và phong thái thân thiện chạy ra mở cửa.

“Ngài Graham Garrison sống ở đây đúng không ạ?”

“Đúng,” cô ta đáp ngay. “Ông ấy là chồng tôi.”

“Làm ơn hỏi xem ngài ấy còn nhớ Cameron không,” anh khôn khéo nói. Anh không muốn làm cô ta hoảng sợ, không muốn nói thật cho cô ta biết mình là thanh tra. Ở cô ta có điều gì đó trong sáng và đáng tin cậy.

Ban đầu, cô ta lặp đi lặp lại câu nói, như một bé gái nhắc đi nhắc lại lời dạy, để chắc chắn mình hiểu đúng. “Hỏi ông ấy còn nhớ Cameron không.” Xong xuôi cô ta gật đầu như thể đã nhớ kĩ, rồi quay lưng đi.

Sau đó cô ta quay lại báo cáo, với dáng vẻ vừa thật thà vừa quyến rũ, “Ông ấy nói chẳng nhớ đâu, nhưng anh cứ vào đi.”

Sau khi đã cảm ơn cô ta, Cameron tự nhủ rằng không nên trách Garrison vì đã đi bước nữa. Hay đúng hơn, không nên trách ông ta khi cưới người phụ nữ nhỏ nhắn đặc biệt này. Nếu có suy sụp, điều kỳ diệu hẳn sẽ đến một khi ông ta quen biết cô ta. Anh cho rằng mỗi người đàn ông đều có quyền được hưởng hạnh phúc. Và ngay khi nhìn mặt Garrison, Cameron đã biết rằng trông ông ta ổn hơn bao giờ hết.

Ông ta đang theo dõi một trận bóng chày. Bây giờ là chiều Chủ nhật. Ông ta lịch sự vặn nhỏ radio, Cameron biết ông ta khéo léo che giấu sự bực mình khi phải làm vậy vì anh.

“Cậu đến từ văn phòng phía Đông của công ty phải không?” Ông ta hỏi. “Có phải chúng ta gặp nhau ở đó không nhỉ?” Rồi nhận ra rằng Cameron hoàn toàn không hiểu ý mình, ông ta nhấn mạnh thêm, “Công ty Standard Oil.”

“Không,” Cameron đáp. “Ngài chưa từng gặp tôi vì công việc. Tôi không biết ngài có nhớ lại được không, nhưng…” Anh liếc mắt nhìn quanh. Không hề có người thứ ba; cô vợ đã quay lại với công việc nhà nào đó khiến cô ta quan tâm hơn là chuyện của chồng.

Hồi ức của Garrison bất ngờ quay lại nhanh chóng. Ông ta ngồi thẳng người trên ghế, búng ngón tay đánh tách một cái, rồi chỉ tay vào Cameron. “À, giờ tôi nhớ rồi! Đúng. Cậu là anh chàng cảnh sát đã vài lần đến nhà nói chuyện với tôi, vào quãng thời gian Jeanette qua đời.” Và rồi với vẻ cực kỳ hài lòng, cho dù có lẽ ông ta vui vì khả năng ghi nhớ thần kỳ của mình hơn là vì sự hiện diện của Cameron, ông ta thúc giục, “Ngồi đi,” rồi mời anh điếu thuốc lá và hỏi anh có muốn uống gì không.

Cameron đứng dậy, ra đóng cửa để đề phòng. “Tôi tự hỏi liệu chúng ta có thể nói chuyện riêng được không?”

“Tệ lắm à?” Garrison hỏi.

“Tôi không muốn vợ ngài biết chuyện này đâu,” Cameron đáp, thực lòng muốn bảo vệ cô ta, dù họ mới chỉ nói chuyện có bốn mươi lăm giây. “Những gợi ý không dễ nghe.”

“Cô ấy phải mấy tiếng nữa mới quay lại cơ,” Garrison tự tin, niềm kiêu hãnh rạng ngời trên gương mặt. “Đang một mình nấu bữa tối ngày Chủ nhật đầu tiên đấy. Có một vạch phấn phía sau sảnh mà tôi không dám bước qua.”

“Ngài quả là người may mắn, ngài Garrison,” Cameron không thể ngăn mình buột miệng.

“Tôi cô đơn như thế đủ rồi,” Garrison nói thẳng.

Cameron chỉnh lại ghế ngồi. “Nghe này, tôi phải đến gặp ngài,” anh giải thích. “Tôi cũng chẳng muốn gặp ngài hơn là ngài muốn gặp tôi đâu. Tôi ghét phải khơi lại quá khứ. Với ngài bây giờ quá khứ đã lùi xa rồi, nó kết thúc rồi. Nhưng ngài có thể giúp tôi. Ngài chính là người duy nhất có thể. Ngài là mắt xích còn lại duy nhất.” Rồi anh nói thêm. “Mắt xích còn sống.”

“Nghe khá nguy hiểm nhỉ.”

“Chà, đúng vậy đấy. Giờ vẫn vậy.” Anh lấy ra vài thứ từ trong túi, những thứ anh mang đến cho ông ta xem. “Ngài có biết một người tên là Hugh Strickland không?”

“Thằng đó hả?” Là câu trả lời có theo cách của Garrison. “Tôi biết là hắn đã lên ghế điện rồi. Kết thúc có hậu, phải không? Tôi biết hắn sẽ có kết cục như thế mà.”

“Nói vậy là ngài biết anh ta rất rõ?”

“Những kẻ như thế tôi không ưa nổi, tôi đã không qua lại gì với hắn nữa từ trước khi Jeanette qua đời. Cô ấy chẳng có liên quan gì đến hắn hết. Dù sao thì, Florence Strickland cũng là một trong những người bạn thân nhất của cô ấy. Tôi không phải khắt khe gì đâu, nhưng khi một thằng đàn ông cởi mở về những chuyện ấy…”

Cameron khéo léo né tránh khía cạnh đạo đức trong câu chuyện mình không quan tâm. “Có hai điều tôi e rằng chúng ta có mâu thuẫn,” anh nói. “Nhưng ngay cả có mâu thuẫn, ngài vẫn là người có thể giúp tôi. Chẳng có gì thay đổi cả. Một là về cái chết của bà Garrison…”

“Này, cậu vẫn nghĩ cái chết của Jeanette là… không phải do nguyên nhân tự nhiên.”

“Tôi vẫn nghĩ thế và sẽ luôn nghĩ thế.”

“Tôi thì không,” Garrison nói.

“Điều đó cũng chẳng cản trở chúng ta chút nào. Điều thứ hai, mà có thể khiến ngài kinh ngạc đấy, nhưng tôi không nghĩ Strickland là hung thủ giết cô Holliday, tội danh đã khiến anh ta phải ngồi ghế điện.”

Ánh mắt của Garrison không chỉ kinh ngạc, mà thậm chí còn oán trách anh vì điều này.

“Tôi đã thẩm vấn anh ta, tất nhiên là không chính thức, trong xà lim án tử của anh ta vài tuần trước khi bị hành hình. Anh ta lặp đi lặp lại những điều đã nói khi chúng tôi bắt giữ anh ta - rằng có một mẩu giấy nằm cạnh thi thể cô ta, có nội dung mang đầy hận thù và hả hê. Vì không thể trưng cái mẩu giấy đó ra, nên tất nhiên anh ta đã không thể tự minh oan.” Anh ngả người về phía trước, lấy ngón tay cái chỉ vào ngực mình. “Tôi thực sự tin rằng có mẩu giấy đó. Tại sao à? Bởi vì nó là một chi tiết quá lạ lùng, không đáng tin, có thể nói là quá vớ vẩn, quá nhỏ bé để có thể bám lấy, để có thể là lời dối trá của một người đang cố gắng tự cứu mạng mình. Anh ta chẳng hề nói rằng mình thấy một bóng đàn ông đáng ngờ nào đang lẻn ra ngoài khi anh ta đến nơi, chẳng hề nói cái gì như thế. Anh ta chỉ luôn một mực khẳng định rằng mình đã thấy mẩu giấy đó cạnh xác cô ta. Anh ta thề sống thề chết với tôi điều đó. Anh ta đọc nội dung mẩu giấy cho tôi nghe, và những câu trích dẫn đó không hề thay đổi từ đầu đến cuối. Và tôi vô tình được biết rằng, điều mà anh ta không hề nói từ đầu đến cuối, rằng chính bản thân ngài cũng nhận được một mẩu giấy với nội dung tương tự, vào đầu năm khi vợ ngài chết. Và, một năm đã trôi qua kể từ khi khi anh ta xuống mồ, mẩu giấy thứ ba xuất hiện, trong vụ thứ ba, ở một nơi khác. Giờ ngài đã hiểu tại sao tôi lại phải đến đây gặp ngài chưa?”

Garrison gật đầu, bị ấn tượng, dù vẫn chưa hoàn toàn tin.

“Giờ thì để tôi nói tiếp,” Cameron nói. “Ngài có biết một người tên là Buck, hoặc Bucky Paige không?”

Garrison lắc đầu, ban đầu còn ngập ngừng, nhưng sau khi cân nhắc, ông ta ngày càng chắc chắn hơn.

“Căn cứ theo giấy khai sinh của anh ta, mà tôi đã lấy được và tra cứu,” Cameron cố gắng giúp ông ta, “tên thật của anh ta là Bucklyn. Cái tên này cũng nằm trong hồ sơ tại Lansing, Michigan. Anh ta sinh ra ở đó, vào năm 1919.”

“Không,” Garrison vẫn khăng khăng. “Không.” Và khẳng định với chính mình như một bài thử nghiệm tiếp theo. “Paige. Bucky Paige. Không.”

“Ngài có chắc không?”

Garrison đáp hợp lý. “Tôi không biết cái tên này. Tôi chắc chắn điều đó. Có thể tôi biết mặt anh ta.”

“Vậy thì theo cách đó vậy. Đây, ngài nhìn đây xem. Giờ thì nghĩ cho kĩ vào.”

Anh trao cho ông ta một bức ảnh chụp nhanh hai người lính đang tạo dáng bên nhau, tay khoác vai nhau.

“Quên người đứng bên trái đi,” anh hướng dẫn. “Và quên luôn cả bộ quân phục đi.”

Để giúp ông ta, anh lấy ra hai mảnh giấy viền khung bức ảnh, che đi chiếc mũ lưỡi trai và chiếc áo jacket, chỉ tập trung vào gương mặt ở giữa.

‘Thử nhìn xem sao,” anh nói, trao cho ông ta một chiếc kính lúp nhỏ. “Nhìn đi.”

Garrison cúi nhìn. Phản ứng của ông ta đến ngay lập tức. “Đúng rồi,” ông ta nói, “Tôi từng thấy gương mặt anh chàng này ở đâu đó rồi. Chờ một chút… ở đâu nhỉ? Ở đâu nhỉ?” Ông ta ngả người vào lưng ghế. Rồi ông ta lại rướn người sang, nhìn lướt qua bức ảnh một lúc nữa.

“Cố nhớ đi,” Cameron khuyến khích.

“Trong văn phòng công ty thì không có…”

Cameron không thể ngăn mình bóp chặt vai ông ta, như thể dùng sức ép vật lý có thể giúp được. “Tiếp tục đi. Đừng bỏ cuộc. Tiếp tục đi.”

“Ở đâu đó… ở đâu đó…”

Ông ta nhắm mắt lại một lát, cố gắng trong căng thẳng. Bỗng ông ta nhảy dựng khỏi ghế, như thể vừa bị cái kim nào đâm phải. Ông ta giáng thẳng một quả đấm xuống tấm ảnh, thổi bay hai mảnh giấy theo những hướng khác nhau.

“Giời ơi, anh ta là hướng dẫn viên từng đi với chúng tôi! Anh ta được chúng tôi thuê…! Trong những chuyến đi. Tất cả chúng tôi đều là bọn nghiệp dư, anh ta là tay chuyên nghiệp duy nhất đi cùng chúng tôi. Việc của anh ta là tìm cho chúng tôi những nơi tốt nhất. Bucky. Đúng rồi, giờ tôi nhớ rồi, chúng tôi gọi anh ta là Bucky. Trời ạ, tôi không còn nghĩ đến anh ta suốt bao năm nay rồi!”

“Đi cùng ngài tới đâu cơ?” Cameron căng thẳng hỏi. “Chuyến đi tới đâu cơ?”

“Những chuyến đi câu cá, cắm trại mà chúng tôi thường tổ chức. Đại loại như kiểu một nhóm hoạt động thể thao hữu nghị, mà chúng tôi lập ra. Chúng tôi gọi nó là câu lạc bộ Rod & Reel. Mỗi năm chúng tôi lại đi hai hay ba lần, bỏ lại hết việc kinh doanh và những lo toan. Đi lên rừng, sống cùng thiên nhiên, cắm trại ngoài trời, kiểu kiểu đó.”

“Đúng là điều tôi muốn,” Cameron thúc giục ông ta. “Một thứ như thế. Đó chính là điều tôi hy vọng sẽ thu được từ ngài. Chính là mục đích của tôi khi đến đây. Giờ chúng ta đã nóng lên rồi. Cho hỏi ngài có bất cứ liên hệ nào, tiếp xúc nào với Strickland, ngoài những chuyến đi này không?”

Garrison gật đầu. “Có, nhưng chỉ trước đó thôi, còn sau đó thì không. Từ sau những chuyến đi ấy tôi không còn gặp anh ta nữa. Câu lạc bộ đã giải tán.”

“Còn Paige?”

Lần này Garrison dứt khoát lắc đầu. “Không, tôi chưa từng gặp anh ta trước những chuyến đi này, và cũng không bao giờ gặp lại anh ta sau đó. Tôi chỉ gặp anh ta trong chính những chuyến đi này thôi. Anh ta có mặt ở sân bay khi chúng tôi cất cánh, và chia tay anh ta ở đó sau khi hạ cánh, đường ai nấy đi.”

“Vậy đó là lần duy nhất ngài và cả hai người này ở cùng nhau? Cả hai người, không chỉ một?”

“Đúng vậy.”

“Ngài thấy không. Tôi thấy cả ba người các ngài liên kết với nhau theo hai cách. Trước tiên là theo ngày tháng. Và thứ hai là theo mẩu giấy. Có một ngày liên quan đến cuộc sống của mỗi người các ngài. Tôi không biết tại sao, tôi không biết điều đó nghĩa là gì. Ngày cuối cùng của tháng Năm, ngày ba mươi mốt. Người vợ đầu của ngài chết vào ngày ba mươi mốt tháng Năm. Chúng ta có thể nói là, người tình thân thiết của Strickland, chết vào ngày ba mươi mốt tháng Năm. Và cuối cùng là hai thi thể của Buck và Sharon Paige cũng được phát hiện vào ngày ba mươi mốt tháng Năm. Hai lần thì còn có thể là trùng hợp. Nhưng đến lần thứ ba thì không thể là trùng hợp nữa. Không thể là trùng hợp khi nó xảy ra với ba người đàn ông từng quen biết nhau trước khi xảy ra chuyện này.

“Tiếp theo là mẩu giấy. Một mẩu giấy hận thù mà từng người trong các ngài đều nhận được, được tính toán vào đúng thời điểm mọi người dễ tổn thương nhất. Tất cả đều có nội dung y như nhau. Tôi đã được xem hai mẩu giấy. Và tôi tin vào sự tồn tại của mẩu giấy thứ ba, vì người đàn ông đã nhận được nó, Strickland, không hề biết đến hai mẩu giấy khác tôi đã thấy khi anh ta kể cho tôi nghe về mẩu giấy của mình. Và nội dung trong mẩu giấy này phù hợp với hai mẩu giấy kia.

“Và bây giờ chúng ta đến một điểm cực kỳ quan trọng. Điểm then chốt của toàn bộ chuyện này. Bởi vì những mẩu giấy này và ngày tháng này có thể tái diễn trong những cuộc đời khác, có thể chúng vẫn chưa kết thúc. Tôi không có cách nào biết chắc chắn, cho đến khi tôi hiểu được chúng nghĩa là gì. Thế nên ngài phải nói cho tôi biết còn ai nữa là thành viên của nhóm hoạt động thể thao cùng với ngài. Tôi phải biết tên của họ trước khi chúng tôi có thể đi xa hơn. Tôi phải biết tôi có thể tìm được họ ở đâu và cảnh báo họ.”

“Tôi có thể cho cậu thông tin đó dễ thôi,” Garrison đáp. “Bởi vì đó chỉ là một nhóm nhỏ, có tất cả năm người thôi.” Ông ta xòe bàn tay ra. “Ngoài tôi, Strickland và Paige, thì chỉ còn hai người nữa. Và tên họ là…”

Đột nhiên, quay lại thành phố nhỏ nơi mọi chuyện bắt đầu, bên ngoài ô cửa sổ sáng đèn của hiệu dược phẩm Geety’s, nhìn ra quảng trường, người tình bóng ma, chàng cao bồi hiệu dược phẩm chập chờn như bóng ma, lại thoáng hiện về. Chỉ trong một đêm. Chỉ trong một đêm, người ta lại thấy anh đứng đó, đúng chỗ cũ, tiếp tục làm một người gác đêm già cỗi. Chẳng kiếm tìm bất kỳ ai ngoài một người sẽ không còn đến nữa.

Hầu hết mọi người đều chẳng quen biết gì anh, chẳng biết anh là ai, chẳng biết ngọn nguồn câu chuyện; thành phố đã thay đổi. Chiến tranh diễn ra rồi kết thúc; thành phố căng lên trong thời chiến rồi vỡ bung ra. Giờ đây nó đã co lại, gần như quay về trạng thái ban đầu, tuy nhiên những người cũ thì không còn nữa. Họ cứ trôi dạt đi, và những người khác đến thay thế họ. Biển hiệu của hiệu dược phẩm Geety’s vẫn ghi chữ “Geety’s”, nhưng đó là tất cả những gì còn lại, cửa hiệu giờ đã thuộc về một người khác. Tay cảnh sát cũng là một người khác, nhân viên bán vé tại rạp Bijou cũng là một người khác; trạm phòng cháy chữa cháy xây bằng gạch phía bên kia quảng trường cũng có một đội lính cứu hỏa khác.

Nhưng quảng trường vẫn ở đó, và những chuyện cũ vẫn còn diễn ra.

Hôm ấy là ngày mùng một tháng Sáu, đêm thứ Bảy, và những ánh đèn đang chiếu sáng rực rỡ, toàn bộ thành phố đã ra ngoài dạo bộ. Từng đôi từng đôi dìu bước bên nhau, chàng trai nào cũng có cô gái của mình, cô gái nào cũng có chàng trai của mình.

Chẳng có điều gì lộn xộn hoặc lạ lùng ở anh. Bạn sẽ chẳng biết đâu. Mái tóc anh mới được cắt, như cách đàn ông hay cắt tóc trước buổi hẹn hò tối thứ Bảy. Cà vạt mới tinh và sặc sỡ. Một thằng bé da màu chạy lên trước, anh thậm chí còn mỉm cười với nó. Người ta nói rằng người có mục đích trong đời thì sẽ sống sót. Nếu vậy thì cuộc đời anh hẳn phải có vô số mục đích, bởi vì chẳng có gì cho thấy anh đã đi chệch hướng. Một ông bác sĩ có thể đoán bệnh sau vài lần thăm bệnh. Nhưng ông ta đến thăm bệnh như thế vì ai? Các bác sĩ không đi tìm người bệnh, mà người bệnh phải đi tìm bác sĩ của họ.

Bên trong tòa nhà có thể là một nơi đau thương, nhưng ở mặt tiền nó cũng chẳng khác gì một ngôi nhà tầm thường, chán nản bạn thường thấy ở khắp nơi. Chẳng ai có thể nhìn vào trong tâm hồn của người khác bằng đôi mắt của kẻ bàng quan để thấy những gì bên trong. Nếu họ có thể nhìn thấu tâm hồn kẻ khác, hẳn nhiều người sẽ phải hét lên, và nhiều người sẽ bất ngờ biến thành những linh hồn nhợt nhạt trên phố.

Chốc chốc anh lại xem đồng hồ, thậm chí còn mỉm nụ cười khoan dung, tự tin khi làm thế. Nụ cười của một người đàn ông không bực bội, người không bận tâm nếu phải đợi chờ thêm chút nữa; người biết rằng cô ấy sắp đến bây giờ.

Hai cô ả nhỏ nhắn đi vớ ngắn, mặt vênh váo, đang tìm kiếm người hộ tống (rốt cuộc, đi dạo quanh quảng trường là một cách tốt để kiếm người đồng hành nếu bạn chưa có ai) đi ngang qua. Họ liếc mắt về phía anh khi đi qua trước mặt, và quyết định có thể anh sẽ đồng ý đi cùng. Một gương mặt mới, một người mới trong thành phố. Có lẽ là đáng để thử.

Hai ả nở nụ cười tự mãn và cố gắng tán tỉnh anh, cố tình bước chậm như sên bò, cho anh cơ hội đi cùng.

“Trời đẹp đấy chứ,” một ả cố tình nói lớn tiếng với ả kia, để anh nghe thấy.

Anh nghe thấy rồi. (Làm sao không nghe thấy được chứ.) Nhưng anh chỉ khẽ nhếch mép, hơi lắc đầu. “Đang chờ một người,” anh nói. Rồi anh nghiêng mũ chào họ như một lời từ chối lịch thiệp, ngoảnh mặt sang chỗ khác.

Hai ả nhún vai nhìn nhau rồi bước tiếp; cá trong biển này hãy còn khối, đặc biệt vào một đêm thứ Bảy như đêm nay.

Trước khi tuổi già ập đến và tuổi trẻ không còn nữa, họ sẽ tán tỉnh thật nhiều đàn ông. Có hại gì đâu, chỉ cần làm một vòng quanh quảng trường đêm thứ Bảy. Họ sẽ chẳng bao giờ biết rằng suýt chút nữa mình đã không còn tán tỉnh đàn ông được nữa. Vào một đêm thứ Bảy, trên quảng trường này, với tất cả những ánh đèn rực rỡ này. Đôi khi trong đám đông, cái chết có thể lướt qua bạn, rất gần.

Thế rồi cuối cùng luật quân bình sẽ được áp dụng; ai đó xuất hiện trong đám đông, một người trong đám dân cư của thành phố từ thời trước chiến tranh còn sót lại, người biết rất rõ anh, người biết anh là ai, hoặc biết rõ anh từng là ai. Nhìn lại lần thứ hai, giật mình như thể chợt tỉnh sau giấc ngủ đông, anh ta rời khỏi cô gái đi cùng, bước đến chắn trước mặt anh.

“Chào, Johnny. Cậu còn nhớ tôi không, Johnny Marr?”

Đáp lại chỉ là ánh mắt vô hồn, không trả lời.

“Chúng ta đã từng chơi bóng rổ cùng nhau, cùng một đội. Red Washburn. Tất nhiên rồi, cậu vẫn nhớ tôi. Chẳng nhẽ cậu không nhớ huấn luyện viên, Ed Taylor sao? Lão ‘Ed Người sắt’ ấy? Ông ấy hy sinh tại Tarawa rồi; người đầu tiên cắm cờ… hoặc một trong những người đầu tiên.”

Đáp lại chỉ là một cái nhìn, nhưng chẳng nói lời nào. Thậm chí chớp mắt cũng không.

“Có chuyện gì với cậu thế hả, Johnny? Mình từng làm việc bán thời gian tại cửa hàng thực phẩm Allen’s, sau giờ học, đi giao hàng. Giờ thì mình có cửa hàng riêng rồi. Còn nhớ con gái của ông già Allen không, con bé không bao giờ thèm để ý tụi mình ấy? Cô ấy đứng ngay kia kìa. Giờ cô ấy là vợ mình rồi.”

Đáp lại chỉ là một cái nhìn, chẳng có một âm thanh nào.

Cuối cùng anh ta bỏ cuộc, với vẻ mặt đầy nghi ngờ, đầy xấu hổ; anh ta quay về bên cô, gãi gãi đầu, và họ lại tiếp tục đi.

“Anh có thể thề rằng đó là Johnny Marr. Đừng nói với anh rằng anh bị mất trí. Cậu ta không hề hé răng một lời nào. Em biết Johnny Marr; chẳng phải người kia trông rất giống cậu ta hay sao?”

“Em không muốn quay lại nhìn anh ta đâu. Mà em cũng có bao giờ để ý đến cái đám con trai mà anh chơi cùng đâu.”

“Nhưng nếu không phải là cậu ta, vậy tại sao cậu ta không nói? Cậu ta chỉ đứng yên đó lẩm nhẩm, như một bóng ma. Có thể câu chuyện anh từng nghe nói về cậu ta là thật, rằng cậu ta đã quá phẫn nộ đến mức…”

“Thôi quên đi, Hartley,” cô ta lơ đễnh nói, khẽ đẩy anh đi hướng khác. “Đứng vào hàng mua vé đi kìa; tất cả đều đến trước anh rồi đấy, và em không muốn suốt chương trình phải ngồi ghế bên nữa đâu.”

Tình bạn cũ, tình bạn của tuổi trẻ.

Trời ngày càng tối, đám đông dân thưa thớt, những ánh đèn mờ dần. Bên ngoài rạp phim trống trơn, tiếp theo là những cửa hàng giải khát, và cuối cùng là hai quán rượu: “Mike’s Place” trên quảng trường, và quán “Kelly’s” hơi khác biệt ở vùng ngoài. Hiệu dược phẩm Geety’s đã tắt đèn từ lâu lắm rồi, tiệm tạp hóa thậm chí còn đóng cửa sớm hơn. Gã tài xế taxi Joe đã cất xe và quay về nhà cùng vợ con. Ngay cả cảnh sát đi tuần cũng đã kết thúc phiên trực. Thậm chí chó mèo cũng lẩn vào màn đêm.

Một tiếng chuông ngân vang trên tháp chuông. Cái tháp chuông vẫn nhanh năm tiếng. Quảng trường giờ vắng tanh, đèn đóm đã tắt ngóm hết.

Không ai trông thấy anh bỏ đi. Không ai ở đó để thấy anh bỏ đi. Chẳng ai biết anh đi như thế nào, hay đi về đâu, hay đi vào lúc nào.

Nhưng vào buổi sáng, khi quảng trường đón ánh bình minh, vị trí mặt tiền của hiệu dược phẩm trống trơn; không có ai đứng đó. Và đêm ấy cũng không còn ai đứng đó nữa. Đêm sau nữa cũng thế, đêm kế tiếp cũng vậy.

Chỉ đúng một đêm đó, và rồi anh lại bỏ đi.

Riêng người chăm sóc nghĩa trang trên đồi có thể quả quyết - nhưng ông ta không làm thế, vì chẳng ai hỏi ông ta cả - ông ta có thể quả quyết nếu muốn, rằng ngay sáng hôm sau, cái buổi sáng Chủ nhật ấy, khi ông làm một vòng đầu tiên quanh nghĩa trang, thì bỗng bắt gặp một vòng hoa tang mới tinh đặt trên một trong những ngôi mộ, mà đêm hôm trước khi ông ta đi dạo quanh nghĩa trang thì nó không hề có ở đó. Những bông hoa trong đêm, những bông hoa trong bóng tối, chẳng ai biết do người nào mang tới. Những bông hoa của tiếc nuối, của xúc động, của tuyệt vọng; không phải là hoa mua ở cửa hàng, mà là những bông hoa mọc trên cánh đồng, được một đôi bàn tay nghiệp dư bó lại, kết lại thành một vòng hoa.

Vòng hoa đặt trên ngôi mộ sắp bị lãng quên có ghi dòng chữ:

DOROTHY

Anh sẽ mãi chờ em.

« Lùi
Tiến »