ĐIỂM HẸN ĐEN

Lượt đọc: 1785 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần 5
điểm hẹn thứ tư

Tất cả bọn họ tụ tập xung quanh chiếc đồng hồ, ken đặc như bầy ong, đợi chờ những người tình mà họ đã chọn. Những người tình chỉ trong buổi tối hôm đó, hoặc những người tình trong mọi buổi tối. Những người đàn ông đợi chờ những cô gái của họ. Những cô gái đợi chờ những người đàn ông của họ.

Hầu hết bọn họ đều còn rất trẻ. Một hai người có hơi già dặn hơn một chút, nhưng hầu hết đều còn rất trẻ, và đang ở trong thời kỳ thanh xuân rực rỡ nhất. Khi bạn còn trẻ, đó là quãng thời gian duy nhất bạn chờ đợi theo đồng hồ, vì cuộc hẹn của bạn bắt đầu lúc tám giờ. Khi bạn già đi, sẽ chỉ còn cô đơn ở bên bạn. Nhưng khi sức trẻ vẫn đang căng tràn, mỗi lần hẹn hò sẽ chẳng khác gì ngày lễ Giáng sinh, và sẽ luôn có một gói quà lớn chờ bạn khui ra. Cũng chẳng thành vấn đề khi bạn không tìm được món quà mình yêu thích: bởi vì tối mai sẽ lại là một đêm Giáng sinh nữa, sẽ lại có những gói quà thật to chờ bạn đến mở ra bất cứ lúc nào. Đến khi những gói quà không còn đến nữa, và những ánh đèn trên cây thông Giáng sinh không còn sáng nữa, bạn sẽ chợt biết rằng mình đã già.

Đó là chiếc đồng hồ của khách sạn Carlton, đặt trong hành lang, điểm hẹn hò nổi tiếng nhất thành phố. Đã thành lệ rồi, cho nó tiện. Người này đều gặp được người kia ở đó. Không cần biết là đi đâu, điểm khởi hành luôn là ở đây.

Những cô nàng xinh đẹp, quyến rũ, những anh chàng bảnh bao, nam tính. Vài cô gái ngồi xuống vì quá mỏi, nhưng vài người vẫn đứng, cũng vì chẳng còn đủ chỗ mà ngồi nữa. Khi họ quen biết nhau, thi thoảng họ ngồi chung ghế, người này ngồi vào ghế, người kia ngồi lên tay ghế, ngay cả khi người này có hẹn còn người kia thì không. Tất nhiên, các chàng trai chẳng ai chịu ngồi. Họ hành xử tùy theo tính cách của mỗi người. Những anh chàng nôn nóng, hoài nghi, hoang mang thì đi tới đi lui, chốc chốc lại ra cửa trông ngóng, rồi lại quay vào, so sánh đồng hồ đeo tay với đồng hồ treo tường, giậm chân, ngón tay gõ gõ. (“Cô ấy có ý gì khi bảo mình là cô ấy sẽ tới, hay là mình bị gài?”) Những anh chàng kiên nhẫn, cả tin, bình tĩnh hơn thì đứng thư giãn, không buồn di chuyển nhiều, cũng không buồn xem đồng hồ, ngoại trừ để chắc chắn rằng mình đến đúng giờ. (“Cô ấy sẽ đến. Cô ấy đã nói rằng cô ấy sẽ đến. Mình có thể tin ở cô ấy.”)

Có một chàng trai đặc biệt đứng đó, là một trong những người tự tin, vô lo ấy. Cậu đứng tựa vai vào một trong những cây cột vuông ở mép hành lang, thoải mái xem báo dưới một chùm nến gắn tường chạy bằng điện.

Cậu hành xử như thể hoàn toàn chắc chắn rằng cô sẽ đến. Chắc chắn hai người phải cực kỳ hiểu nhau, chắc chắn họ đã bước qua giai đoạn yêu đương và sắp sửa chính thức đính hôn, không còn lo sợ sự can thiệp từ bên ngoài.

Cậu khoảng hai mươi ba tuổi. Hình thức dễ coi, vạm vỡ khỏe mạnh. Cầu thủ bóng bầu dục tiềm năng. Không quá thông minh, có lẽ chẳng ai buộc tội cậu vì điều đó. Nhưng cậu lại cực kỳ dễ thương. Kiểu anh chàng mà ông sếp nào cũng muốn nhận vào công ty mình, bà mẹ nào cũng muốn con gái mình làm quen dưới đồng hồ khách sạn Carlton. Người ta có thể không biết Mary Jane ở đâu, nhưng ít nhất họ không phải lo lắng về điều đó.

Cậu vô tình ngước mắt lên khỏi tờ báo vào đúng lúc đó, gần như thể trực giác đã mách bảo cậu làm thế. Cậu lập tức thấy cô ngay lối vào.

Cô đã đến. Người dành riêng cho cậu. Người mà cậu đã chọn.

Cái cách cậu gấp lại tờ báo rồi vứt đi, cái cách bàn tay cậu đội mũ lên đầu, cái cách gương mặt vốn đã vui vẻ của cậu nở ra hết cỡ đã cho thấy rõ điều đó. Khi cô còn chưa kịp băng qua cánh cửa xoay và lớp kính ngăn cách họ không còn nữa.

Cánh cửa xoay trọn một vòng nữa sau lưng cô, không có ai, rồi một người đàn ông bước vào trong vòng quay tiếp theo. Anh ta theo cô sát gót, gần như khiến bạn nghĩ rằng anh ta đang bám theo cô, nếu bạn là loại người nghĩ ra những chuyện như thế. Nhưng rốt cuộc, mỗi phút không biết bao nhiêu người đi qua cánh cửa đó. Anh ta chỉ vô tình là người kế tiếp ngay sau cô, có thế thôi.

Anh ta liếc nhìn cô rất nhanh, từ phía sau, rồi bước sang bên đi đâu đó, đến quầy bán xì gà và văn phòng phẩm, rồi đi mua báo. Anh ta không chỉ nêu rõ tên tờ báo muốn tìm, mà còn mở báo ra xem, tay lật từng trang báo trước khi chuyển sang tờ tiếp theo. Anh ta đúng là người mua báo kiên nhẫn bậc nhất.

Trong khi đó, cô đến được chỗ chàng trai đang đợi mình. Nói đúng ra là, khoảng cách giữa họ được lấp đầy và gặp nhau giữa đường, ngay giữa hành lang.

Trước đó thì dường như cô gái nào cũng xinh. Giờ thì họ đều trông rất bình dị. Một ánh đèn hồ quang bừng sáng giữa một chùm đèn dầu tỏa khói mù mịt. Cô có mái tóc đen mượt dài chấm vai, tỏa hương hoa dành dành. Đôi mắt cô màu xám; hoặc là màu xanh, một màu xanh rất nhạt nên nhìn như màu xám. Cô vẫn còn rất trẻ. Ít nhất cô cũng chỉ mới hai mươi, thậm chí có khi còn trẻ hơn.

Cuộc trò chuyện chẳng có gì đáng nhớ. Nhưng nó rất sôi nổi, rạng rỡ, hứa hẹn một buổi tối vui vẻ.

“Chào em.”

“Chào anh.”

“Em có đến trễ không?” Cô không đợi câu trả lời. Cô cứ hỏi dồn dập mà chẳng cần đợi câu trả lời. Rõ ràng chúng giống như lời chào hơn là câu hỏi. “Anh mua được vé chưa?”

“Rồi. Họ đang giữ vé cho anh tại quầy.”

“Thế thì còn chờ gì nữa?” Cô hỏi, giọng đầy hân hoan. “Đi thôi, đi thôi.” Và cô nắm lấy tay cậu.

Họ tiến đến lối ra và bước qua cửa.

Người đàn ông đứng ở quầy báo, vẫn đang cố gắng quyết định, giơ một tờ báo lên trước mặt, như thể đang cố tìm hiểu bố cục của nó.

Cánh cửa lại xoay trọn thêm một vòng nữa, chẳng có ai.

Anh ta quyết định không muốn mua báo nữa. Anh ta rời khỏi quầy và bước ra ngoài một mình. Người bán báo chửi thầm trong miệng, sắp xếp lại quầy hàng.

Chiếc taxi họ vừa lên phóng vụt đi.

Anh ta cũng gọi một chiếc taxi khác ngay sau đó, khi nó vừa mới đến.

Chiếc taxi cũng phóng vút đi. Anh ta cũng đi cùng tuyến đường với họ, rẽ ở góc phố. Nhưng xe nào cũng phải đi theo hướng đó, vì đây là đường một chiều.

Vài phút sau họ xuống xe cách khoảng sáu, bảy con phố, phía trước một rạp hát. Trả khách xong taxi lại phóng đi. Một chiếc taxi nữa lại đến, rồi chiếc nữa, chiếc nữa; không đếm được bao nhiêu người đi xem hát bằng taxi.

Chàng trai đứng vào hàng, lấy vé, quay lại chỗ cô rồi họ cùng đi vào. Người tiếp theo trong hàng cũng lấy vé, ngay sau lưng cô. Rồi một người đàn ông tiến đến, chỉ đề nghị mua một vé đứng.

“Anh ơi, hàng ghế thứ mười có một chỗ đẹp đấy,” người bán vé gợi ý. “Vừa hủy xong.”

“Tôi chỉ muốn đứng ở phía sau,” người đàn ông nhấn mạnh bằng giọng cộc cằn. “Anh không phiền chứ?”

Người bán vé ngạc nhiên, bởi anh chờ đợi một lời cảm ơn chứ không phải một câu nói thô lỗ như vậy, nên trông anh ta có vẻ bị tổn thương. Anh ta nhún vai, bán vé cho khách. Người đàn ông bước vào rạp hát.

Giữa các hồi kịch, chàng trai và cô gái bước ra hành lang. Nhưng ai nấy trong rạp cũng đều bước ra; nơi này trở nên đông đúc, một biển người toàn gương mặt vô danh vây quanh bạn mỗi khi bạn quay người.

Vào lúc mười một rưỡi, từ nhà hát họ tiến về phía Pseudo-Chinese, một nhà hàng kiêm vũ trường kiểu Trung Hoa. Những người hầu bàn là người Hoa, thức ăn là thứ đồ ăn “Tàu” mà người Trung Quốc chưa từng biết đến, tuy nhiên người Mỹ thì lại cho rằng đó là ẩm thực Trung Hoa. Nhưng ban nhạc thì lại chơi bài The Jersey Bounce và thứ đồ uống bán chạy nhất tại quán bar hình như là Martini. Và người đã bỏ tiền đầu tư vào đây có tên là Goldberg.

Ánh đèn vô tình lại yếu đến mức gần như không tồn tại. Chỉ còn lại chút ánh sáng nhẹ xanh xao và đỏ quạch chỗ này chỗ kia. Kiểu chiếu sáng này nhằm mục đích tạo ra một “bầu không khí” liêu trai. Đối với bất kỳ ai dưới hai mươi tuổi, khung cảnh này thật lãng mạn. Tình cờ là khung cảnh này cũng rất tẻ nhạt. Đúng là một nơi cừu trong lốt sói. Giai đoạn tiếp theo, trong cuộc trải nghiệm cuộc sống về đêm, sau khi dừng chân ở quán kem góc phố, họ đến với câu lạc bộ thực sự của người lớn, những quán rượu họ đã đủ tuổi để bước vào.

Họ được dẫn vào một trong những căn buồng nhỏ xếp dọc theo bức tường, cặp đôi ngồi xuống đối mặt nhau. Họ không thể thấy ai bước vào đứng ở quầy bar và ai không đứng ở đó. Mà dù có thể thì họ cũng chẳng muốn nhìn.

Một người đàn ông bước vào đứng ở quầy bar, gọi một ly Martini, chỉ để lấy cớ ngồi và không hề đụng vào ly rượu. Tuy nhiên anh ta không quay ra ngoài và nhìn bất kỳ ai; anh ta quay lưng lại với cả phòng, vậy nên ai thèm để ý đến anh ta chứ?

Chàng trai và cô gái đứng dậy ra sàn nhảy.

Đồ ăn của họ được dọn lên.

Họ ngồi xuống ăn cơm, mì xào và trứng phù dung, cộng thêm vài món khác mà họ cũng chẳng biết gọi là gì.

Ăn xong họ lại rời bàn ra nhảy thêm vài điệu nữa.

Rồi họ lại ngồi xuống ăn thêm ít mì xào, cơm và trứng phù dung. Họ đang rất vui.

Nhóm bốn người ngồi ở bàn bên cạnh đứng dậy rời quán.

Người đàn ông tại quầy bar với ly Martini vẫn còn nguyên quay lại bắt chuyện với tay trưởng nhóm phục vụ bàn.

“Tôi muốn gọi bữa tối,” anh ta nói. “Tôi ngồi đằng kia được không? Bàn đằng kia kìa.”

“Bàn ấy dành cho bốn người thưa ngài. Tôi có thể dọn cho ngài một bàn đẹp ở mép sàn nhảy…”

“Tôi muốn ngồi bàn đó,” người đàn ông gan lì nói. “Tôi sẽ trả tiền cho cả bốn người.” Anh ta dúi cái gì đó vào tay ông ta.

“Vâng, thưa ngài,” ông trưởng nhóm miễn cưỡng đáp.

Anh ta bước đến bàn bốn người, ngồi xuống quay lưng về phía họ. Anh ta gọi bữa tối.

Anh ta ngồi đó im lặng, chờ thức ăn được dọn lên.

“… anh thích cái cảnh cô ấy quay lại với anh ấy và nói…”

“Lạ thật, cảnh đó thật tuyệt, đúng không? Anh có nghĩ những người có gia đình rồi thực sự đối xử với nhau như thế không?”

“Anh không biết. Ở nhà anh thì không.”

“Ở nhà em cũng không. Ông anh trai em kết hôn được năm năm rồi, thế mà em chưa từng thấy lão ấy đối xử kiểu đó với Dolores. Đó là vợ lão ấy, chị Dolores.”

“Anh cho rằng người ta chỉ diễn trên sân khấu thế thôi, để vở diễn trở nên thú vị hơn.”

Bữa tối của anh ta được dọn lên, nhưng anh ta vẫn im lặng ngồi ăn.

“… tất nhiên là em thích anh hơn Charlie Nickerson rồi. Em đi chơi với anh nhiều hơn hẳn Charlie Nickerson còn gì, đúng không?”

“Thế hả? Tại bữa tiệc của Betty hai tuần trước, anh đã đếm được em khiêu vũ với hắn bao nhiêu lần đấy. Có mười điệu nhảy, em nhảy với hắn sáu lần và chỉ bốn lần…”

“Ồ, em thích thế đấy! Giờ còn trách em à. Cũng tại vì anh chẳng biết nhảy rumba sao cho chuẩn. Chẳng lẽ em cứ phải ngồi ì ra trên ghế và nói ‘Không’ mỗi lần ai đó bước đến mời em…”

Bữa tối có giá một đô la rưỡi. Anh ta hành xử như thể nó chẳng đáng với số tiền ấy.

Anh ta bước xuống cầu thang - vì nơi này nằm trên tầng hai - và dừng bước giữa chừng để buộc lại dây giày. Nó không hề bị tuột, mà chính anh ta đã làm nó tuột ra, rồi buộc lại. Họ đang đứng trên vỉa hè chờ taxi.

Họ lên một chiếc taxi, nó phóng vút đi.

Anh ta cũng lên một chiếc taxi, sau một hai phút gì đó, nó cũng phóng đi.

Hai chiếc taxi chạy cùng một hướng.

Taxi của cặp đôi kia dừng lại trước cửa một cư dinh lớn cách khá xa trung tâm thành phố. Hai bóng người xuống xe và biến mất vào bóng tối của lối vào.

Taxi của anh ta dừng cách đó ba, bốn nhà. Không có ai xuống xe.

Có một sự chờ đợi, thật là dài, dễ phải đến mười hay mười lăm phút. Ngưỡng cửa không có ánh đèn. Chẳng có chuyện gì xảy ra. Chẳng thể trông thấy gì. Thậm chí bạn không thể nói rằng họ có thật sự ở đó không, ngoại trừ chiếc taxi đầu tiên, taxi của họ, vẫn đang đỗ trên lề đường.

Thê rồi một bóng người quay ra. Lần này chỉ có chàng trai. Có ánh sáng màu cam sáng lên ngắn ngủi khi cánh cửa mở ra rồi đóng lại.

Chiếc taxi thứ nhất đi tiếp.

Chiếc thứ hai cũng vậy.

“Bây giờ tiến gần hơn một chút,” khách đi xe taxi hướng dẫn. Như thể đây mới là phần thực sự quan trọng.

Chiếc taxi thứ nhất tiến về phía Bắc cách mười khối nhà, rồi đi về phía Đông cách tám khối nhà, rồi lại đi về phía Bắc, sau khi chờ đèn giao thông, chỉ còn cách nửa khối nhà nữa…

Cuối cùng chiếc taxi dừng lại trước mặt một tòa chung cư, ngôi nhà thứ ba tính từ góc phố về phía Đông con phố.

Chàng trai kia xuống xe, trả tiền taxi, rồi bước vào trong nhà.

Người đàn ông cũng xuống xe ở góc phố, cũng trả tiền xe. Anh ta đi bộ xuống phía vỉa hè bên kia, về phía Tây. Anh ta để ý rất kĩ các cửa sổ.

Một cửa sổ duy nhất sáng đèn. Trên tầng bốn, phía bên tay phải tòa nhà.

Anh ta băng qua đường, một mình đi lên lối vào.

Anh ta chỉ dừng lại đó chừng một phút, nhìn một trong những chiếc thẻ tên gắn trên các hộp thư. Chỉ có một cái tên khiến anh ta nhìn chăm chú, thẻ tên thứ tư về phía tay phải lối vào. Trên thẻ tên có ghi:

4-H. Morrissey, Wm. C.

Sau đó anh ta quay ra, rời khỏi nơi đó với những bước chân gấp gáp. Chỉ thế mà thôi.

Vào một đêm sau đó.

Cũng chính người đàn ông đó, giờ đang đi cùng một người nữa. Một gã đầu đường xó chợ. Cả hai đang lảng vảng bên trong đường hầm dẫn vào tòa nhà đó, chỉ cách cổng chính vài thước. Nó sâu lõm vào trong, không hiểu vì sao lối vào này được thiết kế thấp hơn độ cao của vỉa hè; có ba, bốn bậc thang xi măng dẫn xuống dưới. Nó tạo thành một nơi náu mình hoàn hảo để quan sát vỉa hè và cổng chính của tòa nhà. Nơi này có một bóng đèn được lắp phía trên đầu, soi tỏ những cái lò thu tro chắn đường, nhưng bóng đèn này hoặc đã hư hỏng hoặc đã có tác động nào vào ổ cắm, khiến dòng điện không còn chạy qua bóng đèn nữa…

Trên người gã lang thang tỏa ra mùi rượu whisky rẻ tiền và mùi quần áo hôi thối, ngoài ra chẳng còn gì khác - thứ mùi nồng nặc ấy chính là đặc điểm nhận dạng của gã. Gã còn sốt ruột hơn cả người đàn ông kia. Gã định châm điếu thuốc. Người đàn ông lập tức đập vào cạnh bàn tay gã, điếu thuốc văng xuống đất. Gã cúi xuống, nhặt điếu thuốc lên, lại cho vào túi áo, như thể gã đã quen nhặt của rơi dưới đất.

“Nếu nó đi taxi thì sao?” Gã thì thầm, giọng khàn khàn.

“Bọn con trai chỉ làm thế khi ra ngoài với một đứa con gái. Đêm qua nó đi chơi rồi. Đêm nay nó sẽ không đi chơi với đứa khác. Thằng đó chung thủy mà.”

“Nếu nó đuổi theo và bắt kịp tôi thì sao?”

“Thì tống một quả vào bụng nó,” người đàn ông đáp dứt khoát. “Chơi bẩn với nó là được. Tôi tưởng ông nói mình là cựu võ sĩ quyền Anh cơ mà. Có mỗi chuyện đấy mà cũng không lo được à?”

“Được rồi, tôi sẽ làm. Tôi sẽ hạ gục nó như chiếc bánh quy.”

“Phải chắc chắn cướp được ví của nó.”

“Trò này thì tôi quá rành. Đây là lần đầu tiên tôi ăn cướp vì người khác, thay vì cho chính tôi, đó là sự khác biệt duy nhất.”

Có một chùm ánh sáng lờ mờ phía góc phố khi chiếc xe buýt dừng lại trong chốc lát, rồi đi tiếp dọc theo đại lộ cắt ngang con đường này. Ba người xuống xe tại trạm dừng, bắt đầu đi theo các hướng khác nhau. Trong số này có một cô gái và hai người đàn ông.

“Có nhìn thấy người mặc áo choàng nhẹ đang phanh ra kia không?” Người đàn ông hướng dẫn. “Thằng bé của ông đấy.”

“Không hay rồi,” gã đồng hành căng thẳng nói. “Con bé kia lại đi đường khác, trong khi lão kia lại đi cùng chiều ngay sau thằng bé. Tôi không làm được khi hắn ở đó, hắn sẽ nhảy vào giúp nó…”

“Cơ hội là hai phần ba,” người đàn ông nói, vẫn dứt khoát như thế. “Hắn có thể ngoặt vào một trong hai ngôi nhà đầu tiên. Nếu không chúng ta sẽ phải chờ đêm mai.”

Người đàn ông nặc danh kia đi qua ngôi nhà đầu tiên.

“Giờ thì năm mươi, năm mươi,” gã đầu đường xó chợ thở hổn hển.

Ông ta rẽ ngoặt, rồi bước vào ngôi nhà thứ hai. Chỉ còn lại một mình Morrissey trên vỉa hè, đang thả bước đến ngôi nhà thứ ba, ngôi nhà của cậu.

Gã đầu đường xó chợ thở hắt ra. “Thành công rồi.” Gã đẩy nhẹ người bạn đồng hành, phóng lên ba bậc cầu thang ngắn. “Phải tóm được nó trước khi nó mở cửa.”

Bóng người đê tiện, vụng về tiếp cận Morrissey đúng vào lúc cậu lọt vào chùm sáng đang tỏa ra từ ngưỡng cửa, nói gì đó với cậu bằng giọng thấp rên rỉ.

Morrissey vừa định cho tay vào túi, lấy ra cái gì đó cho gã. Nhưng rồi cậu đổi ý. “Không, cút đi,” cậu gầm gừ. “Ông là người xấu, nhìn là biết.”

Cậu quay lưng bước vào nhà.

Cạnh bàn tay của gã ăn mày chẳng khác gì dao phay bổ một cú xuống gáy cậu, một đòn vào gáy theo kiểu quyền Anh cực kỳ nguy hiểm. Khi cậu còn đang loạng choạng vì bị bất ngờ, gã đẩy cậu về phía trước, bồi thêm một cú lên gối vào bụng. Cậu bật ra một tiếng rên rỉ trầm, người run bắn và đổ gục xuống. Kẻ tấn công khéo léo thọc tay vào túi quần sau của cậu, rút cái ví ra, rồi bỏ mặc cậu nằm quằn quại ở đó. Gã quay lưng tẩu thoát, biến mất quanh góc phố nơi chiếc xe buýt vừa dừng lại.

Người đàn ông trong căn hầm lúc này đã nhảy lên, như thể bắt được tín hiệu, chạy hết tốc lực tới chỗ Morrissey. Anh ta cúi xuống cạnh cậu, tỏ vẻ lo lắng.

“Đã xảy ra chuyện gì? Hắn đã làm gì cậu?”

Morrissey nằm đó bất lực, tay ôm bụng và nôn khan. Cậu vẫn còn tỉnh, nhưng không thể tự nhấc mình dậy.

“Chặn hắn lại… lấy ví của tôi…” Cậu thở hổn hển.

Người đàn ông co cẳng chạy đuổi theo. Anh ta rẽ ở góc phố. Chẳng thấy ai nữa cả. Anh ta chạy tiếp khoảng một khu phố, rồi rẽ ngoặt ở góc phố tiếp theo và chạy lên con phố nhỏ liền kề xa hơn. Bất chợt anh ta bước xuống lối vào một đường hầm, trông rất giống đường hầm lúc nãy, như thể biết trước rằng trong ấy sẽ có người. Quả nhiên là vậy.

“Được rồi, trả lại tôi cái ví,” anh ta thở hồng hộc.

“Đây. Đừng quên phần còn lại thuộc về tôi đấy.”

“Đây, mười đô nữa.” Người đàn ông rút tiền ra từ trong túi mình, chứ không rút từ trong ví. “Giờ thì đi đi. Trốn cho kĩ vào.” Anh ta đẩy nhẹ gã, muốn gã tránh xa mình.

Anh ta đợi cho đến khi chỉ còn một mình trong đường hầm, rồi mới giật mạnh cà vạt, kéo lệch sang một bên. Hai lòng bàn tay anh ta chà xát trên bức tường gạch, sao cho chúng dây đầy đất cát bẩn thỉu, rồi bôi hết lên mặt và hai vai áo.

Anh ta hết đấm rồi lại đập mạnh cái mũ vào tường khi quay lại với Morrissey vài phút sau đó, như thể nó bị rơi trong khi đánh lộn và anh ta phải nhặt nó từ dưới đất lên.

Morrissey đã xoay xở loạng choạng đứng dậy tựa lưng vào tường, cậu vẫn đang đứng đó với hai bàn tay tựa vào tường, đầu cậu cúi thấp giữa hai tay, nhìn xuống đất.

“Anh mất dấu hắn rồi à?” Cậu yếu ớt hỏi.

“Tôi bắt kịp hắn ở góc phố nhưng không giữ được hắn. Tôi cố gắng quật hắn xuống nhưng hắn vẫn thoát được. Tuy nhiên tôi đã ép được hắn phải bỏ ví lại. Nó đây.” Anh ta giũ bụi trên vai áo, vẻ phô trương, rồi thận trọng sờ lên cằm, như thể muốn kiểm tra xem có cái răng nào bị hỏng không.

“Bây giờ tôi thấy đau khắp người,” chàng trai rầu rĩ nói. “Dù sao, cảm ơn vì đã giúp tôi.” Cậu nhận lại cái ví, xem qua những thứ bên trong.

“Hắn đã lấy được gì chưa?”

“Chưa, vẫn còn nguyên cả. Mà tôi cũng chỉ có bảy đô la trong này thôi.”

“Thấy đỡ hơn chưa?” Người đàn ông ân cần hỏi.

“Rồi, tôi nghĩ vậy. vẫn còn hơi choáng một chút. Trời ạ, tôi thực sự cảm kích vì anh đã giúp tôi như thế…”

“Ai cũng sẽ làm vậy thôi mà,” người đàn ông khiêm tốn đáp. “Tôi không thể cứ đứng đó nhìn đúng không? Thật may là tôi vô tình đi qua.”

“Khi cần thì chẳng thấy cảnh sát đâu cả,” Morrissey nói.

“Đúng, khi cậu cần thì chẳng thấy họ đâu hết,” người đàn ông đồng ý. “Cậu chắc là thấy ổn rồi chứ? Trông cậu vẫn xanh xao vàng vọt lắm. Cần đến phòng khám để bác sĩ xem qua không?”

“Không cần đâu, sẽ ổn cả thôi mà.”

“Đi uống một chầu thì thế nào? Sẽ khiến cậu đỡ hơn đấy. Tôi cũng sẽ tự đãi mình một chầu.” Anh ta nhìn ngắm mơ hồ khắp con phố, như thể muốn tìm kiếm quán bar nào đó họ có thể đến.

“Hay đấy,” cậu nhiệt tình nói. “Tôi thích thế hơn. Có một quán rất hay dưới con phố này mà tôi biết.” Cậu chìa tay về phía người bạn mới quen. “Tên tôi là Bill Morrissey.”

Người đàn ông bắt tay cậu. “Còn tôi là Jack Munson.”

Munson vào quán và bước đến quầy bar. Anh gọi một ly Martini, chỉ để lấy cớ ngồi. Chẳng có cái gì của Trung Hoa trong cái quán này ngoại trừ mấy người bồi bàn. Ban nhạc đang chơi bài The Jersey Bounce và chủ quán tên là Goldberg.

Munson quay người lại nhìn khắp căn phòng, lần này anh quay lưng lại quầy bar. Anh không ngừng nhìn vào cái bàn nơi Morrissey đang ngồi, cho đến khi cuối cùng bốn mắt họ gặp nhau, chẳng sớm thì muộn cũng sẽ như vậy.

Morrissey nhanh chóng nhìn lại lần thứ hai để chắc chắn, rồi giơ tay lên chào.

Munson cũng chào lại cậu ta.

Morrissey ra hiệu cho anh đến ngồi cùng, vừa gật đầu vừa vẫy tay.

Munson nhấc ly rượu lên thong dong bước đến. Khi tới gần, anh thấy có một cô gái đang ngồi đối diện Morrissey. Cô làm lu mờ tất cả các cô gái khác trong quán. Cô có mái tóc đen buông dài, trên mái tóc là chiếc kẹp tóc tuyệt đẹp. Đôi mắt cô màu xám, nhìn như thể có màu xanh biếc…

“Chào Jack,” Morrissey nồng nhiệt chào đón anh. “Anh đang làm gì ở đây thế, chỉ một mình thôi à?”

Cô gái nhìn anh. Chỉ vì phép lịch sự, không hơn. Như thể vì anh là bạn của người đi cùng cô. Cô không mỉm cười, cũng không nhíu mày.

“Chào Bill,” anh đáp. Họ đã gọi nhau bằng tên kể từ cuộc gặp gỡ thứ ba của họ, gần như thế.

“Drew, đây là Jack Munson, bạn tốt của anh.”

Ba người nói chuyện một lúc.

Thế rồi, “Anh có đi cùng ai không, Jack? Nào, ngồi đi,” Morrissey mời. “Vẫn còn đủ chỗ mà.”

“Cảm ơn, nhưng tôi không muốn làm kỳ đà.” Anh nhìn cô gái xin phép.

“Ngồi đi,” cô dịu dàng nói.

Anh ngồi xuống.

Một lần nữa, chiếc đồng hồ tại khách sạn Carlton.

Hai người họ giờ đang chờ đợi, bên nhau, vai kề vai, các ứng cử viên tìm đối tác hẹn hò buổi tối.

“Tôi nợ anh bao nhiêu vì tấm vé này đây nhỉ?” Morrissey hỏi. “Nói ngay đi không là tôi quên mất đây.”

“Ý cậu là trong khi cậu vẫn còn được cầm tiền chứ gì,” Munson trêu cậu ta.

Cả hai cùng cười phá lên.

“Họ đến rồi.”

Cô dẫn theo một cô gái nữa đi cùng. Đã có sự dàn xếp. Kém dễ thương hơn, kém rực rỡ hơn, nhưng mà đứng cạnh cô thì ai chẳng vậy. Dù sao thì cô ta trông vẫn xinh.

Đôi bên giới thiệu bản thân, rồi kết đôi với nhau, Morrissey đi cùng Madeline Drew. Munson đi cùng Philips.

Họ bắt taxi đến nhà hát.

Họ xuống xe, đúng tụm lại với nhau một lúc, mặc kệ dòng khán giả đi lướt qua họ trên vỉa hè.

“Chúng ta sẽ lại đến quán Bamboo Grove chứ?” Madeline gợi ý.

“Tất nhiên, quán cũ của chúng mình mà,” Morrissey đáp, câu trả lời dành cho cô hơn là cho hai người kia.

Munson khiêu vũ với Philips trước.

Lần thứ hai nhạc trỗi lên, hai bên đổi bạn nhảy cho nhau. Anh khiêu vũ với Madeline, và Morrissey khiêu vũ với cô gái kia.

“Anh thích Harriet chứ?” Cô hỏi anh.

Anh nhìn cô, nhìn cô, nhìn thẳng vào cô, và mỉm cười.

Đó là tất cả những gì họ nói với nhau trong điệu nhảy.

Cô khe khẽ ngâm nga một giai điệu. Không chắc chắn lắm, gần như không tự nhiên.

Rồi điệu nhảy kết thúc.

Anh cũng nhảy với Philips trước. Rồi khi âm nhạc một lần nữa trỗi lên, họ trao đổi bạn nhảy. Anh khiêu vũ với Madeline.

Lúc này cô ngước lên nhìn anh.

“Sao anh im lặng thế hả Jack? Cả tối nay anh chẳng nói lời nào. Anh không phải người bạn tốt như tuần trước, hay tuần trước nữa.”

“Còn em đúng là người bạn tốt,” anh nói phần nào cay đắng.

“Harriet nghĩ anh không thích cô ấy. Vừa nãy, trong phòng vệ sinh nữ tại nhà hát, cô ấy bảo em rằng cô ấy nghĩ mình không nên đi cùng chúng ta nữa. Anh thực sự phải quan tâm đến cô ấy hơn nữa đi, Jack. Cô ấy cảm thấy bị tổn thương đấy.”

“Cả buổi tối nay tôi chưa từng nghĩ về cô ta,” anh thừa nhận.

Cô nhún vai đầy trách móc. “Nhưng anh là người tháp tùng cô ấy. Vậy thì ai…” Cô bỏ lửng câu nói.

Anh không đáp. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt cô, xoáy sâu vào trong nó.

Họ không nói thêm gì nữa, cả hai cùng im lặng.

Rồi buổi khiêu vũ kết thúc.

Lần này, chỉ có mình Morrissey đứng đợi dưới đồng hồ Carlton. Đã muộn lắm rồi. Đám đông đã thưa dần. Họ sẽ bỏ lỡ buổi diễn. Bồn chồn, cậu bước ra cửa tìm kiếm cô, nhưng lại thất vọng quay vào; lại bước ra cửa rồi lại buồn bã quay vào. Cậu xem đồng hồ trên tường liên tục, cậu xem đồng hồ đeo tay liên tục. Chẳng giúp được gì. Từng phút cứ thế trôi qua, từng phút, và đó là tất cả những gì chúng có thể nói cho cậu, cả hai chiếc đồng hồ.

Như thể là giờ cáo chung cho cuộc hẹn hò; đoạn kết cuối cùng khi cuộc hẹn sắp chính thức bị hủy, và chết hẳn. Cuộc hẹn sẽ không thể là cuộc hẹn nếu bạn cứ phải chờ mãi; hẹn hò sẽ không còn nghĩa nếu thiếu đi nửa kia. Nhưng dù sao bạn vẫn chờ, cố gắng nuôi hy vọng.

Cậu hút thuốc liên tục, loáng cái đã hút hết bao; rồi cậu lại mua thêm bao khác, rít thuốc không ngừng. Và mỗi điếu cậu còn chẳng hút đến một nửa.

Cả trăm nghìn người trước mặt cậu giờ cũng trải qua những gì cậu đang trải qua. Nhưng điều ấy cũng chẳng giúp được gì; đối với cậu nó giống như buổi đầu tiên, vẫn mãi là buổi hẹn hò đầu tiên đầy bỡ ngỡ.

Rồi đột nhiên… chiếc cổ áo lông thú bay phần phật, chiếc áo choàng xanh dương hoa mỹ quay tròn trong cánh cửa xoay… Cô đã đến.

Cô sẽ được tha thứ, tất cả đã kết thúc rồi; cậu vẫn vui ngay cả khi cô chưa kịp đến bên cậu, ngay cả trước khi cô mở miệng nói.

Cô đến một mình. Chà, chuyện bình thường ấy mà; đây chỉ là cuộc hẹn của hai người. Philips đã bỏ cuộc, cô ấy dỗi. Và như thế Jack đã thành người thừa.

Sắc mặt cô căng thẳng. Thậm chí bạn có thể nói rằng cô hơi xanh xao. Khi chào cậu cô có mỉm cười, nhưng nụ cười nhanh chóng tắt lịm.

“Trời đất, anh còn tưởng em sẽ không đến nữa cơ! Có chuyện gì thế?”

Cô không thể lấy lại ngay sự hăng hái. “Ôi, em chẳng biết nữa…” cô uể oải đáp. Và, “Em đến đây rồi.” Như thể muốn nói, anh còn muốn gì nữa nào?

Cậu không thúc ép cô thêm nữa. Đôi khi quan hệ của họ là vậy, cậu chỉ lắng nghe trong mơ hồ; không như quan hệ giữa những người đàn ông. Nó dễ thay đổi hơn, thăng trầm nắng mưa cứ như thời tiết.

Khi hai người ngồi xuống ghế, rèm sân khấu đã được kéo lên.

“Em thích không?” Cậu hỏi giữa các hồi kịch.

Cô hoàn toàn chẳng có hứng thú. “Cũng đáng yêu đấy,” cô đáp hờ hững.

Rồi buổi diễn kết thúc. “Lại quán Bamboo Grove nhé?” Cậu gợi ý. “Thế nào?”

“Không, đêm nay không tới Bamboo Grove nữa,” cô đáp. “Tâm trạng em không được tốt. Em nghĩ mình nên về thẳng nhà thôi.”

“Nhưng…”

Cô quắc mắt, và cậu thấy một tia nguy hiểm trong ánh mắt ấy. Cậu đứng dậy gọi một chiếc taxi.

Trên đường về nhà cô chỉ nói hai từ. “Cảm ơn,” và rồi “Cảm ơn.” Cảm ơn về điếu thuốc và cảm ơn về chiếc bật lửa của cậu.

Khi họ xuống xe, cậu tiễn cô đến tận ngưỡng cửa. Nhưng khi cậu cố đặt lên môi cô nụ hôn, cô khẽ quay đầu đi - như thể đang tìm chìa khóa - và đôi môi cô lảng tránh cậu. Bạn không thể đòi hỏi nhiều ở một nụ hôn, bằng không nụ hôn sẽ mất hết nét duyên dáng, tất cả vẻ tự nhiên của nó; nụ hôn phải đáp xuống đúng nơi nó hướng đến, nếu không nó sẽ hỏng. Nụ hôn của cậu đã hỏng.

Cuối cùng cậu cũng hiểu ra, sau ba tiếng. “Chuyện gì thế, anh đã làm gì hả Madeline?”

“Anh chẳng làm gì cả, Bill.” Cô nhìn cậu, như thể đến lúc này, cô mới nhận ra cậu đã đứng bên cô suốt từ nãy đến giờ. Cô nói thêm, “Hãy tin em đi, đó là sự thật.”

“Thế thì tại sao…? Em đang cư xử rất khác.”

Cô tra chìa khóa vào ổ, như thể đây mới là việc chính cô quan tâm. Cậu đặt tay mình lên tay cô, bàn tay đang tra chìa khóa, và cứ để nguyên nó ở đấy, để được bên cô lâu thêm chút nữa.

“Con người ai cũng có lúc thay đổi mà,” cô trầm ngâm nói.

Bàn tay cô vặn vẹo, dưới bàn tay cậu, đang cố gắng tự giải thoát để có thể mở khóa.

“Nhưng Madeline, Madeline… em đang chia tay anh, em đang làm thế với anh. Đừng bỏ anh ngoài này như thế… cho anh cái gì đó để anh bám vào đi…”

Cô giải thoát được bàn tay mình, rồi xoay chìa khóa, mở cổng ra. “Em có thể làm gì đây?” Cô tuyệt vọng nói. “Nói rằng em yêu anh à?”

“Em không nói được sao?” Cậu hỏi, mặt bất ngờ tái nhợt đi vì sợ hãi.

Cô lắc đầu, rất chậm rãi, rất khẽ. Và đó là lời chúc ngủ ngon của cô.

Cô đóng cổng lại, vô hồn đi lên gác.

Đầu tiên cô vào phòng riêng, cởi bỏ quần áo như thể chúng chất lên vai cô sức nặng ngàn tấn, khiến cô gù cả lưng.

Tiếp theo cô tự ngắm mình trong gương, rồi lại quay mặt đi, như thể cô thấy xấu hổ với cô gái đó.

Cô bước vào sảnh, tiến đến trước cửa phòng mẹ cô. Thực ra là phần không gian đọc sách trong phòng, nơi mẹ cô vẫn ngồi chong đèn sau khi cha cô đã đi ngủ.

Phòng vẫn sáng đèn, ấm áp và mẹ cô vẫn đang ngồi đọc sách. Trông bà như ba mươi tuổi, còn Madeline đã ba mươi hai. Hoặc hai người đang cư xử như thế.

“Chào mẹ,” cô nặng nề nói. “Con về rồi.”

“Vở diễn thế nào?” Mẹ cô hỏi.

“Có vở diễn ạ?” Cô ngờ nghệch đáp.

Mẹ cô liếc xéo con gái đầy thấu hiểu, rồi bà dịu lại.

“Coi như mẹ đã hoàn thành nhiệm vụ rồi. Mẹ đi ngủ đây.”

Cô quay lưng đi ra ngoài.

Rồi cô dừng chân, quay lại bước vào phòng.

“À, chúc mẹ… ngủ ngon,” cô nói ấp úng.

“Chúc con ngủ ngon,” mẹ cô đáp nhanh.

Cô quay lưng đi ra ngoài.

Rồi cô dừng chân, quay lại bước vào phòng.

“Gì thế con yêu?” Mẹ cô kiên nhẫn hỏi.

Madeline cắn môi, như thể cô biết mình đang lãng phí thời gian của chúng. Rồi cô nhượng bộ, để những lời nói thốt ra trên môi.

“Chắc là chẳng có ai gọi đâu… có ai không mẹ?”

“Có, một thanh niên có gọi điện đến. Cậu ta không để lại tên. Chỉ hỏi là, ‘Madeline có nhà không ạ?’ trước khi mẹ kịp hỏi cậu ta là ai thì cậu ta đã gác máy rồi.” Rồi bà nói thêm, không hóm hỉnh lắm, “Ai đó con biết, mẹ đoán vậy.”

“Vâng,” Madeline đồng ý. “Ai đó con biết, con đoán vậy.”

Bàn tay cô đang định đưa lên tim thì khựng lại. Bỗng dưng cô không còn thấy mình già nữa, cô không còn mệt mỏi nữa. Cô thấy mình như đứa trẻ trong buổi sáng ngày Giáng sinh. Đôi mắt cô sáng bừng lên như thể được bật công tắc ở đằng sau. “Đúng rồi,” cô nói, “ai đó mà con biết! Ai đó mà con biết!”

Cô ôm chầm lấy mẹ, chẳng hiểu tại sao lại làm thế, cô hối hả ôm chầm lấy mẹ và hôn lấy hôn để. Vừa làm thế cô vừa cười như nắc nẻ; vừa cười vừa thổn thức thật khó hiểu. Thế rồi cô lao ra khỏi phòng như một cơn lốc, chạy xuống cầu thang đến nơi để điện thoại. Cô quay một số. Cô cứ thế quay số liên tục như tiếng mưa trút xuống mái tôn.

Một giọng nói trả lời điện thoại.

Cô nói, “Phải anh đấy không?”

“Phải,” anh đáp.

“Ồ em biết mà, em biết mà!”

“Tôi không muốn đâu,” anh nói. “Tôi đã cố ngăn mình. Nhưng Madeline, tôi không thể kiềm chế hơn được nữa.”

“Ôi Jack, em cũng không thể kiềm chế được. Vô dụng, chẳng có tác dụng gì hết. Suốt đêm mọi thứ thật tĩnh lặng. Và bây giờ tất cả những gì vang trong tai em chỉ là âm nhạc, âm nhạc vọng đến từ khắp nơi cùng một lúc. Ôi Jack, em nghĩ đây là lần đầu tiên trong đời em thực sự yêu đến mụ cả người…” Rồi cô cầu xin thật đáng thương, “Jack, xin anh đừng làm tổn thương em quá nhiều, được không anh?”

“Đồng hồ tại khách sạn Carlton,” anh nhẹ nhàng

“Vâng,” cô đáp, nửa sướng rơn lên. “Ôi vâng… vâng. Anh hẹn bất kỳ lúc nào cũng được, bất kỳ đêm nào cũng được… kể từ giờ trở đi.”

Cô bước xuống nhà sẵn sàng đi ra ngoài, cô thấy rằng có ai đó đang ở cùng cha cô trong thư viện. Cô có thể nghe thấy những giọng nói. Một người lạ nào đó. Một người đàn ông nào đó ông đã đưa về nhà này. Bạn kinh doanh hoặc đối tác nào đó, có lẽ vậy. Khi bước qua ngưỡng cửa cô bắt gặp hình ảnh anh ta. Ai đó cô chưa từng gặp.

Cô nhún vai chẳng quan tâm nữa. Cô không có hứng thú.

Mẹ cô chẳng hiểu từ đâu chui ra, chặn cô lại khi cô vừa định mở cửa. Mẹ cô có vẻ rất sợ hãi. Bà sợ cái gì đó, hay về điều gì đó. Căng thẳng.

“Ông ấy muốn gặp con. Ông ấy muốn con vào trong đó.”

“Con phải đi. Cuộc hẹn bốn sao. Mẹ bảo cha đợi con về đi.”

“Không được, có chuyện rất quan trọng. Tốt hơn con nên quay vào đi, Mad. Mẹ hứa mẹ sẽ dẫn con đến chỗ anh ta ngay khi…”

Mẹ cô có làm thế thật hay không, cô cũng chẳng chắc chắn được. Nhưng bỗng người ngồi trong phòng, có lẽ vì nghe thấy những tiếng nói, đã xuất hiện trên ngưỡng cửa.

“Madeline,” ông nói. “Vào đây đi con.” Và ông không mỉm cười.

Cô bước vào.

Mẹ cô cố gắng theo cô sát gót.

“Em thì không được, em yêu,” ông cứng rắn nói, đóng cửa lại trước mặt bà.

Người đàn ông kia đứng dậy.

Cha cô xem đây là chuyện quan trọng, bất kể nó là gì đi nữa. Sắc mặt ông không tốt lắm, lông mày ông cứ không ngừng nhíu lại về một chỗ, ngay phía trên mắt, như thể cái lông mày ấy nó muốn được ở một nơi khác.

“Con gái tôi, Mad, đây là Thanh tra Cameron.”

Một thanh tra, thật không thể tin nổi! Cô bực tức khi bị cản trở thế này, bởi một điều kỳ quặc thế này. Cứ như mấy câu chuyện tầm phào trên báo lá cải. Những thứ mà bạn chẳng buồn đọc. Đặc biệt là trong thư viện nhà bạn - nơi bạn hành xử như những người có học thức.

“Ngồi đi,” cha cô nói. “Chuyện này quan trọng lắm.”

Họ nhìn nhau, cha cô và kẻ thích nhúng mũi vào chuyện người khác. Như thể muốn nói, ai sẽ hỏi chuyện con bé, ngài hay tôi?

Cuối cùng, cha cô là người lên tiếng. “Dạo gần đây con có gặp gỡ ai không?”

Cô nhướng mày cho đến khi chúng nằm giữa trán. Cô xem cử chỉ này là câu trả lời của mình.

“Đó là một câu hỏi cực kỳ đơn giản, cô Madeline. Không cần phải cảnh giác với chúng tôi. Chúng tôi cực kỳ nghiêm túc về chuyện này.”

Viên thanh tra nhắc lại. “Có phải dạo này cô đã gặp gỡ một người chưa từng quen biết, một người trước giờ không nằm trong nhóm bạn bè của cô không, cô Drew?”

Điều gì đó cảnh báo cô, nói không đi. “Không,” cô đáp.

“Con có chắc không, Madeline?” Cha cô hỏi, giọng căng thẳng. “Tại nhà bất kỳ ai, tại bữa tiệc nào đó, tại nhà hàng nào đó…?”

“Thông qua một người khác,” viên thanh tra chen ngang. Anh ta chìa tay ra. “Chẳng hạn như được người nào đó cô biết giới thiệu cho cô. Một người bạn rất thân hoặc…”

Cô quay đầu về phía anh ta, rất nhanh, lườm anh ta một cái cháy má. “Ồ, ngài cần được giới thiệu sao? Tôi thì thường đi bộ trên phố và giả vờ đánh rơi khăn tay.”

Mặt anh ta đỏ bừng, cố gắng ngồi vững trên ghế.

“Đêm nay con định đi gặp ai hả Madeline?” Cha cô nhẹ nhàng hỏi.

Cô đã chuẩn bị sẵn từ câu hỏi trước. “Một người con không được giới thiệu,” cô đáp. “Cậu ta ngồi kế bên con, và đè lên một số đồ đạc của con, nên cậu ta xin lỗi, và đó là cách chúng con quen nhau.”

Viên thanh tra cứng người lại, ngả về phía trước. Cô thích điều đó.

“À tôi quên mất chưa nói rằng khi đó tôi mười lăm tuổi, còn cậu ta mười sáu, cả hai chúng con đều đang năm nhất trung học. Bill Morrissey.” Và cô dợm rời đi.

Cả hai người họ ngồi sụp xuống ghế. Cô cũng thích điều đó.

Cha cô nhìn viên thanh tra vẻ dò hỏi.

“Tốt hơn ngài nói cho cô ấy biết đi, ngài Drew,” Cameron lặng lẽ nói. “Tôi nghĩ ngài nói thì thích hợp hơn.”

“Cho tôi biết cái gì cơ?” Cô gặng hỏi.

“Có một người sắp gây nguy hiểm cho con, Madeline…”

“Người nào?”

“Chà, chúng tôi không biết rõ hắn là ai…”

Cô lên tiếng, giọng chế nhạo. “Nếu ngài còn không biết hắn là ai, thì làm sao ngài biết rằng hắn là một mối nguy hiểm với tôi? Mà nguy hiểm gì cơ chứ? Ôi, tôi cho rằng lại là điệp khúc bắt cóc tống tiền mà thôi. Chuyện đó mà không xảy ra thì ngài sẽ chẳng là gì hết, thực sự chẳng được ma nào biết đến, cho đến khi ngài bị bắt cóc đòi tiền chuộc một lần trong đời. Như kiểu có tên trong danh sách của Bradstreet[*] ấy.”

Dun & Bradstreet: Một công ty chuyên cung cấp thông tin và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp.

“Nguy hiểm đến tính mạng đấy, cô Dew,” viên thanh tra kiên nhẫn nói.

Cô làm bộ sợ hãi một cách thái quá, khoanh hai tay che ngực và bước lùi lại. “Nếu bắt gặp kẻ nào đó nhìn trộm tôi dưới cái mũ đen vành rộng, tôi sẽ báo cho ngài biết.”

“Cô không biết hắn đâu, cô Drew.”

“Thậm chí ngay cả có gặp hắn tôi cũng không biết hắn à? Thật không, ngài thanh tra…”

“Madeline…” cha cô vừa định nói, nhưng cô đã mở cửa và biến mất.

Mẹ cô vẫn đang quanh quẩn bên ngoài. “Họ muốn gì hả, con yêu? Chuyện gì thế? Chẳng ai chịu nói cho mẹ biết cả.”

Cô phải tự kiềm chế. Họ đã tiến ra ngưỡng cửa phòng thư viện, cùng đứng sau lưng cô. Cô chỉ đơn giản là lắc đầu với mẹ, không thể cất lời. Hoặc cô sợ phải tin tưởng chính mình.

Chỉ sau khi cánh cửa trước đã khép lại sau lưng cô mới thở phào nhẹ nhõm. Cô cười lên thật lớn. Cô hơi loạng choạng. Đó là điều nực cười nhất cô từng nghe.

Cô cười to đến mức không thể tự mình gọi taxi được. Phấn trang điểm trên gương mặt cô đã phai đi, vì đôi mắt cô đang khóc.

Phải đi một lúc lâu cô mới dứt cơn cười. Cô cười gần như suốt cả chuyến đi.

Anh rót đầy ly rượu của cô. “Họ còn nói gì nữa không?” Anh gợi ý. Anh cũng vui vẻ với chuyện này chẳng kém gì cô. Một điều rất hay ở anh, đó là anh luôn chia sẻ vui buồn với bạn. Khi bạn choáng váng, chóng mặt, anh cũng thế.

Cô phun phì phì, nửa ly rượu sâm banh bắn ra ngoài ly. “Họ ngồi đó mặt dài thuỗn ra ấy.” Cô nói tiếng bụng, hạ giọng xuống thành âm cực trầm. “‘Gần đây con có gặp ai không hả Mad?’ Nói thật đi, anh có thấy giống hệt gã hề trong buổi diễn hát rong không?”

Anh gật đầu, phô ra hàm răng đều tăm tắp, và đôi vai anh nhấp nhô lên xuống khi anh cười.

“‘Ngài nói cho nó biết đi, ngài thanh tra.’ ‘Không, ngài nói đi, ngài Drew.’ Thế rồi sau tất cả những câu nói dài dòng này, khi cuối cùng họ cũng biết nên nói chuyện gì với em…” Cô giấu mặt mình sau những ngón tay duỗi thẳng và lắc đầu vui nhộn. “Họ chẳng biết hắn là ai, hoặc hắn trông như thế nào. Em cũng chẳng biết hắn luôn, ngay cả khi em trông thấy hắn. Thật đấy, ngay cả cha em cũng đánh mất hẳn khiếu hài hước của ông, hay…”

Anh vui đến mức bắt đầu hành động ngớ ngẩn, như thể muốn được vui hơn nữa. “Có thể họ muốn nói đến anh đấy. Rốt cuộc, anh là người duy nhất gần đây em mới gặp. Tốt nhất em nên cảnh giác đi, anh sẽ cắn em đấy.” Và anh giả vờ táp cô, như một con chó.

Đó là tất cả những gì cô cần. Cô ngửa đầu ra sau, gần như hét lên. “Ối, đừng làm em cười nữa,” cô van xin. “Xương sườn em đau rồi đây nè. Em không chịu được nữa đâu.”

Đang ngồi trên bàn, anh cũng ngửa đầu ra sau và thét lên cùng cô.

“Giết người,” anh thở hổn hển.

Tất cả mọi người trong quán đều quay lại nhìn họ, với những nụ cười nửa ghen tị nửa cảm thông.

“Có ma nào quan tâm đâu,” ai đấy nói. “Tôi rất thích nhìn những cặp đôi trẻ tuổi vui vẻ như thế, trong khi còn có thể. Sau này họ còn khối thời gian mà tuyệt vọng.”

Khi đang thay đồ ngủ trong căn hộ, anh chợt nghe thấy tiếng gõ cửa.

Chiếc cà vạt anh đang cầm chợt tuột khỏi tay, như thể một dòng điện nào đó vừa vụt qua. Anh vội lao đến ngay bên chiếc tủ có ngăn kéo, liếc rất nhanh vào ngăn kéo ở giữa. Khẩu súng vừa lọt vào tầm nhìn liền biến mất. Anh rút tay ra khỏi túi quần sau, trống trơn.

Anh bước đến bên cửa, căng thẳng hỏi, “Ai đấy?”

“Bill Morrissey đây,” giọng trả lời cộc lốc vang lên bên kia cánh cửa.

Anh chậm rãi thở ra, tạo nên một âm thanh sắc ngọt, rồi đưa tay mở cửa.

Morrissey bước vào nhà. Cậu nhìn anh trừng trừng thật lâu, bắt đầu từ khi đứng trên ngưỡng cửa, khi đi vòng qua anh cho đến tận khi đứng ở giữa phòng, đối mặt anh. Suốt quãng thời gian đó cậu không hề rời mắt khỏi anh.

“Xin lỗi, Bill, tôi sắp phải ra ngoài rồi.”

“Với cô gái của tôi.”

Trong một lúc, Munson không trả lời. Anh cố gắng cười nửa miệng. Nhưng nụ cười ấy chỉ dành cho chính anh, không phải cho Morrissey. Nó không phải là nụ cười hẳn hoi dành cho Morrissey; nếu là nụ cười ấy thì hẳn nó cũng sẽ không được chấp nhận. “Cậu có chắc rằng mình hiểu đúng về chuyện này không đấy?”

Morrissey không hề chớp mắt. “Tôi chắc chắn.”

“Tôi thì không nghĩ vậy. Cậu vừa mới nói, ‘Anh đi ra ngoài cùng cô gái của tôi.’ Tôi đi ra ngoài, đúng rồi. Nhưng không phải với cô gái của cậu. Cậu đang nhầm lẫn đấy.”

“Nhầm cái con khỉ,” Morrissey nói, giọng ê a lạnh lùng. “Anh sắp ra ngoài với Madeline Drew. Nếu anh nói không phải thì tức là anh đang nói dối.” Tính từ cậu ta dùng để bổ nghĩa cho danh từ quá khiếm nhã không thể viết ra đây được.

Munson khẽ gật đầu. “Tôi sắp ra ngoài với Madeline Drew,” anh nói. “Cuối cùng chúng ta cũng thẳng thắn với nhau. Cái phần ‘cô gái của cậu’ ở đâu ra thế?” Anh ngừng lại một lúc. “Mà cậu đến đây làm gì?”

“Tôi đến để đấm vỡ mặt anh ra.”

“Được rồi, Bill,” Munson nhẹ nhàng nói. “Được rồi, làm đi. Nếu làm thế sẽ khiến cô ấy quay về với cậu.” Môi anh lại nở một trong những nụ cười chỉ dành cho riêng mình.

“Có thể không mang cô ấy về được,” Morrissey nói, nheo mắt ranh mãnh, “nhưng làm thế sẽ khiến tôi cảm thấy tốt hơn bây giờ.” Cậu lùi bước về phía cửa ra vào. Hai bàn tay cậu đặt sau lưng lần mò tìm chìa khóa, và khi tìm thấy, cậu xoay chìa khóa cửa lại, rồi rút nó ra, nhét vào túi quần. Mắt cậu vẫn nhìn dán vào Munson, hàm răng cậu phô ra, nhưng không phải để cười.

“Thủ thế đi,” cậu có lòng tốt nhắc nhở nhưng sẽ bị hiểu nhầm là giả tạo. Có khả năng xuất phát từ thực tế rằng răng cậu phô ra nhiều quá.

“Đừng nghiêm túc thế,” Munson mỉa mai đáp. “Nếu muốn thụi tôi một quả thì cậu cần thủ thế tốt hơn đấy.”

Anh chẳng có động tác gì để tự vệ. Cũng chẳng buồn lùi lại. Anh cứ đứng đó uể oải, hai khuỷu tay tựa vào mặt bàn trang điểm.

Morrissey tím mặt lại. Áo khoác của cậu rơi xuống sàn, như thể một con rắn vừa lột da. “Anh nghĩ mình có thể cướp cô ấy khỏi tay tôi à? Tôi sẽ không để anh làm thế!”

Munson khẽ lắc đầu, như thể thấy tiếc cho cậu. “Đồ ngốc,” anh nhẹ nhàng nói. “Cậu không thể cướp một người khỏi tay người khác được, trừ phi họ muốn bị cướp đi. Cậu chưa chịu hiểu à?”

Morrissey sải bước đến gần, tung ra một cú đấm thẳng đầy ác ý. Cú đấm trúng một bên mặt, và vì sau lưng anh có cái tủ chống đỡ, nên anh ngã nhào sang bên thành một đống.

“Đồ đàn bà! Đứng dậy!”

“Ồ, đừng bận tâm chuyện quy tắc làm gì,” Munson yếu ớt nói. “Không cần phải giữ tác phong. Tiếp tục tẩn tôi đi.”

Gần như phát điên vì giận dữ, Morrissey cúi xuống kéo anh đứng thẳng dậy. Rồi cậu lại đánh tiếp, anh lại gục xuống. Và rồi chính cậu cũng gục ngã bởi sức mạnh từ cú đấm của chính mình. Cậu lại đứng thẳng dậy, chuẩn bị giáng cú đấm thứ ba. Nhưng chẳng còn gì để nắm đấm ấy giáng xuống nữa, không còn đối thủ nữa. Điều đó khiến cậu khựng lại. Cậu loạng choạng, đứng đó bối rối.

Gương mặt cậu bất ngờ thay đổi. Cậu vỗ hai bàn tay vào nhau, không siết thành nắm đấm nữa, hai bàn tay xòe rộng, như thể không muốn người khác nhìn thấy. “Mấy quả đấm của tôi mạnh chứ hả?” Cậu rên rỉ như bị nghẹn. “Chúng sẽ chẳng giúp mang cô ấy quay về! Nhưng tôi chẳng còn cách nào khác.”

Cậu lần bước ra cửa như thể bị mù một nửa, rồi dựa người vào đó một lúc, yếu ớt, tức giận, kiệt sức. Cậu đưa tay tìm chìa khóa, mở cửa và bước ra ngoài, không buồn đóng nó lại.

Âm thanh gì đó nghe như tiếng ho khan, nhưng cũng có thể là tiếng nức nở của nam giới, trôi nổi dọc theo hành lang sau khi cậu đã khuất tầm nhìn.

Munson đau đớn tự nâng mình dậy. Anh lấy ra một chiếc khăn tay, nhúng vào nước rồi chườm lên chỗ chảy máu trên mặt. Anh phải chườm liên tục mấy chỗ khác nhau. Nhưng anh đang mỉm cười, dù đó là một nụ cười méo mó; vẫn mỉm nụ cười chỉ dành cho riêng anh.

Anh bước đến chỗ cửa ra vào, những bước chân run rẩy, đóng nó lại.

Anh rút khẩu súng ra khỏi túi quần, ném trả lại nó vào ngăn kéo, nơi anh vừa lấy nó ra. Khẩu súng đã nằm trong túi anh nãy giờ. Lẽ ra anh đã có thể bắn chết kẻ tấn công hàng tá lần rồi. Như thể anh không muốn vậy. Như thể anh đã cố tình làm thế ngay từ đầu.

Và anh vẫn đang mỉm cười.

Và giờ đến lượt cô, đang một mình ngồi đợi dưới đồng hồ Carlton. Dù sao thì, đây vẫn là một việc mà cô chưa từng làm, không như các cô gái khác. Những người đàn ông trong cuộc đời cô đều từng ở đó trước cô, tất cả bọn họ.

Và giờ thì đến lượt cô.

Cô đang ngồi đó, trên ghế, ai bước vào cũng đều nhìn cô, nhưng người duy nhất cô hẳn sẽ nhìn lại không bước vào.

Giá như cô đang đợi bất kỳ ai khác, hẳn cô đã đứng dậy bỏ về từ lâu rồi. Nhưng nếu là bất kỳ ai khác thì hẳn là cô đã chẳng chịu ngồi đợi ngay từ đầu.

Cô muốn bỏ về, nhưng cô không thể. Cô vẫn ngồi im, bị ràng buộc, mắc kẹt. Như thể có một sợi thừng buộc quanh người cô, trói chặt cô vào cái ghế. Bài hát đó là gì nhỉ - Tù nhân của tình yêu - đó chính là cô.

Cuối cùng cô cũng đứng dậy, không thể chịu đựng nổi khi cứ bị nhìn chòng chọc. Người ta đi đi lại lại xung quanh cô, xem cô là trung tâm. Những gì họ muốn nói đều thể hiện rõ trên nét mặt, “Cho anh thế chỗ được không? Anh sẽ không đối xử với em như thế đâu. Hãy cho anh một cơ hội và anh sẽ cho em thấy. Hãy cho phép anh được làm quen với em - thay cho hắn, không cần biết hắn là ai!” Cô đi sang bên cạnh, trú tạm phía sau một trong những cây cột to, có đường rãnh. Như thế người ta sẽ không thể tiếp cận cô một cách dễ dàng, họ phải đi vòng quanh cây cột, trông như một cây nêu khổng lồ, nếu họ muốn rình mò cô.

Cô mở hộp đựng đồ trang điểm, tự ngắm mình trong gương, vẻ mặt của cô không phải là vẻ mặt của một cô gái vừa đứng dậy, người để chuyện này xảy ra với mình. Huống hồ, thậm chí đến lúc này, thay vì cảm thấy bực mình, nhục nhã, niềm kiêu hãnh bị tổn thương, những cảm xúc mà cô hẳn sẽ cảm thấy nếu cô đợi bất kỳ ai khác, cô chỉ cảm thấy lo âu, linh tính báo điềm gở, lo lắng, hơn là phẫn nộ. Bởi vì cô đang đợi chờ anh.

“Chuyện gì đã xảy ra? Có chuyện gì không ổn sao? Anh ấy đã bỏ rơi mình ư? Chẳng nhẽ mình sẽ không gặp lại anh ấy nữa? Ôi, mình phải gặp lại anh ấy! Anh ấy phải đến!”

Cho dù cô không ngừng tự nhắc nhở mình, “Chờ thế đủ lâu rồi. Không thêm một phút nào nữa. Mình sẽ bước ra khỏi đây ngay bây giờ,” nhưng tận trong thâm tâm cô biết mình vẫn sẽ ngồi đây thêm nhiều tiếng đồng hồ nữa, vẫn sẽ cứ đợi chờ như thế này. Và ngay cả khi đã nửa đêm, khi hành lang đã vắng tanh và đèn đóm đã tắt hết, nơi đây cô vẫn sẽ đợi chờ.

Cô không thể ngăn mình lại được. Có điều gì đó mạnh hơn cả cô. Đó là tình yêu.

Bỗng một nhân viên trực tầng thét lớn, “Cô Drew. Gọi cô Drew.”

Cô gần như đã lao qua hành lang về phía cậu ta, cô chạy rất nhanh. Phóng vút ra từ bên cạnh cây cột.

“Chuyện gì thế? Chuyện gì?”

“Có một cuộc điện thoại cho cô. Cô có thể nhận nó trong buồng số 2, đằng kia.”

Cô không ba chân bốn cẳng chạy đến đó, bởi cô kiểm soát bản thân cực tốt. Những hy vọng và những nỗi sợ hãi của cô đã tan biến, nhưng các bước chân của cô thì không.

Cô nhấc ống nghe lên, đánh rơi nó vì quá hấp tấp, rồi lại nhặt nó lên.

Anh nói, giọng ăn năn, “Anh đã bắt em chờ suốt bao lâu… Em sẽ tha thứ cho anh chứ? Anh không thể làm khác được. Anh đã cố gắng hết sức…”

“Không sao, không sao mà… Chỉ là, có chuyện gì thế?” Cô nói ngắt quãng.

“Anh mới bị ăn đòn.”

Hơi thở của cô truyền thẳng vào bên trong ống nghe. “Anh còn chống đỡ được không? Anh có…”

“Giống một chuyến viếng thăm xã giao hơn. Một trong số bạn bè của anh bày tỏ sự tôn trọng thôi mà.”

“Là Bill Morrissey,” cô nói ngay.

Anh xác nhận bằng tiếng cười khẽ bao dung, không trả lời thẳng.

Cô như nín thở, lần này là bởi vì quá tức giận. “Hắn xong thật rồi. Em kết thúc luôn với hắn rồi. Anh có đau lắm không? Anh có…”

“Anh nghĩ mình vẫn có thể bắt taxi xuống đó, nhưng trông anh không ổn lắm đâu. Băng chỗ này bó chỗ kia. Anh không chắc em muốn thấy anh trong bộ dạng đó ngoài đường.”

“Anh đang ở đâu?”

“Ở nhà anh mà.”

“Nhưng anh có chắc là mình ổn không?” Cô liên tục hỏi. “Anh có chắc là mình ổn không? Không bị thương nặng chứ?”

“Anh ghét phải hủy cuộc hẹn như thế này. Tất nhiên trừ phi… Thay vào đó em có muốn đến đây không?”

Cô lưỡng lự. Nếu cô làm vậy, mối quan hệ của họ sẽ bước sang một chương hoàn toàn mới.

Anh trả lời thay cho cô. “Không, tất nhiên là không rồi. Anh hiểu mà. Lẽ ra anh không nên đề nghị em làm thế, đúng không?”

Câu nói này đã đánh tan chút ngần ngại cuối cùng. “Em sẽ đến,” cô quả quyết. “Ở đâu thế? Anh chưa từng cho em biết anh sống ở đâu.”

Bây giờ anh lại là người miễn cưỡng, chứ không phải cô. “Anh không muốn em làm bất kỳ điều gì khiến em thấy…”

“Jack,” cô nói. “Anh không hiểu à? Em yêu anh. Tự em muốn đến mà.”

Cánh cửa chậm rãi mở vào trong, bàn tay anh đặt trên tay nắm cửa, và qua khe hở hình chữ nhật ta có thể thấy được hình ảnh hai người ôm siết lấy nhau, một bên hình bóng họ được nhuộm vàng nhờ ánh đèn, bên kia được nhuộm xanh bởi bóng đêm.

Cả hai miễn cưỡng buông nhau ra, vòng tay anh buông thõng xuống.

“Giờ còn đợi gì nữa? Em nên quay về… nguyên vẹn quay về như khi em đến.”

“Anh có chắc không,” cô thì thầm, “Em muốn vậy mà.”

“Ngày mai sẽ luôn đến.”

“Nhưng đêm nay mới là đêm.”

“Đừng bận tâm, ngày mai sẽ luôn đến. Ngày mai, ngày ba mươi mốt tháng Năm.”

“Khi một cô gái không yêu anh, cô ấy sẽ căm ghét nếu anh không phải là một quý ông. Khi cô ấy đã yêu, cô ấy sẽ căm ghét nếu… anh đúng là như thế.”

“Mad,” anh nói, ép sát cô vào người mình. “Anh không muốn em đến đây với những suy nghĩ như thế. Không phải em, Mad, em quá đáng yêu. Như thế thật rẻ tiền và giả dối. Nhưng chỉ đêm nay thôi. Bây giờ thời gian tuyệt vời đã trôi qua rồi. Giờ anh đưa ra cảnh báo chân thành này, Mad, nếu em mà còn tới đây nữa…”

Cô nhìn anh. Cô hiểu và ưng thuận. Cô trao cho anh nụ hôn cuối cùng.

“Chờ đến ngày mai,” cô nói.

“Đồng hồ tại Carlton nhé?” Anh gợi ý.

Cô lắc đầu. Ngón trỏ của cô chỉ xuống sàn. Rồi cô quay lưng bước xuống cầu thang.

Cô vẫn đang trong trạng thái ngất ngây, hạnh phúc, mắt cô ngời sáng như những vì sao, và khi cô mở cửa vào phòng ngủ riêng nửa tiếng sau đó, mọi giác quan của cô vẫn như đang quay cuồng.

Trong nhà đèn đóm đang sáng trưng, nhưng lúc này cô chẳng còn đủ tỉnh táo để nhận ra điều đó. Giờ cô có thể bước vào ngọn lửa đang cháy rừng rực mà không hề hay biết, không nhận ra tình cảnh mình đang lâm vào.

Nhưng rồi dần dần, thực tế thâm nhập vào nhận thức của cô, đó là toàn bộ váy áo, đồ lót; toàn bộ tủ quần áo của cô, đang nằm thành từng chồng ngăn nắp trên ghế và trên giường.

Mẹ cô bất ngờ xuất hiện qua cánh cửa thông giữa phòng của hai mẹ con, trên tay bà mang thêm mấy thứ nữa.

“Chuyện gì vậy? Mẹ đang làm gì thế?”

“Gói ghém đồ đạc cho con. Mẹ vốn định đợi đến khi con về, nhưng đợi mãi không thấy nên mẹ nghĩ mẹ nên tự làm một mình. Sáng sớm mai chúng ta sẽ khởi hành.”

“Khởi hành sớm đi đâu cơ?” Madeline lo lắng gặng hỏi.

“Chúng ta sẽ ra bờ biển.”

“Nhưng sao lại là ngày mai ạ? Sao không phải là tuần tới, hay…?”

“Cha mẹ được biết…” Mẹ cô bỏ lửng câu nói. “Cha mẹ được biết rằng bắt buộc phải là ngày mai… đó là hạn chót. Điều thiết yếu là con… chúng ta phải đi vào ngày mai.”

Đột nhiên cô hiểu ra. “Là người đó. Cái người đã có mặt ở đây với cha khi con ra ngoài chơi tối qua. Có phải anh ta lại đến nữa không?”

Mẹ cô không đáp.

“Vì Chúa, mẹ à! Bản thân con nhiều lúc cũng thích nghe truyện cười lắm, nhưng lần này thì không vui đâu. Anh ta được trả lương để đi dọa dẫm người khác à?”

“Anh ta đã thuyết phục được cha con, như thế là quá đủ đối với mẹ.”

“Anh ta không sống hộ con cuộc đời của con! Anh ta không có quyền ra lệnh cho con phải làm gì, khi nào thì phải đi và phải đi đến đâu!”

“Ngồi xuống đây. Mẹ muốn nói chuyện nghiêm túc với con.” Bà cất tạm vài thứ sang một bên. “Mẹ là mẹ con. Giờ chỉ có hai mẹ con mình thôi.”

“Mẹ là mẹ con, và giờ chỉ có hai mẹ con mình thôi,” Madeline khô khan nói. “Cả hai thực tế này đều quá rõ ràng.”

“Con có gặp gỡ một người mới nào gần đây không? Bất kỳ ai ngoài những chàng trai con đã quen biết?”

“Mẹ lại bắt đầu đấy à? Tối hôm kia người ta hỏi con rồi còn gì!”

“Tối nay con đã ra ngoài với ai?”

“Chúng ta đang trở về quá khứ sao? Chắc phải cỡ mười năm trước ấy nhỉ?”

“Madeline, tối nay con đã ra ngoài với ai?”

“Bill Morrissey.” Cô nhìn thẳng vào mắt mẹ không nao núng. “Con đã phạm phải tội gì chứ?” Cô lạnh lùng hỏi.

“Madeline, mẹ hỏi đây không phải vì mẹ, mà là vì sự an toàn của chính con.”

Anh ta đã nói với mẹ như thế,” cô giận dữ buộc tội. “Chính anh ta đã nói thế.”

“Madeline, tối nay con đã ra ngoài với ai?”

“Mẹ hỏi con lần này là lần thứ ba rồi. Và đây là lần thứ hai con trả lời mẹ. Bill Morrissey.”

“Madeline, Bill đã gọi điện đến đây trước mười giờ tối một chút, để hỏi về con đấy.

Chiếc khăn cô đang dùng để lau lớp kem trên mặt vẫn không ngừng lại.

“Chắc chắn đấy. Bọn con đã nói chuyện, sau đó con đứng dậy và bỏ đi, bỏ mặc anh ấy ngồi trong nhà hát. Con cho rằng anh ấy nghĩ con đã về nhà rồi. Chắc lúc anh ấy gọi con đang ngồi một mình trong phòng chờ suốt hồi hai. Sau đó con quay về chỗ ngồi ngay trước hồi cuối.”

“Ồ,” mẹ cô thì thầm, có chút nhẹ nhõm. “Ồ.” Khi bạn muốn tin, thì bạn sẽ tin. Bà vươn tay ra, vỗ nhẹ lên bàn tay Madeline.

“Con đã bao giờ nói dối mẹ chưa?”(Nhưng, cô nghĩ, đã bao giờ mình yêu như thế này chưa?)

Mẹ cô hôn lên trán cô dỗ dành. “Chúc ngủ ngon con yêu.” Bà tiến ra cửa. “Ngày mai hãy đi cùng cha mẹ ra bờ biển được không? Con sẽ không nhặng xị lên đấy chứ?”

Madeline nhìn chính mình trong gương một cách khó hiểu. “Con sẽ không làm nhặng xị lên đâu,” cô ngoan ngoãn hứa hẹn.

Họ khởi hành sớm, mặt trời mới lên chỉ đủ hắt xuống phố những tia nắng mỏng nằm nghiêng, trông như lớp hàng rào cọc nhọn màu vàng bị ngã đổ - như thể mặt trời sợ hãi không dám phủ chụp lấy họ bằng một quầng lửa chói chang, đầy đe dọa của một ngày đen đủi. Người hầu kẻ hạ và một phần lớn đồ đạc của họ đã được chuyển đi từ đêm qua (Đến giờ Madeline mới biết); tuy nhiên, đã có những náo động, hỗn loạn với hành lý xách tay, bao nhầm lẫn khiến mẹ cô hết vào rồi lại ra mấy bận trước khi cuối cùng cả nhà có thể lên đường.

Trong suốt thời gian đó, Madeline ngồi yên trên ghế sau, hoàn toàn thờ ơ, một điếu thuốc nằm trên bàn tay để không, tay kia cầm chiếc va li kéo, như thể cô hoàn toàn bàng quan trước toàn bộ chuyện này, nó chẳng có gì liên quan đến cô hết. Thậm chí cô còn nhìn sang hướng khác, nhìn sang phía bên kia đường, xa khỏi căn nhà.

Chỉ có một thời điểm cô biểu lộ sự tức giận, sau khi tài xế đã ngồi vào xe và ngay trước khi họ chuẩn bị khởi hành, thì bỗng Cameron mở cửa trước, bước vào ngồi cạnh ghế tài xế rồi đóng cửa xe lại. Anh ta không đến từ trong nhà họ; mà như thể anh ta từ dưới đất chui lên.

Anh ta phải đi cùng chúng ta sao?” Cô gặng hỏi, to tiếng. “Chuyện gì đây, đi đày à?”

“Suỵt,” mẹ cô lên tiếng nhắc nhở.

Hình như anh ta có con mắt phía sau; sắc mặt anh ta có hơi chuyển màu.

Khi họ đến được bờ biển, anh ta lại biến mất cũng đột ngột như khi xuất hiện lần đầu tiên. Xuống xe, và bỗng không còn thấy đâu nữa, chẳng biết anh ta đã lặn đi đâu. Bạn hẳn sẽ không biết anh ta vừa đi cùng họ.

Khóe miệng Madeline cười mỉm vẻ chế nhạo, có lẽ là vì việc này, hoặc có lẽ là do thái độ của cô với toàn bộ sự kiện này.

Tuy nhiên, ngay trước bữa trưa, trong khi cô đang nằm dài trên chiếc ghế xếp dưới đất, cách ngôi nhà một quãng, anh ta lại hiện hình, như thể anh ta vừa đi tuần tra ở đâu đó. Cô vờ như không thấy anh ta, cho dù cô có thể nghe thấy tiếng cỏ lạo xạo dưới chân và thấy cái bóng của anh ta, đang tiến đến từ phía sau lưng cô.

Anh ta chỉ đứng đó và nhìn cô, rất khiêm tốn.

Bất thần cô ngẩng đầu lên, ném sang anh ta cái nhìn u ám bão tố.

“Tôi đang đọc sách,” cô cau có. Tay cô quả quyết giơ sách lên cho anh ta thấy. “Thấy chưa. Sách. Anh biết chúng là gì mà đúng không? Anh làm thế này với nó,” cô bẻ cong quyển sách, “và rồi tên cai ngục nào đó bước đến và trố mắt ra nhìn…”

“Tôi rất tiếc, cô Drew,” anh ta nhẹ nhàng nói. “Hình như cô không thích phải tới đây đúng không?”

“Tôi sẽ thích nó nếu…” cô thoáng mất cảnh giác, rồi ngừng lại ngay.

“Có cuộc gặp gỡ nào đó bị ngắt quãng chăng?” Anh ta ném sang cô cái nhìn dò hỏi sắc sảo.

Bất ngờ cô im lặng, nhún vai, quay lại với cuốn sách. Như thể cô nhận ra mình vừa phạm phải một sai lầm về mặt chiến thuật.

Trong bữa trưa, cô bỗng biến thành một con người khác. Cái miệng câm nín đã biến mất, sắc mặt sưng sỉa đã không còn. Cô vui vẻ, hớn hở, nói nhiều, có lẽ hơi bị hưng phấn quá đà. Nhưng có vẻ như cô đã vui vẻ chấp nhận một khung cảnh khác, tự thích nghi với nó. Cô chỉ ám chỉ gián tiếp đến nơi này, rằng đó là một nơi thật tuyệt. “Ở dưới này thật thú vị, lẽ ra chúng ta nên đến đây từ mấy năm trước, đỡ phải chờ.” Và thậm chí với cả Cameron, (ngồi ăn trưa cùng họ), cô cũng tỏ ra hòa nhã hơn, cho dù không nói chuyện trực tiếp với anh ta. Cô chỉ khẽ mỉm cười với anh ta đôi lần khi nhờ chuyển cái gì cho người khác. Như thể muốn nói rằng: “Thấy chưa? Tôi cực kỳ hạnh phúc được ở đây. Tôi hài lòng. Chẳng còn nơi nào khác hấp dẫn tôi hơn thế. Ngài sai rồi.”

Một lần nữa anh ta lại nhìn cô dò hỏi.

Họ xuống bãi biển vào buổi chiều. Anh ta lại quan sát từ đằng sau, ngồi trên một đồi cát nhỏ. Dường như anh ta không theo dõi cô; anh ta luôn nhìn ra chỗ khác. Dường như cô không để ý đến anh ta; cô luôn nhìn theo hướng ngược lại, khi ngụp lặn dưới biển khi nhảy cẫng lên trên cát. Nhưng hành vi của cô càng lúc càng hưng phấn, như thể đang trình diễn trước khán giả vậy. (Thật không tự nhiên khi hai con người không bao giờ cùng nhìn về một hướng lại bắt gặp ánh mắt của nhau.)

Hai chàng trai và một cô gái cô quen biết cũng xuống biển, và cô mời cả ba đến nhà uống cocktail, ăn bữa tối và có buổi tối vui vẻ bên nhau.

“Tớ đang bị cách ly,” cô phá lên cười. “Để vượt qua giai đoạn khó khăn.”

Tất cả cùng quay về với chiếc xe liên hợp đã đưa họ đến đây.

Họ mở tiệc cocktail ngay khi vừa về đến nhà, cô vẫn xỏ vào đôi dép đi biển, trên người vẫn khoác chiếc áo choàng tắm màu trắng. Thậm chí họ còn mời anh ta một ly, nhưng anh ta lắc đầu rồi chuyển cho người khác. Cô ăn nói oang oang, tâm trạng hưng phấn, bừa bãi, dung tục; như thể mấy ly cocktail này quá mạnh, hoặc giả cô đã uống quá nhiều. Cô còn khiêu vũ ngẫu hứng khắp phòng, đầu tiên là với một trong số các chàng trai, rồi tiếp với người khác, theo nhịp điệu của chiếc radio sạc pin mang theo. Có rất nhiều tiếng cười nói, rất nhiều tiếng nói chuyện, rất nhiều những lời đùa cợt, tất cả tạo ra một khung cảnh hết sức ồn ã.

Tưởng chừng như bữa tiệc sẽ kéo dài mãi mãi, thì bất chợt mẹ cô bước xuống cầu thang, trên người là trang phục cho bữa tối, và hỏi có phần gay gắt, “Madeline, con định cứ ăn mặc như thế cả tối nay đấy à? Vài phút nữa chúng ta sẽ ăn tối đấy.”

Madeline ngưng bặt, liếc nhìn xuống người mình, như thể chỉ đến bây giờ mới nhớ ra mình đang mặc cái gì, cô đập mạnh tay lên trán, thốt lên, “Trời, con quên béng mất! Con lại cứ tưởng có gió lùa ở đâu.” Rồi mặc kệ bạn bè đang cười hô hố, cô phóng vút lên gác, rơi cả dép, lại phải lật đật chạy xuống.

Lúc này tiếng nước xối từ phòng tắm vọng xuống rõ mồn một, vẳng vào tận phòng khách nơi bạn bè cô đang ngồi. Chắc cô đang mở toang cả hai cánh cửa, cửa phòng riêng của chính cô lẫn cửa phòng tắm cách đó một quãng.

“Con gái con đứa,” mẹ cô lẩm bẩm, lắc đầu tuyệt vọng.

Một cô hầu gái xuất hiện trên ngưỡng cửa phòng ăn, nhìn bà dò hỏi.

“Chúng tôi sẵn sàng rồi,” bà Drew trả lời.

Bà đứng dậy, bước đến chân cầu thang. “Madeline!” Bà gọi với lên. Tiếng nước xối vẫn vang vọng.

“Con bé lúc nào cũng vội vã thế,” bà than phiền. “Nó biết rõ tôi ghét phải chờ đợi bữa tối như thế nào… mà nó đã ở dưới biển cả buổi chiều rồi…”

“Nhưng đó là nước mặn mà bác,” một trong số các chàng trai cười khúc khích. “Trước tiên nước biển sẽ ngấm vào các lỗ chân lông của bác, để giữ sức khỏe thì bác phải lấy nó ra.”

Đến lúc này bà Drew bắt đầu đi lên cầu thang, để tắt ngay cái tiếng nước xối ầm ĩ kia.

Cameron, người vẫn đang ngồi ở một nơi để quan sát cầu thang kể từ lúc Madeline bỏ lại mọi người, đột ngột đứng dậy theo chân bà.

Bà Drew đang gọi cô bé từ ngưỡng cửa phòng ngủ. “Madeline!” Cô vẫn không thể nghe thấy tiếng mẹ gọi vì tiếng nước xối xả, thậm chí sàn nhà lát gạch vuông càng làm âm thanh của nước vang to hơn.

Cameron bước đến cửa phòng ngủ sau lưng bà, liếc nhìn đôi dép và chiếc khăn tắm bị vứt chỏng chơ, khiến anh ta ngần ngừ một lúc.

Giờ thì bà Drew đang đứng ngay cửa phòng ngủ, vẫn đang cố gắng gọi con gái. Cuối cùng bà buộc phải bước đến chỗ rèm cửa đang rung rinh, thận trọng kéo tấm rèm sang bên.

“Madeline,” bà thét lên chói tai. “Mẹ đang khản cả cổ vì gọi mày! Mày định ở trong đấy mãi hay…”

Nước đang xối xả chảy xuống quang cảnh trống trơn, trắng tinh sau những bức rèm, không hề phản chiếu sắc màu hồng hào, thay vào đó chỉ là màu xanh nhạt gần như trắng của lớp gạch men bên dưới. Cùng lúc đó, tấm rèm đang rủ xuống trên một trong những ô cửa sổ mở rộng khẽ giật bởi cơn gió nhẹ lọt vào mắt Cameron.

Giữa sắc xanh thẫm êm dịu của trời đêm rực rỡ, một ánh bạc lóe lên, như ngôi sao hôm trong những bài hát của Tannhäuser[*]. Chùm sáng của nó dường như đang tuôn ra, chảy xuống trái đất như một dòng sơn ướt đang chảy xuống vì chưa kịp khô. Phía dưới kia, dọc theo con đường đèn đuốc sáng rực như hình ảnh phản chiếu của bầu trời đêm, như một đường ray bằng thép, chiếc xe mui trần bé bỏng hăng hái của cô lao đi vun vút, rộn ràng, hồi hộp như thể chính nó cũng đang yêu. Chiếc xe mui trần bé nhỏ thân thiện, bị đánh cắp từ một ga ra gần đó với sự đồng lõa của một trong những người hầu, người trốn trong xe suốt cả ngày, khởi động xe đúng lúc hành động. Chiếc xe không một cảnh sát nào bắt kịp, bởi cô chủ của nó đang yêu, và tình yêu luôn được chắp cánh, cần gì phải để tâm đến đồng hồ tốc độ nữa.

Tannhäuser: Nhà thơ và nhạc sĩ người Đức thời Trung cổ.

Chiếc xe phóng hết tốc lực, như một viên đạn dọc theo con đường nhựa hướng về thành phố, hướng về những cây cầu dẫn đến nơi ấy, hướng về điểm hẹn hò quan trọng nhất.

Chiếc khăn quàng cổ bay phấp phới sau lưng cô như chiếc cờ hiệu cưỡi gió. Mái tóc cô, những phần không dùng kẹp, cũng muốn tung bay như thế. Trông cô như một nữ thần Valkyrie[*] thời nay đang ngự trên bề mặt cong của trái đất, tiến vào thành trì đen ngòm của màn đêm. Cô có ngoái lại đằng sau một hai lần, nhưng là để chế nhạo, tuyệt nhiên chẳng có chút lo sợ. Tiếng cười của cô giòn tan trong đêm.

Valkyrie: Tên gọi chung cho các nữ thần chiến binh trong thần thoại Bắc Âu.

Có lần một ngã ba chặn cô lại - có những chuyện ngay cả tình yêu cũng phải để ý, nếu không cô sẽ không thể trốn thoát khỏi cuộc đuổi bắt sắp tới - cô đứng thẳng dậy trong xe, vung nắm đấm lên ngọn đèn đỏ rầu rĩ đang cản bước cô cho đến khi nó tắt hẳn, như thể kinh ngạc trước lời thách thức đó.

Có hai cây cầu để cô chọn, một cây ở gần và một cây ở khá xa. Cô khôn ngoan lựa chọn cây cầu ở xa, nghĩa là ngoặt khỏi phần đường của mình rồi sau đó lại nhập làn, biết rằng anh ta có thể gửi lời nhắn cho đồng sự, để họ chặn xe và giữ cô lại.

Cô cúi xuống thấp hơn trên ghế, ngoảnh nhìn chỗ khác khi xe lăn bánh, hòa vào dòng giao thông tấp nập và giữ tốc độ chạy xe bình thường. Tuy nhiên tay cảnh sát giao thông trên cầu, đứng trên ốc đảo bê tông nhỏ bé của anh ta, chỉ cách núm cửa xe cô có mấy phân, lại không hề liếc nhìn cô.

Đó chính là nguy cơ cuối cùng. Giờ thì không còn gì cản được cô nữa; không còn gì nữa.

Hình dáng răng cưa của thành phố như hòa lẫn với bầu trời, với tông màu xám sẫm, xám tía, và màu chì than, xe cô lao xuống đường dốc dài phía bên kia cầu, để tự chôn vùi mình dưới chân cầu.

Những người khác đang đợi anh dưới chân cầu, nơi anh đã thông báo cho họ, khi anh ì ạch đến nơi trên chiếc limousine của ngài Drew, quá kềnh càng và nặng nề nên không tài nào theo kịp tốc độ chiếc xe mui trần của cô.

Anh nhảy ra khỏi xe, chọn ngay chiếc xe cảnh sát nhanh hơn xung quanh đó. Tiếng còi xe rền rĩ, giao thông trên cây cầu phía trước dẹp hết sang bên, thành một dải phân cách phía trước, dài và uốn cong, tạo cho họ một khoảng trống.

“Chẳng làm gì được à?” Cameron hỏi. Câu trả lời quá rõ ràng, nếu không khi anh đến nơi hẳn đã thấy cô bị tóm rồi.

“Không hề thấy cô ta. Chúng tôi đã kiểm tra từng chiếc xe đi qua trong suốt hai mươi phút vừa rồi. Có lẽ cô ta đã đi trước chúng ta rồi.”

“Cô ta không thể chạy nhanh đến thế. Cô ta đã chọn cây cầu còn lại, thoát khỏi tấm lưới mà chúng ta giăng sẵn.”

“Chúng ta chặn cô ta lại làm gì?” Một trong số các cảnh sát hỏi.

“Để giúp cô ta không bị giết,” anh đáp gọn lỏn.

Chiếc xe mui trần điên cuồng, đang lên cơn yêu của cô ngoặt vào góc phố gấp đến mức suýt lao lên vỉa hè, cô bẻ lái chuẩn bị cho cơn điên rồ cuối cùng, hùng hổ lao tới lề đường đối diện trên con đường chéo dài kết thúc ngay trước cửa nhà anh.

Chiếc xe rung lên khiến cô rùng mình, vội đạp mạnh chân phanh.

Bỗng tất cả câm lặng. Cô đã đến nơi. Cô đã ở đó.

Cô ngồi đó một lúc, như thể cô cũng mệt lử như chiếc xe sau một chặng đua dài. Cô quay đầu sang bên nhìn lên cánh cửa, nó đang đợi cô, thật tối tăm, thật bí hiểm, thế nhưng làm sao đó lại giống như đang hồi hộp đợi chờ. Như thể nó đang nín thở chờ xem cô liệu có muốn bước qua hay không.

Chẳng cần phải ngập ngừng nữa, chẳng còn thế lực nào trên trái đất này đủ sức chặn cô lại bên ngoài cánh cửa này nữa.

Em tới đây rồi, tình yêu của em, trái tim cô thầm nhủ. Em có bắt anh phải đợi không? Em có đến muộn không?

Cô mở tung cửa, mặc kệ cánh cửa mở ra mở vào sau lưng, hết mở vào trong rồi lại mở ra ngoài. Rìa bóng tối nằm nghiêng, giống như một lưỡi dao, chém xả xuống lưng cô, dập tắt vầng hào quang rực rỡ.

Những bậc cầu thang chẳng là gì khi đôi chân cô được chắp cánh. Cô dừng chân bên ngoài cửa phòng anh, nghiêng đầu lắng nghe một lúc. Không có âm thanh, chẳng có âm thanh nào cả. Nhưng cô lại mỉm cười chắc chắn, tự tin, rằng mình không thể lầm.

Cô đưa tay sờ lên mái tóc, sờ chiếc khăn quàng, vào áo choàng, để cô trở nên đẹp hơn nữa trong mắt anh, để anh sẽ yêu cô nhiều hơn nữa.

Rồi cô giơ tay lên gõ cửa.

Không có tiếng trả lời.

Nhưng cô lại mỉm cười, vẫn nụ cười ấy.

Cô ghé sát mặt vào cánh cửa, càng sát càng tốt.

“Mở cửa đi,” cô dỗ ngọt bằng giọng rộn ràng, âm trầm. “Em đây mà. Anh không nhớ em nữa à? Em có hẹn với anh mà.”

Cánh cửa chậm rãi mở ra, nhưng chẳng thấy ai đứng sau nó, thậm chí ngay cả bàn tay xoay núm cửa cũng chẳng thấy.

Cô vươn hai tay ra chuẩn bị cho cái ôm sắp tới. Cô cứ đứng yên như thế, hai cánh tay vươn ra hết cỡ.

Cánh cửa chậm rãi đóng lại.

Toàn bộ cầu thang từ trên xuống dưới ầm ầm vang lên những âm thanh chói tai, giống như tiếng chiêng trống trong buổi hành hình, từng tiếng từng tiếng gấp gáp nối đuôi nhau. Cameron dẫn đầu, khựng lại trước cánh cửa ra vào.

Mọi thứ đột nhiên câm bặt, trong một khoảnh khắc.

Rồi một tia lửa bừng sáng trên tay Cameron, phát súng nghe như tiếng sấm, và ổ khóa cũ kĩ vỡ tan thành từng mảnh nhỏ.

Cameron đá mạnh một cái, và cánh cửa mở tung ra

Rồi lại im lặng; nhưng lần này không chỉ trong một khoảnh khắc. Dài, một sự im lặng kéo dài. Không ai cử động. Không cần phải cử động nữa. Chẳng ai nói gì. Chẳng cần phải nói gì nữa.

Hai người trong số họ thở ra những hơi dài; như bạn hay làm khi cảm thấy cực kỳ đau đớn. Họ đang rất đau đớn; bất kỳ ai cũng cảm thấy đau đớn.

Mình cô ở trong đó, nửa nằm nửa ngồi trên chiếc ghế sofa. Trông cô giống như vẫn còn sống, như thể cô quá lười đến nỗi không muốn ngồi thẳng dậy khi cánh cửa bật mở và có người khác bước vào. Ngoại trừ việc một chân cô duỗi ra hơi xa, có lẽ là do một cơn co thắt tử thi và rồi không thể thu về được nữa.

Có vẻ như cô đang nhìn họ, từ trong đó, ngay sau khi họ nhìn thấy cô, từ nơi họ đang đứng túm tụm. Gần như cô muốn nói rằng, “Xin mời vào và hãy đóng cửa lại, đừng đứng ì ra đấy.”

Nhưng gương mặt cô mới là thứ kinh khủng nhất. Hắn đã cầm máu cho nó, và giờ gương mặt ấy không còn chảy máu nữa, nó đã biến thành…

Gương mặt đã khiến bao người phải ngoái nhìn dưới chiếc đồng hồ Carlton (“Anh sẽ không đối xử với em như thế đâu, em sẽ chấp nhận anh chứ?”), giờ đây hẳn sẽ khiến họ sẽ nôn ọe, lùi lại thật xa và chạy trốn. Hẳn không một ai còn ham muốn gương mặt ấy nữa, thậm chí là không muốn nhận ra nó.

Cameron lặng lẽ bước vào, quay đầu nhìn sang chỗ khác khi anh bước qua cô. Là một thanh tra nhưng anh lại quay đầu sang chỗ khác, như một cách để anh bày tỏ nỗi tiếc nhớ gương mặt trước kia của cô.

Có một quyển lịch trên mặt lò sưởi, con số ba mươi mốt to lớn đen sì nằm trên tờ lịch trên cùng.

Cameron xé tờ lịch, thả nó rơi xuống sàn.

Rồi anh gục đầu xuống, thừa nhận thất bại thảm hại.

Đó là bức ảnh chụp một thiếu nữ trẻ tuổi đã úa vàng, phai nhạt, gần như mờ mịt, chắc phải được chụp mười năm về trước. Ảnh chụp thiếu nữ trẻ đang đứng trên bậc thềm, một chân tựa lên bậc thềm đằng sau lưng, mỉm cười trong nắng.

Cameron thấy bức ảnh nằm trên sàn phía sau tủ quần áo khi anh dùng sức mạnh đẩy nó ra ngoài. Thậm chí bức ảnh còn không nằm trên sàn, bởi một phần của bức ảnh bị kẹt vào một khe hở trong tư thế thẳng đứng, thế nên chỉ phần rìa trên cùng của bức ảnh thò ra ngoài.

Có thể ban đầu bức ảnh được gắn vào khung của chiếc gương trên bàn trang điểm, hẳn là nó bị rơi ra do cú va chạm nào đó quá mạnh. Như khi người này bị người kia giáng một quả đấm vào hàm, khiến anh ta loạng choạng va phải gương. Hoặc có thể bức ảnh nằm trong một trong các ngăn kéo, lọt qua khe hở phía sau ngăn kéo, rồi rơi xuống sàn, khi ai đó đóng mở ngăn kéo.

Dù sao thì tấm ảnh cũng ở đó. Và nó chẳng thuộc về bất cứ ai từng thuê căn hộ này trước kia, họ đều khẳng định điều đó. Sàn nhà đã được sơn sửa lại trước khi hắn đến thuê nhà, bà chủ nhà nói vậy.

‘Tìm ra cô gái này,” Cameron kiên quyết nói, “và chúng ta sẽ tìm ra hắn.”

Anh phải nói rõ thêm nữa. Mọi thứ trong công việc của cảnh sát đều phải chi tiết, không được chung chung.

“Và để tìm được cô ta, chúng ta phải biết được hai điều. Bức ảnh được chụp khi nào và ở đâu.”

Anh ra lệnh phóng thật to bức ảnh ra làm sáu tấm, gần bằng kích cỡ tấm kính cửa sổ. Từng chiếc bóng, từng chi tiết đều phải rõ ràng. Và khi những đường nét chưa đủ rõ, chúng lại được phóng to tiếp. Nhưng không thu được kết quả. Thế là anh bèn mang một tấm ảnh trong số này đến gặp từng nhà cung cấp trang phục nữ của sáu cửa hiệu lớn nhất thành phố.

“Tôi muốn ngài cho ý kiến về ngày bức ảnh này được chụp, càng cẩn thận càng tốt, dựa vào chất liệu trang phục đối tượng đang mặc.”

Các phân tích được gửi về từ một đến năm ngày. Sau khi đã bỏ hết những phân tích trùng lặp, phần tổng hợp như sau:

Áo khoác không có đệm vai: 1940. Chúng tôi lần đầu tiên giới thiệu miếng đệm vai trong các mẫu năm 1941.

Áo khoác dáng dài (thuật ngữ thương mại gọi là “box coat”): phải trước năm 1939. Áo choàng dáng ôm bắt đầu ra mắt vào năm 1940; thành mốt vào năm 1941.

Ve áo “lượn”: ra mắt năm 1940. Các ve áo có khía sâu, ve áo phẳng như trong trang phục nam giới, ra mắt một năm sau đó.

Váy dài: trước năm 1942, khi những luật lệ khắt khe về nguyên liệu trong thời chiến được ban hành.

Giày mui kín: năm 1940, khi những chiếc giày hở mũi vắng bóng khỏi thị trường.

Kiểu tóc: do nữ diễn viên X - trong bộ phim Y - giới thiệu. Ngày ra mắt bộ phim: mùa hè năm 1940.

Trang sức kèm trang phục: một chuỗi hạt ngọc trai, đeo sát cổ, thành mốt thời trang vào cuối năm 1940, đầu năm 1941. Mùa sau đó, thêm hai hoặc ba chuỗi hạt nữa. Trước đó, những chuỗi hạt dài, được đeo trên ngực.

Nhưng tất cả các phân tích đều kèm theo một cảnh báo: Phải tính đến chuyện các xu hướng trọn mùa (như xuân sang xuân, thu sang thu) nhằm đảm bảo khả năng chính xác. Hình nền có lẽ là ở nông thôn, đối tượng có thể không phải là người sành sỏi lắm hoặc không có gu về thời trang. Chúng tôi phải mất từ sáu đến mười hai tháng mới tung ra các mẫu thời trang tại những thành phố lớn, vì chúng tôi muốn sản phẩm sẽ được đón nhận trên toàn quốc.

Anh chẳng hiểu hầu hết những gì họ nói. Nhưng vì họ là chuyên gia, nên anh ghi nhận những phân tích của họ.

Tóm lại (với sự hỗ trợ của đám dây leo quấn quanh một trong các cột nhà ở ảnh nền) là anh đã có kết luận. Thời gian bức ảnh được chụp là đầu xuân, không sớm hơn giữa tháng Ba, không muộn hơn giữa tháng Tư; chỉ trong năm 1940, không thể sau năm 1941.

“Bây giờ thì chỉ cần tìm hiểu xem bức ảnh được chụp ở đâu,” anh nói.

Và khi anh nhìn vào hai bậc thềm màu trắng trước nhà, hai cột nhà màu trắng, một tí mặt tiền ngôi nhà bằng gỗ ép, và mép cao nhất của một ô cửa sổ bên trong có rèm cửa đăng ten, tất cả những gì hiện lên trong bức ảnh chụp (khung cảnh này không phải hiếm suốt ba triệu dặm vuông nước Mỹ, trong từng ngôi làng nhỏ của từng bang), suýt chút nữa anh đã bỏ cuộc trong tuyệt vọng.

Nhưng thay vào đó, anh lại lập tức bắt tay vào tìm kiếm.

« Lùi
Tiến »