Cameron nhún vai. “Sếp có biết phải làm sao để tìm ra một nửa yêu thương nhất trong đời một người đàn ông không? Hỏi họ à?”
Ông sếp cũng nhún vai. “Thế cậu có biết cách nào khác không? Đó là việc của cậu cơ mà.”
Cameron nghiến răng như thể thấy đau. “Nó không thể đong đếm chính xác được, sếp biết đấy. Sếp không thể đến gặp người ta với một cái cân và cân đo chuyện đó.”
“Tôi biết,” sếp của anh khô khan đáp, “rằng vụ này rất khó khăn và cần sự kiên trì. Tôi không muốn nghe nói nó khó khăn thế nào. Tôi chỉ muốn nghe câu trả lời. Câu trả lời chính xác. Thế nên sau khi sục sạo xong rồi, làm ơn mang nó về đây cho tôi được không?”
Cameron khổ sở, vặn vặn người một lúc rồi đứng thẳng lại. “Nhưng phải làm thế nào? Chỉ theo dõi ông ta thôi sao? Phải mất đến mấy tuần đấy. Vấn đề là những diễn biến nội tâm sếp à, nó không bao giờ thể hiện trên nét mặt của một người đàn ông đâu.”
“Thế thì vào trong nội tâm mà tìm!” Sếp của Cameron liên tục ấn mạnh khớp ngón tay xuống bàn làm việc.
“Mà chắc gì đã có ai cơ chứ.”
“Ai cũng thích một người khác, một người nào đó, một người mà họ yêu hơn bất kỳ ai khác. Đó là bản năng. Là tự nhiên. Với đàn ông, đó là đàn bà. Với đàn bà, đó là đàn ông.”
Cameron thở dài thườn thượt. “Bất khả thi sếp ơi.”
“Tôi thừa nhận,” sếp anh lạnh lùng đáp.
“Nhưng tôi sẽ truy tìm.”
Anh chẳng nhận được bất cứ lời khích lệ nào. “Tất nhiên là cậu đi rồi. Mà sao cậu không bắt đầu từ năm phút trước, thay vì phí thời gian của cả hai ta, cậu muốn lảng tránh chứ gì?”
“Sếp đã lập hồ sơ về ông ta đầy đủ chưa?”
“Kĩ lắm rồi. Toàn bộ công tác điều tra ban đầu đã xong.”
Cameron rướn người về phía trước. “Thế thì cho tôi danh sách tất cả những người phụ nữ trong cuộc đời ông ta đi. Sếp làm được không? Cho tôi một bản nhé?”
“Tôi có thể,” sếp anh đáp. Ông ta ấn một nút trên thiết bị liên lạc gì đó trên bàn. “Nó đang được biên soạn và sẽ được chuyển tới ngay bây giờ.” Ông ta ra lệnh sau đó ấn nút tắt.
“Để tôi cho cậu một lời khuyên,” ông ta nói trong khi họ đang chờ, “đừng có đi ngược đời; đừng phí hơi với họ làm gì, đám phụ nữ ấy, đừng cố tìm hiểu theo hướng đó. Bởi vì từng người phụ nữ trong cuộc đời của một người đàn ông đều sẽ nghĩ, hoặc thích nghĩ rằng mình là một nửa được yêu thương nhất trong cuộc đời hắn. Phải truy tìm từ chính thằng đàn ông kìa.”
Bản danh sách được chuyển đến, rất nhỏ, được đánh máy nắn nót; chỉ có năm cái tên.
Cameron nghiên cứu nó thật kĩ. “Đời ông ta có vẻ cũng không có nhiều đàn bà cho lắm.”
“Có thể không nằm trong danh sách đó. Nó chưa hoàn hảo đâu. Cậu chính là người đề nghị nó. Hãy nhớ, danh sách này chỉ căn cứ biểu hiện bên ngoài thôi - từ một khoảng cách vừa đủ. Không phải trong nội tâm. Nên là cậu sẽ phải tự tìm hiểu.”
Cameron nhét tờ danh sách vào ví rồi đứng dậy. “Tôi sẽ tìm hiểu,” anh hứa. “Tôi nghĩ ra một cách rồi.”
Anh chẳng nhận được lời khen nào. “Lề mề quá đi mất,” ông sếp nghiêm khắc nhận xét. “Nếu cấp dưới nào mà cũng lề mề khi nhận nhiệm vụ thế này, chúng ta sẽ còn mãi giậm chân ở vụ Rosenthal[*]”.
Rosenthal: Trong thời gian làm cảnh sát, Charles Becker đã lợi dụng chức vụ để tống tiền các nhà chứa, các casino phạm pháp hơn 100.000 đô la Mỹ. Một chủ sòng bạc tên Herman Rosenthal đã tố cáo hành vi sai trái đó của Becker. Chưa đầy hai ngày sau đó, Rosenthal bị bắn chết khi vừa rời khỏi khách sạn. Becker bị bắt vì tội giết người vào ngày 29/07/1912, và thừa nhận việc thuê người giết Rosenthal. Becker bị hành quyết năm 1915 và trở thành cảnh sát đầu tiên bị tuyên án tử hình trong lịch sử Mỹ. (ND)
Cameron đã ra đến cửa. “Có thể chính ông ta cũng không biết. Mà có thể còn chưa từng nghĩ đến nó. Nhưng ông ta sẽ nói cho tôi nghe. Tôi sẽ biết.”
Nhân viên lễ tân là sự kết hợp giữa vẻ ngoài bóng bẩy hoàn hảo của một ma nơ canh và phong thái lạnh lùng của một bà hiệu trưởng trường nữ sinh. Không nghi ngờ gì nữa, bà ta được thuê chính nhờ những phẩm chất này, bởi nếu không bà ta hẳn đã không dám thể hiện nó thường xuyên đến vậy.
“Anh có hẹn trước không?” Bà ta hỏi vẻ trịch thượng.
Cameron lắc đầu.
“Tôi rất tiếc…” bà ta vừa định nói. “Ông ấy có biết anh không?”
Anh nhìn bà ta khó chịu. “Khi nhà của bà đang cháy, chắc bà phải làm quen với tay lính cứu hỏa trước khi hắn bê thang đến tận cửa sổ nhà bà nhỉ?”
Bà ta nhướng mày. “Việc này liên quan gì đến thang cứu hỏa chứ?” Bà ta nói giọng khinh bỉ.
“Chỉ là một cách nói thôi, bà hiểu mà.”
“Ờ, vậy bình thường công việc của anh là gì?”
“Làm cảnh sát.”
Bà ta nhướng mày lần nữa, nhưng lần này không còn vẻ khinh bỉ nữa.
“Ờ. Có… có việc gì tôi có thể giúp không? Ý tôi là, nếu liên quan đến vé hay sự vi phạm…”
“Bà chẳng làm được gì ngoài việc cho phép tôi vào trong kia gặp ngài Ward hết. Tôi hiểu các bổn phận của bà, nhưng cái gì cũng phải đúng lúc đúng chỗ. Và tin tôi đi, bây giờ không phải lúc cấm tôi vào văn phòng đâu.”
“Chỉ một phút thôi,” bà ta nói, gần như gấp gáp. “Mời vào,” bà ta nói khi quay lại, giữ cửa cho anh bước vào. Cánh cửa đóng sập lại sau lưng hai người.
Ward đang đứng sau bàn làm việc. Ông mặc bộ vest xám rất nhạt màu. Cỡ khoảng năm năm trước chắc ông đẹp trai lắm, giờ vẻ đẹp đó đang dần phai nhạt. Mái tóc ông vẫn còn đen bóng, dù đâu đó đã bắt đầu xuất hiện mấy chỗ tóc hoa râm, như trên lông một con cáo xám. Đôi mắt ông cực kỳ sắc bén, nhưng vẫn có nét nhân từ và khoan dung, không giống như vẻ cứng rắn và gian xảo của một doanh nhân điển hình.
“Tôi là Cameron, cảnh sát,” Cameron tự giới thiệu bản thân.
Hai người bắt tay nhau qua bàn. Trông mặt ông lạnh tanh, không hề tỏ ra quan tâm.
“Bà Koenig nói với tôi…” Ông không nói hết câu, không cần phải làm thế.
“Tôi không thích phải đến tận văn phòng ngài như thế này, nhưng dù sao thì đây là cách hợp lý nhất. Có nhiều thứ quá tàn nhẫn để có thể nói qua điện thoại…”
“Hợp lý? Tàn nhẫn?”
“Tôi có tin xấu cho ngài đây,” Cameron thẳng thừng đáp. Anh lấy ra tờ danh sách đánh máy, giữ nó trong tay. Ward bước đến từ sau bàn làm việc, rồi đứng khựng lại.
“Đã xảy ra một tai nạn,” Cameron nói. “Có người bị thương. Chúng tôi không rõ ngài và người phụ nữ đó…”, anh cố tình nhấn mạnh, “… có quan hệ gì?”
Danh sách trong tay anh chỉ mình anh thấy, Ward không thể đọc được.
“Có phải Louise không? Có phải vợ tôi không?”
Gương mặt Ward căng thẳng và tái nhợt, nhưng vẫn bình tĩnh. Cameron quan sát nó rất kĩ. Anh lẩm bẩm điều gì đó, vẻ ngập ngừng, mơ hồ.
“Không phải mẹ tôi đúng không? Không phải mẹ…?”
Gương mặt ông càng lúc càng trắng bệch ra. Nó nhăn nhó như sắp khóc khi ông cố trấn tĩnh. Cameron theo dõi rất kĩ.
Chỉ còn ba cái tên trên danh sách: hai người em gái đã lấy chồng, và con gái đồng nghiệp của ông, một cô bé mười hai hoặc mười ba tuổi. Cameron lắc đầu với chính mình.
“Tôi không tin…” Ông lẩm bẩm.
Ward loạng choạng bước một bước về phía anh, rồi tiếp bước nữa. Bàn tay ông túm chặt lấy ve áo trong lời khẩn cầu. Hai mí mắt ông cụp xuống, nửa che đi đôi mắt.
“Martine…” Ông thì thầm, thở hắt ra.
“Martine là ai?” Cameron vội hỏi.
Ông không trả lời. “Ôi lạy Chúa tôi,” ông lên cơn rùng mình dữ dội, hai đầu gối run rẩy, ông hẳn là đã khuỵu xuống, hoặc thậm chí là đã ngã, nếu không có Cameron xốc nách và giữ ông đứng thẳng một lúc, cho đến khi ông đủ sức đứng vững. “Tên khác của cô ta là gì? Họ của cô ta là gì?” Cameron phải ghé sát môi vào thật gần, để những từ ngữ rót thẳng vào tai ông, để ông hiểu được trọn vẹn câu hỏi, nhận thức được chúng. Thính giác của ông đang bị nghẽn do nỗi đau choáng váng, đến nỗi dường như không còn khả năng tiếp nhận âm thanh nữa.
“Jensen,” ông rên rỉ, trong một câu trả lời máy móc.
Cameron dìu ông đến một cái ghế, đỡ ông ngồi xuống.
“Uống chút nước đi, ngài Ward,” anh nói.
Ward gật đầu, đưa tay chỉ. Cameron đi rót nước rồi bước đến trao cho ông.
“Chẳng có tai nạn nào cả. Chẳng ai bị thương hết.” Anh viết cái tên vào danh sách của mình. “Martine Jensen.”
Anh phải nhắc lại tuyên bố. “Không ai bị thương hết. Cả cô Jensen hay bất kỳ ai khác.”
Lần này phản ứng của Ward có chậm hơn, nhưng nó vốn đã chậm như thế ngay từ đầu. Khi đã hoàn toàn trấn tĩnh lại, ông đứng lên, hất thẳng ly rượu brandy mới uống hết một nửa vào mặt Cameron.
“Cút ngay ra khỏi văn phòng của tao.” Người ông run lên khi cố kiềm chế.
Ông tiến đến, vung tay giáng cho Cameron một quả đấm vào cạnh hàm.
Cameron loạng choạng, cố vươn tay níu lấy cái gì đó ở đằng sau để giữ thăng bằng.
“Tôi sẽ không phản kháng đâu,” anh nói. “Tôi cũng sẽ làm thế với bất kỳ kẻ nào làm điều tương tự như tôi vừa làm với ngài.”
Ward vận hết sức để ngăn mình không tung ra quả đấm thứ hai, nỗ lực này khiến ông run rẩy.
“Mày làm thế để làm gì?”
“Tôi phải tìm hiểu xem người ngài yêu thương nhất là ai. Không còn cách nào khác.”
Ward không hỏi tại sao. “Cút ngay,” ông nói qua hàm răng nghiến chặt.
Cameron mở cửa. “Tôi hiểu. Tôi sẽ quay lại… sớm thôi.”
Cameron quay lại và đưa cho ông sếp xem danh sách của mình. Ba cái tên đã bị gạch đi. Ba cái tên còn lại, mà một trong số này vốn không có trong danh sách ban đầu, mới được thêm vào sau cuộc thẩm vấn. Danh sách như sau:
1.3. Vợ ông ta.
2.2. Mẹ ông ta.
3.1. Martine Jensen.
Ông sếp bực mình. “Thế này là thế nào? Tại sao lại có hai dãy số thế, ý cậu là gì?”
“Đó là điều tôi muốn hỏi sếp. Là thế này: dãy số đầu là trình tự ông ta nói đến họ. Nói cách khác, là tốc độ những con người này xuất hiện trong tâm trí ông ta. Dãy số thứ hai là mức độ cảm xúc ông ta thể hiện ra. Giờ thì, là ai mới đúng? Là người đầu tiên xuất hiện trong tâm trí ông ta, bà vợ? Hay là người đã khiến ông ta bộc lộ nhiều cảm xúc nhất, Martine Jensen? (Dù cô ta là ai đi nữa). Tôi không phải là nhà tâm lý học.”
“Điều đó thì rõ rồi,” ông sếp chen vào.
“Tôi đã tưởng rằng mọi chuyện đã rõ ràng, sẽ rất dễ đoán. Nhưng không hề. Đó là rắc rối hay xảy ra với những bài trắc nghiệm hành vi kiểu này. Khi đã liên quan đến bản tính con người, sẽ không thể nào dự đoán được, nó luôn…”
Ông sếp vẫn đang cân nhắc. Rồi ông ta gật đầu, vẻ chắc chắn. “Người mà ông ta dành nhiều tình cảm nhất,” ông ta nói, sau khi đã suy xét kĩ.
“Nhưng có thể đó là tình cảm tích tụ, hậu quả của một sự căng thẳng tăng dần. Có thể người đầu tiên xuất hiện trong tâm trí là người ông ta yêu nhất, nhưng vào lúc đó ông ta vẫn hoàn toàn kiểm soát được lý trí không để nó biểu lộ ra ngoài. Nó chỉ biểu lộ sau đó, khi ông ta không còn kiểm soát được mình nữa. Nói cách khác, cảm xúc của ông ta là dành cho vợ mình, nhưng nó đã chuyển sang giai đoạn khác, đã qua thời điểm ấy, và nó chỉ tự thể hiện ra khi chúng ta đến với cái tên thứ ba, ở bề ngoài.”
Ông sếp không buồn tranh cãi với anh. “Người mà ông ta dành nhiều tình cảm nhất,” ông ta vẫn gan lì nói.
“Nhưng liệu hắn có hiểu theo cách ấy như chúng ta không? Tên sát nhân ấy? Nếu cảnh sát chúng ta còn không biết chắc, thì làm sao là người ngoài như hắn có thể chứ? Chúng ta có thể bảo vệ người tình nhưng hắn lại bám theo người vợ.”
“Người mà ông ta dành nhiều tình cảm nhất. Nghe này, đừng cố nghĩ nữa, cậu sẽ càng rối hơn đấy. Cứ xem mình như cái máy thôi. Một chút logic sẽ cho chúng ta câu trả lời đúng và đó là tất cả những gì tôi đã dùng. Bởi ông ta còn có một người tình khác ngoài vợ, nên tất nhiên là ông ta yêu ả nhân tình này nhiều hơn. Nếu ông ta yêu vợ nhiều hơn, thì hẳn ông ta chẳng cần thêm nhân tình làm gì. Ông ta sẽ chẳng cần ai hết. Cô ta sẽ thành người thừa.”
Ông ta lấy một cái bút chì rồi cầm lấy danh sách của Cameron, gạch đi hai chữ “vợ” và “mẹ”.
“Giờ thì đi làm việc đi,” ông ta nói.
Danh sách chỉ còn lại một cái tên “Martine Jensen”.
Ngày hôm sau Cameron quay lại văn phòng.
Nhân viên lễ tân không còn giữ vẻ mặt lạnh như băng nữa. Bà ta đang nóng nảy, bốc hỏa vì phẫn nộ, cho dù chỉ là phẫn nộ lây.
“Ngài Ward sẽ không gặp anh đâu,” bà ta tức tối nói. “Tôi sẽ không chuyển cho ngài ấy tên của anh. Tôi được ngài ấy chỉ thị rồi. Đây là văn phòng tư nhân theo luật định và được bảo vệ bằng quyền công dân. Dù cho anh có là sĩ quan cảnh sát đi chăng nữa, anh cũng không thể ép tôi phải cho anh vào, anh không thể ép buộc ngài ấy phải gặp anh. Nếu anh cố tình xông vào, ngài ấy sẽ liên hệ với luật sư ngay lập tức và kiện cả cái đồn cảnh sát của anh ra tòa dân sự yêu cầu đền bù thiệt hại. Giờ anh có giỏi thì xông vào thử xem.”
Cameron tự biết là mình không thể. Anh quay lưng bước ra ngoài. Từ hành lang tòa nhà, anh gọi cho sếp. Sếp anh gọi cho Ward. Thế rồi Cameron được gọi lại, từ trong hành lang nơi anh đang đứng.
“Cứ đi đi,” ông sếp nói. “Ông ta sẽ gặp cậu bây giờ. Tôi đã phải dùng ảnh hưởng của mình để nói đỡ cho cậu đấy.”
Nhân viên lễ tân đã nhận được thông báo khi anh quay lại. Bà ta tuy vẫn tức tối nhưng giờ là tức tối một mình, không dám thể hiện ra ngoài nữa. Bà ta không nói “Mời vào”. Bà ta chỉ đơn giản là giữ cửa cho anh ta bước vào. Cửa văn phòng của Ward phía đằng kia.
Ward cũng đang tức giận.
“Ngồi đi,” ông nhíu mày nói.
Cameron ngồi xuống. “Chúng ta có thể nói chuyện mà không bị quấy rầy không?”
“Lệnh được ban ra rồi,” Ward đáp cụt lủn.
“Điều cơ bản là ngài phải tin từng lời tôi sắp nói với ngài.”
“Chúng ta sẽ bình luận về chuyện đó sau.”
“Ngài đang nằm trong danh sách chết người. Không phải tên của ngài, mà là của một người có liên quan đến ngài, tên của Martine Jensen. Nếu ngài dành cho chúng tôi sự hợp tác tốt nhất, tôi nghĩ chúng tôi có thể hứa với ngài rằng cô ấy sẽ không gặp phải tổn thương nào. Chúng ta có một lợi thế, đó là chúng tôi biết chính xác ngày mà cô ấy sẽ gặp nguy hiểm. Vụ tấn công sẽ xảy ra trong vòng hai mươi tư giờ bắt đầu vào nửa đêm, ngày ba mươi mốt tháng Năm, và kết thúc vào nửa đêm, ngày mùng một tháng Sáu, hoặc sẽ không xảy ra.” Ward đang khẽ lẩm bẩm gì đó. “Ngài vừa nói gì?”
“Tuyệt vời.”
“Ngài không tin tôi, tôi hiểu mà.”
“Tôi chẳng có kẻ thù nào cả.”
“Chẳng ai có thể vỗ ngực nói thế cho đến sau khi họ xuống mồ. Ngài có thể không có kẻ thù mà ngài biết, nhưng hai điều này không giống nhau.”
“Động cơ là gì? Tống tiền à?”
“Tiền không giải quyết được đâu. Không phải với ai tiền cũng có sức mạnh. Những kẻ điên rồ thì không có động cơ. Tôi có thể gọi đó là trả thù, nhưng ngay cả thế cũng không chính xác; bởi vì nếu tổn thương xảy ra là không chủ tâm hay không cố ý, chuyện trả thù có thể được gạt sang một bên. Nên điều gần gũi nhất tôi có thể nghĩ đến đó là: một tên cuồng trả thù.”
“Hắn là ai?” Ward hỏi, giọng chế nhạo.
“Ngài không biết hắn đâu, bởi vì…” Anh ngần ngừ, và rồi miễn cưỡng nói thêm. “Chúng tôi cũng không biết.”
“Cậu biết điều gì đã thúc đẩy hắn, hoặc đã khiến hắn sa ngã. Cậu biết tiền sẽ không gây ảnh hưởng gì tới hắn. Cậu biết hắn là một thằng điên. Cậu biết ngày hắn sẽ tấn công, chính xác trong vòng hai mươi tư giờ. Nhưng cậu lại không biết hắn là ai. Cảnh sát giỏi ghê. Đổi lại là cậu thì cậu sẽ nói gì?”
“Đôi khi mọi thứ lại diễn ra như thế. Đôi khi. Không thường xuyên, ơn Chúa. Nhưng lần này thì đúng là như thế.”
Anh đợi Ward nói câu gì đó. Nhưng ông chẳng nói gì. Tuy nhiên, có một chuyển động xảo trá trên khóe miệng ông, như thể ông đang gặp khó khăn khi cố nén tiếng cười.
“Ngài phải giúp chúng tôi,” Cameron nói.
“Tôi quá già cho mấy cái trò này rồi.”
“Ngài phải cung cấp cho tôi mọi thông tin ngài có thể, về Martine Jensen…”
“Ví dụ?”
“Chúng tôi còn chẳng biết cô ấy sống ở đâu.”
Mặt Ward tối sầm. “Để cậu có thể đến nhà cô ấy, tra hỏi, quấy rầy và làm cô ấy khiếp sợ hả? Tôi sẽ không làm thế. Cứ vác cả đống chuyện vẽ vời, bịa đặt của cậu đến đây nếu muốn nhưng tránh xa cô ấy ra, để cô ấy yên đi! Cậu có hiểu không?”
“Không thể bỏ mặc cô ấy đứng ngoài chuyện này,” Cameron kiên nhẫn đáp, “bởi vì cô ấy là trung tâm của nó, cô ấy là đối tượng, là mục tiêu. Không phải ngài, mà là cô ấy.” Anh cố gắng tìm từ chính xác. “Chúng ta phải rất khôn khéo với chuyện này. Cảnh sát chúng tôi hiểu rất nhiều chuyện, chúng tôi từng trải qua rất nhiều vụ. Chúng tôi biết đôi khi… đôi khi có những mối quan hệ nhất định trong cuộc đời một người đàn ông, mà họ không muốn… chúng tôi sẽ cố gắng không để liên lụy đến ngài, ngài Ward…”
Ward ngồi thẳng dậy, như thể đúng lúc này vấn đề danh dự nào đó đã chạm đến ông. Giờ đây ông cực kì nghiêm túc, căng thẳng.
“Cậu không hiểu. Cậu chẳng hiểu gì hết. Cậu nghĩ tôi đang vụng trộm sau lưng vợ tôi sao?” Ông hắng giọng vẻ ghê tởm, lại thu mình sâu hơn vào ghế, như thể thấy chuyện này thật vô ích. “Đàn ông không bao giờ tâm sự chuyện gái gú cho nhau nghe.”
“Nhưng với một sĩ quan cảnh sát, đang cố gắng bảo vệ mạng sống một người rất gần gũi với họ thì sao?” Cameron khôn khéo thúc giục.
Cuối cùng Ward gật đầu, một cách chán nản, sau một lúc suy nghĩ. “Đúng, tôi đoán là cậu đang làm thế,” ông thừa nhận. “Cho dù tôi chưa bao giờ ngoại tình.”
“Chỉ là cơ sở chung chúng tôi đưa ra thôi,” Cameron khẳng định đầy thuyết phục, nín thở vì sợ rằng đối phương sẽ không chịu mở miệng.
Cuối cùng ông cũng chịu nói, trầm ngâm như thể đang bị thôi miên, lật giở lại các sự kiện trong cuộc đời mình, tập trung đến mức quên rằng có một người đang chăm chú lắng nghe.
“Tôi biết Martine rất lâu trước khi có bà Ward. Cô ấy là mối tình đầu của tôi, cũng là tình cuối; cô ấy là tình yêu duy nhất của tôi.” Ông không ngừng giữ thăng bằng cây bút chì trên mặt bàn, không hề rời mắt khỏi nó. Bỗng ông sững lại hỏi, “Có phải đây là chuyện sinh tử không?”
“Chuyện sinh tử,” Cameron đồng ý, thận trọng cụp mắt xuống.
“Tôi chưa bao giờ yêu Louise. Cuộc hôn nhân ấy chỉ là lựa chọn thứ hai. Mà thực ra thì chẳng có lựa chọn nào hết. Tôi cũng chẳng biết phải gọi nó là gì. Trước kia lúc nào cũng chỉ có Martine và tôi. Trọn cuộc đời mình tôi chỉ yêu Martine. Nhưng chúng tôi đã chờ đợi, như những kẻ ngốc. Chúng tôi chắc chắn rằng sẽ chẳng còn ai khác ngoài cô ấy và tôi, tôi và cô ấy, nên chúng tôi đã chờ đợi. Năm tới, sẽ luôn là năm tới. Một ‘năm tới’ chẳng bao giờ đến. Thế rồi bất thình lình, tất cả đã quá muộn. Cô ấy sẽ chẳng có được tôi. Đã xảy ra một chuyện… chen vào giữa chúng tôi. Mà cô ấy cũng nghĩ chuyện sẽ không thành. ‘Em không thể đồng ý bây giờ được’, cô ấy nói. Cô ấy sẽ chẳng có được tôi. Tôi cứ thế đợi chờ, đợi mãi, và cô ấy sẽ chẳng có được tôi. Những ‘năm tới’ ấy đến và nhanh chóng trôi qua, và chúng tôi vẫn thế, ai cũng chỉ có một mình. Cô ấy bảo tôi hãy cưới người khác. Rằng đó là ước nguyện của cô ấy với tôi. Cô ấy nói cô ấy không muốn tôi tiếp tục cô đơn nữa. Cô ấy nói mình sẽ cảm thấy vui nếu ít nhất một trong hai chúng tôi không còn cô đơn. Và tôi luôn làm bất cứ điều gì tôi nghĩ sẽ khiến cô ấy hạnh phúc. Thế nên lần này cũng thế; lần cuối cùng trong tất cả. Tôi đã cưới Louise, người đến sau.”
“Bà ấy có…?”
“Bà ấy không biết gì về Martine. Bà ấy biết đã có một Martine. Bà ấy không biết người đó vẫn còn. Martine không hận thù gì bà ấy, bình đẳng với nhau. Tôi đã rất chung thủy với vợ tôi kể từ sau khi cưới. Nhưng bà ấy cũng không hận thù gì Martine. Martine là tình yêu của tôi và là tình yêu duy nhất.”
Ông không giữ thăng bằng cây bút chì nữa, nhét nó vào trong túi áo.
Cameron không ngước lên nhìn ông, ông cũng không nhìn Cameron. Cả hai người đều đang suy nghĩ về điều đó, đôi mắt họ dường như đang cùng suy ngẫm.
“Giờ thì tôi đã kể xong rồi,” cuối cùng Ward thở dài. “Và tôi cảm thấy làm thế thật rẻ tiền. Giống như kiểu lời thú tội trong quán bar nồng nặc mùi bia.”
“Không,” Cameron nói. “Đó là vấn đề sinh tử. Có hai thời điểm ngài sẽ nói ra mọi thứ. Khi ngài không tìm thấy sự bình yên trong tâm trí, ngài nói chuyện với cha xứ. Khi sự an toàn của ngài bị đe dọa, ngài nói chuyện với cảnh sát. Như ngài vừa làm.”
Cameron lấy ra một cuốn sổ tay, chuẩn bị ghi chép mọi thứ. “Bây giờ nếu ngài cung cấp cho tôi vài chi tiết cần thiết… nơi cô ấy sống…
“Không,” Ward nói. “Tôi không muốn quấy rầy cô ấy. Tôi không muốn nhà của cô ấy bị đột nhập và cô ấy phải sợ hãi. Tôi sẽ không cho cậu biết gì hết.”
“Nhưng chúng tôi đang cố gắng bảo vệ cô ấy. Chúng tôi phải có những đề phòng nhất định…”
“Giải thích của cậu về vụ này không thuyết phục được tôi. Cậu không biết hắn là ai, hoặc hắn ở đâu, hay hắn làm gì, hay thậm chí hắn trông như thế nào. Đó là điều khôi hài nhất tôi từng được nghe. Vào ngày ba mươi tháng Năm, cô ấy an toàn, nhưng rồi đến ngày ba mươi mốt tháng Năm, cô ấy phải đề phòng cả ngày. Rồi vào ngày mùng một tháng Sáu, cô ấy lại an toàn. Nghe như kiểu dự báo thời tiết hơn là…”
Có điều gì đó trong chuyện này khiến ông thấy buồn cười. Ông bắt đầu phá lên cười, không ngừng lại được. Ông ngả đầu ra đằng sau cười hô hố, bàn tay đập xuống bàn.
Cameron không cố kiềm chế ông. “Sẽ mất một thời gian, tôi hiểu mà,” anh nói, đứng dậy tiến ra cửa. “Không sao, tôi sẽ còn quay lại.”
Hôm sau anh quay lại.
Ward lại cười toét khi trông thấy anh. “Cậu lại định bắt đầu lại cái trò ông kẹ đấy à?”
“Tôi chỉ muốn cho ngài xem mấy thứ này,” Cameron lặng lẽ đáp.
Anh lấy ra mấy mẩu báo, vài tấm ảnh báo chí, hai “bức ảnh” chụp từ nhà xác, trải hết chúng ra trên bàn làm việc của ông.
Ward xem hết một lượt, vẫn cười khúc khích.
“Ông biết ông ta, đúng không?” Cameron chỉ tay.
Ward gật đầu.
“Con gái ông ta chết rồi.”
Ward bình tĩnh ngước mắt lên nhìn thẳng vào anh. “Tôi biết. Có nghe phong thanh, mơ hồ. Quá tồi tệ; nhưng chuyện đó vẫn xảy ra mà, cậu biết đấy. Có liên quan gì tới tôi đâu? Tôi không có con gái. Còn Martine thì không phải là một đứa trẻ vị thành niên không may bị mất đâu. Thế thôi.”
Cameron lại chỉ tay. “Ông biết anh ta đúng không?” Anh hỏi, với giọng tố cáo.
“Sơ sơ. Và tôi cũng có nghe nói về vụ này. Mệt mỏi do chiến tranh. Anh ta giết vợ mình sau đó tự sát. Nếu cậu đang cố gắng bảo vệ tôi khỏi âm mưu tự sát…” Ông gạt mẩu báo bị cắt ra sang một bên. “Chuyện đó từ vài năm trước rồi, trong thời chiến mà.”
Cameron đặt lại trang báo vào chỗ cũ. “Để ý ngày tháng trên ảnh đi.”
Ông không bị ấn tượng. “Tôi thấy rồi. Vậy ra cậu lấy ý tưởng từ đây. Chỉ là trùng hợp thôi. Hai chuyện này cách nhau hai năm.”
“Và xen giữa hai năm đó, là vụ này,” Cameron kiên nhẫn nói.
Ward nhún vai. “Anh ta giết chết nhân tình, và bị hành hình trên ghế điện. Đó là cách luật pháp nói, ác giả thì ác báo. Cậu tính chơi trò phù phép nào đây?”
“Nhìn dòng ngày tháng đi.”
“Lần này thì hoàn toàn không đúng trật tự. Cậu nhầm rồi.”
“Về tội ác kìa, không phải vụ hành hình.”
“Giờ thì làm ơn…” Ông nhẹ nhàng nhưng kiên quyết. Ông sẽ không lắng nghe nữa.
Cameron đứng dậy bỏ đi. “Được rồi, vẫn còn một chút thời gian.”
“Này, mang mấy cái này đi đi chứ.”
“Ngài không thích xem à?”
Ward lắc đầu. “Cậu đang lãng phí thời gian của chính mình đấy.”
“Không hề. Mọi việc tôi làm đều có mục đích cả.”
Ward vẫn cười toe toét khi anh rời khỏi phòng.
Ngày hôm sau anh lại đến.
Lần này Ward chỉ nhếch mép khi thấy anh; không còn chắc chắn nữa.
“Nghe này, cậu đang bắt đầu khiến tôi căng thẳng đấy, cậu thanh tra. Tôi là một doanh nhân. Tôi còn việc phải làm. Tôi không thể cứ nghĩ về những chuyện như…”
“Ngài có chắc là tôi đang khiến ngài căng thẳng không, hay là… thứ gì khác?” Cameron nhẹ nhàng hỏi.
“Chà, rốt cuộc thì, cậu lại rình mò ở đây mỗi ngày chuẩn xác như giờ phát sóng, và cố biến nơi này thành căn phòng kinh hoàng.”
“Tôi chỉ muốn đưa ngài xem cái này.”
Ward đọc một vài dòng.
“Đây là giấy chứng tử,” ông sốt ruột nói. “Và hơn nữa, nó liên quan đến một người phụ nữ tôi chưa từng biết, chưa từng gặp mặt khi bà ta vẫn…”
“Nhưng ngài biết người chồng. Để ý cái tên đi.”
“Thấy rồi. Nhưng căn cứ theo cái này, bà ta chết vì… Có bao nhiêu người chết vì bệnh đó mỗi năm, hả cậu thanh tra?”
“Người ta bị nhiễm thì là ngẫu nhiên. Nhưng bà ta bị nhiễm thì là do mưu sát.”
“Cậu có thể chứng minh không?”
“Vụ này hẳn sẽ kết thúc ở đó nếu tôi có thể,” Cameron thừa nhận.
“Liệu,” Ward khô khan nói, trả lại tờ giấy chứng tử, “hôm nay như thế đã đủ chưa?”
“Ngài sẽ phải trả lời câu hỏi đó.”
“Rất tốt. Vậy thì tôi e câu trả lời là đủ rồi đấy.”
Lần này ông không mỉm cười nữa khi Cameron bỏ đi.
Thang máy không dừng ngay để đón Cameron. Trong khi anh đang đứng đợi, cánh cửa ra vào bằng kính phía cuối hành lang bất ngờ bật mở, bà lễ tân chạy đuổi theo anh.
“Ngài Ward muốn cậu quay lại,” bà ta vừa nói vừa thở hồng hộc. “Ngay lập tức!”
Suy sụp rồi, Cameron nghĩ, kèm theo tiếng thở phào đắc thắng.
Ward vừa uống xong một ly. Nhìn ông như thể sẽ cần thêm ly nữa.
“Đóng cửa lại,” ông run rẩy nói, ngồi thụp xuống ghế. “Tôi không biết có phải đây là chuyện cậu muốn gây ra cho tôi không, nhưng cậu đã làm được rồi,” ông nói như buộc tội. “Giờ thì tôi sợ rồi. Sợ ra trò rồi đấy.”
“Ngài cũng thông minh đấy, ngài Ward. Cuối cùng ngài cũng thông minh ra rồi.”
“Còn bao nhiêu thời gian nữa?”
“Còn đủ thời gian.”
“Tại sao cậu lại khiến tôi phí hoài mấy ngày qua như thế?”
“Thế tôi cứ phải tới đây liên tục là vì cái gì?”
Ward nhăn nhó. “Lạy Chúa! Nếu có chuyện gì xảy ra với cô ấy…”
“Sẽ không xảy ra chuyện gì đâu, nếu ngài để chúng tôi xử lý mọi việc. Giờ thì ngài dẫn tôi tới chỗ cô ấy được chứ? Giờ ngài sẵn sàng chưa?”
“Ngay bây giờ. Chúng ta sẽ đi ngay bây giờ.”
Ông chặn Cameron một lúc ngay ngưỡng cửa, túm chặt tay áo anh. “Cô ấy có phải biết chuyện này không? Có phải nói cho cô ấy biết không? Tôi đã luôn muốn cô ấy tránh xa mọi nguy hiểm… Tôi không muốn cô ấy biết chuyện này.”
“Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để cô ấy không biết” Cameron hứa. “Nếu có thể.”
Đó là một căn nhà kín đáo. Cameron không mong đợi điều này. Anh tưởng nó sẽ là một trong những căn hộ xa hoa lộng lẫy, là nơi để đàn ông tìm đến những cuộc vụng trộm. Nhưng đây lại là một ngôi nhà hiền lành, như tổ ấm được chăm chút kĩ lưỡng với một mặt tiền bằng đá vôi đẹp mắt, các ô kính cửa sổ được đánh bóng nổi bật, đằng sau là những tấm rèm gọn gàng sạch sẽ, dưới mỗi bệ cửa sổ đều đặt những chậu cây. Căn nhà giống hệt như những gì Ward đã nói với Cameron: đây không phải chuyện tình lén lút, mà là tình yêu của cuộc đời ông.
Một phụ nữ trông như người mẹ khoảng năm mươi tuổi ra mở cửa khi nghe thấy chuông. Rõ ràng bà vừa là bà nội trợ vừa là người bầu bạn, cho dù bà không đeo tạp dề cũng không mặc bất kỳ loại đồng phục nào, mà chỉ đơn giản là quần áo mặc ở nhà có thêu hoa.
“Ôi, ngài Ward!” Bà mừng rỡ thốt lên. “Martine hẳn sẽ vui lắm đây!”
“Đây là ngài Cameron, một người bạn của tôi,” Ward nói, hơi căng thẳng. “Bà Bachman.”
“Xin mời vào. Để tôi cất đồ cho.” Bà lăng xăng quanh họ. “Hai người ở lại ăn trưa chứ?” Bà nói với cả hai người.
“Tôi không biết…” Ward nghi ngờ đáp, ném sang Cameron cái nhìn dò hỏi.
“Tôi sẽ chạy lên ngay và…”
“Không. Cô ấy ở đâu, đang ở trên gác à? Để tôi lên làm cô ấy ngạc nhiên.”
“Vậy thì để tôi xuống dặn dò nhà bếp. Hai ngài cứ ở lại nhé.” Bà nghiêm nghị đặt bàn tay lên cánh tay Ward một lúc. “Ôi, đã mười hai giờ năm phút rồi. Hai người có muốn lên gặp cô ấy một lát không? Martine sẽ rất thích đấy; cô ấy sẽ rất hạnh phúc.”
Trên đường lên gác, Cameron cảnh báo ông ta. “Hãy bình tĩnh lại đi. Ngài hơi căng thẳng đấy. Nếu ngài không muốn cô ấy nhận ra điều gì…”
“Giúp tôi đi,” người đàn ông xúc động nói. “Giúp tôi đi.”
Cameron khoác vai Ward một lát, rồi lại buông ra. Anh cảm thấy tội nghiệp ông. Đến giờ này anh vẫn chưa từng biết đến tình yêu. Anh biết nó có tồn tại, nhưng anh cũng không chắc lắm.
Ward gõ cửa. Ông biết nên gõ cửa nào.
Một giọng nói đáng yêu, êm ái xen lẫn sự hồi hộp, vì giọng nói ấy đã đoán ra sự hiện diện của ông qua chính tiếng gõ cửa, vang lên, “Xin mời vào.”
Ông mở cửa và Cameron trông thấy cô.
Cả người cô đang tắm trong ánh nắng từ ô cửa sổ trước. Cô đang ngồi bên cửa sổ, và nó bao bọc cô bằng một vầng hào quang rạng ngời. Hoặc có thể chính cô mới là người tạo ra vầng hào quang đó, chứ không phải là những tia nắng chiếu xiên.
Cô ngoảnh mặt về phía họ. Cô đẹp. Hết sức xinh đẹp. Không ngạc nhiên khi cô ấy là tình yêu của cuộc đời ông ta, Cameron nghĩ. Yếu tố quan trọng nhất trong sắc đẹp của cô là tuổi thanh xuân phơi phới. Không phải như một trái cây ngon lành vừa chín tới, không phải vẻ đẹp bên ngoài; mà là vẻ ngây ngô và đáng yêu của một đứa trẻ trong thân xác một người phụ nữ trưởng thành.
Cô đang nhìn Ward. Cameron đứng ngay cạnh ông, họ đang đứng vai kề vai bên nhau. Nhưng cô chỉ nhìn Ward.
“Có ai đi cùng anh sao?” Cô nói.
Cô bị mù hoàn toàn.
Cameron báo cáo lại với sếp các biện pháp mình đã áp dụng đến lúc này.
“Tôi đã cử bốn người ở ngay trong nhà cô ấy, chia thành hai đôi làm việc theo ca, canh gác cả ngày lẫn đêm, suốt hai mươi tư tiếng. Một người phụ trách lò đốt là nơi nhiều người hay đến, quản lý việc sưởi ấm cho toàn bộ căn nhà. Người phụ trách lò đốt ban đầu không được nhận nữa, đã thanh toán hết tiền lương và cho nghỉ việc. Toàn bộ ổ khóa đã được thay mới, chúng tôi có lắp vào đó hệ thống báo động điện tử, cả cửa trước lẫn cửa sau. Không một nhân viên giao hàng nào được phép bước chân vào nhà. Không ai được phép đi qua cửa trước nếu khi tôi chưa cho phép, chỉ có Ward là ngoại lệ. Và ngay cả ông ta cũng chỉ được phép đến thăm cô ấy hai lần mỗi ngày; ông ta không thể đến thăm bất kỳ lúc nào ông ta muốn, đặc biệt là sau khi trời tối.”
Anh chờ một lời khen, nhưng chẳng hề nhận được. “Xong rồi chứ?” Chỉ có thế.
“Không hẳn. Tôi còn theo dõi căn nhà từ bên ngoài, hoặc ít nhất là con phố trước nhà. Bất kỳ chiếc xe nào ghé qua, hoặc nếu có bất kỳ kẻ nào lảng vảng quanh đó… Tôi không thể cài người của chúng ta vào các nhà đối diện, vì họ không nhận khách trọ. Tuy nhiên, tôi đã cắt hai người phục trên mái nhà bên kia đường, giả vờ đang làm công tác sửa chữa để có cớ nán lại trên đó cho đến khi hết giờ. Ở trên đó họ sẽ có tầm nhìn bao quát toàn bộ con phố. Họ có mang theo điện đài hai chiều lên đó, có thể chuyển tín hiệu xuống dưới ngay lập tức. Ngoài ra còn có mấy cái đèn công suất cao, giúp họ có thể quan sát tốt hơn.”
“Cậu sẽ phải theo dõi cả thức ăn được đưa vào. Nhớ bài học vợ của Garrison đấy. Cả các bưu kiện gửi qua bưu điện nữa; chúng có thể chứa chất nổ.”
“Chi nhánh bưu điện địa phương đã được lệnh giữ lại tất cả thư từ gửi đến địa chỉ đó, chấm dứt hết các hoạt động giao hàng cho tới khi có thông báo thêm. Hai ngày trước họ đã sa thải đầu bếp. Ngay cả khi đó là đầu bếp nữ từng làm cho họ nhiều năm rồi, tôi nghĩ tốt nhất nên để bà ấy tránh xa chuyện này. Dù sao thì bà ấy cũng có thể có quan hệ với nam giới bên ngoài, hay thậm chí là họ hàng mà không thể bảo đảm được. Hiện tôi đang cắt một cảnh sát nữ vào làm đầu bếp, chăm lo toàn bộ các khâu từ mua hàng đến chuẩn bị bữa ăn cho cả nhà.”
“Thế còn người bạn đồng hành thì sao? Bà Bachman thân thiết với cô gái đó ấy?”
“Bà B, như cô gái hay gọi,” Cameron đáp, “là người giúp việc duy nhất tôi không hề đụng chạm đến.”
“Cậu có thể bảo đảm cho bà ta?”
“Tôi có thể bảo đảm bằng cả cuộc đời mình; không hề có một chút nghi ngờ nào đối với bà ấy. Tôi đã chỉ huy cả một đội quân truy tìm tất tần tật về bà ấy, toàn bộ thông tin liên quan đến giấy khai sinh của bà ấy ở tòa thị chính. Họ chẳng hề bỏ qua một chi tiết nào, ngay cả chuyện bà ấy bị lên sởi hồi bé, cũng như các tòa nhà bà ấy học tiểu học, hay những giáo viên của bà ấy là ai. Họ hàng của bà ấy không ai còn sống, chẳng có người em họ nào nữa; chồng bà ấy qua đời vì sốt vàng da trong thời gian chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ, một năm sau ngày cưới. Bà ấy sống chung với cô ấy kể từ khi cô ấy còn nhỏ; thậm chí tôi còn chẳng tưởng tượng được cô ấy đã rời nhà mà không có bà ấy, trong mười hay mười hai năm. Bà ấy không có cuộc sống riêng của mình; cô ấy là cả cuộc sống của bà ấy. Dù tôi vẫn muốn gạt bà ấy ra rìa một thời gian, chỉ tạm thời thôi, nhưng tôi có hỏi ý kiến Ward về chuyện này và cả hai chúng tôi cùng đồng ý rằng không nên làm như thế; vì điều đó không chỉ khiến cô ấy bị sốc và hoảng sợ một cách không cần thiết, mà có thể còn gây bất lợi về an ninh. Người phụ nữ này đã tận hiến cho cô ấy đến nỗi còn giám sát cô ấy tốt hơn cả người của chúng ta. Như thế chúng ta lại có thêm một người nữa làm việc cho chúng ta.”
“Sắp đặt xong xuôi rồi chứ?”
“Sắp đặt xong xuôi rồi,” Cameron kết luận. “Bên ngoài được bảo vệ, bên trong cũng được bảo vệ. Bây giờ không còn ai ở bên cạnh cô ấy nữa, ngoại trừ người của chúng ta và bà B. Nói cho sếp biết, tôi đã biến cái nhà ấy thành một pháo đài đích thực. Không một ai, và không có bất kỳ cái gì có thể xông vào được.”
“Cho đến giờ thì tốt đấy,” ông ta chỉ nói có vậy. “Hãy nhớ duy nhất một điều: một pháo đài chỉ thực sự tốt khi người đứng sau lưng nó thật sự tốt.” Và ông ta nhìn thẳng vào Cameron.
Khi Ward thức dậy lúc tám giờ - thời gian biểu bình thường của ông - vào hôm thứ Năm, ông không hề biết rằng mình sẽ làm việc đó. Thứ Năm là ngày mười lăm. Quyết định được đưa ra rất nhanh. Nó xuất hiện rất nhanh. Nó đã nằm yên đó suốt mấy ngày rồi, chắc chắn là vậy. Ngày càng mạnh mẽ hơn suốt thời gian đó. Hết ngày này qua ngày khác, giờ này qua giờ khác.
Ông cạo râu, tắm rửa, thay đồ. Ông chọn một chiếc cà vạt bằng lụa mỏng, thêu những bông hoa xám trên nền xanh. Ông quyết định không chọn cà vạt kẻ sọc. “Mình sẽ đeo nó vào ngày mai,” ông tự nhủ. Cho thấy rằng ông vẫn không biết việc mình sắp làm.
Ông bước xuống nhà. Bữa sáng của ông đã sẵn sàng. Vợ ông ngồi bên bàn. Tờ báo của ông nằm trên bàn. Chi tiết cuối cùng khiến ông hứng thú hơn chi tiết đầu tiên, và chi tiết đầu tiên lại hấp dẫn ông hơn chi tiết thứ hai, nhưng ông đủ lịch thiệp để không thể hiện ra trên nét mặt, ông dành sự chú ý tương đương nhau với cả ba, tờ báo có lẽ được ưu tiên hơn một chút so với hai chi tiết còn lại.
Ông hôn vợ và họ cùng nói chuyện phiếm. Thân thiện, dễ chịu nhưng không quá chân thành. Ít ra là không có sự thù địch. Cũng chẳng có sự thân thiết. Họ chỉ như hai con người đàng hoàng có giáo dục, không quá quan tâm đến nhau.
Ông rời nhà đến văn phòng, mang theo tờ báo và va li. Ông nói, “Tạm biệt, Louise,” từ cách đó một căn phòng. Ông không biết rằng mình có thể sẽ không bao giờ gặp lại bà nữa. Mà giả như có biết, hẳn ông vẫn sẽ nói, “Tạm biệt, Louise,” từ cách đó một căn phòng, cũng với cái giọng đó.
Ông vẫn không biết rằng mình sẽ làm việc đó.
Ông bước vào chiếc xe đang đợi mình ngoài cửa. Trên đường đến văn phòng ông tiếp tục ngồi đọc báo.
Dòng ghi ngày tháng là thứ đập vào mắt ông trước tiên. Đây không phải lần đầu tiên. Còn mười sáu ngày nữa. Và ngày mai sẽ là mười lăm. Tại sao cứ phải ngồi đây chờ nó xảy ra, khi còn cả thế giới này để trốn trong đó? Mắc kẹt, như con thỏ trong lồng.
Bất thình lình ông biết rằng mình sẽ làm việc đó.
Ông gõ gõ vào tấm kính. Tay tài xế ngoảnh đầu lại. Ward ra lệnh cho anh ta tấp vào lề và dừng lại ngay lập tức.
Ông xuống xe, đóng cửa.
“Đi đi,” ông nói cụt lủn. “Đừng đợi tôi.” Chiếc xe là một vật cản, có thể bị nhận ra, có thể phản bội ông. Bởi vì ông biết vào đúng lúc này mình đang bị theo dõi.
Tay lái xe có vẻ ngạc nhiên, nhưng vẫn phóng xe đi.
Ward bắt một chiếc taxi khác. Ông đến ngân hàng bước vài bậc cầu thang xuống hầm. Ông ký tên nhận diện, chữ ký được chứng thực, ông được phép vào hầm. Giờ ông thấy biết ơn vô vàn những biện pháp đề phòng này.
Chỉ có một mình trong buồng riêng bé nhỏ với chiếc hộp ký thác an toàn trước mặt, ông lục lọi nó một cách vội vã nhưng vẫn theo tuần tự. Đồ trang sức của Louise; ông không muốn chúng. Cổ phiếu của hãng General Motors xếp thành từng bó màu vàng; ông cũng gạt chúng sang một bên. Nhiều quá không thể chuyển đổi được. Các bó cổ phiếu của hãng American Tel&Tel màu sô cô la; quá nhiều. Goodyear. General Electric. Tất cả đều không được chú ý đến. Một hợp đồng bảo hiểm trị giá bảy mươi lăm nghìn đô la, vợ ông là bên hưởng lợi. (Ông rùng mình, như thể nhìn thấy nó khiến ông sợ hãi.)
Nằm dưới cùng tất cả mọi thứ, các trái phiếu Chính phủ xuất hiện. Đây mới là thứ ông muốn, là thứ mà ông đến để tìm. Ông nhét chúng vào túi áo. Trị giá năm mươi nghìn đô la. Chuyển đổi được theo yêu cầu, khi xuất trình, ngay tức thì. Áp dụng được trên toàn thế giới, khắp mọi nơi, chỗ nào cũng được.
Ông nhanh chóng chạy lên, đề nghị được vào văn phòng của giám đốc ngân hàng.
Mười phút sau ông quay ra, cùng một thư tín dụng trị giá năm mươi nghìn đô la trong túi. Mười sáu ngày. Khắp gầm trời này đi đâu cũng được. Khi một con gà tây nằm chờ chết, nó không thể thoát ra khỏi cái lồng mình bị nhốt vào. Khi một con người ngồi chờ chết, anh ta có thể chạy trốn đến nơi tận cùng trái đất; vì anh ta biết chết nghĩa là gì. Chúa đã dạy cho anh ta điều đó.
Ông bắt một chiếc taxi khác. Đến trước cửa một công ty du lịch lữ hành, ông xuống xe. Ông trao cho tay nhân viên phần thưởng năm mươi đô la, hứa rằng khi xong việc sẽ tặng gấp đôi. Tuy nhiên, ông không để lại tên, địa chỉ hay số điện thoại, vốn là quy định bắt buộc trong những trường hợp như thế này. Ông nói mình sẽ trực tiếp quay lại vào ngày hôm sau. Tay nhân viên đành phải dùng tên của mình, Breuer, trong tất cả các giao dịch mà anh ta thực hiện. Và cho dù tay nhân viên không nhận ra, nhưng anh ta đã ngay lập tức trở thành “cha đỡ đầu”.
Sau đó Ward quay về văn phòng. Ông hủy bỏ tất cả các cuộc hẹn trong ngày, tảng lờ hết tất cả các vấn đề đang treo, các vấn đề trước mắt và tập trung hoàn tất những gì đang triển khai được một thời gian hoặc chưa làm xong; những vấn đề mà vì ông đã quá quen thuộc nên chẳng còn ai ngoài ông thích hợp để giải quyết.
Ông làm việc quá giờ ăn trưa, đến tận giữa chiều. Cuối cùng tới ba giờ ông cũng dừng lại, vì quá kiệt sức không thể làm thêm được nữa. Việc cuối cùng ông làm là khóa cửa văn phòng từ bên trong, bật máy ghi âm, và soạn bằng miệng một tin nhắn từ chức gửi cho người đồng nghiệp, chuyển cổ phần và quyền hạn của ông sang cho người này. “… Và Chúa phù hộ anh, Jeff.” Khi tắt máy, trên đôi mắt ông rưng rưng những giọt lệ. Đàn ông đôi khi cũng ủy mị, ngay cả trong kinh doanh.
Vào lúc ba giờ mười lăm phút chiều cùng ngày ông rời văn phòng. Và trong suốt phần đời còn lại của mình ông sẽ không quay về đây nữa.
Lúc này ông ranh ma hơn hồi sáng, vì đích đến giờ nằm gần trái tim ông hơn, và nó đang bị đe dọa nhiều hơn. Ông bắt ba chiếc taxi, gọi xe rải rác tại nhiều điểm đến giả để ngụy trang như các cửa hàng hoặc những điểm tương tự, nhằm phá vỡ tính liên tục trong hành trình của mình.
Khi rời khỏi văn phòng, theo thói quen ông mang theo chiếc va li. Khi nhận ra điều đó, ông đã cố gắng vứt bỏ nó, cố tình bỏ quên trên chiếc taxi đầu tiên.
Tay tài xế phá hỏng dự tính của ông khi gọi với theo, “Thưa ngài, ngài bỏ quên va li này,” và chạy theo trả lại va li cho ông.
Ward chợt mỉa mai nghĩ, giá như cái va li là một thứ ông nỗ lực đến cùng để không đánh mất, thì hẳn nó sẽ mãi nằm trong xe taxi mà không bị phát hiện.
Ông thử lại lần nữa với chiếc taxi thứ hai, lần này một phụ nữ đã kêu ré lên khi phát hiện chiếc va li từ cửa sổ xe, rồi phải vất vả lắm mới theo kịp để có thể trả lại nó cho ông.
Lần thứ ba ông giấu nó dưới đệm ghế, và cuối cùng ông cũng thoát khỏi nó.
Chiếc taxi thả ông xuống trước cửa nhà Martine, ông vội vã tiến vào trong, cố gắng hết sức ngăn mình không nhìn khắp con phố bằng ánh mắt sợ hãi, vì ông nhận ra rằng, dù có đang bị theo dõi thì ông cũng chẳng thể nào phát hiện ra. Ông vốn không quen với những chuyện như thế này, và đoán chừng những ai theo dõi ông cũng vậy.
Bà Bachman vẫn vui vẻ chào đón ông như thường lệ, nhưng ông ra hiệu cho bà im lặng và thì thầm. “Tôi phải ở một mình cùng cô ấy. Có chuyện tôi muốn nói với cô ấy. Bà trông chừng dưới chân cầu thang, đừng để bất kỳ ai đến gần chúng tôi.”
Bà gật đầu, luôn sẵn lòng bảo vệ ông chống lại những kẻ ngoài cuộc.
Martine đang ngồi đọc sách bằng các đầu ngón tay, mái đầu cô hơi nghiêng nghiêng, như thể cô đang lắng nghe thay vì cảm nhận.
Cô mặc chiếc váy màu vàng, trên đường viền cổ áo buộc một dải băng đô màu đen, và trên một bên tai, bà Bachman (có lẽ thế) đã gài cho cô một chiếc nơ xinh xắn màu vàng ngộ nghĩnh.
“Allen à?” Cô hỏi, khi tiếng chân ông vang trên ngưỡng cửa. Ánh mặt trời tỏa rạng ngời trên gương mặt cô. Không phải trên gương mặt, mà là từ bên trong, ánh nắng tỏa sáng từ trong ra ngoài.
“Marty bé bỏng của anh,” ông gần như nức nở.
Ông ôm cô trong vòng tay thật lâu, thật chặt, cho đến khi cô nhận ra rằng cái ôm này có gì đó không ổn.
“Chuyện gì vậy, Allen?” Cô vỗ về. “Chuyện gì thế?” Cô vuốt ve những đường nét trên gương mặt ông bằng những đầu ngón tay am hiểu, những đầu ngón tay cho cô biết mọi điều.
“Anh sẽ phải làm em khiếp sợ một chút.”
Cô lại ngồi xuống ghế, tự trấn tĩnh, và ông, vẫn đang siết chặt hai bàn tay cô trong tay mình, quỳ xuống bên cạnh cô, để hai mái đầu sát kề nhau đến nỗi họ chỉ cần thì thầm.
“Phải chăng anh muốn rời bỏ em? Phải chăng em sẽ chỉ còn cô đơn một mình trong bóng tối?”
“Không bao giờ; chừng nào anh còn sống. Đó là lời thề anh tự đặt ra cho mình nhiều năm trước, và anh sẽ không bao giờ làm trái nó.”
“Thế thì chuyện gì…?”
“Có… có kẻ nào đó đang mưu toan cướp em khỏi tay anh.”
“Bằng cách nào? Sao họ có thể?”
“Bằng cách nào ư? Cách duy nhất là gì? Em nghĩ đi.”
“Cái chết,” cô thở hổn hển, khiếp sợ.
“Bằng cách đó đấy,” ông thừa nhận. “Đó là một cách. Cách duy nhất chúng có thể.”
Cô áp mặt vào ngực ông; giật giật ve áo ở vạt trước sơ mi của ông, như thể muốn kéo chúng lại gần hơn, để vùi mình trong đó sâu hơn nữa. Hơi thở của cô gấp gáp và khiếp sợ, và cho dù ông vẫn ôm chặt cô trong vòng tay, cố gắng khiến cô bình tĩnh lại, bất chấp điều đó ông vẫn có thể cảm thấy cô đang run rẩy.
“Không,” ông cứ liên tục van xin, với cái giọng người ta hay dùng với một đứa trẻ đang sợ hãi. “Không. Không. Không.”
“Ngay cả trong bóng tối, cuộc sống còn tốt hơn… là không sống. Tại sao chúng phải cố gắng… cướp đi của em điều nhỏ bé ấy chứ?”
“Không. Không. Không,” ông chỉ nói được có vậy.
“Em có làm tổn thương ai đâu?”
“Là anh làm, không phải em. Và anh chẳng biết mình đã làm cái gì. Nhưng mà…”
“Là kẻ nào?” Cô hỏi.
“Anh không biết. Họ cũng không biết. Anh chưa từng gặp hắn. Họ cũng thế. Kẻ nào đó… không, con quỷ sát nhân nào đó đã từng là người. Nỗi đau bệnh hoạn nào đó cần một cái chết nhân từ. Chắc chắn là thế, còn ai có thể làm tổn thương Martine nữa cơ chứ?”
Lúc này cô đã bình tĩnh lại một chút; vẫn nằm đó vùi mặt vào ngực ông, nhưng đã bình tĩnh lại một chút. Rồi ông tạm rời xa cô, chỉ một lúc thôi; một nút chai thủy tinh bật lên vang như tiếng đàn; rồi ông lại trở về bên cô.
“Uống cái này đi. Xong rồi anh muốn em lắng nghe anh thật kĩ.”
“Cái gì vậy?”
“Chỉ là một ngụm brandy thôi.”
Ông giữ cốc cho cô uống cạn.
“Giờ lắng nghe anh cho kĩ đây. Anh sẽ thì thầm vào tai em. Anh không muốn bất kỳ ai nghe thấy hết. Chờ chút, anh phải đi khóa cửa đã.”
Ông tiến ra cửa và xoay chìa khóa. Ông rút chiếc khăn tay trong túi ra, treo trên núm cửa, che kín bất kỳ hình ảnh nào có thế truyền ra ngoài qua khe hở lỗ khóa.
Xong xuôi ông quay về bên cô, quỳ một gối bên cạnh và áp sát môi vào tai cô.
Lúc này cô bắt đầu gật đầu.
“Vâng, em sẽ làm,” cô lẩm bẩm. “Em tin tưởng anh bằng cả cuộc đời em. Anh chính là cuộc đời em.”
Cô lại gật đầu trong khi ông vẫn đang thì thầm.
“Vâng, em sẽ làm. Em sẽ nghe lời anh. Bất kể là gì. Không, em không sợ đâu. Có anh thì em không sợ.”
Giọng của ông cao lên một chút, khi thông điệp bí mật đã đi đến đoạn kết. Một vài từ rời rạc cũng vang lên rõ mồn một.
“Cơ hội duy nhất của chúng ta… không một ai…không được nói với bất kỳ ai… ngay cả bà B.”
Và cuối cùng ông hôn cô. Hôn lên trán, hôn lên đôi mí mắt, và cuối cùng hôn lên bờ môi, như lời khẳng định quyết tâm của họ, bất kể đó là gì.
“Chúng sẽ không thể có được em, tình yêu của anh,” ông nồng nhiệt nói. “Chúng sẽ không thể làm hại em. Anh sẽ đưa hai đứa mình đến nơi cùng trời cuối đất.”
Cô thận trọng đưa tay lên chải tóc, cô có thể tự mình làm việc đó. Và lạ lùng làm sao, cô luôn làm thế khi đứng trước gương. Như một thói quen. Cho dù đối với cô có gương hay không cũng nào khác biệt gì.
Cô bước đến gần cái ghế, nơi bà Bachman đã chuẩn bị mọi thứ cho cô. Bằng cảm giác cô biết rằng hôm nay bà B đã chọn cho cô chiếc váy len màu đen. Mười đầu ngón tay cho cô biết điều đó. Chẳng phải phi thường gì, bình thường thôi. Cô đã thuộc hết những đường dệt, những nút áo bọc kim loại, hai tay áo, thậm chí là cả cổ áo. Cô thuộc nằm lòng từng bộ đồ - chỉ bằng cách chạm tay, tất nhiên. Duy chỉ có một thứ duy nhất cô không phân biệt được, đó là màu sắc. Bà B đã nói cho cô biết cái váy này màu đen. Cô mặc váy lên người.
Giờ đây cô đã thay đồ xong. Thậm chí cô có thể thoa son môi nếu muốn, và làm việc đó rất giỏi. Nhưng cô không bao giờ dùng son môi. Cô bước đến cửa phòng - không một chút ngần ngừ - mở cửa và bước ra ngoài. Cô tìm đường đến bàn ăn sáng không chút khó khăn, tìm đến cái ghế quen thuộc cạnh bàn, kéo nó ra, ngồi xuống và thưởng thức bữa sáng mà bà B đã dọn sẵn trên bàn.
Mình cô có thể làm được tất cả những việc này.
Cô vươn tay ra lấy ly nước cam, đưa cốc lên môi. Bà B luôn đổ đầy hai phần ba các cốc nước cô uống, như vậy chúng sẽ không bị tràn ra ngoài. Đó là sự nhân nhượng duy nhất giữa hai người trước tình trạng khuyết tật của cô. Đó là vấn đề về lòng kiêu hãnh, mà cả hai đều coi trọng như nhau.
Cô sờ thấy miếng bánh mì nướng và tự phết bơ. Bà B đã chuẩn bị sẵn cốc cà phê cho cô (dù khoản này cũng dành cả cho người sáng mắt), tuy nhiên đích thân cô sẽ cho thêm đường và kem. Hỗ trợ cho cô trong hai quy trình này là cảm nhận tinh tế về trọng lượng và cân bằng. Thật kỳ lạ khi cô có thể nói khá chính xác một cái thìa đựng bao nhiêu đường; rằng đường đang đầy có ngọn hay vừa đủ; rằng bao nhiêu đường đã được đổ ra từ bình, với trường hợp này cô tính được nhờ góc nghiêng của miệng bình trong tay.
Họ nói chuyện rời rạc như cách họ vẫn nói hàng ngày. Bà B đọc cho cô nghe nội dung báo chí buổi sáng. Bữa ăn sáng kết thúc.
Ông đã tìm được (sau rất nhiều nỗ lực) và mua cho cô một chiếc đồng hồ độc đáo tự động rung lên mỗi giờ. Đồng hồ chạy theo giờ châu Âu và giờ quân sự, tiến thẳng đến hai mươi tư giờ đối với giờ buổi tối thay vì trở lại một giờ. Đồng hồ hoạt động rất thông minh, rung lên hai lần thay vì một khi bộ đếm giờ vượt quá mười hai tiếng, do đó thời gian cần đếm không tăng lên quá nhiều. Đồng hồ độc đáo ở chỗ nó là loại đồng hồ để bàn, không phải dạng đồng hồ đứng to uỳnh, ngay cả cô cũng có thể mang theo, từ phòng này sang phòng khác nếu muốn.
Lúc này đồng hồ đã điểm mười lần. Cô đếm. Thế rồi - như thể được đầu mối này nhắc nhở - cô nói với bà B, “Tôi muốn ra ngoài đi dạo, hít thở không khí trong lành. Tôi muốn đi bây giờ thay vì phải đợi đến chiều.”
“Ồ, tất nhiên rồi, thưa tiểu thư,” bà B sẵn sàng đồng ý. Bà liếc ra ngoài cửa sổ; một khoảng sân xinh xắn. “Hôm nay trời nắng rất đẹp đấy ạ.”
“Tôi biết,” Martine nói đơn giản. “Tôi biết mà.” Cô thực sự biết. Không cần phải nhìn ra ngoài cửa sổ.
Hai người chia tay nhau, về phòng mình chuẩn bị. Cô vào phòng ngủ một mình, bước đến chỗ cái tủ lấy hộp trang sức ra. Cô nhét vào trong túi xách vài cái nhẫn gói trong chiếc khăn tay. Chuỗi ngọc trai Tiffany ông tặng được cô đeo quanh cổ. Đường viền cổ áo cô vốn khá cao, hoàn toàn che khuất chuỗi hạt. Cô lấy ra thêm một thứ nữa. Mấy cái móc gài, trâm cài và vòng tay còn lại cô để lại trong hộp. Thấy vẫn còn thời gian, cô lấy bút chì viết vội mẩu giấy: “Những thứ này dành cho cô, Edith. Xin hãy giữ thật cẩn thận mẩu giấy này, như một dạng di chúc.” Cô đặt mẩu giấy vào giữa những gì còn lại trong hộp, đóng nắp lại rồi cất đi.
Có một thứ cô đã lấy ra thì phải có người giúp, cô không thể xoay xở một mình. Chỉ vì cái chốt an toàn phức tạp. Cũng là món quà ông tặng cô, tất nhiên. Vậy nên nó có giá trị tình cảm với cô, dù không thiết thực cho lắm. Giá trị vật chất của món quà cũng chẳng vừa, tuy nhiên đó chẳng phải là thứ cô quan tâm.
Cô gọi bà B vào. “Bà cài hộ tôi cái chốt này với!”
“Ôi, tiểu thư đeo đồng hồ đeo tay kim cương đấy à!” Bà B thở hổn hển.
“Tôi muốn mình đẹp mà,” Martine lặng lẽ đáp. “Ngày hôm nay đẹp như thế. Đúng là ngày đẹp trời.”
Cô có thể đập vỡ nó thành từng viên đá, thả rơi chúng suốt dọc vỉa hè từng viên một, giống những viên sỏi, khi cô bước đi. Bà B hẳn sẽ không can ngăn; cả hai đều biết như thế.
Họ cùng nhau rời khỏi nhà, bàn tay của Martine nằm trong bàn tay người đi cùng. Hai người phụ nữ ăn mặc đỏm dáng, một trẻ, một trung niên; bạn không thể nói chắc được ai mới là người khiếm thị. Và nếu bạn nói chắc được, có thể bạn sẽ tưởng nhầm là người lớn tuổi hơn, vì bà ta đeo kính.
Bà B lặng lẽ nói, “Chào buổi sáng.”
Không có tiếng trả lời, nhưng chiếc mũ được nhấc lên, không tạo ra âm thanh nào.
Thế rồi bước được vài bước, bà B lại nói, “Chào buổi sáng.” Và một lần nữa không có âm thanh nào phát ra.
Nhưng lúc này từ phía sau hai người, từ lúc này trở đi, vọng đến hai tiếng bước chân nhẹ, như một tiếng vọng, một dàn hợp xướng bè trầm bọc kín bước chân của họ.
“Chúng ta đang ở đâu đây?” Martine hỏi.
“Gần góc phố. Chúng ta đang đi quanh khu phố.”
“Đến… đến nơi nào đặc biệt đi. Chỗ này toàn xi măng và bụi bặm thôi. Dạo qua công viên một chút. Từ phố Bảy mươi, theo hướng phố buôn bán.”
Bà B không phản đối.
Martine lại nói. “Chúng ta đến nơi chưa?” Rồi cô lại tự trả lời. “À, đến rồi. Tôi có thể ngửi thấy mùi cỏ và lá cây rồi. Mùi vị thật tươi mát và ngọt ngào đúng không?”
Bà B sung sướng hít hà.
Martine hạ giọng xuống. “Họ còn bám theo chúng ta không?”
Lại xuất hiện những quãng dừng theo từng chặng. Bà B quay đầu lại. “Có đấy. Họ nên làm thế mà, cô biết đấy.”
“Tôi biết mà,” Martine khô khan đáp.
Một lúc sau cô lại nói. “Đến gần tượng Lafayette thì báo cho tôi biết nhé.”
“Gần đến rồi.”
“Bà có chắc chúng ta đang đi theo hướng phố buôn bán, đúng đường xe cộ hay đi không?”
“Tất nhiên rồi, thưa tiểu thư,” bà B vui vẻ. “Tôi dẫn cô đi sai đường làm gì chứ?”
Cô lại hỏi tiếp. “Mười hai giờ chưa?”
Lại dừng theo chặng. “Ba phút nữa.”
“Bức tượng đây rồi,” Martine nói. “Chúng ta đang đứng trước mặt nó, tôi biết điều đó. Mặt đường có thay đổi. Nó bằng phẳng hơn, xung quanh bệ tượng là các phiến đá trang trí.”
Bất ngờ cô nói, “Cùng đi dọc mép vỉa hè đi.”
“Không an toàn đâu, thưa tiểu thư. Xe cộ đầy ra, nhỡ chúng ta bị đâm thì khốn đấy.”
“Cho tôi thử đi.” Rồi cô lại nói, “Đi mà.” Lời nói này thốt ra từ miệng cô, khiến bà B không thể chối từ.
Họ đổi vai cho nhau; giờ Martine đi ở phía ngoài. Bà B quay nhìn phía sau, “họ đang ra hiệu cho chúng ta đi vào trong,” bà thông báo.
Martine nghịch ngợm siết chặt cánh tay bà, trong âm mưu bí mật. “Cứ giả vờ như chúng ta không hiểu. Họ không thể ép chúng ta làm điều mình không muốn, đúng không?”
“Không, tôi không nghĩ vậy,” bà B đồng tình trong hoài nghi. “Nhưng tại sao chúng ta lại không muốn?”
“Có một việc tôi muốn thử,” Martine đáp. “Hồi tôi còn bé có một trò chơi tôi thường hay chơi. Một cách đi bộ. Tôi từng rất thích đi bộ đúng ngay trên mép vỉa hè, và giữ thăng bằng, để xem tôi có bị rơi xuống cống hay không.”
“Ở đây không ổn đâu, tiểu thư.”
“Đúng đấy, ở đây. Tôi muốn nhớ lại cảm xúc đó, từ khi tôi còn bé. Có bà ở bên cạnh tôi cơ mà. Có thể xảy ra chuyện gì chứ? Nhìn này, tôi sẽ nắm chặt tay bà.”
Bỗng một giọng đàn ông vang lên, ngay sau lưng họ. “Cô ấy đang làm gì thế?” Một trong hai người mặc thường phục đã tiến đến gần.
Bản năng làm mẹ của bà B trỗi dậy. “Để con bé yên đi, không được sao?” Bà cộc cằn vặc lại. “Đừng có lúc nào cũng theo dõi con bé như chim ưng thế.”
“Bảo họ lùi lại đi,” Martine thúc giục bằng giọng rầu rĩ.
“Quay về với bạn của anh đi,” bà B ra lệnh không hề nhẹ nhàng. “Đừng bám theo chúng tôi nữa.”
Mùi hương thoảng qua của khói thuốc lá và tính cách cứng rắn vừa xen vào bầu không khí gần gũi của riêng họ (chỉ mình Martine nhận thấy) đã lùi xa. Đó gần như là giác quan thứ sáu.
“Đến mười hai giờ chưa? Mười hai giờ thì tôi sẽ thôi,” cô hứa.
“Như trẻ con vậy,” bà B nói với giọng nghẹn ngào. “Một phút nữa.”
“Tôi chỉ nhớ cái thời đi bộ ngày xưa,” cô rầu rĩ. “Bao năm qua rồi tôi vẫn giỏi trò này. Giờ thì tôi mang giày cao gót, và tôi không còn…” Cô bỏ lửng câu nói. Cô không còn dùng từ “đôi mắt” thường xuyên nữa.
“Tiểu thư, tay cô đang run kìa,” bà B để ý.
“Đó là vì cả cơ thể tôi đang run, tôi đang cố giữ thăng bằng đây. Cũng sắp mười hai giờ rồi.” Bất chợt cô nói bằng giọng hối thúc, như thể chuyện này có liên quan đến chuyện khác. “Tôi yêu bà rất nhiều, đối với tôi bà như một người mẹ; hãy luôn tin rằng tôi yêu bà rất nhiều.”
“Chúa phù hộ cho tiểu thư!” Bà B ngay lập tức hiền từ đáp lại, đầy tình cảm.
Mải tìm khăn tay đưa lên chấm mắt nên bà B buộc phải buông tay Martine, chỉ một lúc thôi.
Một tràng những tiếng rít khi xe rẽ ngoặt vang lên. Rồi đột nhiên, một bóng hình mờ ảo nào đó nhoài ra từ phía trên bậc lên xuống xe ôm chầm lấy cả người Martine, một cánh tay ôm gọn lấy eo lưng cô, một bàn tay nắm chặt lấy bàn tay cô (vốn đang vươn dài ra phố khi cô đang tập “đi trên dây”).
Trong một thoáng, cô cảm thấy chóng mặt khi bị nhấc bổng lên không, cách khỏi mặt đất. Thế rồi cô bị kéo tuột vào trong, hạ cánh xuống chiếc ghế bọc da. Một cánh cửa xe đóng sầm lại. Cô bị mất thăng bằng khi chiếc xe một lần nữa ngoặt gấp ra ngoài.
Bên ngoài, phía đuôi xe, chỉ còn nghe thấy tiếng thét xé ruột của bà B. Đâu đó phía xa hơn, là tiếng quát báo động của một người đàn ông. Tiếp theo là một tiếng nổ chát chúa, như phát súng chỉ thiên từ một khẩu súng ngắn.
Bên trong, là sự im lặng nhất thời. Yên tĩnh. Rung chấn cho cô biết rằng họ đang phóng với tốc độ rất cao, chiếc xe ầm ầm lao đi.
Cô run rẩy vươn tay ra chạm vào gương mặt người đàn ông. Cô thám hiểm gương mặt ấy bằng những ngón tay nhạy cảm, cuối cùng chúng dừng lại trên đôi môi và quẩn quanh ở đây.
Làn môi kia nhẹ nhàng tiếp xúc với bàn tay cô, đặt lên những đầu ngón tay tò mò kia một nụ hôn tinh tế.
Cô thở dài đánh thượt, vô cùng nhẹ nhõm.
“Đúng là anh,” cô lẩm bẩm. “Lúc nãy em còn chưa dám chắc.”
Lúc này ngài Cảnh sát trưởng trông thật chẳng khác gì Thiên Lôi, và ông ta đúng ra phải là người không được phép giận dữ đến mất kiểm soát như thế. Ông ta nhấc bổng cái ghế xoay công sở khỏi sàn nhà, không phải một lần mà là liên tục, rồi quẳng xuống rất mạnh cho đến khi một trong các món trang trí trên ghế long ra và lăn lông lốc. May còn chiếc điện thoại bàn ông không quăng đi nốt vì nó được gắn chặt vào một cái giá. Tương tự là cái bình nước, nó quá nặng không thể nhấc lên được. Nhất là đối với người đang phải đeo nịt giữ thoát vị.
“Lũ ngu xuẩn!” Ông ta rống lên. “Lũ ngu xuẩn! Ngu như bò! Hắn đang mang cô ta đến thẳng chỗ chết. Chúng ta cố gắng cứu mạng cô ta, chúng ta làm như trâu suốt mấy tuần liền, điều động toàn bộ nhân sự có thể tới đó, chỉ để hắn cướp lấy cô ta, mang cô ta đi thẳng đến chỗ chết! Họ sẽ chẳng sống nổi một tiếng đồng hồ đâu! Họ chẳng có cơ hội nào hết! Chúa ơi, giá như hắn ta có mặt ở đây ngay phút này…!” Bằng đôi tay trần ông ta túm chặt lấy các mép ngoài của bàn làm việc, cho đến khi các khớp ngón tay quanh các vết sẹo phẫu thuật trở nên trắng bệch.
Ông ta không chỉ giáng chức hai cảnh sát mặc thường phục bất hạnh chịu trách nhiệm giám sát cô gái, những người đảm trách ca làm việc đặc biệt đó, mà còn chửi mắng cả tổ tông nhà họ, suýt nữa thì giáng thẳng vào mặt họ những cú đấm thật sự nếu không có Cameron giữ chặt lấy cổ tay ông ta.
Giờ thì đến lượt anh hứng chịu con thịnh nộ.
“Cả cậu nữa!” Ông ta rít lên, quay sang anh. “Cậu đang làm cái quái gì thế hả? Cậu đã ở đâu thế hả? Hắn cướp một cô gái mù khỏi tay cậu! Một cô gái mù, giữa ban ngày ban mặt! Mười hai giờ trưa. Cô gái ấy không mù; mà là cậu! Lẽ ra cậu phải nói cho chúng tôi biết là cậu cần một con chó dẫn đường, tôi hẳn đã thu xếp được.”
“Sếp muốn tôi nộp phù hiệu ra đây không?” Cameron kính cẩn hỏi. “Hoặc tôi sẽ đợi cho đến khi có thông cáo báo chí…!”
Câu nói này chẳng thể làm dịu được cơn sóng triều.
“À, một kẻ chạy trốn cũng chẳng khác gì kẻ bất lực! Dễ dàng quá phải không? Cậu cứ việc nằm ườn ra đi… cậu không chỉ là một thằng ngu, mà còn là một thằng ẻo lả nữa đấy!”
“Tôi sẽ không chấp nhận điều đó, thưa sếp, từ bất kỳ ai ngoài…”
Giọng ông sếp cao vút lên thành tiếng thét chói tai. Hay ít nhất là tiếng thét mà một nam ca sĩ giọng trầm có thể lên được. “Ờ, thế thì cậu còn đứng đó làm gì nữa? Muốn nhận được hướng dẫn viết tay nữa à? Muốn tôi dắt tay tiễn ra tận cửa nữa à? Bọn họ đã biến mất hơn một tiếng bốn mươi lăm phút rồi!”
Ông ta giơ cao cả hai cánh tay lên quá đầu, nắm chặt lại thành hai quả đấm, giáng thẳng xuống mặt bàn làm việc tội nghiệp, tạo nên một tiếng rầm vang khắp các hành lang bên ngoài, khiến ai cũng tưởng rằng một đường ống hơi nước nào đó bị thủng.
“Đuổi theo họ! Bắt kịp họ, không cần biết họ đã đi tới đâu! Mang họ về đây! Tôi muốn họ quay về đây, được canh giữ bảo vệ, trước ngày ba mươi mốt tháng Năm!”
Một thoáng chần chừ tai hại thường thấy của Cameron bỗng xuất hiện vào đúng cái lúc không cần thiết nhất.
“Nếu họ đi về phía Tây bằng tàu hỏa, có lẽ tôi vẫn có thể bắt kịp,” anh lắp bắp. “Nhưng nếu họ đi về phía Đông, bằng đường thủy… thì tôi bó tay.”
Bỗng ông sếp lao về phía trước, đến nơi chiếc áo choàng của ông đang treo trên mắc áo. Có lẽ ông ta muốn kiếm một cái khăn tay để chấm mồ hôi trên lông mày. Tuy nhiên, bao đựng súng của ông ta cũng đang treo cạnh đó.
“Thế nên hãy giúp tôi,” ông ta ngâm nga bằng một giọng gấp gáp, giả tạo. “Tôi sắp phải ra hầu tòa vì tội bắn chết một trong các thuộc cấp của mình, trong chính văn phòng của mình!”
Cameron lao vội ra ngoài, không chần chừ thêm dù chỉ một giây.
Giờ họ đã ở trên tàu hỏa. Tự nhốt mình trong một căn phòng trên tàu. Bóng tối luôn bao trùm không còn tĩnh lặng, cân bằng, như cô đã từng quen thuộc nữa; bóng tối ngâm nga như một ngọn gió thấp nhưng không ngừng thổi; bóng tối rền rĩ một lúc, rồi sẽ xuất hiện một sự dịch chuyển trạng thái cân bằng chậm rãi, quanh co. Vòng sang phải. Rồi lại vòng sang trái. Tiếng rền rĩ rồi sẽ chìm xuống, con tàu sẽ tiếp tục chạy trên đường ray thẳng tắp. Có tiếng nhạc cụ nào đó đều đều, liên tục đệm theo, giống như tiếng xúc xắc kêu lách cách trong hộp đựng. Nhưng nó vang lên rất đều, không đổi phách. Có lúc mọi thứ rơi vào thinh lặng, cô những muốn dỏng tai lên nghe; chắc là họ đang đi qua đường hầm. Lúc ấy rất nhiều âm thanh đồng loạt im tiếng, để rồi lại vang lên khi tàu ra khỏi đường hầm.
(Dành riêng cho ta, cô buồn bã nghĩ, nhưng chẳng than phiền gì, cả cuộc sống chẳng khác gì đường hầm; một con đường hầm heo hút, kéo dài bất tận, chẳng có điểm cuối cùng.)
Cảm giác tàu lao đi vẫn còn đó, dù rằng cô không thể nói được rằng nó đang đi tiến hay đi lùi, vì mắt cô không nhìn thấy. Có đôi khi cô trở nên lẫn lộn và nghĩ rằng họ đang chạy lùi, thay vì tiến lên phía trước. Nhưng cô biết, xét từ cách cô ngồi trên tàu, cùng chiều với đường ray, quay mặt cùng hướng với con tàu, rằng cảm giác ấy chỉ là ảo ảnh, là trò đùa của các giác quan. Mọi thứ có hơi đáng sợ, khiến cô có cảm giác “như kiến bò” nhẹ nhàng ở chân.
Cô ngồi đó, tựa đầu vào vai ông.
“Tả cảnh cho em nghe đi,” cô thì thầm.
Cô cảm thấy ông vòng tay ôm lấy mình, bóng tối tan đi một chút rồi lại buông xuống thật nhanh ở chỗ khác.
“Một bình nguyên xanh,” ông nói. “Nhấp nhô lượn sóng. Nó rung rinh một chút khi chúng ta đi qua. Sắc màu cơ bản là xanh, nhưng đậm nhạt khác nhau. Vài chỗ xanh đậm, vài chỗ như phía đằng kia, nơi có những bình nguyên tắm dưới ánh mặt trời thì nhạt màu hơn, như những trái táo.”
“Em biết, em biết. Em hình dung được mà.”
“Lúc này có một con bò đang đứng cạnh hàng rào. Nó đang nghệt ra nhìn đoàn tàu với nét mặt ngu ngơ, khó hiểu; đầu nó nghếch lên quên cả việc gặm cỏ. Da nó màu nâu đỏ, với mấy vệt trắng ở trên trán.”
“Con bò tội nghiệp. Con bò dễ thương. Con bò may mắn.”
“Một con lạch nhỏ vừa vụt qua. Nó trôi qua nhanh lắm. Anh dám cá nó chưa từng trôi nhanh đến thế trong đời. Vù một cái… nó biến mất rồi. Trông nó không giống nước lắm, mà như một cái đĩa bạc, phản chiếu sắc mây trên trời.”
“Em nhớ rồi,” cô nói. “Những con lạch nhỏ thường như thế. Chúng chẳng thay đổi gì cả, đúng không anh?”
“Chúng chẳng thay đổi gì cả. Một ngôi nhà nhỏ màu trắng vừa vụt qua.”
“Em tự hỏi ai sống trong căn nhà ấy? Em cá rằng họ chẳng sợ chết đâu, như chúng ta.”
“Giờ là những cái cây. Chúng có màu xanh rất đậm, ánh mặt trời chiếu xiên qua bóng râm của chúng. Tán của chúng thậm chí còn che lấp cả cửa sổ tàu, tạo thành những cảnh tối sáng, sáng tối…”
Cô vươn tay ra, những đầu ngón tay chạm vào lớp kính. “Có phải em đang chạm vào bóng râm của chúng không?”
“Đúng rồi. Sáng, bây giờ thì tối, lại sáng rồi.”
“Em không biết. Nhưng đúng là cảnh đẹp. Như thể em đang ở ngoài kia chơi với chúng.”
Bỗng có tiếng gõ cửa, tất cả mọi sắc màu đều bị quét sạch trong cơn lốc đen ngòm mang tên sợ hãi.
Bóng tối phủ xuống thật nhanh. Ông đứng dậy, bỏ cô lại một mình. Cô có thể đoán rằng ông đang đứng bên cánh cửa, nhưng không có tiếng mở khóa. Cô biết ông đã rút súng ra, cho dù sợi len trên quần áo ông không tạo ra một tí âm thanh nào.
“Ai đấy?”
“Phục vụ toa, thưa ngài. Tôi mang theo khay thức ăn ngài đã gọi.”
“Nói câu khác đi.”
“Ngài muốn tôi nói gì thưa ngài?”
“Nói ‘mulligatawny’.”
“Mulli-gaw-tanny.” Giọng nói vọng vào qua cửa.
Cô gật đầu với ông; cho dù cô không thể trông thấy, cô chắc chắn ông đã gật đầu đáp lại cô.
“Gõ cái gì đó vào khay, cho nó phát ra tiếng đi.”
Vọng vào là âm thanh va chạm yếu ớt giữa đồ sứ với đồ sảnh.
“Đặt khay xuống sàn, ngay cạnh cửa.”
Ngưng lặng một lúc. “Đặt xuống rồi, thưa ngài. Ngay ngắn trên sàn.”
“Giờ đi đến cánh cửa phía cuối lối đi, bước ra ngoài, cho tôi nghe thấy tiếng đóng cửa thật mạnh sau lưng cậu.”
“Tiền thừa của ngài, thưa ngài. Ngài được trả lại mười lăm đô la từ hai mươi đô la ngài đưa cho tôi qua khe cửa lúc nãy.”
“Cứ việc giữ lấy. Tôi muốn nghe thấy tiếng đóng cửa thật to và mạnh.”
Tiếng đóng sầm cửa vọng đến cả nơi họ đứng.
Khi đó, và chỉ khi đó, ông mới mở khóa cửa phòng.
Cô thức dậy với những âm thanh lạ lùng của một thành phố xa lạ trong tai. Cô mở mắt; xung quanh vẫn là bóng tối, nhưng đôi mắt cô vẫn bật mở. Mở mắt là bản năng.
Những tiếng ồn, những âm thanh của thành phố, cho cô biết nhiều điều hơn những người khác. Đối với họ, tiếng xe cộ ở đâu mà chẳng như nhau. Nhưng đối với cô…
Tiếng xe cộ vang lên sắc nét, giòn tan, cho cô biết rằng không khí rất lạnh. Tiếng xe cộ rít lên đinh tai cho cô biết đây là nơi có địa hình đồi núi, các phương tiện giao thông phải leo dốc và phải dùng phanh khi xuống dốc. Thi thoảng những chiếc xe điện lại rít lên ken két khi rẽ ngoặt. Bầu không khí có ý vị, sự náo nức, sự sống động nhất định. Nó thôi thúc bạn muốn làm nhiều thứ; muốn hoàn thành nhiều thứ. Cô không tưởng tượng được họ rồi sẽ lang thang khắp các con phố như những kẻ vô công rồi nghề; cô không tưởng tượng được họ là những kẻ chán nản hay tuyệt vọng. Cô chỉ biết đó là vẻ đẹp của một thành phố.
San Francisco, người ta gọi nó như thế.
Vậy là cô đã được thấy San Francisco, cũng như bao nhiêu người khác, và hơn một số người. Mát mẻ, nhiều đồi núi, trong lành và sôi động.
Cô đã được thấy San Francisco, nhưng cô không thể biết chắc cô có đang ở một mình trong phòng ngủ khách sạn này không.
“Allen,” cô dịu dàng nói. “Allen, anh có đang ở đây với em không?”
Không nghe thấy tiếng thở nào, ngoài tiếng thở của chính cô.
Việc chỉ có một mình trong phòng ngủ ở một thành phố xa lạ khiến cô hoảng sợ đôi chút. Nhưng cô nhanh chóng ép mình phải bình tĩnh, không hoảng loạn gào khóc tên ông, như bản năng đầu tiên thôi thúc cô làm thế.
Rồi anh ấy sẽ sớm quay về. Anh ấy chẳng đi xa đâu, không lâu đâu. Anh ấy sẽ không làm thế với mình. Mình tin ở anh ấy.
Cô tìm thấy chiếc áo choàng rộng bằng lụa dưới chân giường bèn mặc nó vào và xuống giường. Cô đưa một chân xuống sàn, thành một vòng tròn, như thể đang luyện một bước nhảy khi đang ngồi, và xỏ vào đôi dép đi trong nhà.
Cô đứng dậy và thận trọng di chuyển quanh phòng. Cô thấy một cánh cửa liền mở ra. Những âm thanh ồm ồm từ phía xa vẳng đến tai cô. Đó là cửa ngoài. Cô nhanh chóng đóng nó lại. Cô thấy một cánh cửa khác liền mở ra. Một sợi dây xích đính cườm cù cù vào mũi cô, ống tay áo buông thõng của một chiếc áo khoác lười nhác chạm vào tay cô. Đó là phòng chứa đồ. Cuối cùng cô tìm thấy cánh cửa thứ ba, các ngón tay cô cảm thấy mát lạnh và trơn trượt. Bên trong có gắn một tấm gương.
Cô định sẽ tắm một chút. Nhưng tốt hơn là cô không nên làm thế. Các trang thiết bị trong buồng tắm đều mới mẻ với cô, và cô có thể khiến mình bị bỏng nặng. Nếu là ở nhà thì cô sẽ biết đâu là chiều nóng đâu là chiều lạnh.
Lúc nào nguy hiểm cũng vây quanh cô, nhưng suy nghĩ ấy chẳng bao giờ xuất hiện trong đầu cô. Cô không bao giờ có thiên hướng thương hại bản thân. Không cần biết bạn bị cướp đi bao nhiêu thứ, những gì bạn có vẫn nhiều hơn.
Cô quay về căn phòng chính, tự mặc quần áo.
Một chiếc chìa khóa xoay trong ổ, cánh cửa ra vào bật mở.
“Dậy rồi à em yêu?” Ông nói.
Nhưng có ai đó đi cùng ông. Âm thanh sột soạt cho cô biết điều đó.
Cô vẫn đứng im, ngoảnh nhìn ra chỗ khác. Ông đã cảnh báo cô rằng nếu có thể, đừng bao giờ cho người khác biết mình bị mù. Nếu có người biết cô vô dụng đến vậy, nguy hiểm đối với cô sẽ tăng lên; đến nỗi cô cho rằng đó là điều ông sợ hãi. Và chỉ khi cô nhìn thẳng vào người khác, họ mới đoán được, còn nếu không thì họ không thể.
“Đặt nó ở đấy đi,” ông nói.
Rồi ông lại nói, “Mà thôi, để tôi tự làm.”
Đồng xu kêu leng keng. Cánh cửa đóng lại. Chỉ còn mình họ trong phòng.
“Được rồi, Marty,” ông nói. “Anh ta đi rồi.”
Cô bước đến bên ông, biết thừa ông đang đứng ở đâu, và đáp lại nụ hôn của ông bằng nụ hôn của mình, ông ôm lấy cô trong vòng tay mình một lúc.
“Anh có mang ít cà phê cho em,” ông nói. “Ở đây có cái bàn nhỏ anh ta vừa dọn ra.”
Họ ngồi xuống bên nhau.
“Cẩn thận, em yêu, ông nói. “Mấy viên đường có vỏ bọc ngoài.”
“Em biết,” cô đáp đầy bao dung, “em làm được mà.”
“Trông em mới đẹp. Mới đáng yêu, tươi tắn và ngọt ngào làm sao.”
“Tóc em có ổn không? Có mấy chỗ em không sờ tay vào được, thế nên em toàn phải đoán.”
“Tuyệt vời.”
Cô nghe thấy tiếng quẹt diêm, ngửi thấy mùi khói thuốc của ông. “Anh đã mua vé cho chúng ta,” ông hạ giọng, “đi tàu biển. Anh không nghĩ chúng ta nên ở lại mãi, ngay cả ở đây. Liệu em có sợ… phải rời bỏ quê hương cùng anh sang bên kia đại dương không?”
“Không,” cô đáp, gần như không nghe thấy. “Giờ anh chính là quê hương của em.”
Ông tiếp tục hạ thấp giọng. “Tàu khởi hành ngày mai, vào buổi trưa. Nhưng anh đã thu xếp cho chúng ta lên tàu vào tối nay, khoảng chín hay mười giờ. Chúng ta có thể để phòng khóa cửa suốt đêm. Bằng cách đó sẽ chẳng ai nhìn thấy chúng ta lên tàu vào ban ngày. Chúng ta sẽ ở yên trong khách sạn này cho đến sau khi trời tối. Visa của chúng ta được gửi qua đường bưu phẩm hàng không, và anh vừa nhận được chúng rồi. Lát nữa một bác sĩ sẽ lên đây tiêm cho em mấy mũi phòng bệnh tả. Anh sẽ nắm tay em. Em sẽ không sợ hãi, đúng không?”
“Anh sẽ nắm tay em,” cô hứa với ông, “và em sẽ không sợ nữa.” Như thể cô mới chính là người trấn an ông, thay vì ngược lại.
Cô hỏi ông, “Có phải đêm qua em ở một mình trong phòng không? Điều cuối cùng em nhớ là anh đang ngồi trên ghế. Và em ngủ thiếp đi.”
Cô nghe thấy nụ cười dịu dàng trong giọng nói của ông; phải, nghe thấy, đúng là từ đó. “Thế em nghĩ anh dám bỏ mặc em một mình trong phòng, ở một thành phố xa lạ, sau khi đã mang em tới đây sao? Không, anh ngủ ngay ở đây với em. Chiếc sofa mở rộng ra sẽ thành cái giường ngủ. Nhưng rất khó để không gây tiếng động; mấy cái lò xo kêu rõ kinh. Ngủ dậy anh cũng tự mình dọn dẹp, mang thêm gối vào giường mà không đánh thức em. Chúng ta sống như vợ chồng mà, em biết đấy.”
Cô suy nghĩ một lúc, khẽ mỉm cười. “Trong giờ phút sinh tử thế này mà anh vẫn để tâm tới chuyện cư xử đúng mực ư?”
“Thái độ đúng mực luôn khắc trong tâm,” ông nói. “Hai con người có thể cách xa nhau cả ngàn dặm, nhưng vẫn chẳng giữ được mình. Thế mà hai con người ở chung một phòng ngủ, như chúng ta đêm qua, lại vẫn trong sạch.”
Ông nắm lấy bàn tay cô. “Martine này,” ông nói, “ngày nào đó anh muốn cưới em khi chuyện này kết thúc và chúng ta lại an toàn. Lần này em sẽ cho phép anh chứ, em sẽ muốn có anh chứ? Chúng ta đã bỏ phí mất bao nhiêu năm tháng qua. Louise hẳn sẽ rất vui sướng.
“Vâng,” cô dịu dàng đáp. “Lần này em muốn anh cưới em. Giờ em sẵn sàng rồi.” Và cô nói thêm. “Nếu em còn sống.”
“Em sẽ sống,” ông nói giọng khàn khàn. “Ôi, anh xin thề rằng em sẽ sống. Dẫu anh có phải đưa em đi đến tận cùng trái đất. Dẫu anh có phải liên tục cùng em chạy trốn đến hụt hơi.”
Khoảng ba giờ chiều, chuông điện thoại reo vang. Trong một khoảnh khắc lòng cô ngập tràn nỗi sợ hãi, và cô biết cả ông cũng vậy, căn cứ vào cách ông chần chừ, không nhấc máy ngay lập tức.
Thế rồi, khi trả lời điện thoại, cô biết rằng ông vẫn còn sợ, qua giọng nói trầm trầm, cảnh giác của ông.
“A lô?” Ông nói và lắng nghe. Rồi ông thở ra một hơi nhẹ nhõm. “Vâng, tất nhiên rồi,” ông nói rồi gác máy.
“Bác sĩ đang trên đường lên đây,” ông nói với cô.
“Em quên béng mất ông ta!” Cô thốt lên.
“Anh cũng thế,” ông thừa nhận.
Chỉ còn ba hay bốn phút chờ đợi nữa. Cả hai đang cực kỳ căng thẳng.
“Dường như ông ta phải mất khá lâu mới lên được đây,” ông nhận xét.
“Có khi ông ta phải đợi thang máy.”
Cô nghe thấy tiếng ông bước ra cửa, mở nó ra và biết chắc ông đang trông ngóng nhìn ra ngoài. Ông đóng cửa lại, quay vào phòng.
Những đồng xu reo vang, như thể ông đang thọc một tay vào túi, sốt ruột lắc các đồng xu.
“Anh sẽ tìm hiểu xem đã xảy ra chứ…” ông nói với giọng bất lực và lao đến bên chiếc điện thoại. Cô nghe tiếng ông nhấc máy.
Đúng lúc đó, tiếng gõ cửa muộn màng vang lên.
Cô bước nhanh vài bước, sờ thấy một cái ghế, liền ngồi xuống; tay cô siết chặt lấy nó như thể đang cực kỳ căng thẳng, giữ chắc mặt dưới cái ghế ở cả hai bên.
“Ông ta có biết không? Anh có nói với ông ta không?” Cô thì thầm.
“Anh phải nói. Bằng không ông ta sẽ bắt em phải đến chỗ ông ta, thay vì ông ta đến đây.”
Cánh cửa bật mở.
“Tôi đã lên nhầm tầng…” một giọng vang vang cất lên.
Cô nghe thấy Ward nín thở.
“Ô… cậu là người khác.”
“Tôi đến thay thế cho bác sĩ Conroy. Ông ấy mới nhận ra là mình không thể đến được. Ngài biết vì sao mà, ông ấy còn cả đống chuyện cần giải quyết.”
Ward không trả lời.
Tuy nhiên, cậu bác sĩ thực tập chắc đã thấy nét hoang mang trên gương mặt ông. Khi lên tiếng lần nữa, giọng cậu ta cứng nhắc, “Tôi cũng có kinh nghiệm đi tiêm mấy ca thế này như ông ấy. Thực ra chẳng có gì đâu. Đây là chuyên môn của tôi mà.” Tiếp theo là những lời quở trách nhẹ. “Ngài biết đấy, theo quy tắc chúng tôi không làm thế này. Ngài phải đến chỗ chúng tôi tiêm như những người khác. Chúng tôi đã ngoại lệ cho trường hợp của ngài rồi, do hoàn cảnh cả thôi.”
“Tôi biết ơn vì điều đó,” Ward trả lời ngây thơ quá (cô nghĩ). “Mời bác sĩ vào.”
Cánh cửa đóng lại. Sức nặng của túi da ép xuống chiếc ghế, làm nó kêu cót két.
“Là quý cô này à?”
Bàn tay cô dưới ghế như càng siết chặt hơn.
“Vâng, thưa bác sĩ, đây là vợ tôi.”
“Chào anh,” cô nói, nhìn thẳng về phía giọng nói vừa cất lên. Cô hẳn đã khiến cậu ta lúng túng. Cậu ta phải tiến đến gần hơn, hoa tay trước mặt cô, kiểm tra xem cô có bị mù thật hay không.
Cô nghe tiếng Ward khẽ nói, “Cậu không tin tôi sao, bác sĩ?”
“Xin lỗi ngài,” tay bác sĩ đáp tỏ vẻ ăn năn. Như thể cậu ta làm gì sai. Tiếng chốt khóa mở lách cách. Cậu ta trở lại phong cách chuyên nghiệp cứng nhắc. “Ở đây có nước nóng không? Tôi muốn rửa tay trước.”
Cậu ta rời khỏi phòng. Ward tiến đến gần hơn, choàng tay qua vai cô, kéo đầu cô lại gần một lúc, như thể muốn truyền can đảm cho cô.
“Không sao mà,” cô thì thầm. “Em không sợ. Không hề sợ.”
Tiếng bước chân của tay bác sĩ quay lại. Ward bước xa khỏi cô. “Bác sĩ, tôi muốn được tiêm trước.” Chắc ông phải xắn tay áo lên.
“Tôi hiểu,” tay bác sĩ nói. “Nhưng ngài không nghĩ là sẽ tử tế hơn khi không bắt bà nhà phải chờ sao?” Cô không thể biết được liệu cậu ta có ra hiệu gì cho ông, ngụ ý rằng cậu ta sẽ tiêm thật nhanh, không để cô phải chờ trong sợ hãi hay không. Hay liệu Ward có gật đầu đồng tình hay không.
“Đưa tay cho anh nào, em yêu,” Ward dịu dàng nói. Lúc này cô đã thả lỏng cánh tay, nhưng khi ông siết nhẹ cánh tay cô, cô lại cảm thấy căng thẳng. Hai ống tay áo của cô gần như không tồn tại. Chất liệu cotton ẩm ướt, mát lạnh chạm nhẹ vào da. Cô chỉ có đủ thời gian để tự hứa với mình, “Mình sẽ không để lộ bất kỳ điều gì.” Rồi cơn đau nhói bất ngờ truyền đến. Không đau nhiều lắm, dường như chính sức mạnh của cú đâm mới là thứ khó chịu đựng hơn. Như thể cậu ta đã mạnh tay quá mức cần thiết, cho dù có lẽ không phải vậy, mà là bản thân việc này phải làm như thế.
Rồi cơn đau thứ hai, đi theo chiều ngược lại. Tiếp tục là sự va chạm dễ chịu với lớp vải cotton, lần này còn vương mãi. “Giữ nguyên thế này mấy giây nhé.”
“Em có để lộ cái gì không?” Cô thì thầm đầy khoe khoang với Ward, khi ông cúi người xuống lo lắng, hôn lên trán cô một lúc.
Tiếp theo đến lượt Ward. Cô nghe thấy ông bất ngờ thét lên vì đau như trẻ con. Cô tự hỏi phải chăng ông cố tình làm thế, để cô nghe thấy, như một lời khen ngợi tinh tế sự can đảm của cô. Hoặc giả, nhiều người đàn ông có khả năng chịu đựng đau đớn về thể chất đáng nể, nhưng lại rất sợ đau. Dù có là gì, cô cũng yêu điều đó ở ông.
“Ngài còn yếu hơn cả cô ấy kìa,” tay bác sĩ cười khúc khích. Cô khẽ cười. Ward có thể vừa nháy mắt với cậu ta. Có lẽ đó là kết quả ông muốn đạt được. “Giờ tôi chỉ cần ký cái này thôi, của ngài hết đấy. Ngài sẽ phải trình cái này ra trước khi lên tàu.”
Cánh cửa đóng lại, tay bác sĩ đã ra về.
Nỗi sợ hãi cả hai cảm thấy vẫn nấn ná một cách lạ lùng; nó chẳng hề tan đi ngay cả khi tay bác sĩ đã ra về được mười phút.
Ông đang ngồi trên tay ghế của cô, vòng tay quanh người cô. “Em thấy thế nào?” Ông hỏi. “Giờ em còn cảm thấy gì không?”
Cô không trả lời câu hỏi. Như thể cô không nghe thấy.
Ông cầm lấy tay cô. Ngay khi chạm vào, ông chợt thét lên sợ hãi. “Chuyện gì thế này? Martine! Tay em lạnh như băng thế này.” Ông đứng bật dậy khỏi tay ghế, nhưng không buông tay cô ra. Thế rồi ông cứ đứng bất động, như thể cũng ý nghĩ ấy đánh gục ông, không cần biết nó từ người cô truyền sang hay tự nó sinh ra.
“Em có đang nghĩ giống anh không?”
“Em e là thế,” cô nhăn nhó, cố gắng kiểm soát những cơn rùng mình căng thẳng chạy khắp người. “Rằng hắn… Rằng có thể hắn đã…”
“Anh cũng thế,” ông khổ sở thừa nhận. “Giờ thì tất cả đã quá muộn.”
Và giờ họ đã lên tàu, đang băng qua vùng biển sâu, băng qua một đại dương giữa hai thế giới. Bóng tối vĩnh hằng vẫn bao phủ xung quanh cô, nhưng kèm theo đó là cảm giác về sự mênh mông, trống trải và xa xôi. Không khí toát lên mùi muối và i-ốt. Có tiếng xùy xùy nào đó rất to nhưng êm tai không ngừng vang lên ngoài cửa sổ, như thể nước phụt ra từ vòi phun nước trong vườn. Từ hướng ngược lại, phía trước cửa ra vào, đôi khi vì cẩn thận nên cửa không khóa và được mở ra một lúc, phả vào cái mùi mằn mặn của thảm trải sàn hành lang bằng cao su. Và có lúc, tuy không thường xuyên, cô nghe thấy đồ nội thất bằng gỗ phát ra tiếng kêu ken két. Trên hết là chuyển động chậm rãi, lắc từ bên này sang bên kia. Rất êm ái, thảnh thơi, không hề đột ngột. Bạn sẽ sớm quen dần với nó, và quên mất rằng mọi thứ còn diễn ra theo cách khác: cực kỳ cứng nhắc, kiên định và tĩnh tại. Cho đến giờ thì vẫn thấy dễ chịu. Bạn để mặc cơ thể chuyển động, nhẹ nhàng tiến lên, rồi nhẹ nhàng lùi lại; như thể đang ngồi trên một chiếc xích đu rất nhẹ nhàng, êm ái như ru ngủ.
Và luôn có Allen, luôn ở bên cô, gần như không phải biết rằng có một người phụ nữ đang ở trong phòng này cùng ông, có quá đủ bằng chứng thầm lặng về điều đó mỗi ngày. Tuy nhiên, cô ta chẳng bao giờ bận tâm đến điều đó. Cô ta không thể mô tả cô. Trên hết, cô ta không thể ngờ rằng bóng ma được nhắc tới ấy bị mù lòa. Không một ai trên con tàu này biết. Ông đưa cô lên tàu giữa đêm hôm khuya khoắt; và từ đó trở đi chẳng có ai trông thấy cô, ngoài ông.
Thậm chí cô còn không thể thuyết phục ông rời khỏi phòng một mình; đi lên boong thư giãn, hít thở không khí trong lành. Ông không chịu rời khỏi cô một tích tắc nào hết. “Không,” ông ngoan cố nói, “cho đến sau khi… cái ngày ấy qua đi.”
Cô biết ông nói cái ngày ấy nghĩa là gì. Cô không cần phải hỏi thêm.
Ông có mang theo chiếc đài nhỏ chạy pin, mua tại San Francisco ngay trước khi đi; ông đã khôn ngoan ngụy trang cái đài thành một món hành lý. Một phương tiện giúp họ giết thời gian.
Thời tiết đang dần trở nên ấm hơn, và họ đã tới Honolulu. Cô thức dậy, con tàu đang đứng bất động. Cô nhớ những cái dập dềnh dễ chịu ấy. Cô nghe thấy nhiều tiếng giậm chân ở ngoài hành lang, khi hành lý và hành khách được đưa lên tàu. Sau khoảng mười lăm phút hoặc hơn mọi thứ dần ổn định trở lại. Con tàu của họ vẫn đứng yên, hòa cùng sự tĩnh lặng đến lạ lùng của những con tàu khác tại bến cảng. Giống như… cái chết. Hoặc như đang đợi chờ điều gì đó xảy đến.
Cả hai đều căng thẳng và bị kích thích hơn cả khi lênh đênh trên biển. Nguy hiểm đã đẩy con tàu tới đây. Nguy hiểm là chiếc cầu tàu đang nhô ra khỏi bờ biển để đón tàu. Nguy hiểm là cây cầu có thể băng qua để lên tàu.
Cuối cùng nguy hiểm ảnh hưởng đến ông. “Anh khó chịu lắm,” ông thừa nhận. “Anh sẽ lên đó một chút và để ý xung quanh. Anh không chịu được tình cảnh này. Anh sẽ không đi xa đâu, sẽ quay lại ngay thôi.” Lần này ông để lại khẩu súng cho cô, thay vì mang theo người.
Ông khóa cửa lại sau lưng, mang chìa khóa theo.
Cũng nhân lúc này ông làm một vòng tham quan tàu.
Chỉ một lúc sau cô đã nghe thấy tiếng chìa khóa gấp gáp tra vào ổ. Ông đã quay về.
Cô có thể đoán được rằng ông đang hốt hoảng.
“Chuyện gì thế?”
“Các sĩ quan cảnh sát Hawaii,” ông thì thầm. “Họ đã lên tàu và đang vào từng cabin một để tìm em. Cameron chắc đã đánh điện tín cảnh báo từ đất liền.”
“Chúng ta phải làm gì bây giờ? Giờ chúng ta bị mắc kẹt ở đây rồi. Em trốn đi đâu được đây?”
“Em không thể trốn được. Chẳng ích gì đâu. Tên cả hai chúng ta đều nằm trong danh sách khách đi tàu, điều đó phải được tính đến.” Ông vô thức rà ngón tay lên tóc, liếc mắt về phía cánh cửa. “Chúng ta không còn nhiều thời gian nữa. Họ đã đến đầu kia hành lang rồi, đang đi xuống phía này. Nhân viên phục vụ có thể sẽ tiết lộ hết. May là anh vừa đụng cậu ta ở ngoài kia nên đã hối lộ cậu ta, vì dù sao cậu ta cũng là một gã nói nhiều.”
“Vậy thì khi họ trông thấy em…”
“Không,” ông nói. “Họ không thể mô tả chính xác về em được. Cameron chắc chắn đã tính đến việc chúng ta có thể ngụy trang. Họ không biết em trông ra sao đâu. Tay phục vụ cho anh biết rằng cậu ta nghe lỏm được họ thừa nhận như thế với các sĩ quan. Họ chỉ đang dựa vào một manh mối chính; chắc anh ta nghĩ rằng như thế đã là đủ, rằng chúng ta không có cách nào giải quyết rắc rối này. Họ đang tìm một người đàn ông và một phụ nữ khiếm thị đi cùng nhau. Họ còn không biết chắc chúng ta lên tàu nào, có thể là bất kỳ con tàu nào đang đỗ ở đây ngay lúc này. Họ đang lục soát từng con tàu tiến vào đây trong hai mươi tư giờ qua. Thế nên chúng ta vẫn còn cơ hội.”
Ông đấm vào lòng bàn tay bên kia như một vận động viên bóng chày đau khổ.
“Họ phải nhìn thấy em, nhưng họ không được phép biết rằng em bị mù.”
Cô đứng dậy, quyết tâm đến bất ngờ. “Họ sẽ không biết được đâu!”
“Em làm được không?” Ông nghi ngờ hỏi.
“Vì anh,” cô đáp, “em có thể làm bất kỳ điều gì. Chỉ cần được ở bên anh… Để ngăn họ đừng cướp em khỏi tay anh. Nhanh lên! Anh phải giúp em. Anh có thấy mặt tất cả bọn họ không? Có nhiều thứ em phải biết.”
“Cậu nhân viên phục vụ đã chỉ mặt họ cho anh đúng lúc họ bước vào hai căn phòng, anh đã có cơ hội liếc qua rồi.”
“Vậy thì có vài thứ anh phải nói cho em biết. Và phải chắc chắn vì anh sẽ không đủ thời gian kiểm tra lại và cho em biết đâu. Đầu tiên, có bao nhiêu người?”
“Họ có hai người, kèm theo hai cảnh sát, nhưng hai người này sẽ không bước vào phòng.”
“Còn hai người bước vào?”
“Một trong số họ là người Hawaii, da sạm nắng, lùn, người to bè. Người còn lại là người Mỹ gốc Anglo-Saxon, cao, tóc vàng nhạt. Anh có để ý rằng da anh ta hơi tróc ra vì nắng.”
Cô hối hả lao đến gần ông, hai tay nắm chặt lại. “Giọng nói của họ, nhanh lên… để em có thể định vị họ.”
“Người Anglo-Saxon có giọng trầm. Gần như thế này…” Ông hạ giọng xuống. “Người kia giọng cao hơn đáng kể, hệt như tiếng sáo ấy.”
“Quần áo của họ nữa, nhanh lên!”
“Tay sĩ quan bản xứ mặc toàn đồ trắng. Sạch bong. Người kia mặc áo xám, khá nhăn nhúm. Anh ta dường như đổ mồ hôi rất nhiều, không quen với cái nóng.”
“Anh ta lấy khăn tay ra lau mặt à?”
“Phía sau gáy.”
“Vậy thì anh phải hắng giọng khi thấy anh ta làm như thế ở đây. Chỉ lần đầu tiên thôi, không có lần sau nhé. Giờ thì cà vạt.”
“Người Hawaii đeo cà vạt màu xanh lá lòe loẹt. Người kia anh không để ý.”
“Vậy thì chắc là màu trầm. Họ có hút thuốc không? Thuốc gì?”
“Người lùn thì không. Tay người Mỹ đổ hết tàn thuốc trong tẩu ra trước khi bước vào căn phòng khác, anh thấy anh ta nhét nó vào túi áo ngực đi lên đây.”
“Cán tẩu thò ra ngoài phải không?”
“Cán tẩu thò ra ngoài.”
Có tiếng xì xầm khó phân biệt ngay ngoài cửa, như thể vài người đang tụ tập ở chỗ này.
“Em có thể làm gì trong tình huống này không?”
“Em sẽ làm,” cô hứa. “Em phải làm. Giúp em; lấy hết đống mỹ phẩm trong cái túi du lịch mà em chưa từng dùng ra đây, đặt chúng lên bàn trang điểm này.”
“Em định làm gì?”
“Trang điểm. Như thế em sẽ ngồi mãi một chỗ, đôi mắt em tập trung nhìn vào một điểm, là cái gương.” Cô ngồi xuống.
Ngoài cửa đã vang lên tiếng gõ.
“Em có vượt qua được chuyện này không?” Ông nín thở. “Giả sử em cầm sai một món đồ trang điểm nào đấy, hoặc em tô quá đậm một chỗ chẳng hạn?”
“Các ngón tay của em đã thuộc hết các chai lọ và cọ chì rồi. Đàn ông không thấu hiểu được những điều tinh tế của nó đâu. Phụ nữ thì có thể nắm bắt được, nhưng đàn ông thì không.”
Tiếng gõ cửa thứ hai vang lên, khẩn thiết hơn.
“Đừng sợ hãi, tình yêu của em,” cô thì thầm. “Cứ làm việc của anh thôi, em sẽ không làm anh thất vọng đâu. Cứ quên em đi; em là Louise, hoặc bất kỳ ai khác.” Cô đang truyền cho ông lòng can đảm! Cô bất ngờ cao giọng lên, thành cái giọng the thé mà ông chưa từng nghe. “Joe!” Cô rền rĩ, như thể đang gọi ông từ phòng tắm liền kề. “Ai đang gõ cửa kìa! Ra xem hộ cái được không?”
Cánh cửa bật mở. Cô hít một hơi thật sâu, ngước mắt lên nhìn vào bóng tối không thể xuyên qua, và thận trọng bắt đầu thoa đầu ngón tay xinh xắn của mình lên môi trên, rồi bặm môi lại, liếm bằng lưỡi, rồi lại thoa lần nữa.
Một giọng nam cao vang lên, “Ngài Breuer?”
Allen đáp, “Vâng?”
“Xin lỗi đã quấy rầy ngài. Chúng tôi là cảnh sát Honolulu. Chỉ là kiểm tra hành khách thôi.”
“Xin mời vào,” Allen nói. Một chiếc ghế khẽ kêu lên răng rắc. Chiếc ghế thứ hai còn kêu to hơn thế.
Một giọng rất trầm, từ chiếc ghế thứ hai, vang lên, “Hai người là ông bà Joseph Breuer?”
“Vâng.”
“Hai người khởi hành từ San Francisco?”
“Vâng.”
“Điểm đến của hai ông bà là…?”
“Trước tiên là Yokohama. Tiếp theo chúng tôi có thể tới…”
Không khí im lặng đột nhiên bao trùm. Họ đang ngắm cô bằng ánh mắt e dè thường thấy của đàn ông. Cô gắn một miếng mica nhỏ hình trăng lưỡi liềm, mô phỏng gần giống một nửa kính áp tròng, thận trọng gắn vào dưới lông mi một bên mắt, và cẩn thận bôi đen bằng cây cọ chổi nhỏ nhắn.
“Hút thuốc nhé?” Cô nghe thấy Allen mời.
Không để hai người kia có thời gian trả lời. “Đừng bao giờ mời người dùng tẩu hút thuốc, Joe. Anh đang phí hơi đấy.”
Allen thở hổn hển ấn tượng. “Sao em biết người này dùng tẩu?”
“Tận đây em cũng thấy được cái cán tẩu thò ra từ túi áo ngực kìa.”
Có một khoảng lặng, trong khi anh ta chắc đang nhìn xuống túi áo ngực của mình, ngạc nhiên xác nhận.
Bất ngờ cô lên tiếng, như thể nói thông qua tấm gương. “Hai sếp ra ngoài đi tuần thế này cũng chưa lâu đâu nhỉ?”
Giọng trầm đáp, “Thực ra là, đúng vậy. Sao bà biết?”
“Tôi có thể thấy làn da của ngài vẫn còn nhạy cảm với nắng.”
“Bà rất có óc quan sát đấy, thưa bà.”
Allen hắng giọng một chút.
Cô khẽ quay đầu lại, hướng về phía người ngồi trên ghế thứ hai. “Tôi không thấy ngài lau mồ hôi trên cổ,” cô hài hước nói. “Có vẻ ngài chịu nóng giỏi hơn anh bạn đồng nghiệp đây. Tại sao sếp kia không mặc đồ trắng như ngài?”
“Để trông như một bình sữa ư?” Giọng trầm từ phía bên kia càu nhàu vang lên khá rõ.
“Tôi cũng thấy ngài là người bản xứ nhờ chiếc cà vạt lòe loẹt ngài đang đeo,” cô nói tiếp. “Khí hậu nắng nóng, cà vạt cũng màu nóng.”
Gần như ngay lập tức, như thể lời nhận xét đã tạo ra một ấn tượng nào đó, cô nghe thấy hai người họ đứng dậy. “Đi thôi,” người này thì thầm với người kia. Người nói là một trong hai người cảm thấy chán nản, khó chịu khi biết rằng họ vừa phí thời gian.
Allen dẫn họ tiến ra cửa. “Hai sếp có đang tìm kiếm người nào đặc biệt không?” Cô nghe thấy ông hỏi khi chuẩn bị đóng cửa sau lưng họ.
“Vâng. Một phụ nữ mù lòa. Chúng tôi được lệnh canh giữ để bảo vệ bà ấy.”
“Joe,” cô ngọt ngào gọi với theo, từ trong phòng ngủ, “nói với quý ông đây biết ngài ấy vừa đánh rơi băng cao su từ cuốn sổ tay kìa.”
Những bước chân lại tiến đến một trong hai chiếc ghế, rồi dừng lại…
“Cảm ơn rất nhiều thưa bà, nó đây rồi, tôi thấy rồi”. Rồi họ rút lui; cánh cửa đóng lại, chìa khóa được tra vào ổ.
Allen lao bổ đến bên cô, một đầu gối quỳ sụp xuống, ngón tay ông nâng cằm cô lên. “Làm sao em biết được?” Ông kinh ngạc. “Làm sao?”
“Em nghe thấy tiếng loạt soạt khi anh ta gỡ và lấy nó ra khỏi cuốn sổ. Em không nghe thấy tiếng loạt soạt ấy lần nữa, thế nên em biết nó không còn nằm trong cuốn sổ nữa. Em cứ đoán bừa và cho rằng hoặc nó đã rơi dưới ghế hoặc rơi xuống sàn mà anh ta không biết. Đó là một canh bạc. Anh ta có thể đã nhét nó vào túi, hoặc quấn quanh ngón tay. Nhưng canh bạc này em đã thắng.”
Hai bàn tay ông vỗ lên bàn tay cô.
“Màn trình diễn hoàn hảo,” ông nồng nhiệt chúc mừng cô.
Vào cuối ngày, ông lại làm một vòng do thám ngắn. Giờ thì cô an toàn rồi, cô không gặp tai ương gì nữa - ít nhất là an toàn khỏi họ - nhưng ông vẫn muốn chắc chắn.
“Họ đi cả rồi,” ông quay về báo lại. “Họ quay vào bờ mười lăm phút trước rồi. Một trong số các tàu chở khách cỡ lớn vừa ghé vào đi qua tàu Diamond Head, và họ nhận được thông báo qua radio rằng có một phụ nữ khiếm thị dắt theo chó dẫn đường vừa lên tàu. Hoặc ít ra là cậu nhân viên phục vụ biết tuốt đã bảo anh như thế. Đến khi cô ta được thẩm vấn xong, chúng ta đã lênh đênh trên biển rồi. Xa tầm với rồi. Với điểm dừng tiếp theo là Yoka.”
“Mà vui thật,” ông nói thêm. “Họ để lại một trong hai viên cảnh sát. Anh vừa vô tình gặp anh ta xong, trên đường quay về. Anh ta đang đứng làm nhiệm vụ phía đầu kia hành lang. Rất khó nhận ra.”
Họ lại lên đường vào năm giờ chiều hôm đó. Tiếng động cơ rít lên ken két, rộn ràng luôn dễ nghe hơn trong vùng nước lặng, một lần nữa vang lên và chuyển động trượt chậm rãi trở nên rõ rệt hơn, lúc khởi đầu thì đều đặn như chuyển động của xe lửa rời khỏi nhà ga. Làn gió nhẹ khiến lòng người khoan khoái, tiếng máy móc lanh canh trên bến nhỏ dần đi.
Ông lại làm một vòng tuần tra nhanh nữa rồi quay về, gần như hòa nhịp với quá trình di chuyển chậm rãi lúc tàu khởi hành.
“Tay cảnh sát còn đứng đó không?” Cô hỏi khi ông quay vào.
“Anh ta vẫn đứng đó khi anh đi ra,” ông nói, “nhưng vừa nãy khi anh đi qua lần thứ hai, trên đường về thì không thấy anh ta nữa. Chắc anh ta đi rồi. Anh mang về cho em một vòng hoa này. Anh muốn em đeo một vòng hoa. Họ tặng vòng hoa cho bất kỳ ai rời khỏi Hawaii và em thì không tự lên đó mà lấy được.”
Tuy nhiên, sự rộn ràng, cảm giác bồng bềnh và náo động khi khởi hành đã qua, không theo ông rời khỏi cabin. Họ đang quá phấn chấn, quá vui sướng nên không để ý tới sự khác biệt, nếu có, trong việc tay cảnh sát rời bỏ vị trí canh gác. Hoặc có lẽ, theo như họ nghĩ, có lẽ anh ta đã nhận được lệnh phải ở lại trên tàu cho đến phút cuối cùng, cho đến khi hoàn thành bổn phận cao nhất của cảnh sát ngoài bến cảng và sau đó đã được đón bằng tàu dẫn đường hoặc phương tiện tương tự.
Điều quan trọng nhất, đáng quan tâm nhất lúc này, đó là cô đã an toàn, cô đã được cứu. Cô đã an toàn khỏi… sự an toàn. Được cứu khỏi tay người cứu.
Đang là nửa đêm, và mặt biển lúc này như được dát bạc. Họ đang ở bên nhau trong cảnh tranh tối tranh sáng, hai mái đầu tựa vào nhau, người này khoác tay lên vai người kia, đợi chờ, căng thẳng, bất động, nín thở và mơ mộng.
Họ đã tắt hết đèn trong phòng. Nhưng những dải sáng bạc tỏa ra từ vầng trăng phản chiếu trên mặt biển đang lướt qua các ô cửa sổ, soi rọi căn phòng, rồi lại trở về với biển.
Hai đốm sáng nhỏ cho thấy nơi họ đứng, hai đốm sáng không ngừng trở đi trở lại, lên rồi xuống khuất tầm nhìn, cho dù chúng chuyển động nhanh hơn các dải sáng trên tường. Một đốm sáng có màu đỏ, đốm sáng còn lại là một chùm các đốm màu xanh nhạt. Mỗi lần di chuyển chúng đều theo sát nhau, đốm này nằm ngay trên đốm kia. Một điếu thuốc lá trong đôi tay run rẩy và mặt đồng hồ bằng radium trên cổ tay ông.
Và trong cái tĩnh mịch ấy vang lên những lời thì thầm của hai đứa trẻ trong rừng[*]. Hai đứa trẻ đang đứng ngay ở cửa rừng, cố gắng trốn chạy định mệnh.
Hai đứa trẻ trong rừng (Babes in the Wood): Một câu chuyện dân gian của Anh, kể về hai đứa trẻ bị bỏ rơi trong rừng và sau đó bị một gã thợ săn độc ác sát hại.
“Bây giờ là mấy giờ rồi?”
“Mười một giờ năm mươi tám. Suỵt, kiên nhẫn nào.”
Những tia sáng đỏ và xanh quay lại.
“Giờ thì… đã đến chưa?”
“Chưa đâu. Mười một giờ năm mươi chín. Một phút nữa thôi. Chỉ một phút nữa thôi. Đừng thở, đừng nói gì cả.”
Như hai đứa trẻ đang cảnh báo nhau, “em sẽ phá hỏng câu thần chú mất.”
Bàn tay cô giơ lên bịt miệng ông lại. Ông cũng đưa tay lên bịt miệng cô.
Trái tim họ vang lên tích tắc, tích tắc sáu mươi lần; không phải đồng hồ của ông, mà là trái tim của họ. Cùng nhau, nhịp nhàng đến hoàn hảo, như hòa làm một.
Ông bỏ tay khỏi miệng cô. Ông giơ lên chiếc vương miện bé bỏng với những con số sáng chói.
“Bây giờ à?” Cô thì thầm.
“Bây giờ!” Ban đầu ông chỉ thì thầm. Rồi ông lên tiếng. Rồi ông hét lên. “Bây giờ! Bây giờ! BÂY GIỜ!”
Họ nhảy cẫng lên trong bóng tối.
“Nửa đêm, mười hai giờ. Ngày mùng một tháng Sáu. Cái ngày ấy qua rồi. Hắn ta đã bỏ lỡ cái ngày ấy rồi. Marty, Marty, em có hiểu không? Em có hiểu anh nói gì không? Chúng ta an toàn rồi. Nó kết thúc rồi. Chúng ta thắng rồi. Chúng ta đã thắng.”
Ông chạy khắp nơi, chạm vào cái này, chạm vào cái kia. Tất cả những ngọn đèn đều bừng sáng, tất cả những ngọn đèn ở nơi này cùng tạo thành một chùm sáng nóng bỏng, chói mắt.
Họ hôn nhau. Ông kéo ra một thùng đá mạ vàng nhỏ, được giấu kĩ sau chiếc ghế dài cho đến tận lúc này, đợi chờ họ trong trường hợp họ… còn sống. Ông lôi ra một chai sâm banh. Họ hôn nhau. Ông lấy ra hai cái ly. Họ hôn nhau. Ông mở nắp chai. Họ hôn nhau. Cái nắp kêu bốp một tiếng. Rượu chảy nhỏ giọt xuống tay áo khoác của ông. Họ phá lên cười. Họ hôn nhau, rồi lại hôn nhau, lại cười, rồi lại hôn nhau.
Họ nâng cao hai ly rượu lên quá đầu.
“Chúc mừng cuộc sống!”
“Vì cuộc sống! Cuộc sống đáng yêu!”
Họ quẳng hai cái ly xuống sàn, rồi lại rót đầy thêm hai ly nữa. Cô khóc một chút nhưng là vì vui, vì ngây ngất. “Chúng ta đang mở tiệc. Chỉ có em, chỉ có anh. Như bao người còn sống vẫn làm.”
“Chúng ta bây giờ là người sống rồi.”
“Em biết, em biết.” Cô vươn hai tay về phía ông. “Khiêu vũ với em đi. Đã bao nhiêu năm rồi… Bước thế nào cũng được, em không cần biết nó khó đến mức nào, và em sẽ theo anh. Khiêu vũ với em, như người sống hay làm.”
Ông bật cái đài nhỏ mang theo. Một cách yếu ớt, trên làn sóng ngắn, từ một bờ biển xa xôi nào đó, vẳng đến tiếng nhạc ngập ngừng, ngày càng to hơn và đều đặn hơn. Những giọng hát đang hát đồng ca, một giai điệu chúc mừng. Vũ điệu waltz từ Traviata[*].
La traviata: Một vở opera của nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi.
Ông dìu cô xoay tròn, xoay tròn mãi quanh căn phòng trong đôi tay phóng túng cuồng nhiệt, mái tóc cô xổ tung bay trong gió. Thế rồi không ngừng lại, ông chộp lấy chiếc ly mới uống cạn một nửa của cô, trao nó cho cô khi họ vẫn đang xoay tròn. Ở vòng xoay thứ hai, ông cũng chụp lấy ly của mình.
Họ lại nâng ly một lần nữa, tiếng ly rượu chạm nhau lanh canh giữa điệu waltz.
“Vì cuộc sống! Vì những năm tháng thật dài phía trước!”
“Vì những năm tháng thật dài đang đợi chờ chúng ta!”
Và cuộc sống bắt đầu, thế giới bắt đầu vào ngày hôm sau. Không còn những cánh cửa khóa kín, không còn những mật mã, không còn những khay thức ăn phải tiếp nhận lén lút. Họ ra khỏi phòng mình suốt cả ngày, từ sáng sớm cho đến khi ánh chiều buông xuống trên mặt biển. Giờ đây, khi đã hoàn toàn thanh thản, họ đi dạo khắp nơi, như bao người khác. Gật đầu, mỉm cười tận hưởng ngày dài đang trôi. Khi có bất kỳ ai nói rằng mãi đến bây giờ mới thấy mặt cô thì cô đùa với họ; rằng cô là một thủy thủ đáng thương, cô bị ốm nặng.
Họ lên tận boong cao nhất ngắm cảnh bình minh lộng lẫy đang nhuộm đỏ mặt biển, như thể đổ sạch cả chai tương ớt. Ông ngắm nhìn, rồi tả lại cho cô. Họ cùng ăn sáng trong phòng ăn. Họ mang hai cái ghế lên boong và cùng quanh quẩn cả buổi sáng ngắm mặt trời. Vì nhiều phụ nữ đeo kính râm chống ánh nắng chói gắt, nên người ta không thể phát hiện ra cô.
Họ chỉ quay về phòng khi hoàng hôn buông xuống, để thay đồ đi ăn tối. Họ sẽ ngồi tại bàn của thuyền trưởng, như được sắp xếp trước; bản thân vinh dự này không hề nhỏ. Cô không mang theo một bộ trang phục dự tiệc nào, nhưng trên tàu có cửa hàng thời trang, và buổi chiều hôm ấy ông đã mua cho cô một bộ đầm lộng lẫy cho sự kiện này. Bộ đầm đã được sửa lại cho vừa vặn, và được giao đến phòng khi họ đi vắng, và giờ nó đang nằm trong hộp trên giường đợi cô.
Cô cứ như một đứa trẻ. Cô cầm chiếc hộp lên và ôm ghì nó vào người. Cô sẽ không mở gói quà trước mặt ông; ông phải thấy nó khi nó đang ở trên người cô, chứ không phải là trước đó.
“Anh ra ngoài đi,” cô nói. “Em không muốn anh nhìn thấy em cho đến khi mặc xong. Em muốn làm anh ngạc nhiên.”
“Anh sẽ đi lên và gọi một ly Martini tại quầy bar,” ông đồng tình. “Như thế được chứ?”
“Khoảng nửa tiếng thôi. Rồi quay về đây với em.”
Ông đặt lên môi cô nụ hôn tình tứ. Cô giấu hai tay sau lưng, như một đứa trẻ, và đợi chờ nghe tiếng ông rời đi.
Cô nghe thấy ông khóa cửa từ bên ngoài và rút chìa khóa ra khỏi ổ. Theo thói quen, có lẽ thế. Chẳng còn cần thiết nữa rồi. Nhưng có thể ông làm thế chỉ vì cẩn thận.
Cô bắt đầu chuẩn bị, mở cái hộp ra. Lớp vải mỏng mịn kêu sột soạt. Cô lấy bộ đầm ra, trải nó lên giường. Ông sẽ mang hoa về tặng cô. Cho dù ông chẳng nói lời nào, cô biết đó là một trong những lý do khiến ông rời đi. Trên tàu của họ có hoa. Hoa dành dành hay hoa phong lan sẽ được ghim lên vai cô.
Cô cởi quần áo ngoài, thay quần bó chẽn và giày, chỉnh lại mái tóc. Tiếp theo cô mặc lên người bộ đầm. Một việc đơn giản; người phụ nữ trong cửa hàng đã tập dượt cho cô. Chỉ có hai khóa kéo phía bên sườn, sau đó phải chắc chắn các tầng váy buông thẳng. Cô dùng các ngón tay cảm nhận điều đó. Phần trên của bộ đầm cắt hơi thấp. Chẳng có cái gì để giữ lại ngoài hai dải buộc. Cô cần cái gì đó choàng lên vai và lưng; khi trời tối trên biển sẽ rất lạnh. Và họ có thể sẽ phải lên boong khi đã mệt vì khiêu vũ, ngồi đó lắng nghe tiếng nhạc.
Quá tệ khi cô chẳng có lấy một chiếc khăn choàng hay khăn quàng cổ kim tuyến. À không, đợi đã. Cô biết có một thứ.
Cô lần mò về phía cửa nhà vệ sinh bằng các ngón tay. Chúng sờ thấy bề mặt trơn trượt, lạnh như băng của khung gương. Chúng di chuyển tiếp, tìm thấy cái núm cửa bằng thủy tinh sáu cạnh. Cô mở cửa ra, vươn tay vào bên trong. Các ngón tay lần tìm từng bộ quần áo, trong đám quần áo đang treo trên mắc, cho đến khi tìm thấy thứ cô muốn tìm, gần như nằm phía xa nhất trong nhà vệ sinh. Một chiếc áo khoác nhỏ bằng lụa mịn, nhỏ bằng cỡ của trẻ con.
Cô lấy mắc áo xuống, tháo cái áo ra khỏi mắc, rồi treo lại nó lên thanh cần, sơ suất không để lại đúng chỗ cũ.
Cô lại xoay núm cửa nhà vệ sinh, nhưng bàn tay cô không đặt trên núm suốt thời gian đó, nên cửa không đóng hẳn. Khóa then không nằm hoàn toàn trong ổ. Cánh cửa chạm vào khung (lúc đó cô nghe thấy một tiếng cạch yếu ớt) nhưng không hoàn toàn khớp vào chốt. Mà cũng chẳng quan trọng.
Cô kéo chiếc áo khoác lên vai, nâng nó lên, quay bên này quay bên kia, như một người phụ nữ sáng mắt hẳn sẽ làm, để áo buông xuống vai sao cho vừa. Nó sẽ hiệu quả. Đủ ấm rồi, mà áo cũng chẳng nặng mấy.
Cô lại ngồi xuống bàn trang điểm cho những nét cuối cùng. Cô tìm thấy một chai nước hoa nhỏ, cô tháo nắp, bôi lên sau hai tai mình.
Trang phục cho buổi tối thật đẹp. Những hoạt động phù phiếm thật hay. Giờ đây họ sẽ sống như bao người khác. Không còn sợ hãi nữa, không còn phải lẩn trốn nữa. Họ sẽ ăn tối tại bàn của thuyền trưởng, cười, tám chuyện và uống rượu với mọi người. Họ sẽ khiêu vũ. Sau đó họ sẽ dạo bước trên boong tàu dưới ánh sao, và đứng bên nhau dựa vào lan can. Không sợ hãi, không sợ hãi. Mỗi bước chân đi qua sẽ chỉ là một bước chân đi qua, một âm thanh mà bạn sẽ ngoảnh lại cười lịch sự, hoặc chẳng buồn để ý tùy bạn chọn.
Không sợ hãi, không sợ hãi.
Cái mắc áo cô lấy ra lúc nãy không còn bám trên cần, bị rụng ra, và rơi xuống sàn nhà vệ sinh với một tiếng cạch nhỏ.
Cô biết nó là gì, âm thanh không khó hiểu, thế nên cô chẳng thèm quay đầu lại. Mấy cái mắc toàn thế mà. Có thể bạn đã không đặt chúng cân bằng, hoặc bị rung quá mạnh sau khi bạn bỏ tay ra.
Cô đang nghĩ đến son môi. Rằng liệu có nên dùng nó hay không. Đêm nay là đêm vũ hội. Cô biết mình xứng đáng với ông, nhưng đêm nay họ sẽ xuất hiện công khai. Ngày nay, son môi là để dùng cho các sự kiện xã hội, hơn là một nỗ lực đánh lừa người nhìn bằng màu son như xưa. Vậy là cô quyết định sẽ thoa son. Không ai có thể tin rằng cô, một phụ nữ khiếm thị, lại có thể thoa son thành công mà không dây bẩn, nhưng trước kia cô đã từng làm và cô biết mình có thể.
Chỉ cần vài phút thận trọng và tất cả đã xong.
Bây giờ cô đứng dậy. Xong xuôi hết rồi. Chẳng cần phải làm gì nữa. Chẳng cần làm gì nữa ngoài việc đợi ông thôi.
Cô nhớ lại cái mắc áo bị rơi mà lúc nãy cô nghe thấy. Cô bước vào nhà vệ sinh nhặt cái mắc áo lên và đặt nó lại chỗ cũ, đơn giản là do bản năng nữ tính muốn mọi thứ phải ngăn nắp, đúng chỗ; đơn giản là trong lúc này chẳng có việc gì để làm.
Cánh cửa vẫn nằm vuông góc với khung, như lúc cô rời đi, khi cô vào đây lúc nãy. Cô cúi xuống sàn nhà, ngay bên trong nhà vệ sinh, và chỉ mất một lúc cô đã tìm thấy cái mắc áo nằm nghiêng, và cất lại nó vào chỗ cũ.
Tiếp theo cô đóng cửa lại thật chặt, để chốt then bập vào ổ khóa, núm cửa nhẹ nhàng bật lên trong bàn tay cô, như nó được thiết kế như thế.
Cô quay lại, định bụng quay ra chỗ bàn trang điểm…
Vẫn nằm vuông góc với khung, như lúc cô rời đi.
Nhưng cô không để như thế. Những ngón tay cô đã đẩy nó vào, rồi buông tay. Cô đã nghe thấy tiếng cửa bập vào khung, dừng ngay ở đó.
Bóng đêm phủ xuống trái tim cô. Từng bóng đèn một, tất cả đều đã tắt hết. Hơi lạnh bốc lên, một cơn gió chẳng hiểu từ đâu len lỏi qua người cô. Bước chân của cô ngập ngừng; bên ngoài có vẻ như không thể hiện điều gì, nhưng bên trong cả thế giới đang lao xuống vực sâu tối đen như mực. Bàn tay cô lần mò tìm thấy chiếc ghế dài trên bàn trang điểm, cô ngồi thụp xuống ghế, quá nặng nề, đó là tất cả những gì cô có thể làm.
Ở trong phòng này cùng cô. Có ai đó đang ở trong này cùng cô. Nó, hắn, đang ở đây cùng cô vào đúng giây phút này. Hắn không bước vào từ bên ngoài, mà đã lọt vào trong, ngay từ đầu. Trước tiên là trong nhà vệ sinh, bây giờ hắn đang ở ngay trong chính căn phòng này.
Nhưng ở đâu? Lối nào? Không một âm thanh. Không hề gây ra một tiếng động nào hết.
Đôi môi cô run lên. “Allen,” chúng lẩm bẩm, không thốt được lên lời.
Cửa ra vào? Cánh cửa bên ngoài, trong căn phòng kế bên? Có lẽ nếu cô có thể đến gần nó, chỉ cần đến gần nó, Allen sẽ bất ngờ mở cửa, một lần nữa bước vào đúng lúc để…
Cô lại lấy lọ nước hoa. Quá nhiều nước hoa. Một giọt mỏng nước hoa chảy xuống bên cổ cô, ngay dưới tai.
Không một âm thanh. Không một tiếng động. Cô cúi xuống, giữ nguyên như thế, rất chăm chú. Lắng nghe với từng tế bào trong cơ thể. Từng tế bào của cô đều đã được rèn luyện, để có thể nghe thấy những thứ người khác không bao giờ nghe thấy.
Hắn thông minh đến phi thường, thậm chí không dám thở, hoặc thở ra tinh tế đến mức không có luồng sóng âm nào vọng đến tai cô. Thế nhưng đâu đó trong căn phòng này, trong khoảng không vuông vắn này, một trái tim khác đang đập. Một trái tim khác, ngoài trái tim của cô.
Hắn đang đứng ở đâu? Ở đâu?
Nếu hắn không cử động, nếu hắn không tiến đến gần cô, vậy thì cô phải đi tìm hắn, cô phải tìm ra hắn. Có một dạng hồi hộp nằm ngoài phạm vi thông thường, nó khủng khiếp đến nỗi không thể chịu đựng nổi một cách bị động. Đây chính là dạng đó. Nếu gốc rễ của nó không chịu hiện hình cho cô thấy, thì cô phải đi tìm nó.
Và cô đi tìm nó.
Như kim loại bị hút về phía nam châm. Như con chim bay thẳng về phía con rắn.
Cô đứng dậy, bước về phía bức tường. Khi đến nơi, cô bắt đầu lần theo nó, áp phần thân bên trái, tức trái tim cô vào tường. Cô lần mò bằng đôi bàn tay, khua tay thành những vòng tròn như bánh xe trên tường.
Đôi mắt khiếm thị của cô đẫm lệ, từng giọt một, chậm rãi chảy xuống má. Đôi môi cô không ngừng run lên. Lặp đi lặp lại, thì thầm chỉ một từ. “Allen. Allen. Allen.” Cô không thể thét lên. Có chuyện gì đó đã xảy ra với cô. Cô biết mình sẽ không thể chơi sòng phẳng đến cùng, nếu như có tận cùng. Nỗi khiếp sợ như một ngọn lửa nóng rực đã hủy hoại các dây thanh đới của cô, hoàn toàn thiêu trụi chúng.
Cô có một cảm giác lạ lùng, và có thể là sự thật rằng cô đang hấp hối, một cách chậm rãi, ngay cả trước khi bàn tay đó đặt lên người cô. Cô đã ở vào giai đoạn đầu của sự buông xuôi; quá trình này đang diễn ra.
Một cái tủ ngăn kéo cắt đứt sự liên tục của bức tường, cái tủ Allen để mọi thứ trong đó, cô bước vòng quanh nó, rồi quay lại với bức tường. Cô bơi, bơi bằng đôi bàn tay; một tay bơi đang hấp hối, biết rằng mình sẽ không bao giờ tới được bờ.
Đằng xa, ngay phía trước, là cánh cửa dẫn vào nhà tắm, và dù cho cô chưa từng nghĩ đến chuyện này, giờ cô chợt hiểu nếu mình có thể chạy vào đó đủ nhanh và kéo cửa lại…
Luồng gió lướt qua gương mặt cô, và cánh cửa đóng sập lại. Hình dáng vòng cung của nó trượt khỏi những đầu ngón tay cô. Hy vọng tan biến, khiến bao đau đớn đang gặm mòn dần lục phủ ngũ tạng của cô. Chiếc chìa khóa hay kêu ầm ĩ, đã bị rút ra khỏi ổ. Khi bàn tay cô tìm thấy núm cửa, cô thây âm ấm. Hơi ấm từ một bàn tay khác.
Lưỡi cô run lên, thêm hơi ẩm cho làn môi khô khốc. “Allen,” chúng lặng lẽ thở.
Giờ cô vươn hai tay ra trước mặt đến hết tầm, cố gắng phát hiện ra hắn. Chắc hắn chỉ đứng cách cô có vài mét, thì mới có thể đóng được cửa nhà tắm theo cách ấy.
Hẳn là hắn đã lùi lại khi cô tiến tới. Những ngón tay run rẩy của cô chỉ túm được khoảng không.
Một vũ điệu tử thần, với các bạn nhảy giữ khoảng cách đều nhau, không bao giờ sáp lại gần. Một điệu Saraband chết chóc.
Cô tiếp tục dấn tới, từng bước một, dọc theo tường. Đến góc tường bên này cô đi tiếp sang góc tường bên kia.
Giữa đường có cái giường chắn lối đi, thò ra từ bức tường.
Và đúng lúc này, ở giữa giường, dọc theo chiều dài của nó, xuất hiện hai bàn tay khác, đang vươn ra từ phía đối diện, cuối cùng đan vào hai bàn tay cô, như giằng lấy nó, có thể nói như vậy; chúng siết chặt và phần nào đó ôm lấy hai bàn tay cô kéo lê đi, rất nhẹ nhàng nhưng cũng cương quyết đến tàn bạo, buộc cô phải đột ngột đổi hướng, khiến cái giường nằm ngay trước mặt cô, sức kéo xuất phát bên kia giường.
Giống như một phiên bản rùng rợn của trò lộn cầu vồng, với cái giường ở giữa hai người.
Thế nhưng, bằng cách nào đó cô thậm chí không sợ hãi nữa, không co rúm, khép nép hay co cứng nữa. Tất cả mọi thứ đã ở phía sau cô, lùi thật xa, thành dĩ vãng rồi. Để hiểu được nỗi sợ hãi, bạn phải hoàn toàn tỉnh táo. Như thể cô biết rằng điều này phải đến, và dù có đấu tranh đến thế nào cũng không thể thoát khỏi hay thay đổi được nó.
Cặp mí mắt không còn sức sống của cô khép chặt. Cô biết rằng Allen sẽ không đến kịp. Đó là suy nghĩ cuối cùng của cô, khi bóng tối chỉ thay bằng bóng tối.
Khi cây kim cuối cùng cũng chặn đứng những tiếng khóc khàn khàn, và ngay trước khi giấc ngủ tìm đến với ông chỉ sau thoáng chốc, ông túm chặt lấy tay áo của vị bác sĩ trên tàu, vừa kéo vừa giật như thể đang cố gắng xé rách chiếc áo khỏi người ông ta, thì thầm trong vô vọng, “Nhưng họ nói với tôi… Cameron, tay cảnh sát đó… họ đã hứa với tôi rằng chỉ có ngày ba mươi mốt là chúng tôi phải cảnh giác thôi, hắn chỉ ra tay vào ngày hôm đó. Và ngày ba mươi mốt đã kết thúc vào đêm qua rồi… Tôi không còn trông chừng cho cô ấy nữa, và đã bất cẩn… Tại sao họ lại lừa tôi? Tôi đã sai ở đâu?”
“Tôi không hiểu ngài muốn nói gì,” ông bác sĩ để râu gắng hết sức nhẹ nhàng đáp. “Tôi biết ngày ba mươi mốt là hôm qua rồi, từ nửa đêm tới nửa đêm. Nhưng hôm nay cũng là ngày ba mươi mốt, cả ngày, từ nửa đêm hôm qua tới nửa đêm sắp tới. Ngày này tự lặp lại chính nó. Ngài thấy đấy, khi chúng ta đi về phía Tây tới Đường đổi ngày quốc tế[*], chúng ta được thêm một ngày. Chúng ta đến đây đúng vào ngày ba mươi mốt. Thế nên ngày ba mươi mốt kéo dài thêm bốn mươi tám giờ nữa. Không ai nói cho ngài biết điều đó sao? Ngài không biết à?”
Đường đổi ngày quốc tế:Là một đường tưởng tượng dùng để làm ranh giới giữa múi giờ UTC+12 và UTC-12, đi gần với kinh tuyến 180 độ kinh Đông từ Bắc Cực, qua eo biển Bering, Thái Bình Dương, cho đến Nam Cực, được quy định tại Hội nghị quốc tế về kinh tuyến họp tại Washington năm 1884. Thực tế, đường đổi ngày không phải là một đường thẳng dọc kinh tuyến 180 độ, mà là một đường gấp khúc, nhằm cố gắng bảo đảm trên cùng một quốc gia không có hai ngày cùng được tính. Theo quy định, khi các phương tiện giao thông đi ngang qua đường này, ngày tháng sẽ phải thay đổi. Đi từ bán cầu Tây sang bán cầu Đông qua đường này, tức là đi từ bên phải sang bên trái đường đổi ngày, thì phải tăng 1 ngày. Đi từ bán cầu Đông sang bán cầu Tây, tức là đi từ bên trái sang bên phải của đường này, thì phải giảm 1 ngày. (ND)
Cameron chờ đợi một cơn thịnh nộ, một trận lôi đình, những tiếng gầm thét, những đòn sấm sét, đập phá đồ nội thất. Nhưng thay vào đó, anh trở thành kẻ vô hình. Đơn giản là người ta không nhìn thấy anh. Như thể đôi mắt của ông sếp đang gặp vấn đề gì đó.
Phải mất hai mươi phút anh mới có đủ can đảm tiến đến cửa văn phòng. Nó bao gồm cả thời gian đứng bên kia đường ngắm tòa nhà trước khi sang đường, quanh quẩn trước bậc thềm một lúc trước khi bước vào, cứ lởn vởn quanh bình nước trong sảnh và uống thứ nước mà anh thực sự chẳng muốn uống, trước khi tiến đến cánh cửa đáng sợ kia.
Cuối cùng anh gõ cửa.
Không có tiếng trả lời. Dù cho là ông sếp biết anh có hẹn báo cáo, là ông ta nhận ra tiếng gõ cửa, hay là bởi giác quan thứ sáu nhạy bén đã mách bảo cho ông ta biết đó là ai, dù sao thì vẫn không có tiếng trả lời.
Cameron biết ông ta ở trong đó, vì anh có thể nghe thấy giọng ông ta trên điện thoại.
Anh đợi, rồi lại gõ cửa.
Không phản ứng. Như thể anh là một bóng ma.
Cuối cùng anh mở cửa, bước vào phòng.
Ông sếp ngồi đó lù lù, đang theo dõi các báo cáo.
Cameron đóng cửa lại, đứng đợi.
Ai đó bước vào phòng, ai đó bước ra. Ông sếp nói chuyện với người đó rất bình thường, chẳng hề khó khăn khi nhìn hoặc lắng nghe.
Cameron hắng giọng.
Ông sếp chẳng buồn ngước mắt lên, chẳng nghe thấy gì.
Ông sếp bật công tắc đèn bàn. “Trời tối sớm quá,” ông ta lẩm bẩm một mình.
Cuối cùng, trong cơn tuyệt vọng, Cameron nói, “Sếp, tôi đang đứng đây này. Tôi muốn nói chuyện với sếp.”
Ông sếp xem xong một báo cáo. Ông lần mò tìm một báo cáo khác, tìm thấy rồi lại bắt đầu đọc.
“Sếp,” Cameron nói, “ít ra cũng phải lắng nghe câu chuyện của tôi chứ.”
Ông sếp chọc đầu ngón tay út vào một bên tai, rồi rút ra, như thể thứ gì đó trong không khí làm phiền ông ta.
“Đã có sự nhầm lẫn, ít nhất đó là sai lầm của cảnh sát Honolulu cũng như của tôi! Tôi đang ở Frisco, tôi còn không có mặt ở đó. Khi tàu đến Yokohama, viên thuyền trưởng đánh điện ngược về cho giới chức trách Honolulu, nhưng lúc ấy đã quá muộn. Họ chuyển tiếp báo cáo cho tôi. Hai thanh tra và một cảnh sát đã lên tàu đến Honolulu vào chín giờ sáng hôm đó để tìm kiếm cô ta. Mười lăm hay hai mươi phút sau, một viên cảnh sát thứ hai xuất hiện, như thể nhập bọn với họ. Hắn không hề bị chặn lại, không hề bị kiểm tra, họ nghĩ rằng đó chẳng qua là thủ tục của cảnh sát. Khi hai thanh tra quay về bờ biển, họ vẫn chỉ có một cảnh sát đi cùng. Tay cảnh sát thứ hai ở lại trước mắt bao nhiêu người, và đứng canh gác. Việc này diễn ra công khai đến mức chẳng ai buồn kiểm tra lại. Không ai thấy hắn rời khỏi vị trí, tuy nhiên ngay khi con tàu khởi hành, không ai còn thấy hắn trên tàu nữa, thế nên ai cũng nghĩ hắn đi rồi.”
Ông sếp không nghe một lời nào cả. Ông ta đang ký cái gì đó. Giờ ông ta đang xóa nó đi. Ông ta nhìn xuyên qua Cameron vào chiếc đồng hồ trên tường, rồi lại nhìn xuống báo cáo.
“Một cậu phục vụ mới được tuyển lên tàu tại Honolulu. Đích thân tôi đã tới đó kiểm tra, cậu ta là người thay thế hợp pháp. Nhưng - đây mới là vấn đề, sếp ạ - sau này một vài thành viên trong số thủy thủ đoàn đã nói rằng trông nó hoàn toàn khác so với lúc mới lên tàu. Giống như hai người khác nhau. Không ai điều tra, không ai làm bất kỳ điều gì với chuyện đó cả. Có một thằng nhóc phục vụ người Hawaii lai có tên trên danh sách, và có một thằng nhóc người Hawaii lai mang cái tên giống vậy, thế là họ thấy ổn. Dù sao sau đó hắn cũng đã nhảy tàu tại Yokohama, thế nên lúc ấy đã quá muộn để điều tra rồi. Sếp, vụ án mạng thứ hai đã diễn ra trên con tàu đó, và một cảnh sát mặc đồng phục đã lặng lẽ nhảy tàu, đâu đó giữa Honolulu và Đường đổi ngày quốc tế. Tôi biết mình đã làm mọi việc rối tinh lên. Nhưng tất cả những gì tôi có thể nói để biện minh cho mình, đó là…”
Anh tức giận đập tay xuống bàn. “Sếp à, nói gì đó đi được không? Nguyền rủa tôi cũng được nếu sếp phải làm thế. Nhưng đừng bắt tôi phải đứng đây thế này…”
“Harkness!” Ông sếp cất tiếng lanh lảnh gọi.
Một Trung sĩ bàn giấy ló đầu vào.
“Harkness, có chuyện quái gì với cậu thế hả?” Ông sếp phê bình anh ta trực diện. “Đừng có để mọi người được tự do bước vào đây. Đây là đồn cảnh sát. Đừng để bất kỳ ai trên phố thoải mái bước vào đây nếu muốn. Người lạ đầu tiên, khách qua đường đầu tiên đã làm thế rồi đấy. Nói chung nơi này cấm cửa toàn bộ dân chúng, cậu biết đấy. Cậu nên quản lý chuyện này ngay từ cái bàn làm việc cuối sảnh. Giờ thì làm ơn dọn dẹp chỗ này giùm tôi; tôi đang còn quá nhiều việc phải làm, và tôi chỉ muốn các thành viên trong đội ở đây thôi.”
Cameron gục đầu xuống, thất vọng, như thể anh chưa từng thấy đôi chân mình và đang cố gắng tìm hiểu xem chúng là gì.
“Cậu nghe sếp nói rồi đấy,” Harkness buồn bã thì thầm, như thể anh ta cũng ghét phải làm chuyện này.
“Tôi sẽ quay lại,” Cameron kiên cường lẩm bẩm, quay gót bước ra ngoài.
“Harkness,” ông sếp nói, “vẫn câu nói cũ. Đừng bao giờ quay lại.”
Lá thư Garrison gửi cho Cameron, đóng dấu bưu điện ban đầu là Tulsa, gửi đến cơ quan của Cameron, được chuyển tiếp đến San Francisco, lại được chuyển tiếp tới Honolulu, rồi quay về San Francisco, về trụ sở của Cameron, rồi bị gửi lại về nhà riêng của Cameron với dòng chữ viết tay ghi chú của ông sếp, “Sai địa chỉ!”
… không thể giúp được gì khi cậu tới đây vào tháng Bảy năm ngoái, ngay cả khi cậu đã quanh quẩn ở đây suốt mười ngày. Mà thôi, tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề. Đêm qua, khi vợ chồng tôi từ rạp hát về nhà bằng ô tô, thì một thằng say rượu loạng quạng nào đó đứng trong góc phố đã ném một chai rượu suýt thì trúng vào xe của chúng tôi. Tôi không thể phanh kịp, nên xe bị xịt lốp. Ngay lập tức tôi tranh cãi với hắn vì hành vi không đàng hoàng, và chúng tôi phải mất đúng bốn mươi lăm phút mới được đưa xe đến trạm sửa để tiếp tục lên đường.
Vợ chồng tôi đều cực kỳ khó chịu, chắc cậu cũng hiểu, và vợ tôi tức giận thốt lên, “Những kẻ như thế thật nguy hiểm! Tưởng tượng thử liệng cái chai ấy lên trời thì thế nào! Ôi, nó có thể rớt xuống đầu ai đó và giết chết họ!”
Tôi đáp, “Anh từng quen một gã có thói quen ném chai bia ra khỏi máy bay,” và tôi tiếp tục kể cho cô ấy nghe Strickland đã làm thế trên một trong những chuyến bay của chúng tôi, khi chúng tôi còn ở trong cái câu lạc bộ câu cá ấy. Và đúng vào lúc tôi kể cho cô ấy nghe, tôi chợt nhận ra rằng đây có thể chính là thông tin cậu muốn biết khi cậu ở đây vào khi đó, thông tin mà lúc đó tôi đã không thể cung cấp cho cậu.
Cậu có thể không còn muốn nhận thông tin này nữa. Vào lúc này, thông tin có thể đã cũ rồi, hoặc có thể không phải là thông tin cậu tìm kiếm ngay từ đầu, nhưng từ đêm qua đến giờ nó cứ ám ảnh tôi, thế nên để gạt nó ra khỏi tâm trí…
Hy vọng cậu nhận được thư này…
Điện tín, Cameron gửi Garrison:
Thông tin vẫn còn cực kỳ quan trọng. Đề nghị ngài trả lời ngay những câu hỏi này không chậm trễ. Đánh điện đi, tiền cước tôi trả. Một. Anh ta làm như thế trên chuyến bay vào ngày nào? Có phải ngày ba mươi mốt tháng Năm không? Hai. Điểm đến của máy bay trong chuyến đi là ở đâu? Ba. Máy bay rời sân bay vào giờ nào? Bốn. Ngài có biết cái chai bị ném xuống lúc mấy giờ không? Năm. Ngài có thể ước chừng tốc độ trung bình của máy bay được duy trì trong suốt chuyến bay không?
Điện tín, Garrison gửi Cameron (tiền được trả trước, không cần thu):
Một. Hoàn toàn chắc chắn hôm đó là ngày Tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong. Anh ta luôn uống đến say bí tỉ vào những ngày nghỉ. Hai. Hồ Star-of-the-Woods, gần biên giới Canada. Ba. Sáu giờ chiều. Có thể tin chắc điều này bởi vì chúng tôi luôn gặp nhau tại sân bay vào giờ đã định trước để cất cánh. Bốn. Không thể nói chính xác được. Chỉ nhớ rằng bên dưới chúng tôi đèn đóm đã sáng trưng, nhưng vẫn có thể thấy ánh sáng ban ngày, nên chắc là mới vừa hoàng hôn thôi. Năm. Máy bay cũ rồi. Tôi đoán khoảng 100 dặm/giờ, nhưng đây đơn thuần chỉ là suy đoán thôi.
Phần còn lại mất của anh khoảng hơn mười phút. Một bản đồ gốc quy mô lớn toàn bộ bang in rõ từng thôn xóm, từng nút giao thông, tùng trang trại. Tiếp theo là kẻ một đường thẳng tắp từ sân bay đến hồ, với toàn bộ khoảng cách tính bằng dặm hàng không được đánh dấu dọc theo nó. Tiếp theo là cuốn niên giám của năm đó, năm 1941, cho anh biết chính xác thời gian mặt trời lặn, thời gian đêm xuống dọc theo các vĩ độ này, vào hôm đó, vào năm đó.
Sáu giờ chiều là thời điểm đầu tiên tại điểm khởi hành. Sau đó là một chuỗi các mốc được đánh dấu suốt trên đường, cách nhau khoảng 100 dặm, cho anh biết vị trí lý thuyết của máy bay tại các khung giờ tiếp theo, bảy, tám và chín giờ. Từng khung giờ sau đó lại được phân chia tiếp thành các mốc nửa tiếng một. Rồi lại phân chia tiếp thành các mốc mười lăm phút. Và cuối cùng là chia thành các mốc năm phút. Tất cả những việc này chỉ có giá trị nếu máy bay vẫn duy trì được tốc độ đều đặn 100 dặm một giờ. Nếu phi công bay nhanh hơn vào những thời điểm nhất định, chậm hơn các thời điểm khác, thì tất cả hỏng bét. Nhưng đây là cơ hội duy nhất mà anh có.
Tiếp theo là một vòng cung, khoanh giữa các mốc từ 19 giờ 50 và 19 giờ 55, để đánh dấu thời điểm mặt trời lặn. Rồi đến vòng cung thứ hai để đánh dấu thời điểm mọi thứ bắt đầu chìm trong bóng tối. Và trong không gian khép kín giữa hai vòng cung này, giống như trong một dấu ngoặc đơn, anh đã tìm thấy tâm điểm.
Trong toàn bộ khu vực trước mắt này, chỉ có một vòng tròn rỗng duy nhất có trên bản đồ, biểu tượng thông thường của một thành phố, với một cái tên đi kèm. Không còn thành phố nào khác gần nó nữa.
Chính là nơi này. Giờ anh đã biết cái “nơi” làm bối cảnh trong bức ảnh chụp nhanh đó. Cuối cùng, dù đã quá trễ để có thể cứu lấy hai cuộc đời; anh đã tìm ra nó.
Bà già ngồi trên chiếc xích đu cạnh cửa sổ, dõi mắt nhìn đăm đăm về phía xa. Bà đưa một tay lên giữ chặt mép tấm rèm đăng ten. Cũng chính tấm rèm đăng ten này từng làm nền cho tấm ảnh chụp nhanh màu vàng nhạt, được chụp đã lâu lắm rồi.
“Con bé chết rồi,” bà nói. “Phải hôm qua không nhỉ? Hay nhiều năm về trước? Tôi không biết, tôi không rõ nữa. Trái tim tôi không nhớ thời gian chuẩn cho lắm. Tôi chỉ biết còn mỗi mình tôi. Tôi chỉ biết con bé không còn ở đây.
“Đúng, con bé đem lòng yêu một người. Con bé chỉ biết yêu một người trong cả cuộc đời mình, nó chỉ muốn quen một người. Đúng, con bé sắp kết hôn với cậu ta. Con bé quyết phải cưới cậu ta hoặc chết, tôi đoán vậy.” Bà dừng lại một lát, đột ngột, như thể vừa nhớ lại điều gì đó. “Con bé chết rồi.”
Bà khẽ lắc lư cái ghế, mắt vẫn nhìn đăm đăm về phía xa.
“Tối nào hai đứa cũng gặp nhau lúc tám giờ. Ở hiệu dược phẩm dưới quảng trường. Gần như tối nào cũng thế. Thi thoảng lắm khi trời mưa nặng hạt, hoặc khi tôi bực mình, tôi mới không cho con bé ra ngoài. Là đứa con gái ngoan nên nó sẽ nghe lời. Khi con bé phải ở nhà thì thằng nhóc sẽ đến đây, đứng dưới cửa sổ phòng nó và huýt sáo, con bé sẽ mở cửa sổ và nói chuyện với nó, dù sao đi nữa chúng vẫn gặp nhau. Tôi mặc kệ; tôi lắng nghe chúng nó nói chuyện mà chẳng làm gì cả.
“Thằng nhóc ấy có tiếng huýt sáo nhộn lắm, dành riêng cho con bé thôi. Nhưng tôi cũng có thể nghe thấy. Không quá to, không quá rõ ràng. Một tiếng huýt sáo nhẹ nhàng, như van xin. Giống như… như một con cú con bị lạc ấy. ‘Huýt-huu. Huýt-huu.’ Như thế đấy.
“Có chuyện vui lắm, khoảng một năm về trước. Một buổi tối, tôi chắc chắn mình lại nghe thấy tiếng huýt sáo ấy. Dưới cửa sổ phòng con bé, nơi thường phát ra âm thanh đó. Lúc ấy là nửa đêm rồi, và tôi thì đang nằm thao thức trên giường. Nó cứ vang lên mãi, vang lên mãi, như dỗ dành, như tuyệt vọng. Cuối cùng tôi ngồi dậy và bước vào phòng con bé. Tôi bước đến chỗ cửa sổ và mở nó ra. Thằng bé đang đứng dưới đó. Tôi có thể thấy thằng bé đang đứng đó, dưới ánh trăng. Nó ngước lên nhìn tôi, còn tôi nhìn xuống nó. Nó cứ nhìn lên mãi, đôi mắt ngời sáng chất chứa hy vọng của tuổi trẻ. Thế rồi nó nghiêng mũ chào như nó vẫn thường làm, từ lâu lắm rồi, khi chúng vẫn chỉ là những đứa trẻ, rồi nói, ‘Dorothy có được ra ngoài không ạ?’ Giống hệt như trước kia, như nó vẫn thường làm từ rất lâu trước kia.
“Tôi quên mất rằng con bé đã chết.
“Tôi đáp, ‘Tối nay thì không được. Muộn quá rồi. Tối mai nhé.’ Và tôi xua tay về phía thằng bé, ý rằng nó hãy về nhà đi. Đó là cách bạn cư xử với chàng trai si mê cô con gái bé bỏng của bạn. Anh biết đấy: tử tế, nhưng cương quyết.
“Rồi tôi đóng cửa sổ lại và quay đi. Khi đã đi được nửa đường rời khỏi phòng, bất thần tôi lảo đảo và tôi nghĩ mình đã bị ngất một phút. Tôi có thể thấy khung giường trống rỗng của con bé ở đó, tất cả nằm dưới một tấm chống bụi to; tôi đã để nó như vậy từ nhiều năm về trước. Tôi lại chạy ra cửa sổ, nhưng không còn ai đứng dưới đó nữa; tôi không còn thấy thằng bé nữa; nó bỏ đi rồi.
“Phải chăng tôi đã nằm mơ? Hay thằng bé đã thực sự đứng đó?”
“Tôi không biết,” bà lại nói tiếp, “tôi không biết phải miêu tả mối tình đó thế nào. Nó vĩ đại hơn những gì tôi có thể hiểu được. Đôi khi tôi nghĩ cả thằng nhóc lẫn con bé cũng đều không hiểu. Tôi không biết tình yêu đến với chúng như thế nào. Một con bé giản dị như Dorothy. Một thằng bé hiền lành như Johnny.”
Người đàn ông, viên thanh tra, lặng lẽ đứng đó mà không trả lời. Anh đang nghĩ, làm sao một câu chuyện vốn đẹp đẽ lại trở nên tồi tệ đến thế, làm sao một câu chuyện vốn đúng đắn lại trở nên sai lầm đến thế?
Bà già ngồi trên chiếc xích đu cạnh cửa sổ, dõi mắt nhìn đăm đăm về phía xa.