Điềm Lành, Những Lời Tiên Tri Tuyệt Đích Và Chuẩn Xác Của Phù Thủy Agnes Nutter

Lượt đọc: 526 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Mười Một Năm Trước

Các giả thuyết hiện tại về sự ra đời của vũ trụ nói rằng, nếu quả thực vũ trụ được tạo ra chứ không cứ thế bắt đầu, chẳng lệ thuộc vào ai, thì nó hình thành đâu đó trong khoảng mười đến hai mươi tỉ năm trước. Cũng tương tự như vậy, Trái đất nhìn chung được coi là có tuổi đời khoảng bốn tỉ rưỡi năm.

Các con số này đều không chính xác.

Các học giả Do Thái Trung cổ xác định rằng năm Sáng Thế là 3760 TCN. Các nhà thần học thuộc giáo hội Hy Lạp chính thống lại lùi năm Sáng Thế đến tận 5508 TCN.

Các đề xuất này cũng không chính xác.

Tổng Giám mục James Usher (1580-1656) đã xuất bản cuốn Annales Veteris et Novi Testament (*) vào năm 1654, trong đó có đề xuất rằng Thiên đường và Trái đất được tạo ra vào năm 4004 TCN. Một phụ tá của ngài còn tính toán kỹ hơn và đắc thắng tuyên bố rằng Trái đất được tạo ra vào Chủ nhật ngày 21 tháng Mười năm 4004 TCN, vào đúng 9 giờ sáng, vì Chúa Trời thích hoàn thành mọi việc vào buổi sáng, lúc Người còn đang thấy sảng khoái.

Thời điểm này cũng sai nốt. Sai gần mười lăm phút.

Mấy vụ xương khủng long hóa thạch chỉ là một trò đùa mà các nhà khảo cổ học chưa hiểu ra.

Chuyện này chứng tỏ hai điều:

Thứ nhất, đó là chúa có cách hành xử vô cùng bí hiểm, Nếu không muốn nói là vòng vo ngoắt ngoéo. Chúa không chơi trò xúc xắc với vũ trụ. Người chơi một trò chơi bất khả tư nghị do Người tự nghĩ ra, mà khi nhìn từ góc độ của bất kỳ người chơi nào khác (*) , có thể được ví với một phiên bản poker phức tạp và khó hiểu, trong một căn phòng tối đen, với các lá bài trắng, tiền cược là vô tận, cùng một tay chia Bài không chịu cho ta biết luật chơi và còn không ngừng mỉm cười.

Thứ hai, đó là Trái đất thuộc cung Thiên Bình.

Phần tử vi chiêm tinh cho cung Thiên Bình trong mục “Tử vi mỗi ngày” trên tờ Nhà quảng cáo làng Tadfield, vào ngày mà câu chuyện này bắt đầu, viết như sau:

THIÊN BÌNH, 24 tháng Chín - 23 tháng Muời

Bạn có thể cảm thấy mệt mỏi và thấy mình cứ mãi mắc trong cái vòng luẩn quẩn hằng ngày. Các vấn đề gia đình trở nên nổi bật và không mấy tiến triển. Hãy tránh những rủi ro không cần thiết. Một người bạn là rất quan trọng với bạn. Đừng vội đưa ra các quyết định hệ trọng cho tới khi con đường trước mặt trở nên rõ ràng. Hôm nay bạn dễ bị đau bụng, nên đừng ăn rau sống. Trợ giúp sẽ đến từ một nơi bạn không ngờ tới.

Tất cả đều hoàn toàn chính xác trừ đoạn về rau sống.

Đó không phải là một đêm tối tăm và bão tố.

Lẽ ra phải thế, nhưng thời tiết là vậy mà. Với mỗi nhà khoa học điên nhận được một trận bão hết sức thích hợp đúng vào cái đêm Công trình Vĩ đại của ông ta đã hoàn thành và đang nằm trên bàn mổ, thì có đến hàng tá kẻ khác phải ngồi vơ vẩn dưới những vì sao yên ả trong khi Igor (*) quần quật làm thêm giờ.

Nhưng đừng để sương mù (cùng với cơn mưa tới sau đó, và nhiệt độ giảm xuống còn chừng bảy độ) khiến ta lầm tưởng mình được an toàn. Đêm nay trời yên gió lặng không có nghĩa là không có những thế lực đen tối đang hoành hành. Chúng luôn hoành hành. Chúng ở khắp mọi nơi.

Chúng luôn là vậy. Mấu chốt là ở đó.

Hai trong số đó đang rình rập trong một nghĩa địa đổ nát. Hai hình thù tối thui, một khom khom chồm hỗm, một cao nghều đầy hăm dọa, cả hai đều là những tay rình rập tầm cỡ Olympic. Nếu Bruce Springsteen có thu âm bài “Sinh ra để rình rập” (*) thì hai tên này sẽ có mặt trên bìa album. Chúng đã rình rập trong màn sương được một tiếng đồng hồ, nhưng chúng rất thong thả và có thể rình rập cả đêm nếu cần, mà vẫn còn đủ vẻ lầm lì hăm dọa cho một cú rình rập chót vào lúc bình minh.

Cuối cùng, sau khi hai mươi phút nữa trôi qua, một tên lên tiếng: “Tổ cha tổ mẹ nó đi. Hắn phải có mặt từ mấy tiếng trước rồi chứ.”

Kẻ vừa nói đó tên là Hastur. Hắn là một Công tước Địa ngục.

Nhiều hiện tượng - chiến tranh, dịch bệnh, các đợt kiểm toán bất ngờ - đã được lấy ra làm bằng chứng cho việc Satan ngầm nhúng tay vào cuộc sống Con Người, nhưng bất kỳ khi nào các nhà nghiên cứu ngành ma quỷ học tụ tập lại với nhau, thì họ đều nhất trí rằng đường cao tốc vành đai M25 (*) của London xứng đáng nằm trong số những đấu thủ tranh suất Mẫu vật loại A.

Tất nhiên, họ đã nhầm khi cho rằng con đường khốn nạn đó xấu xa chỉ đơn giản là vì những cảnh tàn sát và cảm giác cáu điên nó gây ra mỗi ngày.

Thực ra, rất ít người trên Trái đất này biết rằng hình thù của đường M25 tạo thành con dấu odegra trong ngôn ngữ của các Tu sĩ Đen thuộc dòng Mu cổ đại, có nghĩa là “Hoan hô Quái Vật Vĩ Đại, Kẻ Nuốt Thế Giới”. Hàng ngàn người lái xe ngày ngày xả khói trên con đường nham hiểm này có vai trò tương tự nước chảy lên bánh xe cầu nguyện, không ngừng tạo ra một màn sương ma quỷ cấp độ thấp làm ô nhiễm không khí siêu hình trong phạm vi hàng chục cây số quanh đó.

Đó là một trong những thành tựu đáng kể của Crowley. Hắn đã tốn nhiều năm mới đạt được nó, và bao gồm ba vụ hack máy tính, hai vụ đột nhập, một vụ hối lộ nho nhỏ, và, vào một đêm ẩm thấp khi tất cả các cách khác đều thất bại, hắn đã phải bỏ ra hai tiếng đồng hồ bì bõm trên một cánh đồng để xê dịch các cọc đánh dấu đi vài mét, nhưng là những mét rất quan trọng xét theo môn huyền học. Khi Crowley ngắm nhìn cảnh tắc đường dài bốn mươi lăm cây số đầu tiên, trong hắn dâng lên cảm giác ấm áp dễ chịu khi một hành động xấu xa đã được hoàn thành tốt đẹp.

Nhờ nó, hắn đã được tuyên dương.

Crowley hiện đang lái xe với tốc độ một trăm tám mươi cây số giờ đâu đó ở phía đông Slough. Bề ngoài hắn không giống ma quỷ cho lắm, ít ra là khi xét theo tiêu chuẩn cổ điển. Không sừng, không cánh. Quả tình là hắn đang nghe băng Các bài hát hay nhất của Queen, nhưng không thể rút ra kết luận gì từ tình tiết này, vì tất cả các băng nhạc để trong xe quá hai tuần đều tự biến thành album Các bài hát hay nhất của Queen. Trong đầu hắn không có lấy một ý nghĩ đặc biệt ma quỷ nào. Thật ra, hắn chỉ đang lơ đễnh tự hỏi Moёt và Chandon (*) là ai.

Crowley có tóc đen, gò má đẹp, và hắn đi giày da rắn, hay ít nhất thì hắn hẳn cũng đang đi giày, và hắn có thể làm những trò rất kỳ quái bằng lưỡi. Và, bất kỳ khi nào không để ý, hắn thường có xu hướng rít lên.

Hắn cũng ít chớp mắt.

Chiếc xe hắn đang lái là một chiếc Bentley đen 1926, mới qua một đời chủ, và người chủ đó chính là Crowley. Hắn đã chăm sóc chiếc xe rất cẩn thận.

Lý do hắn đến muộn là vì hắn đang khoái trá tận hưởng thế kỷ hai mươi. Thế kỷ hai mươi thú vị hơn nhiều so với thế kỷ mười bảy, và thú vị hơn rất nhiều so với thế kỷ mười bốn. Crowley luôn nói rằng một trong những điều tuyệt vời của Thời gian đó là nó liên tục đưa hắn rời xa thế kỷ mười bốn, một trăm năm chán nhất trên thế giới của Chúa, xin lỗi nhỡ mồm. Thế kỷ hai mươi thì không hề chán chút nào. Thật ra, ánh đèn xanh nhấp nháy trong gương chiếu hậu đã cho Crowley biết, từ năm mươi giây trước, là hắn đang bị theo đuôi bởi hai người sẽ khiến mọi việc còn thú vị hơn với hắn.

Hắn liếc nhìn đồng hồ, vốn được thiết kế dành cho kiểu thợ lặn biển sâu nhà giàu muốn biết giờ ở hai mươi mốt thủ đô trên thế giới khi anh ta đang ở dưới biển (*) .

Chiếc Bentley rồ ga lên dốc, vòng qua ngã rẽ chỉ bằng hai bánh, và lao xuống một con đường đầy lá rụng. Ánh đèn xanh bám theo.

Crowley thở dài, bỏ một tay ra khỏi vô lăng, rồi xoay nửa người lại, với tay qua vai làm một cử chỉ phức tạp.

Ánh đèn xanh mờ dần về đằng xa khi chiếc xe cảnh sát dừng bánh, khiến hai người trong xe hết sức kinh ngạc. Nhưng đó chẳng là gì so với nỗi kinh ngạc của họ khi mở nắp capô và phát hiện ra động cơ đã biến thành cái gì.

Trong nghĩa địa, Hastur, tên quỷ cao, chuyền một mẩu thuốc lá hút dở cho Ligur, tên thấp hơn và là kẻ rình rập giỏi hơn.

“Tao thấy có ánh đèn,” hắn nói. “Hắn đến rồi đây, thằng khoe mẽ khốn kiếp.”

“Hắn lái cái gì thế?” Ligur hỏi.

“Đó là ô tô. Một cái xe ngựa không có ngựa,” Hastur giải thích. “Tao nghĩ lần trước mày lên đây thì chúng chưa có cái đó. Hay ít ra là chưa được sử dụng rộng rãi.”

“Hồi trước chúng có một người ngồi đằng trước cầm cờ đỏ,” Ligur nói.

“Từ đó đến nay chúng cũng tiến bộ tí chút rồi, tao nghĩ vậy.”

“Còn tên Crowley này thì thế nào?” Ligur hỏi.

Hastur nhổ toẹt. “Hắn ở trên này quá lâu rồi,” hắn nói. “Ngay từ Khởi đầu. Thành thổ dân rồi, xin thưa với mày. Lái một cái xe có cả điện thoại ở trong.”

Ligur ngẫm nghĩ về việc này. Như phần lớn bọn quỷ, hiểu biết của hắn về kỹ thuật rất hạn hẹp, và hắn đang định nói gì đó kiểu như là, Tao cá là nó cần rất nhiều dây dợ, thì chiếc Bentley dừng lại trước cửa nghĩa địa.

“Và hắn còn đeo kính râm nữa,” Hastur khinh bỉ, “dù không cần đến.” Hắn cao giọng hơn. “Satan vạn tuế,” hắn nói.

“Satan vạn tuế,” Ligur nói theo.

“Chào,” Crowley nói, giơ tay khẽ vẫy chúng. “Xin lỗi tao đến muộn, nhưng bọn mày biết đường A40 ở Denham là thế nào rồi đấy, rồi tao định đi tắt qua rừng Chorley rồi...”

“Giờ chúng ta đã có mặt đầy đủ,” Hastur nói vẻ nghiêm túc, “thì chúng ta cần báo cáo lại Công tích trong Ngày.”

“Ờ. Công tích,” Crowley nói, với cái vẻ hơi tội lỗi của một người mấy năm rồi mới đi nhà thờ và đã quên mất đến đoạn nào thì phải đứng lên.

Hastur hắng giọng.

“Tao đã dụ dỗ một lão linh mục,” hắn nói. “Khi lão đi xuống phố và thấy bọn gái đẹp dưới nắng, tao đã luồn Hoài Nghi vào tâm trí lão. Lẽ ra lão đã có thể trở thành một vị thánh, nhưng chỉ mười năm nữa là chúng ta sẽ có được lão.”

“Được đấy,” Crowley sốt sắng nói.

“Tao đã làm đồi bại một chính khách,” Ligur nói. “Tao để lão nghĩ một chút hối lộ sẽ không hại gì. Chỉ trong vòng một năm chúng ta sẽ có lão.”

Cả hai tên đều nhìn Crowley vẻ chờ đợi, hắn liền toét miệng cười với chúng.

“Bọn mày sẽ thích vụ này cho mà xem,” hắn nói.

Nụ cười của hắn càng toe toét hơn và có vẻ âm mưu hơn.

“Tao đã chặn hết các hệ thống điện thoại di động ở Trung tâm London trong vòng bốn mươi lăm phút giữa giờ ăn trưa,” hắn nói.

Im lặng, chỉ có tiếng xe phóng vun vút vọng lại từ xa.

“Ừ?” Hastur nói. “Rồi sao?”

“Nghe này, vụ đó không dễ đâu,” Crowley nói.

“Chỉ có thế thôi à?” Ligur hỏi.

“Nghe này, con người...”

“Thế chính xác thì chuyện đó liên quan gì đến việc kiếm thêm linh hồn cho chủ nhân chúng ta?” Hastur hỏi.

Crowley trấn tĩnh.

Hắn có thể nói gì với chúng? Rằng hai mươi ngàn con người đã tức điên lên ư? Rằng ta có thể nghe thấy các tuyến phố huyết mạch inh ỏi tắc cứng lại trên khắp thành phố ư? Rằng những người đó sẽ trút giận lên thư ký hoặc cảnh sát giao thông hoặc gì gì đó, và rồi những người này sẽ lại trút giận lên người khác? Theo đủ mọi kiểu thù hằn ti tiện mà, đây mới là phần hay nhất này, họ tự nghĩ ra. Suốt thời gian còn lại trong ngày. Hiệu ứng dây chuyền là không thể tính xuể. Hàng ngàn linh hồn đã bị phủ một lớp mỏng cáu bẩn, và ta gần như không phải động lấy một ngón tay.

Nhưng ta không thể nói như vậy với những con quỷ như Hastur và Ligur. Rặt một loạt đầu óc thế kỷ mười bốn. Chúng mất hàng năm chỉ tập trung vào một linh hồn duy nhất. Tất nhiên, như vậy mới là nghệ thuật, nhưng ngày nay chúng ta phải nghĩ khác. Không làm lớn, mà làm rộng. Với năm tỉ người trên thế giới, ta không thể vặt từng kẻ một được; ta phải mở rộng tầm ảnh hưởng. Nhưng những tên quỷ như Hastur và Ligur sẽ không hiểu. Ví dụ, chúng sẽ không bao giờ nghĩ ra được kênh truyền hình tiếng Wales. Hay thuê giá trị gia tăng. Hay Manchester.

Hắn đã rất ưng ý với Manchester.

“Các Nhà Cầm Quyền có vẻ hài lòng đấy chứ,” hắn nói. “Thời thế đang thay đổi rồi. Thế có gì mới không?”

Hastur với tay ra sau một bia mộ.

“Có cái này,” hắn nói.

Crowley trố mắt nhìn cái giỏ.

“Ồ,” hắn nói. “Không.”

“Có,” Hastur nhăn nhở nói.

“Đã đến lúc rồi à?”

“Ừ.”

“Và, ờ, tao sẽ phải...”

“Đúng.” Hastur đang hết sức thích thú với việc này.

“Sao lại là tao?” Crowley tuyệt vọng hỏi. “Mày biết tao đấy, Hastur, đây không phải là, mày biết đấy, mặt mạnh của tao...”

“Ồ, có chứ, có chứ,” Hastur nói. “Đây đúng là mặt mạnh của mày còn gì. Vai chính của mày luôn. Nhận lấy đi. Thời thế đang thay đổi rồi.”

“Ừ,” Ligur nhăn nhở cười nói. “Trước hết là nó đang đi đến kết thúc.”

“Nhưng tại sao lại là tao?”

“Rõ ràng là mày rất được ưu ái,” Hastur độc địa nói. “Tao đoán Ligur đây sẽ sẵn sàng đổi cánh tay phải để được làm việc này đấy.”

“Đúng thế,” Ligur nói. Ít ra là cánh tay phải của ai đó, hắn thầm nghĩ. Quanh đây tay phải đầy ra; ngu gì tự bỏ một cánh tay phải lành lặn.

Hastur rút một cái bảng kẹp giấy ra từ giữa các nếp áo mưa cáu bẩn của hắn.

“Ký. Đây,” hắn nói, để một khoảng ngắt khủng khiếp giữa hai từ.

Crowley loay hoay lục lọi một túi trong và rút ra một cái bút. Cái bút thanh mảnh và bóng mờ. Nhìn nó như có thể chạy vượt tốc độ.

“Bút đẹp nhỉ,” Ligur nói.

“Nó có thể viết được dưới nước đấy,” Crowley lầm bầm.

“Chúng còn có thể nghĩ ra cái gì tiếp theo nữa đây?” Ligur trầm ngâm.

“Dù là cái gì thì chúng cũng nên nghĩ nhanh nhanh đi,” Hastur nói. “Không. Không ký tên A. J. Crowley. Tên thật của mày cơ.”

Crowley rầu rĩ gật đầu, rồi viết một chữ ký rắc rối, ngoằn ngoèo trên tờ giấy. Chữ ký rực đỏ trên tờ giấy trong thoáng chốc, rồi mờ đi.

“Thế tao phải làm gì với nó?” hắn hỏi.

“Mày sẽ nhận được chỉ dẫn.” Hastur cau mày. “Sao lo lắng thế, Crowley? Khoảnh khắc chúng ta đã mất bao nhiêu thế kỷ phấn đấu, cuối cùng cũng đã tới!”

“Ừ. Đúng thế,” Crowley nói. Giờ nhìn hắn không còn giống dáng người uyển chuyển đã uyển chuyển nhảy ra khỏi chiếc Bentley mấy phút trước nữa. Hắn trông như đang bị săn đuổi.

“Thời khắc khải hoàn vĩnh hằng của chúng ta sắp đến!”

“Vĩnh hằng. Ờ,” Crowley nói.

“Và mày sẽ là một công cụ góp phần tạo nên định mệnh vẻ vang đó!”

“Công cụ. Ờ,” Crowley lẩm bẩm. Hắn xách cái giỏ lên như thể nó sắp nổ tung. Mà nói theo một cách nào đó thì nó sẽ sớm như thế thật.

“Ờ. Được rồi,” hắn nói. “Vậy, ờ, tao đi đây. Thế nhé? Làm cho xong đi. Không phải là tao muốn làm cho xong đâu,” hắn vội vã thêm vào, biết rõ chuyện gì có thể xảy ra nếu Hastur đem nộp một bản báo cáo bất lợi. “Nhưng bọn mày biết tao rồi đấy. Rất sốt sắng.”

Hai tên quỷ cấp cao không nói gì.

“Thế nên tao sẽ đi ngay đây,” Crowley lảm nhảm. “Hẹn gặp bọn mày ở... gặp lại bọn mày sau. Ờ. Tốt. Tuyệt. Ciao.”

Khi chiếc Bentley lao vào bóng tối, Ligur hỏi, “Từ đó nghĩa là gì?”

“Tiếng Ý đây,” Hastur nói. “Tao nghĩ nó có nghĩa là ‘thức ăn’.”

“Nói thế thì lạ thật,” Ligur nhìn đèn hậu đang xa dần. “Mày tin hắn không?” hắn hỏi.

“Không,” Hastur đáp.

“Phải rồi,” Ligur nói. Hắn thầm nghĩ, sẽ là một thế giới kỳ cục nếu bọn quỷ lại tin tưởng lẫn nhau.

Đâu đó phía tây Amersham, Crowley lao qua màn đêm, hú họa chộp lấy một băng cát xét và cố lôi nó ra khỏi cái vỏ nhựa giòn mỏng trong khi vẫn giữ làn đường. Một ánh đèn pha lóe lên giúp hắn biết đấy là bản Bốn mùa của Vivaldi. Nhạc êm dịu, đó chính là cái hắn cần.

Hắn nhét cái băng vào chiếc đài Blaupunkt.

“Chết tiệt chết tiệt chết tiệt chết tiệt . Tại sao lại là bây giờ? Tại sao lại là mình?” hắn lẩm bẩm khi tiếng nhạc quen thuộc của nhóm Queen vang lên quanh hắn.

Và đột nhiên, Freddie Mercury nói với hắn.

VÌ NGƯƠI XỨNG ĐÁNG VỚI NHIỆM VỤ NÀY, CROWLEY.

Crowley lầm bầm kêu trời. Sử dụng các thiết bị điện tử để liên lạc chính là ý của hắn, và chỉ riêng lần này, Cõi Dưới đã chấp nhận nó, nhưng cũng như mọi khi, ngài đã hiểu sai bét hết cả. Hắn đã hy vọng có thể thuyết phục họ đăng ký vào mạng lưới di động, nhưng thay vào đó họ lại cứ thế can thiệp vào bất kỳ thứ gì hắn đang nghe lúc đó.

Crowley nuốt xuống đánh ực.

“Cảm ơn ngài rất nhiều, thưa chúa tể,” hắn nói.

CHÚNG TA RẤT TIN TƯỞNG VÀO NGƯƠI, CROWLEY.

“Xin cảm ơn, thưa chúa tể.”

VIỆC NÀY RẤT QUAN TRỌNG, CROWLEY.

“Tôi biết, tôi biết.”

ĐÂY LÀ TRẬN CHIẾN VĨ ĐẠI, CROWLEY.

“Xin cứ để tôi lo liệu, thưa chúa tể.”

ĐÂY LÀ ĐIỀU CHÚNG TA ĐANG LÀM, CROWLEY. VÀ NẾU CÓ GÌ SAI SÓT THÌ TẤT CẢ NHỮNG KẺ LIÊN QUAN SẼ BỊ TRỪNG PHẠT KHỦNG KHIẾP, KỂ CẢ NGƯƠI, CROWLEY. NHẤT LÀ NGƯƠI.

Đã hiểu, thưa chúa tể.”

ĐÂY LÀ HƯỚNG DẪN CỦA NGƯƠI, CROWLEY.

Và đột nhiên hắn biết. Hắn ghét chuyện đó. Họ có thể nói cho hắn biết là được, việc gì họ phải bất thình lình thả thông tin lạnh lẽo vào não hắn như thế. Hắn phải lái xe đến một bệnh viện nọ.

“Tôi sẽ có mặt ở đó trong vòng năm phút, thưa chúa tể, không vấn đề gì.”

TỐT. I see a little silhouetto of a man scaramouche scaramouche will you do the fandango (*) ...

Crowley đấm lên vô lăng. Mọi thứ đang rất êm đẹp, hắn đã kiểm soát được tất cả suốt mấy thế kỷ vừa qua. Mọi chuyện là thế đấy, ta cứ nghĩ mình đã làm chủ thế giới, thế rồi tự nhiên họ tống Tận thế cho ta. Cuộc chiến Vĩ đại, Trận chiến Cuối cùng. Thiên đường đấu với Địa ngục, ba hiệp, một bên phải bại, không quy phục. Và thế là xong. Không còn thế giới nữa. Tận thế có nghĩa là như thế. Không còn thế giới nữa. Chỉ toàn Thiên đường vô tận, hoặc, tùy ai thắng, Địa ngục vô tận. Crowley không biết cái nào khủng khiếp hơn.

Ờ, tất nhiên Địa ngục theo định nghĩa thì phải tệ hơn rồi. Nhưng Crowley vẫn còn nhớ Thiên đường là như thế nào, và nó có vài điểm tương đồng với Địa ngục. Trước hết, ở cả hai nơi ta đều chẳng kiếm nổi một thức uống ra hồn. Và sự nhàm chán ở Thiên đường cũng tệ không kém gì cơn kích động ở Địa ngục.

Nhưng chạy đằng trời. Ta không thể làm quỷ mà lại có ý chí tự do.

... I will not let you go (let him go)...

Thôi, ít nhất cũng chưa phải là ngay năm nay. Hắn vẫn có thời gian để lo liệu mọi việc. Trước hết là tống khứ các cổ phần dài hạn đi cái đã.

Hắn tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu hắn cứ dừng xe ở đây, trên con đường tối tăm, ẩm ướt và vắng hoe này, cầm cái giỏ lên xoay vài vòng rồi thả tay...

Sẽ xảy ra một chuyện khủng khiếp chứ gì nữa.

Hắn đã từng có thời là thiên thần. Hắn không chủ đích Sa Ngã. Chỉ là hắn đã chơi với nhầm người thôi.

Chiếc Bentley lao tiếp qua màn đêm, kim nhiên liệu chỉ về số không. Kim đã chỉ về số không từ sáu chục năm nay rồi. Làm quỷ cũng không đến nỗi. Ít ra cũng không phải đổ xăng. Lần duy nhất Crowley mua xăng là vào năm 1967, để được tặng miếng dán lỗ-đạn-trên-kính-chắn-gió kiểu James Bond, mà hồi đó hắn rất thích.

Trên ghế sau vật nằm trong giỏ bắt đầu khóc; tiếng khóc của trẻ sơ sinh nghe như còi báo có máy bay ném bom. The thé. Không lời. Và xưa ơi là xưa.

Đây là một bệnh viện khá dễ chịu, ông Young nghĩ. Nếu không có mấy bà xơ thì nó sẽ còn khá yên tĩnh nữa.

Ông khá mến các bà xơ. Không phải vì ông là dân cuồng đạo hay gì gì đâu. Không, khi nói đến chuyện tránh đi nhà thờ thì cái nhà thờ duy nhất ông lạnh lùng tránh như tránh hủi là nhà thờ Thánh Cecil và Các Thiên thần, nhà thờ Giáo hội Anh chính hiệu, chứ mọi nhà thờ khác thì ông nào có dám từ chối. Các nhà thờ khác đều có mùi không đúng - Dòng Thờ Nhỏ thì toàn mùi xi đánh sàn, Dòng Thờ Lớn thì lại toàn mùi hương trầm ám muội. Sâu thẳm trong chiếc ghế da là linh hồn mình, ông Young biết Chúa sẽ thấy ngượng vì những thứ như vậy.

Nhưng ông thích thấy các bà xơ quanh mình, cũng như ông thích thấy Đội quân Cứu Tế. Nó khiến ta có cảm giác mọi chuyện đều ổn, rằng đâu đó vẫn có người đang giữ cho thế giới cân bằng.

Nhưng đây là trải nghiệm đầu tiên của ông với dòng Thánh Beryl Huyên thuyên. (*)

Deirdre đã tình cờ gặp họ trong lúc đương thực hiện một đại nghĩa nào đó, hình như liên quan đến nhiều người Nam Mỹ khó ưa đang tẩn nhau với nhiều người Nam Mỹ khó ưa khác và đám linh mục lại bơm cho họ đánh hăng hơn thay vì quan tâm đến những việc linh mục, như là xếp lịch phân công dọn dẹp nhà thờ chẳng hạn.

Vấn đề là, các bà xơ phải yên lặng. Họ có hình dáng thích hợp cho sự yên lặng, như những vật nhọn nhọn trong các căn phòng mà ông Young mang máng nhớ là được dùng để thử loa hi-fi. Họ không nên, ờ, huyên thuyên luôn mồm như thế.

Ông nhồi thuốc lá vào tẩu - ờ, họ gọi nó là thuốc lá, nhưng nó lại không phải cái mà ông nghĩ là thuốc lá, không phải loại thuốc lá ta thường mua được ngày xưa - và băn khoăn tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta hỏi một bà xơ xem nhà vệ sinh nam ở đâu. Có lẽ Giáo hoàng sẽ gửi cho ta một lá thư quở trách hoặc là gì đó. Ông lúng túng vặn vẹo người và liếc nhìn đồng hồ đeo tay.

Nhưng dù sao cũng được một điều: ít ra các bà xơ đã khăng khăng không cho ông có mặt trong buồng sinh. Deirdre thì lại muốn ông có mặt. Bà ấy đã lại đọc phải cái gì đó. Đã có một đứa rồi mà tự dưng bà ấy lại tuyên bố lần sinh nở này sẽ là trải nghiệm hạnh phúc và san sẻ nhất mà hai con người có thể có được. Đó là hậu quả của việc để bà ấy tự đặt báo đấy. Ông Young nghi ngờ bất kỳ tờ báo nào mà các trang bên trong có những cái tên như là “Lối sống” hoặc “Lựa chọn”.

Thực ra ông cũng không phản đối các trải nghiệm hạnh phúc san sẻ. Ông hoàn toàn ủng hộ các trải nghiệm hạnh phúc san sẻ. Thế giới có lẽ cần nhiều trải nghiệm hạnh phúc san sẻ hơn. Nhưng ông đã nói rất rõ rằng đây là một trải nghiệm hạnh phúc san sẻ mà Deirdre cứ hưởng lấy một mình.

Và các bà xơ đã nhất trí. Họ thấy không có lý do gì ông bố phải dính dáng đến quá trình sinh nở cả. Ông Young tự nhủ, nghĩ lại thì có lẽ họ thấy không có lý do gì ông bố phải liên quan đến bất kỳ việc gì.

Ông nhồi xong cái gọi là thuốc lá vào tẩu và trợn mắt nhìn tấm biển nhỏ trên tường phòng chờ thông báo rằng, vì sự thoải mái của chính ông, ông sẽ không hút thuốc. Vì sự thoải mái của chính ông, ông quyết định sẽ ra ngoài hiên đứng. Nếu ở đó có một bụi cây kín đáo cho sự thoải mái của chính ông thì càng tốt.

Ông đi xuống các hành lang trống trơn và tìm thấy một cánh cửa dẫn ra một mảnh sân đẫm mưa, đầy các thùng rác công chính.

Ông rùng mình và chụm tay lại để châm tẩu.

Các bà vợ đến một tuổi nào đó đều bị thế cả. Hai mươi lăm năm trời không chê vào đâu được, thế rồi tự dưng họ chập mạch rồi bắt đầu tập những bài thể dục như người máy trong đôi tất hồng hở chân và trách cứ ta vì chưa bao giờ đi làm kiếm tiền. Chắc là tại hormone hay gì gì đó.

Một chiếc xe hơi lớn màu đen phanh kít lại bên mấy cái thùng rác. Một gã trai trẻ đeo kính râm nhảy ra dưới màn mưa bụi, cầm theo một cái nhìn như một cái nôi xách và uốn éo đi về phía cửa vào.

Ông Young bỏ tẩu thuốc ra khỏi miệng. “Anh quên tắt đèn kìa,” ông nói vẻ ân cần.

Tên kia nhìn ông bối rối với cái vẻ của người không bao giờ bận tâm đến chuyện đèn đóm, rồi lơ đễnh vẫy một tay về phía chiếc Bentley. Đèn xe tắt ngóm.

“Tiện nhỉ,” ông Young nói. “Hồng ngoại phải không?”

Ông hơi ngạc nhiên khi thấy tên kia có vẻ không bị ướt. Và dường như trong cái nôi xách đã có em bé.

“Đã bắt đầu chưa?” tên kia hỏi.

Ông Young thấy thoáng tự hào khi người ta tức thì nhận ra ông là một ông bố.

“Rồi,” ông nói. “Họ bắt tôi ra ngoài,” ông nói thêm vẻ cảm ơn.

“Đã bắt đầu rồi cơ à? Có biết bao lâu nữa thì chúng ta xong không?”

Chúng ta, ông Young để ý ngay. Rõ ràng đây là một tay bác sĩ với quan điểm cùng nuôi dạy con.

“Tôi nghĩ chúng ta đang, ờ, thực hiện đấy,” ông Young nói.

“Bà ta ở phòng số mấy?” tên kia vội vã hỏi.

“Chúng tôi ở Phòng Ba,” ông Young đáp. Ông vỗ vỗ túi và tìm thấy gói thuốc lá rúm ró mà ông đã đem đi, theo đúng truyền thống.

“Chúng ta có muốn cùng san sẻ một trải nghiệm thuốc lá hạnh phúc không?” ông hỏi.

Nhưng tên kia đã đi mất.

Ông Young cẩn thận cất gói thuốc lá vào túi và trầm ngâm nhìn cái tẩu. Lúc nào cũng vội vã, đám bác sĩ này ấy. Làm việc quần quật chẳng bao giờ ngừng.

Có một trò ảo thuật được thực hiện bằng một hạt đậu và ba cái cốc, rất khó theo dõi, và một chuyện tương tự thế, nhưng với khoản đặt cược lớn hơn nhiều so với một nắm tiền lẻ, sắp diễn ra.

Đoạn này sẽ được viết chậm lại để các bạn có thể theo dõi được trò ảo thuật.

Bà Deirdre Young đang chuyển dạ trong Phòng Hộ sinh Số Ba. Bà sẽ sinh ra một bé trai tóc vàng chúng ta gọi là Bé A.

Vợ của ngài Tùy viên Văn hóa Mỹ, bà Harriet Dowling, đang chuyển dạ trong Phòng Hộ sinh số Bốn. Bà sẽ sinh ra một bé trai tóc vàng chúng ta gọi là Bé B.

Xơ Mary Lắm Mồm đã là tín đồ Satan rất thành kính từ lúc lọt lòng. Khi nhỏ xơ đã đi học trường Sabbat và được thưởng sao đen vì viết chữ đẹp và chịu ăn món gan (*) . Khi được bảo phải gia nhập dòng tu Huyên thuyên, xơ đã ngoan ngoãn gia nhập, vì có tài thiên phú trong lĩnh vực đó, và dù sao xơ biết ở đó mình sẽ có bạn. Lẽ ra xơ đã có thể khá sáng dạ, Nếu xơ có cơ hội biết ra điều ấy, nhưng từ lâu xơ đã phát hiện ra rằng làm một đứa óc bã đậu, như xơ nói, sẽ giúp ta có cuộc sống dễ dàng hơn. Hiện tại xơ đang được giao cho một bé trai tóc vàng mà chúng ta sẽ gọi là Địch Thủ, Kẻ Hủy Diệt Vương Triều, Thiên Thần Hố Thẳm, Quái Vật Vĩ Đại tên gọi là Rồng, Ông Hoàng của Thế giới Này, Cha Đẻ của Dối Trá, Con của Satan, và Chúa Tể Bóng Tối.

Theo dõi cho kỹ nhé. Họ sẽ đi lòng vòng...

“Ngài đấy ư?” Xơ Mary nói, trố mắt nhìn đứa bé. “Thế mà tôi nghĩ ngài sẽ có cặp mắt kỳ khôi cơ. Đỏ, hoặc xanh lá. Hoặc có những cái móng guốc nhỏ xíu xìu xiu. Hay một cái đuôi xinh xinh.” Vừa nói xơ vừa lật đứa bé lại. Cũng không có sừng. Con của quỷ sứ nhìn bình thường đến đáng sợ.

“Ừ, nó đấy,” Crowley nói.

“Thử tưởng tượng xem, tôi lại được bế Kẻ Chống Chúa,” xơ Mary nói. “Và tắm cho Kẻ Chống Chúa. Và đếm từng ngón chân xíu xìu xiu...”

Giờ xơ đang nói trực tiếp với đứa bé, chìm đắm trong một thế giới của riêng mình. Crowley huơ tay trước khăn trùm của xơ. “Xin chào? Xin chào? Xơ Mary?”

“Xin lỗi ông. Chỉ là ngài dễ thương quá. Ngài có giống bố ngài không? Tôi cá là có. Ngài có giống bố ba bố bị không nhỉ...”

“Không,” Crowley quả quyết nói. “Giờ thì nếu tôi là xơ, tôi sẽ nhanh chân lên phòng hộ sinh ngay.”

“Khi lớn lên liệu ngài có còn nhớ tôi không nhỉ?” Xơ Mary bâng khuâng nói, chầm chậm đi xuôi hành lang.

“Hãy cầu mong là ngài không nhớ,” Crowley nói, và ba chân bốn cẳng chạy đi.

Xơ Mary đi qua bệnh viện buổi đêm, ẵm gọn Địch Thủ, Kẻ Hủy Diệt Vương Triều, Thiên Thần Hố Thẳm, Quái Vật Vĩ Đại tên gọi là Rồng, Ông Hoàng của Thế giới Này, Cha Đẻ của Dối Trá, Con của Satan, và chúa Tể Bóng Tối trên tay. Xơ tìm thấy một cái xe nôi và đặt nó vào đó.

Nó ậm ọe. Xơ cù nó một cái.

Một cái đầu nghiêm trang xuất hiện sau một khuôn cửa. Cái đầu nói, “Xơ Mary, xơ làm gì ở đây? chẳng phải xơ đang làm nhiệm vụ ở Phòng Bốn sao?”

“Ông Crowley nói...”

“Xơ đi nhanh lên, chóng ngoan nào. Xơ có thấy ông chồng đâu không? Ông ta không có trong phòng chờ.”

“Tôi mới chỉ gặp ông Crowley thôi, và ông ấy bảo tôi...”

“Tôi dám chắc là thế rồi,” xơ Grace Liến Thoắng nghiêm nghị nói. “Chắc tôi phải đi tìm người đàn ông khốn khổ ấy thôi. Xơ vào trông chừng bà ấy đi nhé? Bà ấy hơi mụ mị một tí, nhưng đứa bé thì ổn cả.” Xơ Grace ngừng lời. “Sao xơ lại nháy mắt? Mắt xơ làm sao à?”

“Xơ biết đấy!” Xơ Mary rít lên vẻ tinh quái. “Hai đứa bé sơ sinh. Vụ hoán đổi...”

“Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi. Từ từ rồi đâu sẽ vào đó. Nhưng chúng ta không thể để ông bố đi vơ vẩn xung quanh được, đúng không?” Xơ Grace nói. “Ai biết được ông ta sẽ thấy gì. Nên xơ cứ đợi ở đây và để mắt đứa bé nhé, ngoan lắm.”

Xơ Grace lướt đi dọc hành lang bóng lộn. Xơ Mary, đẩy cái xe nôi, tiến vào phòng hộ sinh.

Bà Young không chỉ hơi mụ mị. Bà đang ngủ say tít, với cái vẻ tự đắc rành rành của người biết rằng những người khác sẽ phải chạy nhốn nháo trong dịp này. Bé A đang nằm ngủ bên cạnh bà, đã được cân và đeo thẻ tên. Xơ Mary, từ bé đã được dạy là phải luôn tỏ ra có ích, liền gỡ cái thẻ tên ra, chép nó lại, và đeo thẻ tên sao chép này vào đứa bé mà xơ đang trông.

Hai đứa bé na ná nhau, đều nhỏ, da lốm đốm đỏ, và nhìn hơi giống, tuy không hẳn thế, Winston Churchill.

Giờ, xơ Mary thầm nghĩ, mình cần một tách trà thật ngon.

Phần lớn các thành viên của tu viện đều là những người thờ Satan kiểu ngày xưa, như bố mẹ và ông bà họ trước kia. Họ đã được nuôi dạy trong môi trường đó, và xét cho cùng thì họ cũng không phải là người đặc biệt xấu xa. Hầu hết con người đều không phải là người xấu. Họ chỉ bị những ý tưởng mới lôi kéo, như là đi ủng cao đến gối và bắn mọi người, hay trùm khăn trắng và hành hình mọi người, hay mặc quần bò nhuộm loang và chơi ghita vào mặt mọi người. Hãy cho con người một tín ngưỡng mới với bộ đồ mới, và con tim lẫn bộ óc của họ sẽ theo liền. Dù sao thì được nuôi dạy thành tín đồ Satan cũng khiến mọi chuyện bớt ghê gớm đi. Đó chỉ là những việc ta vẫn làm mỗi tối thứ Bảy. Và thời gian còn lại thì ta cố xoay xở hết mức có thể với cuộc sống, như tất cả những người khác thôi. Hơn nữa, xơ Mary là y tá, và y tá, dù tín ngưỡng của họ là gì đi chăng nữa, thì trước hết vẫn cứ là y tá, tức là liên quan đến những chuyện như là đeo đồng hồ mặt trong cổ tay, bình tĩnh trong trường hợp khẩn cấp, và thèm uống trà. Xơ hy vọng sẽ sớm có người tới đây; xơ đã hoàn thành phần quan trọng rồi, giờ xơ chỉ muốn uống trà.

Ta sẽ hiểu nhân loại hơn khi nhận rõ rằng phần lớn các thắng lợi và các bi kịch vĩ đại của lịch sử đều được thực hiện không phải bởi những con người cốt lõi là thiện hay cốt lõi là ác, mà bởi những con người cốt lõi là con người.

Có tiếng gõ cửa. Xơ ra mở cửa.

“Đã xong chưa?” ông Young hỏi. “Tôi là bố. Ông chồng. Sao cũng được. Cả hai.”

Xơ Mary tưởng ngài Tùy viên Văn hóa Mỹ phải nhìn giống Blake Carrington hoặc J. R. Ewing (*) . Ông Young nhìn chẳng giống bất kỳ người Mỹ nào xơ đã thấy trên tivi, có lẽ ngoại trừ ông cảnh sát trưởng có vẻ cha chú trong loại phim trinh thám cao cấp hơn (*) . Ông khiến xơ hơi thất vọng. Xơ cũng thấy cái áo khoác len của ông thật quá tầm thường.

Xơ nén nỗi thất vọng. “Ôôôi, phải rồi,” xơ nói. “Xin chúc mừng. Phu nhân vợ ngài đang ngủ, tội nghiệp.”

Ông Young ngó qua vai xơ. “Sinh đôi à?” ông hỏi. Ông lần tìm cái tẩu. Ông ngừng lần tìm cái tẩu. Ông lại lần tìm nó. “Sinh đôi à? Không ai nói gì về chuyện sinh đôi cả.”

“Ồ không!” Xơ Mary vội nói. “Đây mới là con ngài. Cháu kia là... ờ... con người khác. Tôi chỉ đang trông cháu cho đến khi xơ Grace quay lại thôi. Không,” xơ nhắc lại, chỉ vào Địch Thủ, Kẻ Hủy Diệt Vương Triều, Thiên Thần Hố Thẳm, Quái Vật Vĩ Đại tên gọi là Rồng, Ông Hoàng của Thế giới Này, Cha Đẻ của Dối Trá, Con của Satan, và Chúa Tể Bóng Tối, “đây chắc chắn là con ngài. Từ đỉnh đầu cho đến chót móng guốc xỉnh xình xinh... mà cháu không có,” xơ vội nói thêm.

Ông Young nhìn xuống.

“À, phải,” ông nói vẻ nghi ngờ. “Nhìn nó giống đằng nội. Nó, ờ, không có vấn đề gì đâu, đúng không?”

“Ồ, vâng,” xơ Mary nói. “Cháu là một đứa trẻ rất bình thường,” xơ nói thêm. “Rất, rất bình thường.”

Im lặng một thoáng. Họ cùng nhìn đứa bé đang ngủ.

“Giọng ngài không lơ lớ mấy,” xơ Mary nói. “Ngài đã đến đây lâu chưa?”

“Khoảng mười năm,” ông Young hơi bối rối đáp. “Do chuyển công tác, xơ biết đấy, nên tôi cũng phải chuyển nhà.”

“Tôi luôn nghĩ đó hẳn là một công việc rất thú vị,” xơ Mary nói. Ông Young có vẻ rất hài lòng. Chẳng mấy người biết đánh giá đúng những khía cạnh thú vị của nghề kế toán chi phí.

“Tôi đoán chỗ ngài ở trước kia rất khác,” xơ Mary nói.

“Vâng, chắc vậy,” ông Young nói, ông chẳng bao giờ nghĩ về chuyện đó. Theo như ông nhớ thì Luton cũng giống hệt Tadfield. Cũng kiểu hàng giậu giữa nhà và ga tàu như vậy. Cũng kiểu dân cư như vậy.

“Ít nhất nhà cao hơn này,” xơ Mary đánh liều nói.

Ông Young trố mắt nhìn xơ. Tòa nhà cao tầng duy nhất ông có thể nghĩ tới là văn phòng ngân hàng Alliance & Leicester.

“Và tôi đoán là ngài rất hay dự các bữa tiệc gia viên,” bà xơ nói.

À. Vụ này thì ông biết. Deirdre rất thích những chuyện như vậy.

“Nhiều lắm,” ông nói vẻ sôi nổi. “Deirdre làm mứt cho các bữa tiệc đó, xơ biết đấy. Và tôi còn phải giúp vụ đổi quà Voi Trắng nữa.”

Đây là một khía cạnh giao tế tại cung điện Buckingham mà xơ Mary chưa bao giờ biết tới, nhưng con voi nghe có vẻ rất hợp lý.

“Tôi đoán chúng là đồ cống nạp,” xơ nói. “Tôi đã đọc được là các nguyên thủ nước ngoài thường tặng nữ hoàng đủ thứ.”

“Xơ nói sao kia?”

“Tôi rất hâm mộ hoàng gia, ông biết đấy.”

“À, vâng, tôi cũng vậy,” ông Young nói, nhẹ nhõm nhảy lên tảng băng mới đang trôi nổi giữa dòng ý thức lộn xộn này. Phải, ta biết ta phải nói gì khi nói đến hoàng gia. Tất nhiên là hoàng gia xịn, chịu khó đi vẫy tay và khánh thành cầu đường. Chứ không phải những người chỉ biết đi nhảy disco cả đêm rồi nôn lên paparazzi. (*)

“Tuyệt quá,” xơ Mary nói. “Tôi cứ tưởng người như các ngài không ưa họ lắm chứ, cứ coi mấy vụ cách mạng rồi ném đồ trà xuống sông (*) ấy.”

Xơ huyên thuyên nói tiếp, được khuyến khích bởi điều luật của dòng tu là các nữ tu nên luôn luôn nói bất kỳ điều gì xuất hiện trong óc. Ông Young chẳng hiểu mô tê gì, và giờ đã quá mệt để bận tâm đến chuyện đó. Đời sống tôn giáo có lẽ đã khiến họ trở nên hơi kỳ cục. Ông ước gì bà Young thức dậy. Rồi một trong những từ trong lời lải nhải của xơ Mary làm nảy ra một hy vọng trong ông.

“Liệu tôi có thể xin một tách trà không?” ông đánh bạo hỏi.

“Ôi trời,” xơ Mary nói, đưa tay lên miệng, “tôi đang nghĩ gì thế nhỉ?”

Ông Young không đáp lại.

“Tôi sẽ đi lo chuyện đó ngay,” xơ nói. “Nhưng ngài có chắc là ngài không muốn uống cà phê đấy chứ? Ở tầng trên có máy bán tự động đấy.”

“Xin xơ tách trà thôi,” ông Young nói.

“Chà, đúng là ngài đã thành người bản xứ rồi đấy nhỉ,” xơ Mary vui vẻ nói trong lúc vội vã đi ra.

Ông Young, chỉ còn lại một mình với bà vợ đang ngủ và hai đứa bé cũng đang ngủ, ngồi phịch xuống một cái ghế. Phải, chắc là tại mấy vụ dậy sớm rồi quỳ xuống, đại loại thế. Tất nhiên, họ đều là người tử tế cả, nhưng đầu óc không tỉnh táo lắm. Có lần ông đã xem một bộ phim của Ken Russell (*) . Trong đó có các nữ tu. Ở đây có vẻ không có những chuyện như vậy, nhưng không có lửa thì làm sao có khói, vân vân...

Ông thở dài.

Đúng lúc đó Bé A thức giấc và bắt đầu gào thật to.

Đã nhiều năm rồi ông Young chưa phải dỗ một đứa bé đang khóc. Mà ông vốn cũng chẳng giỏi giang gì việc đó. Ông luôn rất kính trọng ngài Winston Churchill, và ông thấy việc vỗ mông các phiên bản nhỏ hơn của ngài thật là thất lễ.

“Chào mừng đến với thế giới,” ông mệt mỏi nói. “Rồi nhóc sẽ quen với nó thôi.”

Đứa bé ngậm miệng và trừng mắt nhìn ông như thể ông là một vị tướng ngoan cố.

Đúng lúc đó xơ Mary đem trà vào. Dù có thờ phụng Satan hay không, xơ cũng tìm được một cái đĩa và bày lên đó ít bánh quy phủ đường. Đó là loại bánh quy ta chỉ tìm được ở dưới đáy một số hộp bánh quy dùng kèm trà. Cái bánh của ông Young có màu hồng chóe như dụng cụ phẫu thuật, và trên đó có vẽ một người tuyết bằng đường.

“Tôi đoán là ngài không thường ăn loại này,” xơ nói. “Các ngài gọi nó là cookie. Còn chúng tôi gọi là bích quy.”

Ông Young vừa mở miệng ra để giải thích là vâng, ông cũng gọi chúng vậy, và thậm chí cả ở Luton cũng thế nữa, thì một bà xơ khác lao vào phòng, thở không ra hơi.

Xơ nhìn xơ Mary, nhận ra ông Young chưa bao giờ nhìn thấy bên trong một hình sao năm cánh (*) , và đành chỉ vào Bé A rồi nháy mắt.

Xơ Mary gật đầu và nháy mắt lại.

Bà xơ kia đẩy đứa bé ra.

Xét những cách giao tiếp giữa con người với nhau thì một cái nháy mắt khá là đa năng. Ta có thể nói rất nhiều điều với một cái nháy mắt. Ví dụ, cái nháy mắt của bà xơ kia nghĩa là:

Xơ đã ở chỗ quỷ nào thế hả? Bé B đã ra đời, chúng ta đã sẵn sàng tráo đổi, thế mà xơ lại ngồi ở phòng này, với Địch Thủ, Kẻ Hủy Diệt Vương Triều, Thiên Thần Hố Thẳm, Quái Vật Vĩ Đại tên gọi là Rồng, Ông Hoàng của Thế giới Này, Cha Đẻ của Dối Trá, Con của Satan, và Chúa Tể Bóng Tối, mà uống trà. Xơ có biết tôi đã suýt bị bắn không?

Và, theo như xơ biết, thì cái nháy mắt đáp lại của xơ Mary nghĩa là: Đây là Địch Thủ, Kẻ Hủy Diệt Vương Triều, Thiên Thần Hố Thẳm, Quái rật Vĩ Đại tên gọi là Rồng, Ông Hoàng của Thế Giới Này, Cha Đẻ của Dối Trá, Con của Satan, và Chúa Tể Bóng Tối, và giờ tôi không nói được vì đang có mặt người ngoài.

Trong khi đó, xơ Mary lại nghĩ cái nháy mắt của xơ hộ lý có nghĩa là:

Giỏi lắm, xơ Mary đã tự mình đổi hai đứa bé. Giờ hãy chỉ cho tôi biết đứa bé thừa và tôi sẽ đưa nó đi, để xơ tiếp trà với ngài Tướng công Văn hóa Mỹ.

Và vì vậy cái nháy mắt của xơ có nghĩa là:

Đây, xơ thân mến; đó là Bé B, giờ hãy đưa nó đi và để tôi nói chuyện với Tướng công đây. Tôi luôn muốn hỏi ngài ấy tại sao họ lại có những tòa nhà cao tầng bên ngoài lắp gương.

Ông Young hoàn toàn không biết gì về những sự tinh tế này, mà chỉ thấy cực kỳ ngượng ngùng vì những cử chỉ âu yếm bí mật kia và đang nghĩ: Cái ông Russell (*) kia, đúng là ông ta biết rõ mình đang nói gì, không lẫn vào đâu được.

Bà xơ kia lẽ ra đã có thể nhận ra nhầm lẫn của xơ Mary, nhưng chính xơ vừa bị rối trí bởi các mật vụ trong phòng của bà Dowling, họ cứ nhìn xơ chằm chằm, mỗi lúc một bực dọc hơn. Đó là bởi họ đã được huấn luyện để phản ứng theo một cách nhất định với những người mặc áo choàng dài và trùm khăn dài phất phới, và giờ họ đang phải vật lộn với những dấu hiệu mâu thuẫn. Những người đang phải vật lộn với những dấu hiệu mâu thuẫn thì không nên cầm súng, nhất là khi họ vừa phải chứng kiến một ca sinh nở tự nhiên, chắc chắn là một cách không Mỹ tẹo nào để đón một công dân mới vào đời. Và họ đã nghe nói là trong tòa nhà có kinh sách (*) .

Bà Young cựa mình.

“Các vị đã chọn tên cho cháu chưa?” Xơ Mary tinh quái hỏi.

“Hử?” ông Young nói. “Ồ. Chưa, chưa hẳn. Nếu là con gái thì chúng tôi sẽ đặt là Lucinda theo tên mẹ tôi. Hoặc là Germaine. Đó là tên Deirdre chọn.”

“Wormwood là một cái tên hay,” bà xơ nói, nhớ lại những tác phẩm kinh điển đã đọc. “Hoặc Damien. Tên Damien rất phổ biến.” (*)

Anathema (*) Device - mẹ con bé, vốn không rành các vấn đề tôn giáo, tình cờ đọc được từ đó vào một ngày nọ và nghĩ nó là một cái tên đáng yêu cho con gái - được tám tuổi rưỡi, và nó đang đọc Cuốn Sách, dưới chăn phủ giường, bằng một cái đèn pin.

Những đứa trẻ khác học đọc bằng sách vỡ lòng cơ bản với tranh màu hình quả táo, quả bóng, con gián, đại loại thế. Gia đình Device thì không. Anathema đã học đọc từ Cuốn Sách.

Trong đó không có táo hay bóng gì cả. Nó có một bức tranh khắc gỗ khá đẹp hình Agnes Nutter bị thiêu sống và nom khá vui vẻ về chuyện đó.

Từ đầu tiên con bé nhận ra là tuyệt đích. Rất ít người ở tuổi tám rưỡi biết rằng tuyệt đích còn có nghĩa là “cực kỳ chính xác”, nhưng Anathema là một trong số đó.

Từ thứ hai là chuẩn xác.

Câu đầu tiên con bé có thể đọc thành lời là:

“Ta nói với con điều này, và con phải gánh vác những lời của ta. Bốn kẻ sẽ lên đường, và Bốn kẻ nữa cũng sẽ lên đường, và Ba kẻ khác sẽ bay trên lưng chừng trời, và Một sẽ cưỡi trên lửa; và sẽ không gì có thể ngăn được họ: cá cũng không, mưa gió cũng không, đường sá cũng không, cả Thiên thần lẫn quỷ sứ cũng không. Và con cũng sẽ có mặt ở đó, Anathema.”

Anathema thích đọc về bản thân.

(Có những cuốn sách mà các bậc phụ huynh tận tâm, những người biết phải đọc tờ báo chủ nhật nào, có thể mua, với tên con cái của họ được in vào thành tên nhân vật chính. Làm như thế đứa trẻ sẽ thích thú hơn với cuốn sách. Trong trường hợp của Anathema, không chỉ có tên con bé ở trong Cuốn Sách - và cho đến giờ thì cuốn sách vẫn chuẩn không cần chỉnh - mà còn có cả bố mẹ nó, ông bà nó, và tất cả mọi người, lùi về đến tận thế kỷ mười bảy. Lúc này con bé còn quá nhỏ và vẫn chỉ biết đến mình nên nó không thể nhận ra rằng Cuốn Sách không hề nhắc đến con cái của nó hay thật ra là bất kỳ sự kiện nào trong tương lai xa hơn mười một năm tới. Khi ta tám tuổi rưỡi, mười một năm là cả một đời người, và tất nhiên, nếu ta tin vào Cuốn Sách, thì đó đúng là một đời người thật.)

Con bé là một đứa sáng dạ, với khuôn mặt xanh xao, tóc đen, mắt đen. Nó thường khiến mọi người cảm thấy hơi khó chịu, một đặc điểm di truyền nó đã thừa hưởng được, cùng với khả năng ngoại cảm quá hóa hại, từ bà cố-cố-cố-cố-cố ngoại của mình.

Con bé già trước tuổi và rất tự chủ. Điều duy nhất mà các giáo viên của Anathema dám đem ra để trách mắng nó là cách đánh vần của nó, không phải vì con bé đánh vần sai, mà vì đấy là cách đánh vần của ba trăm năm trước.

Các bà xơ đem Bé A đổi với Bé B ngay trước mũi vợ ngài tùy viên và đám mật vụ, bằng mưu chước khéo léo là đẩy một đứa bé đi (“để cân, cưng ạ, phải làm thế, đó là luật mà”) và lát sau đẩy một đứa bé khác về.

Bản thân ngài Tùy viên Văn hóa, Thaddeus J. Dowling, đã bị gọi gấp về Washington mấy ngày trước, nhưng ông đã nói chuyện qua điện thoại với bà Dowling suốt quá trình vượt cạn, giúp bà hít thở.

Khổ nỗi ông ta lại đang nói chuyện với cố vấn đầu tư của mình ở đường dây bên kia. Có lúc ông ta đã phải để bà vợ chờ máy suốt hai mươi phút.

Nhưng không sao.

Có con là trải nghiệm chung hạnh phúc nhất mà hai con người có thể cùng chia sẻ, và ông ta sẽ không bỏ lỡ một giây nào.

Ông ta đã bảo một mật vụ quay phim lại cho mình.

Cái ác nhìn chung không bao giờ ngủ, và vì vậy nó không hiểu sao người khác lại phải ngủ. Nhưng Crowley thì thích ngủ, đó là một trong những khoái lạc của thế gian này. Nhất là sau một bữa ăn no nê. Đơn cử là hắn đã ngủ gần hết thế kỷ mười chín. Không phải vì hắn cần, mà chỉ đơn giản vì hắn thích. (*)

Một trong những khoái lạc của thế gian này. Hừ, hắn nên thật sự tận hưởng khoái lạc ngay đi, khi vẫn còn thời gian.

Chiếc Bentley gầm rú lao qua màn đêm, hướng về phía đông.

Tất nhiên, hắn hoàn toàn ủng hộ Ngày Tận thế khi xét đại thể. Nếu ai đó hỏi hắn tại sao hắn lại dành hàng thế kỷ phá thối công việc của nhân loại thì hắn sẽ nói, “À, để tạo ra Ngày Tận thế và giúp Địa ngục chiến thắng.” Nhưng xoay xở để đưa đến nó là một chuyện, còn nó thực sự xảy ra lại là chuyện khác.

Crowley đã luôn biết hắn sẽ có mặt khi thế giới đi đến hồi kết, vì hắn bất tử và không có lựa chọn nào khác. Nhưng hắn đã mong là sẽ còn lâu mới đến lúc đó.

Vì hắn khá mến con người. Đó là một khuyết điểm lớn của một tên quỷ.

À ừ, hắn có hết sức cố gắng để khiến cuộc sống ngắn ngủi của họ trở nên khốn khổ, vì đó là việc của hắn, nhưng tất cả những mưu chước hắn nghĩ ra đều không tệ bằng một nửa những thứ nhân loại tự nghĩ ra. Dường như họ có năng khiếu trong việc đó. Nó được cài sẵn vào thiết kế của họ hay sao ấy. Họ sinh ra trong một thế giới thù địch với họ theo cả ngàn cách, và rồi họ dành phần lớn năng lượng của mình khiến cho nó càng tệ hơn. Theo năm tháng, Crowley càng ngày càng thấy khó có thể làm được điều gì thật sự độc địa, mà nó nổi bật hơn hẳn so với mặt bằng xấu xa chung. Đã có lúc, trong thiên niên kỷ vừa rồi, hắn chỉ muốn nhắn tin xuống Bên Dưới và bảo, Này, có lẽ chúng ta nên bỏ cuộc thôi, nên đóng cửa Dis và Pandemonium (*) cùng các chỗ khác rồi chuyển lên đây đi, chẳng có chuyện gì chúng ta có thể làm với họ mà họ lại chưa tự làm với mình, và họ còn làm những điều chúng ta không nghĩ ra nổi, chủ yếu liên quan đến điện cực. Họ có cái mà chúng ta thiếu. Họ có trí tưởng tượng. Và tất nhiên là cả điện nữa.

Một trong số họ đã viết thế này, phải không nhỉ... “Địa ngục trống rỗng, và tất cả quỷ sứ đều đã ở đây.” (*)

Crowley đã được tuyên dương vụ Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha. Lúc đó hắn ở Tây Ban Nha thật, chủ yếu là quẩn quanh các quán rượu ở mấy khu ngon lành hơn, và thậm chí còn không biết về Tòa án cho tới khi được tuyên dương. Hắn đã ghé qua đó xem sao, rồi phải quay về và uống say suốt cả một tuần.

Gã Hieronymus Bosch (*) đó. Đúng là đồ lập dị.

Và đúng lúc ta nghĩ họ xấu xa hơn cả Địa ngục, thỉnh thoảng họ lại tỏ ra tốt đẹp ngoài mong đợi của Thiên đường. Thường là cùng một người. Tất nhiên, đó là vì cái thứ ý chí tự do này. Đúng là thứ chết giẫm.

Có lần Aziraphale đã cố giải thích cho hắn. Y bảo, mấu chốt là - đó là vào khoảng năm 1020, khi cả hai lần đầu đạt được Thỏa thuận nho nhỏ của mình - mấu chốt là khi một con người xấu xa hoặc tốt đẹp, thì đó là vì họ muốn vậy. Trong khi những kẻ như Crowley hay, tất nhiên, chính y đây, thì phải đi theo đường vạch sẵn từ đầu. Con người không thể trở nên thánh nhân thực sự, y nói, trừ phi họ có cơ hội trở nên xấu xa thực sự.

Crowley đã ngẫm nghĩ về chuyện này một thời gian, rồi đến khoảng năm 1023, hắn nói, “Khoan đã, như thế chỉ có tác dụng nếu mọi người đều bắt đầu bình đẳng, đúng không? Ta không thể ném một người vào một túp lều tranh ở giữa vùng chiến sự và mong họ sống tốt như một người sinh ra trong lâu đài được.”

À, Aziraphale liền đáp, đó mới là phần hay. Ta bắt đầu ở chỗ càng hèn kém thì ta càng có nhiều cơ hội.

Crowley liền nói, “Thật là điên rồ.”

Không, Aziraphale nói, đó là điều bất khả tư nghị.

Aziraphale. Kẻ thù, tất nhiên rồi. Nhưng đã là kẻ thù suốt sáu ngàn năm nay, nên cũng có thể coi y như một người bạn.

Crowley với tay xuống cầm điện thoại trong xe lên.

Tất nhiên, là quỷ có nghĩa là ta không có ý chí tự do. Nhưng ta không thể ở bên con người ngần ấy thời gian mà không học được đôi điều.

◇ ❖ ◇

Ông Young không thích cái tên Damien hay Wormwood cho lắm. Hay bất kỳ cái tên nào xơ Mary Lắm Mồm gợi ý, tức là phân nửa số tên ở Địa ngục và gần hết những cái tên vào Thời Hoàng kim ở Hollywood.

“Chà,” cuối cùng xơ nói, vẻ hơi phật ý, “tôi nghĩ cái tên Errol có gì không ổn đâu. Hoặc là Cary. (*) Cả hai đều là những cái tên Mỹ rất hay.”

“Tôi lại thích cái tên gì hơi, ờ, truyền thống hơn,” ông Young giải thích. “Gia đình chúng tôi luôn chọn những cái tên giản dị chân phương.”

Xơ Mary cười tươi. “Đúng thế. Những cái tên cổ luôn là hay nhất, Nếu ông hỏi tôi.”

“Một cái tên kiểu Anh đứng đắn, như tên trong Kinh Thánh ấy,” ông Young nói. “Matthew, Mark, Luke, hoặc John,” ông nói thử. Xơ Mary nhăn mặt. “Chỉ có điều tôi chưa bao giờ thấy đó là những cái tên Kinh Thánh đúng kiểu cả,” ông Young nói thêm. “Nghe giống tên cao bồi và cầu thủ bóng đá hơn.”

“Tên Saul cũng hay lắm,” xơ Mary nói, cố tận dụng cơ hội.

“Tôi không muốn cái tên gì quá cổ lỗ sĩ,” ông Young nói.

“Hoặc là Cain. Nghe rất hiện đại, Cain ấy,” xơ Mary gợi ý.

“Hừm.” Ông Young có vẻ nghi ngại.

“Hoặc là còn... ờ, vẫn còn cái tên Adam mà,” xơ Mary nói. Chắc tên đó không vấn đề gì đâu, xơ thầm nghĩ.

“Adam ấy à?” ông Young nói.

◇ ❖ ◇

Ta sẽ thấy dễ chịu khi tin rằng các nữ tu Satan đã cho đứa bé thừa - Bé B - được nhận nuôi một cách kín đáo. Rằng nó lớn lên thành một đứa bé bình thường, vui vẻ, hay cười, hiếu động và cởi mở, rồi sau đó lớn lên thành một người lớn bình thường, khá mãn nguyện.

Và có lẽ chuyện đã xảy ra như vậy thật.

Bạn hãy nghĩ đến phần thưởng thằng bé đạt được ở trường tiểu học về môn đánh vần; quãng thời gian không có gì đặc biệt nhưng khá dễ chịu của nó ở trường đại học; công việc của nó ở phòng tài vụ của Hiệp hội Xây dựng Tadfield và Norton; cô vợ dễ thương của nó. Có lẽ bạn sẽ muốn tưởng tượng ra vài đứa con, và một thú vui nào đó - có lẽ là phục chế xe máy cổ, hoặc nuôi cá cảnh nhiệt đới.

Bạn không muốn biết chuyện gì đã có thể xảy ra với Bé B đâu.

Mà chúng tôi cũng thích phiên bản của bạn hơn.

Có lẽ nó còn thắng giải nhờ bầy cá cảnh nữa.

Ở một căn nhà nhỏ tại Dorking, Surrey, một ô cửa sổ phòng ngủ đang sáng đèn.

Newton Pulsifer mười hai tuổi, gầy nhẳng, đeo kính, và lẽ ra thằng bé đã phải lên giường từ mấy tiếng trước rồi.

Nhưng mẹ nó lại tin rằng con mình là thiên tài và cho phép nó thức quá giờ ngủ để làm các “thí nghiệm”.

Thí nghiệm hiện tại của thằng bé là thay phích cắm của một cái đài Bakelite cổ lỗ sĩ mà mẹ cho nó chơi. Nó ngồi bên cái mà nó tự hào gọi là “bàn làm việc” của mình, một cái bàn cũ xập xệ chất đầy các cuộn dây, pin, bóng đèn nhỏ, và một máy thu tinh thể tự chế chưa bao giờ hoạt động.

Thằng bé vẫn chưa làm cho cái đài Bakelite hoạt động được, nhưng cũng phải nói là nó dường chẳng thể nào tiến xa được đến mức đó.

Ba mô hình máy bay hơi vẹo vọ lơ lửng ở đầu mấy sợi chỉ treo trên trần phòng ngủ. Chỉ cần nhìn thoáng qua cũng có thể thấy ngay chúng được làm bởi một người rất tỉ mỉ và cẩn thận, nhưng cũng không giỏi làm mô hình máy bay tẹo nào. Thằng bé tự hào về chúng đến vô phương cứu chữa, ngay cả chiếc Spitfire bị nó lắp hỏng cặp cánh.

Thằng bé đẩy cặp kính lên sống mũi, nheo mắt nhìn phích cắm, và đặt cái tua vít xuống.

Lần này nó rất kỳ vọng thí nghiệm sẽ thành công; nó đã làm theo hướng dẫn thay phích cắm trên trang năm của cuốn Sách điện thực nghiệm cho bé trai, bao gồm một trăm lẻ một thí nghiệm an toàn và có tính giáo dục với điện. Nó đã gắn những sợi dây được đánh dấu theo màu vào đúng chạc; nó đã đảm bảo dùng đúng ampe cầu chì; nó đã vít tất cả lại với nhau. Cho tới giờ thì vẫn không có vấn đề gì.

Thằng bé cắm phích điện vào ổ cắm. Rồi nó bật ổ cắm lên.

Toàn bộ đèn trong nhà tắt ngóm.

Newton mỉm cười tự hào. Nó đang tiến bộ. Lần thí nghiệm trước nó đã làm mất điện cả khu Dorking, và một người ở công ty điện lực đã đến nói chuyện với mẹ nó.

Thằng bé có một niềm say mê cháy bỏng nhưng hoàn toàn không được đáp lại đối với mọi thứ liên quan đến điện. Ở trường có một cái máy tính, và nửa tá học trò chăm chỉ luôn ở lại sau giờ học để làm đủ thứ với các tấm thẻ đục lỗ. Khi giáo viên chịu trách nhiệm giữ máy tính cuối cùng cũng chấp thuận lời cầu xin của Newton được tham gia, thì thằng bé chỉ được đút duy nhất một tấm thẻ nhỏ vào máy. Cái máy đã nhai nát tấm thẻ và chết nghẹn.

Newton tin chắc máy tính chính là tương lai, và khi tương lai đến nó sẽ sẵn sàng, ở đầu làn sóng công nghệ mới.

Tương lai lại có những ý niệm riêng về chuyện này. Tất cả đều có trong Cuốn Sách.

Adam, ông Young thầm nghĩ, ông thử nói to cái tên, để nghe xem sao. “Adam.” Hừm...

Ông nhìn xuống những lọn tóc vàng loăn xoăn của Địch Thủ, Kẻ Hủy Diệt Vương Triều, Thiên Thần Hố Thẳm, Quái Vật Vĩ Đại tên gọi là Rồng, Ông Hoàng của Thế giới Này, Cha Đẻ của Dối Trá, Con của Satan, và Chúa Tể Bóng Tối.

“Xơ biết không,” ông kết luận, sau một hồi lâu. “Tôi nghĩ nó nhìn cũng giống một thằng Adam đấy.”

Đó đã không phải là một đêm tối tăm và bão tố.

Đêm tối tăm và bão tố đến hai ngày sau đó, khoảng bốn tiếng sau khi cả bà Dowling và bà Young, mỗi người cùng con mình rời bệnh viện. Đó là một đêm đặc biệt tối tăm và bão tố, và ngay sau nửa đêm, khi cơn bão lên đến đỉnh điểm, một tia chớp đã đánh vào tu viện của dòng Huyên thuyên, khiến mái phòng áo lễ bị cháy.

Không ai bị thương nặng trong đám cháy, nhưng đám cháy kéo dài mấy giờ liền, gây ra kha khá tổn thất.

Kẻ gây ra đám cháy rình rập trên một đỉnh đồi gần đó và ngắm nhìn ngọn lửa. Hắn cao, gầy, và là một Công tước Địa ngục. Đó là điều cuối cùng cần làm trước khi hắn quay về âm giới, và hắn đã làm xong.

Hắn có thể yên tâm để Crowley lo liệu nốt phần còn lại.

Hastur về nhà.

◇ ❖ ◇

Nói nghiêm túc ra thì Aziraphale là Lãnh thần, nhưng ngày nay người ta hay đem chuyện đó ra đùa giễu (*) .

Nói chung, y và Crowley lẽ ra sẽ không chọn bầu bạn với nhau, nhưng họ đều là những người, hay ít ra là sinh vật hình người, thạo đời, và Thỏa thuận đã có lợi cho cả hai suốt bao lâu nay. Hơn nữa, ta không thể không quen với khuôn mặt duy nhất ta gặp, ít nhiều nhằng nhẵng, suốt sáu thiên niên kỷ.

Thỏa thuận rất đơn giản, đơn giản đến mức thực ra không đáng viết hoa chữ đầu, đó chẳng qua là vì nó đã tồn tại quá lâu rồi. Nó là kiểu thỏa thuận khôn ngoan hợp lý mà nhiều đặc vụ ngầm đơn độc, phải làm việc trong tình cảnh khó khăn cách xa cấp trên, đã sắp xếp với đối thủ của mình, khi họ nhận ra mình có nhiều điểm chung với đối thủ ngay cạnh hơn là với các đồng minh xa xôi. Thế nghĩa là họ ngầm đồng ý sẽ không can thiệp vào một số hoạt động nhất định của nhau. Nó đảm bảo là mặc dù không ai thực sự thắng, thì cũng không ai thực sự thua, và cả hai sẽ có thể chứng tỏ với cấp trên của mình họ đã có những bước tiến ghê gớm ra sao khi đối đầu với một đối thủ xảo quyệt và nắm nhiều thông tin.

Nó có nghĩa là Crowley được phép phát triển Manchester, trong khi Aziraphale được tùy nghi với toàn bộ vùng Shropshire. Crowley nhận Glasgow, Aziraphale nhận Edinburgh (cả hai đều không nhận trách nhiệm cho Milton Keynes (*) , nhưng đều báo cáo nơi đó đã thành công.)

Và tất nhiên, thậm chí việc họ gánh hộ việc cho nhau, tạm gọi như thế, những khi lẽ thường cho phép, cũng là điều tự nhiên. Dù sao cả hai đều là dòng dõi thiên thần. Nếu ta định đến Hull làm một vụ cám dỗ nho nhỏ, thì tội gì không tiện thể chạy sang đầu kia thành phố và tạo ra một khoảnh khắc xuất thần thiêng liêng. Đằng nào việc chả xong, và khôn ngoan một tí như thế giúp mọi người vừa có nhiều thời gian rảnh hơn vừa tiết kiệm chi phí.

Thỉnh thoảng Aziraphale có thấy hơi tội lỗi về việc này, nhưng nhiều thế kỷ ở bên con người cũng đã có ảnh hưởng tới y như tới Crowley, chỉ khác là theo hướng ngược lại.

Hơn nữa, các đấng quyền năng có vẻ cũng chẳng quan tâm ai làm gì, miễn mọi việc hoàn thành là được.

Hiện tại, việc Aziraphale đang làm là đứng với Crowley bên ao vịt ở công viên Thánh James. Họ đang cho vịt ăn.x

Đàn vịt ở công viên Thánh James đã quen được ăn bánh mì của các đặc vụ ngầm gặp gỡ bí mật đến nỗi chúng đã phát triển một phản xạ có điều kiện riêng. Cho một con vịt ở công viên Thánh James vào một cái lồng trong phòng thí nghiệm và cho nó xem một bức ảnh hai người đàn ông - thường là một người mặc áo khoác có cổ lông, người kia mặc bộ đồ nghiêm trang và quàng khăn - thì con vịt sẽ nhìn lên vẻ hóng đợi. Bánh mì đen của Tùy viên Văn hóa Nga thường được tìm kiếm bởi những con vịt khôn ngoan hơn, còn bánh mì hiệu Hovis mềm ẩm phết men Marmite của chỉ huy MI9 thì luôn được những con sành sỏi ngấu nghiến.

Aziraphale ném một mẩu vỏ bánh cho một con vịt đực lông lá bù xù, con vịt bắt được mẩu bánh và lặn xuống tức thì.

Vị thiên thần quay sang nhìn Crowley.

“Thật tình, anh bạn thân mến ạ,” y khẽ nói.

“Xin lỗi,” Crowley nói. “Tôi quên mất.” Con vịt giận dữ trồi lên mặt nước.

“Tất nhiên, chúng tôi biết đang có chuyện,” Aziraphale nói. “Nhưng không hiểu sao tôi cứ nghĩ những việc thế này sẽ xảy ra ở Mỹ cơ. Ở đó họ hứng thú với những chuyện kiểu này hơn.”

“Có khi sẽ xảy ra ở Mỹ đấy,” Crowley ủ ê nói. Hắn trầm ngâm nhìn qua công viên đến chỗ chiếc Bentley, bánh sau đang được người ta cần mẫn khóa lại.

“À, phải. Nhà ngoại giao người Mỹ,” vị thiên thần nói. “Có vẻ hơi phô trương. Như thể Tận thế là một chương trình điện ảnh ta muốn bán cho càng nhiều nước càng tốt.”

“Cho tất cả các nước,” Crowley nói. “Trần gian và mọi vương quốc ở đó.”

Aziraphale ném miếng bánh mì cuối cùng cho đàn vịt, chúng liền quay sang quấy rầy Tùy viên Hải quân Bulgaria và một người đàn ông vẻ lấm lút, đeo cà vạt Cambridge, rồi y cẩn thận bỏ túi giấy vào thùng giấy rác.

Y quay lại đối mặt với Crowley.

“Chúng tôi sẽ thắng, tất nhiên rồi,” y nói.

“Anh không muốn thế đâu,” tên quỷ nói.

“Sao lại không, xin anh giải thích giùm?”

“Nghe đây,” Crowley nói hết sức nghiêm túc, “phe anh có bao nhiêu nhạc sĩ hả? Ý tôi là nhạc sĩ hàng đầu ấy.”

Aziraphale có vẻ bất ngờ.

“Ờ, tôi nghĩ là...” y mở miệng.

“Hai,” Crowley nói. “Elgar và Liszt, chỉ thế thôi, chúng tôi có hết đám còn lại. Beethoven, Brahms, mấy ông Bach, Mozart, tất. Anh có tưởng tượng nổi sống đời vĩnh hằng với Elgar không?”

Aziraphale nhắm mắt lại. “Quá dễ dàng là đằng khác,” y rên rẩm.

“Thế đấy,” Crowley nói với một thoáng hoan hỷ. Hắn biết rõ điểm yếu của Aziraphale. “Không còn đĩa CD nữa. Không còn Albert Hall nữa. Không còn đại nhạc hội Proms nữa. Không còn nhà hát Glyndbourne nữa. Chỉ còn dàn đồng ca thiên đường thâu đêm suốt sáng.”

“Bất khả tư nghị,” Aziraphale lẩm bẩm.

“Như trứng mà không có muối, anh đã nói thế còn gì. Nói mới nhớ. Sẽ không còn muối, không còn trứng nữa. Không còn cá hồi hun khói với xốt thì là. Không còn những nhà hàng nhỏ thú vị nhẵn mặt anh. Không còn trò ô chữ trên tờ Điện tín hằng ngày. Không còn các tiệm đồ cổ. Không còn cả hiệu sách nữa. Không còn các ấn bản xưa hay ho. Không còn” - Crowley vét nốt đáy thùng sở thích của Aziraphale - “hộp đựng thuốc lá hít bằng bạc thời Nhiếp chính...”

“Nhưng sau khi chúng tôi thắng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn!” vị thiên thần rên lên.

“Nhưng nó sẽ không thú vị như bây giờ nữa. Nghe này, anh biết tôi nói đúng mà. Anh thích cầm đàn hạc cũng chỉ như tôi thích cầm cây chĩa thôi.”

“Anh biết chúng tôi không chơi đàn hạc mà.”

“Chúng tôi cũng không dùng đinh ba. Tôi đang nói ẩn dụ thôi.”

Họ nhìn nhau.

Aziraphale xòe ra hai bàn tay được cắt sửa hết sức thanh nhã.

“Người phe tôi sẽ rất phấn khởi nếu chuyện này xảy ra, anh biết đấy. Tất cả tồn tại vì nó mà, anh hiểu không. Phép thử vĩ đại cuối cùng. Gươm rực lửa, Tứ Kỵ sĩ, biển máu, toàn bộ vụ việc chán òm đó.” Y nhún vai.

“Rồi Trò chơi Kết thúc, Mời Đút Xèng?” Crowley nói.

“Đôi khi tôi thấy cách diễn đạt của anh hơi khó hiểu.”

“Tôi thích biển nguyên xi như bây giờ. Chuyện này không nhất thiết phải xảy ra. Ta không phải thử thách mọi thứ đến mức hủy diệt chỉ để xem ta có làm đúng hay không.”

Aziraphale lại nhún vai.

“Tôi e đó là điều bất khả tư nghị.” Vị thiên thần rùng mình và khép chặt áo khoác quanh người. Những đám mây xám xịt đang chồng chất bên trên thành phố.

“Đến chỗ nào ấm hơn đi,” y nói.

“Anh hỏi tôi đấy à?” Crowley rầu rĩ nói.

Họ cùng ủ rũ bước đi trong im lặng hồi lâu.

“Không phải là tôi không đồng ý với anh đâu,” vị thiên thần nói, khi họ bước qua bãi cỏ. “Chỉ là tôi không được phép chống lệnh. Anh biết đấy.”

“Tôi cũng vậy,” Crowley nói.

Aziraphale liếc hắn. “Ồ, thôi nào,” y nói, “anh là quỷ cơ mà.”

“Ừ. Nhưng người phe tôi chỉ ủng hộ việc chống lệnh theo nghĩa chung chung thôi. Còn nếu chống lệnh cụ thể thì họ sẽ bổ đầu ngay.”

“Ví dụ như chống lệnh của chính họ ấy à?”

“Đúng. Anh sẽ ngạc nhiên cho mà xem. Hay có lẽ là không. Anh nghĩ chúng ta còn bao lâu?” Crowley vẫy tay về phía chiếc Bentley, và cửa xe tự động mở ra.

“Mỗi lời tiên tri nói một kiểu,” Aziraphale nói, trèo vào ghế khách. “Chắc chắn là đến cuối thế kỷ, tuy nhiên sẽ có thể có nhiều hiện tượng xảy ra trước đó. Phần lớn đám tiên tri của thiên niên kỷ vừa rồi chỉ quan tâm tới việc gieo vần sao cho hay, hơn là sự chính xác.”

Crowley chỉ chìa khóa, chìa khóa xoay.

“Sao cơ?” hắn hỏi.

“Anh biết đấy,” vị thiên thần giải thích. “ ‘Và Thế giới sẽ đến Hồi Tiêu tán, vào năm gì-gì-gì-đó-Tám.’ Hoặc Hai, hoặc Ba, hoặc đại loại thế. Không có nhiều từ hay vần với Sáu, nên có lẽ đó sẽ là một năm an toàn.”

“Và sẽ có các hiện tượng gì?”

“Bê hai đầu này, các dấu hiệu từ trên trời này, ngỗng bay giật lùi, mưa cá này. Đại loại thế. Sự xuất hiện của Kẻ Chống Chúa sẽ làm ảnh hưởng đến sự vận hành tự nhiên của luật nhân quả.”

“Hừm.”

Crowley cài số cho chiếc Bentley. Rồi hắn chợt nhớ ra một chuyện. Hắn búng ngón tay.

Khóa kẹp bánh xe biến mất.

“Đi ăn trưa nhé,” hắn nói. “Tôi còn nợ anh một chầu, từ hồi nào ấy nhỉ...”

“Paris, 1793,” Aziraphale nói.

“À, ừ. Triều đại Khủng bố (*) . Vụ đó là của các anh hay là bọn tôi?”

“Không phải là của các anh à?”

“Không nhớ nổi nữa. Nhưng nhà hàng đó rất được.”

Khi họ lái xe qua một viên cảnh sát giao thông sững sờ, cuốn sổ của ông ta bỗng bùng cháy, khiến Crowley hết sức ngạc nhiên.

“Tôi dám chắc tôi không cố ý làm vậy,” hắn nói.

Aziraphale đỏ mặt.

“Là tôi đấy,” y nói. “Tôi đã luôn nghĩ là người phe anh phát minh ra họ.”

“Thế à? Chúng tôi thì lại nghĩ họ là từ các anh mà ra cơ đấy.”

Crowley nhìn đám khói qua gương chiếu hậu.

“Đi nào,” hắn nói. “Đến khách sạn Ritz thôi.”

Crowley đã không buồn đặt bàn trước. Trong thế giới của hắn, đặt bàn trước là việc của kẻ khác, không phải của hắn.

Aziraphale sưu tập sách. Nếu thực sự thành thật với bản thân thì y hẳn sẽ phải thừa nhận rằng hiệu sách của y chẳng qua chỉ là chỗ cho y cất bộ sưu tập của mình mà thôi. Trong môn này thì y cũng giống như những kẻ khác. Để duy trì vỏ bọc một chủ hiệu sách cũ bình thường, y dùng đủ mọi cách, chỉ thiếu có vũ lực, để ngăn khách hàng mua sách. Mùi ẩm mốc khó chịu, những ánh nhìn lầm lì, giờ mở cửa tùy tiện... y rất giỏi việc đó.

Y đã sưu tập sách một thời gian dài, và, như mọi nhà sưu tập khác, y dần chuyên môn hóa.

Y có hơn sáu mươi cuốn sách tiên tri về các sự kiện trong mấy thế kỷ cuối của thiên niên kỷ thứ hai. Y đặc biệt mê các ấn bản đầu tiên của Oscar Wilde. Và y có nguyên một bộ Kinh Thánh Ô Danh, mỗi cuốn lại được đặt tên theo lỗi sai lúc sắp chữ in.

Các cuốn Kinh Thánh này bao gồm Kinh Thánh Không Công bình, được gọi như vậy vì một lỗi nhà in khiến nó tuyên bố, trong kinh Corinthian chương I, rằng, “Anh em há chẳng biết những kẻ không công bình được hưởng nước Đức chúa Trời sao?”; và Kinh Thánh Tội lỗi, được in bởi Barker và Lucas năm 1632, trong đó từ không đã bị bỏ qua ở điều răn thứ bảy, biến nó thành “Ngươi được ngoại tình”. Rồi còn có Kinh Thánh Bài tiết, Kinh Thánh Mật đường, Kinh Thánh Cá đứng, Kinh Thánh Charing Cross, và các cuốn khác nữa. Aziraphale có đủ cả. Kể cả cuốn hiếm nhất, một cuốn Kinh Thánh được xuất bản năm 1651 bởi nhà xuất bản Bilton và Scaggs ở London.

Đó là thảm họa đầu tiên trong số ba thảm họa xuất bản của họ.

Cuốn Kinh Thánh này thường được biết đến với cái tên là Kinh Thánh Tổ cha nó. Lỗi rất dài của thợ sắp chữ, Nếu có thể gọi như vậy, xuất hiện ở kinh Ezekiel, chương 48, khổ năm.

2. Trên bờ cõi của Dan, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần của Asher.

3. Trên bờ cõi của Asher, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần của Naphtali.

4. Trên bờ cõi của Naphtali, từ phía đông đến phía tây, sẽ là phần của Manasseh.

5. Tổ cha nó chứ. Tao ngấy việc sắp chữ đến tận cổ rồi. Ông Bilton không phải người tử tế, còn ông Scaggs thì chỉ là một thằng cha keo kiệt ở Southwark. Tao nói cho mà biết, vào một ngày như thế này, ai có lấy một nửa lạng trí khôn thì cũng sẽ ra ngoài tận hưởng ánh nắng chứ không giam mình cả ngày trong cái xưởng Bên-Đức-Mẹ mốc meo này @*”?E @;1*

6. Trên bờ cõi của Ephraim, từ phía đông đên phía tây, sẽ là phần của Rueben . (*)

Các khổ này nối tiếp khổ 24, mà trong bản Kinh Thánh Vua James là như sau: “Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn Địa đàng các thần chêrubin với gươm lưỡi chói lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống,” và có nội dung như sau:

25. Đức Chúa Trời gọi vị Thiên thần canh gác cổng phía đông và nói, Thanh gươm lưỡi chói lòa con được ban cho đâu rồi?

26. Và vị Thiên thần đáp, Con mới cầm đây một phút trước thôi mà, chắc con đặt nó xuống đâu đó, khéo lần tới con còn quên luôn cái đầu mình không chừng.

27. Và Đức Chúa Trời không hỏi lại nữa.

Có vẻ là những khổ này được thêm vào trong lúc sửa bản in thử. Thời đó các thợ in thường treo bản in thử lên những thanh rầm gỗ bên ngoài cửa hiệu của họ, để người dân tự do biên tập và lại được sửa chính tả miễn phí nữa, và vì toàn bộ ấn bản này sau đó đã bị đốt nên cũng chẳng ai buồn nhắc lại chuyện này với ông A. Ziraphale tốt bụng, chủ hiệu sách cách đó hai nhà, người luôn rất tận tình giúp đỡ với các bản dịch và có nét chữ rất dễ nhận ra.

Thảm họa xuất bản thứ hai của Bilton và Scaggs xảy ra vào năm 1653. Nhờ một vận may hiếm hoi, họ đã kiếm được một trong số các “Bản thảo Thất lạc” trứ danh - ba vở kịch của Shakespeare chưa bao giờ được in thành tập, và giờ đã hoàn toàn thất truyền với cả giới học thuật lẫn khán giả xem kịch, chỉ còn tên của các vở kịch là được truyền lại cho chúng ta. Vở này là vở kịch đầu tay của Shakespeare, Hài kịch Robin Hood hay, Rừng Sherwood. (*)

Ông Bilton đã trả gần sáu ghinê cho vở kịch và tin rằng ông ta chỉ cần in bìa cứng là có thể kiếm gần gấp đôi chỗ đó.

Rồi ông ta đánh mất nó.

Thảm họa xuất bản thứ ba của Bilton và Scaggs thì cả hai đều chưa bao giờ hiểu nổi. Họ nhìn đâu cũng thấy sách tiên tri bán đắt như tôm tươi. Ấn bản tiếng Anh của cuốn Các thế kỷ của Nostradamus vừa được tái bản lần thứ ba, và năm ông Nostradamus, ai cũng khăng khăng rằng mình là đồ thật, đều đang trong các chuyến đi ký tặng hết sức thành công. Và cuốn Tuyển tập các lời tiên tri của Má Shipton thì như bốc hơi khỏi mọi cửa hàng.

Mỗi nhà xuất bản lớn ở London - có tám nhà xuất bản cả thảy - đều có ít nhất một sách tiên tri trên danh mục phát hành. Cuốn nào cũng sai loạn xì ngầu lên, nhưng giọng điệu quyền uy chung chung mơ hồ của chúng khiến chúng hết sức được ưa chuộng. Chúng bán được hàng ngàn, hàng vạn cuốn.

Như là in tiền vậy!” ông Bilton nói với ông Scaggs (*) . “Công chúng đang nài xin những thứ rác rưởi như vậy! Chúng ta phải in ngay một cuốn sách tiên tri của một mụ phù thủy già nào đó!”

Bản thảo xuất hiện ở trước cửa hiệu của họ ngay sáng hôm sau; tác giả, cũng như mọi khi, đã căn thời gian cực kỳ chính xác.

Mặc dù cả ông Bilton lẫn ông Scaggs đều không nhận ra điều đó, bản thảo được gửi đến cho họ là tác phẩm tiên tri duy nhất trong toàn bộ lịch sử nhân loại bao gồm những dự đoán hoàn toàn chính xác cho khoảng ba trăm bốn mươi năm tiếp theo, tức là những miêu tả chính xác và chi tiết các sự kiện dẫn đến Tận thế. Từng chi tiết đều chính xác một trăm phần trăm.

Bilton và Scaggs xuất bản nó vào tháng Chín năm 1655, vừa kịp lúc cho đợt mua sắm Giáng sinh (*) , và đó là cuốn sách đầu tiên in ở Anh bị ế.

Chẳng ai thèm mua nó.

Thậm chí cả cuốn sách duy nhất ở cửa hiệu nhỏ xíu ở Lancashire với tấm biển “Tác giả địa phương” đặt bên cạnh cũng không bán được.

Tác giả cuốn sách, một bà tên là Agnes Nutter, không hề ngạc nhiên về điều này, nhưng nói đi cũng phải nói lại, phải là một điều hết sức khác thường thì mới có thể khiến Agnes Nutter ngạc nhiên.

Mà dù sao bà cũng không viết cuốn sách để bán, hay để kiếm tiền bản quyền, hay thậm chí để nổi tiếng. Bà đã viết nó để lấy một bản sách biếu miễn phí mà tác giả nào cũng được nhận.

Không ai biết chuyện gì đã xảy ra với quân đoàn sách ế kia. Chắc chắn là không có cuốn nào nằm ở viện bảo tàng hay các bộ sưu tập cá nhân. Ngay cả Aziraphale cũng không có, nhưng đầu gối y sẽ run lên trước cái viễn cảnh được đặt bàn tay chải chuốt của y lên một cuốn.

Thật ra, cuốn sách tiên tri của Agnes Nutter chỉ còn một bản duy nhất trên toàn thế giới.

Nó đang nằm trên một giá sách cách chỗ Crowley và Aziraphale đang tận hưởng bữa trưa ngon lành chừng sáu mươi lăm cây số, và nói một cách ẩn dụ, nó đang bắt đầu kêu tích tắc.

◇ ❖ ◇

Và giờ là ba giờ chiều. Kẻ Chống Chúa đã có mặt trên trần thế được mười lăm tiếng, và một thiên thần cùng một tên quỷ đã nốc rượu không ngừng suốt ba tiếng trong số đó.

Họ ngồi đối diện nhau trong buồng sau hiệu sách cũ xập xệ của Aziraphale ở Soho.

Phần lớn các hiệu sách ở Soho đều có buồng sau, và phần lớn các buồng sau đều xếp đầy các cuốn sách hiếm, hay bét cũng là sách rất đắt. Nhưng sách của Aziraphale không có hình minh họa. Chúng có bìa nâu cũ kỹ và các trang sách đã khô giòn. Thỉnh thoảng, Nếu không còn lựa chọn nào khác, y sẽ bán một cuốn.

Và thỉnh thoảng, những người nghiêm nghị mặc vét đen sẽ ghé qua và lịch sự gợi ý rằng có lẽ y sẽ muốn bán cả cửa hiệu để nó có thể được biến thành một cửa hàng phù hợp với khu này hơn. Đôi khi họ sẽ xìa tiền mặt ra, những cọc toàn tờ năm mươi bảng cáu bẩn. Hoặc, đôi khi, trong lúc họ đang nói chuyện, những người khác đeo kính đen sẽ đi quanh cửa hiệu lắc đầu và nói giấy dễ cháy ra sao, rằng y đang ở trong một lò lửa như thế nào.

Và Aziraphale sẽ gật đầu rồi mỉm cười và nói y sẽ suy nghĩ về việc đó. Và rồi họ sẽ rời đi. Và họ không bao giờ trở lại.

Chỉ bởi vì ta là thiên thần không có nghĩa ta cũng phải là một thằng ngốc.

Cái bàn trước mặt họ chất đầy chai lọ.

“Vấn đề là,” Crowley nói, “vấn đề là. Vấn đề là.” Hắn cố tập trung vào Aziraphale.

“Vấn đề là,” y nói, và cố nghĩ ra một vấn đề.

“Vấn đề tôi đang nói đến,” hắn nói, mặt tươi hẳn lên, “là bọn cá heo. Đó là vấn đề của tôi.”

“Một giống cá,” Aziraphale nói.

“Không không không không,” Crowley nói, vẫy vẫy một ngón tay. “Là loài có vú. Loài có vú xịn đấy. Khác biệt là...” Crowley lội qua đầm lầy trong tâm trí và cố nhớ ra sự khác biệt. “Khác biệt là, chúng...”

“Phối giống trên cạn?” Aziraphale gợi ý.

Trán Crowley nhăn lại. “Hình như không phải. Dám chắc là không phải. Có gì đó liên quan đến con non. Sao cũng được.” Hắn cố trấn tĩnh lại. “Vấn đề là. Vấn đề là. Não của chúng.”

Hắn với tay lấy một cái chai.

“Não chúng thì sao?” vị thiên thần hỏi.

“Não to. Ý tôi là thế đấy. Cỡ bằng. Cỡ bằng. Cỡ bằng bộ não to thật to. Rồi còn cả bọn cá voi nữa. Thành phố não, tin tôi đi. Một biển não.”

“Thủy quái,” Aziraphale nói, rầu rĩ nhìn vào ly rượu của mình.

Crowley ném cho y một cái nhìn dài lạnh lùng của kẻ đã bị cả một cái rầm cầu rơi xuống chặn dòng suy nghĩ của mình.

“Hử?”

“Con quái vật khổng lồ,” Aziraphale nói. “Ngủ bên dưới lòng biển sâu cuộn sóng. Dưới hàng đống, hàng đống ta... tả... tảo biển to tướng, anh biết đấy. Nó sẽ nổi lên mặt biển vào đúng lúc cuối cùng, khi biển sôi sùng sục.”

“Thế à?”

“Thật luôn.”

“Đấy, thấy chưa,” Crowley nói, ngồi ngả ra. “Biển sôi sùng sục, đám cá heo khốn khổ thành cháo cá tuốt tuột, chẳng ai thèm quan tâm. Cả bọn khỉ đột nữa. Úi chà, chúng bảo, trời đỏ chóe cả rồi, sao thì rơi xuống đất, dạo này người ta bỏ gì vào chuối thế nhỉ? Thế rồi...”

“Chúng xây tổ đấy, anh biết không, khỉ đột ấy,” vị thiên thần nói, tự rót cho mình một ly nữa và đến lần thứ ba mới rót trúng.

“Làm gì có.”

“Tôi thề có Chúa. Tôi thấy trên phim. Xây tổ mà.”

“Chim mới xây tổ chứ,” Crowley nói.

“Xây tổ,” Aziraphale khăng khăng.

Crowley quyết định không tranh cãi thêm chuyện đó nữa.

“Mọi chuyện là thế đấy,” hắn nói. “Mọi sinh vật lớn và nhọ. Ý tôi là nhỏ. Lớn và nhỏ. Rất nhiều con có não. Và rồi, bùm.”

“Nhưng anh dự phần vào cái đó còn gì,” Aziraphale nói. “Anh dụ dỗ người ta. Anh rất giỏi việc đó.”

Crowley dằn mạnh cái ly xuống bàn. “Chuyện đó khác. Họ không cần phải đồng ý. Đó là cái phần bất khả tư nghị đấy, đúng không? Phe các anh bù lại. Ta phải liên tục thử thách con người. Nhưng không phải đến mức hủy diệt.”

“Được rồi. Được rồi. Tôi cũng chẳng thích thú gì chuyện này hơn anh, nhưng tôi đã bảo anh rồi. Tôi không thể trái... trải... không làm theo lệnh được. T là thiênnn thầnnn.”

“Trên Thiên đường không có rạp hát,” Crowley nói. “Và rất ít phim.”

“Đừng có tìm cách dụ dỗ tôi,” Aziraphale khổ sở nói. “Tôi biết anh mà, đồ mãng xà.”

“Cứ thử nghĩ mà xem,” Crowley vẫn nói không chút thương xót. “Anh có biết vĩnh hằng là thế nào không? Anh có biết vĩnh hằng là thế nào không? Ý tôi là, anh có thực sự biết vĩnh hằng là thế nào không? Thế này nhé, có một ngọn núi to, cao một dặm, ở tận cùng vũ trụ, và cứ một ngàn năm một lần, có một con chim nhỏ...”

“Con chim nhỏ nào?” Aziraphale nghi ngờ hỏi.

“Con chim nhỏ mà tôi đang nói đến đây. Và cứ một ngàn năm một lần...”

“Cứ một ngàn năm một lần mà vẫn là con chim nhỏ đó à?”

Crowley ngần ngừ. “Ừ,” hắn đáp.

“Thế thì con chim cũng già cóc cụ rồi.”

“Được rồi. Và cứ một ngàn năm một lần con chim đó bay...”

“... lết thì đúng hơn...”

“... bay đến ngọn núi này và mài mỏ...”

“Khoan đã. Anh không thể làm thế. Giữa đây với tận cùng vũ trụ có cả đống...” Vị thiên thần vẫy một bàn tay thành một góc khá rộng, tuy hơi run rẩy một chút. “Cả đống hầm bà lằng, anh bạn thân mến ạ.”

“Nhưng nó vẫn bay đến nơi,” Crowley khăng khăng.

“Bằng cách nào?”

“Không quan trọng!”

“Nó có thể dùng tàu vũ trụ,” vị thiên thần nói.

Crowley đành nhún một chút. “Cũng được,” hắn nói. “Nếu anh muốn. Dù sao thì, con chim này...”

“Mỗi tội chúng ta đang nói đến tận cùng vũ trụ đấy,” Aziraphale nói. “Vì vậy đó sẽ phải là một con tàu vũ trụ mà kẻ xuống tàu ở đầu kia sẽ là con cháu ta. Ta sẽ phải dặn dò con cháu mình, kiểu, Khi đến Ngọn núi, con phải...” Y ngần ngừ. “Họ phải làm gì ấy nhỉ?”

“Mài mỏ vào núi,” Crowley nói. “Rồi nó bay trở về...”

“... trong tàu vũ trụ...”

“Và sau một ngàn năm nó lại trở lại làm việc này một lần nữa,” Crowley nói thật nhanh.

Có một quãng im lặng say xỉn.

“Chỉ mài mỏ thôi mà tốn công quá,” Aziraphale trầm ngâm nói.

“Nghe này,” Crowley sốt ruột nói, “vấn đề là khi con chim đã mài mòn cả quả núi, hiểu không, thì khi đó...”

Aziraphale mở miệng. Crowley biết chắc y sẽ nói một điều gì đó về sự tương quan giữa độ cứng của mỏ chim và núi đá hoa cương, vội chặn họng y ngay.

“... khi đó anh vẫn chưa xem xong phim The Sound of Music.”

Aziraphale đờ người.

“Và anh sẽ thích nó,” Crowley vẫn tiếp tục. “Thực sự thích nó.”

“Anh bạn thân mến...”

“Anh sẽ không có lựa chọn nào khác.”

“Nghe này...”

“Thiên đường chẳng có gu gì hết.”

“Kìa...”

“Và không có lấy một tiệm sushi.”

Một vẻ đau khổ hiện lên trên khuôn mặt bỗng hết sức nghiêm trang của vị thiên thần.

“Tôi không thể đối mặt với chuyện này lúc đang say,” y nói. “Tôi dã rượu đây.”

“Tôi cũng thế.”

Cả hai cùng nhăn mặt khi rượu bốc hơi khỏi máu của họ, và ngồi dậy thẳng thớm hơn một chút. Aziraphale vuốt lại cà vạt.

“Tôi không thể can thiệp vào kế hoạch linh thiêng,” y rên rỉ.

Crowley trầm ngâm nhìn vào cái ly của mình, rồi lại rót đầy ly.

“Thế còn các kế hoạch ma quỷ thì sao?” hắn hỏi.

“Anh nói sao cơ?”

“Ờ thì nó phải là một kế hoạch ma quỷ, đúng không? Chúng tôi thực hiện mà. Phe tôi.”

“À, nhưng tất cả đều thuộc vào một kế hoạch linh thiêng chung,” Aziraphale nói. “Phe anh không thể làm bất cứ điều gì nằm ngoài kế hoạch linh thiêng bất khả tư nghị,” y thêm vào với một thoáng tự đắc.

“Làm gì có!”

“Không, đó là...” Aziraphale bực bội búng ngón tay. “Cái gì ấy nhỉ. Cái mà anh hay gọi là chốt ấy.”

“Điểm mấu chốt.”

“Đúng rồi. Chính là nó.”

“Ờ... nếu anh chắc chắn...” Crowley nói.

“Chắc như bắp.”

Crowley ranh mãnh nhìn lên.

“Thế thì anh không thể chắc chắn, nếu tôi nhầm thì bảo tôi nhé, anh không thể chắc chắn rằng ngăn chặn nó không phải là một phần của kế hoạch linh thiêng. Ý tôi là, anh luôn phải ngăn chặn mưu chước của quỷ sứ, đúng không?”

Aziraphale ngần ngừ.

“Đúng là có chuyện đó.”

“Anh thấy một mưu chước, anh ngăn chặn ngay. Tôi nói đúng chứ?”

“Đại khái, đại khái thôi. Thật ra tôi khuyến khích con người tự mình ngăn chặn. Vì điều bất khả tư nghị, anh hiểu mà.”

“Hiểu. Hiểu. Vậy việc của anh là ngăn chặn. Vì theo hiểu biết của tôi,” Crowley sốt sắng nói, “thì việc đứa bé ra đời mới chỉ là khởi đầu. Việc nuôi dạy nó mới là quan trọng. Ảnh hưởng mới là quan trọng. Nếu không đứa bé sẽ không bao giờ biết cách sử dụng quyền năng.” Hắn ngần ngừ. “Ít nhất là không sử dụng như dự tính.”

“Chắc chắn là phe tôi sẽ không phản đối nếu tôi ngăn chặn anh,” Aziraphale trầm ngâm nói. “Họ sẽ không phản đối chút nào.”

“Ừ. Cánh anh sẽ được thêm một cọng lông nữa.” Crowley nở một nụ cười động viên với vị thiên thần.

“Nhưng nếu đứa trẻ không được nuôi dạy theo kiểu ác quỷ thì sao?” Aziraphale hỏi.

“Chắc chẳng sao. Nó sẽ không bao giờ biết.”

“Nhưng còn di truyền...”

“Đừng nói với tôi về di truyền. Di truyền thì liên quan gì?” Crowley nói. “Cứ nhìn Satan mà xem. Sinh ra là thiên thần, lớn lên thành Đại Địch Thủ. Nếu anh định nói về di truyền, thì anh cũng có thể nói đứa bé sẽ lớn lên thành thiên thần. Dù sao thì bố nó cũng là nhân vật tai to mặt nhớn trên Thiên đường thời trước. Nói nó sẽ lớn lên thành quỷ chỉ bởi vì bố nó đã trở thành quỷ thì cũng giống như nói rằng một con chuột bị chặt đuôi sẽ đẻ ra chuột cụt đuôi. Không. Nuôi dạy quyết định tất cả. Tin tôi đi.”

“Và khi không có ảnh hưởng ma quỷ...”

“Ờ, tệ nhất là Địa ngục sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Và Trái đất sẽ có thêm ít nhất mười một năm nữa. Như thế cũng bõ công đấy chứ?”

Giờ Aziraphale lại có vẻ trầm ngâm.

“Anh nói là bản thân đứa trẻ không xấu xa ư?” y chậm rãi nói.

“Có tiềm năng trở nên xấu xa thôi. Và cũng có tiềm năng trở nên tốt đẹp nữa, tôi đoán vậy. Chỉ là một tiềm năng quyền lực vô cùng, chờ được nhào nặn,” Crowley nói. Hắn nhún vai. “Mà sao chúng ta lại nói về thiện với ác làm gì? Chúng chỉ là tên cho các phe thôi. Chúng ta biết thế mà.”

“Tôi đoán cũng đáng thử xem sao,” vị thiên thần nói. Crowley gật đầu khuyến khích.

“Thỏa thuận nhé?” tên quỷ nói, chìa tay ra.

Vị thiên thần thận trọng bắt tay hắn.

“Chắc chắn sẽ thú vị hơn các thánh,” y nói.

“Và về lâu dài, đây đều là vì lợi ích của đứa trẻ,” Crowley nói. “Chúng ta sẽ giống như những người cha đỡ đầu, đại loại vậy. Trông nom việc giáo dưỡng tôn giáo của nó, có thể nói vậy cũng được.”

Aziraphale cười tươi.

“Anh biết không, tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đó,” y nói. “Cha đỡ đầu. Chà, quỷ bắt tôi đi.”

“Không tệ lắm đâu,” Crowley nói, “một khi anh đã quen.”

◇ ❖ ◇

Ả được biết đến với cái tên Scarlett. Lúc ấy ả đang bán vũ khí, dù việc đó đang bắt đầu nhàm dần. Ả không bao giờ làm một công việc gì quá lâu. Ba, bốn trăm năm là cùng. Không ai muốn mình đi vào lối mòn.

Tóc ả có màu đỏ thực sự, không phải đỏ vàng hay đỏ nâu, mà là một màu đỏ đồng bóng rực, xõa xuống eo thành từng lọn, mái tóc khiến lũ đàn ông vì nó mà giết người, và quả thực họ cũng thường làm vậy. Mắt ả có màu cam sửng sốt. Nhìn ả chừng hai mươi lăm tuổi, và ả vẫn luôn như vậy.

Ả có một chiếc xe tải màu đỏ gạch, bụi bặm, chất đầy vũ khí đủ loại, và một tài khéo gần như không tưởng có thể đưa nó qua bất kỳ biên giới nào trên đời. Ả đang trên đường đến một quốc gia nhỏ ở Tây Phi, nơi đang diễn ra một cuộc nội chiến nho nhỏ, để giao một món hàng mà, nếu may mắn, sẽ biến nó thành một cuộc nội chiến to to. Thật không may là chiếc xe tải đã bị hỏng, và thậm chí với năng lực của ả cũng không sửa nổi.

Mà dạo này ả rành máy móc lắm đấy.

Lúc đó ả đang ở giữa một thành phố. (*) Thành phố này là thủ đô của Kumbolaland, một quốc gia châu Phi đã tận hưởng cảnh hòa bình suốt ba ngàn năm qua. Nó đã từng là Ngài-Humphrey-Clarksonland trong khoảng ba mươi năm, nhưng vì chẳng có chút tài nguyên khoáng sản nào và tầm quan trọng chiến lược của nó chỉ bằng một quả chuối, nên nó đã được xúc tiến sang chế độ tự trị nhanh đến ngớ ngẩn. Kumbolaland rất nghèo, có lẽ vậy, và chắc chắn là rất nhàm chán, nhưng rất yên bình. Các bộ lạc của nó, vốn rất hòa thuận với nhau, đã biến gươm giáo thành cày cuốc từ lâu; một trận ẩu đả đã xảy ra trên quảng trường thành phố vào năm 1952 giữa một bác lái bò say rượu và một tên trộm bò cũng say không kém. Người ta vẫn còn bàn tán về nó.

Scarlett ngáp dài trong hơi nóng. Ả dùng cái mũ rộng vành quạt cho mát, bỏ chiếc xe tải vô dụng lại giữa con phố đầy bụi, và đi vào một quán bar.

Ả mua một lon bia, uống cạn, rồi cười với người phục vụ quầy. “Tôi cần sửa chiếc xe tải,” ả nói. “Quanh đây có ai nhờ được không?”

Người phục vụ cười toe toét, để lộ hàm răng trắng lóa. Anh ta đã rất ấn tượng với cách ả uống cạn bia. “Chỉ có Nathan thôi, thưa cô. Nhưng Nathan đã quay về Kaounda để coi trang trại của bố vợ rồi.”

Scarlett mua một lon bia nữa. “Vậy, anh chàng Nathan này. Anh có biết bao giờ anh ta về không?”

“Có lẽ tuần sau. Có lẽ hai tuần nữa cơ, thưa cô. Cái gã Nathan ấy, đúng là đồ xỏ lá, nhỉ?”

Anh ta rướn người về phía trước.

“Cô đi một mình à, thưa cô?” anh ta hỏi.

“Phải.”

“Có thể nguy hiểm đấy. Trên đường ngày nay có nhiều kẻ kỳ quặc lắm. Kẻ xấu. Không phải người địa phương đâu,” anh ta vội thêm vào.

Scarlett nhướng một bên mày hoàn hảo lên.

Bất chấp hơi nóng, anh ta vẫn rùng mình.

“Cảm ơn anh đã báo trước,” Scarlett rừ rừ đáp. Giọng ả nghe như một thứ đang rình rập giữa đám cỏ cao, chỉ nhận ra được qua cặp tai giật giật, cho tới khi có con gì đó non tơ và yếu mềm lảo đảo đi qua.

Ả nhấc mũ lên chào anh ta rồi bước ra ngoài.

Vầng mặt trời châu Phi nóng rực rọi xuống ả; chiếc xe tải của ả đậu trên phố, chất đầy súng, đạn, và mìn. Nó sẽ chẳng đi đâu cả.

Scarlett nhìn chiếc xe chằm chằm.

Một con kền kền đang đậu trên nóc xe. Nó đã đi cùng Scarlett suốt bốn trăm năm mươi cây số vừa qua. Nó đang khe khẽ ợ.

Ả nhìn quanh phố: mấy người phụ nữ chuyện gẫu ở góc phố; một người bán hàng ngán ngẩm ngồi đuổi ruồi trước đống bí đủ màu sắc; mấy đứa trẻ biếng nhác chơi giữa đất bụi.

“Kệ xác,” ả khẽ nói. “Dù sao mình cũng cần nghỉ ngơi một chút.”

Hôm đó là thứ Tư.

Đến thứ Sáu thì thành phố đã bị phong tỏa.

Đến thứ Ba tuần sau thì nền kinh tế của Kumbolaland đã hoàn toàn bị phá hủy, hai mươi ngàn người đã chết (bao gồm cả anh chàng phục vụ, bị bắn bởi phiến quân khi chúng đột chiếm rào chắn ở chợ), gần một trăm ngàn người bị thương, tất cả mớ vũ khí đủ loại của Scarlett đã làm trọn nhiệm vụ chúng được tạo ra để làm, còn con kền kền đã chết vì bị thoái hóa mỡ.

Scarlett đã lên chuyến tàu cuối cùng rời khỏi đó. Ả cảm thấy đã đến lúc phải đi tiếp. Ả đã buôn vũ khí lâu quá rồi. Ả muốn đổi gió. Việc gì đó có nhiều cửa hơn. Ả tưởng tượng mình là phóng viên báo chí. Cũng là một khả năng đấy. Ả lấy mũ quạt và vắt tréo đôi chân dài ra trước mặt.

Ở dưới đuôi tàu, một trận ẩu đả nổ ra. Scarlett toét miệng cười. Con người luôn đánh nhau, vì ả, xung quanh ả; kể cũng dễ thương ghê.

Sable có mái tóc đen, bộ ria đen tỉa gọn, và hắn vừa quyết định sẽ hợp doanh hóa công ty.

Hắn đi uống với kế toán của mình.

“Tình hình thế nào rồi, Frannie?” hắn hỏi cô ta.

“Đã bán được mười hai triệu bản rồi ạ. Ngài có tin được không?”

Họ đang uống trong một nhà hàng có tên là Đỉnh Số Sáu, trên một tòa nhà cao tầng ở số 666 (*) Đại lộ số Năm, New York. Điều này khiến Sable khá thích thú. Từ cửa sổ nhà hàng ta có thể thấy toàn bộ New York; đến đêm, phần còn lại của New York có thể thấy những con số 666 khổng lồ đỏ rực trang trí cả bốn mặt tòa nhà. Tất nhiên, nó chỉ là một số nhà. Cứ đếm rồi sẽ phải đến nó. Nhưng ta không thể không mỉm cười.

Sable và cô kế toán viên vừa rời một nhà hàng nhỏ, đắt tiền, và rất kén khách ở Greenwich Village, nơi có phong cách ẩm thực hoàn toàn nouvelle (*) : một cọng đậu đũa, một hạt đậu xanh, và một mảnh ức gà, được sắp đặt cực kỳ thẩm mỹ trên một chiếc đĩa sứ vuông.

Sable đã phát minh ra nó khi hắn đến Paris lần trước.

Cô kế toán viên đã nuốt lẻm miếng thịt và hai thứ rau trong chưa đầy năm mươi giây, và dành phần còn lại của bữa ăn nhìn cái đĩa, dao dĩa, và thỉnh thoảng là nhìn cả các thực khách khác trong nhà hàng, với một vẻ như thể cô ta đang tự hỏi thịt họ có ngon không, mà đúng là thế thật. Cảnh tượng đó đã làm Sable thích thú vô cùng.

Hắn nghịch nghịch ly Perrier.

“Mười hai triệu cơ à? Cũng được đấy.”

“Quá tuyệt ấy chứ ạ.”

“Vậy chúng ta sẽ hợp doanh. Đã đến lúc chơi quả lớn rồi, đúng không? Tôi nghĩ là nên đến California. Tôi muốn có nhà máy, nhà hàng, đủ cả. Chúng ta sẽ vẫn giữ nhánh xuất bản, nhưng đã đến lúc đa dạng hóa rồi. Đúng chứ?”

Frannie gật đầu. “Nghe ổn đấy, Sable, chúng ta sẽ cần...”

Cô ta bị ngắt lời bởi một bộ xương khô. Một bộ xương khô mặc váy hiệu Dior, với làn da rám nắng kéo căng như sắp rách trên hộp sọ mỏng mảnh. Bộ xương khô có mái tóc dài vàng óng và đôi môi được trang điểm hoàn hảo: nhìn cô ta như kiểu người mà các bà mẹ quanh thế giới sẽ chi cho con cái họ mà thì thào, “Con mà không chịu ăn rau là sẽ bị như thế đấy”; cô ta nhìn như một tấm áp phích kêu gọi cứu đói, nhưng sành điệu hơn.

Cô ta là siêu mẫu hàng đầu của New York, và cô ta đang cầm một cuốn sách. Cô ta nói, “Ờ, xin lỗi, thưa ngài Sable, mong là ngài không phiền khi tôi xen ngang, nhưng cuốn sách của ngài, nó đã thay đổi cả cuộc đời tôi, không biết ngài có thể ký tặng cho tôi được không?” Cô ta van vỉ nhìn hắn bằng cặp mắt hõm vào hai hốc mắt sâu hoắm được đánh bóng mắt tuyệt đẹp.

Sable hòa nhã gật đầu và đón lấy cuốn sách từ tay cô ta.

Cô ta nhận ra hắn cũng không có gì đáng ngạc nhiên, vì cặp mắt xám sẫm của hắn nhìn ra từ bức ảnh trên bìa sách bằng giấy bạc dập nổi. Cuốn sách có tên là Ăn kiêng không thức ăn: nhịn ăn để đẹp, cuốn sách ăn kiêng của thế kỷ!

“Tên cô viết thế nào nhỉ?” hắn hỏi.

“Sherryl ạ. Hai chữ R, một chữ Y, một chữ L.”

“Cô làm tôi nhớ đến một người bạn từ xưa, rất xưa rồi,” hắn nói với cô ta trong lúc viết nhanh và cẩn thận lên trang lót. “Của cô đây. Rất mừng vì cô thích cuốn sách. Thật tuyệt vời khi được gặp một người hâm mộ.”

Dòng đề tặng của hắn như sau:

Sherryl,

Một đấu lúa bán một quan tiền, ba đấu mạch bán một quan tiền, còn dầu và rượu chớ động đến.

Khải huyền 6:6.

Bác sĩ Raven Sable.

“Đó là một câu trong Kinh Thánh đây,” hắn bảo cô ta.

Cô ta thành kính gập cuốn sách lại và lùi xa khỏi bàn, luôn miệng cảm ơn Sable, hắn không biết điều này có nghĩa thế nào với cô ta đâu, hắn đã thay đổi cuộc đời cô ta, đúng vậy...

Thực ra hắn chẳng hề kiếm được cái bằng y khoa mà hắn đã tự nhận, vì thời đó làm gì đã có trường đại học, nhưng Sable có thể thấy cô ta đang chết đói. Chỉ vài tháng nữa thôi. Không thức ăn. Chết rồi thì không phải lo vấn đề cân nặng nữa.

Frannie đang điên cuồng gõ bàn phím máy tính xách tay, lên kế hoạch cho bước tiếp theo trong công cuộc thay đổi thói quen ăn uống của toàn bộ phương Tây của Sable. Sable đã mua tặng cô ta cái máy tính làm quà riêng. Nó rất, rất đắt, rất mạnh, và cực mỏng. Hắn thích các thứ mỏng.

“Có một công ty châu Âu mà chúng ta có thể mua cổ phần để làm bàn đạp - Công ty Hợp nhất Holdings (Holdings). Nhờ đó chúng ta sẽ có cơ sở thuê ở Liechtenstein. Giờ, nếu chúng ta chuyển các nguồn tiền qua quần đảo Cayman, vào Luxembourg, rồi từ đó vào Thụy Sĩ, chúng ta có thể trả cho các nhà máy bằng...”

Nhưng Sable không còn nghe nữa. Hắn đang nhớ lại cái nhà hàng nhỏ kén khách kia. Hắn chợt nhận ra hắn chưa bao giờ thấy nhiều người giàu đói ăn đến thế.

Sable cười, nụ cười tươi tắn, thành thực khi ta hài lòng với công việc, hoàn hảo, thuần khiết. Hắn chỉ đang giết thời gian cho tới sự kiện chính thôi, nhưng hắn đang giết thời gian một cách hết sức tinh tế. Thời gian, và đôi khi là cả con người nữa.

Đôi khi gã được gọi là Trắng, hoặc Bạch, hoặc Albus, hoặc Phấn, hoặc Weiss, hoặc Tuyết, hoặc hàng trăm cái tên khác. Da gã trắng bệch, tóc màu vàng nhạt, mắt xám mờ. Nhìn thoáng qua thì gã khoảng ngoài hai mươi, và mọi người cũng chỉ nhìn gã thoáng qua thôi.

Hầu như không ai nhớ nổi gã.

Không như hai đồng nghiệp của mình, gã không bao giờ làm việc gì lâu.

Gã đã làm đủ mọi công việc thú vị ở nhiều nơi thú vị.

(Gã đã làm việc ở Nhà máy Điện Chernobyl, ở Windscale, và ở Three Mile Island (*) , luôn là những việc lặt vặt không quan trọng.)

Gã đã là một thành viên phụ nhưng quan trọng trong nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học.

(Gã đã giúp thiết kế động cơ chạy xăng, đồ nhựa, và lon giật nắp.)

Gã có thể làm bất kỳ việc gì.

Không ai thực sự để ý đến gã. Gã rất kín đáo; sự hiện diện của gã có tính tích lũy. Nếu suy nghĩ thật kỹ, ta có thể đoán chắc hẳn gã đã làm gì đó, chắc hẳn gã đã đến đâu đó. Thậm chí có lẽ gã đã nói chuyện với ta nữa. Nhưng gã White đó, rất dễ quên gã.

Lúc đó gã đang làm thủy thủ của con tàu chở dầu đang trên đường đến Tokyo.

Thuyền trưởng đang say rượu trong cabin. Thuyền phó đang ở trong nhà vệ sinh. Thuyền phó nhì đang trong bếp. Thủy thủ đoàn gần như chỉ có thế: con tàu gần như tự động hoàn toàn.

Không có gì nhiều để làm.

Tuy nhiên, nếu ai đó tình cờ ấn nút THẢ HÀNG KHẨN CẤP trên đài chỉ huy thì hệ thống tự động sẽ lo liệu việc thả một lượng lớn dầu đen ra biển, hàng triệu tấn dầu thô, gây hậu quả khủng khiếp đối với các giống chim, cá, cây xanh, loài vật và con người trong vùng. Tất nhiên, có hàng chục loại khóa tự ngắt và hệ thống an toàn dự phòng đáng tin cậy, nhưng, kệ xác, lúc nào chúng chẳng có đó.

Sau đó, đã có rất nhiều tranh cãi về việc lỗi chính xác thuộc về ai. Cuối cùng, sự việc bị bỏ ngỏ; mọi người phải chịu trách nhiệm như nhau. Thuyền trưởng, thuyền phó, và phó nhì đều mất việc vĩnh viễn.

Vì một lý do nào đó, không ai nghĩ nhiều đến thủy thủ White, lúc đó đã đi được nửa đường đến Indonesia trên một con tàu chở hàng lậu chất đầy các thùng sắt gỉ đựng đầy thứ thuốc diệt cỏ cực độc.

Và còn một kẻ nữa. Hắn ở quảng trường tại Kumbolaland. Và hắn ở trong các nhà hàng. Và hắn ở trong bầy cá, trong không khí, trong các thùng thuốc diệt cỏ. Hắn đang ở trên đường, trong các căn nhà, trong các cung điện, trong các khu ổ chuột.

Không ở đâu hắn là người lạ, và không có cách nào để thoát khỏi hắn. Hắn đang làm điều hắn giỏi nhất, và hắn đang làm đúng thứ hắn sinh ra để làm.

Hắn không đợi. Hắn đang làm việc.

Harriet Dowling về nhà với đứa con của mình, mà, theo lời khuyên của xơ Faith Dông dài, người vốn giỏi thuyết phục hơn xơ Mary, và được sự đồng ý qua điện thoại của chồng, bà đã đặt tên là Warlock.

Một tuần sau, ngài Tùy viên Văn hóa trở về nhà và tuyên bố đứa bé giống hệt đằng nội. Ông ta cũng bảo thư ký đăng quảng cáo tìm bảo mẫu trên tờ Phu nhân.

Crowley đã xem phim Mary Poppins trên tivi vào một dịp Giáng sinh (thực ra, ở hậu trường, Crowley đã nhúng tay vào phần lớn các chương trình truyền hình; nhưng hắn chỉ thực sự tự hào về vụ phát minh các game show.) Hắn đã nghĩ đến ý tưởng dùng một trận lốc để loại bỏ một cách gọn tiện và cực kỳ phong cách các cô bảo mẫu chắc chắn sẽ đến xếp hàng, hay có lẽ là sẽ chen chúc như máy bay lượn chờ hạ cánh, bên ngoài căn biệt thự của ngài Tùy viên Văn hóa ở công viên Nhiếp chính.

Hắn đành tự bằng lòng với một vụ đình công tàu điện ngầm tự phát, và đến ngày hôm đó, chỉ có một cô bảo mẫu duy nhất xuất hiện.

Cô ta mặc một bộ vét vải tuýt và đeo đôi hoa tai ngọc trai kín đáo. Ở cô ta có một vẻ gì đó nói rằng đây là bảo mẫu, nhưng nó sẽ nói vậy bằng giọng nhỏ nhẹ, như giọng của một quản gia người Anh trong một thể loại phim Mỹ thường gặp. Cái vẻ đó cũng sẽ khẽ ho và thì thầm rằng cô ta cũng có thể là loại bảo mẫu thường quảng cáo các dịch vụ mập mờ nhưng dễ hiểu đến kỳ lạ trên một vài tạp chí nhất định.

Đôi giày bệt của cô ta nghiến lên lối xe chạy rải sỏi, và một con chó xám lặng lẽ đi bên cạnh cô ta, hàm nhỏ dãi trắng ởn. Mắt nó vằn đỏ, và nó liếc nhìn hai bên vẻ đói khát.

Cô ta đến trước cánh cửa gỗ nặng nề, mỉm cười một mình, có một thoáng tự mãn, rồi bấm chuông. Cái chuông keng một tiếng âm u.

Cửa được mở ra bởi một quản gia kiểu thường được gọi là lớp người cũ. (*)

“Tôi là bảo mẫu Astoreth,” cô ta nói. “Còn đây,” cô ta nói thêm, trong lúc con chó xám bên cạnh cô ta thận trọng liếc nhìn người quản gia, có lẽ là để tính xem nó sẽ chôn xương ông ta ở đâu, “là Rover.”

Cô ta để con chó lại ngoài vườn, trải qua phần phỏng vấn hết sức xuất sắc, và bà Dowling dẫn cô ta vào gặp đứa bé mà cô ta sẽ phải chăm sóc.

Cô ta mỉm cười ghê rợn. “Thật là một chú bé kháu khỉnh,” cô ta nói. “Nó sắp muốn có một chiếc xe ba bánh rồi đấy.” (*)

Tình cờ làm sao, chiều hôm đó một người giúp việc mới cũng xuất hiện. Đó là một người làm vườn, và hóa ra ông lại giỏi việc đó đến kinh ngạc. Không ai hiểu nổi tại sao lại thế, vì dường như ông chẳng bao giờ cầm cái xẻng lên hay làm gì để đuổi những đàn chim bỗng nhiên kéo đến đậu đầy vườn và đậu cả lên người ông mỗi khi có dịp. Ông chỉ ngồi trong bóng mát trong khi khắp xung quanh ông các khu vườn nở rộ hoa trái.

Warlock thường xuống chơi với ông, khi thằng bé đến tuổi chập chững còn cô bảo mẫu thì đang bận làm việc riêng vào các buổi chiều được nghỉ.

“Đây là Cậu Sên,” người làm vườn nói với thằng bé, “còn sinh vật bé xíu xiu này là Cô Mọt Khoai. Hãy nhớ, Warlock, khi con bước đi trên những con đường đời dọc ngang dồi dào và thịnh vượng, cần phải luôn yêu thương và kính trọng mọi sinh vật sống.”

“Cô bảo mẫu nói mọi xinh vựt xống chỉ đáng để bị con giẫm chưn lên thôi, ông Fwancis,” Warlock bé bỏng nói, vuốt ve Cậu Sên rồi chùi tay rất kỹ lên chiếc quần yếm kiểu Ếch Kermit của mình.

“Con đừng nghe ả đàn bà đó,” Francis thường nói. “Con hãy nghe ta.”

Đêm đêm, bảo mẫu Astoreth thường hát ru cho Warlock nghe.

Ngài công tước già xứ York

Có mười ngàn quân binh

Ngài hành quân lên đồi

Và nghiền nát mọi quốc gia trên thế giới và bắt họ phải phục tùng

chúa tể Satan của chúng ta

Chú lợn nhỏ này xuống Địa ngục

Chú lợn nhỏ này ở nhà

Chú lợn nhỏ này ăn thịt người tươi nóng hôi hổi

Chú lợn nhỏ này xâm hại trinh nữ

Và chú lợn nhỏ này đứng trên núi xác để giành chiến thắng.

“Ông Fwancis làm vờn nói con phải biết vị ta, học các đức tính tốt và iu tương mọi xinh vật xống,” Warlock nói.

“Con đừng nghe gã đàn ông đó, con yêu,” cô bảo mẫu thì thầm khi kéo chăn đắp cho nó trên cái giường nhỏ. “Con hãy nghe ta.”

Và mọi chuyện cứ thế diễn ra.

Thỏa thuận đã có hiệu quả hoàn hảo. Một tỷ số hòa không đều. Bảo mẫu Astoreth mua cho thằng bé một chiếc xe ba bánh nhỏ, nhưng không thể thuyết phục nó đi xe ở trong nhà. Và nó sợ Rover.

Ở hậu trường, Crowley và Aziraphale gặp nhau trên tầng hai xe buýt, trong các phòng trưng bày nghệ thuật, và các buổi hòa nhạc, trao đổi ý kiến, và mỉm cười.

Năm Warlock lên sáu, cô bảo mẫu nghỉ việc, đem theo cả Rover; người làm vườn cũng đệ đơn xin nghỉ việc ngay hôm đó. Khi đi, cả hai bọn họ đều không có vẻ hào hứng như khi mới đến nữa.

Giờ Warlock được dạy dỗ bởi hai gia sư.

Thầy Harrison dạy nó về Attila Rợ Hung, vlad Drakul, và Bóng tối Bản chất trong Linh hồn Con Người (*) Thầy cố dạy nó cách diễn thuyết chính trị để kích động quần chúng, thuyết phục trái tim và trí óc của muôn người.

Thầy Cortese dạy nó về Florence Nightingale (*) , Abraham Lincoln, và cách thưởng thức nghệ thuật. Thầy cô dạy nó về tự do ý chí, sự quên mình, và Đối xử với Người Khác như Ta Muốn Họ Đối xử với Mình.

Cả hai gia sư đều đọc rất nhiều kinh Khải huyền cho thằng bé.

Bất chấp cố gắng của họ, thật đáng tiếc, Warlock lại tỏ ra có năng khiếu về toán. Cả hai gia sư đều không thật sự vừa lòng với sự tiến bộ của nó.

Khi lên mười, Warlock thích bóng chày; nó thích các món đồ chơi nhựa có thể biến thành những món đồ chơi nhựa khác, mà nếu mắt nhìn không quen thì sẽ thấy không khác gì với món đồ chơi đầu tiên; nó thích bộ sưu tập tem; nó thích kẹo cao su vị chuối; nó thích truyện tranh, phim hoạt hình, và chiếc xe đạp địa hình của mình.

Crowley thấy không yên tâm.

Họ đang ở trong căng tin của bảo tàng Anh quốc, một điểm trú ẩn nữa cho các chiến sĩ mệt mỏi của chiến tranh Lạnh. Ở bàn bên trái họ là hai tay người Mỹ thẳng đuỗn trong bộ vét, đang lén lút chuyển một cái va li đầy đô la có thể chối bỏ được cho một người phụ nữ nhỏ nhắn tóc đen đeo kính râm; ở bàn bên phải họ, phó giám đốc MI7 và sĩ quan chỉ huy đơn vị KGB địa phương đang cãi nhau xem ai được giữ hóa đơn bữa trà và bánh nướng.

Cuối cùng Crowley cũng thốt ra cái điều mà hắn còn không dám nghĩ đến suốt một thập kỷ vừa qua.

“Nếu anh hỏi tôi,” Crowley nói với đối tác, “thì nó bình thường quá xá.”

Aziraphale bỏ một miếng trứng nhồi nữa vào miệng và chiêu xuống bằng một ngụm cà phê. Y đưa khăn giấy lên chấm môi.

“Đó là do ảnh hưởng tốt của tôi đấy,” y cười tươi tắn. “Hay đúng hơn, phải khen đúng chỗ, là do nhóm nhỏ của tôi.”

Crowley lắc đầu. “Tôi tính cả việc đó rồi đây chứ. Nghe này... lẽ ra bằng giờ này nó phải tìm cách bóp méo thế giới quanh mình theo ý muốn của nó, định hình thế giới theo hình ảnh của chính mình, đại loại thé. Ờ, thực ra không phải là tìm cách. Nó sẽ làm thế một cách vô thức. Anh đã thấy bất kỳ bằng chứng nào của việc đó chưa?”

“À, chưa, nhưng...”

“Đến giờ nó phải là một nguồn quyền năng thô ghê gớm chứ. Nó có thể không?”

“Ờ, theo tôi thấy thì không, nhưng...”

“Nó quá bình thường.” Crowley gõ gõ ngón tay lên bàn. “Tôi không thích vụ này. Có gì đó không đúng. Chỉ là tôi không rõ là cái gì.”

Aziraphale lấy một miếng bánh bông lan thiên thần của Crowley. “Ờ, nó là một thằng bé đang lớn. Và tất nhiên, nó đã chịu ảnh hưởng của Thiên đường.”

Crowley thở dài. “Tôi chỉ hy vọng nó sẽ biết cách xử lý con chó địa ngục, thế thôi.”

Aziraphale nhướng một bên mày lên. “Chó địa ngục ấy à?”

“Vào sinh nhật thứ mười một của nó. Đêm qua tôi đã nhận được tin báo từ Địa ngục.” Tin báo đã đến giữa chừng bộ phim Các Cô gái Vàng, một trong những bộ phim truyền hình yêu thích của Crowley. Rose đã mất mười phút để truyền một tin nhắn lẽ ra đã có thể rất ngắn gọn, và đến khi tín hiệu bình thường được phục hồi thì Crowley không theo nổi mạch phim nữa. “Họ sẽ gửi cho nó một con chó địa ngục để đi bên cạnh nó và bảo vệ nó khỏi mọi nguy hại. Họ sẽ gửi con to nhất.”

“Liệu mọi người có để ý không khi một con chó to đùng đen sì bỗng dưng xuất hiện? Bố mẹ nó chẳng hạn.”

Crowley đứng bật dậy, giẫm lên chân ngài Tùy viên Văn hóa Bulgaria, đang sôi nổi nói chuyện với Quản thủ Cổ ngoạn Hoàng gia. “Sẽ không ai nhận ra bất kỳ điều gì khác thường cả. Hiện thực là thế, thiên thần ạ. Và Warlock trẻ tuổi có thể làm bất kỳ điều gì nó muốn với cái đó, dù nó có biết hay không.”

“Thế khi nào nó sẽ xuất hiện? Con chó ấy? Nó có tên không?”

“Tôi đã bảo anh rồi. Vào sinh nhật thứ mười một của thằng bé. Lúc ba giờ chiều. Nó sẽ tự tìm ra thằng bé. Thằng bé sẽ phải tự đặt tên cho con chó. Việc tự thằng bé đặt tên rất quan trọng. Cái tên sẽ cho con chó mục đích. Chắc sẽ là Sát Thủ, Kinh Hoàng, hoặc Rình Mò Trong Đêm, tôi đoán vậy.”

“Anh sẽ có mặt chứ?” vị thiên thần hờ hững hỏi.

“Không đời nào tôi bỏ lỡ đâu,” Crowley nói. “Tôi rất hy vọng không có gì quá sai với thằng bé. Thôi cứ để xem nó phản ứng thế nào với con chó. Chắc ta sẽ biết đôi chút qua chuyện đó. Tôi hy vọng thằng bé sẽ đuổi con chó về hoặc sợ nó. Nếu thằng bé đặt tên cho con chó thì chúng ta coi như đi tong. Nó sẽ có được tất cả quyền năng và Chẳng mấy chốc Ngày Tận thế sẽ đến.”

“Tôi nghĩ là,” Aziraphale nói, nhấp một ngụm rượu vang (vốn đã biến từ một chai Beaujolais hơi chua thành một chai Château Lafitte 1875, khá ngon nhưng hơi bất ngờ), “tôi nghĩ là tôi sẽ gặp anh ở đó.”

« Lùi
Tiến »