Đó là một ngày tháng Tám nóng nực, đầy khói bụi ở Trung tâm London.
Bữa tiệc sinh nhật lần thứ mười một của Warlock có rất nhiều khách khứa.
Có hai mươi cậu bé và mười bảy cô bé. Có rất nhiều đàn ông tóc vàng húi cua, mặc vét xanh sẫm, và đeo súng ngắn bên sườn giống hệt nhau. Có một đội phục vụ đem đến các loại thạch, bánh ngọt, và hàng bát khoai tây lát chiên. Đoàn xe tải của họ được dẫn đầu bởi một chiếc Bentley cổ.
Harvey & Wanda Siêu việt, Chuyên Tiệc Thiếu nhi, đều bất ngờ bị nhiễm khuẩn đường ruột, nhưng nhờ một may mắn trời ban, một người thay thế đã xuất hiện, gần như từ trên trời rơi xuống. Một nhà ảo thuật.
Ai cũng có thú chơi riêng. Bất chấp Crowley đã hết sức can ngăn, Aziraphale vẫn quyết tâm tận dụng thú chơi của mình.
Aziraphale đặc biệt tự hào về tài làm ảo thuật của mình. Hồi thập niên 1870, y đã theo học một lớp do John Maskelyne dạy, và đã bỏ ra gần một năm tập các trò ảo thuật khéo tay, giấu đồng xu vào lòng bàn tay, và rút thỏ từ trong mũ ra. Lúc đó y cảm thấy mình đã khá giỏi. Điểm cốt yếu là mặc dù Aziraphale có thể làm những điều khiến toàn bộ Hội Ảo thuật gia phải nộp đũa, y không bao giờ áp dụng cái gọi là quyền năng nội tại của mình vào mấy trò ảo thuật. Mà đó lại là một hạn chế lớn. Y bắt đầu ước giá mình vẫn tiếp tục tập luyện từ hồi ấy.
Dù sao thì, y thầm nghĩ, cũng giống như cưỡi xe ba bánh thôi. Quên thế nào được. Cái áo khoác ảo thuật gia của y đã hơi bụi bặm, nhưng khi mặc nó vào cảm giác vẫn ổn. Thậm chí cả những câu mồi chào nhà nghề cũ cũng dần trở lại với y.
Lũ trẻ nhìn y vẻ đờ đẫn, khinh khỉnh vì chẳng hiểu gì. Đằng sau bàn buffet, Crowley, trong chiếc áo bồi bàn trắng, co rúm lại vì xấu hổ thay cho y.
“Giờ thì, các công tử và các tiểu thư có thấy cái mũ cao thành cũ kỹ của tôi đây không? Thật là một cái mũ xấu mèm như ma lem, như các cô các cậu vẫn nói ấy! Và thấy không, bên trong chẳng có gì cả. Nhưng, cái quần của tôi ơi, vị khách không mời nào thế này? Kìa, đó là anh bạn lông lá của chúng ta, chú thỏ Harry!”
“Nó ở trong túi của ông mà,” Warlock nói. Lũ trẻ còn lại gật gù đồng tình. Ông ta nghĩ chúng mình là cái gì chứ? Trẻ con chắc?
Aziraphale nhớ lại Maskelyne đã dạy y cách đối phó với bọn phá bĩnh như thế nào. “Biến nó thành trò đùa, đồ đầu đất ạ... và tôi nói anh đấy, anh Fell” (đó là cái tên Aziraphale đã dùng vào thời đó). “Làm họ cười, và họ sẽ tha thứ cho anh bất kỳ điều gì!”
“Hô hô, vậy là các cô cậu đã khám phá ra trò ảo thuật với mũ của ta,” y cười. Lũ trẻ dửng dưng trố mắt nhìn y.
“Ông dở ẹc,” Warlock nói. “Tôi chỉ muốn xem hoạt hình thôi.”
“Cậu ấy nói đúng đấy,” một con bé tóc buộc đuôi ngựa nói. “Ông đúng là dở ẹc. Và có khi còn là một thằng ái nữa.”
Aziraphale tuyệt vọng nhìn Crowley. Theo như y thấy thì rõ ràng Warlock trẻ tuổi đã bị ám mùi địa ngục nặng, và chỉ mong Con Chó Đen xuất hiện cho họ chuồn khỏi đây càng sớm càng tốt.
“Giờ thì có cô cậu nào có một đồng ba xu không? Không à, thưa công tử? Thế tôi thấy cái gì sau tai cậu đây...?”
“Tớ được xem hoạt hình hôm sinh nhật tớ,” con bé tuyên bố. “Và tớ được một con robot biến hình với cả ponybénhỏ với cả decepticontấncông với cả xe tăng sấm với cả...”
Crowley rên lên. Các bữa tiệc của trẻ con rõ ràng là nơi mà bất kỳ thiên thần nào có lấy một chút trí khôn đều không dám bén mảng tới. Những giọng trẻ con léo nhéo to dần với vẻ khoái trá đầy nhạo báng khi Aziraphale đánh rơi ba vòng kim loại nối với nhau.
Crowley nhìn đi nơi khác, và mắt hắn chạm vào cái bàn chất đầy quà tặng. Từ một khối cao bằng nhựa, hai con mắt nhỏ sáng lóe nhìn lại hắn.
Crowley săm soi đôi mắt xem có thấy tí ánh lửa đỏ nào không. Khi làm việc với đám quan liêu Địa ngục thì ta không bao giờ biết chắc được. Rất có thể chúng đã gửi nhầm một con chuột nhảy thay vì một con chó.
Không, đó là một con chuột nhảy hoàn toàn bình thường. Dường như nó đang sống trong một công trình hết sức thú vị gồm toàn các loại ống, quả cầu, và cối xay guồng, hẳn là thứ Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha sẽ nghĩ ra nếu họ có máy đúc nhựa.
Hắn xem đồng hồ. Crowley chưa bao giờ nghĩ là phải thay pin cho cái đồng hồ, cục pin vốn đã gỉ nát từ ba năm trước, nhưng đồng hồ vẫn chạy chính xác. Còn hai phút nữa là đúng ba giờ.
Aziraphale đang mỗi lúc một lúng túng hơn.
“Liệu có quý vị nào đang có mặt tại đây mang theo một thứ như là khăn tay không nhỉ? Không à?” Vào thời Victoria thì chuyện người ta không có khăn tay trong túi là không thể tưởng tượng nổi, và trò này, bao gồm việc hóa phép ra một con chim bồ câu mà ngay lúc này đây đang cáu kỉnh mổ vào cổ tay Aziraphale, sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu khăn tay. Vị thiên thần cố thu hút sự chú ý của Crowley mà không được, và, trong lúc tuyệt vọng, đành chỉ vào một tên vệ sĩ, tên này cựa quậy vẻ lo lắng.
“Anh, vị huynh đệ bảnh chọe của tôi. Lại đây. Nếu anh tìm trong túi áo ngực, tôi nghĩ anh sẽ thấy một chiếc khăn tay lụa rất đẹp đấy.”
“Khôngthưangài. Elàkhôngthưangài,” tay vệ sĩ nói, mắt nhìn thẳng về phía trước.
Aziraphale tuyệt vọng nháy mắt. “Không, anh bạn thân mến, cứ tìm đi, xin anh đấy.”
Tên vệ sĩ thò tay vào túi áo trong, tỏ vẻ ngạc nhiên, và rút ra một chiếc khăn tay bằng lụa màu xanh trứng sáo, viền ren. Gần như ngay lập tức Aziraphale nhận ra đường viền ren đó là một sai lầm, vì nó bị mắc vào khẩu súng trong bao của tay vệ sĩ, khiến khẩu súng bay tít qua phòng và rơi bẹt vào một bát thạch.
Lũ trẻ lác đác vỗ tay. “Này, không tồi đâu!” con bé tóc đuôi ngựa nói.
Warlock đã kịp chạy sang đầu bên kia phòng và chộp lấy khẩu súng.
“Giơ tay lên, bọn thối tha!” nó khoái trá hét.
Đám vệ sĩ đâm ra khó xử.
Một vài tên loay hoay tìm vũ khí của mình; một số khác liền nhích lại gần hoặc ra xa khỏi thằng bé. Mấy đứa trẻ con khác liền mè nheo là chúng cũng muốn có súng, và mấy đứa bạo dạn hơn bắt đầu tìm cách giật súng từ tay những tên vệ sĩ đã bất cẩn rút súng ra.
Rồi ai đó ném một miếng thạch vào Warlock.
Thằng bé ré lên và bóp cò súng. Đó là một khẩu Magnum .32, loại chuyên dụng của CIA, màu xám, cực mạnh, cực nặng, đủ sức thổi bay một người từ cách xa ba mươi bước, và không để lại gì ngoài một màn sương đỏ, một đống hỗn độn, và kha khá giấy tờ.
Aziraphale chớp mắt.
Một tia nước phụt ra từ nòng súng, bắn vào mặt Crowley, vốn đang nhìn ra cửa sổ xem ngoài vườn có con chó to đùng đen sì nào không.
Aziraphale có vẻ xấu hổ.
Rồi một cái bánh kem đập vào mặt y.
Đã là gần ba giờ năm phút.
Bằng một cái vẫy tay, Aziraphale biến chỗ súng còn lại cũng thành súng phun nước, rồi bước ra.
Crowley thấy y trên vỉa hè bên ngoài, cố lôi một con bồ câu đã mềm oặt ra khỏi ống tay áo khoác.
“Muộn rồi,” Aziraphale nói.
“Tôi thấy rồi,” Crowley đáp. “Tại nó bị nhét vào ống tay áo anh đấy mà.” Hắn thò tay ra đón lấy con chim mềm oặt từ áo khoác của Aziraphale và hà hơi cho nó sống lại. Con bồ câu gù gù vẻ cảm kích rồi bay đi, hơi cảnh giác.
“Không phải con chim,” vị thiên thần nói. “Con chó cơ. Nó đến muộn.”
Crowley trầm ngâm lắc đầu. “Để rồi xem.”
Hắn mở cửa xe và bật đài lên. “I-should-be-so-lucky-lucky-lucky-lucky-lucky, I-should-be-so-lucky-in- (*) XIN CHÀO CROWLEY.”
“Xin chào. Ờ, ai đấy?”
“DAGON, CHÚA RUỒI, CHỦ NHÂN CỦA SỰ ĐIÊN LOẠN, TIỂU CÔNG TƯỚC CỦA TẦNG TRA TẤN THỨ BẢY. TA CÓ THỂ GIÚP GÌ CHO NGƯƠI?”
“Con chó địa ngục. Tôi chỉ, ờ, chỉ muốn kiểm tra xem nó đã được thả ra chưa thôi.”
“ĐÃ ĐƯỢC THẢ RA TỪ MƯỜI PHÚT TRƯỚC RỒI. SAO? NÓ CHƯA ĐẾN NƠI À? CÓ CHUYỆN GÌ KHÔNG ỔN SAO?”
“Ồ không. Không có gì không ổn cả. Tất cả đều tuyệt vời. Ái chà, tôi thấy nó rồi. Chó ngoan lắm. Chó đẹp lắm. Mọi thứ rất ổn. Các vị dưới đó đang làm tốt lắm. Rất vui được nói chuyện với ngài, Dagon. Gặp lại sau nhé?”
Hắn tắt đài đi.
Họ nhìn nhau trân trối. Có một tiếng “pằng” to phát ra từ trong nhà, và một ô cửa sổ vỡ nát. “Ôi trời,” Aziraphale lẩm bẩm, kìm tiếng chửi thề một cách dễ dàng, với kinh nghiệm của một kẻ đã không chửi thề suốt sáu ngàn năm và không định bắt đầu chửi thề vào lúc này. “Chắc tôi bỏ sót một khẩu.”
“Không có chó,” Crowley nói.
“Không có chó,” Aziraphale nói.
Tên quỷ thở dài. “Lên xe đi,” hắn bảo. “Chúng ta phải bàn về việc này. À mà Aziraphale này...?”
“Sao.”
“Trước khi lên xe thì lau sạch chỗ bánh kem chết tiệt ấy đi.”
Đó là một ngày tháng Tám nóng nực, yên ả, cách xa Trung tâm London. Bên vệ đường Tadfield, những cây mặt sàng trĩu xuống vì bụi. Ong vo ve trong các bờ giậu. Bầu không khí có cảm giác như thức ăn thừa được hâm lại.
Một âm thanh vang lên, nghe như tiếng một ngàn giọng nói đanh thép cùng hô vang “Vạn tuế!” rồi ngưng bặt.
Và có một con chó đen trên đường.
Nó phải là một con chó. Nó có hình thù một con chó.
Có những con chó mà, khi ta gặp chúng, thì nhắc ta nhớ rằng, bất chấp hàng ngàn năm tiến hóa dưới tay con người, mỗi con chó đều chỉ cần thiếu ăn hai bữa là hóa sói. Những con chó này bước đi một cách chậm rãi, quả quyết, là hoang dã hóa thành da thịt, hàm răng vàng khè, hơi thở hôi hám, trong khi ở đằng xa, chủ của chúng nói liến thoắng, “Nó hiền lắm, thật đấy, nếu nó làm phiền thì cứ chọc nó một cái là được,” còn trong tròng mắt chúng thì ánh lửa đỏ của kỷ Pleistocene long lên sòng sọc...
Con chó này có thể khiến ngay cả một con chó như thế cũng phải rón rén bò ra sau ghế và giả vờ hết sức bận bịu với khúc xương cao su của nó.
Chưa gì nó đã gầm gừ, và đó là một tiếng gầm gừ trầm rền, một mối đe dọa đang nén lại như cái lò xo, kiểu gầm gừ bắt đầu trong một cuống họng và kết thúc trong cuống họng kẻ khác.
Dãi dớt nhỏ xuống từ quai hàm nó và kêu xèo xèo khi rớt xuống mặt đường nhựa.
Nó tiến vài bước về phía trước và hít hít bầu không khí oi ả.
Tai nó dựng đứng lên.
Có nhiều giọng nói cách đó xa xa. Một giọng nói. Một giọng nói trẻ con, nhưng là giọng nói mà nó đã được sinh ra để tuân theo, không thể không tuân theo. Khi giọng nói đó ra lệnh, “Đi”, nó sẽ đi; khi giọng nói đó ra lệnh, “Giết”, nó sẽ giết. Giọng nói của chủ nhân nó.
Nó nhảy qua bờ giậu và băng qua cánh đồng. Một con bò đực đang gặm cỏ nhìn nó hồi lâu, cân nhắc cơ may của mình, rồi vội vã đi về bờ giậu đối diện.
Những giọng nói đang vang lên từ một cụm cây thưa thớt. Con chó đen bò lại gần hơn, dãi dớt lòng thòng.
Một giọng nói khác đang bảo: “Không đời nào. Lúc nào mày cũng bảo bố mày sẽ cho, nhưng có bao giờ bố mày cho đâu. Thách bố mày cho mày một con thú cưng đấy. Mà phải là thú cưng thú vị cơ. Có khi lại là bọ que cũng nên. Bố mày sẽ thấy thế là thú vị.”
Con chó làm một cử chỉ của chó tương đương với một cái nhún vai, nhưng nó lập tức thấy hết hứng thú vì bây giờ Chủ Nhân, Trung Tâm Vũ Trụ của nó, đã lên tiếng.
“Nó sẽ là một con chó,” giọng nói đó khẳng định.
“Hừ. Mày làm sao biết được sẽ là chó. Không ai nói nó sẽ là chó cả. Làm sao mày biết sẽ là chó nếu không ai nói thế? Bố mày sẽ suốt ngày kêu ca là nó ăn tốn thức ăn quá.”
“Cây thủy lạp.” Giọng nói thứ ba này hơi nghiêm trang hơn hai giọng nói vừa rồi một chút. Người có giọng nói đó là kiểu người mà, trước khi làm một mô hình nhựa, sẽ không chỉ phân chia và đếm kỹ từng bộ phận rồi mới bắt đầu, mà còn sơn trước những bộ phận cần sơn và để cho chúng khô hẳn, theo đúng hướng dẫn. Tất cả những gì ngăn cách giọng nói đó với nghề kế toán chỉ là thời gian.
“Chúng không ăn cây thủy lạp, Wensley ạ. Mày đã thấy chó ăn thủy lạp bao giờ chưa.”
“Ý tao là bọ que ấy. Thật ra chúng rất thú vị đấy. Chúng ăn nhau khi đang giao phối.”
Có một quãng ngừng trầm tư. Con chó bò lại gần hơn, và nhận ra các giọng nói đang phát ra từ một cái hố trên nền đất.
Cụm cây thực ra che khuất một mỏ đá phấn cổ xưa, giờ đã bị cây gai và dây leo phủ lấp một nửa. Cổ xưa nhưng rõ ràng là không bị bỏ hoang. Các vết xe chạy ngang dọc qua nó; các mặt dốc nhẵn thín chứng tỏ chúng được thường xuyên sử dụng bởi các ván trượt và các tay chơi xe đạp Bức tường Tử thần, hay ít ra cũng là Bức tường Trầy Đầu gối. Những mẩu dây mòn xơ rủ xuống đầy nguy hiểm từ những cái cây dễ trèo. Đây đó những mảnh tôn sóng và ván gỗ cũ được nhét vào giữa các cành cây. Có cả một chiếc xe Triumph Herald cốp dài cháy rụi, gỉ sét, đã bị vùi mất một nửa bởi đám tầm ma.
Ở một góc là một đống bánh xe và dây sắt mục ruỗng đánh dấu vị trí của Nghĩa địa Lạc lối nổi tiếng, nơi các xe đẩy siêu thị đến để lìa đời.
Nếu bạn là trẻ con, chỗ này đúng là Thiên đường. Người lớn trong vùng gọi nó là Cái Hố.
Con chó nhìn qua một bụi tầm ma và thấy bốn dáng người ngồi ở giữa mỏ đá, trên món đạo cụ không thể thiếu của các sào huyệt bí mật khắp mọi nơi, tức thùng gỗ đựng sữa.
“Làm gì có!”
“Đúng mà!”
“Tao cá là không phải,” giọng nói đầu tiên lên tiếng. Giọng đó có một âm sắc cho biết nó còn nhỏ và thuộc giống cái, và nó thoáng một vẻ khoái chí kinh hoàng.
“Thật mà. Tao có sáu con trước khi nhà tao đi du lịch, và tao quên thay lá thủy lạp, thế là lúc về tao chỉ còn một con to kềnh.”
“Đâu. Đấy không phải là bọ que, mà là bọ ngựa cầu nguyện. Tao đã xem trên tivi, một con cái to tướng ăn con khác mà con kia hầu như chả quan tâm.”
Lại có một quãng lặng nữa trong đám.
“Chúng nó cầu nguyện cái gì?” giọng Chủ Nhân của nó hỏi.
“Chịu. Cầu nguyện khỏi phải lấy vợ, tao đoán thế.”
Con chó ghé được một con mắt khổng lồ vào một mắt gỗ trên hàng rào gãy nát của mỏ đá và nheo mắt nhìn xuống dưới.
“Cũng giống như xe đạp ấy,” giọng nói đầu tiên lên tiếng vẻ am hiểu. “Tao cứ tưởng tao sẽ được một cái xe có bảy số, yên dao cạo và sơn màu tím đủ cả, thế mà tao lại được tặng một cái màu xanh da trời. Có giỏ. Xe của con gái.”
“ Ờ thì. Mày là con gái mà,” một đứa khác nói.
“Thế là phân biệt giới tính. Tại sao cứ là con gái thì phải nhận quà con gái?”
“Tao sẽ được tặng một con chó,” giọng Chủ Nhân của nó quả quyết. Chủ Nhân đang quay lưng về phía nó; con chó không nhìn được nét mặt ngài.
“À, ừ, sẽ là một con Rottenweiler to đùng chứ gì?” con bé nói, giọng mỉa mai chua cay.
“Không, nó sẽ là loại chó mình có thể chơi cùng,” giọng Chủ Nhân của nó nói. “Không phải một con chó to...”
... con mắt giữa đám tầm ma đột ngột tụt xuống...
“... mà là một con chó cực kỳ khôn, biết chui vào hang thỏ và có một cái tai ngồ ngộ lúc nào cũng nhìn như bị lộn ra ngoài. Và phải là một con chó lai hẳn hoi. Chó lai nòi.”
Không đứa nào ở dưới hố nghe thấy, nhưng có một tiếng sấm nhỏ xíu trên mép mỏ đá. Nó có thể được tạo ra bởi không khí bị hút vào khoảng chân không do một con chó rất to bỗng biến thành một con chó nhỏ, ví dụ thế.
Tiếng bốp nhỏ tiếp theo đó có thể được tạo ra bởi một bên tai đã tự lộn ra ngoài.
“Và tao sẽ gọi nó là...” giọng Chủ Nhân của nó nói. “Tao sẽ gọi nó là...”
“Ừ?” con bé nói. “Mày sẽ gọi nó là gì?”
Con chó chờ đợi. Chính là lúc này đây. Đặt Tên. Việc này sẽ cho nó mục đích, nhiệm vụ, danh tính. Mắt nó đỏ ngầu lên, mặc dù chúng gần mặt đất hơn nhiều so với trước, và nó nhỏ dãi xuống đám tầm ma.
“Tao sẽ gọi nó là Chó,” Chủ Nhân của nó nói, đầy quả quyết. “Đặt tên đấy đỡ được bao nhiêu là rắc rối.”
Con chó địa ngục khựng lại. Sâu thẳm trong bộ óc chó ma quỷ của nó, nó biết có gì đó không ổn, nhưng nó rất biết vâng lời và tình yêu lớn lao đột ngột dâng trào dành cho Chủ Nhân đã át hết mọi lo lắng của nó. Dù sao thì, nó là ai mà lại dám tự quyết định kích cỡ của mình chứ?
Nó lon ton chạy xuống đồi để đón gặp định mệnh của mình.
Kể cũng lạ. Nó vốn luôn muốn nhảy xổ vào người ta, nhưng giờ đây, nó nhận ra rằng, bất chấp mọi mong đợi, nó còn muốn vẫy đuôi nữa.
“Anh đã bảo đó chính là nó!” Aziraphale rên rỉ, lơ đễnh nhặt tảng bánh kem cuối cùng ra khỏi ve áo. Y liếm ngón tay cho sạch.
“Thì đó chính là nó!” Crowley nói. “Ý tôi là, tôi phải biết chứ, đúng không?”
“Thế thì chắc có kẻ khác xía vào.”
“Không còn ai khác cả! Chỉ có chúng ta thôi mà? Thiện và ác. Phe này hoặc phe kia.”
Hắn đấm lên vô lăng.
“Anh sẽ kinh ngạc vì những điều họ có thể làm với anh dưới đó đấy,” hắn nói.
“Tôi đoán là chúng rất giống những điều họ có thể làm với anh trên kia,” Aziraphale nói.
“Thôi đi. Bọn các anh được hưởng khoan hồng bất khả tư nghị mà,” Crowley chua chát nói.
“Thế à? Anh đã bao giờ đến thăm Gomorrah (*) chưa?”
“Rồi chứ,” tên quỷ đáp. “Có một quán rượu nhỏ rất tuyệt bán cocktail đường thốt nốt, rắc nhục đậu khấu và sả đập giập...”
“Ý tôi là sau đó cơ.”
“À.”
Aziraphale nói, “Chắc đã xảy ra chuyện gì đó trong bệnh viện.”
“Không đời nào! Trong đó toàn người của chúng ta mà!”
“Người của ai cơ?” Aziraphale lạnh lùng nói.
“Người của tôi,” Crowley sửa lại. “Ờ, thật ra không phải người của tôi. Hừm, anh biết đấy. Tín đồ của Satan ấy mà.”
Hắn cố nói vẻ khinh khỉnh. Tất nhiên, ngoài việc trần gian là một nơi hết sức thú vị mà cả hai đều muốn tận hưởng càng lâu càng tốt, bọn họ có rất ít điểm tương đồng, nhưng họ đồng tình với nhau về một số người, vì lý do này kia, lại có khuynh hướng thờ phụng Hoàng thân Bóng tối. Crowley luôn thấy hơi lúng túng với bọn họ. Ta không thể tỏ ra bất nhã với họ, nhưng với họ, ta không thể không cảm thấy một cảm giác giống khi một cựu chiến binh Việt Nam gặp một gã mặc quân phục đến dự buổi họp đội dân phòng.
Hơn nữa, họ luôn nhiệt tình đến nản. Cứ xem mấy vụ thập giá treo ngược, sao năm cánh và gà trông đấy. Phần lớn bọn quỷ đều chẳng hiểu những thứ đó để làm gì. Chúng hoàn toàn không cần thiết. Tất cả những gì ta cần để trở thành tín đồ của Satan là nỗ lực ý chí. Ta có thể thờ Satan cả đời mà không biết sao năm cánh là cái gì, mà không bao giờ nhìn thấy một con gà trống chết ngoại trừ ở món gà hầm Marengo.
Ngoài ra, một số tín đồ Satan truyền thống thường là những người khá tử tế. Họ lẩm nhẩm theo lời cầu nguyện và thực hiện đầy đủ các nghi thức, giống hệt như những người mà họ nghĩ là thuộc phe đối lập, rồi về nhà và sống những cuộc đời tầm thường khiêm tốn suốt những ngày còn lại trong tuần mà chẳng có lấy một ý nghĩ xấu xa trong đầu.
Còn những kẻ còn lại thì...
Có những kẻ tự gọi mình là tín đồ của Satan lại khiến Crowley bó tay. Không chỉ vì những việc họ làm, mà là vì cái lối họ đổ hết mọi tội lỗi lên Địa ngục. Họ nghĩ ra những điều khiến người ta ghê rợn mà không tên quỷ nào có thể nghĩ nổi trong cả ngàn năm, những thứ kinh khủng đen tối và bệnh hoạn mà chỉ có một bộ não con người hoàn thiện mới có thể tưởng tượng được, rồi gào lên “Quỷ Sứ Bắt Tôi Làm Thế” và được tòa thông cảm, trong khi vấn đề là quỷ sứ chẳng bao giờ bắt ai làm gì. Hắn không cần. Đó là một điều mà nhiều con người không hiểu nổi. Địa ngục không phải là một nguồn dự trữ xấu xa, cũng như Thiên đường, theo ý kiến của Crowley, cũng không phải là suối nguồn thiện lành; hai nơi này chỉ là hai phe trong một ván cờ vũ trụ khổng lồ mà thôi. Nơi ta có thể tìm ra điều đích thực, tốt đẹp đích thực và xấu xa đến rụng tim đích thực, chính là trong tâm trí con người.
“Hừ,” Aziraphale nói. “Tín đồ Satan.”
“Tôi không hiểu sao họ có thể nhầm lẫn được,” Crowley nói. “Ý tôi là, chỉ có hai đứa bé. Có khó nhọc gì đâu chứ, phải không...?” Hắn ngừng lời. Giữa màn sương ký ức, hắn nhớ lại một bà xơ nhỏ bé, mà lúc đó hắn đã thấy khá là đãng trí ngay cả so với một tín đồ Satan. Và còn có cả một người khác nữa. Crowley lờ mờ nhớ lại một tẩu thuốc và một cái áo khoác len có hoa văn ziczac kiểu đã lỗi mốt từ năm 1938. Một người đàn ông với dòng chữ “sắp làm bố” hiện rõ mồn một khắp người.
Chắc hẳn đã có một đứa bé thứ ba.
Hắn kể cho Aziraphale nghe.
“Chẳng có manh mối gì nhiều,” vị thiên thần nói.
“Chúng ta biết đứa bé còn sống,” Crowley nói, “vì vậy...”
“Làm sao chúng ta biết được?”
“Nếu nó đã lại xuống Dưới Đó rồi thì anh nghĩ là tôi còn yên vị ở đây được không?”
“Có lý.”
“Vậy chúng ta chỉ việc tìm ra nó,” Crowley nói. “Tra sổ sách bệnh viện.” Động cơ chiếc Bentley húng hắng khởi động và chiếc xe chồm tới trước, khiến Aziraphale bị đẩy sát vào ghế.
“Rồi sau đó thì sao?” y hỏi.
“Sau đó thì chúng ta tìm ra đứa bé.”
“Rồi sau đó thì sao?” Vị thiên thần nhắm nghiền mắt khi xe vào cua xé gió.
“Chịu.”
“Trời ơi.”
“Tôi đoán là - xéo đi thằng hề kia - các anh sẽ không chịu - và cả cái xe máy của mày nữa! - cho tôi tị nạn đâu nhỉ?”
“Tôi đang định hỏi anh chính điều đó đấy - cẩn thận người đi bộ!”
“Nó đang ở trên đường, nó phải biết mình đang đứng trước nguy cơ gì chứ!” Crowley nói, luồn lách chiếc xe đang tăng tốc giữa một cái xe đang đỗ và một chiếc taxi, chừa lại khe hở gần như không đủ đút vừa tấm thẻ tín dụng mỏng nhất.
“Nhìn đường! Nhìn đường! Mà cái bệnh viện này ở đâu?”
“Đâu đó phía nam Oxford!”
Aziraphale bám chặt vào bảng đồng hồ. “Anh không thể chạy với tốc độ một trăm rưỡi cây số giờ trong Trung tâm London được!”
Crowley ngó đồng hồ vận tốc. “Sao lại không?”
“Anh sẽ giết chúng ta mất!” Aziraphale ngần ngừ. “Hay đúng hơn là làm chúng ta bị lìa xác một cách rất bất tiện,” y lúng túng sửa lại, thư giãn hơn một chút. “Hơn nữa, anh có thể giết người khác.”
Crowley nhún vai. Vị thiên thần chưa bao giờ quen được với thế kỷ hai mươi và không nhận ra rằng việc lái xe với tốc độ một trăm năm mươi cây số giờ trên phố Oxford là hoàn toàn khả thi. Ta chỉ việc sắp xếp lại mọi thứ để không bị ai ngáng đường. Và vì tất cả mọi người đều biết lái xe với tốc độ một trăm năm mươi cây số một giờ trên phố Oxford là bất khả thi, nên không ai để ý cả.
Ít ra xe hơi cũng còn khá hơn ngựa. Động cơ đốt trong là một món quà của Chúa - một phước - một may mắn bất ngờ với Crowley. Thời trước, những con ngựa duy nhất mà kẻ khác nhìn thấy hắn cưỡi là những con vật to đùng đen sì, mắt rừng rực và móng gõ tóe lửa. Đó là thứ bắt buộc với một tên quỷ. Thường thì Crowley hay bị ngã. Hắn không hợp với động vật cho lắm.
Đâu đó quanh Chiswick, Aziraphale lơ đãng bới đống băng trong ngăn đựng găng tay.
“Velvet Underground là cái gì?” y hỏi.
“Anh sẽ không thích đâu,” Crowley trả lời.
“À,” vị thiên thần khinh khỉnh nói. “Nhạc be-bop.”
“Anh biết không, Aziraphale, nếu một triệu con người được yêu cầu miêu tả âm nhạc hiện đại, họ sẽ không dùng từ ‘be-bop’ đâu?” Crowley nói.
“A, cái này được hơn đây. Tchaikovsky,” Aziraphale nói, mở hộp ra và bỏ cuộn băng vào chiếc Blaupunkt.
“Anh sẽ không thích đâu,” Crowley thở dài. “Nó đã ở trong xe hơn hai tuần rồi.”
Một nhịp bass nặng bắt đầu rung lên trong chiếc Bentley khi họ lao qua sân bay Heathrow.
Trán Aziraphale nhăn lại.
“Tôi không nhận ra bài này,” y nói. “Đây là bài gì vậy?”
“Là bài ‘Another One Bites the Dust’ của Tchaikovsky,” Crowley nói, nhắm mắt lại khi họ đi qua Slough.
Để giết thời gian khi đi qua vùng đồi Chiltern ngái ngủ, họ nghe cả các bài “We Are the Champions” của William Byrd và “I Want To Break Free” của Beethoven. Nhưng cả hai bài đều không hay bằng “Fat-Bottomed Girls” (*) của Vaughan Williams.
Người ta nói quỷ sứ có những điệu nhạc hay nhất.
Điều này nói chung là đúng. Nhưng Thiên đường lại có các biên đạo múa giỏi nhất.
Vùng đồng bằng Oxfordshire trải dài về phía tây, với những đốm sáng rải rác đánh dấu những ngôi làng đang say ngủ, nơi những người nông dân chân chất đang chuẩn bị nghỉ ngơi sau một ngày dài biên tập xã luận, cố vấn tài chính, hoặc xây dựng phần mềm.
Cao cao trên đỉnh đồi, mấy con đom đóm đang lập lòe sáng.
Máy kinh vĩ của nhân viên dịch lộ là một trong những biểu tượng tàn bạo của thế kỷ hai mươi. Khi được dựng lên ở bất kỳ đâu giữa vùng thôn quê, nó đều báo hiệu: việc Mở Rộng Đường sắp xảy ra, đúng vậy, cùng các khu chung cư hai-ngàn-hộ được xây dựng theo đúng Bản sắc của Ngôi làng. Các Kế hoạch Phát triển Đô thị sẽ hiện ra.
Nhưng ngay cả nhân viên dịch lộ tận tâm nhất cũng không đi lập bản đồ lúc nửa đêm, vậy mà nó vẫn ở đây, cái giá ba chân cắm sâu xuống nền cỏ. Cũng không nhiều máy kinh vĩ lại có một cành dẻ gai buộc trên đầu, hay có các con lắc bằng pha lê treo bên dưới, và các cổ tự Xentơ khắc trên chân.
Một làn gió nhẹ thổi phần phật chiếc áo choàng của dáng người mảnh mai đang chỉnh các núm điều khiển của máy kinh vĩ. Đó là một chiếc áo choàng khá dày, chống thấm rất hữu dụng, và có lớp lót ấm.
Phần lớn các cuốn sách về yêu thuật nói rằng các phù thủy đều khỏa thân khi làm phép. Đó là vì phần lớn các cuốn sách về yêu thuật đều được viết bởi đàn ông.
Cô gái đó có tên là Anathema Device. Cô không xinh đẹp khác thường gì. Các nét của cô, khi để riêng, thì đều rất xinh, nhưng tổng thể khuôn mặt cô khiến người ta có cảm giác nó đã được lắp ráp vội vã từ các mẫu có sẵn chứ không tham khảo sơ đồ nào cả. Có lẽ từ phù hợp nhất để miêu tả cô là “hấp dẫn”, nhưng những người biết từ đó có nghĩa là gì và có thể đánh vần được nó sẽ thêm vào từ “hoạt bát” nữa, nhưng từ “hoạt bát” có vẻ gì đó rất kiểu thập niên 50, nên có lẽ họ sẽ không thêm vào.
Các cô thiếu nữ không nên ra ngoài một mình vào những đêm tối trời, ngay cả ở Oxfordshire đi chăng nữa. Nhưng bất kỳ tên điên nào đang rình rập cũng sẽ phải lãnh đủ nếu hắn dám đến gần Anathema Device. Dù sao thì cô cũng là phù thủy. Và chính bởi vì cô là phù thủy, và do đó rất khôn ngoan, nên cô không đặt niềm tin vào các bùa phép hộ mệnh; cô chỉ tin cậy vào một con dao cắt bánh mì dài ba mươi phân đeo ở thắt lưng.
Cô ngắm qua thấu kính và chỉnh lại một chút.
Cô lầm bầm một mình.
Các nhân viên dịch lộ thường lầm bầm một mình. Họ lầm bầm những câu như là, “Chỉ trong nháy mắt sẽ có đường vòng tránh chạy qua đây”, hoặc, “Ba phẩy năm mét, cộng trừ một cái chân muỗi.”
Đây là một loại lầm bầm khác hẳn.
“Đêm đen tối / Trăng sáng ngời,” Anathema lầm bầm, “Phía đông nam / Phía tây đến tây nam... tây-tây nam... thấy rồi...”
Cô nhặt lên một tấm bản đồ của sở đạc điền được gấp lại và giơ nó lên dưới ánh đèn pin. Rồi cô lấy ra một cái thước nhựa trong với một cái bút chì và cẩn thận kẻ một đường ngang qua bản đồ. Nó cắt một đường kẻ chì khác.
Cô mỉm cười, không phải vì có gì đặc biệt thú vị, mà vì đã hoàn thành một công việc khó nhằn.
Rồi cô gập cái máy kinh vĩ kỳ lạ vào, buộc nó vào sau một cái xe đạp đen dóng chéo đang dựa vào bờ giậu, kiểm tra xem Cuốn Sách đã nằm gọn trong giỏ chưa, và đẩy cái xe xuống lối mòn đầy sương.
Cái xe đạp đã cổ lỗ lắm rồi, khung xe nhìn như hàn bằng ống nước. Nó đã được làm ra từ lâu trước khi bộ bánh răng ba tốc độ được phát minh, và có lẽ chỉ ngay sau khi bánh xe được phát minh.
Nhưng đường về làng chủ yếu là xuống dốc. Tóc bay tung trong gió, chiếc áo choàng căng phồng sau lưng như một tấm buồm neo, cô để cho cỗ xe hai bánh nồi đồng cối đá chậm rãi tăng tốc qua bầu không khí ấm áp. Ít ra vào giờ này trong đêm cũng không có xe cộ nào khác.
Động cơ chiếc Bentley kêu ping, ping khi nó nguội đi. Tâm trạng của Crowley thì ngược lại, đang nóng dần lên.
“Anh bảo là anh đã thấy biển chỉ đường mà.”
“Ờ thì chúng ta đi nhanh quá. Mà tôi tưởng anh đã từng đến đây rồi.”
“Từ mười một năm trước!”
Crowley ném tấm bản đồ ra ghế sau và lại khởi động xe.
“Có lẽ chúng ta nên hỏi đường,” Aziraphale nói.
“À, ừ,” Crowley nói. “Chúng ta sẽ dừng lại và hỏi người đầu tiên chúng ta nhìn thấy dọc trên một... một lối mòn giữa đêm hôm khuya khoắt này hả?”
Hắn cài số cho chiếc xe và rồ máy đi xuôi con đường phủ bóng sồi.
“Khu vực này có gì lạ lắm,” Aziraphale nói. “Anh có cảm thấy không?”
“Gì cơ?”
“Đi chậm lại một chút.”
Chiếc Bentley lại đi chậm lại.
“Lạ thật,” vị thiên thần lầm bầm, “tôi cứ thấy lóe lên...”
Y đưa tay lên thái dương.
“Gì? Gì nào?” Crowley hỏi.
Aziraphale nhìn hắn chằm chằm.
“Tình yêu,” y nói. “Ai đó thực sự yêu nơi này.”
“Sao cơ?”
“Dường như có một tình yêu dạt dào ở đây. Tôi không thể giải thích cụ thể hơn được. Nhất là với anh.”
“Ý anh là như...” Crowley mở miệng.
Có một tiếng rè rè, một tiếng thét, và một tiếng loảng xoảng. Chiếc xe dừng lại.
Aziraphale chớp mắt, hạ tay xuống, và rón rén mở cửa ra.
“Anh đâm phải ai đó rồi,” y nói.
“Đâu,” Crowley nói. “Ai đó đâm vào tôi thì có.”
Họ ra khỏi xe. Đằng sau chiếc Bentley là một cái xe đạp nằm chỏng chơ, bánh xe trước vẹo vọ thành một hình Mobius đúng chuẩn, bánh sau kêu cành cạch đầy đáng gở rồi dừng hẳn.
“Phải có sự sáng,” Aziraphale phán. Một quầng sáng xanh nhạt tỏa khắp lối mòn.
Từ cái mương bên cạnh họ, có ai đó nói, “Ông làm thế quái nào vậy?”
Ánh sáng biến mất.
“Làm gì cơ?” Aziraphale hỏi vẻ tội lỗi.
“Ờ.” Giờ giọng nói có vẻ mụ mẫm. “Hình như tôi bị đập đầu hay sao ấy...”
Crowley trừng mắt nhìn một vạch kim loại dài trên nước sơn bóng loáng của chiếc Bentley và một vết lõm trên hãm xung, vết lõm phẳng trở lại. Lớp sơn lành trở lại.
“Đứng lên nào, cô gái,” vị thiên thần nói, đỡ Anathema dậy khỏi đám dương xỉ. “Không gãy cái xương nào cả.” Đó là một lời khẳng định, không phải hy vọng; đã có một vết rạn nhỏ, nhưng Aziraphale không thể cưỡng lại cơ hội để làm việc thiện.
“Các ông không bật đèn,” cô nói.
“Cô cũng thế,” Crowley nói vẻ có lỗi. “Cũng công bằng cả thôi.”
“Cô nghiên cứu thiên văn học hả?” Aziraphale nói, dựng thẳng cái xe đạp lên. Đủ thứ tả pí lù rơi lạch cạch ra khỏi giỏ xe. Y chỉ cái máy kinh vĩ méo mó.
“Không,” Anathema đáp. “Ý tôi là, vâng. Và xem các ông đã làm gì với Phaeton tội nghiệp kìa.”
“Cô nói sao cơ?” Aziraphale hỏi.
“Xe đạp của tôi ấy. Nó bẹp rúm rồi...”
“Trâu bò ghê lắm, mấy cái xe cũ này,” vị thiên thần vui vẻ nói, trao cái xe đạp cho cô. Bánh trước lấp lánh dưới ánh trăng, tròn xoe như một tầng Địa ngục.
Cô trố mắt nhìn nó.
“Thôi, thế là ổn thỏa cả rồi,” Crowley nói, “nên có lẽ tốt nhất là chúng ta tiếp tục lên, ờ. Ờ. Cô có tình cờ biết đường đến làng Tadfield Hạ không?”
Anathema vẫn đang nhìn cái xe đạp chằm chằm. Cô gần như chắc chắn là khi cô rời nhà, nó không có một cái túi yên nhỏ đựng bộ dụng cụ vá xe.
“Nó ở ngay dưới đồi kia,” cô nói. “Đây đúng là xe của tôi đấy chứ?”
“Ồ, chắc chắn rồi,” Aziraphale nói, tự hỏi có phải y đã quá tay không.
“Chỉ là tôi dám chắc Phaeton chưa bao giờ có bơm cả.”
Vị thiên thần lại tỏ vẻ tội lỗi.
“Nhưng có chỗ để treo bơm đây này,” y luống cuống nói. “Hai cái móc nhỏ.”
“Cô bảo là ngay dưới đồi thôi hả?” Crowley nói, huých vị thiên thần.
“Tôi nghĩ có lẽ tôi đã bị đập đầu,” cô gái nói.
“Tất nhiên chúng tôi sẽ cho cô đi nhờ,” Crowley vội nói, “nhưng không có chỗ cho cái xe đạp.”
“Ngoại trừ giá để hành lý,” Aziraphale nói.
“Chiếc Bentley đâu có... À. Hừ.”
Vị thiên thần nhặt nhạnh tất cả đồ đã rơi khỏi giỏ xe bỏ lên ghế sau và đỡ cô gái đang sững sờ vào xe.
“Ta không nên,” y nói, “cứ thế bỏ đi.”
“Các anh thì không. Còn thằng này thì có đấy. Chúng ta còn việc khác phải làm, anh biết không.” Crowley đưa mắt lườm cái giá để hành lý mới. Nó có cả đai kẻ ô vuông.
Cái xe đạp tự nhấc lên và buộc mình chắc chắn vào cái giá. Rồi Crowley lên xe.
“Cô sống ở đâu, cô gái thân mến?” Aziraphale hỏi.
“Xe đạp của tôi cũng không có đèn. Ờ, thực ra là đã từng có, nhưng là loại đèn phải bỏ pin vào mới sáng, rồi pin bị ẩm nên tôi phải bỏ ra,” Anathema nói. Cô trừng mắt nhìn Crowley. “Tôi có một con dao cắt bánh mì đây,” cô nói. “Ở đâu đó.”
Aziraphale tỏ vẻ sững sờ trước lời ám chỉ của cô.
“Thưa cô, tôi xin cam đoan rằng...”
Crowley bật đèn lên. Hắn không cần đèn để nhìn, nhưng đèn sẽ khiến những con người khác trên đường bớt lo lắng.
Rồi hắn cài số và khoan thai lái xuống đồi. Con đường ra khỏi tán cây và, sau chừng vài trăm mét, đến bên rìa một ngôi làng cỡ vừa.
Ngôi làng có một cảm giác quen thuộc. Đã mười một năm trôi qua, nhưng chắc chắn nơi này đánh động một ký ức xa xôi.
“Quanh đây có bệnh viện nào không?” hắn hỏi. “Do các bà xơ quản lý ấy?”
Anathema nhún vai. “Tôi nghĩ là không,” cô nói. “Chỗ rộng rãi duy nhất là Dinh thự Tadfield. Tôi không biết họ dùng nó làm gì.”
“Lên các kế hoạch linh thiêng,” Crowley lầm bầm.
“Và bánh răng số nữa,” Anathema nói. “Xe tôi không có bánh răng số. Tôi chắc chắn xe tôi không có bánh răng số.”
Crowley ngả người sang chỗ vị thiên thần.
“Lạy Chúa, xin Người hãy chữa lành chiếc xe đạp này,” hắn thì thầm vẻ giễu cợt.
“Tôi xin lỗi, tôi quá tay,” Aziraphale rít lên đáp lại.
“Đai kẻ ô vuông ấy à?”
“Kẻ ô vuông đang mốt mà.”
Crowley gầm ghè. Vào những dịp hiếm hoi đầu óc vị thiên thần chạy kịp tới thế kỷ hai mươi thì nó lại luôn hướng về thập niên 1950.
“Các vị có thể thả tôi xuống đây,” Anathema lên tiếng từ ghế sau.
“Rất sẵn lòng,” vị thiên thần cười nói. Ngay khi chiếc xe dừng lại, y đã mở cửa sau và cúi chào như một lão bộc già đang đón chào chủ nhân trẻ tuổi trở về đồn điền cũ.
Anathema thu dọn đồ đạc và bước ra vẻ kiêu kỳ hết mức có thể.
Cô dám chắc là cả hai người đàn ông đều đã không đi ra phía sau xe, nhưng xe đạp của cô đã được tháo xuống và đang dựa vào cổng.
Chắc chắn ở họ có gì đó rất kỳ dị, cô thầm nghĩ.
Aziraphale lại cúi chào. “Rất hân hạnh được giúp đỡ cô,” y nói.
“Cảm ơn,” Anathema nói, giọng lạnh tanh.
“Chúng ta đi được chưa?” Crowley nói. “Chúc cô ngủ ngon. Lên xe đi, thiên thần.”
À. Ra là thế. Hóa ra cô đã chẳng có gì phải lo cả.
Cô nhìn theo chiếc xe biến về phía trung tâm làng, rồi dắt xe lên lối đi vào nhà. Cô đã không buồn khóa cửa nhà. Cô dám chắc Agnes sẽ nhắc nếu cô sắp bị trộm, bà thường rất giỏi những chuyện riêng tư như thế.
Cô đã thuê căn nhà kèm cả đồ đạc, có nghĩa là đồ đạc trong nhà là loại mà ta thường thấy trong những hoàn cảnh thế này và có lẽ đã bị cửa hàng từ thiện địa phương bỏ ra cho người dọn rác. Không thành vấn đề. Cô không nghĩ mình sẽ ở lại lâu.
Nếu Agnes đúng thì cô sẽ chẳng ở lâu bất kỳ đâu. Và tất cả mọi người cũng vậy.
Cô trải bản đồ và các thứ lên cái bàn cổ dưới ngọn đèn duy nhất trong bếp.
Cô đã khám phá ra được gì? Không nhiều nhặn gì lắm, cô nghĩ vậy. Có lẽ nó ở đầu bắc của làng, nhưng điều đó thì cô đã ngờ từ trước. Nếu đến quá gần thì ta sẽ bị ngợp trong tín hiệu; còn nếu ở quá xa thì lại không xác định được vị trí chính xác.
Bực mình thật. Câu trả lời chắc phải nằm đâu đó trong Cuốn Sách. Vấn đề là để hiểu được các lời tiên tri, ta phải biết cách suy nghĩ như một bà phù thủy điên điên dở dở nhưng rất thông minh, với tâm trí như một cuốn từ điển đố chữ. Các thành viên khác trong gia đình nói Agnes cố tình viết rối rắm để người ngoài không hiểu được; Anathema, người thường ngờ rằng đôi khi mình có thể suy nghĩ giống Agnes, đã quyết định đó chẳng qua là vì Agnes chỉ là một mụ già đầu óc ngang ngược với khiếu hài hước quái thai thôi.
Cô thậm chí còn không...
Cô không thấy Cuốn Sách.
Anathema kinh hoàng nhìn những món đồ trên bàn. Tấm bản đồ. Cái máy kinh vĩ bói toán tự chế. Cái phích đựng xúp Bovril nóng. Cái đèn pin.
Khoảng không hình chữ nhật trống hoác nơi lẽ ra phải có những lời tiên tri.
Cô đã đánh mất nó.
Nhưng thật là lố bịch! Một trong những điều Agnes luôn nói rất cụ thể là những chuyện xảy ra với Cuốn Sách.
Cô chộp lấy cái đèn pin và chạy ra khỏi nhà.
“Một cảm giác như là, ờ, trái ngược với cảm giác khi ta nói những điều như là ‘chỗ này rờn rợn’,” Aziraphale nói. “Ý tôi là thế.”
“Tôi chưa bao giờ nói ‘chỗ này rờn rợn’,” Crowley nói. “Tôi cực thích rờn rợn ấy chứ.”
“Một cảm giác được trìu mến,” Aziraphale tuyệt vọng nói.
“Không. Chẳng thấy gì cả,” Crowley nói, vui vẻ miễn cưỡng.
“Anh nhạy cảm quá thôi.”
“Đó là nghề của tôi,” Aziraphale nói. “Thiên thần không thể quá nhạy cảm được.”
“Tôi đoán người quanh đây thích sống ở đây và anh chỉ đang cảm nhận được nó thôi.”
“Tôi chưa bao giờ cảm nhận cái gì tương tự ở London,” Aziraphale nói.
“Đấy, thấy chưa, chứng tỏ tôi đã đúng,” Crowley nói. “Và chính là chỗ này đây. Tôi nhớ có hai con sư tử đá trên cột cổng.”
Đèn pha của Bentley chiếu sáng những bụi đỗ quyên rậm rì mọc hai bên lối đi. Bánh xe nghiến lên lớp sỏi.
“Giờ này mà ghé thăm các bà xơ thì còn sớm quá,” Aziraphale nghi ngại nói.
“Vớ vẩn. Các bà xơ luôn làm việc bất kể thời gian,” Crowley nói. “Chắc giờ đang là buổi Lễ Muộn (*) , trừ phi đó là một loại thuốc giảm cân.”
“Chà, bẩn tính quá đấy,” vị thiên thần nói. “Anh không cần phải nói những câu chọc ngoáy như thế.”
“Đừng tự ái. Tôi đã bảo rồi, đây là người của chúng tôi. Các bà xơ hắc ám. Chúng tôi cần có bệnh viện gần căn cứ không quân, anh hiểu chứ.”
“Tôi chẳng hiểu gì cả.”
“Anh không nghĩ là vợ các nhà ngoại giao Mỹ hay đi đẻ ở các bệnh viện tôn giáo nhỏ giữa chốn đồng không mông quạnh đấy chứ? Tất cả phải diễn ra thật tự nhiên. Có một căn cứ không quân ở làng Tadfield Hạ, bà ta đến đó dự lễ khánh thành, mọi chuyện bắt đầu xảy ra, bệnh viện của căn cứ chưa sẵn sàng, người của chúng tôi nói, ‘Có một bệnh viện ngay dưới đường kia’, và chúng tôi đợi sẵn ở đó. Sắp đặt rất khá đấy chứ.”
“Chỉ sót mất vài chi tiết lặt vặt thôi,” Aziraphale tự đắc nói.
“Nhưng đã suýt thành công còn gì,” Crowley vặc lại, cảm thấy hắn cần bảo vệ đồng bọn.
“Anh thấy đấy, sự xấu xa luôn chứa đựng mầm mống tự hủy hoại,” vị thiên thần nói. “Rút cục thì cái xấu là tiêu cực, và vì vậy chứa đựng sự sụp đổ của chính nó ngay cả khi nó tưởng như đã chiến thắng. Cho dù kế hoạch xấu xa có vĩ đại đến đâu, được suy tính cẩn thận đến đâu, có chắc chắn thành công đến đâu, thì kiểu gì cái sai trái cố hữu cũng sẽ phản lại kẻ chủ mưu. Cho dù có vẻ sắp thành công đến đâu thì cuối cùng nó cũng sẽ tự hủy diệt. Nó sẽ sụp đổ trên những tảng đá tội lỗi và chìm nghỉm vào biển quên lãng, không để lại dấu vết gì.”
Crowley ngẫm nghĩ về điều này. “Đâu mà,” cuối cùng hắn nói. “Tôi dám cá chỉ là do sự kém cỏi thông thường thôi. Này...”
Hắn huýt một tiếng nhỏ.
Sân trải sỏi trước dinh thự đỗ đầy xe, và chúng không phải là xe của các bà xơ. Thật ra thì đến cả chiếc Bentley cũng còn phải chạy dài. Rất nhiều xe có chữ GT hoặc Turbo trong tên và ăngten trên nóc. Hầu như xe nào cũng chưa đến một năm tuổi.
Tay Crowley ngứa ngáy. Aziraphale chữa lành xe đạp và xương gãy; còn hắn thì thèm được trộm vài cái đài, xì hơi vài cái bánh xe, đại loại thế. Hắn cố kiềm chế.
“Chà, chà,” hắn nói. “Thời của tôi các bà xơ phải nhồi nhét bốn người vào một chiếc Morris Traveller.”
“Không thể là chỗ này được,” Aziraphale nói.
“Có lẽ họ đã chuyển thành viện tư?” Crowley nói.
“Hoặc anh đã nhầm địa chỉ.”
“Đúng địa chỉ này mà, tôi đảm bảo đấy. Đi nào.”
Họ ra khỏi xe. Ba mươi giây sau, ai đó bắn cả hai bọn họ. Chính xác đến không tưởng.
Nếu có một điều mà Mary Hodges, trước kia là Mary Lắm Mồm, rất giỏi, thì đó là cố gắng tuân theo mệnh lệnh. Bà thích các mệnh lệnh. Chúng khiến thế giới đơn giản hơn.
Cái bà không giỏi là thay đổi. Bà đã rất thích dòng Huyên thuyên. Lần đầu tiên trong đời bà có bạn. Lần đầu tiên trong đời bà có phòng riêng. Tất nhiên, bà biết họ đang làm những việc mà, xét theo một góc độ nào đó, có thể bị coi là xấu xa, nhưng Mary Hodges đã có kha khá trải nghiệm cuộc sống trong suốt ba mươi năm và không ảo tưởng về những việc mà hầu hết nhân loại phải làm để tồn tại từ tuần này qua tuần khác. Hơn nữa, thức ăn rất ngon và ta được gặp nhiều người thú vị.
Dòng tu, hay ít ra là những người còn lại, đã chuyển đi sau vụ hỏa hoạn. Dù sao thì mục đích duy nhất để họ tồn tại cũng đã được hoàn thành. Họ liền ai đi đường nấy.
Bà thì không đi. Bà rất thích Dinh thự, và, như bà nói, ai đó nên ở lại và giám sát việc sửa chữa cho đến nơi đến chốn, vì ngày nay ta không thể tin được đám thợ thuyền nếu không liên tục trông chừng họ, đại khái là vậy. Thế tức là bà sẽ phải phá bỏ lời thề, nhưng Mẹ Bề Trên nói vậy cũng không sao, không có gì phải lo cả, phá bỏ lời thề nguyện là hoàn toàn bình thường trong một dòng tu hắc ám, và một trăm năm nữa, hay đúng hơn là mười một năm nữa thì mọi chuyện cũng sẽ như nhau cả thôi, nên nếu xơ thấy thoải mái khi làm thế, thì đây là giấy tờ nhà và địa chỉ để chuyển tiếp thư tới trừ phi đó là các phong bì dài màu nâu có ô hở đằng trước (*) .
Rồi một điều rất lạ đã xảy ra với bà. Khi chỉ còn lại một mình trong tòa nhà rộng thênh thang, làm việc trong một căn phòng hiếm hoi không bị hư hại, tranh cãi với những người đàn ông có mẩu thuốc lá cài sau tai và bụi vữa dính đầy quần cùng loại máy tính bỏ túi sẽ cho ra kết quả khác nếu tiền công được trả bằng tiền giấy cũ, bà đã khám phá ra một thứ mà bà không biết là có tồn tại.
Bà đã khám phá ra, bên dưới tầng tầng lớp lớp những ngớ ngẩn và sốt sắng muốn làm người khác vừa lòng, là Mary Hodges.
Bà thấy việc hiểu các dự toán của nhà thầu và tính thuế giá trị gia tăng chẳng có gì khó khăn. Bà mượn ít sách ở thư viện về và thấy ngành tài chính vừa thú vị vừa đơn giản. Bà ngừng đọc loại tạp chí phụ nữ viết về tình yêu và đan len, và bắt đầu đọc loại tạp chí phụ nữ viết về cực khoái, nhưng ngoài việc tự nhắc mình đạt cực khoái nếu có cơ hội, thì bà coi cực khoái cũng là một dạng tình yêu và đan len trong một hình thức mới mà thôi. Vậy là bà bắt đầu đọc loại tạp chí viết về sáp nhập doanh nghiệp.
Sau nhiều suy tính, bà đã mua một cái máy tính cá nhân nhỏ từ một gã bán hàng nhãi ranh vừa buồn cười vừa kẻ cả ở Norton. Sau một cuối tuần bận rộn, bà đem nó trở lại cửa hàng. Không phải để nhờ gã cắm điện, như gã nghĩ, mà vì nó không có chip đồng xử lý 387. Cái đó thì gã hiểu - dù sao gã cũng là người bán hàng và có thể hiểu được các từ khá dài - nhưng sau đó thì cuộc trò chuyện nhanh chóng xuống dốc theo góc nhìn của gã. Mary Hodges lấy ra nhiều cuốn tạp chí nữa. Phần lớn đều có chữ “PC” trong tên, và rất nhiều có các bài báo và bài điểm tin mà bà đã cẩn thận khoanh tròn bằng mực đỏ.
Bà đọc về Phụ nữ Mới. Bà chưa bao giờ nhận ra mình là một Phụ nữ Cũ, nhưng sau một thời gian suy nghĩ thì bà quyết định rằng những danh hiệu như vậy cũng giống như tình yêu và đan len và cực khoái thôi, điều quan trọng thực sự là ta phải cố hết mức có thể để là chính mình. Bà vẫn luôn có khuynh hướng mặc đồ đen trắng. Bà chỉ cần nâng gấu váy lên, đi giày gót cao hơn, và bỏ cái khăn trùm đầu đi thôi.
Một ngày kia, trong lúc lật giở một cuốn tạp chí, bà đã phát hiện ra rằng trên khắp cả nước đang có một nhu cầu dường như vô độ với các tòa nhà rộng rãi, có sân vườn lớn, được quản lý bởi những người hiểu được yêu cầu của giới doanh nghiệp. Ngày hôm sau bà liền đi đặt một loạt đồ văn phòng phẩm mang tên Trung tâm Đào tạo Quản lý và Hội nghị Tadfield, và tự lý luận rằng đến lúc chúng được in xong thì bà sẽ biết hết những gì cần biết để quản lý một nơi như vậy.
Tuần sau thì quảng cáo bắt đầu được đăng.
Công ty đó đã thành công vang dội, vì trong sự nghiệp mới làm Chính Mình, Mary Hodges đã sớm nhận ra là đào tạo quản lý không có nghĩa là ta phải bắt mọi người ngồi xuống trước những máy chiếu slide chập chờn. Ngày nay các công ty trông đợi nhiều hơn thế.
Bà đã cung cấp cho họ cái đó.
Crowley khuỵu xuống, lưng dựa vào một bức tượng. Aziraphale đã ngã ngửa vào một bụi đỗ quyên, một vệt sẫm màu loang rộng trên áo khoác của y.
Crowley cảm thấy một mảng ẩm ướt đang lan ra trên áo hắn.
Thật lố bịch. Điều hắn không cần nhất bây giờ là bị giết. Hắn sẽ phải giải trình đủ thứ. Họ đâu có cứ thế mà cho hắn một thân xác mới; họ luôn muốn biết ta đã làm gì với cái xác cũ. Giống như cố xin một cái bút mới từ một phòng hành chính cực kỳ thích gây khó dễ vậy.
Hắn kinh ngạc nhìn tay mình.
Quỷ có khả năng nhìn được trong bóng tối. Và hắn có thể thấy tay mình vàng khè. Hắn đang chảy máu vàng.
Hắn rón rén nếm một ngón tay.
Rồi hắn bò đến bên Aziraphale và kiểm tra áo vị thiên thần. Nếu vết bẩn trên đó là máu thì có gì đó rất không ổn đã xảy ra với môn sinh học rồi.
“Ui, đau quá,” vị thiên thần bị ngã rên rỉ. “Trúng ngay dưới sườn tôi.”
“Ừ, nhưng bình thường anh có chảy máu màu xanh không?” Crowley hỏi.
Mắt Aziraphale mở ra. Y đưa tay phải lên vỗ vỗ ngực. Y ngồi dậy. Y cũng tự khám nghiệm pháp y bản thân theo lối thô sơ như Crowley.
“Sơn à?” y hỏi.
Crowley gật đầu.
“Họ chơi trò gì vậy?” Aziraphale nói.
“Tôi không biết,” Crowley nói, “nhưng tôi nghĩ nó có tên là mấy trò con bò.” Giọng hắn có ý nói hắn cũng có thể chơi. Và chơi khá hơn là đằng khác.
Đó là một trò chơi. Trò chơi này vui kinh khủng. Nigel Tompkins, phó trưởng phòng (Thu mua), trườn bò qua bụi rậm, trong đầu rừng rực những cảnh đáng nhớ trong các bộ phim tuyệt vời của Clint Eastwood. Thế mà thử nghĩ xem, gã cứ tưởng là đào tạo quản lý sẽ chán ngắt chứ...
Họ có phải dự một buổi lên lớp, nhưng buổi đó chỉ toàn nói về súng bắn sơn và những thứ họ không bao giờ được làm với chúng, và Tompkins đã nhìn những khuôn mặt búng ra sữa của đám tập sự kình địch với mình, trong lúc tất cả bọn họ quyết tâm sẽ làm tất cả những việc ấy nếu có nửa cơ hội thoát tội. Nếu người ta nói kinh doanh là một khu rừng và cho ta một khẩu súng, thì Tompkins thấy rõ là họ không muốn ta chỉ nhắm bắn vào áo; điểm mấu chốt là phải kiếm được mấy cái đầu sếp bự về treo trên lò sưởi.
Hơn nữa, có tin đồn là ai đó bên Liên hiệp Thống nhất đã tự nâng triển vọng được thăng chức của mình lên đáng kể khi lén lút bắn sơn vào đầy tai cấp trên của mình, khiến ông này kêu ca là trong tai có tiếng ong ong giữa các cuộc họp quan trọng và cuối cùng đã bị thay thế vì lý do sức khỏe.
Rồi còn có đám tập sự ngang hàng với gã nữa - hay, để đổi phép ẩn dụ, là những tinh binh đang cùng tìm đường tiến lên phía trước, tất cả đều biết rằng chỉ có thể có một chủ tịch duy nhất của Công ty Công nghiệp Holdings (Holdings), và thằng khốn nạn nhất sẽ được nhận cái chức ấy.
Tất nhiên, có một cô cầm bảng kẹp giấy bên Nhân sự đã nói rằng các chương trình họ tham gia đều chỉ là để củng cố tiềm năng quản lý, khả năng cộng tác nhóm, năng lực sáng kiến, vân vân. Đám tập sự đã cố tránh mặt nhau.
Cho đến giờ thì mọi chuyện đã tiến triển rất thuận lợi. Chuyến chèo thuyền vượt thác đã xử gọn Johnstone (thủng màng nhĩ) và cuộc leo núi ở Wales đã cho ra rìa Whittaker (bong gân háng).
Tompkins nhét một viên đạn sơn nữa vào súng và lẩm nhẩm đọc những câu khẩu quyết kinh doanh. Hãy Xử Kẻ Khác Trước Khi Chúng Xử Ta. Giết hoặc Bị Giết. Ăn Cứt hoặc Ra Khỏi Bếp. Kẻ Mạnh Nhất Tồn Tại. Một Ngày Đáng Nhớ Nào.
Gã bò gần hơn đến bên hai người đứng cạnh bức tượng. Hình như họ không để ý đến gã.
Khi không còn chỗ nấp nữa, gã hít một hơi thật sâu và nhảy bật dậy.
“Được rồi, lũ đần độn kia, giơ ta... ôikhôôôôông...”
Một trong hai người ở đó đã bị thay thế bởi một thứ rất khủng khiếp. Gã ngất lịm.
Crowley trở lại hình dáng yêu thích của mình.
“Tôi rất ghét phải làm vậy,” hắn lầm bầm. “Tôi luôn sợ là mình sẽ quên cách biến trở lại. Lại còn làm hỏng bộ vét nữa chứ.”
“Cá nhân tôi thì nghĩ đám dòi là hơi quá lố,” Aziraphale nói, nhưng không có vẻ gay gắt lắm. Thiên thần phải tuân theo một số chuẩn mực đạo đức nhất định, và vì vậy, không như Crowley, y thích mua quần áo hơn là biến ra chúng từ không khí. Và cái áo này khá đắt.
“Ý tôi là, nhìn mà xem,” y nói. “Tôi sẽ không bao giờ tẩy sạch được vết bẩn này.”
“Dùng phép tẩy nó đi,” Crowley nói, lướt mắt khắp bụi rậm xem có tên quản lý tập sự nào nữa không.
“Ừ, nhưng tôi sẽ luôn biết có vết bẩn ở đó. Anh biết đấy. Ý tôi là trong thâm tâm ấy mà,” vị thiên thần nói. Y nhặt khẩu súng lên và lật qua lật lại trên tay. “Tôi chưa bao giờ thấy một cái như thế này,” y nói.
Có một tiếng véo, và bức tượng bên cạnh họ bị mất tai.
“Đừng đứng quanh đây nữa,” Crowley nói. “Gã này không chỉ có một mình đâu.”
“Đây là một khẩu súng rất kỳ, anh biết không. Rất lạ.”
“Tôi tưởng phe các anh không ủng hộ súng chứ,” Crowley nói. Hắn lấy khẩu súng từ bàn tay mũm mĩm của vị thiên thần và ngắm qua cái báng súng ngắn, mập.
“Hiện tại họ lại ủng hộ chúng,” Aziraphale nói. “Chúng giúp lập luận đạo đức thêm sức nặng. Tất nhiên là khi chúng ở trong những bàn tay thích hợp.”
“Thế hả?” Crowley lướt một bàn tay trên lớp kim loại. “Thế thì ổn rồi. Đi nào.”
Hắn thả khẩu súng lên thân hình sõng sượt của Tompkins và băng qua bãi cỏ ướt sương.
Cửa trước dinh thự không khóa. Họ bước qua mà không bị ai để ý. Mấy gã trai trẻ phúng phính mặc quần áo dã chiến lấm chấm sơn đang uống ca cao nóng ở nơi từng là phòng ăn của các bà xơ, và một hai người trong số đó vui vẻ giơ tay vẫy chào họ.
Một thứ nhìn như bàn lễ tân khách sạn giờ đặt ở một đầu sảnh. Trông nó có vẻ khá được, theo một kiểu kín đáo. Aziraphale nhìn tấm biển trên cái giá nhôm bên cạnh đó.
Những chữ cái nhỏ bằng nhựa gắn vào lớp vải đen của tấm biển thành dòng chữ: 20-21 tháng Tám: chương trình Đào tạo Năng lực Chiến đấu của Cty CPHH Holdings (Holdings).
Trong lúc đó, Crowley đã cầm lên một tờ rơi trên bàn. Tờ rơi có in những bức ảnh bóng loáng của dinh thự, đặc biệt nhắc đến các bồn sục và bể bơi nước nóng trong nhà, còn ở mặt sau là kiểu bản đồ mà các trung tâm hội nghị luôn có, chúng tận dụng một sự sai tỷ lệ kỹ lưỡng để ám chỉ là nó rất tiện dẫn đến các lối ra của mọi đường cao tốc trên đất nước trong khi bỏ qua trận đồ bát quái các lối mòn thôn quê bao quanh và kéo dài đến hàng cây số ở khắp mọi phía.
“Nhầm chỗ à?” Aziraphale hỏi.
“Không.”
“Thế thì nhầm thời gian rồi.”
“Phải.” Crowley lật qua tờ rơi, hy vọng có thể tìm được manh mối gì đó. Có lẽ quá hão huyền nếu hy vọng rằng dòng tu Huyên thuyên vẫn còn ở lại đây. Dù sao thì họ cũng đã hoàn thành phần việc của mình. Hắn khẽ rít lên. Có lẽ họ đã đến châu Mỹ tăm tối hoặc đâu đó để cải đạo cho đám Cơ Đốc giáo, nhưng hắn vẫn đọc tiếp. Thỉnh thoảng kiểu tờ rơi này hay có phần lịch sử, vì các công ty thuê những chỗ như thế này để tổ chức chương trình Phân tích Nhân sự Tương tác hoặc Hội nghị về Động lực Tiếp thị Chiến lược thích có cảm giác là họ đang tương tác chiến lược với chính tòa nhà - trừ ra một hai lần tu sửa toàn bộ, một cuộc nội chiến, và hai vụ hỏa hoạn lớn - mà một nhà tài chính thời nữ hoàng Elizabeth đã cúng cho nhà thờ làm bệnh viện dịch hạch.
Thực ra hắn không trông đợi sẽ bắt gặp một câu như “mười một năm trước, Dinh thự được dùng làm tu viện cho một dòng nữ tu thờ Satan, mà thực ra họ cũng không giỏi việc đó lắm”, nhưng ai mà biết được.
Một người đàn ông mập mạp mặc đồ ngụy trang sa mạc, tay cầm một cốc giấy đựng cà phê đi vơ vẩn đến cạnh họ.
“Ai đang thắng đấy?” ông ta hỏi vẻ thân mật. “Cậu Evanson bên phòng Kế hoạch Dài hạn đã cho tôi một cú ra trò vào đúng khuỷu tay đấy, các anh biết không.”
“Chúng ta sẽ đều thua cả,” Crowley lơ đãng đáp.
Một loạt súng nổ vang lên từ dưới sân. Không phải là tiếng lách tách của những viên đạn sơn, mà là tiếng nổ điếc tai của những hòn chì có hình thù khí động học bay cực nhanh.
Có một tiếng lắp bắp đáp lại.
Các chiến binh còn lại trố mắt nhìn nhau. Một loạt đạn nữa bắn tung cửa sổ kính màu kiểu Victoria khá xấu xí cạnh cửa ra vào và trổ một hàng lỗ trên vữa trát tường cạnh đầu Crowley.
Aziraphale túm lấy tay hắn.
“Cái quái quỷ gì thế này?” y hỏi.
Crowley cười như một con rắn.
Khi tỉnh dậy, Nigel Tompkins thấy hơi đau đầu, và trong ký ức gần đây nhất của gã có một khoảng trống mơ hồ. Gã không biết rằng não người, khi phải đối mặt với một cảnh tượng quá khủng khiếp không thể tưởng tượng nổi, sẽ rất giỏi trong việc xóa sạch ký ức đó bằng chứng mất trí nhớ cưỡng bức, nên gã nghĩ chắc vì mình bị trúng đạn vào trán.
Gã lờ mờ nhận ra khẩu súng của mình nặng hơn trước, nhưng trong lúc còn đang đờ đẫn, gã không biết vì sao lại thế, cho tới khi gã chĩa súng vào tay quản lý tập sự Norman Wethered ở phòng Kiểm toán Nội bộ và bóp cò.
“Tôi không hiểu sao anh lại sững sờ như thế,” Crowley nói. “Gã đó muốn có một khẩu súng thật. Mọi dục vọng trong đầu óc gã đều hướng đến một khẩu súng thật.”
“Nhưng anh đã thả gã giữa đám người tay không tấc sắt kia!” Aziraphale nói.
“Ồ, đâu có,” Crowley nói. “Không hẳn. Phải công bằng chứ.”
◇ ❖ ◇
Nhóm nhân viên ở phòng Kế hoạch Tài chính đang nằm bẹp dưới chỗ đã từng là rào ha-ha (*) , nhưng họ không thấy có gì buồn cười cả.
“Tôi đã luôn bảo là ta không thể tin được bọn ở phòng Thu mua mà,” phó quản lý tài chính nói. “Bọn khốn.”
Một phát súng bắn vào tường trên đầu gã.
Gã vội bò đến bên nhóm nhỏ đang vây quanh gã Wethered vừa ngã xuống.
“Tình hình thế nào?” gã hỏi.
Phó phòng Phát lương quay khuôn mặt phờ phạc về phía gã.
“Tệ lắm,” gã này đáp. “Đạn đã xuyên qua gần hết. Thẻ Access, thẻ Barclay, Diners... toàn bộ.”
“May nhờ có thẻ American Express Gold ngăn nó lại,” Wethered nói.
Họ cùng im lặng kinh hoàng nhìn cảnh tượng một cái ví đựng thẻ tín dụng với một lỗ đạn gần như xuyên suốt.
“Sao họ lại làm thế?” một nhân viên phát lương hỏi.
Trưởng phòng Kế toán Nội bộ mở miệng định nói điều gì đó hợp lý, rồi lại thôi. Ai cũng có một điểm mà ở đó họ mất trí, và ranh giới của gã vừa bị một cái thìa gõ lên. Hai mươi năm trời trong nghề. Gã đã muốn làm nhà thiết kế đồ họa nhưng người tư vấn nghề của gã chưa nghe nói đến nghề đó bao giờ. Hai mươi năm trời kiểm tra kép Mẩu BF 18. Hai mươi năm trời quay cái máy tính tay, khi mà ngay cả đám nhân viên phòng Kế hoạch Dài hạn cũng có máy vi tính. Và giờ, vì những lý do gì không biết, nhưng có lẽ là để tái tổ chức và không muốn tốn tiền cho những người về hưu sớm, chúng lại đang bắn đạn về phía gã.
Một đội quân hoang tưởng đều bước sau mắt gã.
Gã nhìn xuống khẩu súng của mình. Qua màn sương điên giận và bối rối, gã thấy nó to hơn và đen hơn so với khi nó được phát cho gã. Nó cũng nặng hơn nữa.
Gã chĩa nó vào một bụi rậm gần đó và nhìn một làn đạn thổi tung bụi rậm vào hư vô.
À. Ra là chúng muốn chơi như thế. Thế thì ai đó phải thắng chứ.
Gã nhìn các nhân viên của mình.
“Được rồi, anh em,” gã nói, “cho bọn khốn ấy biết tay thôi!”
“Theo như tôi thấy,” Crowley nói, “thì không ai phải bóp cò cả.”
Hắn toe toét cười gằn với Aziraphale.
“Đi nào,” hắn nói. “Hãy đi xem xét chỗ này trong lúc mọi người đang bận.”
Đạn xuyên vèo vèo qua màn đêm.
Jonathan Parker, đơn vị thu mua, đang uốn éo trườn qua các bụi rậm thì bị một cánh tay siết lấy cổ.
Nigel Tompkins nhổ một cụm lá đỗ quyên ra khỏi miệng.
“Dưới kia là luật của công ty,” gã rít lên, mặt đầy bùn, “nhưng trên này thì là tao...”
“Mánh đó hơi bẩn đấy,” Aziraphale nói, khi họ đi dọc những hành lang trống trơn.
“Tôi đã làm gì? Tôi đã làm gì?” Crowley hỏi, hú họa đẩy các cánh cửa mở ra.
“Ngoài kia người ta đang bắn nhau!”
“Thì đúng thế đấy, phải không? Là tự họ làm đấy chứ. Đó là điều họ thực sự muốn làm. Tôi chỉ hỗ trợ họ thôi. Hãy coi đây là một phiên bản vi mô của vũ trụ. Tự do ý chí cho tất cả. Bất khả tư nghị, đúng không?”
Aziraphale lườm hắn.
“Ồ, thôi được rồi,” Crowley khổ sở nói. “Sẽ không ai bị giết cả. Họ sẽ đều thoát chết một cách thần kỳ. Nếu không thì sẽ chẳng còn gì thú vị nữa.”
Aziraphale thấy nhẹ người. “Anh biết không, Crowley,” y cười nói, “tôi vẫn luôn nói rằng, trong thâm tâm, anh thật sự là...”
“Thôi được rồi, được rồi,” Crowley quát. “Sao anh không rêu rao cho cả thế giới đáng nguyền rủa này biết đi?”
Sau một thời gian, các nhóm đồng minh lỏng lẻo bắt đầu hình thành. Phần lớn các phòng tài chính khám phá ra họ có nhiều quyền lợi chung, nên họ liền dàn xếp mọi bất đồng, và liên minh để chống lại phòng Kế hoạch Dài hạn.
Khi chiếc xe cảnh sát đầu tiên tới nơi, mười sáu viên đạn từ nhiều hướng khác nhau đã bắn vào bộ tản nhiệt của nó trước khi nó kịp lên hết nửa lối xe chạy. Hai viên đạn nữa phạt bay ăngten thu thanh của nó, nhưng họ đã quá muộn, quá muộn.
Mary Hodges vừa đặt điện thoại xuống thì Crowley mở cửa văn phòng của bà.
“Chắc là bọn khủng bố,” bà quát. “Hoặc săn trộm.” Bà ngó nhìn bọn họ. “Các vị là cảnh sát, đúng không?” bà nói.
Crowley thấy mắt bà bắt đầu mở lớn.
Như mọi con quỷ khác, hắn có khả năng nhớ mặt rất tốt, dù đã qua mười một năm, dù không còn cái khăn trùm, và lại thêm một lớp son phấn khá dày. Hắn búng ngón tay. Bà liền ngồi xuống ghế, mặt biến thành một cái mặt nạ đờ đẫn và ngoan ngoãn.
“Không cần làm thế đâu,” Aziraphale nói.
“Chào” - Crowley liếc nhìn đồng hồ - “buổi sáng, thưa bà,” hắn nói, giọng ngân nga. “Chúng tôi là hai sinh vật siêu nhiên, và chúng tôi đang tự hỏi bà có thể giúp chúng tôi tìm ra chỗ ở của Con Trai Satan khét tiếng hay không.” Hắn lạnh lùng mỉm cười với vị thiên thần. “Tôi sẽ đánh thức bà ta dậy nhé? Và anh có thể hỏi câu đó.”
“Ờ. Nếu anh đã nói thế...” vị thiên thần chậm rãi nói.
“Đôi khi kiểu cũ là tốt nhất,” Crowley nói. Hắn quay lại nhìn người phụ nữ bình thản.
“Có phải mười một năm trước bà là nữ tu ở đây không?” hắn hỏi.
“Vâng,” Mary đáp.
“Đấy!” Crowley nói với Aziraphale. “Thấy chưa? Tôi biết tôi không nhầm mà.”
“Đúng là may như quỷ,” vị thiên thần lầm bầm.
“Hồi đấy tên bà là Xơ Nói Nhiều. Hay gì đó đại loại thế.”
“Lắm Mồm,” Mary Hodges nói bằng giọng trống rỗng.
“Và bà có nhớ một vụ đánh tráo trẻ sơ sinh không?” Crowley hỏi.
Mary Hodges ngần ngừ. Khi bà lên tiếng, các ký ức cứ như thể đã bị đóng vảy và giờ mới bị chọc vào sau bao nhiêu năm.
“Có,” bà đáp.
“Liệu có khả năng vụ đánh tráo có gì nhầm lẫn không?”
“Tôi không biết.”
Crowley ngẫm nghĩ một chút. “Chắc các bà phải có hồ sơ,” hắn nói. “Lúc nào cũng có hồ sơ. Ngày nay ai mà chả có hồ sơ.” Hắn tự hào liếc nhìn Aziraphale. “Đó là một trong những ý tưởng tuyệt vời của tôi đấy.”
“Ồ, có,” Mary Hodges nói.
“Và chúng đâu?” Aziraphale ngọt ngào hỏi.
“Có một vụ hỏa hoạn ngay sau ca sinh nở.”
Crowley rên lên và vung hai tay lên trời. “Chắc là do Hastur,” hắn nói. “Đó là phong cách của hắn. Anh có tin nổi mấy gã đấy không? Tôi dám cá hắn nghĩ là mình đã rất thông minh đấy.”
“Bà có nhớ gì về đứa trẻ kia không?” Aziraphale hỏi.
“Có.”
“Cho tôi biết đi.”
“Ngài có những ngón chân xinh xỉnh xình xinh.”
“À.”
“Và ngài rất dễ thương,” Mary Hodges nói vẻ nuối tiếc.
Có tiếng còi báo động bên ngoài, rồi bỗng tắt ngấm khi bị một viên đạn bắn trúng. Aziraphale huých Crowley.
“Nhanh lên,” y nói. “Cảnh sát sắp kéo đến đầy chỗ này rồi, và tất nhiên tôi sẽ có nghĩa vụ đạo đức phải giúp họ vụ thẩm vấn đấy.” Y ngẫm nghĩ hồi lâu. “Có lẽ bà ta còn nhớ được có người phụ nữ nào khác sinh con ở đây đêm đó không, và...”
Có tiếng chân rầm rập dưới nhà.
“Bắt họ dừng lại đi,” Crowley nói. “Chúng ta cần thêm thời gian!”
“Dùng thêm phép nữa là chúng ta sẽ bị Trên Kia để ý đấy,” Aziraphale nói. “Nếu anh thực sự muốn Gabriel hoặc ai đó băn khoăn xem tại sao bốn mươi viên cảnh sát bỗng nhiên lại ngủ thiếp đi thì...”
“Thôi được,” Crowley nói. “Vậy thôi. Vậy thôi. Cũng đáng thử. Ra khỏi đây thôi.”
“Ba mươi giây nữa bà sẽ tỉnh dậy,” Aziraphale nói với bà cựu nữ tu bị phù phép. “Và bà sẽ vừa có một giấc mơ tuyệt vời về bất kỳ điều gì bà thích nhất, và...”
“Ừ, ừ, được rồi,” Crowley thở dài. “Giờ chúng ta đi được chưa?”
Không ai nhận thấy họ rời đi cả. Cảnh sát đang quá bận rộn dẫn đi bốn mươi tay quản lý tập sự đang phê adrenalin, điên cuồng chiến đấu. Ba chiếc xe tải cảnh sát đã để lại rãnh sâu trên bãi cỏ, và Aziraphale bắt Crowley lùi lại để nhường chỗ cho chiếc xe cứu thương đầu tiên, nhưng rồi chiếc Bentley cũng lao vào màn đêm. Sau lưng họ, nhà hóng mát và vọng lâu đã cháy bùng.
“Chúng ta đã thực sự để người phụ nữ khốn khổ đó lại trong một tình cảnh thật khủng khiếp,” vị thiên thần nói.
“Anh nghĩ thế à?” Crowley nói, cố đâm vào một con nhím nhưng trượt. “Các đơn đặt chỗ sẽ tăng gấp đôi, nhớ lời tôi đấy. Nếu bà ta tận dụng được cơ hội, xử lý các đơn miễn trách nhiệm, giải quyết tất cả những chỗ dính đến luật. Đào tạo năng lực bằng súng thật ư? Họ sẽ xếp hàng lũ lượt.”
“Tại sao lúc nào anh cũng yếm thế như vậy?”
“Tôi đã bảo rồi. Vì đó là công việc của tôi.”
Họ im lặng lái xe hồi lâu. Rồi Aziraphale nói, “Lẽ ra nó sẽ tự xuất hiện chứ nhỉ? Lẽ ra chúng ta phải phát hiện ra nó bằng một cách nào đó.”
“Nó sẽ không xuất hiện đâu. Với chúng ta thì không. Là lớp ngụy trang bảo vệ. Nó thậm chí còn không biết, nhưng quyền năng của nó sẽ che giấu nó khỏi sự tò mò của những thế lực huyền bí.”
“Những thế lực huyền bí ấy à?”
“Anh và tôi ấy,” Crowley giải thích.
“Tôi đâu có huyền bí,” Aziraphale nói. “Thiên thần không huyền bí. Chúng tôi siêu thoát.”
“Sao cũng được,” Crowley gắt, quá lo lắng chẳng muốn bắt bẻ.
“Thế có cách nào khác để tìm ra nó không?”
Crowley nhún vai. “Tôi chịu,” hắn nói. “Anh nghĩ tôi có bao nhiêu kinh nghiệm trong mấy vụ này? Tận thế chỉ xảy ra có một lần thôi. Họ đâu có cho ta diễn tập.”
Vị thiên thần nhìn ra hai bờ giậu đang lao qua vùn vụt.
“Tất cả thật thanh bình biết bao,” y nói. “Anh nghĩ nó sẽ xảy ra thế nào?”
“Ờ, tuyệt chủng do hạt nhân khá được ưa chuộng từ trước tới giờ. Nhưng tôi phải nói là các ông lớn dạo này đang khá lịch sự với nhau.”
“Thiên thạch rơi chăng?” Aziraphale hỏi. “Theo tôi biết thì ngày nay chuyện đó khá thời thượng. Rơi đúng Ấn Độ Dương, một đám mây bụi và hơi nước khổng lồ bốc lên, tạm biệt mọi dạng sống cao cấp.”
“Chà,” Crowley nói, chú ý đi quá tốc độ cho phép. Được tí nào hay tí ấy.
“Chỉ nghĩ tới thôi đã không chịu nổi rồi, phải không,” Aziraphale rầu rĩ nói.
“Mọi dạng sống cao cấp bị chém vèo đi một phát, thế là hết.”
“Thật kinh khủng.”
“Chẳng còn lại gì ngoài bụi và bọn cuồng tín.”
“Xấu tính vậy.”
“Xin lỗi. Tôi không đừng được.”
Họ nhìn ra đường.
“Hay là khủng bố...?” Aziraphale mở lời.
“Phe tôi thì không,” Crowley nói.
“Phe tôi cũng không,” Aziraphale nói. “Mặc dù người của chúng tôi là các giải phóng quân, tất nhiên rồi.”
“Tôi nói thế này nhé,” Crowley nói, phóng xe khét lẹt trên đường vòng Tadfield. “Ngửa bài đi. Tôi sẽ cho anh biết về người của tôi nếu anh cho tôi biết người của anh.”
“Được rồi. Anh nói trước.”
“Ồ, không. Anh trước.”
“Nhưng anh là quỷ.”
“Phải, nhưng là một tên quỷ biết giữ lời, tôi hy vọng là thế.”
Aziraphale kể tên năm nhà lãnh đạo chính trị. Crowley kể tên sáu người. Ba cái tên xuất hiện trên cả hai danh sách.
“Thấy chưa?” Crowley nói. “Tôi vẫn nói còn gì. Chúng là một lũ khốn ranh ma, con người ấy. Không thể tin được chúng.”
“Nhưng tôi không nghĩ có người nào phe tôi có kế hoạch gì lớn,” Aziraphale nói. “Chỉ vài vụ khủng... vài vụ biểu tình chính trị nho nhỏ thôi,” y sửa lại.
“À,” Crowley chua chát nói. “Ý anh là không phải mấy vụ giết người sản xuất hàng loạt rẻ tiền này chứ gì? Chỉ là các dịch vụ cá nhân, mỗi viên đạn đều được bắn ra bởi một nghệ nhân rất có tay nghề chứ gì?”
Aziraphale không cắn câu. “Giờ chúng ta sẽ làm gì đây?”
“Cố ngủ một chút.”
“Anh không cần ngủ. Tôi không cần ngủ. Cái ác không bao giờ ngủ, còn Cái Thiện thì luôn cảnh giác.”
“Cái Ác chung chung thì có thể. Còn cái ác này thì đã có thói quen thỉnh thoảng đặt đầu xuống rồi.” Hắn nhìn chằm chằm vào luồng đèn pha. Chẳng mấy chốc nữa sẽ đến lúc ngủ nghê là hoàn toàn bất khả. Khi những kẻ Bên Dưới phát hiện ra rằng chính hắn đã để lạc mất Kẻ chống Chúa, chắc họ sẽ đào lại bằng hết những báo cáo của hắn về Tòa án Dị giáo Tây Ban Nha và thử các trò đó với hắn, từng trò một, rồi sau đó tất cả cùng một lúc.
Hắn lục lọi trong ngăn đựng găng tay, hú họa rút ra một cuộn băng và nhét nó vào đài. Một chút âm nhạc sẽ...
... Bee-elzebub has a devil put aside for me, for me (*) ...
“Cho tôi,” Crowley lầm bầm. Mặt hắn đờ ra trong chốc lát. Rồi hắn thét lên một tiếng nghèn nghẹn và vặn nút bật-tắt.
“Tất nhiên, chúng ta có thể nhờ một con người tìm ra nó,” Aziraphale trầm tư nói.
“Gì cơ?” Crowley lơ đãng nói.
“Con người giỏi tìm ra con người. Họ đã làm thế suốt hàng ngàn năm nay. Và đứa bé đó là con người. Đồng thời cũng là... anh biết đấy. Nó bị giấu khỏi chúng ta, nhưng những con người khác có thể... ờ, cảm nhận được nó, có lẽ vậy. Hoặc phát hiện ra những điều chúng ta không ngờ tới.”
“Vô ích thôi. Nó là Kẻ Chống Chúa! Nó có... năng lực phòng thủ tự động, đúng không? Dù nó không biết điều đó. Năng lực đó thậm chí còn không để người ta nghi ngờ nó nữa là. Chưa đâu. Phải đợi đến khi nó sẵn sàng. Mọi nghi ngờ sẽ chuội khỏi thằng bé như là... như là nước chuội khỏi cái gì đó,” hắn ỉu xìu nói nốt.
“Thế anh có ý nào hay hơn không? Một ý thôi cũng được?”
“Không.”
“Được rồi. Cách này có thể có tác dụng. Đừng bảo tôi là anh không có tổ chức vỏ bọc nào có thể dùng được. Tôi biết là tôi có. Chúng ta có thể xem họ có lần ra manh mối nào không.”
“Thế họ có thể làm gì mà chúng ta không làm được?”
“Ờ, trước tiên là họ sẽ không để mọi người bắn lẫn nhau hoặc thôi miên những người phụ nữ đáng kính, họ...”
“Được rồi. Được rồi. Nhưng cơ may của ta còn chẳng được bằng của một quả bóng tuyết dưới Địa ngục đâu. Tin tôi đi, tôi biết. Nhưng tôi không thể nghĩ ra ý gì hay hơn.” Crowley rẽ lên đường cao tốc và hướng về London.
“Tôi có một... một hệ thống các đặc vụ,” lát sau Aziraphale nói. “Trải rộng khắp đất nước. Một lực lượng rất kỷ luật. Tôi có thể bảo họ bắt đầu tìm kiếm.”
“Tôi, ờ, cũng có một thứ tương tự,” Crowley thừa nhận. “Anh biết rồi đấy, ai mà biết được khi nào thì họ có thể hữu ích...”
“Chúng ta nên báo động cho họ. Anh có nghĩ họ nên làm việc với nhau không?”
Crowley lắc đầu.
“Tôi nghĩ như vậy sẽ không phải ý hay đâu,” hắn nói. “Họ không khôn ngoan lắm, nói về mặt chính trị ấy.”
“Thế thì chúng ta sẽ liên lạc với người của mình và xem họ có thể làm được gì.”
“Tôi đoán là cũng đáng thử,” Crowley nói. “Không phải là vì tôi hết việc để làm đâu, có Chúa biết đấy.”
Trán hắn nhăn lại một thoáng, rồi hắn đắc thắng vỗ lên vô lăng.
“Đầu vịt!” hắn reo lên.
“Gì cơ?”
“Là cái mà nước trượt khỏi ấy!”
Aziraphale hít một hơi thật sâu.
“Làm ơn tập trung vào lái xe,” y mệt mỏi nói.
Họ lái xe trở về qua buổi bình minh, trong khi đài bật bản Thánh lễ cung Si thứ của J. S. Bach, giọng ca F. Mercury.
Crowley rất thích thành phố vào buổi sáng sớm. Dân cư lúc này chủ yếu chỉ gồm toàn những người có công việc thực sự và lý do thực sự để có mặt ở đó, chứ không như hàng triệu những kẻ thừa thãi sau tám giờ sáng mới lê lết kéo đến, và các con phố hầu như rất vắng lặng. Có hai vạch vàng cấm đỗ xe trên con phố hẹp bên ngoài hiệu sách của Aziraphale, nhưng chúng ngoan ngoãn tự cuộn vào khi chiếc Bentley dừng lại bên vỉa hè.
“Thế nhé,” hắn nói, khi Aziraphale lấy áo khoác từ ghế sau. “Chúng ta sẽ giữ liên lạc. Được chứ?”
“Cái gì đây?” Aziraphale hỏi, giơ lên một bọc hình chữ nhật màu nâu.
Crowley nheo mắt nhìn nó. “Một cuốn sách à?” hắn nói. “Không phải của tôi.”
Aziraphale lật giở vài trang giấy ô vàng. Những cái chuông nhỏ xíu rung lên sâu thẳm trong đầu óc mê sách của y.
“Chắc là của cô gái đó,” y chậm rãi nói. “Lẽ ra chúng ta phải xin địa chỉ của cô ấy.”
“Nghe này, tôi đã gặp đủ rắc rối rồi, tôi không muốn bị đồn là còn đi trả đồ bị mất cho chủ cũ nữa,” Crowley nói.
Aziraphale giở đến trang bìa có nhan đề. Thật là may mắn. Crowley không nhìn thấy vẻ mặt y.
“Tôi đoán là anh có thể gửi nó đến bưu điện ở đó,” Crowley nói, “nếu anh thấy bắt buộc phải làm thế. Đề địa chỉ người nhận là cô gái dở hơi đi xe đạp. Đừng bao giờ tin một người phụ nữ đặt những cái tên kỳ cục cho phương tiện giao thông...”
“Ừ, ừ, chắc chắn rồi,” vị thiên thần nói. Y loay hoay tìm chìa khóa, đánh rơi chúng xuống vỉa hè, nhặt chúng lên, lại đánh rơi chúng, và vội vã đến bên cửa.
“Giữ liên lạc nhé?” Crowley gọi với theo y.
Aziraphale đang vặn chìa khóa thì dừng lại.
“Gì cơ?” y nói. “À. ừ. Được. Tốt lắm.” Rồi y đóng sập cửa lại.
“Được,” Crowley lẩm bẩm, đột nhiên cảm thấy hết sức cô đơn.
Ánh đèn pin lập lòe trên các lối mòn.
Vấn đề của việc cố tìm một cuốn sách bìa nâu giữa đám lá nâu và lớp nước nâu dưới đáy cái mương đất nâu trong ánh sáng nâu, ờ, xam xám của buổi bình minh, đó là ta không thể tìm nổi.
Nó không có đó.
Anathema thử mọi cách tìm kiếm mà cô có thể nghĩ ra. Cô đã lùng sục khoảng đất một cách hết sức cẩn thận. Cô đã hú họa chọc ngoáy trong đám dương xỉ bên vệ đường. Cô đã vơ vẩn đi xiên và liếc nhìn qua khóe mắt. Cô thậm chí còn thử cái cách mà mọi dây thần kinh lãng mạn trong cơ thể cô đều khăng khăng là sẽ có tác dụng, tức là bỏ cuộc rất kịch, ngồi xuống, và để cái nhìn của cô tự nhiên chạm vào một khoảng đất mà, nếu cô đang ở trong một câu chuyện ra hồn, thì cuốn sách lẽ ra phải nằm ở đó.
Nó không có ở đó.
Có nghĩa là, đúng như cô đã lo sợ từ đầu, có lẽ cuốn sách đang nằm ở sau ghế xe của hai người thợ sửa xe đạp rất sốt sắng kia.
Cô có thể cảm thấy hàng bao thế hệ con cháu của Agnes Nutter đang cười nhạo cô.
Ngay cả nếu hai người kia có đủ thật thà mà muốn trả lại cuốn sách thì họ cũng sẽ chẳng mất công đi tìm một căn nhà họ chỉ thấy thoáng qua trong màn đêm.
Hy vọng duy nhất là họ không biết mình đang có gì trong tay.
Aziraphale, như nhiều thương nhân ở Soho chuyên về các loại sách hiếm cho những người sành sỏi, có một phòng hậu, nhưng sách ở đó bí truyền hơn nhiều so với bất kỳ thứ gì thường thấy trong một cái túi bọc nylon hút chân không dành cho vị Khách hàng Biết rõ Mình Muốn Gì.
Y đặc biệt tự hào về những cuốn sách tiên tri của mình.
Thường là ấn bản đầu tiên.
Và cuốn nào cũng có chữ ký.
Y có Robert Nixon (*) , và Martha người gypsy, và Ignatius Sybilla, và Ottwell Binns Già. Nostradamus đã ký, “Tặng hiền huynh Azerafel của mỗ, với những lời chúc tốt đẹp nhất”; Má Shipton đã đánh đổ rượu lên ấn bản của y; và trong một cái tủ điều hòa ở góc phòng là một cuộn giấy với nét chữ viết tay run run của Thánh John Linh thiêng xứ Patmos, cuốn “Khải huyền” của ông ta đã là tác phẩm bán chạy nhất mọi thời đại. Aziraphale thấy ông ta khá dễ mến, chỉ phải cái hơi mê các loại nấm lạ.
Cuốn mà bộ sưu tập của y không có, là một bản Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác của Agnes Nutter, và Aziraphale bước vào phòng, tay nâng niu cuốn sách như một tay say mê sưu tầm tem nâng một con tem Mauritius Xanh (*) vừa xuất hiện trên tấm bưu thiếp bà dì vừa gửi đến vậy.
Y thậm chí còn chưa bao giờ tận mắt nhìn thấy một cuốn, nhưng y đã nghe nói đến nó. Tất cả mọi người trong nghề, và vì đây là một nghề cực kỳ chuyên biệt nên nhóm này chỉ có độ chục người, đều đã nghe nói đến nó. Sự tồn tại của cuốn sách này là một khoảng chân không mà quanh đó vô số câu chuyện kỳ lạ đã bay vòng vòng suốt hàng trăm năm nay. Aziraphale nhận ra là y không chắc ta có thể bay quanh một khoảng chân không hay không, nhưng y không quan tâm; Những Lời Tiên tri Tuyệt đích và Chuẩn xác khiến cho bộ nhật ký của Hitler (*) nhìn như, ờ, như một mớ hàng lởm vậy.
Tay y hầu như không run khi y đặt cuốn sách xuống một cái ghế băng, đeo vào một đôi găng tay y tế bằng cao su, và thành kính mở cuốn sách ra. Aziraphale là thiên thần, nhưng y cũng tôn thờ sách nữa.
Trang bìa đề chữ:
NHỮNG LỜI TIÊN TRI TUYỆT ĐÍCH VÀ CHUẨN XÁC CỦA AGNES NUTTER
Bên dưới là chữ nhỏ hơn một chút:
Các Sự kiện Cụ thể và Chính xác từ Thời Hiện tại đến Ngày Tận thế
Chữ to hơn một chút:
Bao gồm Nhiều Điều Kỳ diệu và Châm ngôn Phong phú cho người Thông thái
Phông chữ khác:
Hoàn chỉnh hơn bất kỳ ấn bản nào trước đây
Chữ nhỏ hơn nhưng in hoa:
VIẾT VỀ TƯƠNG LAI KỲ LẠ
Chữ in nghiêng vẻ hơi tuyệt vọng:
Và các sự kiện Vô cùng Kỳ diệu
Lại thêm chữ to nữa: “Gợi nhớ tới Nostradamus ở thời đỉnh cao” — Ursula Shipton
Những lời tiên tri được đánh số, và có hơn bốn ngàn câu.
“Bình tĩnh, bình tĩnh nào,” Aziraphale lẩm bẩm. Y vào căn bếp nhỏ và pha cho mình một cốc ca cao, rồi hít mấy hơi thật sâu.
Rồi y quay lại và đọc ngẫu nhiên một lời tiên tri.
Bốn mươi phút sau, cốc ca cao vẫn chưa được đụng đến.
Người phụ nữ tóc đỏ ở góc quầy bar khách sạn là phóng viên chiến trường thành công nhất thế giới. Giờ ả có hộ chiếu mang tên Carmine Zuigiber; và ả đi đến bất kỳ đâu có chiến tranh.
Ờ. Đại loại thế.
Thật ra khi ả đến thì chiến tranh chưa xảy ra. Chiến tranh xảy ra khi ả đã có mặt ở đó rồi.
Ả không nổi tiếng lắm, trừ ở những nơi đáng kể. Khi nửa tá phóng viên chiến trường ngồi lại với nhau ở một quán bar trong sân bay, cuộc trò chuyện của họ, như cái la bàn luôn chỉ về hướng bắc, sẽ nhắc tới Murchison của tờ Thời báo New York, tới Van Home của tờ Tuần báo, tới Anforth của Tin tức I.T.N. Các Phóng viên Chiến trường của các phóng viên chiến trường.
Nhưng khi Murchison, Van Home và Anforth đụng nhau trong một túp lều tôn cháy rụi ở Beirut, hoặc Afghanistan, hoặc Sudan, sau khi họ đã trầm trồ trước các vết sẹo của nhau và làm vài chén, họ sẽ kể cho nhau nghe những giai thoại đáng kính sợ về Zuigiber “Đỏ”, của tờ Tuần báo Thế giới Quốc gia.
“Tờ lá cải ngu độn đó,” Murchison thường nói, “nó đếch biết mình đang có trong tay cái gì.”
Thật ra tờ Tuần báo Thế giới Quốc gia biết rõ mình đang có cái gì: nó có một Phóng viên Chiến trường. Nó chỉ không biết tại sao hay phải làm gì, một khi đã có ả.
Một tờ Tuần báo Thế giới Quốc gia điển hình sẽ đăng tin về việc một cái bánh Big Mac do ai đó mua ở Des Moines có hình mặt Chúa Jesus, kèm theo hình minh họa cái bánh; về việc Elvis Presley đã được nhìn thấy đang làm việc ở một quán Burger Lord ở Des Moines; về việc một bà nội trợ ở Des Moines đã khỏi ung thư nhờ nghe nhạc Elvis; về việc những con ma sói đang tấn công vùng Trung Tây vốn là con cái của những người phụ nữ quý tộc thời khai hoang đã bị hãm hiếp bởi quái vật Chân To; và về việc Elvis đã bị Người Ngoài Hành tinh bắt đi vào năm 1976 vì ông quá tốt đẹp cho thế giới này. (*)
Đó là tờ Tuần báo Thế giới Quốc gia. Họ bán được bốn triệu bản mỗi tuần, và họ cần một Phóng viên chiến trường cũng như họ cần một bài phỏng vấn độc quyền với Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc vậy. (*)
H: Vậy ngài là Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc?
Đ: Si .
H: Đã bao giờ nhìn thấy Elvis chưa?
Vậy là họ trả cho Zuigiber Đỏ một khoản lương kếch xù để tìm những cuộc chiến tranh, và lờ đi những cái phong bì dày cộm, được đánh máy rất tồi mà thỉnh thoảng ả gửi về từ khắp nơi trên thế giới để chứng nhận cho các yêu cầu công tác phí - mà nhìn chung là khá hợp lý - của ả.
Họ cảm thấy mình có lý do chính đáng để làm vậy, vì theo họ thấy thì ả không phải là một phóng viên chiến trường giỏi cho lắm, dù chắc chắn là người hấp dẫn nhất, mà điều đó thì lại rất quan trọng đối với tờ Tuần báo Thế giới Quốc gia. Các bản tin chiến tranh của ả luôn viết về một đám người bắn một đám người khác, chẳng thể hiện chút hiểu biết thực sự về những hậu quả chính trị rộng lớn hơn, và quan trọng hơn, bài của ả tuyệt chẳng có tí tính người nào.
Thỉnh thoảng họ sẽ đưa một bài báo của ả cho một biên tập viên sửa lại. (“Chúa Jesus đã xuất hiện trước mặt cậu bé Manuel Gonzalez chín tuổi giữa một trận đánh dàn quân ở Rio Concorsa, và bảo cậu về nhà vì mẹ cậu đang lo lắng cho cậu. ‘Cháu biết đó là Chúa Jesus,’ cậu bé can đảm nói, ‘vì nhìn Người giống hệt như khi hình của Người hiện ra trên hộp đựng bánh kẹp của cháu một cách thần kỳ.’ “)
Phần lớn thời gian tờ Tuần báo Thế giới Quốc gia để mặc ả muốn làm gì thì làm, và cẩn thận xếp các bài báo của ả vào sọt rác.
Murchison, Van Home và Anforth không quan tâm đến chuyện đó. Họ chỉ biết là bất kỳ khi nào một cuộc chiến tranh nổ ra, Zuigiber sẽ có mặt ở đó đầu tiên. Thực ra là có mặt trước mới đúng.
“Cô ta làm cách nào vậy?” họ kinh ngạc hỏi nhau. “Cô ta làm thế quái nào vậy?” Và mắt họ chạm nhau trao đổi điều sẽ không nói thành lời: Nếu ả là một chiếc xe hơi thì ả sẽ mang mác Ferrari, ả là kiểu phụ nữ ta nghĩ sẽ phải là phu nhân xinh đẹp của một tổng tư lệnh tham ô ở một đất nước đang sụp đổ nào đó thuộc Thế giới Thứ ba, thế mà ả lại ngồi cùng những gã như chúng ta. Chúng ta thật may mắn, nhỉ?
Zuigiber chỉ mỉm cười và mua một chầu rượu nữa cho tất cả, do Tuần báo Thế giới Quốc gia trả tiền. Và ngắm những trận ẩu đả nổ ra xung quanh ả. Và mỉm cười.
Ả đã đúng. Báo chí hợp với ả.
Dù thế, ai cũng cần nghỉ ngơi, và Zuigiber Đỏ đang có kỳ nghỉ đầu tiên trong vòng mười một năm.
Ả đang ở trên một hòn đảo nhỏ ở Địa Trung Hải nơi người dân kiếm sống chủ yếu bằng du lịch, và riêng điều đó cũng đã là một sự lạ. Đỏ nhìn giống kiểu phụ nữ mà, nếu ả đi nghỉ ở hòn đảo nào nhỏ hơn nước Úc, thì đó là vì ả là bạn của chủ nhân đảo ấy. Và nếu một tháng trước, bạn nói với bất kỳ người dân đảo nào rằng chiến tranh đang đến thì người đó sẽ cười nhạo bạn và tìm cách bán cho bạn một cái giỏ đựng rượu đan bằng mây hoặc một bức tranh cái vịnh làm bằng vỏ sò; đó là khi ấy.
Còn bây giờ.
Giờ đây, một chia rẽ sâu sắc về tôn giáo-chính trị, liên quan đến việc họ không thuộc về quốc gia nào trong bốn quốc gia đại lục, đã xẻ hòn đảo thành ba phe phái, phá hủy bức tượng Santa Maria ở quảng trường thị trấn, và làm ngành du lịch hoàn toàn tiêu tùng.
Zuigiber Đỏ ngồi trong quán bar của khách sạn de Palomar del Sol, uống một thứ tạm gọi là cocktail. Ở một góc, một nhạc công mệt mỏi đang chơi dương cầm, và một gã bồi bàn đội chỏm tóc che chỗ hói đang ê a hát vào micro:
“AAAAA AAAAAAAngày...xửa...ngày...xưa...có...một
CHÚ BÒÒÒ TRẮNG NHỎ
AAAAAAAAAAAArất...buồn...vì...nó...là
CHÚ BÒÒÒ TRẮNG NHỎ...”
Một người đàn ông lao qua cửa sổ, ngậm một con dao giữa hai hàm răng, một tay cầm một khẩu súng trường tự động Kalashnikov, tay kia cầm một quả lựu đạn.
“Ta chiếng khắc sạng nhày nhâng dăng...” gã ngừng lại. Gã bỏ con dao ra khỏi miệng và nói lại. “Ta chiếm khách sạn này nhân danh Phe Giải phóng ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ!”
Hai khách du lịch cuối cùng còn lại trên đảo (*) chui xuống dưới bàn. Đỏ dửng dưng nhấc quả anh đào ngâm đường trong ly rượu, đưa nó lên đôi môi đỏ thắm và chậm rãi mút nó khỏi cái que theo một cách khiến mấy người đàn ông trong phòng toát mồ hôi lạnh.
Tay nhạc công đứng lên, thò tay vào trong chiếc dương cầm, và rút ra một khẩu tiểu liên loại cũ. “Khách sạn này đã bị chiếm nhân danh Lữ đoàn Địa phương thân Hy Lạp!” gã gào lên. “Thử nhúc nhích xem, tao sẽ bắn cho mày thành tổ đỉa luôn!”
Ngoài cửa nhốn nháo. Một nhân vật to lớn, râu đen, với nụ cười để lộ hàm răng vàng chóe và một khẩu Gatling cổ thứ thiệt đang đứng đó, sau lưng là một nhóm người cũng to con không kém nhưng trang bị vũ khí không ấn tượng bằng.
“Khách sạn có tầm quan trọng chiến lược này, từ nhiều năm nay đã là biểu tượng của ngành du lịch tay sai cho bọn đế quốc phát xít Thổ-Hy Lạp, giờ thuộc sở hữu của Quân Kháng chiến Ý-Malta!” gã hào hứng quát to. “Chúng ta sẽ giết sạch bọn mi!”
“Nói láo!” tay nhạc công nói. “Nó chẳng quan trọng chiến lược gì sất. Chỉ có một cái hầm rượu đầy tràn thôi!”
“Hắn nói đúng đấy, Pedro,” gã cầm khẩu Kalashnikov nói. “Chính vì vậy mà phe tao mới muốn có nó. Tướng Ernesto de Montoya đã bảo tao, ngài bảo, Fernando này, đến thứ Bảy này là chiến tranh sẽ kết thúc, anh em sẽ muốn được ăn mừng. Cậu chạy xuống khách sạn de Palomar del Sol và chiếm nó làm chiến lợi phẩm, được không?”
Gã có râu đỏ bừng mặt. “Nó có quan trọng về mặt chiến lược, Fernando Chianti! Tao đã vẽ một tấm bản đồ to của toàn bộ đảo và nó nằm ngay chính giữa, tức là nó cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược, tao bảo cho mà biết.”
“Ha!” Fernando vặc lại. “Thế thì mày cũng có thể bảo là nhà của Nhóc Diego quan trọng về mặt chiến lược, vì từ đó có thể nhìn ra được bãi tắm tiên trụy lạc của bọn tư bản!”
Tay nhạc công đỏ mặt tía tai. “Phe tao đã chiếm được chỗ đó sáng nay rồi,” gã thừa nhận.
Im lặng.
Trong im lặng, có một tiếng sột soạt khe khẽ của vải lụa. Đỏ vừa duỗi chân ra.
Yết hầu tay nhạc công nhấp nhô lên xuống. “Ờ, nó khá quan trọng về mặt chiến lược mà,” gã lắp bắp, cố không để ý đến người phụ nữ ngồi bên quầy. “Ý tao là, nếu có kẻ nào đỗ tàu ngầm ở đó, thì sẽ cần một chỗ từ đó quan sát được hết.”
Im lặng.
“Ít ra nó cũng quan trọng về mặt chiến lược hơn là cái khách sạn này,” gã kết luận.
Pedro ho một tiếng đầy hăm dọa. “Thằng nào mở miệng nói một câu. Bất kỳ câu gì. Sẽ chết ngay.” Gã nhăn nhở cười. Nhấc nhấc khẩu súng lên tay. “Rồi. Giờ thì... tất cả áp lưng vào bức tường đằng kia.”
Không ai nhúc nhích. Họ không nghe gã nói nữa. Họ đang lắng nghe một tiếng rì rầm trầm trầm, nghe không rõ, vang lên từ hành lang sau lưng gã, khe khẽ và đều đều.
Đám quân lính ở ngưỡng cửa bỗng nhốn nháo. Hình như họ đang cố hết sức để đứng nghiêm, nhưng họ đang bị đẩy sang bên mà không cưỡng lại được bởi tiếng rì rầm kia, giờ đã biến thành những âm thanh rõ ràng. “Đừng bận tâm đến tôi, các anh, đúng là một đêm vất vả, nhỉ? Vòng quanh đảo ba lần, suýt không tìm được địa chỉ, ai đó không tin vào biển chỉ đường hay sao ấy nhỉ? Nhưng cuối cùng cũng tìm thấy, phải dừng xe hỏi đường bốn lần cơ đấy, rốt cục phải hỏi ở bưu điện, ở bưu điện họ luôn biết, nhưng phải vẽ cả bản đồ nữa, nó ở đâu đây thôi...”
Bình thản lướt qua những gã đàn ông cầm súng, như một con cá chó bơi qua ao cá hồi đốm, là một người đàn ông nhỏ thó, đeo kính, mặc bộ đồng phục màu xanh dương, tay ôm một gói đồ dài, mảnh, bọc giấy nâu, buộc dây. Nhượng bộ duy nhất của ông đối với khí hậu ở đây là đôi dép xăng đan hở ngón bằng nhựa nâu, nhưng đôi tất len xanh ông đi bên dưới đã bộc lộ sự hoài nghi sâu thẳm và bẩm sinh của ông với thời tiết nước ngoài.
Đầu ông đội mũ lưỡi trai, trên có đề Hỏa tốc Quốc tế bằng chữ in to màu trắng.
Ông không có vũ khí, nhưng không ai chạm vào ông. Thậm chí còn không ai chĩa súng vào ông nữa. Họ chỉ trố mắt nhìn.
Người đàn ông nhỏ thó nhìn khắp quanh phòng, lướt qua các khuôn mặt, rồi cúi xuống nhìn lại tấm bảng kẹp giấy của mình; rồi ông tiến thẳng đến chỗ Đỏ, vẫn đang ngồi trên ghế bên quầy bar. “Cô có bưu phẩm, thưa cô,” ông nói.
Đỏ đón gói hàng và bắt đầu cởi sợi dây buộc ra.
Người giao hàng Hỏa tốc Quốc tế tế nhị ho khẽ một tiếng và chìa cho ả phóng viên một tập giấy biên nhận đã quăn mép và một cái bút bi nhựa màu vàng buộc vào bảng kẹp giấy bằng một mẩu dây. “Cô phải ký nhận, thưa cô. Ngay đây. Ghi tên đầy đủ ở đây, rồi ký vào đây.”
“Tất nhiên rồi.” Đỏ ký lên tờ biên nhận một chữ ký không đọc nổi, rồi ghi tên mình vào. Cái tên ả viết không phải là Carmine Zuigiber. Đó là một cái tên ngắn hơn nhiều.
Người đàn ông nhã nhặn cảm ơn ả, rồi đi ra, vừa đi vừa khẽ nói chỗ này đẹp thật, các anh ạ, tôi luôn tính sẽ đến đây đi nghỉ một chuyến, xin lỗi đã làm phiền, xin phép cho tôi qua... Và ông ra khỏi cuộc đời họ một cách bình thản như khi ông bước vào.
Đỏ đã mở gói hàng ra. Mọi người bắt đầu chen tới để nhìn cho rõ. Trong gói hàng là một thanh gươm lớn.
Ả ngắm kỹ thanh gươm. Đó là một thanh gươm rất bình thường, dài và sắc; nhìn nó vừa cũ kỹ vừa có vẻ không được dùng đến; và nó không có phụ kiện trang trí hay điểm nào ấn tượng. Nó không phải là một thanh gươm thần, không phải một món vũ khí kỳ bí đầy quyền lực và sức mạnh. Rõ ràng nó là một thanh gươm tạo ra để chém, cắt, tốt nhất là giết, nhưng nếu không được thì ít ra cũng gây sát thương một số lượng người rất lớn. Nó tỏa ra một vẻ hận thù và đe dọa mơ hồ.
Đỏ nắm chuôi gươm trong bàn tay phải được chăm chút cẩn thận, và nhấc nó lên ngang tầm mắt. Lưỡi gươm lóe sáng.
“Được lắm!” ả nói, rời khỏi ghế. “Cuối cùng cũng tới.”
Ả uống nốt ly rượu, gác thanh gươm lên một vai, và nhìn quanh những phe phái đang bối rối, giờ đã vây quanh ả. “Xin lỗi vì phải bỏ lại các chàng trai,” ả nói. “Ước gì có thể ở lại để ta hiểu nhau hơn.”
Những kẻ trong phòng chợt nhận ra họ không muốn biết thêm về ả. Ả rất đẹp, nhưng đó là vẻ đẹp của một trận cháy rừng: một thứ để ta đứng ngắm từ xa, chứ không phải lại gần.
Và ả cầm thanh gươm, rồi nở nụ cười như một lưỡi dao.
Trong căn phòng đó có kha khá súng, và một cách chậm rãi, run rẩy, những khẩu súng được chĩa vào ngực, lưng và đầu ả.
Chúng vây tròn xung quanh ả.
“Cấm nhúc nhích!” Pedro quát, giọng khàn đục.
Tất cả những gã khác gật đầu.
Đỏ nhún vai. Ả bước tới trước.
Mọi ngón tay đặt trên cò súng lập tức co lại, gần như tự động. Chì và mùi thuốc nổ bay khắp không khí. Ly cocktail của Đỏ vỡ nát trong tay ả. Những tấm gương còn lại trong phòng nổ tung thành từng mảnh chết người. Một phần trần nhà rơi xuống.
Và rồi tất cả kết thúc.
Carmine Zuigiber quay lại nhìn những cái xác bao quanh ả như thể ả tuyệt không biết sao chúng lại có đó.
Ả liếm một vết máu - máu của ai đó - trên mu bàn tay bằng cái lưỡi đỏ thắm như lưỡi mèo. Rồi ả mỉm cười.
Và ả ra khỏi quầy bar, gót giày lách cách trên nền gạch như tiếng gõ búa từ xa vẳng lại.
Hai vị du khách bò ra từ dưới gầm bàn và nhìn cảnh tàn sát xung quanh.
“Chuyện này sẽ không xảy ra nếu chúng ta đi Torremolinos như mọi khi,” một người thiểu não nói.
“Người nước ngoài,” người kia thở dài. “Họ không giống chúng ta, Patricia ạ.”
“Thế là quyết định nhé. Năm tới chúng ta sẽ đi Brighton,” bà Threlfall nói, hoàn toàn không nhận thức được tầm quan trọng của chuyện vừa xảy ra.
Nó có nghĩa là sẽ không có năm tới nào hết.
Nó còn giảm khả năng sẽ có tuần tới nữa kia.