Đinh Trang Mộng

Lượt đọc: 1016 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUYỂN BA
Chương một

Chôn Đinh Hương Lâm xong, bệnh nhân bệnh nhiệt liền đến ăn ở trong trường.

Mùa đông đến rồi. Trời lạnh lắm, tuyết rơi, bông tuyết to bay như lông ngỗng. Bay thật lực cả đêm thì trắng hết. Một thế giới trắng. Bình nguyên giống như trang giấy. Trang giấy hơi mềm, hơi xốp. Thôn xóm như được vẽ ra trên giấy. Người như gà, lợn, mèo, chó, vịt điểm lên trên giấy. Còn có cả lừa và ngựa.

Mùa đông đến rồi.

Người Đinh Trang mắc bệnh nhiệt, trời lạnh không có chỗ nào đi, đa số đều bằng lòng chạy đến trường học. Trường học trở thành trạm dã chiến của bệnh nhân bệnh nhiệt. Trước đây nó là miếu Quan Đế, sau trở thành trường tiểu học Đinh Trang. Đến bây giờ, nó lại trở thành trạm dã chiến của bệnh nhân bệnh nhiệt. Củi và than chuẩn bị cho học sinh sưởi năm trước, giờ phải lấy ra cho người bệnh sưởi. Có lửa sưởi, người bệnh đến càng nhiều. Lý Tam Nhân cũng mắc bệnh nhiệt, ông ở nhà ăn, ngủ, đun thuốc bắc, vợ chăm sóc không chu đáo, liền đến trường học, không muốn quay về. Ông nở nụ cười trên gương mặt đã vương màu thần chết, cười nói:

“Thầy giáo Đinh, tôi đến ở trong trường nhé?”

Lý Tam Nhân đem chăn đệm của ông đến trường học thật. Trường học tốt hơn ở nhà ông, tường không hút gió, còn có lửa đốt. Ăn cơm có lúc ăn cùng ông tôi, có lúc ăn một mình trong gian phòng ở đầu hồi.

Mùa đông đến rồi.

Mùa đông vừa đến, trong thôn lại chết một người căn bản chưa từng bán máu, mà vẫn bị mắc bệnh nhiệt. Chị tên là Ngô Hương Chi, vừa quá ba mươi, khi chị gả vào nhà họ Đinh còn chưa đến hai mươi hai. Lúc đó vì chị trông trẻ trung, tính tình nhút nhát, nhìn thấy máu liền ngất xỉu ở đầu thôn, vì thế được chồng chiều, người chồng cho dù bản thân phải bán máu đến chết cũng không để chị đi bán máu. Nhưng bây giờ, chồng chị bán máu mà vẫn sống, còn chị chưa từng bán một giọt lại mắc bệnh nhiệt mà chết. Mấy năm trước, chị cho con gái bú sữa, con gái chị đã bị nhiễm bệnh nhiệt chết trước chị rồi. Như thế không thể không tin bệnh nhiệt lây lan thế này thế khác. Liền đều ào ào vào sống trong trường học.

Người có bệnh đa phần đều dọn vào trường ở.

Chôn cất Ngô Hương Chi đúng vào ngày tuyết lớn, chôn ở góc xa nhất trong phần mộ tổ tiên nhà chị. Trên mảnh đất trồng tiểu mạch ở phía nam thôn, dỡ mảnh ruộng ở đó ra, đào một cái hố nho nhỏ, rồi đặt quan tài của chị vào trong hố.

Thế là đã chôn xong một cô gái xinh đẹp ba mươi tuổi chưa hề bán máu mà vẫn mắc bệnh nhiệt.

Lúc rời đi, lúc mười mấy người rời khỏi mộ phần, chồng chị Đinh Dược Tiến, quỳ xuống trước mộ chị, quỳ nhưng không hề dập đầu, chỉ nhìn nấm đất mới đó tát lên mặt mình một cái.

Tát một cái rất kêu.

Một người anh con chú con bác của anh ta đến kéo anh ta rồi hỏi: “Chú em, chú có bệnh mà vẫn động vào cô ấy sao?”

Đinh Dược Tiến gật đầu.

“Trước khi biết có bệnh hay là sau khi biết có bệnh?”

Đinh Dược Tiến nhìn nấm mộ trước mặt khẽ nói: “Việc đã mấy năm rồi.”

Người anh con bác nói rất thản nhiên: “Ai biết được bán máu sẽ có bệnh? Ai biết được bệnh này lại thích lây ở trên giường? Chỉ cần sau khi biết có bệnh, chú không động vào người cô ấy, thì chú không cần phải hổ thẹn với cô ấy.”

Đinh Dược Tiến liền đứng dậy trước mộ, cùng người trong thôn rời mộ về nhà. Về đến nhà, liền cuốn chăn đệm đi đến trường ăn ở. Có rất nhiều người mắc bệnh nhiệt cũng theo anh ta đến sống trong trường, cầm theo bát đũa, nồi niêu, lương thực, đi về phía trường học như đi ra ngoài làm việc.

Đi thành hàng thành lũ.

Chú hai cũng đến trường. Thím hai đưa chú hai đến cổng trường, hai người đứng trên nền tuyết, chú nói với thím hai tôi: “Em về đi, ở đây người bệnh nhiều, anh không lây cho em không chừng người khác lại lây.”

Thím hai liền đứng ngoài cổng trường, hoa tuyết bay trên đầu thím.

Chú hai nói: “Em về đi, bố ở đây, anh không thiệt đâu.”

Vợ chú liền đi về. Thím hai tôi đi về, đi rất xa rồi, chú hai tôi lại quay về phía sân tuyết gào lên: “Nhớ nhé, ngày nào cũng đến thăm anh!” Chờ khi nhìn thấy thím quay lại gật đầu với chú, xác nhận vợ mình đã nghe thấy câu này, chú mới cắp chăn đi vào trong trường học.

Trường học đột nhiên rất nhiều người. Không có học sinh nhỏ tuổi nữa, nhưng lại có mấy chục người lớn. Đều là đàn ông và phụ nữ chừng trên dưới ba mươi đến khoảng bốn mươi lăm. Theo ý của ông tôi, đều phân khai, đàn ông sống trong lớp học ở tầng hai, phụ nữ sống trong lớp học ở tầng một. Có người kéo giường từ nhà đến, có người lấy ở đâu đó vài mảnh ván, lại có người ghép các bàn học lại với nhau thành một cái giường nằm. Trong sân có tiếng nói chuyện như nước chảy. Vòi nước ở đầu hồi chảy không ngừng. Hai gian phòng ở bên cạnh vòi nước, vốn là nhà kho bỏ không của trường, để mấy chiếc bàn hỏng, ghế gãy, bây giờ chỗ đó liền trở thành nhà bếp để người bệnh nấu cơm. Nhà này bắc nồi ở cửa, nhà kia bày bàn ăn ở dưới cửa sổ, căn phòng đó ngay lập tức chật đến mức không có chỗ nào đặt chân xuống nữa.

Tuyết trắng trong sân bị giẫm thành bùn.

Bên dưới cầu thang chất đầy chai lọ và lương thực.

Ông tôi trở nên bận rộn, nói đem cái này đặt chỗ này, đem cái kia để chỗ kia. Rồi đem những đồ dùng có ích nhất trong trường như bảng đen, phấn trắng và sách giáo khoa, vở bài tập mà học sinh để lại trong lớp vội vã khóa vào trong một gian phòng.

Những bàn ghế còn mới một chút cũng đem vào phòng khóa lại.

Học sinh không đi học nữa. Nhưng trường học rốt cuộc cũng có ích. Đã có người. Ông tôi liền trở nên bận rộn, trên khuôn mặt đã già treo những giọt mồ hôi của tuổi trẻ, có vất vả một chút cũng đáng. Mái đầu xám bạc của ông tuy rằng vẫn bạc, nhưng đã có chút sức sống tươi mới, sáng bóng, chứ không phải bạc xác xơ.

Xếp gọn bàn học của lớp hai sang một bên, đặt ghế vào giữa phòng học, đây chính là hội trường của người bệnh nhiệt. Chính trong hội trường này, những người bệnh không thạo nấu cơm nói: “Sắp chết rồi, lại còn phải tự nấu cơm, không bằng mọi người hợp lại ăn chung.” Thế là cùng tính toán, nếu người bệnh mỗi nhà đều tự mình bắc bếp nấu cơm, vừa tốn củi lại vừa tốn gạo, nếu mỗi nhà đều góp lương thực theo đầu người mắc bệnh, thì sẽ tiết kiệm được chút củi chút gạo.

Điều quan trọng nhất là, bên trên nói nếu cùng ăn cùng ở thì sẽ hỗ trợ một chút gạo và tính bột. Ăn cùng người khác thì sẽ tiết kiệm của mình một chút, lại không cần phải nấu ăn hàng ngày khi trong người có bệnh, sao không hợp lại ăn chung?

Ông tôi liền mở một cuộc họp cho tất cả bệnh nhân trong lớp học. Ông tôi có thể xem là thầy giáo, ở đây rất nhiều người dù chỉ biết vài chữ, nhưng đa số những người biết chữ đó đều từng được ông dạy trong những buổi dạy thay, có thể coi như học sinh của ông. Ở đây đa phần đều là người lớn, nhưng không có ai cao tuổi hơn ông. Đây là trường học, trường học vốn do ông quản. Người ở đây toàn là người bệnh, là những người sống hôm nay không biết ngày mai, chỉ có ông là không mắc bệnh nhiệt, ông cũng không sợ bị lây, lẽ tất nhiên, ông trở thành người quản lí.

Có thể xem là lãnh đạo.

Mọi người ngồi lẻ tẻ trong lớp học. Ngồi trên ghế, ngồi trên bàn, hoặc là đứng và ngồi xổm, hút thuốc, hoặc ngẩng đầu nhìn ra đâu đó, chuyện nói ra có câu đáp, có câu không. Đang là mùa đông, hoa tuyết ngoài cửa sổ như tơ liễu mùa xuân bay bay. Khói trong phòng cũng bay bay. Giữa phòng đốt một chậu lửa, lửa rất mạnh, nổ lốp bốp. Ánh lửa chiếu lên mặt mỗi người, mặt mỗi người đều khô khốc màu chết chóc, ánh sáng nâu xỉn hắt lên như dán mảnh lụa khô phập phập phồng phồng trên da mặt họ. Nguyên do những cuốn vở bài tập, bài thi, và tranh màu sáp mà học sinh vẽ khi học thực địa trong vườn trường vốn dán trên tường, lúc này bay phấp phới trong ánh lửa.

Màu đỏ tươi và xanh thẫm trên những bức tranh và bài thi đó cũng tươi sáng như có thêm sinh khí.

Dù cùng ngồi trong phòng học, nhưng mọi người đều nhìn nhau. Không biết vì sao rất nhiều người đều nhìn chú hai tôi, nhìn chú hai ngồi trong lớp học của bố chú có chút nực cười.

Chú tôi ngồi ở hàng cuối cùng, chú đang cầm một cây gậy viết gì đó trên đất. Giả vờ viết. Giả vờ không nhìn thấy những người đang nhìn chú.

Đinh Dược Tiến, Triệu Tú Cần, Đinh Trang Tử, Lý Tam Nhân, Triệu Đức Toàn, và bao nhiêu người Đinh Trang khác, Đinh Trang có ba mươi mấy người mắc bệnh nhiệt, người đứng người ngồi, chen đầy trong lớp học, chen nhau tìm hơi ấm, làm cho trên mặt mỗi người bệnh đều có nụ cười nhẹ nhõm của việc chen sát cạnh nhau. Họ đều nhìn ông tôi không nói gì, giống như các học sinh đang chờ lên lớp.

Ông tôi đứng trên cái bục giảng được xây bằng ba tầng gạch, nhìn những người bệnh như nhìn học sinh, nói: “Mọi người ngồi xuống đi, ngồi xuống đi.” Chờ những người đang đứng dựa vào tường và bậu cửa đều ngồi xuống, ông liền nói một cách rất từng trải với mọi người: “Mất lòng trước được lòng sau, tôi cả đời làm trong trường học, tuy không hoàn toàn là giáo viên nhưng có thể xem như có một nửa là thầy giáo, mọi người đều đến trường học rồi, đến trường học thì đều phải nghe tôi. Bây giờ, ai không muốn nghe tôi thì giơ tay lên.”

Ông tôi liền liếc mọi người bên dưới.

Liếc thấy mấy người lớn đang ngồi dưới cười như trẻ con. Cười khanh khách.

Ông tôi nói: “Không có ai giơ tay thì đều phải nghe tôi nói. Tôi nói một, trước khi có gạo cứu trợ của bên trên, cần thu gom lương thực của các nhà lại một chỗ, có Đinh Dược Tiến làm kế toán, ghi rõ từng loại ngô khoai, hay thóc gạo vào trong sổ, ai mang nhiều thì tháng sau nộp ít, ai mang ít thì tháng sau nộp nhiều. Hai, trong trường uống nước không phải trả tiền, dùng điện thì mỗi tháng đều phải trả, mọi người không thể thức quá nửa đêm mà không ngủ, cần phải tiết kiệm điện như ở nhà mình. Ba, nấu cơm là việc của phụ nữ, lao động là việc của đàn ông. Triệu Tú Cần quản việc nấu cơm của phụ nữ, người bệnh nhẹ thì làm nhiều, người bệnh nặng thì làm ít, mọi người có thể luân phiên nấu từng ngày, cũng có thể nấu ba ngày thì đổi. Bốn, tôi đã ngoài sáu mươi rồi, mọi người cũng đang trong cảnh sống hôm nay không biết ngày mai, chúng ta cần nói thẳng với nhau cho rõ, chúng ta chết rồi người khác vẫn phải sống, trẻ con sau này vẫn còn đến ngôi trường này đi học, bắt đầu từ hôm nay, các bạn đã sống trong trường rồi, không được hễ có chuyện hay không có chuyện là chạy về nhà, chỉ cần sướt da, chảy máu, hôn vợ, con một cái, chưa biết chừng sẽ lây bệnh cho người nhà mình. Nhưng các bạn đã sống trong trường, thì cũng phải yêu bàn học, ghế ngồi, cửa sổ của ngôi trường này. Đừng cho rằng không phải đồ nhà mình thì cứ dùng không thương tiếc. Năm, sống trong trường, không chỉ vì sợ truyền bệnh cho người khác, mà còn vì để mọi người sống ngày nào được vui ngày đó, cho nên mọi người ngoài việc đánh cờ, xem ti vi, các bạn muốn làm gì thì cứ nói ra. Muốn ăn gì cứ nói ra. Có thể làm gì thì cứ nói ra, muốn ăn gì thì ăn cái đó. Đến đây cùng ăn ở với tinh thần ‘có bệnh nhiệt à, trời có sập thì cũng phải sống mấy ngày cho thoải mái’.”

Nói đến đây, ông ngừng một chút trên bục giảng, quay đầu nhìn tuyết trắng ngoài cửa sổ. Hoa tuyết to như hoa lê, trắng như hoa lê, chớp mắt đã che phủ hết những dấu chân nhuốm bùn in trong trường học. Bên ngoài lại tuyết trắng mênh mông. Có một luồng khí lạnh tươi mới từ bên ngoài tràn đến, gặp mùi bệnh nhiệt bẩn thỉu trong phòng, giống như nước đục, nước trong hòa vào nhau một chỗ, có tiếng khuấy nước khe khẽ, như lông gà, lông ngỗng chạm vào nhau khi bay trên không trung. Có con chó vện nhà ai theo chủ nhân tìm đến, đứng ở chỗ giá bóng rổ trong sân trường tìm chủ. Nó lơ ngơ đứng trên sân bóng nhìn sang đây, cả người trắng tuyết, như một con dê bị lạc nhà.

Nhìn đến đó ông liền thu mắt lại, quay lại nhìn người Đinh Trang ngồi đầy trong phòng học, nhìn những khuôn mặt xanh lét và đen xạm, ông nói: “Còn ai có ý kiến không? Không có ý kiến thì bắt đầu nấu cơm đi, hôm nay là bữa cơm đầu tiên, cho dù ai nấu thì cũng phải nấu ngon một chút. Nồi thì dùng cái nồi lớn mà nhà trường chuẩn bị cho học sinh thôn khác, bếp thì dùng bếp học sinh ở phía tây sân bóng.”

Cuối cùng cũng tan họp.

Đều vui vẻ cười đùa vây quanh đống lửa giữa phòng, rồi đi về phía lớp học vẫn chưa trải xong chăn, kê xong giường của mình.

Ông tôi đi ra khỏi phòng học, tuyết bay trên mặt ông, như nước rắc trên mặt ông. Có gió thổi, tuyết không phải là bay nữa, mà như bị gió táp lên trên mặt, táp ầm ầm vào mặt. Trên mặt vẫn còn hơi ấm trong lớp học, vẫn còn có chút nhiệt huyết mà ông nói một, hai, ba, bốn vừa rồi. Tuyết bị ném lên mặt đã tan, như giọt nước bị gió vứt trên mặt.

Đất trắng xóa.

Trắng mênh mông.

Giẫm lên đi thì kêu rin rít.

Đang đi, chú tôi từ phía sau đuổi kịp ông, chú gọi một tiếng “bố”, chờ ông quay người lại, chú nói: “Con cũng ngủ ở phòng lớn như những người khác sao?”

Ông tôi nói: “Con ngủ cùng với bố, phòng đó nhỏ, ấm áp.” Chú tôi nói: “Bố, sao lại để Dược Tiến quản việc kế toán?” Ông tôi nói: “Cậu ấy đã từng làm kế toán trong thôn mà.” Chú liền nói: “Không bằng con quản.”

Ông tôi nói: “Quản cái này làm gì?”

Chú lại nói: “Tốt xấu con cũng là con bố, con quản thì bố yên tâm.”

Ông liền nói: “Cậu ấy quản bố cũng yên tâm.”

Chú hai liền cười: “Thực ra ai quản cũng như nhau, đều là người sắp chết, không ai làm trò mèo trên sổ sách.”

Hai bố con liền đi vào căn nhà mái bằng ở cổng trường, lội trên nền tuyết, nói chuyện với nhau, trong chớp mắt, người đã hòa vào trong tuyết.

Tan vào trong tuyết.

⚝ 2 ⚝

Mấy ngày sau, khi tuyết đã tan, cuộc sống của bệnh nhân bệnh nhiệt sướng hơn ở trong mơ. Cơm nấu xong, ông tôi hô một tiếng, tất cả đều cầm lấy bát, thong thả đến trước gian nhà mái bằng phía tây ăn cơm. Muốn ăn bao nhiêu đơm bấy nhiêu, muốn ăn gì đơm đó, đặc có đặc, loãng có loãng, có rau có thịt, ăn xong thì đến bên bồn nước rửa bát, để bát vào một chỗ, hoặc để trong một cái túi, treo trên cây hoặc trên giá bóng rổ. Tìm một phương thuốc bắc nghe nói có thể chữa khỏi bệnh nhiệt, đun một nồi thuốc lớn, mỗi người đến múc một bát. Có người nhà đến đưa bánh hấp thì cũng đều lấy ra chia cho mọi người cùng ăn. Ăn cơm rồi, uống thuốc rồi, sau đó, sau đó thì không có việc gì nữa, muốn sưởi nắng thì đi sưởi nắng, muốn xem ti vi thì xem ti vi, muốn đánh tú lơ khơ thì tìm bốn người, đánh cờ tướng thì tìm hai người, tìm chỗ khuất gió có nắng mà ngồi xổm chơi thỏa thích.

Không phải nghĩ gì hết. Cho dù bạn thong thả dạo quanh sân trường, hay nằm ngáy o o trên giường của bạn cũng không có ai quản bạn và hỏi bạn, tự do như bông bồ công anh trên bãi cỏ.

Muốn về nhà, thì bạn trở về Đinh Trang.

Muốn ra ruộng hoa màu của bạn, thì bạn đi đến đứng ở đầu ruộng nhà mình.

Muốn việc gì khác nữa thì nhờ chuyển lời, một lúc sau người nhà bạn sẽ chạy đến trường.

Cuộc sống của bệnh nhân bệnh nhiệt còn sướng hơn ở trong mơ. Nhưng sướng được nửa tháng thì không thể sướng nữa. Trộm cắp đã xảy ra. Kẻ trộm như con chuột chạy khắp sân trường. Đầu tiên mất hơn nửa bao gạo trong nhà bếp. Sau đó bao đậu tương đặt ở góc bếp cũng mất luôn. Sau nữa, Lý Tam Nhân nói mấy chục đồng mà ông giấu dưới gối cũng không thấy nữa. Còn có cô dâu mới lấy về thôn, là cô dâu mới của Đinh Tiểu Minh, em con chú ruột gọi chú tôi là anh, chồng Tiểu Minh của cô ấy và bố tôi, chú tôi có cùng ông nội, bố chồng cô ấy và ông nội tôi có chung một bố, năm nay cô ấy ngoài hai mươi tuổi, tên là Dương Linh Linh, vừa lấy về thì mắc bệnh nhiệt. Mấy năm trước ở nhà mẹ đẻ cô đã từng bán máu, bây giờ có bệnh nhiệt cô không oán hận ai, chỉ là mỗi ngày buồn sầu không nói, trên mặt chưa bao giờ nở nụ cười. Cái ngày biết cô bị bệnh nhiệt, Đinh Tiểu Minh tát lên mặt cô một cái, nói: “Khi hai chúng ta gặp nhau, tôi hỏi cô đã bán máu bao giờ chưa, cô một mực chối là chưa bán. Bây giờ cô còn nói chưa bán nữa không?”

Một cái tát mà sưng cả mặt.

Tát đến mức mặt cô không bao giờ còn nở nụ cười.

Ngay cả ý nghĩ tiếp tục sống cũng bị tát bay.

Rồi đưa cô đến trường học này sống cùng với những người mang bệnh nhiệt khác.

Ngày thứ ba đến đây, cô nói chiếc áo bông lụa đỏ mà cô treo ở đầu giường không thấy nữa. Ban ngày vẫn còn đó, khi trời tối muốn mặc, thì áo bông đã không còn.

Kẻ trộm giống như chuột, chạy đầy khắp sân trường. Việc này không thể không quản. Trước khi trời tối, ông tôi gọi tất cả mọi người đến hai gian phòng học, yêu cầu mọi người ngồi xuống, nhưng rất ít người ngồi, thế là đứng cả dậy, ông tôi cuối cùng nói lớn:

“Đã đến lúc này rồi, mạng cũng sắp mất rồi, các bạn vẫn còn trộm tiền trộm gạo, trộm áo mới của người ta. Sắp mất mạng rồi các bạn còn cần tiền làm gì nữa? Sắp chết rồi còn cần chỗ lương thực đó làm gì? Có lửa sưởi còn cần áo bông của người ta làm gì nữa?” Ông tôi nói. “Tất cả nghe lời tôi, một là hôm nay không ai được trở về thôn, không thể mang những đồ lấy trộm về nhà; hai là ai trộm tôi cũng không truy cứu, đến nửa đêm các bạn tự mang ra. Trộm lương thực thì trả về nhà bếp, trộm tiền thì trả tận tay người mất, trộm áo bông thì đưa đến đầu giường của người ta.”

Ánh mặt trời đang phai màu từ sân trường bò đến, phòng học chảy đầy sắc đỏ của hoàng hôn. Gió tháng chạp ù ù như những nhát đâm, thổi bay đám tro lửa trong phòng ra bốn phía. Những người bệnh Đinh Trang, người bệnh nhẹ hay người bệnh nặng nghe những lời ông tôi nói, đều ở trong căn phòng đó nhìn nhau, kiếm tìm bốn phía, cứ như nhìn thế, tìm thế là có thể nhìn ra kẻ trộm, tìm ra kẻ trộm, nhưng nhìn một hồi rồi, tìm một hồi rồi, vẫn không tìm thấy, chú tôi liền hô lên trong đám người: “Lục soát! Lục soát!”

Những người trẻ tuổi đều hô lục soát.

Ông tôi ở trên bục liền nói: “Lục soát cái gì, nửa đêm đưa ra là được, ngại không đưa đến đầu giường hoặc tận tay người ta thì để ở góc sân.”

Cuối cùng cũng không nói gì nữa, để mọi người giải tán. Từ gian phòng đó đi ra, đám đàn ông chửi kẻ trộm ở cái thôn này thật kém cỏi, sắp chết rồi còn tham nửa bao gạo, một bao đậu.

Chú hai tôi liền đi đến bên vợ của người em chú nói:

“Linh Linh, sao em lại không để áo của mình cẩn thận?”

“Áo bông mà, không mặc không treo đầu giường thì treo ở đâu?”

“Anh vẫn còn một cái áo, anh lấy cho em nhé?”

“Không cần đâu. Em đã mặc hai cái áo len trong người rồi.”

Đêm đến, có người xem ti vi, có người nói chuyện phiếm như thường lệ, có người không tin vào thuốc trong nồi tập thể, tự mình đi bắc nồi đun thuốc trong bếp hoặc trong phòng mình ở. Trong lớp học, trong phòng, trong hành lang tầng trên tầng dưới, chỗ nào cũng bày nồi đun thuốc, đổ đầy bã thuốc, khiến cho lớp học, trường học và cả bình nguyên, ban ngày ban đêm đều là mùi thuốc bắc vừa thơm vừa đắng, như thể trường tiểu học Đinh Trang là một tiệm thuốc bắc vậy.

Đun thuốc xong, mỗi người đều uống xong, cuối cùng cũng đi ngủ. Lục tục đi ngủ cả. Trong sân trường trở nên yên tĩnh như bên ngoài. Bên ngoài cũng yên tĩnh như trong sân. Chỉ có ngọn gió mùa đông, thổi như huýt sáo ở sân trường.

Chú hai sống ở trong phòng của ông, chuyển chiếc bàn vốn để rất nhiều vở bài tập đi, kê một chiếc giường dưới cửa sổ, thế là sống cùng ông. Tống Đình Đình về nhà mẹ đẻ của thím rồi. Thím vừa về nhà mẹ đẻ là chú tôi đã hoang mang, nói: “Bố, con bảo bố nói chuyện với Đình Đình, bố đã nói chưa?”

“Nói gì?”

“Nói con chết rồi cũng không được cho cô ấy lấy chồng.”

“Con ngủ đi!”

Hai bố con họ không nói tiếp nữa. Trong tiết trời lạnh lẽo âm u, bóng tối trong phòng trở nên nặng nề đặc quánh, không khí chảy trong căn phòng đặc quánh như keo. Đêm đã rất sâu rồi, sâu như cái giếng khô. Trong đêm khuya vừa sâu vừa tĩnh đó, chú tôi nghe thấy hình như có tiếng bước chân ở bên ngoài, nghe kĩ một lúc, lại trở mình trên giường hỏi: “Bố, bố nói trong cả đám người bệnh nhiệt này ai là kẻ trộm?”

Chờ ông tôi trả lời, nhưng lại nghe thấy trong cái yên tĩnh như lòng giếng cạn hình như có tiếng bước chân.

Chú tôi cảnh giác nói: “Bố… bố ngủ rồi à?”

Vẫn không có hồi đáp.

Vẫn không thấy ông có động tĩnh gì, chú liền chầm chậm xuống giường, chú muốn đi ra sân xem một chút, xem ai đem đồ ăn trộm đặt trong sân. Liền lặng lẽ khoác áo xuống giường. Lúc sắp đi, ông tôi trở mình trên giường.

“Con đi đâu?”

“Bố vẫn chưa ngủ sao?”

“Bố hỏi con đi đâu?”

“Đình Đình hôm nay lại về nhà mẹ đẻ, con không sao ngủ được.”

Ông liền trở người ngồi dậy trên giường: “Con ơi, sao con cứ kém cỏi như thế?”

Chú tôi nói: “Bố, con nói thật với bố, trước khi Đình Đình lấy con, cô ấy đã từng tìm được nhà chồng rồi. Gã đó ở cùng thôn với nhà mẹ cô ấy.”

Ông tôi không nói gì nữa, nhìn chú hai tôi trong bóng đêm, giống như nhìn một cái cột bị khói hun đen. Nhìn một lúc, ông nói một câu:

“Thuốc bắc nấu hôm nay con đã uống chưa?”

“Đừng giấu con nữa, con biết là bệnh này không chữa được.”

“Không chữa được thì cũng thử chữa.”

“Kệ nó, không chữa được là không chữa được, chỉ cần con có thể truyền căn bệnh này lên người Đình Đình, để cô ấy không lấy chồng được nữa, thì có chết con cũng yên tâm.”

Ông giật sững người, trong lúc ông đang ngạc nhiên, chú hai đã mặc áo bông của chú ra ngoài. Ra sân trường, trong sân trường to rộng, ánh trăng kết lại trên mặt đất như lớp băng mỏng. Như đang trải một lớp pha lê mỏng. Chú cẩn thận nhón chân đi, như sợ giẫm vỡ tấm pha lê đó, thử đi hai bước, dừng lại nhìn dãy nhà phía chính tây ở đằng kia. Hai tầng lầu. Vốn là lầu học, bây giờ mỗi phòng học đều có năm, tám người đàn ông hoặc phụ nữ ở, nó đã trở thành nhà của các bệnh nhân bệnh nhiệt. Còn là nhà của kẻ trộm. Họ đều đã ngủ rồi. Mấy chục người đều đã ngủ rồi, có thể nghe thấy tiếng ngáy ngủ giống như tiếng nước trong kênh, rì rầm rì rầm. Vang lên liên tục. Chú tôi liền đi vào trong bóng ngôi nhà đó, chú nhìn thấy trong bóng ngôi nhà có cái gì đó đen đen, giống như bao gạo mà kẻ trộm đem trả. Liền đi về phía cái vật đen đó.

Đi đến gần, là một người.

Là vợ của em họ chú, là Dương Linh Linh nửa năm trước lấy về thôn.

“Ai?!”

“Em. Anh là anh Đinh Lượng?”

“Linh Linh à, nửa đêm em ở đây làm gì?”

“Em muốn xem Đinh Trang các anh ai là kẻ trộm, ai trộm áo bông của em.”

Chú tôi liền cười: “Em nghĩ giống anh, anh cũng muốn xem ai là kẻ trộm, ai trộm áo bông của em.” Nói rồi chú liền ngồi xuống với Linh Linh. Linh Linh dịch dịch người lên phía trên, họ cùng ngồi với nhau, như hai bao gạo dựng cạnh nhau. Ánh trăng rất sáng, có thể nhìn thấy mèo hoang và chuột hoang chạy ở phía xa trong sân trường, có thể nghe thấy tiếng chân mèo hoang và chuột cọ lạo xạo trên nền đất cát của sân bóng. Chú tôi nói: “Linh Linh, em sợ không?” Linh Linh nói: “Trước đây cái gì cũng sợ, nhìn thấy người ta giết gà em đã mềm nhũn cả chân, nhưng từ khi bán máu, gan cũng to lên, bây giờ biết mình có bệnh này, thì không sợ gì nữa cả.”

Chú tôi nói: “Sao em lại bán máu vậy?”

Linh Linh nói: “Muốn mua một chai dầu gội đầu. Thôn em có một cô nương dùng dầu gội đầu gội tóc khiến tóc mượt như nước chảy, em cũng muốn dùng một chút, cô ấy nói đó là chai dầu gội đầu mà cô ấy phải bán máu mới mua được. Em liền đi bán máu để mua dầu gội đầu.”

Linh Linh nói xong, chú tôi nhìn bầu trời như làn nước màu lam:

“Vậy à?”

“Sao anh lại bán máu?”

“Anh trai anh là đầu nậu máu, thấy người khác đều bán cho anh ấy nên anh cũng bán.”

Linh Linh nhìn chú tôi một lát:

“Mọi người đều nói anh trai anh làm bậy, lấy của người ta một bình máu thực ra đều là một bình rưỡi.”

Chú tôi liền cười. Cười với Linh Linh, không nói chuyện máu nữa, dùng cùi chỏ chạm vào cùi chỏ của Linh Linh, cười nói: “Người ta lấy áo bông của em, em sẽ không đi trộm đồ của người ta chứ?”

Linh Linh nói: “Làm người phải giữ tiếng chứ.”

“Sắp chết rồi, còn quan tâm giữ cái tiếng hão làm gì.” Chú tôi nói: “Tiếng của em tốt, nhưng chồng Tiểu Minh của em chẳng phải vừa nghe em có bệnh nhiệt đã tát em một cái sao? Em mắc bệnh, không thương xót, lại còn tát em ác thế.” Chú tôi nói: “Đó là em. Nếu là anh, có bệnh anh cũng không nói với chồng, không truyền bệnh nhiệt này cho hắn ta không được.”

Linh Linh nhìn chú hai tôi có chút kinh ngạc, như nhìn một người mà cô căn bản không hề quen biết, tránh người ra xa, như tránh một tên trộm.

“Anh truyền cho chị dâu rồi?”

“Sớm muộn cũng có ngày đó.”

Nói xong, chú tôi liền ngồi lên chỗ thoát nước láng xi măng dưới mái hiên, dựa lưng vào tường gạch, đầu ngửa lên trời. Khí lạnh trên tường gạch, rất nhanh thấm qua áo bông của chú xuyên qua sống lưng chú, làm cho sống lưng chú có một luồng khí lạnh xuyên qua, như có một luồng nước băng giá chảy qua sống lưng của chú. Chú liền để mặt song song với trời, không nói gì, nhưng lại có hai hàng nước mắt chảy xuống từ mặt chú.

Linh Linh không nhìn thấy nước mắt của chú, nhưng cô nghe thấy giọng chú như muốn khóc.

Cô liền ngẩng đầu lên nhìn chú: “Anh hận chị dâu em?”

Chú tôi lau nước mắt: “Chị dâu em trước đây rất tốt với anh, nhưng anh có bệnh thì không tốt với anh nữa,” rồi quay đầu đi chỗ khác, nhìn vợ của người em họ trong bóng đêm. “Nói em đừng cười,” chú tôi nói, “Linh Linh à, nói em đừng cười, từ khi anh có bệnh, chị dâu em không cho anh chạm vào người cô ấy. Em nói xem, anh còn chưa đến ba mươi.”

Linh Linh lại cúi đầu xuống, như sắp chạm vào nền đất vậy. Cô lặng im không nói một hồi lâu. Chú tôi không nhìn thấy màu đỏ dồn lên, hơi nóng dồn lên trên mặt cô, chờ một hồi rất lâu, lâu như chờ Tết đến, sắc đỏ đó mới biến mất, hơi nóng mới nguôi dần, cô ngẩng đầu liếc chú hai tôi một cái, chầm chậm khe khẽ nói: “Anh Đinh Lượng, đều giống nhau thôi, nói anh cũng đừng cười, em có bệnh Tiểu Minh cũng không đụng vào em một cái. Em mới hai mươi tư, vừa qua hai mươi tư, kết hôn mới mấy tháng.”

Cuối cùng, hai người cũng nhìn nhau.

Nhìn nhau rất gần. Mặt trăng đã di chuyển ra ngoài trường học, nhưng sân trường vẫn sáng như thế. Nước lãng đãng trên nền đất sáng. Lãng đãng tỏa sáng, như kết một tầng băng mỏng. Như trải một tầng pha lê mỏng. Bởi vì sáng, dưới bóng tối của lầu học, họ mới thể nhìn nhau rõ ràng như vậy. Chú tôi nhìn thấy mặt Linh Linh giống một quả táo chín. Chín mọng rồi, chín đến mức mọc đốm rồi. Đó chính là những cái mụn do bệnh nhiệt nổi trên mặt cô. Nhưng trên quả táo đó, có khi mấy cái đốm đó sẽ làm cho nó có hương vị và vẻ đẹp khiến người ta thương xót. Chú tôi nhìn Linh Linh như nhìn một quả táo chín đến mức có đốm, ngửi thấy trên người cô ngoài mùi mụn nhọt, còn có mùi vị thanh xuân của thiếu nữ chưa chồng không thể nào ngăn nổi, như mùi nước trong chưa bị người ta nhúng đục; lại như có mùi vị đàn bà vừa mới kết hôn, như nước trong bị người ta nhúng tay vào.

Chú tôi hắng giọng một cái, dũng cảm nói:

“Linh Linh, anh muốn nói với em một chuyện.”

Cô liền hỏi:

“Chuyện gì?”

Chú tôi đột nhiên nói:

“Mẹ kiếp, chi bằng chúng ta làm chuyện tốt đẹp đi.”

Linh Linh ngạc nhiên:

“Chuyện tốt đẹp gì?”

Chú tôi nói:

“Đều là người đã kết hôn, người sắp chết, muốn tốt gì thì cùng tốt cái đó.”

Linh Linh lại kinh ngạc nhìn chú hai tôi, như nhìn một người mà cô không quen biết.

Quá nửa đêm, trời lạnh lắm, mặt chú hai có chút xanh, trong sắc xanh đó, những nốt mụn bệnh nhiệt như những viên đá vùi dưới lớp băng. Linh Linh nhìn chú hai tôi, chú hai cũng nhìn cô, ánh mắt họ chạm nhau trong ánh trăng. Cuối cùng, cuối cùng cô không chịu nổi ánh mắt của chú hai. Hai mắt của chú hai như hai cái động đen ngòm, muốn nuốt chửng cả người cô. Cô không thể không cúi đầu lần nữa.

“Anh Đinh Lượng, anh quên mất Tiểu Minh là em con chú của anh sao?”

“Nếu Tiểu Minh đối tốt với em, thì anh đã không có ý nghĩ đó.” Chú tôi nói: “Nhưng Tiểu Minh không tốt với em. Còn đánh em. Tống Đình Đình không tốt với anh như vậy anh còn chưa bao giờ đánh cô ấy.”

“Tốt xấu gì anh cũng là anh của anh ấy, anh ấy là em anh.”

“Anh em gì, anh và em đều là người sắp chết.”

“Người khác mà biết sẽ róc da anh và em mất.”

“Róc thì róc, dù sao anh với em cũng đều là người sắp chết.”

“Người khác quả thực sẽ róc da anh và em.”

“Dù sao cũng đều là người sắp chết. Người khác biết hai chúng ta cùng chết là được.”

Linh Linh lại ngẩng đầu nhìn chú hai tôi, như thể muốn biết rõ chú hai tôi có phải là người nói chết là chết như chú nói không. Cô liền nhìn thấy khuôn mặt xanh xao ban ngày của chú bây giờ không xanh nữa, nó trở thành một vòng đen mơ hồ trong bóng tối mơ hồ. Nhưng trong cái mơ hồ đó, chú hai đang nói chuyện, hơi trắng nóng hổi từ miệng chú phun ra, phun lên mặt Linh Linh, giống như hơi nước ấm áp phun lên mặt cô.

Linh Linh hỏi: “Anh chết rồi có chôn cùng với em không?”

Chú tôi nói: “Mong sao có thể chôn cùng với em.”

Linh Linh nói: “Tiểu Minh nói với em, nói anh ấy có chết cũng không chôn cùng một chỗ với em.”

Chú tôi nói: “Anh tha thiết được chôn cùng một chỗ với em.”

Nói rồi chú liền dịch dịch người về phía Linh Linh.

Chú liền thử ôm chặt lấy Linh Linh. Đầu tiên là nắm lấy tay cô, sau đó thì ôm chặt lấy cô. Như ôm một con cừu non nửa đời đi tìm nhà của mình, ôm thật chặt, như sợ cô hối hận mà chạy mất. Cô cũng để mặc chú ôm, khẽ tựa vào lòng chú. Đêm đã sắp vào sâu lắm rồi. Sâu đến mức như trời sắp sáng, sắp sang ngày hôm sau rồi. Sự tĩnh lặng trên bình nguyên lúc này, có thể nghe thấy tiếng chuyển động của khí đêm. Chỗ tuyết dồn lại dưới bóng cây, lúc này đã sắp đông lại. Tiếng tuyết đóng băng như có vô số vô số hạt băng đang chuyển động trong không khí, khe khẽ nhè nhẹ chạm vào tường, trượt xuống rơi trên người chú tôi và Linh Linh, và mặt đất xung quanh, kêu lạo xạo lạo xạo.

Họ cứ ngồi tựa một lúc như thế, không nói gì rồi đứng dậy khỏi mặt đất.

Không nói gì, rồi đi vào một gian phòng bên cạnh nhà bếp.

Cạnh nhà bếp có một gian phòng, nhà kho, để lương thực và đồ lặt vặt của bệnh nhân bệnh nhiệt. Họ không nói gì, liền đi vào trong gian phòng đó.

Trong phòng ấm áp, vào đó họ liền ấm lại. Người ấm lên, họ liền nắm chặt lấy ý vị của sự sống.

⚝ 3 ⚝

Ánh mặt trời sáng tỏ đã chiếu ấm Đinh Trang.

Chỉ trong một đêm, hoa khắp bốn phương tám hướng đều tưng bừng nở rộ. Trên đường thôn, trong góc sân, trên ruộng nương ở đầu thôn, cả trên cổ đạo Hoàng Hà ở phía xa kia, hoa cúc, hoa mai, mẫu đơn, thược dược, hoa hồng, còn có hoa nghênh xuân mọc hoang, hoa phong lan, cỏ mã đề, bồ công anh, cỏ đuôi chó, bình thường đều nở ở nơi đồi hoang dốc núi, bây giờ xanh thắm, đỏ, vàng, hồng, tím, trắng, còn có những bông hoa không rõ tên nửa tím nửa đỏ, nửa hồng nửa xanh, nửa lục nửa lam, nửa xanh thẫm xen chút xanh nhạt, to thì như cái bát, nhỏ thì như cái cúc, đồng loạt ầm ầm ra hoa, ngay cả trên tường chuồng lợn của các nhà các hộ, rào dậu của chuồng gà và bên máng trâu cũng đều bừng rộ những bồng hoa đủ màu đủ sắc. Có mùi hoa thơm nhức mũi điên cuồng chảy trong thôn, như nước lũ có mùi thơm tràn dâng khắp Đinh Trang. Ông tôi không biết vì sao trăm hoa nghìn cỏ này lại cùng bừng nở trong một đêm như vậy, ông tò mò bước men theo con đường từ phía đông sang phía tây thôn, nhìn thấy chủ nhân các nhà, người lớn và trẻ em, trên mặt đều nở nụ cười, vội vã đi đi lại lại trên con đường thôn trải hoa, có người gánh hai cái làn dùng chăn và quần áo che lên, có người vác một cái túi bó miệng, ngay cả những đứa trẻ trai trẻ gái mới mấy tuổi cũng ôm bọc gì đó vuông chằn chặn nặng trình trịch bên trong. Bạn hỏi họ làm gì, bận gì, họ đều không nói, chỉ vội vã đi về nhà, rồi lại vội vã từ nhà đi ra, nói là đi nhưng thực ra không khác chạy là mấy.

Từ giữa con đường thôn đầy hoa, ông tôi liền bước ra theo họ, đến đầu thôn phía tây mới nhìn thấy đồng ruộng bên ngoài thôn đều nở đầy hoa, hoa phủ khắp đất trời, mênh mông không dứt như một biển hoa. Từ đầu thôn nhìn ra, biển hoa bằng phẳng đó dập dờn trong gió, diễm lệ mênh mông nhuộm không gian thành màu đỏ, màu vàng nhạt, còn những người trong thôn đang bận rộn kia, mỗi nhóm ba người hoặc năm người đều ở trong ruộng nhà mình, đàn ông thì đang giơ cuốc cầm xẻng, đào hoặc bới bên dưới những cây hoa đó, giống như bới khoai lang trước khi vào đông. Giống như bới lạc. Ông tôi đứng ở đầu thôn, nhìn thấy Lý Tam Nhân vốn rất ít nói chuyện, lúc này cũng bận rộn như mọi người, nụ cười nở trên mặt, mồ hôi chảy trên trán, đang cong mông lên đào xới từng nhát xẻng trong ruộng nhà mình, không ngừng khom lưng đập đập giũ giũ những hoa quả vừa đào được đó, rồi lại vứt hoa quả đó sang một bên, sau đó lại bận rộn đi đào cây hoa khác. Chờ khi đào được mười mấy cây, hai mươi mấy cây, ông ngồi xuống cùng với vợ mình, các con mình, đem những đồ đã đập xong cho vào trong giỏ nhặt. Nhặt xong, lại dùng chăn đậy lên giỏ, rồi gánh hai cái giỏ nặng trình trịch đó về nhà, vừa đi vừa lảo đảo, như thể sẽ ngã ngay lập tức, nhưng ông gồng người lên để mình không bị ngã.

Lý Tam Nhân là Trưởng thôn cũ của Đinh Trang. Ông ta chỉ nhỏ hơn ông tôi hai tuổi, từng nhập ngũ, nhập ngũ ở thành Hàng Châu thiên đường phương Nam, trong khu doanh trại dùng lưới thép quây lại đó, ông đã vào Đảng, đã lập công, khi quân đội muốn đề bạt ông, ông đột nhiên bừng ngộ, liền cắn nát ngón tay viết cho thượng cấp một bức thư. Quyết tâm thư bằng máu. Nói ông nhất định phải trở về thôn, phải biến thôn mình trở thành một tiểu Giang Nam.

Liền từ bộ đội trở về.

Trở thành cán bộ thôn.

Làm cán bộ thôn mấy chục năm, dẫn người trong thôn đi ủ phân, trồng trọt, tưới tiêu và thu hoạch bất kể ngày đêm. Bên trên bảo xới đất thì xới đất, bảo trồng bông thì có phải đạp lên lúa mạch cũng phải trồng bông, nhưng qua mấy chục năm, mấy chục năm qua đi như mặt trời mọc rồi lại lặn, trong thôn vẫn hệt như mấy chục năm trước, ngoài việc người nhiều lên, nhà ngói chẳng nhiều thêm gian nào. Máy móc chẳng nhiều hơn một cỗ. Máy xay chẳng nhiều hơn một chiếc. Máy cày có tay đỡ [7] , cũng chẳng nhiều hơn. So với các thôn Liễu, Hoàng Thủy, Lý Nhị, thì Đinh Trang vẫn nghèo như vậy. Đinh Trang vẫn nghèo rớt mồng tơi, cuối cùng có người nhổ nước bọt lên mặt ông, nói: “Lý Tam Nhân, ông còn có mặt mũi làm cán bộ nữa sao?”

Nói: “Lý Tam Nhân, ông làm Trưởng thôn và Bí thư chi bộ mấy chục năm, nhà tôi mấy chục năm Tết không được ăn no một bữa bánh chẻo.”

Cuối cùng, lúc bán máu đó ông liền bị cách chức.

Cuối cùng, ông liền trở thành người rất ít nói.

Cuối cùng, mặt ông luôn mang vẻ xám xịt của người bị kẻ khác dùng dép đánh.

Cuối cùng, bên trên thấy bố tôi là đầu nậu máu, đầu óc linh hoạt, muốn bố làm Trưởng thôn. Muốn bố lấy ít máu cho bản thân thôi, mà dẫn dắt để Đinh Trang có thêm nhiều đầu nậu máu. Bố liền nghĩ ngợi, nghĩ đầu nậu máu nhiều thì máu nhà mình lấy sẽ ít đi, liền quyết định không làm Trưởng thôn. Trong thôn cũng không có Trưởng thôn nữa. Cuối cùng cũng không có thêm cán bộ nào nữa. Đến hôm nay vẫn không có cán bộ. Không có cán bộ nhưng luôn bị kêu gọi đi bán máu. Lý Tam Nhân kiên quyết không bán. Chết cũng không bán. Ông nói tôi nửa đời làm Trưởng thôn, không phải vì để dân thôn đi bán máu. Nhưng khi thấy rất nhiều nhà bán máu xây được nhà cao cửa rộng, vợ ông liền đứng dưới mái hiên mắng ông: “Lý Tam Nhân, ngay cả bán máu ông cũng không dám bán, ông còn xứng là đàn ông không? Uổng cho mấy chục năm ông làm cán bộ, chẳng trách mấy chục năm Đinh Trang nghèo đến mức đàn bà con gái đến tháng cũng không mua nổi giấy, hóa ra đều vì ông làm Trưởng thôn. Đều vì ông giống như thằng bị thiến, ngay một bình máu cũng không dám bán. Ngay nửa bình máu cũng không dám bán. Ngay một giọt máu cũng không dám bán. Không dám bán máu, ông nói xem ông có xứng là đàn ông không?”

Lý Tam Nhân đang ngồi ở cửa ăn cơm, để cho vợ mắng xối xả. Mắng như tát nước.

Lúc mắng xong, ông không nói gì cả, đặt bát trên nền đất, lặng lẽ đi. Tưởng rằng ông không muốn nghe tiếng sỉ nhục của vợ nên bỏ đi, nhưng khi vợ ông ở nhà rửa nồi rửa bát chuẩn bị cho lợn ăn, ông liền mang về một trăm đồng. Một ống tay áo vẫn mặc trên tay, một ống tay vắt lên vai, ông duỗi cánh tay đang mặc áo ra, dùng tay bấu vào khuỷu tay không mặc áo, trên khuôn mặt hơi tái có mấy giọt mồ hôi nửa trắng nhợt nửa hoang mang, quay về đặt chỗ tiền đó vào góc giá để nồi trong bếp, nhìn vợ ông, nói một câu đầy nước mắt:

“Này, mẹ bọn nhỏ, tôi cũng bắt đầu bán máu rồi.”

Vợ ông liền dừng tay rửa bát rửa nồi, nhìn khuôn mặt có chút trắng bệch của ông, cười nói:

“Lần này tốt rồi, ông giống đàn ông rồi!”

“Lần này tốt rồi, ông giống đàn ông rồi!”

Rồi lại hỏi ông: “Ông có muốn uống một chút nước đường không?”

Ông nói: “Không uống nước. Tôi làm cách mạng nửa đời, tôi cũng bắt đầu bán máu rồi.”

Thế là bắt đầu bán máu. Ban đầu một tháng bán một lần, sau đó hai mươi ngày bán một lần, sau nữa thì mười ngày bán một lần. Sau rốt thì không bán máu sẽ cảm thấy mạch máu phình lên, như có cái gì bít chặt huyết quản, cứ như máu bên trong nhiều đến mức không hút ra thì sẽ nổ tung trong huyết quản.

Lúc đó, người bán máu tuy nhiều, nhưng người làm đầu nậu máu cũng rất nhiều, rất nhiều đầu nậu máu đều cầm dụng cụ lấy máu đến tận nhà người bán máu. Đến nhà bạn thu mua máu, như đến nhà thu mua đồng nát vậy. Bạn không cần làm gì ở nhà, chỉ một lát là có thể nghe thấy tiếng rao “Bán máu đi, ai bán máu nào” giống như tiếng rao ai tóc rối, ai nhôm đồng sắt vụn đổi bán đi.

Bạn đang cuốc đất, đang xới đất trên ruộng, đầu nậu máu sẽ đứng ở đầu ruộng gọi:

“Này, bán máu không?”

Người trong ruộng lớn tiếng nói:

“Anh đi đi, tôi vừa mới bán xong.”

Hắn không đi, lại nói tiếp:

“Tiểu mạch anh trồng tốt quá, mạ non lên xanh rì rồi.”

Người trong ruộng liền vui vẻ:

“Anh có biết tôi đã đổ bao nhiêu phân bón không?”

Người lấy máu liền ngồi xuống đầu ruộng, nhìn một cách ngưỡng mộ, sờ sờ lên mạ non.

“Không biết anh đổ bao nhiêu phân, nhưng tôi biết tiền anh mua phân bón chắc chắn là tiền bán máu.”

Nói: “Bán một bình máu thì có thể mua được một túi phân, có một túi phân bón thì mảnh ruộng này chắc chắn sẽ bội thu.”

Nói: “Thực ra trồng trọt là căn bản nhất, rất nhiều người vừa bán máu đã không làm ruộng nữa. Ngay cả đất cũng chẳng cần nữa. Tuy máu bán không hết được, nhưng một người không thể sống trăm năm, có sống một trăm năm anh cũng không thể bán máu một trăm năm, nhưng ruộng có thể trồng một trăm năm, có thể trồng một nghìn năm. Trồng trăm năm, nghìn năm nó vẫn có thể bội thu như thế, anh nói xem người bán máu có thể bán được hơn trăm năm nghìn năm không?”

Hai người họ cứ nói chuyện như thế. Người làm ruộng liền từ trong ruộng đi ra, nói chuyện, tán gẫu với đầu nậu máu từ thôn nào đó đến, cứ nói cứ tán như thế, anh ta liền kích động, xắn ống tay áo lên: “Đến đây, tôi bán thêm cho anh bình nữa, ai bảo chúng ta có duyên.”

Anh ta lại bán cho hắn một bình máu.

Hắn lại mua của anh ta một bình máu.

Cuối cùng hai người cũng chia tay. Như hai người bạn chia tay. Sau đó đầu nậu máu đó liền trở thành bạn của anh ta, lúc nào cũng có thể cắm ống tiêm vào mạch máu của anh ta lấy máu.

Lý Tam Nhân đang xới đất ở đầu ruộng nhà ông. Xới góc ruộng mà lưỡi cày không cày đến được, vì mỗi tháng đều bán máu, mỗi tháng bán hai, ba lần, mặt ông có chút vàng, giống ánh sáng màu vàng khi đốt nến. Trước đây khi ông làm Trưởng thôn, nhấc cái cuốc chim nhẹ như nhấc cán cuốc, nhưng bây giờ, ông nhấc cái cuốc chim như nhấc cái trục lăn lúa. Thu hoạch mạch xong, phải trồng vụ thu. Phải trồng ngô. Trồng vụ hè và trồng vụ thu không giống nhau, gieo hạt sớm một ngày, thời gian thu hoạch có thể sớm hơn nhà khác dăm ba hôm. Dăm ba hôm đó có thể xem như tranh thủ được mùa màng, không sợ mưa gió. Lý Tam Nhân dứt khoát phải gieo được hạt giống ngô trong hai ngày hôm đó. Nhất thiết phải xới xong chỗ góc ruộng mà lưỡi cày không cày đến được đó. Trời cực nóng, thời tiết tuy đã là thu, nhưng mùa hạ nóng bức vẫn chưa qua, phóng mắt trên bình nguyên, trên vùng đất bằng phẳng mênh mông này, bốn phương tám hướng đều như lửa cháy. Ông đang xới đất, mồ hôi trên mặt chảy xuống như mưa. Lưng để trần. Mồ hôi trên lưng như ông vừa từ dưới nước chui lên. Trên hai cánh tay để trần, những mắt kim như đám hạt vừng, bị ngâm thành màu đỏ trong mồ hôi, hơi sưng, hơi ngứa, như vết sưng nổi lên sau khi bị muỗi cắn. Người ông thực sự không còn sức nữa. Năm ngoái, ông chỉ mất nửa ngày là có thể xới hết chỗ góc ruộng này, nhưng năm nay, ông bán máu đã nửa năm, vẫn là mảnh ruộng này, vẫn là con người này, hai ngày mới xới được một nửa chỗ góc ruộng cứng nhắc đó.

Khi xới được một nửa, mặt trời đã là chính ngọ, trong Đinh Trang đã có khói bếp bốc lên, như mảnh lụa trắng đang bay trên trời. Lúc này, bà nội tôi mất đã ba tháng. Ba tháng trước, bà vô tình giẫm lên một chậu máu trong nhà tôi, máu loại A chảy trên người bà. Nhìn thấy đất toàn là máu, bà sợ hãi ngã xuống, từ đó bị chứng tim đập mạnh. Sau đó vì đập mạnh quá mà qua đời, tim mãi mãi không bao giờ đập nữa. Bà mất rồi, bố và chú cùng khóc nói, sau này sẽ không lấy máu, bán máu, không lấy không bán nữa. Nhưng sau ba tháng, bố lại dẫn chú đi lấy máu bán máu.

Lúc này, bố tôi và chú tôi từ thôn ngoài trở về. Họ đến một cái thôn heo hút còn xa hơn cả con đường quốc lộ để đi lấy máu, trèo lên cái xe ba bánh, máu lấy về bình này túi nọ chất trên xe. Ngày mùa tới. Ngày mùa mọi người đều bận rộn trên đồng ruộng, không quan tâm đến việc đến trạm máu bán máu, nhưng bố tôi vẫn theo hợp đồng mỗi ngày đều giao rất nhiều máu cho xe thu máu.

Như thế không thể không đến thôn khác lấy.

Không thể không đến đầu ruộng gọi người ta.

Khi bố tôi, chú tôi trở về, nhìn thấy Lý Tam Nhân đang xới đất ở đầu ruộng, chú tôi liền dừng chiếc xe ba bánh ở đầu ruộng, lớn tiếng gọi:

“Này, ông có bán không?”

Lý Tam Nhân ngẩng đầu liếc chú tôi một cái không nói gì, lại tiếp tục xới mảnh ruộng của ông.

Chú tôi nói:

“Này, rốt cuộc có bán không?”

Lý Tam Nhân liền văng ra một câu:

“Nhà họ Đinh các người không sợ Đinh Trang bán máu đến chết à?”

Lúc đó chú tôi vừa qua mười tám tuổi, chú khẽ rủa một câu: “Mẹ kiếp, đem tiền dâng đến đầu ruộng nhà ông, ông còn không muốn nhận.” Sau đó đứng trên đầu ruộng, chờ bố tôi đến. Bố tôi từ phía sau đi đến nhìn Lý Tam Nhân, bố cũng đứng ở đầu ruộng một lát, rồi đi ra giữa ruộng nhà họ Lý. Bố giẫm lên lớp đất tơi xốp, như giẫm lên mảnh đất đầy bông, mỗi bước đi đều có luồng khí nóng hổi ngọt ngào của đất cát dâng lên. Khi đến trước mặt Lý Tam Nhân, bố tôi không gọi ông là “này,” bố gọi là “cựu Trưởng thôn,” chiếc cuốc chim mà Lý Tam Nhân đang giơ lên khựng lại trong không trung, ông ngây ngây nhìn vào mặt bố.

Đã gần hai năm rồi không có ai gọi ông là Trưởng thôn.

Bố tôi gọi: “Cựu Trưởng thôn.”

Lý Tam Nhân không nói gì. Đặt cái cuốc chim đang giơ lên xuống.

“Mấy hôm trước cháu lên huyện tham gia một cuộc họp giao lưu kinh nghiệm bán máu,” bố tôi nói: “Huyện trưởng và Trưởng phòng đều phê bình Đinh Trang chúng ta bán máu ít, phê bình trong thôn không có cán bộ lãnh đạo việc này, Huyện trưởng và Trưởng phòng đều muốn để cháu làm Trưởng thôn.”

Nói đến đây, bố tôi ngừng lại, nhìn vào mặt Lý Tam Nhân.

Lý Tam Nhân cũng nhìn vào mặt bố tôi.

“Cháu đương nhiên không thể làm,” bố tôi nói: “Cháu nói với Huyện trưởng và Trưởng phòng Giáo dục quản việc làm giàu của thôn ta, Đinh Trang ngoài Trưởng thôn cũ ra, không ai có thể làm chức Trưởng thôn này.”

Lý Tam Nhân liền chăm chú nhìn vào mặt bố tôi.

“Tuy họ Đinh nhà cháu và họ Lý nhà chú không cùng một họ,” bố tôi nói: “Nhưng Đinh Huy cháu hiểu rằng, cả đời này vì Đinh Trang làm việc chỉ có mình chú mà thôi.”

“Cả đời này,” bố tôi nói, “ở trong thôn cháu chỉ kính trọng một mình chú.”

“Cả đời này,” bố tôi nói, “chú không làm Trưởng thôn thì không có ai dám làm Trưởng thôn cả.”

Nói xong những lời này, bố tôi liền ra khỏi ruộng nhà họ Lý. Trên đất cát vừa được xới, có châu chấu, ếch nhái đang nhảy nhót, rơi xuống dưới chân bố, có một luồng hơi mát mẻ từ dưới chân truyền lên khắp người bố. Ông nhấc chân lên, đá bay mấy con ếch cạn, bước từng bước đi trong ruộng. Đi ra rồi, ông liền nghe thấy Lý Tam Nhân gọi to phía sau.

“Đinh Huy à, đến đây, sá gì, chú lại bán máu lần này nữa.”

Bố tôi nói: “Chú, mặt chú hơi vàng, hay là mấy ngày nữa chú hãy bán?”

Ông liền nói: “Chú từng trải mấy chục năm rồi, còn sợ chảy chút máu hay sao.”

Ông liền nói: “Mẹ kiếp, chỉ cần tốt cho Tổ quốc chúng ta, chú còn sợ chảy chút máu này sao?”

Thế là trên đầu ruộng nhà họ Lý, Lý Tam Nhân nằm trong bóng mát của cây hòe, gác đầu lên cán cuốc chim, bố tôi treo túi đựng máu lên cành cây hòe. Chú tôi đâm kim tiêm vào ông, máu của ông liền từ cái ống dẫn nhựa to bằng chiếc đũa chảy vào trong túi.

Túi máu đó, bên ngoài viết là túi 500cc một cân [8] , trên thực tế, đựng đầy nó sẽ là 600cc nặng một cân hai lạng. Nếu như vừa hút vừa vỗ vào cái túi đó, thì có thể đựng 700cc một cân bốn lạng.

Đang hút máu, bố tôi vỗ vào cái túi đó, nói không vỗ máu sẽ đông lại. Liền vừa vỗ vừa nói từng câu từng câu với Lý Tam Nhân.

Bố tôi nói: “Trong thôn ngoài chú ra, quả thật không ai có thể làm Trưởng thôn.”

Ông liền nói: “Làm chán rồi. Chú làm cả đời rồi.”

Bố tôi nói: “Chú vẫn còn chưa đến năm mươi, đang tuổi đẹp.”

Ông liền nói: “Nếu chú có thể Đông Sơn tái khởi [9] , Đinh Huy nhất định phải ra tay giúp chú.”

Bố tôi nói: “Cháu đã tỏ ý với Huyện trưởng, Trưởng phòng rồi, chú không hạ sơn cho thiên hạ thấy cái tài, có đánh chết cháu cũng không làm cán bộ thôn.”

Ông liền hỏi: “Lấy bao nhiêu rồi?”

Chú tôi nói: “Đừng vội, thêm một chút nữa thì đầy.”

Rồi lấy đầy cái túi đó.

Đầy căng lên, như cái túi nước nóng đựng đầy nước, động cái là lắc lư. Trên đầu ruộng, hơi máu tanh đang tỏa ra ngòn ngọt ngai ngái, như mùi quả táo non vừa hái nấu trong nước sôi. Rút kim khỏi khuỷu tay Lý Tam Nhân, cất túi máu đó đi, bố tôi liền đưa cho ông một trăm đồng tiền máu, Lý Tam Nhân nhận lấy tiền đó nói: “Phải trả lại không?”

Bố tôi nói: “Bây giờ máu rẻ rồi, một túi là tám mươi đồng.”

Ông liền nói: “Vậy chú trả lại cháu hai mươi đồng.”

Bố tôi liền vội vã kéo tay ông: “Cựu Trưởng thôn, chú Tam Nhân, chú trả lại tiền coi như tát vào mặt cháu, đừng nói mười đồng, hai mươi đồng, năm mươi đồng cháu cũng không để chú trả.” Ông liền ngượng nghịu cất tiền đi. Khi bố tôi, chú tôi sắp đi, nhìn thấy mặt ông đã trở thành màu trắng xanh, mồ hôi trên mặt từng giọt từng giọt lăn xuống, như màn mưa giăng trên khuôn mặt sáp vàng, ông muốn đứng dậy đi vào ruộng nhà mình, nhưng đi được ba bước, lắc người một cái thì vội vã dựa vào cái cuốc chim ngồi xuống.

Ông gọi to: “Đinh Huy à, chú chóng mặt quá, đất cứ quay tròn trước mắt chú.”

Bố tôi nói: “Không cho chú bán mà chú cứ bán. Cháu nhấc đùi chú lên dồn máu xuống nhé?”

Ông liền nói: “Dốc đi.”

Cuối cùng nằm trên đầu ruộng, bố tôi, chú tôi mỗi người nhấc một cái đùi của ông, chân ở trên, đầu hướng xuống dưới, để cho máu ông từ trên đùi, trên người chảy về đầu. Để đầu ông đủ máu một chút, bố tôi chú tôi còn nhấc hai đùi ông lắc khẽ, như nhấc cái ống quần đã giặt, lắc lắc cho nước từ ống quần chảy lên cạp quần.

Lắc xong, đặt hai đùi ông xuống: “Đã tốt hơn chưa?”

Từ trong ruộng, Lý Tam Nhân liền từ từ đứng dậy, bước hai bước, quay đầu lại cười nói: “Tốt hơn nhiều rồi. Chú đã từng trải nửa đời, còn sợ chảy chút máu này sao.”

Bố tôi chú tôi liền đạp chiếc xe ba bánh đi mất.

Lý Tam Nhân liền dựng cái cuốc chim lên rồi quay về ruộng làm việc tiếp. Ông bước đi loạng choạng liêu xiêu, bố và chú tôi đều cho rằng ông sẽ ngã quỵ xuống bên ruộng, nhưng ông không ngã, đến giữa ruộng, ông còn quay người lại nói lớn:

“Đinh Huy à, có ngày chú Đông Sơn tái khởi làm Trưởng thôn, cháu nhất định phải ra tay làm Phó thôn đấy nhé.”

Bố tôi chú tôi liền quay đầu nhìn ông, cười cười trở về Đinh Trang. Ở đầu thôn, trên những khoảnh đất nhiều nắng, khuất gió, có thể nhìn thấy những người hay bị chóng mặt vì bán máu, họ đều nằm trên con dốc trong thôn, đầu chúc xuống dưới, chân chĩa lên trên, để máu chảy ngược xuống đầu. Hoặc gỡ tấm ván cửa bắc làm giường trong sân nhà mình, một đầu kê ghế cao, một đầu kê ghế thấp, để tấm ván chênh chếch, nằm lên người cũng chếch theo. Còn những người trẻ tuổi lúc rỗi việc thì dựa vào tường “trồng cây chuối”, đầu dưới chân trên “dội máu xuống đầu”. Bố và chú liền biết họ đến thôn khác thu mua máu, thì cũng có người thôn khác đến Đinh Trang thu mua máu, hai người liền ngây ra trên phố. Bố tôi không nói gì, chú thì mắng liền hai câu:

“Con mẹ mày! Con mẹ mày!”

Không biết chú đang mắng ai.

Lúc đó, Lý Tam Nhân chưa đến năm mươi cũng bắt đầu bán máu. Một khi đã bán là không dừng lại được. Có mở đầu mà không có kết thúc.

Lúc này, ông chưa đến sáu mươi thì mắc bệnh nhiệt. Mới mắc bệnh nhưng đã nặng hơn người khác. Nặng đến mức không có cả sức nói chuyện. Cũng có thể xem là có kết thúc. Cái kết đó là bao năm rồi ông vẫn còn muốn làm Trưởng thôn, nhưng bao năm nay trong thôn không có cán bộ, trong xã cũng không có ai đến đảm nhận chức Trưởng thôn này.

Lý Tam Nhân đã già cỗi lắm rồi.

Chưa đến sáu mươi mà đã giống bảy mươi.

Thêm mấy tháng nữa, có thể ông sẽ qua đời.

Bệnh của ông đã rất nặng, chân đi trên đường như bị buộc hai hòn đá lớn. Vợ ông nói: “Lý Tam Nhân, người ta có bệnh đều đến trường học hưởng phúc, ông còn ở nhà để tôi ngày ngày hầu hạ ông sao?” Ông liền đến trường học ở cùng với những người bệnh nhiệt. Cùng sống, nhưng mỗi ngày ông đều không nói, mỗi ngày đều một mình đi chầm chậm, nhìn chầm chậm trong trường. Chầm chậm trèo lên chiếc giường mà ông kê ở góc tường để ngủ, giống như chờ chết mỗi ngày. Nhưng, ngày hôm nay, mặt trời sáng đến mức hoa cả mắt.

Đinh Trang chỗ nào cũng nở đầy hoa. Hoa tươi ngập đất ngập trời, tỏa hương ngập trời ngập đất. Trong biển hoa đó, mọi người đang đào bới, hoặc đang gánh vác, mỗi người bận đến mức chỉ thở mà chẳng nói gì, mặt đều rỏ mồ hôi, nở nụ cười, vội vội vàng vàng đến, rồi lại vội vội vàng vàng đi. Ông tôi đứng ở đầu thôn, nhìn thấy Lý Tam Nhân có bệnh nhiệt còn gánh hai cái làn trúc, dùng chăn đậy lên hai cái làn trúc đó, đồ bên trong lèn chặt đến mức làn trúc chỉ chực trĩu xuống đất. Mỗi lần Lý Tam Nhân đi về phía trước một bước, cả cái làn và đòn gánh đều kêu kẽo cà kẽo kẹt. Bệnh nhiệt của ông đã rất nặng rồi, không sống được bao lâu nữa, nhưng lúc này, ông gánh đôi quang gánh nặng trĩu đó đi đến, mặt tỏa hào quang, chờ khi đến trước mặt ông tôi, ông tôi vội vã bước lên trước đón: “Tam Nhân, ông gánh cái gì thế?”. Ông cũng chỉ cười không nói như những người khác. Chuyển đòn gánh sang vai kia trước mặt ông tôi, rồi đi qua người ông. Đi về phía nhà mình. Chính lúc này, đứa cháu nội năm, sáu tuổi nhà Lý Tam Nhân đuổi theo ông từ trong ruộng chạy ra, ôm cái bọc gì dùng quần áo bọc lại trong lòng, vừa chạy vừa gọi “Ông! Ông.” Chính lúc nó chạy đến trước mặt ông tôi, có một cây hoa nghênh xuân bò ra giữa đường ngáng chân làm nó ngã. Cái bọc trong lòng nó bị hất văng ra, một chuỗi tinh tinh tang tang vang lên liên tiếp. Ông tôi nhìn kĩ, sững lại vì kinh ngạc. Vui mừng quá đỗi, đồ văng ra từ cái bao đó hóa ra toàn là vàng thỏi và vàng miếng chói lọi, còn có những hạt vàng to mẫm như hạt lạc. Hóa ra trên mặt đất bình nguyên này nở đầy hoa, dưới mặt đất lại kết đầy vàng. Cháu của Lý Tam Nhân nhìn những hạt vàng khắp đất bắn ra từ tay nó, liền đứng khóc, ông tôi muốn đến đỡ nó dậy, nhưng ông tôi vừa đưa tay ra thì tỉnh lại.

Lý Tam Nhân gọi ông tỉnh dậy.

⚝ 4 ⚝

Lý Tam Nhân gọi ông tôi tỉnh dậy.

Ông dường như đang ngủ, lại dường như căn bản không hề ngủ, ông lơ mơ nhìn thấy Lý Tam Nhân nhè nhẹ đi đến, đứng một lát trước giường ông, rụt rè gọi một tiếng “Anh Thủy Dương.”

Gọi một tiếng thì tỉnh. Tỉnh rồi ông nhìn thấy bàn tay kéo đứa cháu nội nhà Lý Tam Nhân của ông vẫn còn duỗi ra bên ngoài chăn, nhìn thấy biển hoa mênh mông che trời trùm đất trên bình nguyên, mênh mông trong Đinh Trang và ở đầu thôn, trong đồng ruộng và trên cổ đạo Hoàng Hà, lấp lánh muôn hồng ngàn tía, và gạch vàng, ngói vàng, thỏi vàng, miếng vàng, hạt vàng kết dưới đất. Ông tôi không mở mắt ngay, ông lại một lần nữa nhìn thấy cảnh tượng trên đất là hoa, dưới đất là vàng. Ông trở mình khe khẽ trên giường, lúc muốn ôm chặt lấy cảnh này, thì lại một lần nữa nghe thấy tiếng “Anh Thủy Dương” của Lý Tam Nhân khe khẽ vang lên. Ông liền cười với ông ta, muốn nói người anh em Tam Nhân à, vừa rồi tôi còn mơ thấy anh. Nhưng khi lời đã lên tới miệng rồi, ông nhìn thấy mặt Lý Tam Nhân trắng nhợt, như có việc trời sắp sập.

Ông tôi vội vàng ngồi dậy: “Tam Nhân à, có việc gì thế?”

Lý Tam Nhân liền ảo não nói với cổ họng khàn khàn: “Mẹ kiếp, vô thiên vô pháp rồi, tên trộm này vô thiên vô pháp cái gì cũng dám lấy.”

Vội vã hỏi: “Lại mất cái gì?”

Ảo não nói: “Đêm qua tên trộm đó vẫn không trả lại đồ, hôm nay còn lấy tiếp đồ của tôi.”

Ông tôi hỏi: “Mất gì à?”

Vẫn ảo não: “Trộm đã lấy đi thứ nó không nên lấy nhất.”

Ông tôi liền lo lắng: “Rốt cuộc là mất cái gì?” Ông xuống giường mặc áo nói: “Tam Nhân à, khi còn làm Trưởng thôn, ông làm việc nói năng lanh lẹ, sao bây giờ lại nói năng vòng vo vậy.”

Lý Tam Nhân liền nhìn mặt ông tôi, do dự một hồi rồi nói: “Anh Thủy Dương, tôi nói thật với anh vậy, con dấu của Ủy ban thôn ở Đinh Trang vẫn luôn ở bên người tôi. Mười năm nay trong thôn không có Bí thư và Trưởng thôn, con dấu đó vẫn luôn ở bên người tôi, tôi còn có một chút tiền trong người, nhưng tối qua con dấu và tiền tôi vẫn còn chèn dưới gối khi đi ngủ, hôm nay tỉnh lại thì cả con dấu và tiền đều không còn nữa.”

Ông nói: “Mất tiền thì không sao, nhưng con dấu đó không thể mất.”

Ông nói: “Nói gì thì cũng phải tìm con dấu đó về, mười năm nay tôi chưa bao giờ để con dấu rời mình, nhưng sáng nay tỉnh dậy đã không còn thấy nó.”

Bầu trời trong suốt, ánh sáng từ cửa sổ và cửa chính chiếu vào, khiến căn phòng trở nên sáng rõ. Chú hai vẫn chưa từ bên ngoài trở về. Ông liền quét ánh mắt trên giường chú, trên mặt giăng một màn sương âm u, chờ khi nhìn thấy thân hình đã trở nên vừa gầy vừa nhỏ và vẻ mặt bất lực của Lý Tam Nhân, ông tôi liền hỏi: “Tổng cộng mất bao nhiêu tiền?”

Nhưng ông nói: “Mất tiền không sao, nhưng phải tìm lại con dấu đó.”

Ông tôi hỏi: “Rốt cuộc là mất bao nhiêu tiền?”

Ông ta vẫn nói như vậy: “Mất tiền không sao, nhưng phải tìm lại con dấu đó.”

Ông tôi liền nhìn thẳng vào Lý Tam Nhân, như nhìn một người mới gặp lần đầu, trước đây chưa từng gặp, chưa hề quen biết người này. Cuối cùng, ông tôi lại hỏi: “Tam Nhân, anh nói xem tìm thế nào.”

“Lục soát.” Lý Tam Nhân nói cứng rắn lạnh lùng: “Anh Thủy Dương, anh làm thầy giáo cả đời, lúc nào cũng dạy học sinh không được trộm cắp; nhưng bây giờ, chính anh đã triệu những người bệnh nhiệt lại một chỗ, kẻ trộm đã ăn trộm ngay dưới mũi anh.”

Ông liền ra khỏi phòng.

Trên đường chân trời phía đông đã xuất hiện một vùng ánh vàng kim, như một cánh đồng hoa nở rộ, che trời trùm đất, thửa này tiếp thửa khác, dải nọ tiếp dải kia. Hoa dồn lại một chỗ, chất thành một dãy núi hoa. Ánh sáng của vùng hoa rớt xuống trường học, trường học liền hòa tan trong vùng hoa đó. Trong khu lớp học hai tầng, những bệnh nhân bệnh nhiệt đều chưa tỉnh dậy. Ngày Đại hàn, dậy không ấm bằng cuộn trong chăn. Trong trường học, trên cành cây hình chữ Y của hai cây bào đồng đã có tiếng kêu của chim khách. Tiếng chim khách kêu chính là dấu hiệu báo tin mừng, chính là có tin mừng. Là ngôi trường này sẽ có tin mừng. Bệnh nhân bệnh nhiệt sẽ có tin mừng. Ông tôi đến dưới gốc cây gõ quả chuông treo trên cây. Gõ một hồi khẩn cấp. Ngày trước, tiếng chuông tập hợp học sinh là: “Keng keng keng! Keng keng keng!”, lên lớp là “Keng - keng keng! Keng - keng keng!”, tan học là “Keng keng - keng! Keng keng - keng!”.

Ông tôi đứng dưới quả chuông đó, lấy cái chày gõ chuông trong chẽ cây ra, “Keng keng keng! Keng keng keng!” gõ tiếng chuông tập hợp học sinh. Tiếng chuông tập hợp khẩn cấp.

Quả chuông và chày đánh chuông đó đã rất lâu không có người sử dụng, gỉ sét đỏ cả lên, vừa gõ, gỉ đỏ liền từ trên chày và chuông rơi xuống. Trường không còn học sinh nữa, chuông trở thành đồ trang trí. Còn có cái ống sắt dựng trên bệ xi măng phía đông ở giữa sân trường, quét sơn lên là trở thành cán cờ. Trước đây, theo quy định mỗi ngày lên lớp đều phải kéo cờ một lần. Nhưng bây giờ, chiếc cán cờ đó cũng trở thành đồ trang trí.

Dựng đó để trang trí.

Nhưng bây giờ, chuông lại kêu rồi, kêu “Keng keng keng! Keng keng keng!” vang dội cấp thiết như tiếng súng nổ trong trường.

Liền có người khoác áo bông, trèo lên cửa sổ ở tầng hai gào toáng: “Làm cái gì thế?”

Lý Tam Nhân liền giống như hồi ông làm cán bộ trước đây, xé cổ họng ra đáp với phía trên lầu: “Tập hợp! Tất cả xuống đây tập hợp!”

Lại hỏi: “Có phải bắt được trộm rồi không?”

Ông lại xé cổ ra gào tiếp: “Đến tập hợp thì sẽ biết trộm là ai.”

Người Đinh Trang, các bệnh nhân, đều từ trong nhà chui ra, có người dụi dụi mắt, có người vừa mặc áo vừa cài cúc, lục tà lục tục, từ trong nhà đi ra, đứng thành một đám ở giữa sân bóng và cây bào đồng. Trong khoảng giữa đó, có cả chú tôi và Linh Linh. Không ai nhìn thấy họ đi ra từ đâu. Họ đứng giữa đám người, áo quần tề chỉnh, trên mặt còn tỏa ra ánh sáng huy hoàng, như thể họ căn bản không phải là người bệnh. Họ đứng trong đám người, tách nhau ra, như thể họ căn bản chưa từng ngồi chung một chỗ với nhau. Mặt trời đã nhô lên khỏi đường chân trời phía đông. Thoắt cái đã nhô lên. Một ngày mới bắt đầu. Liền bắt đầu lục soát kẻ trộm.

Ông tôi nói: “Mọi người đều bệnh đến mức này, sống hôm nay còn chưa biết có ngày mai không, nhưng đến lúc này, các bạn vẫn còn ăn trộm, vẫn còn ăn trộm, tối qua lại trộm tiền của Lý Tam Nhân.”

Lý Tam Nhân đứng phía trước liền nói to xen vào: “Tiền mất không sao, nhưng hắn trộm con dấu của Ủy ban thôn Đinh Trang. Con dấu đó mười năm nay chưa hề rời khỏi người tôi, tối hôm qua đã bị kẻ trộm lấy đi rồi.”

“Không lục soát không được.” Ông tôi gào lớn hỏi: “Ai muốn ra đây cùng với Tam Nhân và tôi, lục soát từng gian phòng một?” Nói xong, ông liền để ánh mắt rơi trên đám người, còn chưa kịp quét ánh mắt đi một lượt, chú tôi đã hưng phấn chen ra, nói lớn: “Con đi lục. Đắc tội với ai thì con đắc tội, ai bảo hắn ăn trộm áo bông lụa của em dâu họ Linh Linh của con.”

Mặt Linh Linh liền đỏ như mặt trời.

Chú tôi liền từ đám người đi ra. Đứng như một anh hùng.

Chờ sau khi có hai người nữa đứng lên, cuộc lục soát từng gian từng gian phòng ở lầu trên lầu dưới bắt đầu.

Cuối cùng cũng tìm ra hai tên trộm.

Một tên trộm là Triệu Tú Cần. Chính là Triệu Tú Cần vẫn thường nấu cơm cho mọi người.

Triệu Tú Cần ngủ ở trong phòng lớp một ở tầng một. Ở góc tường phía trong lớp học. Ông tôi và Lý Tam Nhân dẫn theo người lục soát từng phòng từng phòng một ở dưới lầu, lục tung giường chiếu, còn mở cả túi bọc quần áo và hòm đựng quần áo của mỗi người. Khi đến trước giường của Triệu Tú Cần, chị không ở đó, trời chưa sáng đã đi nấu cơm rồi. Chị nấu cơm, rửa nồi, rửa bát, mọi việc đều làm một cách nhẫn nhục, thức khuya dậy sớm. Chưa bao giờ ca thán một câu. Nấu ăn vừa miệng mọi người. Nhưng khi lục soát thì chị không ở đó, chị đang ở nhà bếp nấu cơm sáng cho mọi người, ông tôi lật chăn của chị lên, Lý Tam Nhân động vào gối của chị, cảm thấy có gì nằng nặng. Như đúc chì. Rạch đường khâu của cái gối đó ra, liền nhìn thấy gạo trắng lóa nhét đầy trong gối.

Gạo trắng lóa đã bị những người bệnh Đinh Trang nhìn thấy.

Vẻ ngạc nhiên đông đặc trên mặt tất cả mọi người. Không ngờ rằng, chị nấu cơm cho mọi người, chính chị lại ăn trộm lương thực. Liền phái người đến nhà bếp gọi chị ra, lúc này, chú tôi liền ở trên lầu hai túm ra từ trong chăn một tên trộm nữa. Cũng không thể ngờ rằng, tên trộm này, lại là người cả đời chưa từng to tiếng với người khác, Triệu Đức Toàn. Lại có thể là người đã quá năm mươi Triệu Đức Toàn. Khi mọi người đều ra cửa tập hợp, Triệu Đức Toàn chưa ra tập hợp, ông ta nói mấy hôm nay trong người mệt mỏi lạ thường, e rằng không sống được bao lâu nữa, ngay cả đi lại cũng không có sức, liền ngủ trên giường không dậy. Lúc này, mấy căn phòng trên lầu đều đã lục soát xong, chỉ có giường của Triệu Đức Toàn là chưa lục soát. Triệu Đức Toàn nằm trên giường, ánh nắng từ cửa sổ chiếu trên mặt, khiến mặt ông ta bị nhuộm thành màu đỏ khô, như mặt của một cái thây khô bị chiếu dưới nắng. Mọi người đều biết, Triệu Đức Toàn là người không cần lục soát. Cả đời ông ta thật thà làm ruộng, lúc buôn bán thì không biết cân, cũng không tính được tiền trả lại, ngay cả tám năm, mười năm trước, Đinh Trang mua máu và bán máu như điên, ông ta bán bao nhiêu máu cũng chưa từng hỏi nên được bao nhiêu tiền. Lúc nào cũng là anh muốn đưa tôi bao nhiêu thì đưa bấy nhiêu, anh muốn lấy bao nhiêu máu thì lấy bấy nhiêu.

“Lấy bao nhiêu?” Bố tôi hỏi.

Ông ta liền nói: “Anh nhìn thấy khi nào mặt tôi vàng ra thì không lấy nữa.”

Bố tôi liền tìm cái túi đựng máu to nhất đưa cho ông ta, lấy đầy cái túi đó, mặt ông ta vàng rồi, trên trán còn lấm tấm mồ hôi, bố liền rút đầu kim ra. Khi đưa tiền cho ông ta, hình như lúc nào cũng đưa nhiều hơn hai đồng. Ông ta liền nhận lấy tiền, nhìn bố tôi nói: “Đinh Huy à, trong tất cả những người mua máu, chỉ có Đinh Huy anh là tốt với tôi.”

Chú tôi nào có thể ngờ rằng ông ta lại là người ăn trộm chiếc áo bông lụa mới của Linh Linh. Ai có thể ngờ rằng, ông ta lại là người ăn trộm áo bông của cô dâu mới nhà người khác. Ánh mặt trời từ cửa sổ tràn vào, mặt ông ta như cái thây khô phơi trong nắng. Trong đôi mắt như cá chết trào lên một tầng màu trắng. Trắng như cá chết. Khi những người bắt trộm đi qua trước mặt ông ta, nhìn những người trong thôn cũng có bệnh như ông ta nhưng vẫn đi đứng khỏe mạnh, trên mặt ông ta liền có ánh nhìn ngưỡng mộ. Là ánh nhìn ngưỡng mộ người khác vẫn còn sống khỏe. Vì ngưỡng mộ mà trong mắt có lệ chảy ra, có một tiếng thở dài đến mười dặm, hai mươi dặm, mọi người đều khuyên ông ta nghĩ thoáng ra một chút, còn nói đùa “sớm chết thì sớm siêu thoát” để làm ông ta nhẹ lòng, nhưng nào có thể ngờ, ông ta lại là một tên trộm, lại đi trộm chiếc áo bông lụa của cô dâu mới Linh Linh nhà người ta.

Tất cả đều đi qua giường ông ta. Đều chuẩn bị đến lục soát ở gian phòng kế tiếp. Đều ra đến cửa rồi, không biết vì sao chú tôi lại quay đầu nhìn ông ta. Không biết vì sao chú tôi lại nghi ngờ ông ta. Không biết vì sao chú tôi lại đột nhiên quay người lại, bước nhanh đến đầu giường của Triệu Đức Toàn, hất văng cái chăn dưới chân của Triệu Đức Toàn, rồi từ trong ổ chăn đó lấy ra một cái bọc vải, mở bọc ra, liền phát hiện chiếc áo bông lụa đỏ của Linh Linh trong đó.

Chiếc áo bông lụa đó sáng như ánh mặt trời mới mọc. Giống hệt như ánh mặt trời mới mọc.

Liền gọi Triệu Tú Cần từ dưới bếp ra.

Kéo Triệu Đức Toàn từ trên lầu xuống.

Đều họ Triệu. Thật mất mặt những người họ Triệu trong thiên hạ.

Sân trường lúc đó đã có vị ấm của mặt trời. Ánh nắng trải lên như ánh lửa chiếu vào. Trên đồng ruộng, hơi mát của ruộng đồng cũng tỏa khắp sân trường. Tiếng chim kêu trên đỉnh đầu như mưa rơi trong sân. Mấy chục người Đinh Trang, người có bệnh, như đã sớm biết Triệu Tú Cần là kẻ trộm, liền gọi chị ra khỏi bếp, không ai cảm thấy có gì có lỗi với chị. Chỉ cảm thấy chị có lỗi với người Đinh Trang. Cả đám người nhốn nháo, đứng hết dưới gốc cây bào đồng có treo quả chuông đó, có người đi gọi Triệu Tú Cần. Tưởng rằng chị sẽ cúi đầu bước ra khỏi bếp. Tưởng rằng chị sẽ đi đến trước mặt mọi người với vẻ mặt đầy xấu hổ, nhưng chị ngay một chút xấu hổ cũng không có, vừa đi vừa xắn tay áo lau mồ hôi, lau bột mì và nước trên tay, đĩnh đạc đến trước mặt thôn dân nhìn họ, như thể mọi người không nên gọi chị ra, trên mặt không có một tia kinh ngạc hay hổ thẹn nào, hiên ngang như đi trước quân thù.

Ông tôi đứng ở chính giữa phía trước cây bào đồng đó, nhìn gạo trong cái gối, rồi lại nhìn Triệu Tú Cần đang đứng trước mặt, ông tôi nói:

“Tú Cần, có phải chị lấy lương thực trong bếp không?”

Nhưng chị nói: “Không lấy, có chuyện gì thế?”

Ông tôi nói: “Nghe nói trước đây chị thích lấy trộm rau xanh trong ruộng, nhưng bây giờ đều là người sắp chết rồi, chị còn lấy gạo và mì của người sắp chết góp lại sao?” Vừa nói, ông vừa liếc chỗ gạo vứt trong chiếc gối đang vứt trên đất. Triệu Tú Cần cuối cùng cũng nhìn cái gối gạo trắng lóa đó, thoạt tiên kinh ngạc, sau đó đột nhiên lao đến, ôm lấy chỗ gạo trong cái gối đó vào lòng, như sợ con mình bị người khác lấy đi, ngồi xổm xuống trước mặt ông tôi, hai chân luân phiên đập liên tục xuống nền đất, vừa gào vừa khóc nói:

“Các người đã lục đồ của tôi… các người đã lục đồ của tôi… các người lòng lang dạ sói, lẳng lặng đi lục đồ của tôi.”

Chị vừa gào vừa khóc nói:

“Mấy người có bệnh các người, có bệnh nhiệt bệnh AIDS mà còn vô lương tâm, lẳng lặng đến giường tôi lục soát.” Nói: “Tôi làm sao phải hầu hạ các người? Hầu hạ các người không bằng về nhà hầu hạ Vương Bảo Sơn nhà tôi, hầu hạ người lớn và trẻ con nhà tôi. Mỗi sáng tôi đều phải dậy nấu cơm cho các người, các người đặt bát xuống là đi, sao tôi lại phải rửa nồi, rửa bát cho các người? Lại còn phải đến giếng xách nước nấu cơm đun nước cho cả đống người. Hơn nữa các người còn không biết xót nước mà tôi xách, rửa một cái bát mà dùng cả cái chậu to.” Chị gào lên: “Các người có bệnh, tôi cũng có bệnh; các người sắp chết, tôi cũng chẳng sống được quá năm nay. Đều là người sắp chết, sao tôi ngày nào cũng phải hầu hạ các người? Hầu hạ các người mỗi tháng tôi lấy một chút gạo thế này thì có làm sao? Nếu tôi không có bệnh ra ngoài nấu ăn cho người khác, họ ngoài trả tôi rất nhiều lương thực còn cho tôi mấy trăm đồng. Nhưng ở đây, tôi đã bao giờ hỏi tiền các người chưa? Tôi đã bao giờ hỏi các người một đồng chưa?” Chị lại gào lên nói: “Các người đều nói tôi nấu cơm ngon, thức ăn vừa miệng, các người nói xem tôi dựa vào cái gì mà cho các người ăn ngon miệng vậy? Dựa vào cái gì mà hầu hạ các người? Chẳng phải tôi chỉ lấy một bao gạo thôi sao?” Chị vừa nói vừa gào, vừa gào vừa nói, nói là khóc nhưng lại không có một giọt nước mắt, không phải khóc, mà giọng đầy oan ức. Nói xong, còn dùng tay quệt mắt và khuôn mặt không một giọt nước một cái, nhìn người Đinh Trang như lệ đã cạn khô rồi.

Ông tôi nói: “Nhà cô thiếu chỗ gạo này sao?”

Triệu Tú Cần trừng mắt nhìn vào mặt ông: “Nhà tôi không chỉ thiếu gạo, ngay cả một que củi, một cọng rơm cũng thiếu.”

Ông tôi nói: “Thiếu thì tôi cho chị.”

Chị liền nói: “Tôi cần của ông làm gì, cái tự kiếm được tôi còn chẳng cần, tôi cần của ông làm gì.”

Đến lượt ông tôi không biết nói gì. Không biết nói gì nữa. Người Đinh Trang ở đó, cũng đều câm lặng. Cảnh tượng là người Đinh Trang đều có lỗi với Triệu Tú Cần, chứ không phải là Triệu Tú Cần có lỗi với người Đinh Trang. Chính lúc này, chú tôi và mấy người đàn ông dẫn Triệu Đức Toàn từ trên lầu xuống.

Triệu Đức Toàn không có gan có thế như Triệu Tú Cần. Đàn ông không có gan có thế như phụ nữ. Mặt ông ta nhuốm màu vàng vọt yếu ớt, đi từ trên lầu xuống mà như sắp đi ra pháp trường, trên trán giăng rất nhiều mồ hôi. Ngày Đại hàn, trán lại giăng đầy mồ hôi. Đi bước nhỏ, chầm chậm bước, đi về phía trước mà như lui lại phía sau. Xuống lầu rồi, ông ta ngẩng đầu nhìn người cùng thôn ở giữa sân trường một lát, nói gì đó với chú tôi ở sau lưng, chú tôi cũng nói câu gì đó với ông ta, khi quay đầu lại, mặt ông ta biến sắc hết trận trắng đến trận vàng. Quả thực, bệnh của ông ta đã nặng lắm rồi, đã đến giai đoạn cuối của cuộc đời rồi, người gầy như một que củi khô, bộ quần áo bông trước đây còn vừa vặn với người bây giờ đã như một cái thùng, lúc lắc trên người ông ta phát ra cả tiếng kêu. Xương thành củi, da thành lá, ngay cả bước đi cũng khe khẽ bay bay. Như thể thứ đang bay đó không phải một con người, mà là một con quỷ. Ông ta đến trước mặt người Đinh Trang như thế. Đầu cúi gằm xuống trước mọi người, như những học sinh quay cóp bài của người khác bị bắt ngay tại trận mà ông tôi từng dạy. Ngày Đại hàn, trán ông ta tấm những giọt mồ hôi. Mặt biến sắc hết trận vàng đến trận trắng. Lúc này, tất cả mọi ánh mắt đều chuyển từ người Triệu Tú Cần lên người Triệu Đức Toàn, không ai có thể tin được ông ta lại là người lấy áo bông của Linh Linh.

Linh Linh cũng không dám tin rằng ông ta lấy trộm áo của mình, cô nhìn Triệu Đức Toàn, rồi lại nhìn chú hai tôi. Chú hai liền đưa chiếc áo bông lụa phát sáng trong tay cho Linh Linh. Chú hai nói: “Tìm thấy trong ổ chăn của ông ta.”

Rồi trả áo lại cho Linh Linh trước mặt Triệu Đức Toàn.

Triệu Đức Toàn liền chầm chậm ngồi xuống, cúi đầu xuống đất, giống như thứ truyền đi trước mặt ông không phải là một chiếc áo, mà là lóc đi một tầng da trên mặt ông. Thế là, mặt ông vàng lên. Vàng như sáp. Đôi mắt cá chết của ông nhìn trân trân vào đầu ngón chân mình, người co lại, như một con chó sợ hãi vì bị đánh đang co rúm lại.

Ông tôi nói: “Đức Toàn, anh lấy chiếc áo đó thật sao?”

Triệu Đức Toàn vẫn ngồi co không nói gì.

Ông tôi nói: “Rốt cuộc có phải anh lấy không?”

Triệu Đức Toàn vẫn khô héo ngồi co không đáp.

Ông tôi nói: “Nếu không phải anh lấy thì anh cũng phải nói chứ.”

Triệu Đức Toàn ngẩng đầu nhìn ông tôi, vẫn như chết khô trên đất không nói gì, lặng im như một miệng giếng khô.

Chú tôi nói: “Triệu Đức Toàn, chính tôi đã lục được cái áo trong ổ chăn của ông, ông nói xem tôi có đổ oan cho ông không?” Triệu Đức Toàn cúi đầu càng thấp, vẫn không nói gì. Ông tôi liền lạnh lùng nhìn chú một cái: “Con à, sao con lại nhiều lời như thế.” Chú liền im, im như một miệng giếng khô, đen và sâu hun hút. Mặt trời đã thoát khỏi đường chân trời, vừa vùng ra khỏi vùng ánh sáng sền sệt sánh vàng như nước canh đó đã nhảy vút lên cao mấy trượng, soi tỏ toàn bộ ngôi trường. Người Đinh Trang đứng trong ánh nắng đó, không ai nói gì, đều đang nhìn ông tôi, nhìn Triệu Đức Toàn, chờ sự việc này hạ màn và kết thúc. Ông tôi nói: “Anh Triệu Đức Toàn, con anh đều sắp kết hôn rồi, còn ăn trộm áo bông của cô dâu mới nhà người ta.” Sau đó, sau đó, lời vừa nói đến đây, mồ hôi trên trán Triệu Đức Toàn liền rơi xuống đất.

Ngày Đại hàn, mồ hôi lại rơi xuống đất.

Vẫn im lặng. Người Đinh Trang đều đang im lặng, trong sự im lặng này, Triệu Tú Cần bất ngờ ngồi dậy, ôm lấy bao gối gạo của chị đi về phía bếp.

Ông tôi nói: “Chị đi đâu?”

Chị quay đầu lại: “Nồi vẫn còn trên lửa. Cơm khê thì ăn thế nào?”

Lý Tam Nhân liền đuổi theo chị hỏi: “Tú Cần à, chị có lấy con dấu của Đinh Trang không?”

Triệu Tú Cần liền nói một cách bực bội: “Ông coi nó là vàng à.”

Lý Tam Nhân sững lại, nghĩ một lát, rồi ngồi xuống bên người Triệu Đức Toàn, hỏi một cách rất thân thiết rất nhẹ nhàng: “Người anh em Đức Toàn ơi, chúng ta đều là người đã quá năm mươi rồi, nếu anh lấy con dấu mà tôi để dưới gối thì anh hãy trả lại cho tôi.”

Triệu Đức Toàn liền lắc đầu với ông một cách rất thật thà.

Lại hỏi tiếp: “Có thật là không lấy không?”

Triệu Đức Toàn lại gật đầu một cái.

Lý Tam Nhân liền đứng dậy cực kì thất vọng, như thể những giọt mồ hôi hoang mang trên trán của Triệu Đức Toàn đã lây sang ông, trên trán ông cũng rịn ra một tầng mồ hôi, nhìn người trong thôn như cầu cứu, ông nói to: “Tiền mất rồi thì tôi không cần nữa, mọi người ai lấy con dấu của Ủy ban thôn thì trả lại cho tôi. Con dấu đó mấy chục năm nay đều không rời khỏi người tôi, khi ở nhà tôi đều khóa trong hòm, ra khỏi cửa tôi đều giấu trong lòng, hôm qua tôi vẫn chèn gối lên con dấu và tiền, nhưng sáng nay tỉnh dậy thì đã không thấy con dấu và tiền đâu nữa.”

Lý Tam Nhân gào to: “Tiền đó tôi không cần nữa, nhưng các người phải trả lại con dấu cho tôi.”

Rồi sự việc cũng qua đi.

Lặng lẽ qua đi.

Qua năm ba ngày, trong năm ba ngày đó, mọi người đều bình tĩnh ở trong trường, bình bình tĩnh tĩnh. Linh Linh đi về phía nhà vệ sinh của trường học. Nhà vệ sinh nam ở lầu đông, nhà vệ sinh nữ ở lầu tây. Linh Linh đi về phía tây, mặc chiếc áo bông lụa đỏ của cô, như một đốm lửa lướt đi về phía tây. Mặt trời đang ở chính nam, rất ấm, mọi người đều đang sưởi nắng dưới lầu. Cả đám người đang nằm sưởi nắng. Chịu đựng tháng ngày, chịu đựng số phận, chịu đựng bệnh nhiệt và số phận của mình. Lúc này, Triệu Đức Toàn liền nhìn thấy Linh Linh mặc chiếc áo bông đỏ lướt về phía tây, ông nhìn những người đang nằm gật gà sưởi nắng, rồi cũng đi về phía tây.

Ông đợi Linh Linh ở chỗ cách cửa nhà vệ sinh không xa.

Linh Linh đã ra khỏi nhà vệ sinh.

Họ nhìn lẫn nhau. Linh Linh nhìn Triệu Đức Toàn với vẻ rất coi thường, lúc sắp đi, Triệu Đức Toàn lại bước lên phía trước đón cô, ướm lời rất nhẹ: “Linh Linh à, cô có thể bán cho tôi chiếc áo bông lụa này không?”

Linh Linh liền nhìn ông với vẻ rất coi thường.

Ông liền giăng nụ cười trên mặt, nụ cười gầy guộc khô héo, nụ cười nhàn nhạt mỏng manh, nụ cười có chút đông cứng lại. “Không sợ cô cười,” rồi cười nói: “Tôi biết tôi không sống qua được mùa đông năm nay.” Không cười nữa, nói: “Nói cô đừng cười, khi tôi và thím cô kết hôn từng đồng ý làm cho bà ấy một chiếc áo bông lụa đỏ, nhưng bây giờ, con trai tôi đều sắp kết hôn rồi, tôi cũng sắp chết rồi, bà ấy vẫn nhớ rõ tôi còn nợ bà ấy một chiếc áo bông lụa đỏ.” Ông nói rằng: “Tôi sắp chết rồi, trước khi chết tôi muốn trả cho bà ấy một chiếc áo bông lụa đỏ.”

Linh Linh đứng lại một lát, không nói gì cả, rồi bước đi trước mặt Triệu Đức Toàn.

Ông liền đuổi theo nói: “Tôi đưa cô năm mươi đồng có được không?”

Linh Linh liền bước qua người ông.

“Tám mươi đồng có được không?”

Cô liền bước qua trước mặt ông.

“Một trăm đồng có được không?”

Linh Linh đi rất xa rồi mới quay đầu lại:

“Sao ông không đến thị trấn huyện Vy mà mua?”

⚝ 5 ⚝

Mọi việc cứ bình bình tĩnh tĩnh trôi đi. Bình bình đạm đạm trôi đi.

Cho dù mất chút gạo, mất chút tiền, mất con dấu, mất áo bông, tên trộm cần tìm cũng đã tìm ra rồi. Triệu Đức Toàn muốn trước khi chết trả cho vợ ông một chiếc áo bông lụa đỏ, khi lấy người ta đã hứa lời, nhưng bây giờ, con trai đều sắp thành gia thất và lập nghiệp cả rồi, lời hứa ấy vẫn chưa được hoàn thành. Người mắc bệnh nhiệt sắp chết rồi, vẫn còn nợ người ta một chiếc áo bông lụa. Trong chớp mắt, đã bước trên con đường trộm cắp. Triệu Tú Cần, nói để chị phục vụ không cho người khác thì chị thiệt, chị nên trộm chỗ lương thực đó. Thế là có thêm luật mới, để Triệu Đức Toàn trả áo cho Linh Linh, để Triệu Tú Cần và hai người phụ nữ khác cùng nấu cơm với chị, họ vẫn nấu cơm của họ, nhưng người khác thì mỗi tháng đều phải từ nhà đến đây đổi gạo, đổi mì, đổi ngô khoai, còn họ thì không cần đổi lương thực, nấu không ăn không là được. Sau đó quy định tất cả mọi người bệnh, nếu ai lại làm việc tắt mắt nữa, thì phải về nhà của mình, chết bệnh trên giường nhà mình.

Đều là người có thể sống hôm nay mà không biết ngày mai, không có gì để tính toán so đo nữa. Nhưng không tìm thấy con dấu của Ủy ban thôn, Lý Tam Nhân vẫn không cam tâm. Một mặt nói: “Không tìm nữa, không tìm nữa, dù sao Đinh Trang cũng không có Ủy ban thôn nữa.” Mặt khác, lúc thì lật tìm đầu giường của người này, lúc thì nhìn ngó vào túi quần áo của người kia, lại còn tìm một lượt tất cả các ổ chuột trên tầng hai, hận không thể lôi hết cứt chuột trong hang từng viên từng viên róc ra xem.

Cuối cùng vẫn không tìm thấy.

Không tìm thấy nên suốt ngày dằn vặt trong lòng, đang ngồi đâu đó đột nhiên thở dài một hơi. Thở hơi dài thườn thượt, như thể trong lòng có việc gì nuối tiếc như trời bể. Nhưng có một ngày, cả một ngày, ông không ngồi trên khoảnh đất có nắng ở dưới lầu, cũng không ngồi trong ánh nắng từ cửa sổ chiếu vào ở trên lầu nữa, mà chui vào trong chăn của ông. Nhưng buổi sáng ông đã chui vào trong chăn rồi, buổi trưa cũng chui vào trong chăn, sắp đến giờ cơm trưa, vẫn chui trong chăn. Ông tôi bảo chú tôi đi gọi ông dậy ăn cơm, chú liền gõ lên cái bát tráng men của chú, đi đến cửa lớp học mà Lý Tam Nhân ở gào toáng lên:

“Chú Tam Nhân, ăn cơm đi!”

Không thấy đáp lời, lại tiếp tục gào toáng:

“Cựu Trưởng thôn - ăn cơm thôi!”

Nhưng chú gọi mấy lần mà vẫn không thấy Lý Tam Nhân trả lời, liền đi đến trước giường ông, lấy tay đẩy đẩy ông, nhưng thấy như đẩy một cái trục đá bất động, liền hoang mang lật chăn của ông ra xem, cuối cùng nhìn thấy mặt Lý Tam Nhân đã sớm biến thành màu xanh rồi.

Màu rau xanh đen lại.

Lúc này, ông đã không còn trên thế gian này nữa.

Đã sớm qua đời rồi. Có lẽ là chết trước nửa đêm qua, cũng có thể là chết sau nửa đêm qua. Bên gối của ông, có một bãi máu mà ông đã nôn ra. Máu bẩn đen đen, như một bãi bùn đen bẩn. Đã đông thành băng đen ngòm. Triệu Đức Toàn bệnh nặng hơn ông mà vẫn còn sống, ông bệnh nhẹ hơn Triệu Đức Toàn nhưng đã qua đời rồi. Tuy nôn ra máu, nhưng mặt ông không bị vẹo vọ nhiều, cho thấy trước khi chết ông không phải chịu nỗi đau nào ghê gớm lắm, có lẽ chỉ là ho, ho ra máu rồi qua đời. Nhưng trên mặt trước khi chết dường như còn chút gì nuối tiếc. Mắt vẫn còn mở, miệng vẫn còn há, dường như muốn nói câu gì đó với ai mà chưa kịp nói ra lời, thì đi mất.

Chú tôi liền đứng ngây ra trước giường ông, mặt đờ đẫn nửa xanh nửa trắng, không phải sợ, mà trong lòng có chút lạnh lẽo. Cái lạnh khi nghĩ đến một ngày không xa chính mình cũng phải ra đi. Chiếc bát sứ trong tay chú đông cứng lại, đũa cũng đông cứng lại trong tay, chú đứng ngây một lát, rồi cẩn thận từng tí một thử đặt tay trước mũi của Lý Tam Nhân, cảm thấy có một luồng gió lạnh từ mũi ông lướt ra, cuối cùng chú cũng thẳng người dậy, đến cửa sổ mở cửa thò đầu ra ngoài, hét lên với mọi người đang ăn cơm ở lầu dưới:

“Này… Lý Tam Nhân qua đời rồi!”

Mọi người bên dưới ngẩng đầu lên: “Cậu nói gì?”

Chú tôi nói: “Lý Tam Nhân qua đời rồi, thân thể lạnh cả rồi.”

Mọi người đều sững sờ nhìn lẫn nhau, không vội đi về phía tây căn bếp, mà quay người về phòng học lầu hai trước. Năm, sáu người, đều nhìn Lý Tam Nhân, đều dùng tay thử thử trước mũi ông, trên mặt đều có màu xanh nhợt.

Ông tôi cũng đến, trên mặt cũng có màu xanh nhợt.

Ông tôi đặt nhẹ tay trước mũi Lý Tam Nhân, mặt ông tái đi, quay đầu lại nói:

“Ai đến nhà ông ấy báo một tiếng, bảo nhà họ chuẩn bị quan tài, áo liệm.”

Có người liền nhìn ông nói: “Ăn xong cơm rồi hãy đi thông báo, nếu không cơm nguội hết.”

Ông tôi nghĩ ngợi một lúc, kéo chăn lên che mặt cho Lý Tam Nhân, rồi dẫn mọi người đi xuống lầu ăn cơm. Lúc ăn, không ai nói việc Lý Tam Nhân chết trong chăn. Người biết rồi ăn cũng gần như trước, người không biết thì ăn vẫn nhiều như trước. Không có gió, mặt trời hơi chếch về phía tây gian bếp chiếu vào. Sân trường ấm và tĩnh, mọi người đều ngồi hoặc đứng trên đất, ăn bánh bao, ăn chảo rau to mà Triệu Tú Cần xào, uống bát canh ngô mà chị bỏ vào gia vị rất ngon, có người ngồi trên chiếc ghế băng từ trong lớp học chuyển ra, có người ngồi trên dép của mình, đều đang ăn hoặc đang húp soàn soạt, nói rất nhiều chuyện trong thôn, nói những chuyện cười đã từng kể hoặc những lời không thể cười.

Coi chuyện vừa xảy ra như có như không.

Giống như không có việc gì xảy ra.

Linh Linh và chú hai tôi ngồi ăn cơm với nhau. Linh Linh hỏi: “Có phải Cựu Trưởng thôn đã qua đời rồi không?”

Chú hai nhìn cô: “Qua cái gì, ông ấy nói ông ấy khó ở nên không muốn xuống ăn cơm.”

Linh Linh nói: “Ai lấy con dấu của ông ấy thì đưa cho ông ấy là xong, đừng để ông lúc nào cũng phải đeo đá trong lòng.”

Chú hai nói: “Em tìm thấy áo bông của em là được rồi, còn quản nhiều việc vậy làm gì.”

Rồi đều cúi đầu ăn cơm, ngẩng đầu nói chuyện. Ăn xong, ông tôi mới nói với Triệu Tú Cần và nói với mọi người: “Lý Tam Nhân, ông ấy không muốn ở trong trường học nữa, sau này đừng nấu cơm cho ông ấy.”

Mọi người đều sững sờ, như nghe hiểu được lời ông tôi, lại như nghe không hiểu, mọi người nhìn lẫn nhau, ai không hiểu cũng không đi hỏi, trong giây lát, sân ăn cơm tĩnh lặng đến mức chỉ có tiếng thở của mọi người. Rồi ngay cả tiếng thở cũng không có nữa. Gió thổi chiếc lông vũ trong phòng rơi xuống, ngay tiếng lông vũ bay cũng vang lên rõ rệt. Chính lúc này, Đinh Mồm Mép đang ngồi ở cửa nhà bếp hắng giọng một cái, nói tôi kể cho mọi người một truyện cười nhé.

Anh ta liền kể, trước đây có một người thông minh làm đầy tớ ở một huyện nha, việc gì với anh ta cũng dễ như trở bàn tay. Có một ngày, quan huyện muốn thử anh ta một chút, liền từ huyện nha đi ra ngoại thành, đột nhiên nhìn thấy có một cô gái từ vườn rau đi đến, quan huyện nói, ngươi đến nói với cô nương kia mấy câu, nếu như cô ấy để ngươi hôn vào miệng cô ấy, ta sẽ để ngươi giữ ấn quan huyện này trong ba năm. Nếu như cô ấy không để cho ngươi hôn vào miệng, ta đánh ngươi năm mươi trượng, có được không? Người thông minh nghĩ một lúc, rồi đi đến chỗ cô nương bên ruộng rau, nói với cô nương đó mấy câu, cô nương liền chủ động đưa miệng ra, để cho người thông minh hôn vào miệng.

Người thông minh liền quay lại làm quan huyện ba năm.

“Mọi người đoán xem người thông minh đã đến nói gì trước mặt cô nương đó?” Đinh Mồm Mép kể rồi lại hỏi người Đinh Trang, thấy mọi người đều không ăn nữa mà đang nghe truyện cười của mình, anh ta liền liếc mọi người, uống mấy ngụm canh to, để mọi người chờ anh ta một lúc, rồi mới nói người thông minh đến bên ruộng rau chặn cô nương lại nói, này, cô đi đường cô, sao cô lại vào trong vườn rau ăn trộm hẹ nhà tôi. Cô nương nói tôi đi thẳng một mạch, ai ăn trộm hẹ nhà anh? Người thông minh nói tôi thấy rõ cô lấy trộm hẹ cho vào miệng ăn, sao cô lại nói là không ăn trộm? Cô nương liền há miệng ra trước mặt người thông minh, nói tôi ăn sao? Anh đến đây nhìn miệng tôi xem? Người thông minh nói cô nuốt vào trong bụng rồi, tôi làm sao thấy được? Cô nương nói, chẳng lẽ tôi phải mổ bụng tôi ra cho anh xem? Người thông minh nói, không cần như vậy, rau hẹ nặng mùi, cô để tôi ngửi chút tôi sẽ biết.

Cô nương liền tiến đến há miệng ra, để cho người thông minh ngửi miệng.

Quan huyện đành phải giao ấn cho người thông minh để anh ta làm quan huyện ba năm. Đinh Mồm Mép nói, trong ba năm đó, người thông minh đã đưa bạn bè thân thích từ dưới quê, từ trong núi ra các bộ trong huyện nha trong thành, làm quan hoặc kinh doanh, tất cả đều sống tốt.

Mấy ngày trước Đinh Mồm Mép dọn vào trường học. Sau khi có bệnh nhiệt, anh ta nói với người nhà, anh phải hưởng cuộc sống thiên đường, liền vừa nói vừa cười bảo người nhà đưa anh vào trường học, từ đó trường học không ngớt tiếng cười, có truyện cười nghe không hết. Ông tôi nói Lý Tam Nhân không muốn ở trong trường nữa, ông ấy muốn về nhà, tất cả mọi người đều ngây ra. Sau khi nghe xong truyện cười của Đinh Mồm Mép, tất cả mọi người đều từ trong kinh ngạc định thần trở lại, cười ha ha.

Mỉm miệng cười. Ngẩng mặt lên trời cười. Còn có người cười lăn khỏi ghế băng đang ngồi, bát đang cầm rơi xuống đất, canh bắn cả vào người.

⚝ 6 ⚝

Sau khi Lý Tam Nhân chết ba ngày, hôm nhập liệm, vợ ông không khóc, đi hỏi ông tôi sao con quỷ Lý Tam Nhân đó chết ba ngày rồi mà vẫn chưa khép được miệng, chưa nhắm được mắt, rốt cuộc ông ấy có việc gì chưa buông bỏ được? Ông tôi liền đi xem Lý Tam Nhân, quả nhiên nhìn thấy ông nằm trong linh cữu, miệng há to, mắt cũng trừng lên còn to hơn lúc sống, mắt trắng như khăn tang treo trên mắt ông. Không nói gì, ông tôi nghĩ một lát, ông liền một mình rời khỏi Đinh Trang, không biết đi đâu, sau một hồi lâu, ông tôi trở về, tay ông cầm con dấu của Ủy ban thôn Đinh Trang. Con dấu tròn. Con dấu mới, còn có hộp mực in mà khi đóng dấu cần dùng. Để bù đắp cho những nuối tiếc khi Lý Tam Nhân còn sống, ông trở về tự tay đặt con dấu và hộp mực in vào trong quan tài của Lý Tam Nhân. Đặt con dấu vào trong tay phải ông, đặt hộp mực in trong tay trái. Sau đó ông tôi nói: “Tam Nhân à, tôi đã tìm được con dấu ở trường học cho ông rồi, không có ai ăn trộm, mà rơi ở khe đầu giường ông.” Sau đó ông tôi đặt tay lên mắt Lý Tam Nhân, khe khẽ vuốt, mắt Lý Tam Nhân liền khép lại, miệng đang há ra cũng ngậm xuống.

Mắt liền khép lại. Miệng cũng ngậm lại.

Nhắm mắt rồi, khép miệng rồi, tướng mạo lúc chết của Lý Tam Nhân cũng thay đổi. Tuy người có chút khô héo, nhưng gương mặt đã đậm vẻ an tường, vẻ an tường không còn gì nuối tiếc.

Lý Tam Nhân đã được an tường rồi.

« Lùi
Tiến »