Nhiệt độ không tăng quá nhiều khi trời dần đỡ lạnh. Đó là một loại thay đổi mà bạn không thực sự nhận ra, bởi lạnh là lạnh cho đến khi nó rơi hẳn xuống trạng thái đóng băng hoặc leo hẳn lên trạng thái man mát, cho nên liệu khoảng nhiệt độ thay đổi có thật sự quan trọng? Nhưng những con số thì khẳng định thời tiết đang ấm dần lên.
Mẹ giấu kín khuôn mặt mình sau lớp áo khoác cổ cao cho tới khi đôi mắt bà hé ra và bà thề rằng những con số báo nhiệt độ đang lừa phỉnh.
Còn tôi đã quen với tiết trời này, bởi vì những lần đi bộ, đi chơi cờ và một vài cuộc khám phá nữa với chiếc máy ảnh của tôi. Tôi vẫn mặc đủ dày để cảm thấy mình như một con búp bê matryoshka nhiều lớp, nhưng thật sự thời gian để đầu mũi tôi tê liệt đã dài hơn. Tôi chui gọn vào vòng tay mẹ, dựa vào mẹ để trao cho bà bất kỳ chút hơi ấm nào tôi có thể san sẻ.
“Hãy nhắc mẹ xem vì sao mẹ lại làm thế này?” Bà hỏi, giọng nghèn nghẹn vì quấn khăn quanh miệng.
“Bởi vì đó là ý tưởng của mẹ ạ?”
“Thế thì thật là ngu ngốc. Con biết rõ hơn, vậy tại sao con không ngăn mẹ lại?”
“Nếu con biết rõ hơn, tại sao con vẫn làm thế hẳn vài lần mỗi tuần?”
“Khá lắm. Chúng ta đều là những kẻ ngốc.” Bà nhảy tại chỗ trong khi chúng tôi đợi đèn tín hiệu sang đường, khiến người tôi cũng đu đưa theo bà. “Mẹ nhớ những thứ màu xanh - tình yêu của Priya.”
“Con đã bảo mẹ trồng một cái cây mà.”
“Nếu nó được làm từ vải hay nhựa, nó có phải cây đâu.” Bà nhìn xuống đôi găng tay nặng nề của mình và thở dài. “Mẹ cần cảm nhận vết bẩn dưới móng tay mình như trước.”
“Chúng ta sẽ mua nhiều hạt giống để trồng ở Pháp.” Tôi dừng lại suy nghĩ hồi lâu… “Sau khi kiểm tra và chắc chắn rằng chúng ta có thể mang theo hạt giống một cách hợp pháp ra nước ngoài.”
“Đó là một điều luật ngu xuẩn.”
“Mẹ à, đó là những sinh vật ngoại lai. Đó thật sự là vấn đề đấy.”
“Hoa trường thọ là vấn đề ư?”
“Hoa trường thọ luôn là vấn đề.”
Chúng tôi dừng ở chỗ mô đất nhô lên như một hòn đảo nhỏ phủ cỏ ngay giữa bãi đỗ xe. Túp lều nơi tôi chơi cờ vẫn ở đó, một phía bị cuốn lên và quất tung ra. Có lẽ người ta làm thế để ngăn lũ nhóc tuổi teen hay đôi mươi hứng tình không có không gian riêng tư ở đây. Những chiếc máy sưởi đã bị mang đi, cả máy phát điện nhỏ để cắm máy sưởi nữa. Đó là một chiều Chủ nhật, và không ai trong số những người cựu binh lưu lại.
“Con ngồi ngoài trời trong thời tiết này á?” Mẹ hỏi với vẻ kinh ngạc. “Con thậm chí còn không thích thay đồ.”
“Pajama cũng là quần áo ạ.”
“Để đi ra ngoài sao?”
“Ồ không, nhưng vấn đề không phải quần áo mà là con người.”
“Ôi cô con gái chống đối xã hội của tôi.”
“Con không chống đối xã hội; con chống đối sự ngu xuẩn.”
“Như nhau cả thôi.”
“Thế mẹ sống thế nào ở môi trường Nhân sự vậy?”
“Mẹ giỏi nói dối.”
Tôi không kể cho mẹ những câu chuyện ở chỗ chơi cờ bởi với sự tận tụy dành cho công việc của mẹ, chính xác là bà không có lấy một chút hứng thú với trò chơi. Tôi vẫn thông báo đầy đủ cho mẹ rằng tôi đi đâu lúc nào, và đó là phần mở rộng của chủ đề trò chuyện này.
Tôi đã kể cho mẹ nghe về Landon, vì ông ta cứ lẽo đẽo theo sau tôi vào Starbucks. Nhưng ít nhất là ông không theo tôi rời khỏi đó, đó là vấn đề. Tôi ngờ rằng mẹ đã kể cho Eddison về Landon, bởi tôi đã nhận được một tin nhắn hỏi rằng liệu xanh dương có thật sự là màu tôi yêu thích không hay tôi có chỉ đơn giản cảm thấy nó là đại diện, điều mà bình thường sẽ rất kỳ lạ, ngoại trừ việc Landon cứ đi theo màu xanh để đảm bảo tôi vẫn thuận tay phải. Tôi bảo anh rằng ánh nắng mặt trời màu vàng, không phải bởi nó vốn dĩ có màu vàng, mà bởi tôi thật sự muốn nhìn thấy anh cố gắng tìm một khẩu súng chích điện màu vàng sáng.
“Mẹ nghĩ là ngực mình sắp đóng băng tới nơi rồi.”
Tôi cười khúc khích, kéo mẹ đi xuống bãi cỏ và hướng thẳng về phía cửa hàng. “Đi nào mẹ. Chúng ta sẽ đi ăn.”
Sau bữa trưa, chúng tôi đi thẳng tới Kroger để lấy một vài thứ. Mẹ đang cân nhắc sẽ mang tới những món quà bất ngờ cho đám nhân viên chuyên bợ đỡ của mình. Chuyện này cũng ổn thôi nếu như nó không cần tới quá nhiều lò nướng, bát trộn, cốc đo lường và hộp thiếc.
Chavi và tôi luôn gần gũi với mẹ. Nhưng luôn có một ranh giới rõ ràng giữa mẹ và bạn bè, và nếu có tình huống nào chúng tôi lại gần ranh giới này, mẹ sẽ luôn quay về với vai trò là mẹ. Nhưng đối với những tình huống khác trong ranh giới, mẹ vẫn luôn là cả hai. Sau khi Chavi đi, hay có lẽ đúng hơn là sau khi bố rời đi, ranh giới này có chút thay đổi. Nó vẫn ở đó, rõ ràng và không thể mặc cả, nhưng dường như có nhiều không gian hơn nơi mẹ giống như một người bạn, một người chị và một kẻ chủ mưu. Tôi không nghĩ Vic tin tôi quá nửa khi tôi thề rằng mẹ chính là lý do lớn nhất khiến tôi gặp rắc rối ở trường. Ông thích nói rằng đó là do ảnh hưởng của mẹ, chứ không phải do bà ấy.
Tôi hiểu rõ hơn. Trong mười lần thì phải có ít nhất bảy lần, theo nghĩa đen, chính mẹ là người đã làm loạn lên ở trường. Tôi thường sẵn lòng để những lời sỉ nhục trôi tuột đi nhưng mẹ thì không, đặc biệt nếu lời lăng mạ đến từ các giáo viên.
Nhưng xét cho cùng, một trong những điều tôi thích nhất ở mẹ đó là…
“Hai quý cô đẹp như nụ cười của con!”
“Một người đàn ông phiền phức tới mức con nên đấm cho anh ta một phát!”
Bà không thỏa hiệp với mấy điều chết tiệt. Không chừa một ai, kể cả bà. Vấn đề không phải vì bà là đồ khốn, mặc dù bà có thể nếu bà nghĩ đó là cách phản ứng đúng đắn, vấn đề nằm ở sự trung thực.
Có lẽ mẹ là lý do lớn nhất khiến tôi có thể nói rằng mình vụn vỡ, cũng là lý do khiến tôi biết điều đó là bình thường.
Chúng tôi nhặt lấy bánh Oreo, đường, phô mai kem, bánh sô cô la, kem đặc và giấy nến, sau đó, khi quyết định rằng mọi thứ đã đủ, chúng tôi mua thêm một cái bát trộn mới mà không cảm thấy ngu ngốc khi không tìm lại cái bát chúng tôi đang có, rồi lại thỏa hiệp nuông chiều mình lần nữa và mua thêm một cái bát đựng bỏng ngô to đùng với những đường thẳng và chấm bi màu sắc được thiết kế bởi ai đó rõ ràng đang phê thuốc. Đó là cái bát xấu xí nhất mà chúng tôi từng mua, tính cả những chiếc bát gốm mà tôi tự làm trong thời gian đi cắm trại.
Việc đó khá hay ho.
Chúng tôi cũng mua thêm sữa, mặc dù chúng tôi sẽ hối hận sớm thôi khi bắt đầu đi bộ về nhà.
Mẹ phàn nàn suốt dọc đường, thêm cả những tiếng rên rỉ khiến tôi không thể ngừng cười rúc rích và biết bao thứ ngớ ngẩn được nói nữa. Tôi nghĩ lần đầu tiên tôi thấy mẹ như thế này là khi tôi lên tám, chúng tôi đang ở trong một nhà hàng và nghe một cô bé hơi lập dị đang than vãn không kiểm soát. Bố đưa ra một vài bình luận rằng bố mẹ của cô bé đó cần quản con mình cho tốt, mẹ thì cứ thế đi vào phố với những lời rên rỉ giả tạo, cho tới khi bố cuối cùng cũng đành bỏ cuộc và gọi một món đồ uống.
Cuộc hôn nhân của họ không phải lúc nào cũng suôn sẻ, nhưng ngay cả khi họ hòa hợp, cách họ hòa hợp vẫn luôn là một bí ẩn.
Hộp thư - bởi cả mẹ và tôi đều không muốn ra ngoài kiểm tra nó hôm qua - đã chứa đầy thư rác, nhưng trong đó có một phong bì lớn đựng giấy tờ gửi từ trường học ở Paris của tôi, cộng với một phong thư bình thường từ Inara. Tôi cất phong thư đó vào túi áo để đọc sau. Tôi không nhắc với mẹ về những lá thư, bởi có lẽ bà sẽ lại kể cho Eddison, điều này sẽ khiến anh cứ thế đâm đầu vào một hướng thất bại.
Khi anh nói rằng có hai cô Bướm sẵn sàng hủy hoại thế giới thay vì để chính mình bị hủy hoại, tôi đã thanh thản chấp nhận rằng Inara là một trong số họ.
“Priya, nhìn kìa.”
Mẹ và tôi đều nhanh chóng dừng lại và nhìn chăm chú về phía trước. Có một bó hoa trường thọ ở đó, gói trong giấy mỏng màu xanh lơ. Bó hoa gồm nhiều loại, một vài đóa thuần màu vàng, những đóa khác có nhụy vàng và cánh hoa trắng xòe ra như một chiếc quạt ở phía sau. Chúng được bó lại với nhau ở phần cuống bằng một đoạn ruy băng trắng được uốn cong, một miếng ruy băng trắng được buộc lỏng lẻo thành nơ nơi bó hoa xòe rộng ra. Trông có vẻ như bó hoa chỉ gồm sáu cành, nhưng lại có vô số đóa hoa nên nhìn khá to.
Đây không phải lần đầu tiên chúng tôi nhận được hoa trước cửa nhà. Sau khi Chavi mất, trước cửa nhà chúng tôi từng có rất nhiều hoa. Mọi người mang tới hoa và đồ ăn. Cứ như thể chúng tôi ăn hết chừng ấy đồ ăn trước khi chúng hỏng. Chúng tôi phải vứt đi hầu hết số hoa nhận được, vì ngay cả khi giữ lại chút xíu thì mùi hương của chúng quá nồng và đối chọi lẫn nhau, khiến chúng tôi khó thở. Thật ra là khó thở hơn. Vì vài tuần đầu sau sự ra đi của Chavi, ai nấy đều khó thở. Bầu không khí ngập hương hoa khiến mọi việc trở nên tệ hại hơn.
Dù sao thì đã gần một năm rồi. Lần cuối cùng chúng tôi bất ngờ nhận được hoa là ở Omaha, ai đó trong công ty mẹ tôi ở Omaha đã biết về sự việc của Chavi. Người đó đã nhanh chóng gửi hoa mà không nói với bất kỳ ai, ít nhất là với tôi hoặc mẹ: nhưng người duy nhất ở đây tôi kể cho nghe về việc của Chavi là Gunny, ông thì không có địa chỉ của tôi. Cho nên tôi không nghĩ người gửi là ông. Trước đó là… ở San Diego. Và cũng là những đóa hoa trường thọ.
“Mẹ, đợi đã.”
Bà ngừng lại trước khi đến gần những bông hoa, đôi lông mày nhướn lên khi tôi lôi điện thoại từ trong túi ra. “Con nghiêm túc đấy à?”
“Nó khiến con buồn cười.”
Bà nhảy lùi lại và hất túi sữa lên, ra hiệu cho tôi tiến về phía trước.
Túi đồ được đặt cẩn thận trên lối đi. Tôi bỏ một bên găng tay ra để có thể chụp vài tấm ảnh trước khi ngồi xổm xuống cạnh bó hoa. Có một tấm thiệp được cột lại giữa những cuống hoa. Gần như là một tấm thiệp; bởi trông nó không hơn gì một miếng bìa trắng nhỏ gần giống hình chữ nhật được cắt ra một cách cẩu thả. Tôi giật tấm thiệp bằng bên tay vẫn đeo găng. Trong thiệp chỉ viết Priya, bằng mực màu xanh dương nhạt. Chữ viết tay trông không quen nhưng khá ăn nhập với tấm thiệp như miếng bìa này và có những vệt lấp lánh mà tôi thường cho là được viết bởi loại bút rẻ tiền, mà bạn có thể mua một tá chỉ với ba xu và đinh ninh rằng bạn sẽ làm mất chứng hoặc chúng bị trộm mất.
Không có thẻ giao hàng. Bình thường, khi cửa tiệm giao hoa, sẽ có một tấm thiệp hoặc thẻ giao hàng với hướng dẫn chăm sóc. Đó là cách chúng tôi nhận diện người gửi ở Omaha.
Tôi chụp thêm vài tấm ảnh trong đó tôi giơ tấm thiệp trước bó hoa, sau đó nhặt bó hoa cùng túi đồ lên. Mẹ có vẻ vẫn bối rối cho tới khi chúng tôi vào bếp và tôi cho bà xem tấm thiệp.
Sau đó gương mặt bà vẫn không hề biến sắc, mọi suy nghĩ được giấu kín cho tới khi bà quyết định nghĩ gì về nó. “Vậy là hắn ta đang ở đây.”
“Có lẽ thế,” tôi lí nhí đáp. “Chúng ta từng nhận được hoa trường thọ rồi.”
“Đúng, ở San Diego,” bà nói, hơi nhướn một bên mày. “Mẹ chắc là con còn nhớ điều gì đã xảy ra ở San Diego.”
Tôi nhìn mẹ với vẻ căng thẳng.
Mẹ chỉ nhún vai. Bà cũng ghim lại những ghi chú cho công việc nhưng kể cả thế, bà cũng chỉ làm khi bị bắt buộc. Bà không chú tâm lắm đến những sự kiện trong cuộc sống cá nhân của mình.
“Chúng ta cũng nhận được hoa ở Boston,” tôi nhắc bà. “Ngay khi Chavi được kết nối với những vụ án khác, chúng ta đã sớm nhận được một đống hoa.”
“Vậy con nghĩ đó là một tên sát nhân kiểu hâm mộ cuồng nhiệt sao?”
“Con nghĩ là chúng ta phải thừa nhận khả năng này.”
Bà nhăn mặt nhìn những đóa hoa khi tôi ném chúng, cả bó, vào bồn rửa. “Chúng ta có kể cho Bộ ba Đặc vụ không?”
“Chúng ta đã có gì để kể cho họ sao?” Tôi trượt ngón cái dọc theo cạnh của chiếc điện thoại, cố gắng nghĩ cách thoát khỏi những lựa chọn này. Giống như khi chơi cờ, bạn không thể chỉ nghĩ về nước đi tiếp theo. Bạn phải nghĩ thêm ba, năm, thậm chí tám nước sau đó, và đặt quân cờ vào bối cảnh của cả trận đấu. “Chúng ta còn chưa biết nó có ý nghĩa gì cơ mà.”
“Có lẽ nào đó là Landon không?”
“Có thể chăng? Con đoán những đóa hoa trường thọ chỉ là sự trùng hợp.”
“Điều này sẽ mở rộng định nghĩa cho những đóa cúc, đúng chứ?”
“Mẹ à, con gái mẹ đã bị một tên giết người hàng loạt sát hại cách nhà chưa đầy một dặm đó.”
“Mẹ hiểu rồi,” bà thở dài. Bà bắt đầu cất những túi đồ tạp hóa và cho mình một cơ hội để suy nghĩ. Mẹ gần như không bao giờ thiếu lời để nói nhưng nếu có cơ hội cân nhắc mọi việc trước, bà sẽ luôn nắm lấy. “Kể cho Eddison đi,” bà lên tiếng khi mọi thứ đều đã được cất đi hoặc sắp xếp cẩn thận cạnh bếp để chúng tôi tiện sử dụng. “Bất kể đó là người theo dõi lén lút hay kẻ sát nhân, FBI cũng sẽ phải tham gia giải quyết. Nếu họ ở đây ngay từ đầu sẽ tốt hơn rất nhiều.”
Tôi dựa vào bà, gối đầu lên vai bà và chờ đợi.
“Nếu đó là hắn ta,” bà nói, “nếu hắn ta tìm ra con một lần nữa… điều đó khiến mọi việc chưa được giải quyết nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.”
“Thế điều gì khiến mẹ nghĩ bây giờ chúng ta đang kiểm soát mọi thứ?”
“Mẹ không nghĩ thế, nhưng nếu đó là hắn ta thì đây là cơ hội của chúng ta. Chúng ta có nhiều khả năng thành công hơn nếu các đặc vụ tham gia. Một phần,” mẹ tự sửa lời. “Mẹ khá chắc rằng họ không nhất thiết phải biết mọi thứ.”
Đó là vì ý tưởng của mẹ về việc giải quyết vụ án này là được nhìn thấy kẻ sát hại Chavi chết dưới chân bà. Ý tưởng của tôi thường là được nghe thấy câu Anh đã bị bắt, theo sau đó là lời trích dẫn luật Miranda (Luật cho phép bị cáo được giữ im lặng).
Thường là như thế.
Một nhận thức chắc chắn về những vụ án khác mà tôi không thể thoát ra được, một phần bởi những câu hỏi mà FBI đã đặt ra cho chúng tôi về Chavi và một phần bởi truyền thông cứ khăng khăng bắt chúng tôi phải biết về chúng. Trong một khoảng thời gian, chúng tôi không còn muốn biết thêm điều gì khác.
Sau đó, sự kiện ở San Diego xảy ra.
Tôi đã cho rằng chúng tôi có thể tiếp tục ngó lơ, nhưng tại thời điểm đó, sự kiện đó không chỉ ngu ngốc mà còn độc hại. Cho nên mẹ và tôi đã nghiên cứu cả những tên giết người khác, tỉ mỉ lọc ra điều gì là đúng từ những lý thuyết được đưa ra bởi những vị thám tử hay người hâm mộ trinh thám suốt ngày ngồi bàn giấy và tưởng tượng.
Không phải chúng tôi đang giấu diếm những gì mình học được từ các đặc vụ, chỉ là hơn thế. Họ luôn quá cẩn trọng trong những câu hỏi để không tiết lộ cho chúng tôi mức độ của những cái chết khác. Chúng tôi có trách nhiệm với cái chết của Chavi, nhưng thật dễ để cảm thấy bạn đang nắm giữ toàn bộ sợi dây kết nối các nạn nhân của một vụ giết người hàng loạt. Bạn cũng dễ cảm thấy tội lỗi sau khi chứng kiến thêm nhiều cái chết khác sau người thân của mình - chúng tôi đã nhận được những tấm thiệp chia buồn từ gia đình Zoraida Bourret, Mandi Perkins và Kiersten Knowles khi tin tức về vụ án của Chavi tràn lan trên truyền thông cả nước. Đó là khi bạn cảm thấy tội lỗi, vô lý nhưng vô cùng mãnh liệt, rằng Vì sao tôi không thể cung cấp thông tin để bắt được hắn ta? Cảm giác đó không phải kiểu Tôi đã làm gì để con gái/chị gái mình bị giết? mà là kiểu Tôi đã làm gì sai đến mức hắn ta vẫn chưa bị bắt?
Cảm giác tội lỗi không nhất thiết phải có lý, nó chỉ cứ thế xuất hiện.
Tôi luôn ghi nhớ tên các nạn nhân khác, nhưng không phải do cảm giác tội lỗi. Điều đó xuất phát từ nỗi buồn, thường thế, và cả sự giận dữ. Những đặc vụ đã cố gắng bảo vệ chúng tôi khỏi phải hứng chịu thêm nhiều vết thương thường có trong các vụ giết người hàng loạt, nhưng việc chúng tôi - những tâm hồn đã vỡ vụn - thường không thể cư xử theo cách mọi người kỳ vọng thì không phải lỗi của họ.
“Thế con định xử lý nó như thế nào?” Mẹ hỏi.
“Việc chúng là loài hoa gì không quan trọng; vấn đề là người gửi chúng biết chúng ta ở đâu.”
“Vậy là bây giờ con đang nói ra sự thật. Một cách mới mẻ để xử lý vấn đề.”
Chỉ có mẹ cân nhắc đến việc chia sẻ một phần thông tin là nói ra sự thật mà thôi.
Tôi gửi đi những tấm ảnh rõ nét nhất, với cả hoa và thiệp rồi nhắn cho Eddison: Chúng được đặt trước cửa khi chúng tôi đi xử lý mấy việc lặt vặt về.
Khi Eddison chưa thể nhắn lại ngay, cả mẹ và tôi đều đi thay đồ và trở lại bếp để bắt đầu ăn bánh Oreo. Khoảng một giờ sau, khi chúng tôi đã yên vị trên ghế và đợi chờ những điều đủ thú vị để tiến hành bước tiếp theo, nhạc chuông tôi dành riêng cho Eddison vang lên. Bad Reputation của Joan Jett, tôi cảm thấy nó rất phù hợp.
“Chào.”
“Đó là hoa trường thọ ư?” Anh hỏi với giọng hổn hển.
Tôi nhìn mẹ, rồi quyết định bật loa ngoài. “Vâng, đó là hoa trường thọ. Nhưng điều đó có quan trọng không?”
“Có lẽ.”
“Anh đang thở hổn hển.”
“Tôi vừa ra ngoài chạy bộ. Có ai từng gửi hoa trường thọ cho hai người chưa?”
Anh đã lấy lại giọng nói của một đặc vụ, cái kiểu cho phép anh đặt câu hỏi trước khi tôi cố gắng giải thích. Không phải lúc nào tôi cũng thích kiểu đó, nhưng tôi hiểu vì sao nó quan trọng.
“Ở San Diego và Boston.”
“Thế hai người có nhận được loài hoa khác ở San Diego không?”
Mẹ và tôi trao đổi một ánh nhìn. “Có. Nhưng tôi không thể nhớ chúng là loài nào.”
Đôi lông mày của mẹ hơi nhướn lên phía tóc mái, nhưng bà cũng không hề phản đối tôi. Tôi chưa từng nói dối Eddison một cách trắng trợn bao giờ và không nghĩ tôi lại thích nói dối.
“Cô từng viết về điều này cho Chavi chưa?”
“Rồi, nhưng tôi phải lục lại đống nhật ký cũ để tìm xem đó là loài hoa gì.”
“Làm ơn, khi nào có cơ hội, hãy tìm lại nhé. À thế chẳng nhẽ không có thiệp gửi hoa hay sao?”
“Chỉ có một tấm thiệp cẩu thả. Tôi đã để nguyên găng tay khi cầm nó,” tôi nói thêm.
“Tôi sẽ cử người từ văn phòng Denver qua lấy bó hoa, phòng trường hợp nào đó xảy ra. Cô vẫn chưa vứt chúng đi đấy chứ?”
“Chưa, chúng vẫn ở trong bồn rửa.”
“Trong bồn có nước không?”
Mẹ phá lên cười. “Làm ơn. Anh cứ làm như chúng tôi có rửa bát không bằng.”
Cuộc nói chuyện dừng trong chốc lát khiến tôi có suy nghĩ rằng Eddison đang cố quyết định xem liệu nên đáp lại câu nói vừa rồi của mẹ không. Cuối cùng anh cũng không trả lời, đó có lẽ là một lựa chọn đúng đắn. “Cô nghĩ mình cần bao lâu để tìm ra đúng cuốn nhật ký?”
“Tôi cũng không biết nữa. Chúng tôi có hàng thùng chứa đầy nhật ký và chúng không hề được sắp xếp theo quy luật nào cả.”
“Có lý do gì đặc biệt không?”
“Chavi và tôi thường đọc lại chúng nhiều lần nên khi để lại thì chúng tôi đã để linh tinh. Có những quyển mà chúng tôi thích giữ lại gần hơn những quyển khác. Bây giờ tôi vẫn giữ thói quen này.”
Chúa ban phước cho trái tim tội nghiệp của anh, tôi nghĩ tôi vừa bóp nát nó, nếu như đoạn im lặng quá dài này được coi là một dấu hiệu. Tôi đã thấy bàn làm việc của anh, của Mercedes và của Vic nữa, mấy thùng nhật ký có thể gần giống mớ hỗn độn mà Mercedes tạo ra. “Cố gắng tìm ra nó thật nhanh nhé,” cuối cùng anh cũng lên tiếng. “Nếu cô có thể gửi danh sách các loài hoa mà cô nhận được trước đây cho đặc vụ tôi cử đến thì thật tốt. Nếu không hãy gửi nó cho tôi sớm nhất có thể.”
“Anh có định nói cho chúng tôi điều đó có nghĩa là gì không?”
“Năm năm trước, cô nói cô không muốn biết về những vụ khác. Bây giờ điều này còn đúng chứ?”
Bàn tay mẹ nắm quanh cổ chân tôi và siết hơi chặt. Tôi cũng không bảo bà bỏ ra.
Tôi không chắc vì sao bây giờ tôi lại hơi lưỡng lự, trừ khi tôi đang lo lắng việc kể cho anh một chút thông tin có thể bị hiểu thành kể cho anh nghe tất cả, và có những việc anh thật sự không cần biết. Có những việc mẹ và tôi cần tự tìm ra, những kế hoạch chúng tôi cần lập và chúng tôi đã nghĩ mình cần thêm thời gian.
Chúng tôi từng kỳ vọng chuyện gì đó xảy ra - có lẽ cả hy vọng nữa - nhưng chúng tôi không hề kỳ vọng chuyện đó xảy ra sớm như thế này sau khi chúng tôi chuyển nhà.
“Để tôi nói chuyện với Vic,” Eddison lên tiếng khi tôi đã im lặng một lúc lâu. “Dù sao ông ấy cũng cần biết về những bước tiến mới. Cô hãy nghĩ về điều đó nhé và nói với tôi bất cứ khi nào cô sẵn sàng. Nếu cô quyết định cô muốn biết, chúng tôi sẽ đến nói chuyện trực tiếp. Nguyên tắc bất di bất dịch.”
“Tôi hiểu rồi,” tôi thì thầm, đóng vai cô gái nhỏ đang run sợ mà tôi nên đóng. Có lẽ là sẽ đóng, nếu tôi tinh ranh hơn chút xíu.
“Ngay sau khi có tên đặc vụ mà họ sẽ cử xuống, tôi sẽ nhắn cho hai người. Hãy yêu cầu họ cho xem thẻ công vụ. Và nhớ tìm cuốn nhật ký nhé.”
“Tôi đã nghĩ đó là một cậu bé ở San Diego,” tôi nói với anh và cảm thấy ghét vì giọng tôi bỗng dưng nhỏ lạ thường. “Tôi từng đi gia sư và cậu bé hơi quý tôi, chúng tôi đã nghĩ rằng cậu ta nửa đáng sợ, nửa ngọt ngào. Cậu ta nói rằng mình không làm chuyện đó, nhưng chúng tôi chẳng thể nghĩ ra ai khác và chuyện đó cũng dừng lại khi chúng tôi chuyển nhà. Chúng tôi không nghĩ nó quan trọng, có kết nối với những vụ khác hoặc…”
“Priya, tôi không hề buộc tội cô vì điều gì cả.” Giọng anh nhẹ đi và dịu dàng theo cái cách mà anh thề là anh không thể. “Cô không lý nào biết rằng nó có thể mang ý nghĩa nào đó. Nhưng tôi rất vui vì cô đã kể cho tôi nghe. Tôi cần gọi cho Vic và văn phòng ở Denver. Tôi sẽ nhắn cho cô tên người đặc vụ, được chứ? Tối nay tôi gọi lại cho cô nhé?”
“Vâng, được ạ.”
Cuộc gọi kết thúc và một lúc sau, tôi với mẹ vẫn cứ ngồi trên ghế, nhìn chăm chăm vào điện thoại. Trên màn hình ti-vi, Leonardo DiCaprio đang chết đuối. Sau đó mẹ lắc đầu, tóc bà rủ những lọn tết hời hợt ôm trọn lấy khuôn mặt bà. “Đã tới lúc quyết định rồi Priya, con yêu. Trong lúc đó, hãy lôi những chiếc thùng xuống và sắp xếp lại đống nhật ký. Họ sẽ cần ngày giao hàng, ít nhất là thế, nếu không họ sẽ chỉ hỏi xin lại bản sao của toàn bộ số nhật ký đó.”
“Mẹ nghĩ con nên làm gì bây giờ?”
Mẹ im lặng một lúc lâu. Sau đó bà đứng dậy khỏi ghế, kéo tôi đứng lên theo rồi ôm tôi thật chặt. Chúng tôi cứ thế lắc lư và thở đều. “Mẹ sẽ không bao giờ đưa ra quyết định hộ con. Con là con gái mẹ, mẹ sẽ luôn luôn lắng nghe và cho con lời khuyên nhưng mẹ không thể bảo con phải làm cái này cái kia. Không thể như vậy. Con có cuộc đời riêng và con phải đưa ra lựa chọn mà con có thể sống với nó.”
“Nhưng con nghĩ chúng ta cần biết chính xác điều đó là gì trước khi đưa ra quyết định. Có quá nhiều thứ mà những đóa hoa này có thể tượng trưng cho.”
“Vậy chúng ta sẽ chờ.” Bà hôn lên má tôi và thì thầm vào tai tôi. “Chúng ta sẽ thu thập mọi thông tin mà chúng ta có thể, sau đó sẽ đưa ra quyết định.”
Có rất nhiều loại người tọc mạch, nhưng việc tôi có vẻ hy vọng đó là một kẻ giết người khiến tôi phiền lòng theo một cách mà tôi thậm chí không thể gọi tên.
Anh có thể cảm thấy ánh mắt Vic đang nhìn chằm chằm vào mình, nặng nề, nghi ngại, suy tư và hơi buồn cười. Bất kể sự việc có tang thương thế nào, Vic dường như luôn thấy bộ dạng đi đi lại lại của Eddison rất khôi hài.
Nhưng Vic chưa từng nhận ra chính ông hoàn toàn bất động khi nhận được một thông tin quan trọng nào đó, hoặc gần như thế. Vic bất động, còn Eddison đi đi lại lại.
Ramirez điên cuồng gõ bút xuống bàn, tiếng gõ như giáng thẳng vào bộ não đang căng thẳng của anh.
Khi tới gần bức tường, anh xoay người khá mạnh, nhìn thấy Ramirez đang rón rén và thận trọng đặt bút xuống bên cạnh tập tài liệu của mình. Sau đó, anh sẽ cảm thấy tồi tệ về những biểu cảm chắc hẳn đang hiện hữu trên mặt anh. Có thể anh sẽ xin lỗi cô. Nhưng bây giờ, anh cảm thấy biết ơn vô cùng vì rốt cuộc âm thanh đó cũng dừng lại.
Họ tập trung ở phòng họp lớn, cùng đợi thông tin từ văn phòng Denver. Eddison vẫn mặc chiếc áo thun đẫm mồ hôi và quần thể thao, còn chiếc áo khoác gió thì anh vắt lên sau ghế. Vic mặc quần jean, hôm nay ông mặc thường phục, nhưng cũng đã kịp thay chiếc áo flannel bị vấy sơn bằng chiếc áo polo sạch sẽ trong vòng vài phút trước khi tới văn phòng. Còn Ramirez…
Chết tiệt, anh thật sự sẽ cảm thấy vô cùng có lỗi với cô, bởi rõ ràng hôm nay cô đã đi hẹn hò, mặc dù khi Vic gọi cô thì đã là giữa chiều. Chắc chắn cô đã uốn tóc, bởi anh có thể thấy những lọn sóng tóc tự nhiên tương phản với những lọn tóc được xoắn gọn gàng, cô đang mặc một chiếc váy và đi đôi giày gót nhọn mà cô không bao giờ diện tới công sở kể cả khi cô chỉ loanh quanh với công việc giấy tờ và nghe điện thoại mỗi ngày. Thế nhưng cô chưa hề lên tiếng phàn nàn, cũng chưa từng nhắc một lời đến việc cô phải bỏ rơi bạn trai mình giữa buổi hẹn chỉ vì phản ứng thái quá của Eddison.
Làm ơn hãy để anh phản ứng thái quá.
Bảng điều khiển điện thoại ở giữa bàn kêu ré lên và Vic nhoài người ra để ấn vào nút loa ngoài. “Văn phòng Hanoverian xin nghe.”
“Vic, tôi là Finney đây. Họ đều ổn. Chỉ dao động một chút, có thể họ hơi say nếu tôi đoán đúng, nhưng nhìn chung vẫn ổn.”
Cả ba người cùng thở hắt ra. Đương nhiên họ vẫn ổn. Đó chưa hẳn là một mối đe dọa, chỉ là một khả năng.
Cũng chẳng có gì ngạc nhiên rằng sau khi có thời gian để nghĩ về sự kiện đó, một hoặc cả hai người phụ nữ nhà Sravasti này có khả năng say rượu thật.
“Thế trông tấm thiệp như thế nào?” Vic hỏi sau một thoáng. Ông quen biết Finney, thật ra họ đã từng là cộng sự. Eddison không hề nhận ra điều đó, nhưng ngay sau khi những người phụ nữ nhà Sravasti biết họ sẽ chuyển nhà tới Huntington, Vic đã tóm tắt cho Takashi Finnegan về vụ án, để có ai đó đủ gần khi họ cần giúp đỡ trong trường hợp mọi việc tồi tệ hơn.
Nhưng rõ ràng là không ai trong số họ mong muốn mọi việc trở nên tồi tệ.
“Tấm thiệp được in rõ ràng. Giống như mặt bên ngoài của giấy ăn,” đặc vụ kia báo cáo. “Bây giờ chúng tôi đang gửi nó tới phòng thí nghiệm, họ sẽ mở nó ra và kiểm tra thêm. Thật không may, những đóa hoa có thể đến từ bất cứ nơi nào: tiệm hoa, tiệm tạp hóa, nhà vườn tư nhân, một thành phố khác, anh biết đấy. Hãy kiểm tra email vì tôi đã gửi anh một bức ảnh chụp những cuốn nhật ký của cô gái ấy.”
Ramirez nhoài người để quay chiếc laptop của cô về phía Vic cho ông đăng nhập. Eddison chạy vòng qua bàn để dựa vào. “Chết tiệt, cô ấy không hề nói đùa,” anh lẩm bẩm khi vừa thấy bức ảnh hiện lên.
Anh chắc chắn trong đời mình anh chưa từng thấy nhiều chồng sách tập trung lại một chỗ như thế bao giờ.
“Đó mới chỉ là của cô em thôi đấy,” Finney nói, thậm chí Vic còn hơi nghẹn vì choáng ngợp trước đống sổ. “Còn chồng sổ của cô chị đã được họ xếp gọn gàng bên cạnh.”
“Thế là anh cũng không có danh mục các loại hoa khác mà cô ấy đã nhận được,” Vic đoán.
“Không, nhưng cô ấy đang sắp xếp lại đống nhật ký theo thứ tự. Tôi cũng không chắc họ làm thế nào. Các cuốn nhật ký trông có vẻ khác nhau và tôi không thấy có nhãn dán nào. Cũng chẳng có ngày tháng, ngoại trừ ngày đầu tiên của mỗi năm.”
“Không phải mỗi cuốn sao?”
“Mỗi năm.”
“Chúng ta có thể lắp camera trước cửa chính nhà họ không?” Ramirez hỏi. Những ngón tay của cô chạm vào chiếc bút, nhưng sau đó cô quay sang nhìn Eddison và đặt tay lên laptop.
“Bà Sravasti sẽ thử yêu cầu xem sao. Vì căn nhà họ đang ở thuộc sở hữu của công ty và bà ấy chỉ được ở tạm thời thôi nên cần xin phép để sửa sang bất cứ cái gì. Nhân tiện, nhà họ đã có sẵn hệ thống báo động cửa sổ và cửa ra vào, họ đang bắt đầu sử dụng nó.”
“Bắt đầu ư?” Vic nhắc lại với một cái cau mày.
“Đó là một vùng có tỉ lệ tội phạm thấp; người dân hầu như đều cảm thấy chỉ cần khóa cửa là đủ an toàn. Một trong những đặc vụ của tôi tới từ Huntington; tôi sẽ bảo anh ta liên hệ với nhà Sravasti và dõi theo họ. Nếu họ đồng ý sử dụng camera, anh ta có thể giúp lắp đặt.”
Vic hắng giọng. “Hãy cẩn thận với cách anh đưa ra lời đề nghị cho Deshani.”
“Thật ra tôi đã nói với họ rồi,” Finney cười khúc khích. “Archer đã làm việc như một chi nhánh trong suốt thời đại học; anh ấy có thể lắp đặt mọi thứ trước khi hầu hết mọi người kịp đọc xong phần hướng dẫn. Chính anh kể với tôi rằng nhà Sravasti đã trải qua một giai đoạn khó khăn vô cùng và giờ vẫn đứng vững. Tôi sẽ không cho rằng khả năng chống chọi của họ là thấp đâu.” Qua điện thoại, những đặc vụ Quantico có thể nghe rõ tiếng gõ phím và tiếng báo hiệu thêm email trên máy tính. “Lần sau tới chơi cờ, Priya sẽ cố gắng chụp ảnh người đàn ông đã bám theo cô. Chúng tôi sẽ xử lý ngay khi cô ấy gửi cho chúng tôi bức ảnh. Hy vọng chúng tôi sẽ tra được họ và một chút lai lịch của ông ta.”
“Để xem liệu ông ta có từng ở đâu đó gần San Diego không à?” Vic hỏi một cách vô cảm, và Finney vừa thở vừa cười.
“Chính xác. Những phụ nữ này có cái đầu lạnh; tôi thật sự cảm thấy ấn tượng đấy.”
Vic cười và lắc đầu. “Họ sẽ không gây sự nhưng họ sẽ chơi đến cùng nếu chúng còn tiếp tục gây sự với họ.”
“Deshani có lẽ sẽ gây sự trước đấy,” Eddison và Ramirez đồng thanh sửa lại.
Sự tức giận của người đồng nghiệp đã bị dập tắt bởi một tràng cười nữa từ loa. “Anh biết đấy, tôi có ấn tượng như thế. Một phụ nữ đáng sợ, và bà ấy biết điều đó.”
Eddison đưa tay xoa xoa mặt, cuối cùng anh thả mình xuống một chiếc ghế. Da anh ngứa ngáy, mồ hôi sau khi chạy khô lại thành muối và đọng thành những vệt bẩn.
“Còn một điều nữa mà anh cần chú ý,” Finney nói một cách nghiêm túc.
Vic càu nhàu: “Đằng sau câu nói này chắc chắn chẳng phải điều gì tốt.”
“Đương nhiên là không; đó là lý do mà tôi phải cảnh báo trước.” Đầu dây bên kia truyền đến tiếng lục cục và âm thanh giấy tờ đang bị xáo trộn.
“Vào thẳng vấn đề đi, Finney.”
“Tôi có thể nhập cuộc ngay lập tức vì hôm nay là Chủ nhật và tôi không phải hỏi xin phép ai cả, nhưng có thể tôi sẽ gặp rắc rối lớn vì chuyện này, và chúng ta sẽ có một vài chướng ngại đấy.”
“Tại sao?”
“Tôi đã kể chuyện vài tháng trước chúng tôi có sếp mới chưa?”
“Đó là…”
“Martha Ward.”
“Chết tiệt.”
Cả Eddison và Ramirez đều nhìn chằm chằm vào sếp của mình. Rất hiếm khi họ thấy Vic chửi thề, thậm chí trong lúc làm việc; ông hầu như không chửi thề từ khi những cô con gái của ông đủ lớn để không nhắc lại những từ ngữ thú vị đó một cách ngây thơ.
“Thôi được,” Vic thở dài. “Tôi sẽ nói chuyện với sếp của anh, để xem liệu chúng tôi có thể tác động gì tới việc này không.”
“Anh nghĩ việc này có ích gì không?”
Vic hơi do dự.
“Tôi sẽ cập nhật tình hình cho anh,” Finney nói. “Chúc may mắn nhé.”
Cuộc gọi kết thúc, sau đó ba người bọn họ cứ ngồi như vậy trong sự im lặng lạ lùng. Cuối cùng, Raimrez nhặt cây bút của mình lên và làm động tác gì đó phức tạp tới nỗi mái tóc của cô được quấn chặt lại và ghim gọn gàng ra sau gáy, chiếc nắp bút thì chồi ra như một chi tiết trang trí. “Martha Ward?” Cô thận trọng hỏi lại.
Vic gật đầu xác nhận.
“Thế… tại sao cô ta lại là một chướng ngại? Ý tôi là, tiếng tăm của cô ta cho thấy cô ta khá giống một nhân vật phản diện.”
“Một kẻ khó ưa thì đúng hơn,” Vic sửa lại. “Martha Ward chính xác là một kẻ khó ưa, cô ta luôn coi việc thu thập thông tin về người khác thiêng liêng như một thứ tôn giáo và luôn chối từ mọi sự khác biệt. Đối với cô ta, khuôn mẫu là tối thượng.”
Eddison chính là người kết nối các dữ kiện lại với nhau, giờ đây anh đang lẩm bẩm chửi thề cho tới khi Ramirez ném chiếc bút dạ vào người anh. “Kẻ sát nhân mà chúng ta đang theo đuổi chưa từng gửi hoa cho cô gái nào trước khi hắn ra tay; vì thế việc Priya nhận được hoa là một điều khác biệt so với khuôn mẫu. Ward sẽ không dễ bị thuyết phục rằng việc đó là do kẻ sát nhân làm.”
Vic lại gật đầu, tỏ rõ vẻ lo lắng. “Mười bốn năm trước, Finney và tôi đang theo đuổi vụ án về những đứa trẻ mất tích ở Minnesota. Chúng ở các độ tuổi khác nhau, có cả nam và nữ, nhưng đều có điểm chung là tóc nâu, mắt nâu và da trắng. Chỉ có ba đứa trẻ được tìm thấy.”
“Trong tình trạng tử vong?”
“Được quấn trong nhựa cứng, sau đó là những lớp chăn, và chôn một nửa. Chúng đều được đặt nằm nghiêng, giống như đang ngủ, với thú bông trong lòng.”
“Ông cảm thấy tội lỗi ư?” Ramirez hỏi.
“Đó chính là những gì chúng tôi cảm thấy. Giả thuyết đầu tiên của chúng tôi, bởi tất cả những đứa trẻ mất tích trông giống nhau và hiển nhiên đều bị bắt trong một thời gian, kẻ bắt cóc mà chúng tôi truy lùng đang cố gắng tạo ra một gia đình. Hồ sơ thu thập được cho thấy số lượng bé gái bị bắt cóc nhiều hơn, nhưng chưa đủ để khẳng định điều gì.”
“Khi ấy Ward khăng khăng dựa vào sự phân biệt về giới tính ư?”
“Không hẳn, khi ấy cô ta đang theo một vụ khác trong cùng khu vực. Những quý cô tầm ba mươi tuổi liên tục mất tích, mỗi người một thời điểm, và được tìm thấy trong tình trạng tử vong, được chôn trong hoặc gần những công trình xây dựng.”
“Hai vụ trên có liên quan đến nhau, đúng chứ? Chúng ắt hẳn phải có liên quan.”
Sau tất cả những gì đã xảy đến trong đời, Ramirez vẫn là một người lạc quan. Eddison thì không. “Ward sẽ không bao giờ điều tra khả năng này,” anh đoán, khá tự tin về phán đoán của mình. “Và các anh đã phải ‘tiền trảm hậu tấu’ à?”
“Chúng tôi không có lựa chọn nào khác,” Vic lại buông mình xuống chiếc ghế êm ái, cau mày hồi tưởng. “Cô ta cứ khăng khăng rằng hai vụ án này không có mối liên hệ nào với nhau. Đối tượng của chúng tôi chắc chắn là phụ nữ, còn đối tượng cô ta cần truy lùng chắc chắn là đàn ông; vì nạn nhân trong vụ của chúng tôi là trẻ con, còn vụ của cô ta là phụ nữ trưởng thành và vì sự khác biệt hoàn toàn trong nguyên nhân tử vong cùng những bằng chứng khám nghiệm tử thi.”
“Những đứa trẻ bị giết là ngẫu nhiên, nhưng hắn ta đang thử nghiệm trên những người phụ nữ, đúng không? Hắn đang cố gắng tìm ra người mẹ hoàn hảo cho gia đình hoàn hảo của mình.” Ramirez thở dài sau cái gật đầu xác nhận của Vic. “Vậy nên cách tốt nhất để tìm ra tên sát nhân là điều tra những điểm chung từ cả hai vụ.”
“Trong khi chúng tôi tranh cãi với Ward về hướng điều tra, đã có thêm một phụ nữ được phát hiện tử vong, một người khác trình báo mất tích. Hai đứa trẻ đã bị bắt cóc, một đứa trẻ khác đã được tìm thấy. Finney và tôi phải đệ trình vượt cấp và nhận được sự chấp thuận của cấp trên để tham gia vào vụ của Ward rồi phá giải được nó. Điều mà chúng tôi không ngờ tới là sếp của sếp chúng tôi lại thân thiết với Ward. Khi cô ta được chuyển sang làm các nhiệm vụ trong văn phòng và tạm ngưng điều tra, anh ta đã thăng chức cho cô ả. Finney sau đó bị chuyển về Denver; ba ngày sau đó, Eddison tốt nghiệp học viện với quân hàm trên vai và tên tôi trong đống giấy tờ của cậu ấy.”
Eddison không cho phép Vic thỏa mãn khi thấy mặt mình đỏ lên vì ngượng. “Thế ý ông là tôi chính là hình phạt?”
“Không hề; cậu đã được phân công về với chúng tôi từ trước. Việc Finney bị thuyên chuyển mới là hình phạt. Ward, nhờ sự khôn khéo về chính trị cùng những mối quan hệ của mình, mà liên tục được thăng chức, nhưng nếu cô ta có thể biến cuộc sống của chúng ta thành địa ngục, cô ta sẽ làm ngay. Thật xui cho Finney khi cô ta lại quản lý trực tiếp khu vực anh ấy công tác.”
“Thế nên cô ta sẽ trừng phạt Priya vì đã gây khó khăn cho cô ta à?”
“Đúng ra thì cô ta sẽ chẳng mảy may quan tâm tới Priya; Ward luôn rộng lượng với những kẻ yếu đuối.”
Ramirez nghiêng đầu. “Ward đối đầu với Deshani: ai sẽ chiến thắng đây?”
Vic nháy mắt, nghĩ về giả thiết này, sau đó nhún vai.
Eddison không muốn thấy bất cứ điều gì khiến Victor Hanoverian phải khúm núm như thế này.
Chồng tài liệu nhiều màu ở trên bàn cạnh máy tính của Ramirez đã sẵn sàng để được nghiên cứu theo một hướng mới. Bên cạnh nó, một tập chứa còn trống đang nằm đợi. Sớm thôi, sẽ có một cái tên được dán lên đó, có lẽ Vic sẽ là người viết, bởi Ramirez quá đỗi xinh đẹp để làm cái việc đau lòng này và Eddison cần thời gian để giải mã.
PRIYA SRAVASTI.
Anh tự hỏi liệu có phải ngẫu nhiên mà tệp tài liệu kia lại có màu xanh hay không.
Không tệp nào trong đống tài liệu kia có màu đỏ, riêng tập tài liệu của Chavi màu vàng tươi, điều đó khiến anh nghĩ về súng trường Taser và không biết liệu Priya có đang trêu đùa anh về màu sắc không. Anh ấn mạnh hõm tay lên mắt như thể áp lực đó có thể dừng mọi suy nghĩ của anh. Thậm chí chỉ trong một nhịp thở thôi cũng tốt rồi, bởi anh đã chạy xong cách đây vài giờ mà vẫn còn cảm thấy hổn hển.
Khi bỏ tay ra và ngước lên, anh thấy Vic đang chăm chú nhìn mình. “Chúng ta sẽ đảm bảo lịch làm việc của anh được linh hoạt.”
“Làm sao tôi có thể thông báo với cô ấy rằng những người chịu trách nhiệm bảo vệ cô ấy đang bị ngăn cản bởi những yếu tố chính trị?”
“Cứ nói như thế đi, tôi đoán vậy.”
“Cô ấy sẽ điên lên mất.”
“Tốt. Nếu cô ấy và Deshani đủ tức giận, có lẽ họ sẽ đẩy vụ án cho sếp của Ward.”
Anh vẫn còn nhớ lần đầu tiên gặp Priya, cảm giác nhẹ nhõm trước cơn thịnh nộ của cô, điều đó có nghĩa là cô ấy gần như đã khóc, bởi anh không thể chịu nổi việc làm cho các cô gái phải khóc trong lần đầu tiên gặp nhau nếu người đó không phải Faith. Nhưng đã năm năm kể từ ngày đầu họ gặp nhau và trong khi cô Priya bừng bừng tức giận đang tập trung nhìn mọi việc một cách vui vẻ, anh không hề muốn cơn thịnh nộ ấy lại bùng lên. Đặc biệt không phải khi anh đã biết sẽ phải đánh đổi điều gì khi cô chuyển từ cáu kỉnh (trạng thái vốn có) sang thịnh nộ (mệt mỏi đến kiệt sức). Không phải khi anh biết cô sẽ rơi vào trạng thái tồi tệ như thế nào vì nỗi tức giận kia và điều đó có thể khiến cô yếu đuối ra sao trong một thời gian dài đến đâu.
Anh đã hứa với cô rằng anh sẽ không bao giờ nói dối, thậm chí ngay cả khi để cô cảm thấy tốt hơn, và cô đã nói rằng cô không hề muốn biết bất cứ điều gì liên quan tới những cô gái khác trong vụ này, nhưng đâu đó giữa hai khía cạnh, việc tôn trọng yêu cầu này bắt đầu trở nên giống một lời nói dối. Hai năm trước, lời hứa này đã bắt đầu giống một lời nói dối nhưng anh vẫn giữ im lặng, bởi cô không muốn biết và anh không muốn dọa cô sợ, nhưng không phải là khi nỗi tức giận cuối cùng cũng dần dần phai nhạt.
Đôi giày lười méo mó của Vic khiến cổ chân ông đau nhói. “Cô ấy sẽ ổn thôi. Cô ấy luôn vượt qua được mọi chuyện.”
Nhưng anh biết rõ hơn Vic điều mà Priya luôn phải đấu tranh khi cô cố gắng khiến cho mọi chuyện trở nên có lý, khi cô cố gắng đóng khung vụ án của chị mình trong một bức tranh toàn cảnh hơn. Bởi Vic đã có rất nhiều điều phải lo lắng, và Eddison chưa có đủ chuyện để bận tâm nên anh giữ bí mật này cho Priya và Deshani, cũng chưa từng đề cập tới những món ăn khiến chị cô đổ mồ hôi và nôn khắp sàn nhà tắm bởi dù sao chị cô cũng mất rồi - sẽ không có cách nào lý giải nổi điều này.
Khi Faith bị bắt đi, anh bắt đầu hút thuốc, không phải bất chấp những cảnh báo sức khỏe nói chung mà vì chính chúng, vì anh biết thuốc lá sẽ khiến anh chết dần và khi anh chết đi, ít nhất sẽ có một lý do hợp lý. Anh không hề có ý định bỏ thuốc cho tới vài năm trở lại đây, sau khi Vic nhận anh vào đội, và anh vẫn còn hút cho tới khi Priya nhăn mũi bảo rằng anh có mùi tệ hơn cả tủ đựng đồ của lũ con trai ở trường cô.
Đâu đó trong khi cố gặng hỏi sao cô lại biết được tủ đựng đồ của hội con trai có mùi như thế nào, anh đã quên tìm kiếm một điếu thuốc. Đôi khi nó vẫn ở đó, cử chỉ, nhu cầu, đôi khi thậm chí là cả những điếu thuốc, nhưng không còn giống như trước đây. Có lẽ là vì Priya. Đúng hơn là vì mỗi lần anh thấy sự thôi thúc đó ở một người khác, việc hút thuốc không còn mang lại cảm giác thoải mái nữa. Nói tóm lại, vẫn là vì Priya.
Lần này tới lượt Ramirez đá cho anh một cái - nhẹ nhàng thôi, bởi phần mũi nhọn hoắt của đôi cao gót lênh khênh mà cô đang mang sẽ khiến anh đau chết đi sống lại nếu cô đá mạnh - và gật đầu với anh. Chiếc bút được rút ra, nhưng tóc cô vẫn nằm gọn thành búi trên đầu. “Bất kể họ có suy sụp bao nhiêu lần, họ vẫn luôn vực nhau dậy. Deshani vẫn luôn ở đó để nhặt từng mảnh vỡ nếu bà ấy có tan nát cõi lòng.”
Đó có phải điều Vic đã từng nói với anh hồi tháng Mười một? Có người sẽ chấp nhận để mình suy sụp mãi, có người sẽ mạnh mẽ vực dậy và phô ra những khía cạnh gai góc nhất?
Anh đang muốn nói tới Inara, nhưng dù sao đó cũng là một biểu hiện tốt.
Hít một hơi thật sâu, anh lấy điện thoại ra khỏi túi áo khoác gió và mở tin nhắn của cô. Không còn bánh Oreo? Anh muốn thử chứ?
Chưa đầy một phút sau, anh nhắn lại: Chúng tôi đã nghiền nát hết chỗ bánh Oreo để trồng nấm. Như thế là tệ hay là tốt? Và tôi sẽ thử.
Anh chẳng hề ngạc nhiên khi điện thoại mình rung lên trong chưa đầy một phút, lần này là số của Deshani. Tôi sẽ để mắt đến con bé, trong phòng nó thậm chí còn không có bim bim nên tôi có thể nghe thấy tiếng con bé gãi ngứa ngay từ cầu thang.
Chắc chắn bà có thể, bởi có lẽ bà sẽ ngồi ngay trên sàn phòng ngủ của con gái mình, tựa lưng vào cửa và lắng nghe cả đêm từng tiếng kẽo kẹt của cầu thang hay tiếng loạt xoạt của tấm thảm. Deshani có lẽ là hình mẫu bà mẹ bao bọc con quá mức mà Chúa tạo ra.
“Ở Colorado, pháp luật không cho phép người dưới mười tám tuổi tàng trữ và sử dụng súng điện,” ông nói, và cả hai đồng nghiệp của ông đều quay sang nhìn với vẻ nghi ngại xuất phát từ niềm tin sụp đổ. “Cô ấy đã có lọ xịt hơi cay, chúng ta còn có thể cho cô ấy điều gì nữa?”
“Một cây gậy bóng chày?” Ramirez gợi ý.
Vic day day sống mũi và chậm rãi lắc đầu.
Tên nàng là Libba Laughran và lần đầu tiên anh nhìn thấy nàng, chiếc đầm dạ hội nhiều tầng của nàng được nâng lên vừa đủ để thấy rõ tấm vai của chàng trai và gương mặt kẹp giữa hai đùi nàng. Nàng đang ngồi trên nóc một chiếc ô tô, một tay nâng váy lên, tay kia luồn vào tóc của anh chàng, những tiếng rên từ trong cổ họng lấp đầy đêm đen như thể họ đang ở chốn không người, như thể không ai có thể nghe thấy và tới xem.
Chiếc váy của nàng sáng bừng và hồng rực trong đêm tối, nhưng trên cổ tay đang luồn vào tóc anh chàng, anh có thể thấy một chùm hoa cưới với một bông cẩm chướng trắng, rìa cánh hoa đỏ rực như thể vừa nhuộm máu.
Anh thấy nàng nắm tay anh chàng kia trong nhà thờ, cơ thể họ cách nhau một khoảng hợp lý nhưng bàn tay họ luôn hướng về nhau mỗi khi họ bước ra xa. Anh có thể thấy họ tại rạp phim, trên đường đi học và trên đường về.
Họ đang làm tình trên võng ở sân sau nhà nàng và cười lớn mỗi lần họ suýt rơi khỏi võng.
Họ yêu nhau, anh nghĩ vậy, ít nhất là yêu nhiều tới mức họ hiểu được tình yêu khi họ đang còn quả trẻ. Họ thì thầm cho nhau nghe, trong điện thoại cũng như những cuộc trò chuyện. Cả hai thậm chỉ còn không để ý đến ai khác.
Điều đó cũng tốt thôi nhưng có lẽ sẽ không thể bảo vệ nàng. Những cô gái ngoan không làm thế, bất kể họ có đang yêu say đắm tới mức nào. Hành động ấy là bất kính, là sai trái. Nàng còn quả trẻ nên cũng dễ hiểu cho hành động ngu dại kia, nhưng anh không thể cứ để yên cho mọi việc trôi qua không dấu vết. Anh không thể để bạn bè nàng nghĩ rằng hành động đó là tha thứ được, chấp nhận được.
Không cần đợi đến lúc bọn họ bị bắt tại trận - mẹ nàng về nhà sớm hơn dự tính vài giờ và họ vẫn còn trần trụi quấn lấy nhau trong sân sau - để biết nàng còn trẻ như thế nào.
Mới mười bốn tuổi, nhưng nàng đã như một cô gái điếm.
Mẹ nàng khóc lóc om sòm trong khi đuổi theo cậu trai bạn thân trần truồng qua sân nhà và ra khỏi nhà họ, mặc kệ con gái bà đang khóc lóc sau lưng bà. Anh dựa vào phía bên kia hàng rào và lắng nghe hết bài giảng của người mẹ, bao gồm tất cả các cách dạy con mà bà và chồng bà dạy dỗ con gái để tốt hơn bây giờ.
Anh chẳng ngạc nhiên khi thấy Libba chuồn khỏi nhà vào ban đêm để đi tìm chàng trai mà cô yêu.
Anh chẳng ngạc nhiên khi nàng chống cự mình, bởi rõ ràng nàng là kiểu con gái sẽ theo đuổi những gì nàng muốn, và nàng yêu chàng trai đó, nàng muốn được sống.
Nhưng anh không thể để chuyện đó xảy ra.
Cậu trai kia có thể đối xử dịu dàng với nàng, nhưng nàng còn quả trẻ để biết cánh đàn ông sẽ làm gì nên anh phải dạy cho nàng biết.
Anh phải cho nàng thấy nàng có ý nghĩa gì đối với cánh đàn ông khi nàng không còn là một cô gái ngoan. Và đó là điều mà nàng có thể lấy lại.
Anh bắt đầu để nàng ở lại đó, trên sàn nhà thờ, nhưng vì nàng mới mười bốn tuổi nên anh quấn những tấm áo quần xung quanh nàng, đủ để che đi những phần quan trọng và đặt những đóa cẩm chướng lên trên đó.
Những đóa hoa trắng muốt, với rìa cánh đỏ rực như máu chảy ra qua những đường gân chằng chịt trên cánh hoa vào tim.
Anh nhớ rất rõ.
Khoảng một giờ sáng, mẹ xua tôi lên phòng ngủ. Tôi ngồi trên giường, chơi trò múa bóng qua những bức tường từ ánh sáng lập lòe của cây nến trà bằng điện trước bức ảnh Chavi. Đây cũng chính là bức ảnh mà chúng tôi để ở dưới lầu, mặc dù chiếc khung này được làm từ những mảnh kính nhiều màu và những mảnh vụn kim loại. Đó cũng là vòng hoa cúc đại đóa bằng lụa màu vàng.
Cuốn nhật ký mà tôi đang viết hiện nằm trong ngăn kéo tủ đầu giường, chiếc bút được kẹp ở trang bìa. Thú thực, cuốn sổ được trang trí bằng tổ hợp cắt dán mặt của các tổng thống khắc trên đá, tất cả những bức ảnh giống hệt nhau được chụp trong chuyến đi chơi của mẹ và tôi cùng Eddison khi chúng tôi còn sống ở D.C. Bức ngoại lệ bé xíu, gần như vô hình trong khoảng trống giữa Kennedy và Taft, một con thằn lằn nhỏ màu xanh dương với tấm áp phích kẹp ở miệng, những con số La Mã trên một ô vuông nhỏ màu ghi. Con thằn lằn xuất hiện đâu đó trên mọi cuốn nhật ký mà tôi viết. Đôi khi ở ngoài bìa, đôi khi ở bên trong, đôi khi nó nằm ngay trên góc của một vài trang giấy.
Những cuốn nhật ký của Chavi dễ sắp xếp hơn, bởi chị luôn có quy tắc. Góc dưới bên trái của bìa trong luôn có một bức vẽ của tôi đang cầm ngày tháng. Cũng có thể là một bức ảnh toàn trang - một tấm lịch ngày, hoặc một tấm lịch tháng với một ô được khoanh tròn, hoặc hình vẽ nguệch ngoạc đại diện cho những ngày lễ. Mỗi cuốn sổ đều bắt đầu vào ngày thứ hai của năm mới nên tất cả những gì bạn cần làm để sắp xếp chúng đúng thứ tự chỉ là nhìn vào bìa trong, chỗ có tấm lịch.
Chavi đã viết cho tới gần tháng Tám.
Còn giờ đây, tôi dường như chẳng thể ngủ nổi.
Tôi đợi cho tới khi có lẽ mẹ đã ngủ ở bên kia sảnh, tôi hy vọng thế, để có thể xuống lầu. Từ trên gác xuống, có một bậc thang mà ba phần tư sẽ kêu lên răng rắc trừ khi bạn bước vào góc trái, nhưng bậc ngay dưới nó thì bạn lại phải bước sang góc phải nếu không nó sẽ rên lên kẽo kẹt. Tôi nín thở lấy đà và bước một bước dài qua cả hai bậc.
Ánh nến trước khung ảnh của Chavi đã tắt. Chúng tôi phải thổi tắt ngọn nến cuối cùng trước khi đi ngủ phòng khi nó có thể thiêu rụi cả ngôi nhà. Tôi muốn - có lẽ tôi cần thì đúng hơn - thắp lại nến. Nhưng tôi đã không làm thế. Ánh sáng len lỏi từ bên ngoài vào qua cửa kính là đủ để giúp tôi nhìn thấy bức ảnh, cho dù không rõ ràng lắm. Ánh đèn đường, vàng vọt và nhạt nhòa, chiếu thẳng lên tường và dọc theo mép cầu thang. Nó gấp khúc nơi trần nhà, tạo thành một góc kỳ dị để tiếp tục chạy dọc và kết thúc nơi lan can.
Một chiếc xe chạy ngang qua bên ngoài, khiến ánh sáng chiếu vào dữ dội hơn và trong một giây ngay trước khi tôi phải nhắm mắt lại vì chói, những chiếc bóng khiến tôi có cảm giác như có vật gì đang nhảy múa từ lan can.
Tim tôi đập loạn xạ và tôi lắc đầu trong khi đi từ sảnh lớn xuống phòng khách. Có thứ gì đó phẩy qua vai tôi và khiến tôi giật nảy mình, sau đó tự gọi mình bằng những từ ngu ngốc nhất khi nhận ra đó chỉ là tóc mình. Chúng tôi đã kiểm tra từng ngóc ngách trong nhà và lắp đặt thiết bị cảnh báo. Chẳng có ai khác ở đây ngoài tôi và mẹ. Tôi có thể kể ra hàng ngàn lý do khiến tôi lại lo lắng như thế này. Tôi có thể kể từng lý do, và việc liệt kê chúng lẽ ra sẽ giúp tôi cảm thấy ổn, nhưng đâu đó giữa trạng thái lo lắng về người nào sẽ chết và liệu có ai đang theo dõi ngôi nhà không, có một ký ức như đang hiện hữu rõ ràng trong đêm nay.
Khi bố tôi treo cổ trên lan can trong căn nhà ở St. Louis hai ngày sau đám giỗ đầu của Chavi, hai chân ông không hề chạm vào vai tôi. Tôi không tới đủ gần để xem liệu đôi chân buông thõng ấy của ông có chạm tới vai mình không.
Hôm đó, tôi đi bộ từ trường về nhà, mở khóa cửa và ngay trước khi cúi người để hôn khung ảnh của Chavi, tôi đã thấy ông. Tôi bất động và nhìn lên ông, nhưng có lẽ ông đã tự vẫn từ mấy tiếng trước. Chắc chắn ông đã chết. Không cần chạm vào ông, tôi cũng có thể chắc chắn điều này. Ông đã mua một sợi thừng vài tuần trước để chúng tôi có thể treo võng, nhưng chỉ có chiếc võng là không bao giờ được treo lên.
Tôi không la hét thất thanh.
Tôi không chắc là vì cái gì, nhưng tôi nhớ tôi đã đứng đó, nhìn thẳng lên thi thể của bố và chỉ cảm thấy… mệt mỏi. Tê liệt, có lẽ.
Tôi đi bộ trở ra ngoài và khóa cửa lại, sau đó gọi cho mẹ, nghe bà sử dụng điện thoại di động chuyên dùng cho công việc để báo cảnh sát trong khi lao về nhà với tôi. Bà về nhà trước cả khi cảnh sát tới nhưng cũng không đi vào xem. Chúng tôi chỉ ngồi bên nhau trên bậc tam cấp cho tới khi cảnh sát đến, theo sau là xe cứu thương, một hình ảnh chuẩn mực nhưng hoàn toàn chẳng cần thiết.
Bấy giờ, tôi vẫn còn cầm bức điện tín, bao gồm cả những phong thư sặc sỡ có thiệp chúc mừng sinh nhật của Bộ ba Đặc vụ. Chúng đến vừa đúng lúc.
Đêm đó, chúng tôi đang ở khách sạn, thực ra là chỉ nằm trên giường, và biết rõ mình sẽ chẳng thể ngủ nổi, thì bỗng nhiên có tiếng gõ cửa. Đó là Vic, đeo một chiếc túi và mặc áo sơ mi dài tay của FBI cùng quần pajama xốp nhẹ, mang theo một chiếc túi CVS đựng đầy mỹ phẩm không phải lấy từ khách sạn và nửa kí kem.
Tôi đã biết Vic gần một năm nay và luôn tôn trọng ông, nhưng điều khiến tôi yêu quý ông là ông không bao giờ chúc mừng sinh nhật tôi. Ông thậm chí còn không đề cập đến nó, ngay cả trong thiệp. Mặc dù rõ ràng bố tôi tự sát, nhưng ông vẫn tới tận Missouri nói chuyện với chúng tôi, để đảm bảo chúng tôi vẫn ổn, và ông không bao giờ hỏi chúng tôi đang cảm thấy thế nào.
Chúng tôi nói chuyện tới tận gần ba giờ sáng rồi ông rời đi để tìm một phòng cho mình nhưng trước khi đi, ông lôi một vật nữa từ trong túi ra và đưa nó cho tôi. Nó được gói vụng về trong một tấm giấy gói màu nâu, nhưng sau khi ông rời đi, tôi mở nó ra, những chiếc bánh Oreo rơi tung trên giường, mười hai túi sandwich có khóa kép với ba chiếc bánh quy trong mỗi túi, cùng ngày tháng được ghi trên đó bằng nét chữ viết tay nhọn hoắt của Eddison.
Nhận ra nhu cầu và lý giải khát khao.
Đó là ngày tôi bắt đầu yêu mến Eddison, như một người thân trong gia đình, như một người bạn. Bởi những chiếc bánh Oreo anh gửi xác nhận rằng tôi đang không ổn và sự thấu hiểu của anh cho thấy tôi sẽ ổn thôi.
Chúng tôi không để ảnh của bố, không theo cách chúng tôi để ảnh Chavi để chị vẫn ở bên chúng tôi. Chavi không hề lựa chọn ra đi, nhưng hơn thế… nếu bố cần ra đi, thậm chí nếu ông nghĩ tự sát là cách duy nhất giúp ông thanh thản, mẹ sẽ hiểu. Bất kể cuộc hôn nhân của họ có hạnh phúc hay trắc trở, ít nhất nó cũng cho phép mẹ thông cảm với ông.
Nhưng bố đã tự sát theo cái cách đảm bảo rằng tôi sẽ là người đầu tiên phát hiện ra thi thể ông. Chúng tôi chỉ mới chuyển tới St. Louis vài tháng và tôi đương nhiên sẽ không cố tình tham gia bất kỳ câu lạc bộ hay hoạt động gì khiến tôi phải ở lại trường muộn sau giờ học. Mẹ sẽ không về nhà cho tới tối nên gần như chắc chắn tôi là người đầu tiên phát hiện ra thi thể ông.
Mẹ có thể tha thứ và thương xót cho hầu hết mọi điều khác, nhưng bà sẽ không bao giờ tha thứ cho bố vì đã để tôi phát hiện ra thi thể ông.
Tôi thực sự không nghĩ ông đã tính đến điều đó. Tôi không nghĩ ở thời điểm đó, ông lại có thể bình tâm mà cân nhắc đến vấn đề này. Có lẽ điều duy nhất ông có thể nghĩ lúc ấy là ông không thể thắt cổ trên một trong những cái cây sau nhà, hàng xóm có lẽ sẽ thấy và đưa ông xuống trước khi ông chết, họ sẽ bằng cách nào đó cứu sống ông mà ông thì chẳng thiết sống nữa. Từ tận đáy lòng, tôi tin chắc rằng ông đã quá tập trung vào việc đảm bảo không ai tìm thấy mình đến mức chẳng nhận ra sự thật là thể nào người ta cũng thấy thi thể ông.
Chuyện tìm thấy một thi thể không bao giờ là vấn đề với mẹ.
Chúng tôi không hề đốt những bức ảnh của bố, chỉ là không bày chúng mà thôi. Chúng được gói ghém kỹ càng, bảo quản cẩn thận bởi một ngày nào đó tôi sẽ muốn nhìn ngắm lại ngay cả khi mẹ không bao giờ muốn thấy chúng lần nào nữa.
Ngày hôm sau, chúng tôi gọi điện báo tin cho nhà nội. Khi chúng tôi rời London, bố mẹ đã cắt đứt liên lạc với gia đình hai bên. Hoặc có lẽ họ rời London vì đã cắt đứt liên lạc. Cho tới nay tôi vẫn không thể chắc chắn điều gì đã xảy ra, chỉ biết rằng cả bố và mẹ đều không muốn nhắc đến chuyện đó, cho nên tôi cũng không biết mình có tổng cộng bao nhiêu anh chị em họ. Họ đã rời bỏ gia đình, và cả tôn giáo, có lẽ cả niềm tin của mình theo cách đó, và lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện với ông bà kể từ sau khi rời đi là khi chúng tôi báo cho họ về việc Chavi bị sát hại.
Họ đổ lỗi cho bố mẹ tôi vì đã mang chúng tôi đi xa, vì đã đưa chúng tôi tới Mỹ, miền đất của súng đạn và bạo lực, và bằng cách nào đó họ bỏ ngoài tai sự thật rằng Chavi đã bị giết bởi một con dao ngay trong chính khu nhà chúng tôi sống, an toàn hơn nơi chúng tôi từng sống ở London rất nhiều, dù sao đó cũng là lỗi của bố mẹ tôi khi mang chúng tôi đi xa.
Sau đó chúng tôi không nói chuyện với họ cả năm trời, nhưng rồi lại phải kể cho họ về chuyện của bố, một lần nữa đó lại là lỗi của chúng tôi. Nếu mẹ không mang bố rời khỏi gia đình của ông, ông đã có thể nhận được sự hỗ trợ mà ông cần. Nếu mẹ không phải là một kẻ ngoại đạo, bố đã có thể sống trong vùng an toàn mà ông cần. Mẹ cúp máy trước khi bà nội đi quá xa. Họ cần biết rằng bố đã mất nên mẹ thông báo cho họ và đó là tất cả những gì bà cảm thấy cần phải làm. Về lý thuyết, chúng tôi có một đại gia đình, nhưng thực tế chỉ có mẹ và tôi và một phần của Chavi mà chúng tôi luôn giữ bên mình.
Giống như hơn hai trăm cuốn nhật ký với đầy những con chữ viết tay to và loằng ngoằng của Chavi được chất đầy bên kia phòng như một tảng núi lở.
Nếu tôi không ngủ được, có thể tôi sẽ rất năng suất và lục lọi trong đống nhật ký của mình cho ra những cuốn tôi viết hồi còn ở San Diego, nhưng tôi không thể nếu không bật đèn lên. Bây giờ quá muộn (hoặc quá sớm) để bật chiếc đèn to lên và trong phòng cũng không có ổ cắm gần đống sổ để tôi có thể cắm đèn bàn.
Khi tôi bước vào bếp và bật cái đèn không phát ra tiếng động nằm trên bếp, những túi vụn sô cô la vẫn đang rơi trên quầy. Trong tủ lạnh, những khay giả được làm từ bìa các tông gói giấy giả da chứa những cục bánh Oreo nhỏ và sần sùi đã bị nghiền nát, kem phô mai và đường. Tôi vớ lấy những cái hộp chứa kem đặc và trút kem vào một trong những cái nồi để sẵn ở ngoài, sau đó chỉnh nhiệt độ ở mức vừa phải. Kem chầm chậm nóng lên và bạn phải thật cẩn thận để đảm bảo không nấu sôi nó, nếu không sẽ rất ghê. Khi những bong bóng li ti bắt đầu gợn lên ở phần mép, tôi khuấy thêm một chút đường, sau đó thả vụn sô cô la và đậy nắp nồi chứa hỗn hợp này lại, tắt bếp rồi để kem nóng làm tan vụn sô cô la.
Những chiếc khay được xếp gọn gàng trên quầy bếp, cùng với hộp tăm. Tôi mở hộp và lấy tăm ra để cắm vào từng cục bánh, nhưng tay tôi đang run bần bật. Tôi cứ thế nhìn chăm chăm vào tay mình cả phút, cố gắng tìm ra nguyên do, liệu có phải tôi đang giận dữ, sợ hãi, hay chỉ đơn giản là mệt mỏi.
Hoặc như bạn biết đấy, tồi tệ nhất là vì cả ba.
Nhưng có vẻ như câu trả lời là: nhu cầu. Bởi tôi biết những gì đã xảy ra ở San Diego, và những gì đã xảy ra sau khi chúng tôi rời đi; bởi những khuôn mẫu ít khi tình cờ lặp lại; bởi bố đã bỏ cuộc và tôi không thể mạnh mẽ như mẹ… bởi cái chết của Chavi là một nỗi đau không thể lý giải, và tôi có rất nhiều khay chứa đầy những lý do để khiến cho sự việc trở nên thật hơn một chút.
Tôi mở vung nồi và quấy đều các thứ bên trong. Trong khi tôi dùng tăm để cuộn những chiếc bánh Oreo vào sô cô la, tay tôi vẫn đang run. Dạ dày tôi vẫn chộn rộn vì nhu cầu này. Tôi không có vấn đề gì khi biết rằng điều này sẽ khiến tôi phát ốm, rằng nỗi đau thể xác không thật sự xoa dịu nỗi đau cảm xúc. Tôi cũng không thấy có vấn đề gì khi đã học đi học lại rằng điều này không thể giúp mình khá hơn.
Vấn đề chỉ là tôi cảm thấy mình cần phải làm thế.
Khi tất cả bánh đã được phủ sô cô la, tôi đẩy những chiếc khay lại vào tủ lạnh để bánh lạnh và định hình. Tôi ước gì có thể đóng mạnh cửa tủ lạnh. Điều đó sẽ khiến tôi thỏa mãn, đúng chứ, khi biết rằng ít nhất trong một khoảnh khắc, tôi đã không tự cho phép mình làm điều đó.
Mẹ đang đứng tựa vào cánh cửa dẫn ra sảnh. Cơ thể đẫy đà của bà dựa vào khung cửa, cổ họng vươn ra vì thái dương tì trực tiếp lên khung gỗ, mẹ bảo rằng mẹ đã đứng nhìn tôi thế này một lúc rồi. “Còn bao nhiêu sô cô la vậy?” Mẹ hỏi, giọng trầm khàn và dày.
“Một chút ạ, không nhiều lắm.”
“Chúng ta còn vài quả chuối đấy.” Mẹ hơi nhổm người dậy, những ngón chân nhón lên trên sàn gạch lạnh lẽo. “Mềm hơn con thích, nhưng vẫn chưa bị thâm.”
“Vâng, cũng được ạ.”
Cuối cùng thì chúng tôi ngồi bệt xuống sàn bếp và nhúng những quả chuối vào nồi sô cô la, với khoảng một chục cây nến trắng to bự được thắp ở khắp các bàn. Tôi không có phép thuật để biến ra hơn hai quả chuối rưỡi và mẹ thì mang ngay cái nồi ra bồn rửa trước khi tôi kịp nghĩ sẽ nhúng thêm cái gì nữa.
“Mẹ đã hy vọng có một vết lõm trong đống nấm,” mẹ nói khi quay lại và ngồi chìm vào tấm thảm.
“Mẹ nên ngăn con lại sau một vài cái.”
“Đúng, nhưng mẹ không phải làm thế.”
“Thì cũng có ích gì đâu.”
“Khi nào điều đó trở nên quan trọng vậy, khi nào con vô cùng muốn điều đó giúp mình trở nên tốt hơn?”
Tôi không thật sự có câu trả lời - không phải là tôi chưa từng nghĩ đến - nên tôi tóm lấy những cạnh của cuốn nhật ký dưới cùng và kéo chồng gần nhất ra trước mặt mình. Tôi tìm con thằn lằn gắn dưới chân tháp Eiffel và chỉ cho mẹ. “Chia một cuốn bất kỳ từ trang 140 đến trang 180 để đề phòng. Ít nhất là chúng ta chỉ phải đọc qua số lượng trang ít hơn.”
“Con đã nảy ra ý tưởng này khi con mới năm tuổi ư?” Mẹ lẩm bẩm.
“Chín tuổi thì đúng hơn. Trước đó con đã bọc chúng trong giấy gói quà, nhưng con đã đánh dấu lại tất cả những cuốn sổ cũ khi con quyết định rằng mình thích thằn lằn.”
Trước khi mẹ lên gác chuẩn bị đi làm, chúng tôi đã lọc ra cuốn sổ được viết trong khoảng năm tháng rưỡi ở San Diego để tôi đọc qua. Mẹ vẫn là mẹ, tôi có cảm giác dự án tiếp theo của bà là sắp xếp tất cả những cuốn nhật ký này theo thứ tự để chúng được đóng hộp theo một quy luật đúng đắn. Đống nhật ký bị vứt ở ngoài không khiến mẹ bực mình theo kiểu của Eddison, nhưng mẹ thấy việc ngồi đọc lại toàn bộ cũng không ích gì.
Tôi dành khoảng thời gian còn lại của buổi sáng để đăng nhập phần mềm của trường và cố gắng tập trung vào bài vở trên lớp. Tôi không quá để tâm chuyện bài vở nhưng trong tiết học với giáo viên hướng dẫn trên Skype, chắc trông tôi quá tệ bởi cô giáo đã tha thứ cho sự lơ đãng của tôi. Cô giáo bảo tôi đừng lo lắng về việc đăng nhập cho tới thứ Tư và nếu tôi cần thêm thời gian thì cứ bảo cô, lòng tốt mỗi ngày này khiến tôi cảm thấy quá đỗi lạ lùng sau hai mươi tư giờ vừa qua và tôi thậm chí còn không chắc liệu tôi có thể chỉ ra bất cứ lý do nào.
Nhưng tới mười một giờ, tôi đã hoàn thành gần như mọi việc tôi định làm nên tôi ném chồng nhật ký vào chiếc ba lô mà tôi đã không động tới hàng tháng trời, cẩn thận kiểm tra lại chiếc camera nhỏ và cố định nó vào chiếc hộp trong cặp rồi đi thẳng tới chỗ chơi cờ. Bình xịt hơi cay vẫn nằm gọn ghẽ trong túi áo tôi.
Tôi không thật sự hy vọng điều gì sẽ xảy ra. Hoa trường thọ… đó là ván cờ mở màn. Cả thời gian nữa, lạ kỳ như cách nó được gọi tên. Trong ván cờ, chiến thắng nhanh nhất có thể với sự bỏ cuộc hoặc nộp phạt của đối phương được gọi là Người bạn Ngốc nghếch. Mỗi người chỉ cần hai nước cờ nhưng - và đây là điểm mấu chốt - quân trắng phải thật sự ngốc nghếch một cách bất thường.
Một kẻ ngu ngốc có lý có lẽ sẽ tránh né sự điều tra nếu mỗi vụ án lại thuộc một thẩm quyền khác nhau, nhưng vụ án này do FBI tiếp nhận trong bảy năm qua, vẫn chưa bắt được hung thủ, cho thấy kẻ sát nhân không chỉ kiên nhẫn mà còn rất thông minh.
Ván cờ thú vị nhất là giữa những đối thủ rất am hiểu nhau. Họ biết đối thủ có xu hướng đánh cờ ra sao và cố gắng ngăn cản đồng thời tăng độ khó cho nước cờ của chính mình. Mỗi nước cờ đòi hỏi cả hai phải đánh giá lại toàn bộ bàn cờ, giống như một khối Rubik mười hai nhân mười hai. Tôi không biết ai giết chị gái mình, nhưng tôi biết một lượng thông tin nhất định về hắn. Những vụ án của hắn kể một câu chuyện.
Hắn không lặp lại loài hoa nào và hắn cũng không chế nhạo.
Bất kể hoa trường thọ có ý nghĩa gì - nếu chúng thật sự được kẻ sát nhân gửi - nó cũng là nước cờ đầu tiên.
Nếu những đóa hoa không phải do kẻ sát nhân gửi… thì còn ai biết rõ nơi tôi sống nữa. Việc cố gắng giam mình trong nhà không khiến tôi an toàn hơn là tiếp tục ra ngoài.
Tôi nhắc mình về điều đó trên đường đi. Thậm chí tôi đã gần như tin vào điều đó.
Corgi ở ngoài bãi đỗ xe khi tôi tới nơi, ông đang đi về phía căn lều bạt với hai cốc cà phê trên tay. Không phải cà phê của Starbucks, đó chỉ là loại cà phê miễn phí rẻ tiền mà cửa hàng tạp hóa phát cho khách hàng trong những chiếc tách Styrofoam nhỏ xíu. Ông giật mình khi nhìn thấy tôi, gần như đổ cả cà phê ra găng tay. “Ôi Chúa ơi, cô bé Xanh Dương, đêm qua cháu mất ngủ à?”
“Vâng, đúng là thế ạ,” tôi đồng tình. “Trông cháu tệ lắm sao?”
“Ông sẽ không muốn nhìn thấy bộ dạng của cháu bây giờ trong một con ngõ tối.” Ông lướt từ đầu tới chân tôi một lượt, sau đó gật đầu và nhấp một ngụm cà phê. “Có lẽ cả trong một con ngõ sáng đèn nữa.”
“Thế còn ở bãi đỗ xe thì sao ạ?”
“Ông vẫn thường nghe rằng bộ đội rất dũng cảm hoặc đã từng dũng cảm.” Ông cười với tôi, và ông thật sự có cái mũi như của người Hobbit trong phim, nhưng đôi mắt ông lại sáng rõ. Tôi đã gặp ông sau một ngày tồi tệ, và cả tuần sau đó. Ông trông rất ổn.
Tất cả mọi người đều ở đó, bao gồm cả Happy đang say chuếnh choáng. Thay vì ngồi xuống ghế, tôi hắng giọng. “Mọi người có ai phiền không nếu cháu chụp ảnh ạ?”
Những ông già nhìn nhau vô cảm, sau đó nhìn lại tôi.
“Cháu chụp ảnh. Đó là một việc cháu làm để kiếm tiền. Nếu mọi người không phiền, cháu thật sự muốn chụp một vài bức ảnh để giữ làm kỷ niệm khi mẹ con cháu lại chuyển đi. Mọi người không cần tạo dáng hay làm gì đâu, bởi trông sẽ rất tệ, cháu chỉ cần bức ảnh… có đủ tất cả mọi người. Là chính mình.”
Happy buồn buồn ngó vào tách cà phê của mình, như thể những câu trả lời cho cả vũ trụ đều ở đâu đó trong tách cà phê nhưng khổ nỗi ông không thể tập trung năng lượng để tìm ra chúng. “Cháu sẽ chụp ảnh chúng ta hôm nay sao?” Ông thở dài.
“Không chỉ hôm nay ạ. Thỉnh thoảng cháu sẽ chụp.”
“Cứ thoải mái đi, cô bé Xanh Dương,” Pierce nói, trong khi đang sắp xếp các quân cờ của mình. “Hôm nay trông cháu như thể muốn đốt cháy cả bàn cờ vậy, cháu nhìn nó hơi lâu rồi đó.”
Tôi ngồi xem họ chơi cờ một lúc, máy ảnh tôi vẫn cất trong hộp trong cặp sách, và để họ được tự nhiên. Chẳng có gì bất thường nếu một người không tập trung vào ván cờ, đi loanh quanh các bàn cờ và để ý đến tất cả các ván cờ đang chơi, hoặc một ai đó có hẹn với bác sĩ hay bận chuyện gì và chúng ta có một người lẻ ra. Họ không tốn quá nhiều thời gian để trở lại trạng thái bình thường.
Khi tôi lấy máy ảnh ra và nhìn qua lăng kính, thế giới dường như được tái định hình. Tất cả đều tập trung. Không phải những điều tồi tệ không còn ở ngoài đó, hoặc thậm chí trong lăng kính này, nhưng có một ranh giới chắn giữa tất cả mọi thứ và tôi.
Như thể tôi đã quên cách thở hoặc ai đó vừa chọc vào mạng sườn tôi để tôi hít lấy một chút không khí.
Tôi chụp cả ảnh đen trắng và ảnh màu, cố gắng rất nhiều để đảm bảo bắt được những góc rõ ràng của Landon. Người duy nhất tôi biết họ là Gunny, nhưng việc chạy loanh quanh hỏi họ của từng người rất kỳ quặc.
Mọi thứ trông rõ ràng hơn sau lăng kính, giống như cách Corgi một mắt quan sát ván cờ, một mắt để ý đến Happy, cách đôi tay Yelp đang run lên lẩy bẩy và mắt ông hõm sâu lại, và cả cách Jorge kín đáo liếc nhìn Yelp. Jorge thường đi cờ nhanh như chớp, đập uỳnh uỵch những quân cờ xuống bàn và thụt tay lại như vừa bắn súng, nhưng hôm nay ông đi cờ chậm rãi, trượt những quân cờ để chúng dính trên mặt gỗ được đánh bóng. Không hề bất ngờ, không hề sắc sảo. Khi Phillip nhoài ra để ăn quân Tượng của Steven, tay áo ông bị vén lên, lộ ra những vết cào nằm trên một vết thương đã cũ, chỉ là một đường thẳng dày và nhạt màu với những chấm tròn chạy dọc hai bên.
Gunny trên ảnh trông thậm chí còn già hơn, nếu điều này là khả dĩ. Những nếp gấp mềm mại trên da như sâu hơn, những mô sẹo quanh thái dương như được kéo dãn ra. Tôi cũng chụp thêm vài tấm ảnh của cả Hannah nữa, khi cô đi ra xem xét ông mình và quay lại xe để đan. Cô có một chồng chăn len trẻ em ở ghế sau; khi tôi hỏi cô, cô nói rằng cô mang chúng cho bệnh viện trong vùng, khoa Sơ sinh. Thế nên các em bé đều có một chiếc chăn đẹp mang về nhà. Đây là lần đầu tiên tôi hỏi cô vì sao cô dành nhiều thời gian để đan lát như vậy, bởi tôi luôn thấy thật kỳ lạ khi hỏi câu hỏi này nhưng tôi thích suy nghĩ về nó, một sinh linh hoàn toàn tươi mới và ngây thơ trở về nhà với một món đồ được làm với đầy ắp yêu thương.
Cuối cùng tôi đi thẳng vào khu trung tâm để mua đồ uống. Đây là lần đầu tiên tôi mang đồ uống đến một bàn và ngồi xuống. Tôi cũng mua một món bánh mới có hương vị tuyệt hảo, tôi chưa ăn gì kể từ sau khi làm xong món chuối hôm nay nhưng tôi sẽ không vội, cho tới khi mẹ ở đó và tôi biết mẹ sẽ bảo tôi dừng lại nếu tôi ăn quá nhiều. Tôi vẫn còn cảm thấy niềm tin vào chính mình hơi lung lay kể từ đêm qua (đúng hơn là sáng nay?).
Tôi gần như ngồi xuống, chồng nhật ký đè nặng lên khuỷu tay tôi, và chợt thấy Landon đi bộ vào rồi nhìn quanh. Chết tiệt. Trông ông ta ghê tởm khi đi ngang qua tôi nhưng liệu tôi có phải là một mục tiêu dễ dàng?
“Cháu có phiền không nếu ta ngồi cùng?”
Tôi nhìn lên thì thấy Joshua đang đứng ngay đằng sau mình, nhìn chằm chằm vào Landon. Anh đã ngồi ở một bàn khi tôi bước vào, chúi mũi vào một cuốn sách bìa cứng mới tinh và rõ ràng là vô hình đối với thế giới. Chúng tôi đôi khi nói chuyện với nhau, khi chúng tôi cùng nhau qua đường. Anh tốt ở mức vừa phải, chưa từng ép buộc hay cư xử không đúng đắn. Tôi không thật sự muốn có một người đồng hành hôm nay nhưng… tôi thật sự không muốn Landon đi theo mình. “Ồ, đương nhiên”, tôi đáp.
Anh ngồi xuống chéo tôi ở chiếc bàn bốn chỗ, để cho tôi có thêm không gian và thả áo khoác lên chiếc ghế bên cạnh. Tôi cũng lấy áo khoác của mình đang để trên bàn đặt xuống chiếc ghế còn lại. Ôi nhìn kìa, không còn chỗ trống nào cả. Tôi nhìn anh đầy ngờ vực, không chắc liệu tôi có sẵn lòng nói chuyện hay không nhưng anh mở phần ghi dấu sách ra, một tay ôm lấy đồ uống của mình, và đọc tiếp.
Giờ thì tốt rồi.
Landon ngồi cách chúng tôi vài bàn, với một cuốn sách rách tan nát và mất cả bìa - không phải cuốn mà ông đọc cách đây một tháng, cũng không phải cuốn bị đối xử tàn tệ. Tôi vẫn công khai không tin vào những người đối xử tệ bạc với sách của họ. Nhưng ông mở ra những trang sách, và ngoại trừ việc theo dõi tôi hơi quá, có vẻ ông khá tĩnh lặng, cho nên tôi để chùm chìa khóa lên bàn ở một vị trí dễ với, bình xịt hơi cay cũng ở vị trí dễ tiếp cận, và mở cuốn nhật ký đầu tiên ra.
Vấn đề của đống nhật ký là chúng không theo quy luật nào cả. Hầu như ngày nào tôi cũng viết nhưng không phải mỗi ngày và thường thì chúng có thể bắt đầu với bất kể điều gì, từ Mọi việc đều ổn, chẳng có gì để viết tới một đống thông tin. Lần đầu tiên bố cấm túc Chavi (vì nắm tay một cậu bạn khi trượt ván đôi trong suốt chuyến đi thực tế tới sân trượt trong năm lớp Tám), chị đã điên lên và viết một thiên anh hùng ca trong suốt mười bốn giờ rồi tốn hơn nửa cuốn sổ để bình tĩnh lại. Chúng tôi đều dùng cách này để viết ra bất cứ điều gì trong tâm trí nên ở đó có cả những bức vẽ, hình ảnh và bản đồ, số điện thoại, địa chỉ hay cả danh sách mua hàng, danh sách việc cần làm, kết quả kiểm tra, tất cả được trộn lẫn với những bình luận về việc chúng tôi đang làm hoặc cảm xúc chúng tôi đang có trong một ngày bất kỳ. Tôi có thể đọc lướt phần mở đầu nhưng với tốc độ nhảy nhót của suy nghĩ, không tính đến các thể loại nghỉ ngơi, chuyển tiếp hoặc cảnh báo, tôi không thể đọc nhanh như vậy.
Khi đắm chìm vào những phần mở đầu, tôi đã nhớ ra bằng cách nào mà bất chấp mọi điều kỳ cục, và hoàn toàn bất chấp bản thân, tôi lại có thể thật sự vui vẻ ở San Diego. Bởi ở đó tôi có bạn bè.
Ồ.
Tôi đã có bạn bè ở đó, cả những người mà tôi cư xử thân thiện.
Tôi bắt đầu nhận được hoa vào tháng Ba, như bây giờ, một bó hoa trường thọ, nhưng tôi chẳng có manh mối nào về chúng. Tôi không có lý do gì để nghĩ rằng người gửi không phải cậu bé mà tôi đang gia sư, bởi mỗi lần tôi nhìn là cậu ta lại đỏ ửng mặt và không thể thì thầm nổi một lời. Nhưng chúng chỉ là hoa; và đơn giản là cậu bé có thể đã rất ngọt ngào nếu trực tiếp tặng hoa cho tôi thay vì để chúng trước cửa nhà.
Sau hoa trường thọ là hoa loa kèn, tiếp theo là một vòng hoa baby, một vòng nguyệt quế kết bằng hoa kim ngân, những nhánh hoa lan phi. Lần cuối cùng tôi nhận được một bó cẩm chướng, những bông hoa trắng với phần rìa màu đỏ trông như đang rỉ máu. Những bức ảnh được gắn vào đó, những trang giấy phủ xung quanh.
Những bông cẩm chướng đến trước chúng tôi hai ngày và tuần tiếp theo, chúng tôi ở Washington.
Một tuần sau đó, tôi không còn những người bạn ở San Diego nữa. Bộ ba đặc vụ hỏi tôi những vòng câu hỏi mới, nhìn tôi dưới một góc độ mới và tôi quyết định có thể tự mình nghiên cứu về những vụ án mạng, thay vì hỏi bất cứ đặc vụ nào trong vụ của mình những câu hỏi khiến sự nghi ngờ của họ sâu đậm hơn. Eddison hỏi tôi có muốn làm rõ những câu hỏi của họ không, nhưng tôi bảo không.
Anh trông có vẻ rất nhẹ nhõm.
Việc nhận ra mình đã hạnh phúc như thế nào lúc còn ở San Diego khiến tôi đau lòng vô cùng, bởi đó là một điều dị thường. Nó khiến tôi tổn thương, phát điên và cực kỳ giận dữ kể từ khi Chavi ra đi, và tôi chỉ…
Tôi muốn…
Tôi đang cảm thấy vô cùng mệt mỏi.
Tôi gập cuốn nhật ký cuối cùng lại, xoa tay lên mặt như thể có thể lột bỏ lớp giận dữ và cau có này. Joshua đã đi từ lâu, cả Landon cũng thế, ơn Chúa. Có một mảnh giấy nhớ được gấp lại ở chỗ Joshua vừa ngồi, với số điện thoại giống hệt trên tấm danh thiếp anh đưa tôi vài tuần trước. Dịch vụ đưa đón của bạn anh.
Tôi vứt mẩu giấy đi vì tôi còn giữ tấm danh thiếp trong ví. Anh đã có một hành động tử tế và anh không hề bắt ép hay thúc giục. Tôi chỉ không muốn sử dụng dịch vụ này.
Đường về nhà lạnh căm và thậm chí còn lạnh hơn khi những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tà lặn xuống, nhường chỗ cho bóng tối bao trùm. Mẹ có lẽ sẽ về nhà không lâu sau khi tôi về. Để đầu óc mình không nghĩ gì thêm về cái lạnh, tôi nhẩm lại danh mục việc cần làm cho buổi tối: scan những bức ảnh từ đống nhật ký, tải ảnh đã chụp ở chỗ chơi cờ và gửi chúng cho các đặc vụ.
Không có gì ở bậc cửa chính. Tôi muốn tin rằng đó là một điều tốt đẹp.
Tôi không dám chắc mình biết cách nhận ra một điều tốt đẹp nữa.
Anh chưa bao giờ thật sự nghĩ về điều đó, cái tính hay đùa cợt của Ramirez đã trở thành một phần của tinh thần đồng đội từ khi cô gia nhập nhóm, nhưng anh thật sự nhớ nó mỗi khi cô trở nên nhạy cảm.
Bởi Eddison biết thật là ngu ngốc khi luôn giữ điện thoại di động trong tầm tay và giật mình mỗi lần bất kỳ chiếc điện thoại nào rung lên. Anh biết anh lo lắng còn nhiều hơn một con mèo đuôi dài trên vòm trước của căn nhà kiểu đồng quê và cộng sự của anh sẽ cảm thấy thật sự hào hứng khi trêu chọc anh một chút vì điều này.
Nhưng đương nhiên, cô biết vì sao anh lại lo lắng. Cô đồng tình với lý do này nên không trêu anh, thậm chí nếu như anh cần được trêu (việc này thật nghiêm túc làm sao), bởi có lẽ nó sẽ lôi cô ra khỏi mọi ước muốn gõ thẳng chiếc bút của mình xuống bàn.
Bây giờ cô đang nghỉ ăn trưa, một cuộc hẹn tưởng như để xin lỗi dành cho một cô bạn từ Ban Phòng chống khủng bố mà cô đã bỏ rơi hôm Chủ nhật, Vic thì đang yên lặng ủng hộ cho Danelle khi cô ấy vượt qua vòng phỏng vấn mới nhất với văn phòng DA. Danelle khá điềm tĩnh, luôn cân nhắc mọi thứ đủ thực tế để nhận ra cơn ác mộng mà cô ấy đang ở trong nhưng cũng đủ lạc quan để đợi nó qua đi và hy vọng vào những điều tốt đẹp hơn.
Điện thoại làm việc của anh rung lên và anh giật mình, kiểm tra điện thoại cá nhân dù biết tiếng chuông đó đến từ điện thoại văn phòng. Anh cau mày nhìn cái tên hiện lên. “Xin chào, Inara.”
“Eddison. Vic vẫn ở với Danelle chứ?”
“Đúng vậy. Có chuyện gì?”
“Bliss và tôi sẽ không ghé thăm cuối tuần này như chúng tôi đã dự định.”
Lẫn trong giọng cô, anh có thể nghe thấy tiếng gió và tiếng còi xe, những âm thanh của thành phố. Chắc cô đang đứng ở cầu thang thoát hiểm hoặc ngồi trên mái nhà. Dù sao cũng là ở bên ngoài và anh không ngạc nhiên khi cô không muốn bạn cùng phòng nghe được cuộc nói chuyện này. “Tôi đã gửi tin nhắn thoại cho Hanoverian, nhưng ông ấy không kiểm tra điện thoại cá nhân ngay tức khắc nếu không có cuộc gọi nhắc nhở thứ hai.”
“Có gì mới không?”
“Cũng có. Bliss đã có một ngày tồi tệ.”
Có tiếng lẩm bẩm “Chết tiệt!” văng vẳng qua điện thoại, anh cũng suýt buột miệng câu chửi đó khi muốn hỏi ngày hôm đó thì khác quái gì những ngày khác, nhưng anh đã kịp thời ngừng lại. Hoặc do một điều gì khác.
“Có lý do gì cụ thể không?”
“Một chút. Bố mẹ cô ấy cứ thúc ép cô ấy phải đến thăm họ. Họ không vui khi biết rằng cô ấy vẫn chưa sẵn sàng.”
Bliss đã mất tích trong hai năm rưỡi. Nhưng chỉ một năm sau khi cô mất tích, cả gia đình cô đã chuyển nhà vì bố cô được nhận công việc giảng dạy ở Paris. Với những cô gái khác, việc ổn định lại với gia đình không bao giờ từ bỏ mình đã khó khăn lắm rồi, vậy thì việc cô tái kết nối với một gia đình đã bỏ mình lại phía sau còn khó khăn đến nhường nào?
“Và họ vẫn gọi cô ấy là Chelsea,” cô tiếp tục sau một thoáng, anh có thể nghe rõ tiếng chửi thề của Bliss đang xa dần, nhỏ dần.
“Đó là tên của cô ấy,” anh cảm thấy hơi gượng ép khi phải chỉ ra điều này.
“Không. Gọi tôi là Maya, tôi thậm chí còn không chớp mắt. Gọi tôi là Samira, tôi sẽ xé xác anh ra.”
Anh cười bất chấp, chứ không phải vì anh nghĩ cô đang đùa, cô đang thật sự nghiêm túc. Cô đã dành hàng năm trời để đảm bảo Samira Grantaire không là gì cả, bóng ma của cô gái nhỏ đã bị bỏ rơi rất lâu trước khi cô thật sự bị bỏ rơi. Inara là cái tên mà cô chọn cho mình, Maya là tên cô chấp nhận vì Thợ làm vườn đã gọi và cô quá muốn sống, cô quá thực dụng nên chấp nhận bất cứ thứ gì có thể đảm bảo mạng sống cho mình. Maya có thể là một vết sẹo, một hình xăm trên lưng cô, nhưng Samira, xét trong nhiều khía cạnh, là vết thương chỉ có thể lành nếu không bao giờ bị nhắc lại.
Anh hắng giọng để không cười thêm lần nữa. “Nhưng cô ấy không muốn mãi bị gọi là Bliss, đúng chứ?”
“Cũng không hẳn. Hiện tại cô ấy cảm thấy nó buồn cười. Cô ấy còn có một danh sách các cái tên muốn thử.”
“Có đối thủ nào không?”
“Tôi vẫn ủng hộ cho Victoria,” cô nói một cách lạnh nhạt. “Anh có nghĩ cái tên Vic sẽ được khen không?”
Eddison nghẹn lời, sau đó bỏ cuộc và cười lớn. Cái tên Vic sẽ được khen là điểm mấu chốt, nhưng nó sẽ thật hài hước. “Chúa ơi.”
“Cho nên việc Bliss đang cảm thấy yếu đuối có nghĩa là cô ấy không thể ở bên cạnh những người mong manh và dễ tổn thương.”
“Tôi biết cô và nhóm bạn cùng phòng của cô có định nghĩa riêng về khái niệm dễ tổn thương khi nhắc tới từng người, nhưng liệu ở mãi trong nhà có phải là ý hay?”
“Không, đó là lý do mà chúng tôi sẽ thuê một khách sạn trong vài ngày. Chúng tôi đã ra ngoài vui chơi vài tối khi được nghỉ làm. Cô ấy có thể la hét những điều ngu ngốc mà không phải cảm thấy tội lỗi về việc tổn thương những người vô tội.”
“Tôi không chắc chúng ta có thể tính đó là vô tội. Hoặc mong manh dễ vỡ.”
“Những cô con gái của Vic thì chắc chắn, và cô ấy sẽ không bao giờ tha thứ cho mình nếu làm tổn thương họ.” Giọng cô nhẹ bẫng, có lẽ quá nhỏ để Bliss nghe thấy. “Tôi biết những cô con gái của Vic rất mạnh mẽ. Chúng ta đều biết điều đó. Nhưng họ vẫn rất ngây thơ, bất chấp công việc của bố mình, và đó… đó là một ý tồi.”
“Còn chuyện gì nữa?” Anh hỏi, và nhận được câu trả lời với cái giọng chua loét. Không phải giọng điệu anh thường nghe, nhưng Inara luôn có vẻ như đang ôm một mối thù khi anh đả động tới chuyện này. “Còn điều gì khác khiến cô ấy trở nên như vậy không?”
Cả hai bọn họ im lặng hồi lâu, cuộc hội thoại như rơi vào thinh không, chỉ có tiếng gió và tiếng chửi của Bliss từ đằng xa vẳng lại, nhưng không sao. Eddison có lẽ không phải người kiên nhẫn nhất trong cơ quan, nhưng anh biết cách chờ đợi khi chắc chắn bên kia có một câu trả lời.
Khi cuối cùng Inara cũng trả lời, giọng cô nghe thật đau đớn, từng lời nói ra đều chậm rãi và miễn cưỡng. “Tôi nhận được một lá thư khác từ Desmond.”
“Một lá thư từ… khoan đã, một lá thư nữa?”
“Đây là lá thứ tư rồi. Chúng được gửi tới nhà hàng, và địa chỉ gửi là từ văn phòng luật sư của anh ta. Tôi đoán điều này sẽ lý giải anh ta biết nơi tôi làm việc bằng cách nào.”
“Thế anh ta nói gì?”
“Tôi cũng không biết. Tôi chưa mở một lá thư nào.” Cô thở dài. “Tôi luôn giữ chúng. Tôi sẽ gửi chúng qua. Thật sự tôi đã có ý muốn kể cho các anh nghe ngay từ khi nhận được lá thư đầu tiên, nhưng lúc đó Revana đang gặp chuyện buồn với mẹ cô nên tôi đã quên mất. Sau đó là lá thư thứ hai, tôi cũng định kể cho các anh, thật sự đấy.”
“Nhưng cô đã quen với việc giữ bí mật.” Anh thật sự tự hào về chính mình, rằng lời nói của mình công bằng, trung lập và không phán xét ra sao. Nghe còn có vẻ rất ủng hộ nữa.
“Lá thư thứ ba tới ngay khi vụ Amiko tự sát được đưa tin.”
“Với Akiko thì cô gọi bằng tên thật.”
“Tôi thấy cô ấy được hạ huyệt một cách an toàn.” Hóa ra chuyện này lại khác biệt rõ rệt hơn là nó có vẻ, nhưng chắc chắn anh sẽ không tranh cãi với cô về điều này.
“Và bây giờ là lá thư thứ tư.”
“Những phong bì rất dày. Trông không có vẻ còn thứ gì khác ngoài giấy, nhưng cảm giác như có rất nhiều giấy.”
Trong lý lẽ ít phức tạp nhất - và từ khi nào điều này lại xảy ra trong cuộc đời anh ta? - Desmond Macintosh chắc sẽ không liên lạc với Inara bởi anh ta là nghi can còn cô vừa là nhân chứng vừa là nạn nhân bị chính cha anh ta bắt cóc.
“Nếu tôi thông báo cho văn phòng New York, cô có thể để lại những bức thư trước khi dọn vào khách sạn không?”
Người nào chưa từng chơi đuổi bắt với cô trong phòng hỏi cung có lẽ sẽ không nhận ra sự bối rối của cô trước khi đồng ý.
“Cô cứ đi ra biển, nếu cô chưa có địa điểm nào,” anh gợi ý. “Trời chưa đủ ấm để du khách tắm biển đâu nên đó có thể là một địa điểm thích hợp.”
“Thật sao?”
“Không gian mở, bao la, hoang dã, trải dài vô biên.”
Cô ợm ờ suy tư và anh biết cô đang phân tích từng lớp ý nghĩa của ngôn từ: bởi Vườn đã được bao bọc, trau chuốt và bảo quản một cách hoàn hảo, nhân tạo nhưng đại dương thì chưa bị khuất phục, đủ lớn để khiến bạn cảm thấy mình thật nhỏ bé, và hoàn toàn là chính nó. Không trang điểm, không mặt nạ, không lòe loẹt.
Nó vẫn là nó và anh nghĩ Bliss không phải người duy nhất thấy nó dịu êm. Ngay cả khi cả cô và Inara đều không thừa nhận điều đó.
“Tôi sẽ cho Vic biết về thay đổi trong kế hoạch,” anh bảo cô, thay vì bắt cô cam kết lựa chọn một trong hai ý tưởng.
“Hãy nhắn cho tôi tên đặc vụ mà anh sẽ nói chuyện,” cô đáp. “Tôi sẽ tìm họ.”
Anh lưỡng lự hồi lâu trước khi thở hắt ra bởi vì, chết tiệt, đó không phải là cách cư xử bình thường của anh. “Nếu cô cần điều gì…”
“Tại sao, Eddison, anh lại trở nên mềm mỏng như vậy? Thật là đáng sợ.”
Có lẽ không nên thoải mái đến thế nhưng thật sự là vậy.
Cô sẽ ổn thôi. Cả Bliss cũng sẽ ổn.
Vào một ngày nào đó.
Thứ Năm, khi tôi ra khỏi nhà tới điểm chơi cờ và thấy một khóm hoa loa kèn với phần cuống màu tím ở bậc thềm, tôi nhận ra cho dù mẹ và tôi có cố gắng ra sao để tới được Huntington thì việc này sẽ phức tạp hơn chúng tôi dự tính nhiều. Tôi chụp lại bó hoa này, kiểm tra tấm thiệp - lại là priya - và đặt chúng ở đó cho nhân viên cảnh sát hay đặc vụ nào được cử đến sau khi tôi nhắn tin cho Eddison và email cho đặc vụ Finnegan. Sau khi cho mình năm phút để vật lộn với quyết định này - hầu hết là để chắc chắn rằng tôi có thể sống thoải mái với nó về sau - tôi gửi tin nhắn thứ hai cho Eddison.
Kể nốt cho tôi về những vụ còn lại đi.
Nếu phần còn lại của trò chơi sẽ sớm diễn ra thì người ta chẳng có cách nào né tránh. Tôi không nghi ngờ gì về việc anh sẽ giới hạn những gì có thể kể cho chúng tôi, đồng thời mẹ và tôi có thể giả vờ ngó lơ phần còn lại này. Không ai phải tiết lộ bất cứ bí mật nào.
Trong quá khứ, cuộc sống không phức tạp đến nhường này.
Mười phút sau, tôi nhận được tin nhắn hồi âm với thời gian và số hiệu chuyến bay, sau đó tôi chuyển tiếp tin nhắn ngay cho mẹ. Mẹ sẽ đề nghị tới đón anh, anh sẽ từ chối bởi không thoải mái khi ngồi ghế hành khách trừ khi Vic cầm lái, và có lẽ anh sẽ tới Huntington khoảng một giờ trước khi bà tới đó.
Điều đó vẫn khiến tôi suy nghĩ suốt cả ngày và còn hơi điên cuồng khi liều lĩnh tới chỗ chơi cờ.
Thêm một vài phút nữa, điện thoại tôi rung lên báo nhận một email từ đặc vụ Finnegan, trong đó có tên của hai đặc vụ mà ông cử tới để thu lại bó hoa. Họ chắc phải mất khoảng một giờ để từ Denver tới đây.
Bốn mươi phút sau họ đã kéo đến, còi hụ nhấp nháy trên nóc chiếc SUV đen của họ. Tôi đang ở trong bếp, ngồi co ro một góc cạnh cửa sổ và chọc chọc cái thìa vào bát yến mạch đã đông cứng. Giống như bạn vậy. Hai đặc vụ rất trẻ, có lẽ họ gia nhập ngành chưa lâu, một trong hai người là một cô gái tóc vàng xinh đẹp - có vẻ cô sẽ phải đấu tranh cật lực để được công nhận trong ngành của mình, người còn lại là một anh chàng da màu với bờ vai rộng, chứng tỏ anh đã có một thời tung hoành trên sân bóng suốt những năm tháng đại học.
“Cô Priya Sravasti?” Anh gọi qua cửa chính sau khi gõ cửa. “Tôi là đặc vụ Archer, cô đây là đặc vụ Sterling. Đặc vụ Finnegan đã cử chúng tôi tới.”
Qua cửa sổ, tôi có thể thấy Sterling ngồi sụp xuống bên những đóa loa kèn, tay đeo găng cao su tổng hợp màu xanh.
Tôi kiểm tra lại email có tên hai đặc vụ này, sau đó ra mở cửa. “Hai người tới đúng giờ quá.”
Đặc vụ Archer cười, nụ cười của anh ấm áp và thân thiện nhưng vẫn rất chuyên nghiệp. “Finney - đặc vụ Finnegan - bảo chúng tôi là ông ấy sẽ xem việc này là một sự giúp đỡ cá nhân nếu chúng tôi làm ảnh hưởng tới cuộc sống riêng tư của cô ít nhất có thể.”
Vic có vài người bạn tốt, tôi nghĩ vậy.
Archer hỏi tôi vài câu - tôi đã chạm vào những đóa hoa chưa, tôi có nhìn hay nghe thấy ai đó không, tôi có cảm thấy an toàn khi ở một mình không? - mọi điều mà tôi đã viết trong email cho Finney. Nhưng hơn ai hết, tôi cho rằng, tôi hiểu đó là tính chất công việc của họ, ngay cả khi trông chứng có vẻ thừa thãi nên tôi vẫn kiên nhẫn trả lời, dù anh lặp lại có chủ đích để xem liệu câu trả lời của tôi có thay đổi không hoặc tôi có nhớ ra điều gì mới không.
Trong khi chúng tôi nói chuyện, Sterling kiểm tra bó hoa thật tỉ mỉ, để chắc chắn rằng không làm rơi cái gì từ giấy gói ra. Giấy gói vẫn là màu xanh sống động sắc xuân và những nếp gấp còn rõ. Khi đã xem xét kỹ lưỡng nhất có thể mà không mở bó hoa ra, cô nhẹ nhàng đặt nó vào một túi nilon và dán băng dính niêm phong. Chữ viết tay của cô trên túi và trên phần băng dính có vẻ hơi cứng và khó nhìn ở chỗ băng dính gấp lại. Dường như sẽ dễ hơn nếu cô viết trước khi dán.
Sau đó, có vẻ họ sẽ phải đảm bảo cái nhãn trùng khớp với vật trong túi, việc này sẽ khó hơn nhiều nếu nó được dán nhãn trước.
Sterling mang túi hoa ra xe và đặt nó vào một cái hòm có khóa trong xe. Sau đó cô lôi ra một chiếc thang có chân và hai hộp dụng cụ.
Tôi nhìn Archer.
Anh lại nở nụ cười và đút cuốn sổ nhỏ của mình vào túi áo. “Finney nói công ty của mẹ cô cho phép lắp đặt camera, chúng tôi sẽ lắp đặt chúng khi ở đây.”
“Những hộp dụng cụ ở trong đó,” tôi chỉ vào tủ quần áo. “Chúng là nhãn hiệu mà đặc vụ Finnegan của anh đã giới thiệu.”
“Ngoài cửa chính và cửa sau, nhà cô còn cửa nào nữa không?”
“Không ạ.”
Tôi dẫn Sterling đi xuyên qua ngôi nhà đến cửa sau. Nói thật mẹ và tôi đã gần như quên là có cửa sau cho tới khi Finnegan hỏi liệu có bó hoa nào được đặt ở đó không. Không hề, vì hàng rào đã khiến việc đột nhập vào sân sau trở nên khó khăn hơn một chút nhưng dù sao thì có camera ở đó vẫn hợp lý hơn là không.
Đề phòng.
Từ trong hộp dụng cụ của mình, Sterling lấy ra một bộ dụng cụ được cuộn lại và có móc treo gọn gàng lên cửa như vòng nguyệt quế Giáng sinh. Nó có đủ các loại túi trên đó nên mọi dụng cụ của cô đều dễ lấy khi cô leo lên thang. Người phát minh ra bộ dụng cụ này quả là thiên tài.
Tuy nhiên, Archer lại không có một bộ như thế nên tôi lại choàng áo vào và đi ra cửa trước giúp anh, khi anh chỉ vào một thứ nào đó thì tôi đưa lên cho anh. Chiếc ghế có bậc trong bếp vẫn khá chắc chắn đối với mẹ và tôi nhưng nó rung lên kẽo kẹt dưới sức nặng của viên đặc vụ mỗi khi anh lên thêm một bước.
“Tôi đã nghiên cứu vụ của chị cô ở học viện,” anh mở lời sau một hồi im lặng, những dây nối camera luồn qua các ngón tay của anh.
Lẽ ra tôi nên đáp lại, ít nhất phải có một động thái công nhận lịch sự.
Nhưng tôi đã không đáp lại.
Anh xem chừng vẫn không ngừng lại bởi thái độ của tôi. “Họ bắt chúng tôi đọc qua các vụ án còn chưa giải mã được, cho nên chúng tôi biết trước khi ra thực địa rằng vẫn chưa thể giải quyết toàn bộ các vụ án. Đưa cho tôi cái kìm kia được không? Cái mũi nhọn ấy?”
Tôi làm theo lời anh.
“Chắc cô phải nhớ chị mình lắm.”
“Tôi không muốn nói về chuyện này.”
Tay anh cứng lại. Anh lẩm bẩm, “Tôi cũng đoán vậy.” Một lúc lâu sau, anh không nói gì mà chỉ tập trung làm việc. Một người hàng xóm bên đường vẫy tay với tôi trong khi cô đẩy xe đẩy chở hai bé sinh đôi ra xe tải. Tôi vẫy tay chào lại, mặc dù cô không còn nhìn nữa, bởi một em bé đang ngoái lại. Archer hắng giọng. “Tôi xin lỗi.”
“Về chuyện gì cơ?”
“Tôi đã không phải khi nói những chuyện quá riêng tư. Tôi chỉ đang cố gắng bắt chuyện.”
“Có thể nói về thời tiết mà, đặc vụ Archer, hoặc giao thông. Khóa đào tạo mùa xuân. Tôi không thật sự cần biết rằng anh có lẽ đã thấy những bức ảnh khỏa thân của người chị đã mất của tôi.” Tôi nhìn chiếc xe tải lăn bánh. Em bé còn lại dí mặt vào cửa sổ tạo thành hình quả mâm xôi méo mó; tôi nhẹ nhàng vẫy tay với đứa nhỏ. “Tôi đã biết học viện dùng tài liệu về vụ án làm giáo cụ dạy học; Đặc vụ Hanoverian đã cảnh báo với chúng tôi từ vài năm trước.”
“Nhưng cô hoặc mẹ cô đã cho phép.”
“Chúng tôi không hề. Họ còn không hỏi chúng tôi. FBI được phép sử dụng các vụ án của họ để đào tạo học viên mới; họ không cần xin phép nạn nhân hay gia đình nạn nhân. Để tôi đoán nhé: anh cảm thấy vụ án thú vị và biết ơn khi có cơ hội tham gia điều tra?”
“Gần đúng.”
“Đừng biết ơn. Điều đó đồng nghĩa với việc thấy mừng khi những điều kinh khủng tiếp tục xảy ra.”
“Hanoverian đã giảng bài ở học viện nhiều lần. Ông ấy nói khá nhiều về lòng biết ơn đấy.” Anh chỉ chiếc cờ-lê nên tôi chuyển lên cho anh.
“Anh đã nghe ông ấy nói biết ơn điều gì chưa?”
“Finney không nói với chúng tôi là cô khá cứng đầu.”
Tôi nhìn chiếc ghế, sau đó quyết định không có cách nào đá đổ nó dưới sức nặng của anh mà không tự làm mình bị thương. Vic có lẽ sẽ thất vọng lắm nếu tôi đập một đặc vụ; Eddison sẽ nổi đóa nếu tôi tự làm mình bị thương. “Tôi sẽ đi xem Sterling thế nào.”
Khi tôi cẩn thận quay lại cửa sau, Sterling nhìn tôi lắc đầu. “Tôi đã bảo anh ta đừng có nói chuyện này mà.”
“Thế là cô cũng được học về nó rồi à?”
“Khi tôi học cấp III, một ngày tôi cùng bạn thân của mình đi bộ về nhà thì thấy bố của cô ấy bị bắt đi vì tình nghi liên quan đến một loạt các vụ án mạng. Những gì ông ta làm với những phụ nữ đó… cái ngày chúng tôi nghiên cứu vụ của ông ta, tôi đã về nhà và dành toàn bộ buổi tối chỉ để nôn, bởi tôi từng ở qua đêm tại nhà ông ta mỗi tuần một, hai lần. Tôi chưa từng kể cho bạn mình.”
“Tại sao không?” Lúc đó trong đầu tôi nghĩ sự thật được một người bạn nói ra thì có gì khác cơ chứ?
“Sự kiện đó đã khiến cuộc đời cô ấy đủ khổ sở rồi; sao tôi phải thêm dầu vào lửa cơ chứ?” Cô phủi tay, tháo túi đồ móc trên cửa và bước xuống thang. “Tôi đoán cô đã sống với vụ án của chị mình mỗi ngày. Cô có cần tôi bảo anh ấy không?”
“Không phải bây giờ. Chúng ta sẽ xem liệu việc này có lặp lại không.”
Dù sao tôi vẫn đánh giá cao lòng nhiệt thành của cô. Cô trông còn rất trẻ, có lẽ tốt nghiệp chưa lâu, và đi cùng một cộng sự cấp cao chẳng bao giờ là việc dễ dàng.
“Hãy đảm bảo máy tính của cô có thể kết nối với những chiếc camera, sau đó chúng tôi sẽ không làm phiền cô nữa.” Với một nụ cười mỉm và hơi nhếch về một bên, cô đưa cho tôi tấm danh thiếp của mình. “Trong này có số di động và email của tôi, nếu cô cần gì và phòng khi Finney bận.”
“Chúng tôi sẽ ổn thôi, đặc vụ Sterling.”
Archer chính là người nối các thiết bị, nhưng Sterling lại chỉ cho tôi làm cách nào để quét qua và dừng từng đoạn thời gian, làm thế nào để chụp màn hình từ một đoạn video và gửi nó trực tiếp qua email mà không phải lưu trước. Khi tôi cho cô thấy tôi có thể làm thành thạo, họ sẵn sàng rời đi.
“Cô biết đấy,” đột nhiên Archer lên tiếng, trong khi Sterling đang cất dụng cụ vào chiếc SUV, “nếu cô định cứ chôn vùi bí mật về những vụ án khác, cô nên biết ơn những người khác đã nghiên cứu về chúng. Cơ quan điều tra không sẵn sàng vào cuộc chỉ bởi ai đó gửi hoa cho cô. Chúng có ý nghĩa mà.”
Họ rời đi vào khoảng đầu giờ chiều. Eddison sẽ không tới đây trước sáu giờ hoặc tầm đó, tùy vào tình hình giao thông bên ngoài Denver, điều này cho phép tôi có nhiều thời gian nhưng không đủ cho bài vở trên trường hay tập trung hoàn thành chúng.
Mấu chốt của những đóa loa kèn cuống tím là đây: nạn nhân thứ hai, Zoraida Bourret, đã được phát hiện với những đóa hoa này bao quanh đầu như một vòng cung trong một bức vẽ của Mucha. Hai bàn tay cô được xếp đan chéo, giữ lấy một cành hoa loa kèn gục xuống ngực.
Mỗi nạn nhân lại có một loài hoa và chúng có ý nghĩa riêng, điều gì đó gắn liền với họ trong tâm trí của kẻ giết người. Hai ngày trước khi bị sát hại, Chavi đã đội một vương miện được kết bằng hoa cúc đại đóa lụa và khi tôi tìm thấy chị, trên tóc chị là những đóa cúc thật. Buổi sáng Phục sinh, khi Zoraida đang bảo đám em của cô trật tự để chụp ảnh gia đình, cô cũng cài một đóa loa kèn trên chiếc váy Phục sinh trắng muốt.
Tôi không biết những đóa hoa có ý nghĩa gì với kẻ sát nhân, nhưng tôi chắc chắn biết rõ rằng Eddison sẽ không quá sợ hãi nếu có bất kỳ gia đình nào khác nhận được những bưu phẩm như thế này. Dù đến từ một kẻ hâm mộ hay tên sát nhân, chúng đều có ý nghĩa với tôi.
Đó là điều mà Archer ngạo mạn kiểu “Tôi đã nghiên cứu vụ án nên chắc chắn tôi là chuyên gia” không thể hiểu nổi.
Nhưng Eddison thì có; tôi không thể ngừng băn khoăn liệu anh sẽ nhắc tới nó hay không.
Tôi đun nóng món xúp cho bữa trưa và đổ nó ra một chiếc tách dùng khi đi du lịch. Tuần trước, ở quán Starbucks, một quý bà đã nói chuyện điện thoại rõ to về những khung cửa sổ kính màu mà nhà thờ bà hay tới đi lễ vừa lắp và vẻ đẹp lung linh tráng lệ của chúng. Khi đó, tôi không nghĩ việc phải miễn cưỡng nghe cuộc trò chuyện này có ích gì; nhưng giờ thì tôi thấy nó có một chút ích lợi rồi. Việc nghiên cứu điều tra các ô cửa sổ nghe có vẻ là một cách hoàn hảo để giết thời gian trong mấy tiếng tới.
Hoa trường thọ, sau đó là hoa loa kèn. Thật khó để chỉ ra thứ tiếp theo trong quy luật này khi chỉ mới có hai thứ xuất hiện, nhưng tính đến nay thì chúng tuân theo quy luật của những vụ giết người và những loài hoa đã được gửi tới khi chúng tôi ở San Diego. Không ai bắt đầu một quy luật với ý định kết thúc giữa chừng; nếu có điều gì sắp xảy ra với tôi, nó sẽ chưa xảy ra chừng nào tôi vẫn nhận được hoa. Cho nên bây giờ tôi vẫn an toàn, kể cả ở nhà thờ.
Với túi đựng máy ảnh đeo ở một bên vai, tôi mở địa chỉ trên điện thoại và bắt đầu đi bộ tới đó, thỉnh thoảng tôi lại húp món xúp từ cái tách mang theo. Cứ thế tôi ăn xong bữa trưa trước khi tới nhà thờ, một công trình kỳ quái với phần mặt tiền vàng ệch trông không giống nhà thờ chút nào. Đó là một trong những nhà thờ đã chấp nhận hy sinh tính chất vì diện tích, một nhà thờ to tổ chảng và tiềm tàng nguy hiểm chứ không hề đem lại cảm giác thanh thản. Tôi không theo đạo Thiên Chúa - tôi gần như vô thần - nhưng việc lớn lên cạnh một nhà thờ đá nhỏ màu xám ở Boston đã tạo nên một vài quan điểm cố hữu trong tôi rằng các công trình khác nhau phải trông như thế nào.
Tòa nhà này cũng có những ô cửa sổ, to, hẹp và hoàn toàn không màu. Ơ thế những ô cửa sổ màu sắc mà quý bà kia đã nhắc đến ở đâu cơ chứ?
Tôi đứng bần thần một lúc ở bãi đỗ xe, nhiệt độ lúc này khá thoải mái với một cô gái tầm hơn hai mươi tuổi như tôi và chết tiệt, chuyện quái gì đang xảy ra với tôi thế này khi tôi lại thấy thoải mái cơ chứ?
“Cô bị lạc sao, cô gái?” Một phụ nữ đang đứng dựa vào cửa hông nói với tôi, khói thuốc lờ mờ cuộn lên từ điếu thuốc trong tay bà.
“Có lẽ vậy,” tôi trả lời và đi về phía bà. “Tôi nghe có người nói về những ô cửa sổ mới, nhưng…”
“Ồ, đi qua nhà nguyện, cô sẽ thấy chúng.” Bà vẫy tay, vô ý phẩy luôn cả khói thuốc vào mặt tôi. “Đây, tôi sẽ chỉ cho cô. Một trong những người thành lập nhà thờ nổi điên lên khi họ xây dựng tòa nhà mới nên ông đã để lại một phần tiền để xây một nhà nguyện truyền thống. Ông không thích cái cách nhà thờ bị hiện đại hóa.”
Người phụ nữ dẫn tôi qua cái được gọi là khu công trình phức hợp, tất cả đều nhìn ra tòa nhà màu vàng xấu xí, nhưng qua đoạn cong của bãi đỗ xe và một bãi cỏ trải dài, có một tòa nhà được xây bằng gạch đỏ nằm dựa lưng vào cánh rừng, lạy Chúa, trên đó cũng lắp nhiều kính như gạch vậy, nếu không nói là còn nhiều hơn.
Người phụ nữ cười với tôi, hoặc là vẻ mặt kinh ngạc của tôi, và vỗ nhẹ tay lên cửa. “Cửa không khóa đâu, cô gái. Hãy cứ tự nhiên xem chừng nào cô thích.”
Tôi đặt chiếc cốc đã hết xuống bậc thềm cửa trước và lôi máy ảnh trong túi ra, rồi đi quanh một vòng bên ngoài nhà nguyện. Hầu hết những ô cửa sổ còn to hơn cả tôi, tinh xảo và diễm lệ nhưng không hề lộn xộn. Tôi đã quen với những nhà thờ nơi người ta treo tranh vẽ những bối cảnh và nhân vật trong Kinh Thánh hoặc hoàn toàn trừu tượng, nhưng ở đây những bức vẽ đa phần về thiên nhiên. Một bức có núi và mây, trải dài thăm thẳm. Bức khác có những cuộn gió lốc trắng xóa trên nền hàng chục sắc độ xanh lục và xanh dương. Ở bức tiếp theo, những vệt nước tạo thành đường cho những cây lớn cạnh cửa sổ và những bụi hoa.
Giữa những cửa sổ lớn, những tấm phù điêu nhỏ có kích thước gấp đôi đầu tôi được xếp chồng lên nhau ba tấm một, trông còn truyền thống hơn những chiếc kính vạn hoa sặc sỡ - biểu tượng hàng đầu của vẻ đẹp tinh xảo. Ngay cả khi tôi chuyển sang chế độ đen trắng, sự phong phú về màu sắc ở đây vẫn được phản ánh rõ rệt qua các sắc độ khác nhau.
Tôi không chắc mình đã đi quanh tòa nhà bao nhiêu lần trước khi nhặt chiếc cốc lên và vào bên trong. Ở đó, nơi ánh mặt trời đổ màu xuống sàn nhà, trông không gian có vẻ hỗn độn hơn một chút, những sắc màu từ cửa sổ hướng bắc và hướng tây xếp chồng lên nhau và triệt tiêu lẫn nhau trong những tia sáng thuần túy. Trong này không có ghế, cũng không có chỗ ngồi, chỉ có bộ bốn bệ quỳ được làm từ gỗ tối màu và phủ đệm nhung.
Chavi chắc sẽ vừa thích vừa ghét cái nhà nguyện nhỏ xíu này với sự hỗn độn về màu sắc và ánh sáng của nó.
Tôi tìm được những góc lạ, nơi bụi ánh lên lấp lánh và nhảy múa, khiến ánh sáng trở nên hữu hình, những điểm màu sắc phả lên mặt đá tạo nên những hình ảnh mới mà chỉ con người nhận ra và trông thật kỳ lạ.
Cuối cùng, tôi ngồi xuống một chiếc thảm quỳ, đầu nghiêng về phía cánh rừng, ngập tràn trong cảm giác gợi nhớ rất nhiều về ham muốn bắt được ánh sáng và sắc màu trên giấy của Chavi. Ham muốn đó đã dày vò Chavi đến mức chị chắc sẽ không bao giờ từ bỏ việc theo đuổi phiên bản Chén Thánh của riêng chị, bởi thỉnh thoảng chính ham muốn này nắm giữ ý nghĩa chứ không phải phần thưởng.
Khi tôi hơi lao người lên để cho máy ảnh vào hộp, túi của tôi gấp lại.
Ồ, phải rồi lá thư của Inara. Tôi đã nhận được nó vào tuần trước. Bằng cách nào đó, tôi đã hoàn toàn quên nó trong đống hỗn độn này.
Có lẽ tôi nên xin lỗi cô vì điều đó.
Priya thân mến,
Cảm ơn vì cô đã hồi âm thư tôi; tôi phải thừa nhận rằng bây giờ tôi cảm thấy mình ít giống một kẻ ngốc hơn mội chút. Và ít ép buộc cô hơn.
Nhưng dù sao vẫn rối loạn.
Với lượng thông tin mà truyền thông biết về vụ Vườn Bướm Đêm, còn quá nhiều thứ họ chưa biết. Tôi có cảm giảc rằng hầu hết những thông tin đó sẽ được công bố ở tòa và tôi đã biết một vài thông tin sẽ gây ra những phản ứng có vấn đề. Nhóm luật sư trong vụ Vườn Bướm Đêm đang cố khẳng định rằng tôi sẽ được bảo hộ và giáo dưỡng. Chạy trốn không phải là một tội nhưng dùng giấy tờ giả để làm việc là mội tội và nếu họ có thể chứng minh tôi đã lấy trộm tiền từ nhà bà tôi sau khi bà tôi mất, tôi chắc rằng họ sẽ buộc tội tôi cả vụ đó.
Thật sự tôi rất ngạc nhiên khi họ đã không cố buộc tội tôi giết bà như thể một phụ nữ chẳng làm gì ngoài hút thuốc và uống rượu trước ti-vi thì không thể cứ thế lăn ra chết mà không có sự hỗ trợ.
Và tôi hiểu điều đó, tôi thật sự hiểu. Tôi là một nhân chứng tuyệt vời. Tôi phát ngôn rõ ràng lại không biểu lộ cảm xúc, vả lại tôi có thể kiên trì thuyết phục các cô gái không ở đây tự mình làm như vậy. Bất kể thứ gì mà bị cáo có thể làm để bôi nhọ tôi sẽ khiến cho bóng đen bao phủ tất cả chúng ta.
Cô có bao giờ cảm thấy văn hóa đại chúng lừa dối mình chưa?
Khi tôi đọc báo hoặc xem tin tức về vụ Vườn Bướm Đêm và cuộc điều tra về nó, Inara luôn xuất hiện trong tình trạng bình tĩnh và hoàn toàn tự chủ. Cô không phát ngôn những điều bất ngờ, chưa từng cho người phỏng vấn một cơ hội để bối rối với những điều cô nói.
Tôi tự hỏi liệu có phải cô đã gỡ lớp bảo vệ, từ bỏ một phần nào đó của bộ áo giáp. Hoặc có lẽ cô chỉ cởi ra một lúc, cho phép mình nghỉ ngơi tới khi cô lại cần nó.
Tôi biết chuyện đó gây ra cảm giác thế nào.
Chúng ta có tất cả những bộ phim và chương trình truyền hình trăn trở với hệ thống công lý. Chúng mang lại ấn tượng rằng mọi việc xảy ra rất nhanh, việc xử án và điều tra đồng thời diễn ra, cảnh sát liều mạng thu thập những chứng cứ mới quan trọng cho công tố viên kịp thời làm sáng tỏ vụ án và đưa ra những bản án kịch tính. Chúng khiến mọi việc trông như một bản án, thứ mà những nạn nhân có sẵn trong tay để giúp họ bắt đầu lại quy trình ghê tởm này.
Đương nhiên mấy trò đó thật vớ vấn nhưng cho tới nay, tôi không nhận ra nó đã đi xa thực tế tới đâu.
Ba mươi năm điều tra những tội ác đã nhiều lần bị trì hoãn, đặc biệt khi kẻ ác lại là một tên giàu có và có một đội ngũ pháp lý giỏi. Vụ hỏa hoạn trong vụ Vườn Bướm Đêm - chưa bao giờ tôi nghĩ điều này khiến mọi việc trở nên khó khăn hơn. Đó là lối thoát của chúng tôi. Nó cũng phá hủy những cánh cửa được khóa bằng mật mã đã giam giữ chúng tôi như tù nhân nên bị cáo đã cố gắng cáo buộc chúng tôi đã được thả tự đo nhưng chúng tôi chọn ở lại. Công tố viên đang cố gắng tìm ra tên (và cả bằng chứng) cho từng nạn nhân, nhưng một vài thi thể đã tan nát trong vụ nổ và một số khác thậm chí còn không ở trong Khu vườn, nhưng ở ngay bên ngoài. Cô chắc sẽ nghĩ rằng những thi thể khác được tìm thấy là quá đủ.
Vic đang rất cố gắng để không ai trong chúng tôi cảm thấy nhụt chí, nhưng gần đây ông ấy bảo chúng tôi phải chuẩn bị tâm lý cho khả năng chúng tôi có thể gặp lại cuộc trốn chạy của chính mình trước khi tòa án thật sự bắt đầu.
Ngay cả khi họ chỉ tìm kiếm công lý cho những người sống sót trong đám chúng tôi, họ cũng có quá nhiều bằng chứng và điều đó hoàn toàn không quan trọng. Eddison nói rằng bị cáo có một danh sách các bác sĩ và chuyên gia tâm lý đã sẵn sàng để tiếp tục trì hoãn mọi thứ.
Eddison thật sự đã chửi cho tôi một trận khi có lần tôi nói rằng mình ước tất cả những nạn nhân trong vụ Vườn Bướm Đêm đều chết vì vụ nổ. Anh nói chúng tôi có thể lấy lại công bằng ở tòa án.
Nhưng đó là cái gì cơ chứ? Công lý ở đâu? Những cô gái phải co rúm sợ sệt mỗi khi ra khỏi nhà và nhận được sự chú ý từ mọi phía, bị dọa nạt ở trường, ở chỗ làm và cả nơi trị liệu? Một đứa con trai sẽ biến mình bằng tình yêu si mê để rũ bỏ hoàn toàn tội lỗi của mình? Hay một gã đàn ông có thể thoát khỏi bản án để sống phần đời còn lại trong một cơ sở dưỡng lão đắt đỏ?
Ai cũng bảo tôi phải bình tĩnh, phải đợi để lấy lại công lý.
Ngay cả khi hắn bị tuyên án, ngay cả khi hắn bị xử chung thân không điều kiện hay thậm chí tử hình, liệu có công bằng hay không? Chúng tôi phải phô bày vết thương trước tất cả mọi người, phải để vết thương của mình liên tục chảy máu, phải để ai nấy đều biết rõ mồn một những gì hắn đã làm với chúng tôi; một bản án sẽ thay đổi những sự thật này như thế nào?
Công lý kiểu gì mà lại bắt một bé gái mười hai tuổi đứng trước tòa và một đống máy quay để nói về việc nó bị hiếp dâm?
Nếu họ tìm thấy kẻ đã sát hại Chavi, cô có nghĩ điều đó giúp gì cho cô không? Hay chỉ là tôi đang tự giễu?
Tôi thật sự đang rất cố gắng để tin vào cái công lý này, nhưng tôi không thể ngừng nghĩ rằng sẽ dễ dàng hơn nếu cả ba gã Macintosh đều chết vào đêm đó.
Nếu những ký ức về Chavi không đủ để cô ấy quan tâm tới công lý, tại sao những người còn lại chúng ta lại cần nó đến thế? Chúng tôi có thể làm gì với nó?
Tôi không có câu trả lời cho Inara; thậm chí tôi không có câu trả lời cho chính mình.
Nhưng đôi khi, tôi tự hỏi sẽ ra sao nếu người chết đêm đó là tôi, Chavi là người ở lại để thương tiếc và thay đổi: Dù biết rằng chị yêu cái tốt, cái đẹp vô cùng, chừng đó có đủ để chị giữ niềm tin vào công lý?
Eddison rẽ vào bãi đỗ xe, anh nhìn lên phía nhà nguyện bằng đá và nhún vai. Cho tới khi chết, chắc anh cũng sẽ không bao giờ hiểu nổi vì sao Priya không căm ghét nhà thờ sau khi cô tìm thấy thi thể chị mình. Anh biết việc không bao giờ quay lại nhà thờ ở Boston sẽ giữ lại những kỷ niệm đẹp cho cả cô và mẹ cô, anh cũng biết cô nhìn các ô cửa kính và nghĩ về những buổi chiều nắng đẹp ở bên Chavi, nhưng anh không lý giải nổi vì sao cô vẫn nuôi dưỡng tình yêu cho những nhà thờ nhỏ với nhiều khung cửa sổ vĩ đại.
Priya đi bộ ra, cô mặc áo khoác dài, chiếc áo mà cô chọn mua chỉ bởi nó sẽ quét xuống những bậc thang, khiến cô trông như một nhân vật phản diện trong thế giới Disney và mẹ cô bật cười. Cô chui vào ghế khách bên cạnh, sắp xếp túi máy ảnh và chiếc cốc bằng thép không gỉ quanh ghế trước khi ngồi xuống. “Chào mừng tới Colorado, tình trạng dân số: đông cứng.”
“Điều gì khiến nó tệ hơn ở thủ đô vậy?”
“Những ngọn núi.”
Anh quan sát Priya trong khi cô dựa đầu vào ghế và nhắm mắt lại. “Cô ổn chứ?”
“Mệt mỏi. Vì những cơn ác mộng.” Cô xoay cổ kêu răng rắc, sau đó chỉnh lại dáng ngồi gần như nghiêng, dựa vào cửa sổ để có thể nhìn anh. “Kiểu như tôi đang điên lên.”
Anh gật đầu. “Cô muốn ăn Oreo chứ?”
“Thật ra là tôi ổn.” Nhưng cô lại cau mày, hai bàn tay vẫn còn đeo găng xoắn lại trong lòng. “Đúng là tôi có tức giận, nhưng đến giờ thì ổn.”
“Cô sợ ư?”
“Vâng.”
Anh biết ơn vô cùng vì cô đã không cảm thấy cần phải che giấu nỗi sợ của mình.
Căn nhà mà mẹ con Sravasti thuê đẹp đẽ nhưng nhạt nhẽo, nằm trên một con phố đầy những ngôi nhà tương tự, không căn nào thật sự khác biệt. Trong khi vài người hàng xóm đã cố gắng thể hiện cá tính của mình thông qua việc trang trí cho căn nhà bằng cờ hay tượng, căn nhà của mẹ con Sravasti có một mặt tiền nhạt nhòa đến mức thất vọng. Anh không thể nói rằng anh ngạc nhiên vô cùng vì điều đó.
Trước khi theo cô vào nhà, anh dừng lại ở bậc cửa chính, nhìn lên thiết bị treo trên đầu. Anh nhìn thấy camera với ống kính được lắp ở nơi nó có thể thu được cảnh rộng nhất. Trên máy cũng không có đèn nhấp nháy cho thấy nó đang hoạt động, anh đặc biệt thích điều này. Nó sẽ giúp chiếc camera hoạt động bí mật hơn.
“Hắn ta có vẻ như ở quanh khu này,” cô kể cho anh, trong lúc cởi chiếc áo khoác nặng nề và treo vào tủ.
“Là sao?”
“Bất kỳ kẻ nào gửi hoa tới. Cả hai lần hoa đều được đặt giữa ban ngày nên dù là kẻ nào làm, hắn ta trông cũng phải thích hợp với khu vực này. Trong khu phố này có những người làm việc ở nhà hoặc không làm gì và hắn ta sẽ không nổi bật theo kiểu không thuộc về nơi này.”
“Đã nói cho Finney nghe điều này chưa?”
“Chưa, nhưng tôi đã kể với Sterling và Archer.” Cô chìa tay ra để đỡ lấy áo khoác của anh. Anh cởi găng tay và khăn, nhét chúng vào túi trước khi đưa áo cho cô. “Cà phê chứ?”
“Tôi sẽ pha.” Bởi vì anh đã uống cà phê do Priya pha, nó thật sự có vị giống như được pha bởi một người không uống cà phê bao giờ. Đây là một trải nghiệm mà anh không bao giờ muốn lặp lại trong đời.
“Tôi sẽ gặp anh trong phòng khách sau nhé.” Ngồi xuống ghế, cô với đến ngăn kéo nhỏ của chiếc bàn lênh khênh và lôi ra một hộp diêm. Cô quẹt một que mà không cần nhìn và thắp ngọn nến đỏ to đùng trong khi đặt một nụ hôn lên góc khung ảnh mạ vàng đã bị mòn của Chavi.
Sau khi cô đi lên gác, anh nhìn ngắm bức ảnh. Nước da của Chavi sậm màu hơn hẳn Deshani và Priya, gần như nước da của bố cô, nhưng Chúa ơi, cô trông rất giống Priya. Hay đúng hơn là Priya trông giống cô. Anh đã từng thấy cô trang điểm chỉ với hộp phấn phủ nhỏ xíu, chưa bao giờ cần tới bút kẻ mắt đen nặng nề hay nhũ bạc, trắng hay xanh.
Bao nhiêu phần trong đó là bởi cô thấy người chị đang nhìn lại cô qua gương?
Anh lắc đầu, rồi xuống sảnh để đặt chiếc túi đựng máy tính lên ghế và quay lại bếp. Priya có lẽ không thích cà phê nhưng mẹ cô ấy thì uống món này như nước và chắc chắn máy pha cà phê là vật dụng được yêu thích nhất trong bếp. Anh phải chăm chú quan sát nó một lúc để tìm ra cách điều chỉnh vì Deshani đã pha một thứ gì khác không phải cà phê truyền thống, nhưng anh không tốn nhiều thời gian để bắt đầu sử dụng máy. Anh có thể nghe thấy tiếng Priya đi xuống cầu thang và yên vị trong phòng khách.
Khi quay lại phòng khách, suýt chút nữa thì anh đánh rơi chiếc cốc. Priya đang duỗi dài người trên thảm, mái tóc đen xòa ra xung quanh cô, hai chân cô vắt chéo lại ở đoạn cổ chân và gác lên tay ghế. Đôi tay cô ôm chặt lấy vùng bụng. Anh nhắm mắt lại, hít một hơi dài để đẩy hết những hình ảnh từ tập tài liệu anh đã đọc đi đọc lại đủ nhiều đến mức nó in đậm trong trí nhớ.
“Màu xanh dương,” cô nói.
“Sao cơ?”
“Chavi thích màu đỏ, còn tôi thích màu xanh dương.”
Anh mở mắt ra, tìm kiếm những mảng màu xanh dương trên tóc cô, quanh mắt cô, những tia sáng xanh của những viên pha lê trên mũi và giữa hai mắt cô. Son môi đỏ của cô cũng đậm hơn màu Chavi đánh trong ảnh vài tông nhưng biểu tượng của cô là màu xanh và bạc, chứ không phải đỏ và vàng, và có lẽ màu sắc không tạo ra được nhiều khác biệt nhưng dù sao nó cũng giúp anh phân biệt hai chị em.
Anh ngồi trên ghế và với lấy chiếc túi của mình, nhưng cô lắc đầu. “Đợi mẹ tôi về đã. Chẳng có lý gì chúng ta phải nói đi nói lại hai lần.”
Cho nên một giờ tiếp theo họ chỉ dành để nói về Ramirez và cô gái ở Ban Phòng chống khủng bố mà cô ấy vẫn chưa gọi là bạn gái, về Vic và cơn hoảng loạn của ông khi cô con gái lớn chuẩn bị lên đại học vào mùa thu này. Họ nói về khóa đào tạo mùa xuân, đoán xem ai có thể phấn đấu đến cùng để vào Chuỗi Điệp vụ Thế giới, và đó là những thứ anh có thể cho cô, tình yêu bóng rổ và số học cùng những con số thống kê điên rồ.
Deshani về tới nhà lúc bảy rưỡi, thả những chiếc túi xuống mặt bàn cà phê và càu nhàu với chúng trước khi lên gác.
Anh liếc nhìn Priya.
“Trông bà sẽ giống một người bình thường hơn khi bà thay quần áo ở nhà,” cô đáp, bứt những sợi bông trên chiếc quần pajama kẻ. “Một khi về đến nhà, bà muốn được mặc quần áo thoải mái đúng nghĩa.”
“Hai người là những người duy nhất mà tôi biết coi pajama là trang phục đúng nghĩa hơn vest.”
“Bởi anh thà cả ngày thắt cà vạt còn hơn mặc áo thun in chữ cổ động?”
Anh không có câu trả lời cho vấn đề này. Đúng hơn thì anh có, nhưng nói ra cũng chẳng ích gì.
Priya thu gọn tay chân, sau đó đứng lên để lấy đĩa và dụng cụ ăn uống trong bếp. Khi quay lại, cô cũng cầm theo một cái bát và nhún vai khi bắt gặp ánh nhìn tò mò của anh. “Chúng tôi chỉ mới dỡ ra hai chiếc đĩa thôi.”
“Những người ngoại đạo.”
“Đúng đó.”
Anh cười phá lên, nhưng rồi cũng chấp nhận cầm lấy một chiếc đĩa. Trước khi Deshani xuống ăn tối với họ trong chiếc áo phông Cambridge dài tay cùng quần legging, Priya đã chia xong đồ ăn cho ba người bọn họ. Thói quen này mang tới cảm giác thoải mái, thân thuộc từ bảy tháng kỳ lạ vừa qua mà họ đã sống ở những thành phố khác ngoài thủ đô. Deshani chiêu đãi hai người họ bằng những câu chuyện cười về anh trợ lý căm thù cuộc hôn nhân của mình và cả niềm hứng thú của riêng bà trong việc giáng chức anh ta nếu anh ta tỏ vẻ thích một sếp nam hơn. Câu chuyện sắc sảo và hài hước, Eddison có cảm giác rằng nguyên do duy nhất mà tên ngốc đó chưa bị đuổi việc là bởi Deshani thấy anh ta rất hài hước.
Chuyện này hơi phiền hà.
Chỉ khi bữa tối đã được dọn gọn gàng và những ngón tay của Priya đang bẻ vụn chiếc bánh quy mà không thật sự ăn bánh, Deshani mới thở dài và nhìn chiếc cặp đen rúm ró. “Được rồi. Vậy tin xấu mà chúng tôi chuẩn bị đón nhận là gì nào?”
Chúa ơi.
Anh ngửa ra ghế, xoa tay lên mặt để kéo những suy nghĩ trong đầu về một trình tự hợp lý. “Khi Aimée Browder bị sát hại ở San Diego, chúng tôi đã đi đến kết luận rằng chắc hẳn đó đơn giản là một sự trùng hợp kinh khủng.”
Priya nhắm mắt, rõ ràng là quá tuyệt vọng như thể cô đang co rúm lại, nhưng điều đó khiến anh cảm thấy mình giống một tên khốn. Có lẽ có cách khác tốt hơn để bắt đầu cuộc trò chuyện này, khốn nỗi anh không biết đó là gì.
“Hai người không thấy có gì đáng nghi, không ai trông giống một kẻ từng xuất hiện ở Boston, và chúng tôi cũng không thể tìm ra manh mối gì. Cũng kỳ lạ như cách hai người kết nối với nạn nhân thứ hai, chúng tôi chưa thể tìm ra điểm gì chứng minh đó không phải một sự trùng hợp kỳ lạ.”
“Anh cũng nghi ngờ, đúng chứ?” Deshani hỏi một cách sắc bén.
“Đúng, nhưng tôi không có gì làm bằng chứng.”
“Những bó hoa mà chúng tôi nhận được có thể thay đổi điều đó.”
Anh miễn cưỡng gật đầu. Anh không muốn Priya cảm thấy tệ - đúng hơn là tệ hơn - nhưng lời khẳng định của mẹ cô rõ ràng là đúng. “Chẳng có bất kỳ lý do gì để hai người cho rằng chúng là chứng cớ quan trọng. Đặc biệt là khi không biết chi tiết về những vụ án khác.”
“Tại sao những bó hoa lại quan trọng?” Priya khẽ hỏi. Cô ngồi dựa vào đôi chân Deshani đang gập lại, mắt vẫn nhắm nghiền, những ngón tay Deshani nhẹ nhàng lướt qua mái tóc có những vệt xanh dương của cô.
“Giống như Chavi được tìm thấy với hoa cúc đại đóa, mỗi nạn nhân đều bị bỏ lại với một loài hoa khác nhau. Cô gái đầu tiên là hoa trường thọ, cô gái thứ hai là hoa loa kèn.”
“Và Aimée?”
“Hoa bất tử.”
Priya hơi bực dọc. “Mẹ cô ấy trồng loài cây này. Bà có một khu vườn trên mái của phần vòm trước, bà còn trồng cây này làm thức ăn nữa. Aimée ngày nào cũng ngắt trộm một ít để cài lên tóc. Mẹ cô chưa bao giờ mắng cô nặng lời và họ luôn cùng nhau phá lên cười sau đó. Anh có biết hoa này còn tên gọi nào khác chứ?”
Anh lắc đầu.
“Tình yêu - Lừa dối - Nhỏ máu.”
Ôi, quỷ tha ma bắt.
“Cho nên, bất kể ai gửi hoa thì hắn cũng đang bắt chước toàn bộ trình tự của tên giết người,” Deshani nói. Bà nhìn xuống mái tóc của Priya, dùng ngón cái của mình để đo chiều dài từ chân tóc tới chỗ những vệt màu bắt đầu. “Chúng ta cần giải quyết việc này.”
“Tôi sẽ ghi nhớ ý nghĩa này để điều tra.” Eddison hắng giọng.
Deshani nhướn mày đáp lại.
“Vẫn chưa có cách nào biết được chính kẻ giết người đã gửi hoa hay chỉ là một kẻ biến thái trong vùng đã biết hai người là ai và đang cố gắng khủng bố hai người. Sự xuất hiện của các bó hoa ở San Diego, sự trùng hợp mà hai người nhớ được trong những tấm thiệp gợi ý đó là tên giết người, nhưng chúng ta chưa thể tìm ra bằng chứng.”
“Cái gì là bằng chứng cơ chứ?”
Anh cứng đờ và cả hai người phụ nữ nhướn lên để nhìn anh rõ hơn.
“Ồ,” Priya thì thầm.
“Ồ?” Deshani hắng giọng, kéo nhẹ mối nối trên tóc con gái mình. “Ý nghĩa chính xác là gì cơ?”
Eddison gật đầu. “Trừ khi hoặc cho tới khi hắn cố gắng tấn công, hoặc chúng tôi bắt được hắn đang để lại những bó hoa, chẳng có cách nào biết được. Những bông hoa tự chúng không có ý nghĩa đầy đủ.”
“Không có ý nghĩa đầy đủ ư?”
“Tự chúng không thể có ý nghĩa đe dọa,” Priya nói. “Nếu không có bằng chứng chứng minh ý nghĩa ngược lại, chúng chỉ là một món quà và một lời cảnh báo thôi.”
“Những bông hoa của Schrödinger,” mẹ cô cười lớn. “Thật đáng yêu.”
“Vậy tại sao FBI lại vào cuộc?”
Tại sao anh lại không đề nghị Vic đi cùng mình nhỉ? Vic giỏi hơn anh rất nhiều trong những trường hợp như thế này.
“Eddison?” Đôi lông mày của Deshani nhướn cao như thể sắp biến mất vào tóc bà. “Tại sao trông anh lại có vẻ như chúng tôi vừa gọi tên một phạm nhân nhận án tử vậy?”
“Bất kể là ai đặt những bó hoa, đó vẫn là nhiệm vụ của FBI,” anh nói với họ. “Vì vụ này không chỉ xảy ra trong phạm vi một bang, nên đó thuộc trách nhiệm của chúng tôi.”
“Nhưng?”
Thở dài một cái, anh kể cho họ nghe một phiên bản đã được chỉnh sửa cẩn thận về quá khứ của Vic và Finney với sếp tổng Martha Ward, và tầm nhìn hạn hẹp của cô ta về trách nhiệm trong vụ này. Họ chăm chú lắng nghe, với sự tập trung có thể khiến bạn hài lòng nếu bạn không biết họ và sợ hãi nếu bạn biết họ. Khi anh kể xong, cả hai mẹ con nhìn nhau một cách bí hiểm hồi lâu.
“Tầm nhìn hạn hẹp,” Deshani cuối cùng cũng lên tiếng. “Có bao nhiêu khả năng cô ta có thể ngăn cản các đặc vụ tới đây?”
“Nếu vụ này chỉ xảy ra gián đoạn thì khả năng can thiệp của cô ta là không lớn,” anh thừa nhận. “Finney không thích phe phái chính trị và ông ấy cũng không muốn rời thực địa nhưng nếu là việc của hai người, thời gian ông ấy ở trong ngành lâu tương đương với Vic; nếu ông ấy muốn đánh cô ả, có lẽ sẽ đau đó. Miễn là những chuyến ghé thăm không quá lâu, có lẽ cô ta cũng không can thiệp đâu.”
“Cho tới khi nó xảy ra dồn dập?” Priya lắc đầu, và có gì đó tối tăm trong mắt cô, cái gì đó mà anh không chắc làm sao có thể hỏi. “Khi những báo cáo từ phòng thí nghiệm về những bó hoa bắt đầu tốn nhiều thời gian và chi phí hơn mức cô ta cho phép?”
“Priya…”
“Có phải chúng ta đang mắc kẹt trong đó không?”
“Có lẽ.” Anh lờ đi lời chửi thề lầm bầm của Deshani để duy trì giao tiếp bằng mắt với Priya, cố gắng để mình trông chắc chắn nhất có thể. “Vic và Finney sẽ không nhượng bộ và để mặc cô ta tự tung tự tác. Họ sẽ đấu tranh cho hai người. Chúng ta phải bắt được tên đó trước khi trường hợp xấu kia xảy ra.”
“Nhưng trong thời gian đó, con gái tôi sẽ phải sống nhờ sự nương tay của một kẻ biết rõ chúng tôi sống ở đâu và có lẽ cũng là kẻ giết hại chị gái nó ư?”
Anh không thể làm gì khác mà chỉ khúm núm trước câu hỏi của bà.
“Thế bây giờ họ đang làm gì?”
“Finney đang tìm kiếm Landon,” Eddison nói. “Vì không biết họ của ông ta nên công việc trở nên khó khăn hơn.”
“Thế cậu nghĩ ông ta có thể là kẻ tình nghi à?”
“Kẻ cần quan tâm giám sát, tại thời điểm này. Chúng tôi sẽ xem mọi việc đi tới đâu.”
“Tất cả đều phải chờ đợi sao?” Priya khẽ hỏi.
“Đúng vậy, cho tới khi không còn phải thế nữa.” Anh cười gượng gạo. “Nhưng hai người đã biết điều đó rồi.”
“Vậy chúng tôi sẽ đợi.”
“Tại sao anh phải đi cả chặng đường dài chỉ để nói điều này với chúng tôi?” Deshani nghiêng đầu về một phía, gõ hai ngón cái lên bàn chân mình theo một giai điệu lặp đi lặp lại nhưng không thể đoán ra. “Không gì là không thể nói qua điện thoại.”
“Bởi tôi muốn hai người nhìn mặt tôi khi tôi hứa sẽ không để tên khốn đó đụng đến hai người.”
Cả hai người phụ nữ đều đã nghiên cứu anh đủ lâu để khiến anh vã mồ hôi. Mỗi người có lối ảnh hưởng riêng, nhưng cả hai cùng lúc thì hơi quá.
Sau đó Priya thở hắt ra một cái như thể trút hết nỗi bực dọc, cũng có thể đó là một tiếng cười. “Anh ấy cần phải nhìn mặt chúng ta bây giờ, mẹ à. Chúng ta là gia đình mà; anh ấy muốn chắc chắn rằng mẹ con mình ổn.”
Những tiếng khúc khích của Deshani không khiến máu dồn lên mặt anh nhưng thật sự anh không kiểm soát nổi.
Anh không dám nói cô đã sai.
Sáng hôm sau, Eddison mang ra những chiếc bánh donut mới làm và ngồi trên ghế với một chồng giấy tờ khi tôi học với giáo viên hướng dẫn ở Pháp qua Skype. Bất chấp mọi việc đang xảy ra, tôi thật sự đã làm bài tập rất tốt và giáo viên hướng dẫn rất tự tin bảo rằng tôi có thể đăng ký một lớp bình thường mà không gặp khó khăn gì khi mùa thu tới.
Mẹ và tôi đã thảo luận về việc cố gắng tốt nghiệp sớm, ngay ở nước Mỹ, và bắt đầu học đại học vào mùa thu nhưng việc đó nghe khó như nhảy từ vách đá và lặn xuống biển vậy: về lý thuyết thì rất kỳ thú nhưng có lẽ đó không phải cách hợp lý nhất để sống một cuộc đời. Ngôi trường mà giáo viên hướng dẫn của tôi cộng tác có rất nhiều học sinh quốc tế nên họ có hệ thống hỗ trợ rất tốt cho học sinh đang trong giai đoạn chuyển tiếp sang ngôn ngữ Pháp, mọi lúc.
Khi tôi đã nhận đủ việc để cảm thấy mình thật là ngoan - và Eddison đã nốc lượng cà phê không phải loại lấy từ khách sạn nhiều đến một nửa cân nặng của anh - chúng tôi mặc quần áo ấm và đi thẳng ra khu chơi cờ.
“Ngày nào cô cũng đi bộ ra đó à?” Anh hỏi.
Tôi lắc đầu, đợi đèn đổi màu ở ngã tư. “Trung bình một tuần tôi tới đó ba lần. Bất cứ khi nào tôi thích.”
“Có quy luật nào không?”
“Tôi thường không tới đó vào thứ Ba; hôm đó tôi thường có hẹn với bác sĩ.”
Eddison gật đầu, lẩm bẩm nhắc lại lời tôi và tôi có cảm giác gần như nhìn thấy anh đang ghi vào cuốn sổ tâm trí của anh. Bất kể anh đang không cầm theo cuốn sổ bọc da hiện đang nằm trong ba lô của anh, anh vẫn thực sự cố gắng để nó giống một phần của cuộc trò chuyện thông thường, kể cả khi nó là về một vụ án.
Hôm nay trời đã ấm hơn, đủ để tôi không cần khoác chiếc áo dày cộp của mình, nhưng vẫn lạnh để một chiếc hoodie mặc ngoài áo phông dài tay là không đủ. Tôi vẫn choàng khăn quanh cổ và co rúm người dưới lớp áo kéo khóa, đeo găng tay, đội mũ và đi bốt. Nhưng bây giờ đã là giữa tháng Ba ở Colorado và cuối cùng thời tiết trông cũng có vẻ giống mùa xuân rồi đó.
Anh đã có những tấm hình tôi chụp nhóm người chơi cờ nhưng vẫn muốn cảm nhận họ một cách trực tiếp. Và dù anh không nói ra, tôi biết anh đặc biệt muốn tự mình cảm nhận về Landon.
Happy gọi tôi từ khi chúng tôi đến bãi đỗ xe. “Cô bé Xanh Dương! Lại đây chơi với ta nào! Nãy giờ ta thua mãi!”
Eddison cười nhẹ bên cạnh tôi.
Tôi lắc đầu, bước qua bãi cỏ và chào mọi người. Gunny đang ngủ gật, hai má ông được che kín bởi hai tai mũ phủ xuống mà tôi dám chắc đã nhìn thấy Hannah đan vào tuần trước. Landon ở tít phía đối diện, nơi ông thường đi loanh quanh. Gunny không tin tưởng người đàn ông này lắm, tôi nghĩ vậy, nhưng cũng không bảo ông ta rời đi. “Đây là bạn cháu, Eddison,” tôi giới thiệu. “Anh ấy sẽ ở đây vài ngày ạ.”
Eddison gật đầu, trông anh giống một mối đe dọa trong chiếc áo khoác dài màu nâu. Bằng cách nào đó, chiếc khăn màu xanh neon không thật sự đủ xấu để hủy hoại vẻ ngoài của anh.
Pierce gãi gãi mũi, nhìn Eddsion từ đầu đến chân. “Cảnh sát à?” Cuối cùng ông lên tiếng hỏi.
“Kiểu vậy.”
Vài người trong số họ gật đầu, và đó là toàn bộ phần giới thiệu. Những bức ảnh mà tôi gửi anh qua email đều có phần ghi chú tên của từng người phía dưới, và trong khi những cái tên Yelp, Corgi hay Happy không thật sự giúp ích gì nhưng Eddison sẽ bắt đầu từ chúng.
Tôi ngồi xuống đối diện Happy để nghe được cuộc trò chuyện bắt đầu từ sau lưng mình. Eddison lảng vảng xung quanh các bàn, quan sát các ván cờ. Tôi nghĩ cảnh sát (kiểu như thế) sẽ đủ thân thiện để tạo một mối quan hệ tốt với những cựu binh. Không ai nhìn anh đến lần thứ hai, thật thế.
Trừ Landon.
Landon đang bồn chồn, nhiều hơn thường lệ. Mắt ông đảo quanh như để nhìn cách tất cả những người còn lại tiếp nhận Eddison và ông đánh rơi gần hết các quân cờ ông định đi. Một quân Xe rơi mạnh đến nỗi làm móp cả bàn cờ, mặc dù bên dưới đã có tấm lót.
Trong khi Eddison ngồi xuống đầu bên kia băng ghế mà Landon đang ngồi, anh bắt đầu trò chuyện dễ dàng và thoải mái với người chơi còn lại. Thật thú vị khi nhìn thấy khía cạnh đặc vụ trong Eddison, khi anh không nhảy nhót xung quanh những phẩm chất nhạy cảm của một đứa trẻ.
Họ nói về những khu dân cư và tình hình an ninh, tôi không nghĩ họ nhận ra họ đã nói cho anh nghe về nơi họ sống và bối cảnh xung quanh họ nhiều đến nhường nào. Anh mời họ giới thiệu về bản thân và thu được danh tính của họ mà không cần tốn công sức, khiến họ bật cười với những câu chuyện từ những khóa đào tạo thể lực trong học viện FBI, điều mà họ cố gắng để đánh bại với những hành động liều lĩnh ở trại tập trung.
Một lần nữa, Landon lại là ngoại lệ. Ông ta không cho anh biết tên - thậm chí chỉ là tên thôi - mặc dù những người khác đã gọi tên ông ta và ông ta không hề ngẩng mặt lên khỏi bàn cờ trong suốt thời gian họ trò chuyện về các khu dân cư. Eddison để ý mỗi khi Landon do dự và tôi dám cá rằng anh có sẵn tấm bản đồ Huntington để đánh dấu những khu vực có thể là nơi Landon sinh sống.
Chẳng cần phải dọa dẫm công khai, Eddison cũng khiến Landon hoảng loạn thực sự.
Thực ra có một chút lo lắng ở đây bởi vì Landon đúng là một kẻ đáng sợ nhưng ông ta cũng không nhất thiết phải sợ hãi đến vậy trừ phi có điều gì cần che giấu. Chuyện này cũng có phần hài hước nữa, bởi Eddison và mẹ có nhiều điểm chung hơn tôi nghĩ. Tôi khá chắc anh sẽ cảm thấy xúc phạm nếu tôi nói với anh điều đó.
Tôi sẽ giữ nó cho một dịp đặc biệt.
Nhìn chung - tất cả mọi lần tôi từng tới đây - Landon sẽ không rời khỏi chỗ chơi cờ cho tới khi tôi đi nên ông ta có thể theo sau tôi vào siêu thị. Lần này, ông ta chỉ ở lại đó một tiếng trước khi lí nhí chào tạm biệt và rời đi nhanh chóng.
Steven, một trong những cựu binh trong trận Bão Sa mạc, hay để ý ông ta, liếc nhìn nụ cười đầy suy tư của Eddison rồi quay sang nói với tôi: “Nếu ông ta làm phiền cháu, lẽ ra cháu nên nói với chúng ta”.
“Cháu không muốn làm hỏng bầu không khí ở đây.”
“An toàn là trên hết.”
Nhưng họ là những cựu binh già và thỉnh thoảng bất đồng ý kiến về hành vi nào là phù hợp và không phù hợp giữa đàn ông và phụ nữ. Tôi thích họ và cả tinh thần hào hiệp của họ, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi cho rằng chúng tôi có chung quan điểm.
“Eddison có việc ở đây,” tôi nói. “Đánh giá liệu cháu có mất trí hay không chỉ là nhiệm vụ phụ thôi.”
Steven quay lại phía Eddison, đang ngồi thoải mái trên một chiếc ghế cắm trại bị bỏ không. “Thế cô ấy có mất trí không?”
“Mất trí ư?” Anh nhún vai khi thấy cái gật đầu của Steven. “Không. Ông ta sẽ không chạy đi như thế trừ phi ông ta biết trong đầu mình đang là những suy nghĩ sai trái.”
“Cậu có định làm gì không?”
“Tôi không thể bắt một người chỉ vì những suy nghĩ của họ, nhưng nếu ông ta còn biết sợ Chúa trừng phạt, chắc ông ta không dám hành động.”
Tất cả bọn họ đều gật đầu đồng ý, bởi người đàn ông ấy quan tâm tới chuyện này nên nếu nó không quá vô nghĩa, có lẽ tôi sẽ cảm thấy bị xúc phạm.
Mặt biển và những dãy núi khoác lên nhiều sắc thái khác nhau của cái lạnh, ngay cả khi nhiệt độ về lý thuyết thì giống nhau, nên Eddison thậm chí đã ở lại thêm một giờ trước khi hai hàm răng của anh bắt đầu va vao nhau dù mấy cái máy sưởi vẫn hoạt động. Tôi hôn lên má ông Gunny, khiến những người còn lại huýt sáo và la hét đồng thanh, rồi dẫn Eddison vào trong cửa hàng.
Anh cau có nhìn logo của Starbucks. Anh luôn có ác cảm với những hãng cà phê sang chảnh nên bất cứ nơi nào có giá hơn một đô cho một cốc cà phê đen cỡ lớn đều nhận được sự thù hằn vĩnh cửu từ anh. Khi chúng tôi sống ở thủ đô, trò tiêu khiển yêu thích của Mercedes là nhìn Eddison và mẹ uống cà phê cùng nhau.
Khi anh đang nhìn tấm biển hiệu như muốn đốt cháy nó, tôi thấy Joshua đứng dậy khỏi bàn, chiếc áo khoác vắt một bên tay. Anh có vẻ thích những chiếc áo len của ngư dân; ít nhất thì có vẻ anh có vô vàn những chiếc áo như vậy. Chiếc áo anh đang mặc có màu thạch thảo đã phai, khá hợp với mái tóc màu nâu vàng ánh xám của anh. Anh nhìn tôi và cười, nâng cốc trà của mình lên như để chào, nhưng đi một mạch ra cửa mà không dừng lại nói chuyện.
Với đồ uống trong tay, Eddison và tôi trở về nhà, chúng tôi giữ bầu không khí yên lặng thoải mái suốt cả chặng đường. Cả hai chúng tôi đều dừng lại và quan sát bậc thềm trống không.
“Tôi không chắc có phải mình đã mong sẽ có hoa ở đó không nữa.” Sau một lúc yên lặng, anh nói.
“Tôi biết cảm giác đó.”
Khi tôi đã an toàn bên trong nhà, cửa khóa lại phía sau, chuyến bay của anh cũng cất cánh tới Denver, để gặp mặt và báo cáo cho Finney, sau đó anh sẽ quay lại Bờ Đông. Tôi không hề phớt lờ việc anh đã cố gắng thế nào để có thể giúp tôi, hoặc có lẽ giúp cả anh nữa. Lẽ ra tôi chỉ nên là một phần của vụ án, chứ không phải một phần của cuộc đời anh, nhưng năm năm sau đó, chúng tôi đã thật sự thân thiết hơn cả ruột rà máu mủ theo nhiều cách và tôi chưa từng hối tiếc vì điều đó.
Tôi không nghĩ anh có gì phải hối tiếc, ngay cả khi điều này đã khiến anh phải đưa ra những quyết định khó khăn.
Tôi dành vài giờ tiếp theo để chuẩn bị bài vở, bởi có vẻ đó là một hành động trách nhiệm, và lý sự với mẹ qua tin nhắn xem tối nay chúng tôi sẽ ăn gì (cuối cùng mẹ cũng thắng, nhưng chỉ bởi chúng tôi đã không ăn cà ri từ khi còn sống ở Birmingham), sau đó lấy lá thư của Inara ra đọc.
Tôi không biết vì sao mình đã không kể cho Eddison về những bức thư này. Anh quen cô ấy, kể cả anh không chắc liệu anh có quý cô không (anh đã cho đi nhiều hơn những gì anh nhận ra rất nhiều). Tuy vậy, được giữ lại lá thư này cho riêng mình cũng tốt. Đúng hơn là giữ lại vì mình.
Đặt lá thư lên trên cuốn nhật ký đang viết dở của mình, tôi vớ lấy cuốn nhật ký đầu tiên hồi còn ở Washington từ chồng nhật ký trên sàn nhà. Tất cả chỗ còn lại vẫn ở dưới lầu, nhưng San Diego là nơi mọi sự đã thay đổi và Washington là nơi tôi nhận ra chúng thay đổi nhiều tới nhường nào, nhưng tôi chẳng thể làm gì ngoài đọc lại chúng để tìm thêm manh mối.
Hai năm trước, tôi đã có một người bạn ở San Diego. Tên cô là Aimée Browder, cô yêu thích mọi thứ thuộc về nước Pháp. Bất chấp tôi có cố gắng ra sao để cô lập bản thân, cô vẫn ở đó; luôn ở đó, nhưng không hề khiến tôi cảm thấy bị thúc ép hay làm phiền. Tôi để cô dẫn dắt vào câu lạc bộ Tiếng Pháp, rồi xem phim, ra ngoài hẹn hò và cả những buổi chiều tôi ngồi bên cửa phòng tập ba lê của cô để làm bài tập về nhà trong giai điệu âm nhạc cổ điển, lời hướng dẫn lầm rầm và tiếng nện của những cú tiếp đất thành công.
Bất chấp mọi thứ, cô đã thật sự là bạn tôi nên khi tôi và mẹ chuẩn bị chuyển tới Washington, tôi đã hỏi Aimée liệu chúng tôi có thể tiếp tục giữ liên lạc không. Và thật sự thì chúng tôi có giữ liên lạc, trong khoảng một tuần rưỡi đầu tiên. Tôi không hề lo lắng khi không nhận được hồi âm trong vài ngày đầu, bởi cả hai chúng tôi đều bận. Tôi nghĩ cô sẽ trả lời khi có cơ hội.
Sau đó tôi nhận được một cuộc gọi từ mẹ của cô ấy, bà khóc nức nở đến mức không thể nói được mà phải đưa điện thoại cho chồng mình để ông báo với tôi rằng Aimée đã chết. Con gái họ, bạn của tôi, đã bị sát hại và ngay sau khi ông nhắc tới hai từ nhà thờ và hoa, tôi biết vụ này có liên quan tới vụ của Chavi ở khía cạnh nào đó. Không thể chỉ là trùng hợp.
Đêm đó không phải lần đầu tiên tôi ép mình ăn đến phát bệnh. Thật ra cũng lâu lắm rồi, đã ba năm trôi qua kể từ vụ việc đó. Tôi nghĩ đó là lần tồi tệ nhất. Tôi đã nhồi nhét bụng mình vượt quá ngưỡng chịu đựng, tôi thậm chí còn không thể khóc vì quá đau mỗi khi thở và cảm thấy như mình sắp vỡ ra làm đôi. Mẹ nhanh chóng đưa tôi tới bệnh viện để rửa dạ dày, nhưng không hiểu sao điều đó lại khiến tôi lên cơn kích động.
Tôi không muốn Eddison biết sự tình đã tệ đến mức nào. Tôi không muốn Vic và Mercedes biết gì cả.
Họ gọi cho tôi từ San Diego để hỏi một vài câu về Aimée, những điều họ phải hỏi để hoàn thành thủ tục điều tra ngay cả khi họ không thật sự muốn. Tôi có thể nghe thấy họ đã lo lắng như thế nào và mặc dù tôi vẫn ốm lê lết, tôi đã nài nỉ nhiều hơn nữa, chỉ vì việc đó khiến tôi thực sự đau đớn.
Mất vài ngày cho tới khi tôi ăn uống bình thường trở lại. Ngay cả khi đó, mẹ cũng phải ép tôi ăn. Tôi không thể nhìn đồ ăn mà không cảm thấy cơn đau cồn cào trong bụng.
Để tự làm mình phân tâm, tôi đã bắt đầu nghiên cứu về những vụ án khác, bởi tôi không muốn lung lay cảm nhận rằng sự thờ ơ của tôi đã khiến Aimée bị sát hại. Mẹ đã giả vờ không quan tâm nhưng thật ra đang nhìn qua vai tôi. Bà chính là người đã nhận ra những đóa hoa xung quanh thi thể các cô gái trùng hợp với những loài hoa chúng tôi nhận được trước cửa nhà ở San Diego.
Hoa trường thọ vàng và trắng cho Darla Jean Carmichael, cô gái đã chết từ khi tôi mới ra đời.
Những đóa hoa loa kèn cuống tím cho Zoraida Bourret, thi thể cô được tìm thấy trong nhà thờ giám lý của gia đình vào ngày lễ Phục sinh.
Những nhành hoa baby cho Leigh Clark, con gái của một mục sư ở Eugene, Oregon.
Một vòng hoa kim ngân cho Sasha Wolfson, chị họ cô đã kể những câu chuyện về một cô gái cài hoa lên tóc để tôn thêm vẻ ngọt ngào của mình.
Những nhánh diên vĩ sặc sỡ cho Mandy Perkins, cô gái đã dựng nên những ngôi làng cổ tích trong vườn của các viện dưỡng lão quanh vùng Jacksonville, Florida.
Những đóa cẩm chướng trắng muốt cho Libba Laughran, với những đường gân và viền đỏ trông như đang chảy máu. Cô mới mười bốn tuổi khi bị cưỡng hiếp và giết hại ở ngoại ô Phoenix.
Chúng tôi không nhận được bó hoa nào khi ở Washington, hay ở Atlanta sau khi chúng tôi chuyển nhà vào hồi tháng Mười một. Cũng không có hoa hoét gì ở Omaha hay Birmingham, ngoại trừ những bó hoa do người đồng nghiệp ngớ ngẩn gửi hồi ở Nebraska. Khi đó, chúng tôi không hề nhận được bó hoa bí ẩn nào nên không cho rằng mình cần kể với các đặc vụ.
Nếu khi đó chúng tôi không rời San Diego, có lẽ hoa lâu đẩu sẽ được gửi đến trước cửa nhà chúng tôi, cho Emily Adams, mười bảy tuổi, ở St. Paul, Minnesota nhưng không có liên quan gì tới nạn nhân tiếp theo là Meaghan Adams. Cô là một nhạc công, theo những gì đăng trên báo và tờ thông tin mà chúng tôi đọc được. Cô hát hay như thiên sứ, đặc biệt là những bài dân ca, và chơi tất cả các loại nhạc cụ mà cô có thể chạm tới. Một vài ngày trước khi bị giết hại, cô đã tổ chức một đại hội để hưởng ứng một buổi chụp hình toàn trường ở Connecticut; cô gắn hai nhành hoa lâu đẩu xanh vào đầu cây ghi ta để tưởng nhớ những nạn nhân trong vụ xả súng ở Trường Columbine (tên trường trùng với tên loài hoa).
Khi tên sát nhân giết hại Emily, hắn đã buộc một dây ruy băng hoa quanh cổ cô, để che đi vết cắt. Việc này đã được nhắc đến trong một vài bài báo viết về vụ giết người, nhưng cũng có cả ảnh chụp được đăng trên trang web về tội phạm mà bằng cách nào đó người ta đã lấy được từ hiện trường vụ án.
Ấn tượng lắm, hắn không hề nghĩ rằng FBI sẽ vào cuộc từ vụ án thứ mười, Kiersten Knowles.
Thậm chí với tất cả những nghiên cứu mà mẹ và tôi đã thực hiện, chúng tôi cũng không có được một nửa lượng thông tin mà FBI có, nhưng tôi đoán tôi không cách xa câu trả lời lâu nữa. Tất cả bằng chứng đều được bày ra, nhưng chúng lại chẳng dẫn tới đâu. Nếu một ngày nào đó tôi tìm ra tên của kẻ đã giết hại Chavi và những cô gái khác, liệu điều đó có mang lại sự bình yên? Nếu hắn bị đưa ra tòa và bị buộc tội, liệu đó có phải là công lý?
Tôi nhìn những lá thư của Inara được gấp lại, sau đó lấy bút và giấy.
Inara thân mến,
Mẹ tôi từng nói rằng thật là bất công khi con người chỉ có thể chết một lần duy nhất, một trong những khao khát cháy bỏng nhất của mẹ là tìm ra cơn ác mộng của chúng ta và giết chết hắn nhiều lần, một lần cho một nạn nhân mà hắn đã sát hại và thêm một lần cho chúng tôi.
Tôi không biết việc đó gì khác so với bỏ tù hay tử hình.
Tôi từng nghĩ chắc hẳn phải có ý nghĩa gì cho hành động đó. Tôi cũng mơ được đứng trong phòng xét xử khi thẩm phán đọc to tội trạng của gã và cái gã vẫn còn bí ẩn kia với khuôn mặt bợt hẳn đi sau vành móng ngựa sẽ bắt đầu gào khóc. Ồn ào, rối loạn, cái kiểu khóc lóc sẽ khiến bạn trở nên xấu kinh khủng bởi dớt dãi văng tứ tung. Hắn ta sẽ vỡ vụn, còn mẹ và tôi sẽ cười lớn, nhẹ nhõm và hạnh phúc, rồi ôm chầm lấy nhau.
Chúng tôi sẽ hạnh phúc.
Chúng tôi sẽ không còn tổn thương.
Nhưng trong một khoảnh khắc, tôi nhận ra điều đó không thể mang Chavi trở về. Chẳng điều gì có thể mang chị trở về.
Đột nhiên tôi không thể chịu nổi suy nghĩ sẽ có điều gì đó giữ lại mạng sống cho tên khốn kia, bắt hắn phải khóc hay gì đó.
Tôi không có câu trả lời.
Tôi cũng không có sự thông thái.
Tôi chỉ có niềm kiêu hãnh và quyết tâm mạnh mẽ rằng một ngày nào đó tôi sẽ học được cách sống sao cho hạnh phúc. Có lẽ đó là công lý.
Eddison không có lý do đặc biệt gì để đổi điểm đến của mình từ Washington sang New York nhưng anh vẫn đổi, ngón tay cái của anh đang xoa xoa trên màn hình điện thoại đen sì nơi tin nhắn của Vic ở chế độ ngủ. Ngay lúc này, khi trong anh vẫn còn lo âu và giận dữ, anh không muốn nhìn sâu vào những động cơ của mình. Không phải khi anh cảm thấy bứt rứt với cách hai mẹ con nhà Sravasti đón nhận tin tức về kẻ theo dõi và anh không thể lý giải nỗi bứt rứt ấy là gì hay tại sao nó lại khiến anh bận tâm như thế.
Cho nên anh đổi điểm đến, anh biết có thể bắt tàu giữa hai địa điểm và có vài giờ để giải quyết giấy tờ, có lẽ anh sẽ gọi đó là trách nhiệm. Dù sao anh cũng cảm thấy đi tàu thoải mái hơn ngồi máy bay nhiều.
Anh ghét tàu truyền thống, cũng không đặc biệt thích chuyến tàu siêu tốc về nhà nhưng nó vẫn là một lựa chọn tốt hơn tốn năm mươi đô để bắt taxi đi giữa hai thành phố. Anh đứng dựa vào một chiếc cột, ở một khoảng cách an toàn với những chiếc túi mua sắm chất đống, hành lý và những chiếc chân hàng tõe ra, lẩm bẩm tính số điểm dừng và lắng nghe âm thanh hỗn độn quen thuộc của nhiều cuộc điện thoại, hội thoại đa ngôn ngữ, âm nhạc mờ nhạt thoát ra từ những chiếc tai nghe vặn to hết cỡ.
Một bé gái đang ngồi trong lòng ông mình bắt gặp ánh mắt anh và khúc khích cười, nắm tay cô bé bọc trong chiếc khăn len được đan tay có màu gần giống đôi găng xanh lá sáng đến mức khó chịu của anh. Anh mỉm cười dịu dàng và cô bé lại cười khúc khích trước khi vùi mặt vào vai ông mình. Thế nhưng cô bé vẫn cười; anh có thể thấy hai lọn tóc buộc cao của cô bé lúc lắc.
Anh biết, thuần lý thuyết mà nói, Inara sống ở một khu vực thật tệ hại. Cô cũng chẳng ngại thành thật kể với anh về điều này trong lần đầu anh hỏi chuyện cô. Khi được xuất viện, cô quay lại đó luôn. Những đặc vụ ở văn phòng New York thích tới nhà hàng khi họ cần gặp cô và Bliss có việc gì đó.
Biết khác với nhìn thấy rất nhiều.
Đứng bên ngoài cầu thang dẫn tới ga tàu, anh hít một hơi thật sâu và nhanh chóng bịt mũi lại trước cái mùi nồng nặc của rác và chất thải từ con hẻm. Anh quen với mùi đó sau một hai phút gì đó - anh từng hít phải những mùi còn tệ hơn trong cả đời làm việc của mình - rồi cẩn thận cài nút áo khoác và áo choàng để che khẩu súng nơi mạng sườn. Anh sẽ cảm thấy tốt hơn nếu có thể thích ứng nhanh, nhưng đó không phải sự tập trung chú ý mà anh muốn mình lúc nào cũng có, đặc biệt là trong những khoảng thời gian anh dành cho riêng mình.
Anh tìm thấy tòa nhà, một công trình kiến trúc dị biệt được xây bằng gạch đã phai màu với cánh cổng gỉ sắt còn sót lại gắn vào cửa chính. Có một chiếc bộ đàm ở bên trái cửa để khách có thể gọi nhưng đó quả là một suy nghĩ viển vông. Anh không chắc liệu nó bị búa tạ đập vào trước khi bị đạn bắn trúng hay gì, nhưng dù thế nào đi nữa, nó cũng không hoạt động. Ở trong khu sảnh chật hẹp, phân nửa số hộp thư đã bị cạy mở, thư từ và giấy báo rơi vung vãi ra sàn. Anh có thể thấy tiêu đề chính thức trong một vài lá thư đã bị giẫm lên.
Hòm thư của các cô thì vẫn ổn, mới được sơn lại màu bạc gần như đồng màu với thanh kim loại bên dưới và dán những hình dán hoa hoét. Trên hòm thư, một tấm giấy nhớ màu hồng vui nhộn được ghim vào tường. Anh nhận ra chữ viết tay của Bliss, to và tròn trịa, gần như những trái bong bóng, anh chỉ thật sự nhớ hình dáng đáng yêu trên những chữ i viết thường. Nếu bạn lấy thư của chúng tôi, tôi sẽ lấy hai hòn của bạn. Hoặc buồng trứng của bạn, tôi không đùa đâu.
Lạy Chúa.
Nó còn được ký tên bằng một mặt cười chết tiệt.
Cả giấy và mực đều phai đi chút ít, hòm thư của họ thì còn nguyên vẹn, cho nên chắc chắn rằng nó mâu thuẫn với màu sắc chung của toàn nhà. Chỉnh lại túi trên lưng mình, anh lên thẳng trên gác. Có một ô thang máy, nhưng trông nó có vẻ thiếu thang.
Và cả những cánh cửa. Những cánh cửa cũng quan trọng.
Anh hơi khó thở khi đến tầng của họ, tầng hai tính từ trên xuống, và là những sân vận động đã được anh dự liệu trước cho chế độ tập luyện của mình. Anh có thể chạy nhiều dặm trên mặt phẳng nhưng thật bất ngờ, leo cầu thang lại là vấn đề đối với anh.
May mắn thay - hoặc không - anh thậm chí còn không phải nhớ số nhà. Tất cả những gì anh phải làm là tìm một người say rượu đang nằm ngất trên sàn. Người đàn ông đã ngủ bên ngoài cửa nhà họ cả năm rồi và rõ ràng là chẳng ai trong số các cô gái đành lòng đuổi anh ta đi hay báo cảnh sát, cho nên họ cứ đi thẳng lên mái và trèo xuống qua lối thoát hiểm để vào nhà từ ô cửa sổ lớn.
Eddison không làm thế.
Anh đá vào chân của gã say một cái đủ mạnh để gã bật nảy lên nhưng không liều mạng. “Tìm nơi khác mà ngủ đi, anh bạn.”
“Đây là quốc gia tự do mà,” người đàn ông nói líu ríu, cuộn mình lại chặt hơn quanh chai rượu của gã.
Từ bên trên, Eddison túm lấy cổ chân gã say và bắt đầu đi lùi, miệng lẩm bẩm chửi thề và rên rỉ khi kéo gã đi cho tới khi có thể đặt gã giữa những cánh cửa.
Cửa nhà Inara mở và một người thò đầu ra ngoài, mái tóc màu đỏ vàng xổ ra lỉa chỉa quanh đầu và cô cất tiếng chào anh rất lớn. “Này, anh đang bắt nạt gã say đấy à?”
“Tôi chỉ kéo anh ta đi thôi,” Eddison trả lời. Anh thả cổ chân của gã say xuống. Gã nhanh chóng bò dọc theo sàn nhà, và nốc rượu trong chai một cách khó coi. “Cô là Whitney?”
“Còn anh?”
Thật kỳ lạ nhưng anh thở phào khi thấy thái độ cảnh giác cao độ của cô. “Đặc vụ Brandon Eddison, tôi tới để gặp Inara nếu cô ấy ở nhà.”
Khuôn mặt của cô gái bừng sáng sau khi nhận ra anh. Có lẽ cô chỉ khoảng hai lăm tuổi hoặc hơn một chút, một mắt bị đổi màu và con ngươi đục hẳn, nhìn có vẻ đã lâu. “Đợi một chút, tôi sẽ gọi cô ấy.”
Sau một lúc chờ đợi, Inara ngái ngủ bước ra ngoài sảnh, cô vẫn mặc chiếc hoodie rộng thùng thình. Mái tóc cô rối tung, chân đi đôi dép lê Eeyore. “Eddison à?”
“Cô mặc có đủ ấm không, nếu tôi muốn chúng ta lên mái nhà nói chuyện?”
Cô gật đầu và lần mò để kéo khóa áo hoodie. Kéo lên được một nửa thì cô phải dừng lại để xử lý mái tóc rối của mình trước khi có thể kéo hết khóa. Đôi tay cô đang giấu trong cánh tay áo dài, đưa lên xoa mắt khi cô dẫn đường lên tới mái nhà. Phần mái nhà có một chút đồ đạc nằm rải rác, từ những chiếc ghế gấp tới băng ghế dài bọc nhựa dưới một tấm vải bạt tạm bợ có vẻ như được may lại từ hai tấm võng.
Cô đi qua cả phần mái nhà cho tới khi họ có thể ngồi xuống những chiếc ghế cắm trại làm bằng vải bạt dựa vào cửa sổ phía trước. Chỉ cần ngả ra hơi quá, anh có thể nhìn thấy phần dưới cùng của cầu thang thoát hiểm, hai người bạn cùng phòng của Inara vừa phì phèo hút thuốc vừa cười lớn.
“Cô biết bây giờ đã là ba giờ chiều rồi chứ?” Cuối cùng anh hỏi.
Cô cau có trong trạng thái ngái ngủ và trông khá đáng yêu so với bình thường, dù tức giận nhưng cô vẫn mềm mỏng và càu nhàu như một chú mèo cáu kỉnh. “Kegs đã tổ chức tiệc sau khi đóng cửa hàng,” cô lí nhí nói trong khi ngáp. “Chúng tôi không về nhà cho tới tận tám giờ sáng. Sau đó chúng tôi phải giúp Noémie luyện tập cho bài thuyết trình của cô trên lớp lúc mười một giờ.”
“Và cô đi làm…”
“Chúng tôi phải rời nhà vào khoảng bốn rưỡi.” Cô co chân lên ghế. “Có chuyện gì thế?”
“Thẩm phán Merrill ra lệnh không liên lạc,” anh thông báo với cô luôn mà không vòng vo. “Bất cứ động thái nào để liên lạc với cô và Desmond đều sẽ bị phạt.”
Chuyện này đã làm cô tỉnh ngủ. Cô nhìn chằm chằm vào anh một lúc lâu, đôi mắt mơ màng, gần như chuyển sang màu hổ phách của cô mở to và dán chặt vào anh. Sau đó cô chớp mắt, cố gắng nghĩ thông suốt và cuối cùng gật đầu. “Nhanh thật đấy.”
“Chắc chắn sẽ không có cách để bị cáo phản biện. Trong khi việc Desmond viết thư cho cô là bất hợp pháp, thẩm phán không hài lòng và cho rằng nội dung của những bức thư là không phù hợp.”
“Nội dung ư, chết tiệt. Đương nhiên các anh phải đọc chúng rồi.”
Anh hắng giọng. “Vic đã đọc. Đương nhiên thẩm phán và các luật sư đã đọc, nhưng quan trọng là Vic. Vic đã đọc chúng.”
Cô tựa cằm lên hai đầu gối, anh cảm thấy khó chịu rằng cô đang đẩy ngôn từ xa khỏi ý nghĩa anh muốn chúng biểu lộ. Chúa ơi, sức chịu đựng tâm lý và sức khỏe của anh bỗng đột nhiên phụ thuộc vào việc cô sẽ không bao giờ gặp mẹ con nhà Sravasti. Priya và Deshani quá hiểu anh; anh không cần họ dạy cho Inara điều gì. Sau tất cả, một người đàn ông cần bảo vệ khả năng tự lừa dối bản thân. Dẫu vậy, tất cả những gì cô nói là, “Tôi đoán anh sẽ không thấy những bức thư của một tên khốn thất tình là thú vị”.
Anh cười hô hố và ngả lưng ra ghế. “Từ những gì tôi biết, phần đó của những lá thư không phải là vấn đề.”
“Vấn đề?”
“Từ những gì Vic kể cho tôi, đâu đó giữa việc cầu xin cô tha thứ, Desmond đã chuyển sang cầu xin cô đừng khai ra anh ta hoặc bố anh ta. Để, à… để hiểu.”
Cô nháy mắt với anh.
“Cầu xin tha thứ là một chuyện, ngay cả khi anh ta dường như không hoàn toàn nắm được phần của mình trong mọi việc. Cầu xin cô không khai ra, thể hiện lòng yêu mến kiểu đó đối với cô dù biết rõ sức nặng của những gì cô từng trải qua… Điều đó cho thấy anh ta đang cố gắng gây ảnh hưởng tới nhân chứng và đã lấn sang địa phận của việc xấu.”
“Anh ta vẫn nói yêu tôi sao?”
“Đúng vậy. Cô có tin anh ta không?”
“Không?”
Anh nhìn ra xa qua mái nhà, ghi chú lại những vết cháy sém nơi từng là một vườn cần sa tươi tốt trong câu chuyện của cô. Rải rác là những rổ đồ chơi, và trông khung cảnh này giống như ai đó đã cố gắng làm một chiếc xích đu bằng lốp xe để treo lên đâu đó. Anh không tin họ làm cho một đứa bé nào nhưng có lẽ chiếc xích đu sẽ khiến các bữa tiệc thú vị hơn chút ít.
Cô thở dài, và anh phải đợi một lúc lâu hơn dự tính để có thể quay lại nhìn cô. Một số sự thật sẽ dễ dàng được tiết lộ khi không ai quan sát. “Tôi biết anh ta tin anh ta yêu tôi,” cô chậm rãi nói. “Bất kể tôi có tin anh ta thật sự yêu tôi không… tôi cũng không biết nữa. Có lẽ anh ta giống cha của anh ta, đó là kiểu tình yêu mà anh ta biết, nhưng tôi không… tôi không nghĩ là tôi muốn tin tình yêu có thể xa rời thực tế.”
“Có lẽ anh ta cần tin rằng đó là tình yêu,” anh nói. Từ khóe mắt, anh có thể thấy cô gật đầu.
“Tôi sẽ mua nó. Nếu nó là thật, có lẽ nó giảm nhẹ tội cho anh ta theo cách nào đó. Ai cũng thích những gì người ta làm vì tình yêu đấy thôi.”
“Nhưng cô nghĩ có chút gì đó hơn cả thế.”
“Nếu không phải tình yêu thì nó là gì?”
“Hiếp dâm,” anh đáp huỵch toẹt.
“Chính xác. Một gã như Desmond, anh ta không muốn nghĩ về mình như một tên hiếp dâm.”
“Tại sao cô chưa đọc những lá thư?”
Lần này cô im lặng đủ lâu để khiến anh phải quay lại nhìn cô. Cô nhìn xuống đôi dép lê Eeyore mình đang mang, tay vuốt ve những chùm len đen trên quai dép. Đôi dép trông khá lố bịch và không phải thứ mà anh nghĩ cô sẽ thích hoặc đúng hơn là sẽ dùng, nhưng có lẽ đó chính xác là lý do ai đó đã tặng chúng cho cô.
“Sống sót trong vụ Vườn Bướm Đêm,” cuối cùng cô lên tiếng, giọng chỉ to hơn một lời thì thầm đôi chút, “tỏa sáng trong vụ Vườn Bướm Đêm, dựa vào những hiểu biết về Thợ làm vườn. Những hiểu biết về đám con trai của hắn. Tôi đã thoát khỏi Vườn và không muốn hiểu thêm gì nữa. Tôi không muốn sống trong nỗi ám ảnh đó thêm một giây phút nào. Tôi hiểu anh ta cần giải thích, nhưng tôi không cần phải lắng nghe. Tôi cần mình thoát khỏi sức nặng đó. Tôi cần…” Cô nuốt nước bọt, đôi mắt long lanh nước, nhưng anh nghĩ cô đang tức giận nhiều hơn là buồn. “Tôi không cần phải lắng nghe anh ta thề thốt rằng anh ta yêu tôi.”
Có điều gì đó ở đây, điều mà Vic có lẽ sẽ nhận ra và biết cách xử lý sao cho khéo léo.
“Những cảm xúc của anh ta không phải lỗi của cô, cô biết mà.”
Eddison thì không khéo léo.
Cô cười to, xua đi những giọt nước mắt và cơn giận dữ, trở lại trạng thái thoải mái với sự giễu cợt. “Tôi đã học được từ lâu rằng không nên buộc tội những cảm xúc của bọn đàn ông về tôi.”
“Thế thì chắc cô cũng biết rằng bất kể anh ta cảm thấy như thế nào về cô, bất kể anh ta nghĩ những cảm xúc ấy là gì, cô cũng không cần cảm thấy có lỗi về nỗi đau mà chúng gây ra cho anh ta.”
“Được thôi, Yoda.”
Tiếng kêu của kim loại khiến họ chú ý trước khi một người thò đầu ra ngoài thang thoát hiểm. “Inara! Tới giới thiệu anh chàng đặc vụ của cô đi!”
Anh nhìn Inara, miệng nhẩm lại Anh chàng đặc vụ của cô?
Cô chỉ nhún vai. “Thì vẫn tốt hơn là đặc vụ động vật.”
Ồ, ơn Chúa.
“Đi thôi,” cô bảo anh, và duỗi dài chân. “Anh có thể gặp mọi người ở đây rồi đi cùng chúng tôi. Bây giờ anh đã thấy căn hộ tôi ở, anh sẽ bị kéo đi cho tới khi xem xong con đường chúng tôi đi làm.”
“Các cô luôn đi một cung đường à?”
Cô chỉ đảo mắt một lượt và bắt đầu xuống thang.
Hầu hết những cô gái trẻ ở đây đều đã quen với những câu chuyện của Inara về họ. Sau màn chào hỏi giới thiệu, bốn người bọn họ thay quần áo và ra ngoài, đồng phục của họ đã để sẵn ở nhà hàng. Họ trò chuyện và cười đùa trên tàu, làm tóc và trang điểm chỉn chu không cần gương, bất chấp tàu lắc lư và thường xuyên dừng ở mỗi trạm. Họ cũng chào hỏi một vài vị khách quen trên tàu.
Eddison từng ở chung phòng khách sạn với Ramirez đủ lâu để có một nỗi sợ hãi lờ mờ đối với toàn bộ công đoạn trang điểm, nhưng đó là khi anh nhìn thấy đống đồ trang điểm của cô tung tóe khắp mặt bàn trang điểm với gương lớn gương nhỏ. Nhìn bốn cô gái này trang điểm, anh lại cảm thấy hạnh phúc vô bờ khi được làm đàn ông, bởi việc tút tát để ra ngoài đi làm với anh chỉ có nghĩa là cạo râu.
Nhà hàng Sao Đêm tuyệt hơn nhiều so với anh kỳ vọng, nhất là khi anh đã biết các cô gái sống ở đâu. Dù đang mặc vest, anh vẫn cảm thấy mình được thoải mái, xuề xòa.
“Hãy đến gặp Guilian,” Inara nói và đẩy anh vào nhà hàng. “Thêm nữa, Bliss sẽ bĩu môi nếu cô ấy biết anh đã tới đây mà không chào cô.”
“Bĩu môi? Hay là vui mừng?”
“Tôi nghĩ là cô ấy có thể làm cả hai.”
Guilian là một anh chàng to con, với mái tóc đỏ và bộ ria lởm chởm đang trốn ở nửa dưới khuôn mặt anh. Anh bắt tay Eddison thật chặt, tay còn lại đặt lên vai người đặc vụ. “Cảm ơn vì đã đưa Inara về nhà an toàn,” anh nghiêm túc nói.
Nếu Eddison biểu hiện được một nửa sự khó chịu trong lòng, anh hoàn toàn có thể hiểu vì sao Inara đang cười khúc khích bên cạnh mình như thế.
Bliss ở cách chúng tôi có năm bước đang hằm hè, tỏ thái độ và ngoác miệng to hơn cả thế giới, nhưng khi cô chĩa về phía anh, thứ anh thấy trên mặt cô bấy giờ trông giống như một nụ cười hơn bất cứ thứ gì anh thường thấy ở cô. “Tôi nghĩ tôi cảm thấy không gian nơi đây yên bình hơn.” Mái tóc xoăn màu đen của cô gọn gàng trong một búi tóc tinh xảo để không rũ xuống chạm vào đồ ăn và chỉ khi cô đứng cạnh những cô bồi bàn khác, anh mới nhận ra bộ đồng phục của cô hơi khác.
Nam bồi bàn mặc tuxedo, nữ bồi bàn mặc váy dạ hội màu đen hở lưng với phần cổ và viền tay tách rời màu trắng, thắt nơ đen trên cổ. Nhưng riêng Bliss - và anh dám cá là cả Inara - mặc váy che lưng và cổ áo ôm sát lấy cổ, che đi hình xăm đôi cánh.
Anh quay lại nhìn Guilian đang đứng ở cửa bếp và chủ nhân của nhà hàng này, cũng là bếp trưởng, gật đầu với anh.
Anh vẫn có một thắc mắc nho nhỏ là vì sao Inara đồng ý quay lại làm việc tại nhà hàng này.
Bliss đá vào cổ chân anh một cái, nhưng anh cảm thấy phiền hơn là đau và không khó để liên tưởng đến một con cún sủa ăng ẳng cắn vào cổ chân khi nhìn mái tóc xoăn của cô.
“Làm ơn hãy nói với tôi rằng anh ta sẽ không được gửi thư cho cô ấy nữa,” cô nói khẽ.
“Nếu không gây ra hậu quả gì thì rất tiếc là không.”
“Anh ta không hiểu hậu quả là gì nhưng anh thì phải biết chứ.”
“Có lẽ là không.”
“Thế cô thú cưng kia của anh ổn chứ?” Nụ cười của cô rộng dần ra khi anh gầm gừ, gần như là thân thiện. Chỉ gần như thôi. “ Vic bảo anh đã đi lo một vụ án. Có vẻ kỳ lạ khi ông ấy và Mercedes không tới đó.”
“Chúng tôi mỗi người có một trách nhiệm riêng, cô biết mà.”
“Cô ấy ổn chứ?”
“Bây giờ thì ổn,” anh thở dài. Anh bắt đầu nghĩ rằng anh đã làm điều gì tồi tệ lắm trong kiếp trước để kiếp này xung quanh anh toàn là những phụ nữ nguy hiểm.
Anh sẽ ngay lập tức sửa lại điều ấy.
“Nếu Guilian mời anh ngồi vào bàn dành cho đầu bếp, anh cứ ngồi nhé,” cô khuyên anh. “Thường thì anh ta không rộng lượng đến thế đâu.”
“Nó ở trong bếp à?”
“Đúng vậy.”
“Mọi người vẫn tụ họp trong bếp khi không phải phục vụ khách hàng sao?”
Tiếng cười thô lỗ của cô đã trả lời câu hỏi đó. Có lẽ một người thông minh hơn sẽ viện cớ để rời đi. Thoát khỏi tình huống này, chắc chắn rồi.
Nhưng Guilian đã mở sẵn cửa bếp chào mời và Eddison thấy mình gật đầu với anh ta, và cái quái gì thế này, có bao nhiêu cơ hội được ăn ở một nhà hàng tuyệt như vậy đây?
Nhưng đóa hoa baby lần này trông hơi khác. Tấm giấy gói có màu xanh da trời, chứ không phải xanh lá, và có những ruy băng nhỏ màu xanh dương ghép đôi qua những bó cứng. Tấm thiệp thì giống hệt lần trước, còn tôi vẫn phải làm nhiệm vụ gửi ảnh chụp cho Finney và Eddison trước khi vào trong nhà để chắc chắn rằng chúng tôi có hai chiếc cốc sạch.
Khi những đặc vụ mới tới, Archer đồng ý uống cà phê với nụ cười sửng sốt, trong khi Sterling bẽn lẽn hỏi liệu chúng tôi có trà không.
Chúa ơi, đã bao giờ chúng tôi uống trà đâu.
Archer vẫn nhìn tôi với vẻ kỳ lạ khi kiểm tra bó hoa và đặt các câu hỏi cho tôi, như thể anh ta hy vọng tôi sẽ vẫn ghê gớm như thứ Năm tuần trước. Bình thường tôi không có năng lượng để thù hằn, nhưng nếu việc đó khiến anh ta toát mồ hôi thì tôi sẵn lòng giữ nguyên cái ấn tượng ban đầu kia. Sterling vẫn quan sát anh một cách tế nhị và kín đáo. Có lẽ Archer còn không nhận ra. Tôi không biết mình nhận ra hành động của cô nếu cô không liều lĩnh bắt gặp ánh mắt tôi trước khi quay lại nhìn anh.
Không gian tẻ nhạt đến mức kì cục.
Tôi có những cảnh ghi lại từ camera an ninh trong laptop, khoảng nửa tiếng sau khi mẹ đi làm. Ảnh quá tối để thấy rõ ai đã đặt hoa ở đây và tôi không chắc liệu có phải do cố tình hay không nữa. Có lẽ người ta sẽ lấy được một vài thông số như chiều cao (trung bình) nhưng ngay cả khi Archer xử lý hình ảnh qua các bộ lọc để thấy được nhiều chi tiết hơn, người trong ảnh cũng đang mặc quá nhiều quần áo để chống chọi với cái lạnh bên ngoài nên chúng tôi cũng không thu được cái gì có ích. Chỉ thấy rõ đôi mắt và một phần chiếc mũi.
“Cô có nhận ra anh ta không?” Archer hỏi, trong khi Sterling quét lại cả những cảnh camera đã ghi lại trước đó.
“Làm sao anh có thể chắc chắn đây là một người đàn ông?”
“Cách anh ta đi đứng,” Sterling trả lời một cách lơ đãng. Đôi mắt cô dán chặt vào màn hình, tìm kiếm bất cứ thứ gì xuất hiện trước khi người đàn ông bí ẩn tiến lại gần.
Archer ngả lưng ra ghế. “Vậy là cô không nhận ra đó là ai đúng không?”
“Tôi có thể hiểu vì sao người ta trao cho anh chiếc phù hiệu sáng bóng này.”
Sterling đang cười thì chuyển sang ho mấy tiếng hắng giọng. “Chúng tôi sẽ thử hỏi những người hàng xóm xem có ai biết anh ta đến từ đâu hoặc đã đi đâu không. Có lẽ sẽ có người biết anh ta là ai.”
“Sếp tổng của các vị có đồng ý không?”
“Chúng tôi sẽ không dừng lại chỉ vì bị bảo phải dừng lại,” cô ấy nhẹ nhàng đáp.
“Thế còn khi những người hàng xóm hỏi chuyện gì đang xảy ra?”
“Cô thật sự nghĩ họ không biết cô là ai sao?” Archer hất hàm về phía người cộng sự. “Mỗi mùa xuân tới, mỗi thành phố nơi những nạn nhân đang sinh sống bắt đầu dán hình ảnh của họ ở khắp nơi với lời cảnh báo Nếu ai thấy thông tin gì mới hãy gọi cho chúng tôi. Mẹ cô đã được đăng tải thông tin trên tờ Economist và nói rằng hai người sẽ chuyển tới Huntington. Mọi người đều biết cô là ai, Priya ạ. Nó là điều không thể tránh khỏi.”
“Chỉ vì anh đã nghiên cứu một vụ án đến mức ám ảnh không có nghĩa là ai nấy đều thấy quen thuộc với nó,” tôi phản bác. “Hầu hết mọi người đều không quá chú ý tới điều gì đó không ảnh hưởng trực tiếp tới họ.”
“Khi những người hàng xóm mới khiến một tên giết người hàng loạt đeo đuổi tới tận nơi họ sống, điều đó sẽ ảnh hưởng tới họ.”
Nó thật sự đã liên lụy đến Aimée nhưng đương nhiên, không ai trong chúng tôi biết rằng đó là một mối nguy hại cho đến khi mọi chuyện trở nên quá muộn. Anh chàng đặc vụ này vẫn là một tên khốn khi chỉ ra điều đó.
“Anh còn không dám chắc đó có phải tên sát nhân hay không,” tôi nói và Sterling gật đầu.
“Còn ai khả thi hơn hắn nữa?”
“Anh lẽ ra nên xem một vài lá thư và quà tặng mà chúng tôi nhận được từ những người hâm mộ vụ án này và cả những nhà tư vấn nghiệp dư. Anh sẽ ngạc nhiên vì số người nghĩ rằng việc gửi cho chúng tôi cúc đại đóa là hoàn toàn hợp lý đấy.”
Âm thanh piano chợt vang lên trong bầu không khí yên lặng, Sterling nhìn điện thoại của cô và khẽ cười. “Là Finney. Tôi sẽ quay lại ngay.” Cô nhấc máy và trả lời một cách quy củ “Sếp” và tiến thẳng vào trong bếp.
“Khi nào hai người chuyển tới Paris?” Archer hỏi.
“Tháng Năm này.”
“Hừm.” Anh cảm thấy ngứa ngáy bứt rứt với cổ tay áo khoác của mình, những ngón tay chạy dọc theo những đường may gần như vô hình. “Cô biết đó.”
“Tôi nghĩ rằng tôi sắp biết.”
“Finney chưa từng cảnh báo chúng tôi về sự hoạt ngôn của cô.”
“Làm sao Finney biết được?” Tôi nở một nụ cười ngọt ngào, ngây thơ với anh và nuốt nốt ngụm trà cuối cùng.
Archer nhìn tôi chằm chằm, sau đó điều chỉnh lại mình. “Cô biết rằng nếu đó là tên sát nhân, đây có thể là cơ hội duy nhất để bắt được hắn ta chứ? Chúng tôi có lẽ sẽ không bao giờ biết được hắn sẽ ở thành phố nào trước khi hắn lại ra tay.”
“Anh đang tìm kiếm một cơ hội thăng chức sao, đặc vụ Archer?”
“Tôi chỉ đang cố gắng mang tới công lý cho một gã đã sát hại mười sáu cô gái mà thôi,” anh đáp lại. “Khi biết một trong số đó là chị cô, tôi đã nghĩ cô sẽ trân trọng và biết ơn hơn một chút.”
“Đó là anh nghĩ.”
Tôi thậm chí đã thực sự nghe thấy tiếng răng anh nghiến vào nhau.
“Finney nói rằng anh sống ở đây, Huntington này,” tôi nói sau một lúc. Hơi ấm len lỏi vào những ngón tay tôi khi tôi ôm trọn tách trà đã hết của mình. “Theo tôi được biết, anh có thể ghé qua chỗ chúng tôi trước và sau giờ làm, đúng không?”
“Tôi đang đến đây, đúng vậy.”
“Thế thì đối với tôi, người có vị trí thích hợp nhất để biết mọi chuyện là anh. Sau tất cả, nếu hắn muốn mẹ và tôi thấy hắn, hắn đã gõ cửa hoặc bấm chuông.” Tôi nhún vai trước ánh nhìn không tử tế của anh. “Nếu lấy tôi làm mồi nhử - tôi cho rằng anh sẽ đề xuất phương án này - khả năng thành công sẽ rất thấp khi mục tiêu của chúng ta không biết hắn đang bị gia hạn. Tại sao hắn phải vội vàng cơ chứ?”
“Nhưng nếu cô rời đi trước khi danh sách những loài hoa kết thúc…”
“Thế có nạn nhân nào của hắn ta nhận được hoa trước khi họ chết không?”
“Đó không phải điều chúng ta có thể biết trước,” Sterling trả lời, cô ấy đang đứng ở cửa bếp và quan sát chúng tôi với vẻ suy tư. Cô ấy tung chiếc điện thoại trong tay lên và dễ dàng bắt được nó. “Cô đang nghĩ gì thế?”
“Tôi đang nghĩ chúng ta không biết đủ thông tin để đoán được ý định của người gửi những bó hoa này,” tôi thành thật đáp. “Nếu đó là tên sát nhân, hắn đang phá vỡ quy luật. Nếu không phải hắn thì chúng ta không thể tin rằng hắn tuân theo một quy luật mà hắn không tạo ra. Không có cách nào biết được liệu hắn có đi đến hết danh sách không.” Tôi biết điều mình sẵn lòng tin tưởng nhưng họ là những đặc vụ liên bang; họ sẽ không suy đoán dựa trên cảm tính. “Mồi nhử chỉ hữu hiệu nếu cô biết phản ứng kế tiếp là gì.”
“Không ai đề xuất dùng cô làm mồi nhử đâu,” Sterling đáp, giọng cô ấy đanh lại.
Cả hai chúng tôi đều quay sang nhìn Archer, người mà ít nhất đang có vẻ khó chịu.
“Finney cần chúng ta quay lại Denver,” Sterling tiếp tục sau một lát. “Chúng tôi sẽ quay lại vào tối nay, để nói chuyện với hàng xóm xem sao. Hy vọng chúng tôi sẽ gặp họ ở nhà. Tôi sẽ gặp lại cô khi mọi việc xong xuôi.”
“Hãy mang theo cốc uống nước cho dân du lịch nhé. Chúng tôi sẽ mời cô uống trà khi cô lái xe về.”
Cô cười tươi, tựa như vừa có một tia sáng lóe lên trên gương mặt cô vậy.
Hai đặc vụ rời đi, họ như chìm vào buổi sáng thứ Hai xám xịt với mưa phùn lắc rắc rất khó chịu. Tôi không có ý định ra ngoài trời để đến chỗ chơi cờ. Tuy nhiên việc kiểm tra hiên nhà đã trở thành một thói quen, ngay cả khi tôi không có dự định ra ngoài.
Tôi nhắn tin cho Bộ ba Đặc vụ để thông báo tình hình cho họ, sau đó bắt đầu chăm chỉ giải quyết bài vở trong vòng vài tiếng đồng hồ. Sau khi ăn nốt chỗ pizza còn lại cho bữa trưa, tôi cắm rễ ở phòng khách, nơi có những hộp đựng nhật ký đã trống rỗng. Mấy tuần vừa qua, những cuốn nhật ký đã nằm thành chồng ở đó trừ phi tôi đọc chúng.
Chúng được mẹ tôi xếp gọn gàng nhưng vẫn là những chồng cao. Đã đến lúc phải dọn chúng đi. Tôi thậm chí còn mang thêm nhật ký trong phòng mình xuống đây nữa.
Vẫn như thế, mỗi khi đọc những cuốn nhật ký viết hồi ở San Diego, tôi thường mang chúng lên xô pha và cuộn tròn mình quanh chúng. Tôi mới chỉ đọc lướt trước đó, để tìm ra những đoạn viết về việc có người gửi hoa, nhưng mẹ mới là người scan cho các đặc vụ. Lần này, tôi muốn thực sự đọc chúng.
Có lúc tôi cảm tưởng như mình đang được ngồi cạnh Aimée vậy, tôi nợ cô ấy quá nhiều. Tôi không ngây thơ đến mức nghĩ rằng cái chết của cô ấy là lỗi của tôi, nhưng đó là gánh nặng của tôi. Tôi nợ cô ấy, tôi cần nhớ tới cô ấy không phải như một nạn nhân mà là một người bạn.
Aimée mang vẻ đẹp vô cùng tự nhiên và thật sự thì dường như cô ấy không nhận ra mình xinh đẹp như vậy. Không phải cô ấy nghĩ mình xấu xí, chỉ là không quá chú ý đến hình ảnh mình trong gương trừ khi đảm bảo tóc mình không rối lung tung. Khi hoa bất tử nở rộ, cô ấy thường cài những bó màu hồng đỏ quanh búi tóc được thắt ruy băng của mình, mẹ cô ấy thường trêu rằng cô ấy lấy trộm đồ ăn. Cô ấy học ba lê và còn là chủ tịch câu lạc bộ Tiếng Pháp. Tình yêu cô ấy dành cho nước Pháp đến từ người mẹ, tôi chắc chắn như vậy, bởi bà đã dời Mexico để đến Pháp học và sau đó yêu một người đàn ông Mỹ.
Chúng tôi đã học lớp Tiếng Pháp cùng nhau, chỉ hai đứa chúng tôi với ý định thực sự sử dụng ngôn ngữ này, không chỉ bởi chúng tôi cần tiếng Pháp để tốt nghiệp hay lấy học bổng. Tôi vẫn không hoàn toàn chắc chắn làm cách nào cô ấy dụ dỗ tôi vào câu lạc bộ Tiếng Pháp, ngoại trừ việc cô ấy hứa sẽ không hỏi gì về tôi và có lẽ khi ấy tôi quá cô đơn. Tôi đã từng là một người năng động. Tôi nhớ như thế. Tôi chỉ không thể nhớ điều gì đã biến tôi thành như bây giờ.
Aimée rất ngọt ngào và tốt bụng, cô ấy không bao giờ hỏi vì sao tôi lại tổn thương và tôi cũng không bao giờ giải thích. Thật nhẹ nhõm khi có một người trong đời không biết về chuyện của Chavi. Một người không biết Priya ngày xưa nên không thể so sánh và thấy tôi của hiện tại trống rỗng và thất bại. Aimée thấy được sự gai góc trong tôi nhưng cũng không bao giờ cố khuyên tôi rằng tôi không nên có chúng.
Hỏi cô ấy rằng liệu chúng tôi có thể giữ liên lạc không có lẽ là điều dũng cảm nhất mà tôi từng làm. Tôi không quyết định được tôi muốn nghe cô ấy trả lời như thế nào. Giữ lại một người bạn cũng đáng sợ như mất đi họ vậy.
Cô ấy đã ở bên tôi vào ngày tôi thấy những bó hoa baby trước cửa nhà. Cô ấy đã cười và nói rằng ai đó đã quên không cho thêm hoa, tôi cài chúng quanh búi tóc của cô ấy cho tới khi thành vương miện như của một nàng tiên.
Và khi tôi kể cho Chavi về điều đó, tôi đã lựa chọn viết bằng màu mực hồng lấp lánh vì tôi đã rất vui vẻ, tất cả những vương miện hoa và vòng nguyệt quế hoa hồng trắng tôi vẫn giữ trong tủ.
Tôi vẫn giữ chúng trong tủ.
Những suy nghĩ về Aimée cứ chạy trong đầu tôi khi tôi xếp lại đống nhật ký vào hộp, lần này tôi cẩn thận xếp chúng theo thứ tự. Chavi và tôi đã dùng những cuốn nhật ký để ghi lại bất cứ con số nào gây tranh cãi hay những ký ức bị sai, hoặc chỉ nhớ lại chúng là gì, và việc đó luôn kết thúc dở dang bất chấp chúng tôi cố gắng viết vào sổ ra sao, lẫn lộn cả sổ của chị và tôi. Tuy nhiên, lần này, chỉ có sổ của tôi trong mỗi chiếc hộp, cho tới khi ba cuốn sổ cuối cùng được đọc xong nằm gọn gàng trên những chiếc hộp đã được dán kín băng dính.
Trong bữa tối, mẹ chỉ vào chồng nhật ký của Chavi, cuộn sushi trên đũa của bà suýt rơi trong khi bà vẩy vẩy chúng về phía chồng sổ. “Con đã nghĩ chúng ta sẽ làm gì với những cuốn sổ đó chưa?”
“Chúng ta sẽ làm gì với chúng ư?”
“Chúng ta có mang chúng theo không chẳng hạn?”
Cả căn nhà là một mớ lộn xộn. Trong khi cuối cùng cũng xem lại hết mọi chiếc hộp và quyết định chắc chắn sẽ mang gì tới Pháp, chúng tôi cần phải nghĩ thêm xem cái gì chúng tôi sẽ vứt đi hoặc quyên góp. Nhưng tôi chưa từng nghĩ về những cuốn sổ.
“Mẹ không định vứt chúng đi,” mẹ tiếp tục sau một lát. Mẹ cẩn trọng nhìn tôi, như thể bà đang sợ tôi sẽ nổi cáu. “Ý mẹ là có lẽ con nên đọc lại chúng và quyết định con muốn làm gì với chúng.”
“Mẹ có phiền không nếu con giữ chúng?”
Mẹ xoay đầu đũa để chạm vào mũi tôi bằng đầu sạch. “Mẹ không thích cứ bám lấy quá khứ, con biết mà, nhưng đây không phải một việc mẹ được quyết định. Cũng nhiều như những cuốn nhật ký của Chavi là những lá thư của con. Nếu con muốn giữ chúng, hãy làm thế. Bất kể con quyết định thế nào…” Bà thở hắt ra một cái, vòng lưỡi lên môi để bắt một hạt gạo đang dính trên vòng khuyên vàng. “Nước Pháp có thể là một khởi đầu hoàn toàn mới cho chúng ta, nhưng mẹ sẽ không bao giờ nghĩ đến việc bỏ Chavi lại. Mẹ chỉ muốn chắc chắn rằng chúng ta sẽ giữ chúng vì muốn, chứ không phải vì nên giữ.”
Được thôi, tôi có thể hiểu ý mẹ.
Cho nên trong khi mẹ đi lại trong bếp và lầm bầm chửi những chiếc thùng chứa nồi và bát đĩa, tôi đã quay lại ghế ngồi với chồng thư tình đầu tiên từ chị gái mình. Tôi mới chỉ nhìn thấy những phần mà Chavi lựa chọn cho tôi thấy.
Những lá thư đầu tiên được viết bằng bút sáp màu, những con chữ to vật vã và đôi khi có hình dáng kỳ dị, chính tả thì hoàn toàn tệ nhưng lại rất đáng yêu khi người viết chỉ mới ở độ tuổi biết số có một chữ số. Chị rất hứng thú với tôi, chị đã hứa sẽ làm người chị tốt nhất trên đời, luôn luôn yêu thương tôi, thậm chí thề lên thề xuống sẽ chia sẻ đồ chơi với tôi. Lá thư viết khoảng hai ngày sau khi tôi sinh ra thật sự đáng yêu vô cùng, phần lớn là vì nỗi hờn dỗi tràn ra trên mặt giấy.
Có lẽ một phần cô bé Chavi năm tuổi chưa thực sự hiểu được một cô em gái sơ sinh là như thế nào, bạn biết đấy, một đứa trẻ sơ sinh, và chính vì thế chị chưa thể ngay lập tức chơi với em bé.
Bây giờ tôi đã hình thành một thói quen khá dễ chịu. Tôi thức dậy vào buổi sáng, kiểm tra cửa trước, làm bài tập, đôi khi đi chơi cờ hoặc tới cửa hàng, quay lại nhà vào buổi chiều để kiểm tra đồ dùng của mình và những tấm vải lanh, làm thêm bài tập, ăn tối, giúp mẹ sắp xếp những chiếc thùng dưới nhà, sau đó dành nửa buổi đêm để đọc những cuốn nhật ký của Chavi.
Vào thứ Sáu, có một vòng hoa kim ngân nép mình trong giấy gói màu xanh dương, được đặt trong một thứ trông giống như một hộp bánh dưới vòm hiên.
Vào thứ Hai, có một bó hoa diên vĩ đủ sắc màu hồng, vàng, trắng, tím và cả cam, cuống hoa uốn cong lại qua những bông to để lộ ra những nụ hoa.
Hoa cẩm chướng tới vào thứ Tư, những viền cánh hoa đỏ như máu chảy trên những cánh hoa trắng. Đó là loài hoa cuối cùng chúng tôi nhận được lần trước. Thay vì đặc vụ Sterling và Archer, tôi chỉ thấy Archer lái xe lướt qua khu phố, lần này đích thân đặc vụ Finnegan đã tới kiểm tra.
“Cô ổn chứ?” Ông hỏi, mắt vẫn dán vào tấm thiệp hình chữ nhật nằm trong hai bàn tay đeo găng của mình.
“Vâng.” Tôi tựa lưng vào khung cửa, tay cầm cốc ca cao giơ lên đến sát mặt để hơi nước có thể ngăn lại gió lạnh. Trời bên ngoài đang ấm dần, nhiệt độ đã tăng lên khoảng 50°F và những chuyên gia khí tượng học hào hứng đoán rằng tuần sau nó có thể lên tới trên 70°F. Tôi vẫn mặc pajama chỉ vì tôi đang ở nhà và chẳng có lý do gì để vội vàng với lấy chiếc áo khoác cách đó vài bước chân. “Tôi chỉ ước mình biết điều gì sẽ đến tiếp theo.”
“Hoa lâu đẩu,” ông lạnh lùng tiếp lời, trong lúc cho tấm thiệp vào một chiếc túi nhựa chuyên dụng. “Cô biết trông chúng như nào không?”
“Màu xanh dương? Có một bài hát đã viết về nó, tôi nghĩ vậy.” Tôi không thực sự nói về loài hoa nhưng cách đáp trả của ông lại chắc chắn một cách kỳ lạ, như thể ông không nghĩ mình sẽ không kể cho tôi biết.
Ông vẫn giữ tư thế co ro, cẳng tay vòng quanh đầu gối khi ngước nhìn tôi. “Người đàn ông đáng sợ trong khu dân cư thân thiện này của cô, khó mà nắm được thông tin của ông ta.”
“Landon?”
“Eddison đã xác định những khu vực có khả năng là nhà của ông ta, nhưng không ai trong những khu vực đó nhận ra ông ta và chúng tôi đang gặp khó khăn khi tìm những giấy tờ liên quan. Không giấy tờ thuê nhà, không văn tự cầm cố. Cả DMV và bưu điện đều không có ghi chép gì về một người tên Landon trong khu vực này. Chúng tôi đã mở rộng địa bàn tìm kiếm, nhưng tiến độ không thể nhanh được.”
“Người trong camera an ninh đó không phải Landon,” tôi nhắc ông. “Đôi mắt đó không phải của ông ta.”
Ông khẽ cười và nhìn tôi. “Archer lẽ ra phải nói điều này cho cô biết: Chúng tôi đã tìm thấy người xuất hiện trong camera.”
“Gì cơ?”
“Một sinh viên ở Trường Hunt; cậu ta kiếm thêm thu nhập bằng việc chuyển hàng. Một hàng xóm của cô đã nhận ra cậu ta trong bức hình với hoa diên vĩ. Khi nói chuyện với chúng tôi, cậu ta nói những bó hoa đã được đặt sẵn trong xe của cậu ta cùng một phong bì chứa địa chỉ và phí giao hàng, đính kèm thời gian yêu cầu giao hàng.”
“Cậu ta để xe không khóa để ai cũng có thể nặc danh nhờ vận chuyển hàng ư?” Tôi ngờ vực hỏi lại. “Điều đó nghe thật là…”
“Ngu ngốc tột độ,” ông đồng ý. “Cũng là một cách tốt để vào tù nếu cậu ta bị bắt với hàng cấm. Cậu ta nói sẽ liên lạc với chúng tôi nếu nhận được thêm một phi vụ nữa.”
“Cho nên hoặc là hắn sẽ không thực hiện hoặc là hoa sẽ được đưa tới bằng một cách khác.”
“Đúng vậy. Và một điều kỳ cục như thế lại hợp lý với ông bạn không giấy tờ của cô - Landon. Sáng nay ông ta cũng không tới chỗ chơi cờ - tôi đã kiểm tra trên đường tới đây - và từ giờ cho tới hết tuần chúng tôi sẽ lên tòa. Tuần sau, Archer hoặc tôi sẽ cùng cô tới chỗ chơi cờ và hy vọng chúng ta có thể nói chuyện với ông ta ở đó hoặc ít nhất là theo ông ta về nhà.”
“Tôi đã không thấy ông ta kể từ khi đi cùng Eddison tới đó. Vậy là sẽ không có ai trong một tuần rưỡi sao?”
“Không nhìn thấy ông ta chút nào ư?”
“Không.”
“Thế còn những cựu binh khác thì sao? Họ có thấy ông ta không?”
“Tôi chưa hỏi.” Tôi nhìn đôi mày ông cau lại sâu hơn, những ngón tay đeo găng xoa lên nhau trong dòng suy nghĩ. “Ông đang lo lắng.”
Ông vuốt vuốt tóc mình, vừa kịp ngăn mình không nói ra điều gì đó. Ông là sự kết hợp kỳ lạ của bố mẹ ông, với khuôn mặt tinh tế và thân hình lực lưỡng, nước da trắng của người Ireland và những đốm tàn nhang nâu nhạt dày đặc, nhưng mái tóc thì mềm như lụa và tối màu. “Victor Hanoverian đã đào tạo tôi. Chúng tôi đã là cộng sự cho tới khi tôi có đội riêng của mình còn anh ấy có Eddison và Ramirez. Tôi đã thấy anh ấy không hề nao núng trước những hoàn cảnh khó khăn. Cho nên tôi thấy sao về việc ngày ngày anh ấy email cho tôi hỏi xem có thông tin gì mới hay không à? Đúng, tôi đang lo lắng, bởi nỗi sợ của anh ấy đang dọa tôi hết hồn.”
Đó là sự thành thật mà tôi không kỳ vọng sẽ nhìn thấy ở một người lạ, nhưng tôi cảm thấy biết ơn vì điều đó. “Ông ấy sợ sẽ xảy ra chuyện khi danh sách những loại hoa tiến đến nạn nhân vào năm ngoái, đúng chứ?”
“Hoặc là sẽ có chuyện nếu cô rời đi trước khi vòng lặp kết thúc,” ông thừa nhận. “Nếu cô rời đi và hắn cũng đi theo? Điều đó sẽ khiến vụ án nằm ngoài vòng kiểm soát của FBI.”
“Các ông có thể chuyển hồ sơ vụ án lên Interpol không?”
“Có, nếu trường hợp đó xảy ra, chúng tôi sẽ làm. Nhưng liệu họ có quan tâm không?”
“Cảm ơn ông.”
“Vì điều gì?”
“Vì đã không cho rằng việc này vớ vẩn,” tôi vừa nhún vai vừa đáp. “Nếu tôi không trốn tránh sự thật sau khi Chavi mất, có lẽ tôi đã biết để báo cáo về những bó hoa ở San Diego. Chúng ta sẽ không phải làm tất cả những việc này, và các ông cũng không phải đối phó với sếp tổng của mình. Có lẽ Aimée cũng còn sống, cả cô gái nạn nhân sau cô ấy nữa.”
“Ồ, bây giờ thì không.” Ông vươn mình, một bên đầu gối kêu răng rắc đau đớn, nhưng trừ khi phải co chân, ông dường như không quan tâm. Ông hơi thấp hơn tôi nhưng vẫn nhướn người lên cao một chút, sự hiện diện ngay cả khi ông không cố gắng. “Cô không thể nghĩ như thế.”
“Đó là sự thật, đúng không?”
“Chúng ta không có cách nào biết được. Priya à, hãy nhìn tôi này.”
Đôi mắt ông tối thăm thẳm, tròng đen gần như không thể phân biệt với con ngươi, nhưng ông có hàng mi dài kỳ lạ nhất mà tôi từng thấy ở một người đàn ông.
“Cô không thể nghĩ như thế,” ông nhắc lại từng từ một cách chắc chắn. “Không có điều gì là lỗi của cô cả. Chúng ta không có cách nào biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu mọi việc khác đi ở San Diego. Cái chúng ta có là hiện tại. Cô đang làm mọi điều cô có thể.”
“Được rồi.”
Trông ông có vẻ hơi giận dữ, và tôi tự hỏi liệu tôi có sắp nhận được cuộc gọi nào từ Eddison hay Vic không. Đặc vụ Finnegan mặc dù rất tốt nhưng không biết tôi đủ rõ để có thể tranh cãi thành công với tôi. “Hãy xem camera thu được gì.”
Camera cho thấy lần này là một phụ nữ, cô ta đang mặc một chiếc áo len nặng nề mở phanh ra để lộ áo polo màu đen, đỏ và vàng đã sờn của nhân viên trạm xăng cách đây vài tòa nhà. Tôi không nhận ra người phụ nữ ấy, nhưng điều đó hoàn toàn chẳng có gì bất ngờ; tôi chỉ tới cửa hàng khi cái lạnh khiến tôi buồn đi vệ sinh trên đường từ chỗ chơi cờ về nhà. Mỗi lần như thế, tôi sẽ mua một món đồ uống hay một thanh kẹo để tôi trông không giống một kẻ xấu tính sử dụng nhà vệ sinh mà không mua hàng, nhưng cũng không thường xuyên nên tôi chẳng biết ai làm việc ở đó cả.
“Tôi sẽ xuống phố và hỏi xem họ có nhận ra cô ta không,” Finney nói trong khi tiến ra ngoài. “Và, Priya… tất cả những gì cô có thể làm xảy ra trong hiện tại. Đừng chịu đựng những trách nhiệm không phải của cô.”
Hoa lâu đẩu tới với nhiều màu sắc và trông giống như hai loài hoa khác nhau được bó chung, tạo hình trái tim bằng những cánh hoa lớn màu trắng, những cuống hoa tối màu tiệp với những cánh hoa nhỏ và dài ở phía dưới. Còn bó hoa tới vào thứ Sáu có màu xanh dương và tím, do một nhân viên bưu điện trông đầy hoang mang chuyển phát, anh đã tìm thấy chúng ở ghế sau trên xe mình.
Emily Adams đã hát về những bông hoa lâu đẩu màu xanh dương chỉ vài ngày trước khi cô mất.
Đó có lẽ là lý do mà đây là lần đầu tiên dây ruy băng bó hoa lại không phải là dây ni lông uốn xoăn. Lần này nó là vải satin trắng, được in những nốt nhạc màu đen. Loài hoa không chỉ tượng trưng cho cái chết của cô, mà còn là một phần trong cuộc sống của cô nữa.
Ramirez đang ở Delaware, tiến hành hội chẩn về một vụ án họ đã đóng hồ sơ hồi tháng Hai, nhưng rõ ràng cô không nói với bạn gái của mình điều này, bởi có một bó hướng dương lớn đặt trên bàn cô. Người giao hàng phải giữ nó trong khi Eddison dọn dẹp hết giấy tờ để có chỗ đặt nó xuống. Ramirez thích hoa hướng dương, anh biết điều đó.
Nhưng anh cũng biết rằng anh nhận bó hoa với một tâm thế hoàn toàn khác biệt nên anh cảm thấy việc này thật sự phiền phức.
Tuy thế, anh là một cộng sự tử tế nên anh sẽ chụp lại ảnh và gửi cho cô để cô có thể nói cảm ơn với cô gái bên Đội chống khủng bố.
Sau đó Vic bước vào văn phòng, một nửa chiếc sandwich salad gà vẫn nằm trên tay ông và gương mặt ông mệt mỏi, nhợt nhạt. “Lấy áo khoác đi,” ông thúc giục. “Chúng ta sẽ tới Sharpburg.”
“Sharps… Keely?”
“Cô bé bị tấn công. Inara đang ở với Keely và bố mẹ cô bé ở bệnh viện.”
“Inara đang ở Maryland ư?” Anh đã lấy xong áo khoác cho mình và cả cho Vic, cũng như súng và phù hiệu. Họ có thể sắp xếp những thứ này khi Vic nuốt xong bữa trưa của ông. Anh đem theo những chiếc cặp nhỏ dưới bàn, phòng khi cần đến. Họ không cần phải thức cả đêm, không quá gần nhà, nhưng việc này không tốn quá một giây nên anh vẫn làm.
“Keely đang trong kỳ nghỉ xuân; cô bé mời Inara qua chơi vài ngày.”
Đó có lẽ là điều tốt nhất cho Inara khi cô làm việc ở một nhà hàng đắt tiền đến ngớ ngẩn như thế, đặc biệt là khi cô dành quá nhiều thời gian để rời đi.
Vic đã ăn xong chiếc sandwich trong thang máy và cầm lấy súng với phù hiệu của mình, nhét nó vào đúng vị trí trên thắt lưng của ông. “Chúng ta sẽ nhận được thông tin trên đường tới đó.”
Ngoại trừ việc cập nhật thông tin - bao gồm bệnh viện mà Keely được đưa tới và kẻ tấn công đã bị bắt giam - chặng đường hai giờ tới Sharpburg hoàn toàn im lặng. Thật khó để không liên tưởng tới điều tồi tệ nhất.
Keely đã chịu đựng… nhiều nhất có thể. Cô bé bị bắt cóc trong sinh nhật thứ mười hai, bị hiếp dâm và đánh đập một cách hung bạo, tỉnh dậy thì đã ở trong Khu vườn. Cô bé chỉ phải ở đó một vài ngày, được Inara và các cô gái khác bảo vệ vững vàng, nhưng nghe Inara và Bliss kể lại thì những ngày đó ngập tràn sợ hãi hơn bất cứ thời điểm nào trong đời cô bé. Sau đó là vụ nổ, cuộc giải cứu và công khai thân phận… Keely đã phải chịu đựng quá nhiều điều kinh khủng, hơn bất kỳ đứa trẻ nào ở tuổi của cô bé đáng phải chịu đựng.
Cảnh sát địa phương báo với bệnh viện là họ đang tới; họ vừa đeo phù hiệu trước khi được đưa thẳng tới một phòng riêng cạnh phòng cấp cứu khẩn cấp.
Họ thấy bố của Keely cứ đi lên đi xuống hành lang với vẻ đầy lo lắng, ông đưa tay lên xoa khắp mặt. Inara đứng cạnh cửa, quan sát ông, hai tay cô bắt chéo trước bụng. Eddison không chắc đó là cử chỉ bảo vệ cô khỏi tổn thương hay cái lạnh nữa; điều hòa đang phả ra hơi lạnh nên chiếc áo ba lỗ cô đang mặc có vẻ không được thoải mái. Anh có thể nhìn thấy phần rìa của một bên cánh bướm được xăm trên hõm vai cô.
“Mẹ cô bé đang ở bên trong với cô bé, cùng một nữ cảnh sát,” Inara thông báo thay vì chào họ.
“Thông tin chúng tôi có rất ngắn gọn,” Vic đáp. “Chuyện gì đã xảy ra vậy?”
“Chúng tôi đang ở trung tâm mua sắm và quyết định sẽ nghỉ ăn trưa. Bố mẹ cô bé ở một chỗ khác trong khu ẩm thực. Keely đi kiếm một cái bàn cho chúng tôi, còn tôi đi lấy thức ăn. Tôi nghe thấy tiếng kêu thất thanh và quay lại, một người phụ nữ đang đi sau cô bé, tay cầm một con dao. Cô ta gọi cô bé là con điếm và nói rằng bị hiếp dâm là sự trừng phạt của Chúa.”
“Sau đó?”
“Mọi người đều ngạc nhiên. Họ thậm chí bất động. Cho nên tôi đã đẩy họ để đi qua và hạ người phụ nữ khốn nạn đó. Có lẽ tôi đã đấm vỡ mũi cô ta. Cô ta đánh rơi con dao, và sau đó một nhân viên bảo vệ tới, anh ta còng tay cô ả lại và tôi đi tới xem Keely.”
“Tình hình tệ đến đâu?”
Sau khi cởi áo khoác đưa cho Vic, Eddison cởi nốt chiếc áo len dày màu đen của mình. Dường như trông anh thoải mái hơn trong áo sơ mi và cà vạt thay vì chiếc áo vest anh mặc ban sáng, khi lẽ ra chúng nên nằm trên bàn cả ngày. Bây giờ anh lại thấy vui vì đã mang chúng theo, bởi Inara đã thật sự cười với anh khi anh đưa nó cho cô mặc.
“Cảm ơn. Tôi đã đưa áo hoodie của mình cho Keely, để giúp cô bé che đi chút ít. Mọi người khi đó đều nhìn.” Chiếc áo len quá rộng so với cô, phần cổ rộng đến mức nhìn thấy cả xương quai xanh, nhưng cô đã cho tay vào túi thay vì bắt chéo chúng. “Vết cắt không sâu, hầu hết là ở tay bởi Keely đã dùng tay để tự vệ. Có một vết ở má cô bé nhưng họ đã gọi cho bên phẫu thuật thẩm mỹ đến hội chẩn.”
“Đó là trung tâm thương mại nơi cô bé bị bắt cóc đúng không?”
“Đúng vậy. Đó không phải lần đầu tiên cô bé trở lại đó. Chuyên gia điều trị khuyên khích cô bé làm như vậy.”
“Và kẻ tấn công biết Keely là ai ư?”
“Không khó để cô ta biết,” Inara trả lời thản nhiên. “Anh hỏi cứ như thể mặt chúng tôi chưa từng bị bêu khắp các bản tin vậy. Với lại Keely còn sống ở đó nữa.”
Bố của Keely nhận ra họ khi ông tiến lại gần, nhưng lại quay gót đi về hướng ngược lại.
“Họ đã cố gắng rất nhiều để không bám theo cô bé suốt cả ngày,” Inara nói với các đặc vụ. “Ở đó, nhưng không hề giám sát. Để hai chúng tôi đi ăn một mình là ý tưởng của họ.”
“Chúng ta có sắp thảo luận xem lỗi thuộc về ai hay không?” Vic hỏi bằng giọng đều đều.
Inara cười lớn. “Không, tôi đã chịu đựng nó quá đủ rồi, cảm ơn ông. Ông ấy chỉ đang cố đi đi lại lại đến kiệt sức trước khi được vào gặp cô bé thôi, tôi nghĩ thế.”
Vic nhìn Eddison, sau đó gõ cửa phòng bệnh. “Keely? Tôi là đặc vụ Hanoverian. Tôi vào có được không?” Ông đợi tiếng đồng ý nghèn nghẹn của cô bé trước khi đẩy cửa mở và nhẹ nhàng đóng lại sau lưng mình.
Eddison dựa vào bức tường bên cạnh Inara, cả hai cùng quan sát bố của Keely đi đi lại lại. “Cô chỉ đánh cô ả một cái thôi đúng không?”
“Vâng.”
“Tôi ấn tượng với khả năng kiềm chế của cô đấy.”
“Nếu nhân viên bảo vệ không xuất hiện đúng lúc, có lẽ tôi sẽ đánh thêm. Có thể không. Tôi đoán là nó còn phụ thuộc vào việc cô ả có xông tới Keely nữa không.”
Ông Rudolph đã đi hết một vòng và quay lại đi vòng tiếp theo.
“Họ đã nói đến chuyện sẽ chuyển tới Baltimore. Ông ấy có thể chuyển và nhà ngoại của Kelly ở đó. Họ nghĩ có thể việc rời Sharpburg sẽ tốt hơn cho Keely.”
“Cô nghĩ sao về điều này?”
“Tôi nghĩ Baltimore về cơ bản là sẽ đưa những tin tức giống hệt ở đây,” cô thở dài. “Tôi cũng không biết nữa. Có lẽ tôi không cho được lời nhận xét tốt nhất. Tôi đã quay lại căn hộ cũ, làm lại công việc cũ.”
“Mười tám tuổi sẽ khác mười hai tuổi.”
“Thật ư? Tôi chưa bao giờ nghĩ thế.”
Anh cười tự mãn và bởi vì họ ở cạnh nhau, anh thậm chí còn có thể vờ như cô không nhìn thấy nụ cười ấy. “Cô có bị thương không?”
Cô giơ cánh tay trái có một miếng gạc quấn xung quanh bàn tay lên. Lần này không giống như lần đầu anh gặp cô, nhưng nắm đấm của cô đủ gần để khiến anh co rúm người lại. “Tôi là một con ngốc. Lao vào giữ tay cô ả nhưng lại nắm con dao. Tuy nhiên nó đã giúp tôi có đủ lực đẩy tôi cần cho một cú đấm. Chỉ phải khâu vài mũi. Không để lại sẹo xấu đâu.”
Vết bỏng từ vụ nổ ở Khu vườn đã thành sẹo và cô phải tập một bài giãn cơ mỗi khi cô nghĩ về chúng để tay cô không mất đi sự linh hoạt.
“Tôi ngạc nhiên vì cô không vào trong đó với cô bé.”
“Tôi đã ở trong đó một lúc rồi, nhưng cô bé cứ nhìn tôi suốt khi viên cảnh sát cố gắng hỏi. Tôi đã đề nghị ra ngoài đây để anh ta có thể tự tin mà hỏi khi cô bé ở một mình.”
“Và cô đứng ngoài này từ lúc đó là vì?”
Cô lẩm bẩm một câu chửi thề và lôi điện thoại từ áo ra một cách khó nhọc vì nó ở bên túi trái mà tay cô lại không thể cầm chắc. Nhưng khi cô mở màn hình, lướt qua những tin nhắn mới mà tên người gửi anh có thể nhận ra là những cô Bướm, cô mở một tin nhắn từ Bliss khiến tim anh như ngừng đập một nhịp.
Đó là ảnh chụp màn hình một bài báo mạng, được đăng chưa đầy một giờ trước, và dưới một dòng tiêu đề giật tít ác độc là một bức ảnh chụp Inara. Anh không nhìn thấy Keely rõ lắm, vì cô bé đã được giấu kín sau Inara với chiếc áo hoodie rộng thùng thình của cô quấn kín người và một cái ôm chặt. Nhưng anh có thể thấy rõ nơi chiếc áo ba lỗ của Inara xẻ dọc lên tận lưng và chưa được kéo lại đúng vị trí, làm lộ ra phần cánh dưới của hình xăm bướm Western Pine Elfin, anh cũng có thể thấy cô đang ra sức bảo vệ Keely qua gương mặt cô nhìn về một phía.
“Họ gọi tôi bằng tên thật. Nhà hàng tôi làm việc cũng bị khui ra. Bliss đang cảnh báo Guilian, anh sẽ nhắc các nhân viên không trả lời bất kỳ câu hỏi nào không liên quan tới đồ ăn.”
“Họ có nhắc tới cô bé không?”
“Keely Rudolph ở Sharpburg, Maryland. Họ thậm chí còn khui cả trường cô bé theo học ra nữa. Ngôi trường trung học chết tiệt ấy.”
“Có lẽ việc chuyển tới Baltimore không phải ý tồi. Họ có thể đăng ký nhập học cho cô bé bằng tên mẹ của cô bé.”
“Chúng tôi là những người sống sót. Chúng tôi lẽ ra không cần phải giấu mình.”
“Đúng, các cô không cần phải làm thế.”
“Một vài đứa bạn cùng lớp của cô bé đã không ngừng tra tấn cô bé suốt một thời gian dài. Chúng liên tục dán những hình bươm bướm lên tủ đựng đồ của cô bé. Đặt những con bướm thủ công lên bàn học của cô bé. Thậm chí một giáo viên ở trường đã hỏi rằng liệu Thợ làm vườn có chọn riêng cho cô một loài bướm nào không.”
“Inara.”
“Tôi đã quen với cuộc sống chết tiệt này. Điều đó có nghĩa là tôi biết ơn những người bạn của tôi mọi giây phút, nhưng nó cũng có nghĩa là tôi đã quen chìm nghỉm trong những điều tồi tệ. Còn cô bé thì không. Cô bé không nên phải chịu những điều tồi tệ. Cô bé rất ngoan, và bố mẹ cô bé luôn sẵn sàng làm mọi điều vì cô bé, và…”
Anh hắng giọng khó chịu. “Điều đó không công bằng?”
“Gì cơ? Đó là một điều sai trái.” Cô đặt điện thoại ra xa và đập nhẹ đầu vào bức tường đằng sau họ, hai mắt nhắm nghiền.
“Những vết sẹo sẽ mờ đi,” cô nói khẽ. “Chúng không biến mất. Điều đó không đúng đắn. Chúng tôi sống với ký ức; vì sao chúng tôi cũng phải sống với những vết sẹo?”
Anh không có câu trả lời cho cô.
Cô không chấp nhận câu trả lời mà anh cố gắng đưa ra.
Cho nên họ cứ nhìn bố của Keely đi đi lại lại dọc hành lang bệnh viện, lắng nghe tiếng rì rầm mơ hồ từ trong phòng phát ra và chờ đợi.
Tên nàng là Laini Testerman, và đóa hoa dâm bụt nàng cài sau một bên tai hàng ngày có lẽ là món đồ ngụy trang mà nàng sẵn lòng khoác lên người nhất.
Chắc anh chưa từng thấy bất cứ điều gì như thế nhưng mùa xuân nóng hơn bình thường ở Mississipi này đã khiến nàng lột bỏ quần áo mỗi khi có cơ hội, ngay cả khi nàng không nên làm thế. Anh chưa từng thấy quần đùi ngắn đến mức ấy, khiến anh có thể nhìn thấy được những đường cong của mông nàng. Nếu không ở trường, nàng sẽ mặc áo ngực bikini và cái áo sau lại bé hơn cái áo trước.
Khi nàng đi trông trẻ, nàng đưa lũ trẻ ra ngoài để chạy qua những vòi phun nước hoặc chơi ở bể bơi, và không bao giờ thúc giục chúng phải thay đồ bơi ra trước. Ngay ở trong không gian mở, nơi ai cũng có thể nhìn thấy, nàng còn bảo các bé gái cởi bỏ quần ảo, chỉ mặc đồ lót mà nhảy xuống bể, thường thì khi đó các bé trai cũng có trong sân hoặc trong bể bơi cùng. Và không gian nhìn thẳng ra đường.
Anh đang nghĩ đến viễn cảnh được giết nàng vì cái tính thiếu khiêm nhường của nàng thì hành động kia lại càng ủng hộ suy nghĩ ấy. Anh không thể để nàng phá hoại những bé gái như vậy.
Tuy thế, anh không muốn lũ trẻ nhìn thấy cảnh tượng đó và nàng lại dành phần lớn thời gian ngoài trường học cho việc trông trẻ. Nàng đang tiết kiệm tiền để mua một chiếc ô tô, anh đã biết điều này khi nghe nàng hùng hồn tuyên bố với một người bạn về sự tự do nàng sẽ có khi sở hữu một chiếc xe riêng. Thật khó để thấy nàng một mình vì nàng bận rộn thế cơ mà.
Nhưng một tối muộn, nàng đã rời nhà và đạp xe tới bể bơi công cộng, trèo qua hàng rào bất chấp cổng bị khóa. Nàng đặt túi và khăn lên trên một cái ghế, và sau đó là cả bộ đồ bơi, cho tới khi nàng lặn sâu xuống nước trong trạng thái khỏa thân như trẻ sơ sinh.
Chiếc kẹp vẫn ở trên tóc nàng, sáng rực và nổi bật ngay cả trong ánh đèn đường chiếu từ xa.
Sau đó anh nghe thấy tiếng hàng rào cọt kẹt lần nữa và một cậu trai nhảy xuống đất. Cậu ta để khăn và quần bơi cạnh đồ của nàng nhưng không nhảy xuống bể. Thay vào đó, câu ta ngồi ở mép bể bơi, hai chân buông xuống nước và ngắm nhìn những vòng bơi của nàng. Nàng chuyển động nhanh nhẹn trong làn nước, những động tác mạnh mẽ và dứt khoát, anh biết nàng ở trong đội tuyển bơi của nhà trường.
Liệu họ còn muốn nàng ở lại đội nếu họ biết chuyện này?
Nàng cười khi nhận ra câu trai đó và bơi qua để đặt khuỷu tay nàng lên hai đầu gối đang mở rộng của câu ta.
Việc chấm dứt đêm nay như thế thật là cám dỗ nhưng anh lại không có loài hoa nào. Anh biết nơi anh có thể tìm thấy chúng - anh đã quan sát nàng lâu rồi, sau tất cả anh đã biết nàng là người như thế nào - nhưng anh sẽ tốn cả ngày hôm sau để lái xe đi vài giờ. Như thế thì quá kỳ công so với những gì anh thường làm nhưng trong thị trấn đang có Lễ hội Hoa dâm bụt. Nghe thật hợp lý.
Và trông cũng rất hợp lý khi đặt trên mỗi bầu ngực nàng một bông hoa, nơi lẽ ra nàng nên che lại bằng quần áo, một nhành hoa trên phần háng thường banh ra của nàng và một bông nữa, bông hoa tươi nhất mà anh tìm thấy, ngay trong cái miệng dâm đãng của nàng.
Sau khi gặp các đặc vụ Sterling và Archer về việc bó hoa trường thọ được chuyển tới vào thứ Ba, tôi đi đến chỗ chơi cờ, tôi cần trốn khỏi nhà và đống nhật ký. Mẹ thích cúc vạn thọ nhưng bố lại bị dị ứng với loài hoa này, hoặc ông chỉ nói thế thôi. Thật sự thì ông ghét chúng và ông nói là ông bị dị ứng để mẹ không bao giờ mang chúng vào nhà hay trồng chúng bên ngoài. Vì vậy, mẹ đã trồng cúc vạn thọ dọc theo bức tường của nhà thờ cổ như một biên giới và bố lúc nào cũng phải đi vòng ra cửa còn lại để không làm lộ lời nói dối của ông.
Nhưng chúng tôi vừa phải tổ chức đám giỗ cho Chavi, vừa phải làm cho cả bố, vì thế hôm nay những bông cúc vạn thọ trông sẽ tang thương hơn một chút, vết thương sẽ kéo dài hơn một chút.
Hôm nay trời đã đủ ấm để tôi có thể mặc mỗi quần bò và áo lông cừu, khoác thêm khăn trên cổ phòng khi trời lạnh hơn. Chiếc áo lông cừu màu đỏ từng là của Chavi và nó rực rỡ hơn hẳn bất cứ thứ gì tôi thường mặc. Tuy nhiên có một điều tôi khá thích ở nó: nó có màu đỏ như son môi của tôi. Chiếc khăn tôi đang choàng lại có màu ngọc lục bảo tươi rói - màu sắc yêu thích của mẹ. Tôi như đang mặc những món đồ của hai người thân thiết nhất trong đời mình.
Đương nhiên không giống như cách tên sát nhân ghê rợn Ed Gein đã làm, bởi vì tôi đâu phải tên sát nhân nào.
Tôi để ý cách các cựu binh nhìn nhau rất lâu trước khi họ cuối cùng cũng chỉ định người sẽ hỏi tôi về chuyện đó. Rồi Pierce hắng giọng, mắt ông cứ nhìn xuống bàn cờ giữa chúng tôi. “Cháu ổn chứ, cô bé Xanh Dương?”
“Cháu vừa trải qua vài ngày kỷ niệm đau khổ,” tôi trả lời, bởi đó là sự thật và đó là tất cả những gì tôi muốn chia sẻ bây giờ. Gunny biết chị gái tôi bị sát hại. Họ đều biết tôi từng nhắc đến mẹ nhưng chưa từng kể về bố. Chúng tôi có những vết sẹo và đôi khi nỗi đau chân thật như là ký ức vậy.
“Từ hôm đó tới giờ, Landon vẫn chưa trở lại.”
Hai cánh tay tôi buông xuống lòng mình. “Cháu có nên xin lỗi vì điều gì không?”
“Không hề!” Ông hét lên, cả Jorge và Steven cũng đều lắc đầu. “Không,” ông nói lại, lần này bình tĩnh hơn. “Chúng ta chỉ muốn kiểm tra xem liệu ông ta có làm phiền cháu ở đâu không.”
“Cháu chưa gặp lại ông ấy.” Nhưng điều đó khiến tôi nhớ lại sự lo lắng của Finney. “Có ai trong số các ông thấy ông ấy không ạ?”
Họ đều lắc đầu.
Tôi đi quân Hậu theo một đường chéo ba ô nơi nó có thể dễ dàng bị ăn, sau đó đặt lại tay vào lòng. Pierce nhìn tôi khó hiểu nhưng vẫn nhận lấy sự hy sinh này. Đó thật là một cách tốt để thay đổi chủ đề nói chuyện.
“Cháu còn ở với chúng ta bao lâu nữa, cô bé Xanh Dương?” Corgi hỏi.
“Không đầy sáu tuần nữa. Cháu và mẹ đang ngập đầu ngập cổ trong việc quyết định những món đồ nào mà hai mẹ con cứ chuyển đi chuyển lại mỗi lần chuyển nhà mà không có lý do gì rõ ràng.”
“Phụ nữ luôn ủy mị mà,” Happy thở dài.
Yelp huých cùi chỏ ông.
“Lười nhiều hơn là ủy mị ạ,” tôi vừa cười vừa trả lời ông. “Mẹ con cháu chuyển nhà thường xuyên tới mức không buồn dỡ những món đồ ra và vì chúng cháu không dỡ đồ nên cũng chẳng có lý do gì để lọc lại tất cả các thùng đồ ạ.”
“Nhưng nếu hai người không dùng đến chúng, vậy còn giữ chúng lại làm gì?”
“Bởi trong đó có cả những vật quan trọng, chúng cháu không thể cứ ném cả thùng đi.”
“Đừng tranh cãi với phụ nữ, Hap à,” Corgi cằn nhằn. “Kể cả với một cô gái trẻ. Logic của họ không giống chúng ta.”
Gunny thức dậy làm cả căn lều bạt tràn đầy tiếng cười, ông cười với tôi trong khi mắt vẫn ngái ngủ. “Cháu là một món quà tuyệt vời với những linh hồn già cỗi này, Priya ạ.”
“Các ông cũng rất tốt với cháu,” tôi thì thầm, và đó là sự thật. Ngoại trừ Landon thì đây là một nơi an toàn, với những con người khiến tôi cảm thấy không chỉ được chấp nhận mà còn được chào mừng, những vết sẹo và nụ cười méo mó và tất cả.
Sau khi thua Pierce một cách ngoạn mục và không khiến cho ông cằn nhằn về điều đó, tôi chơi một ván cờ trong yên lặng với Gunny, sau đó đi xung quanh với máy ảnh trên tay. FBI đã có những tấm ảnh mà họ có thể sử dụng; tôi cũng muốn có thêm ảnh cho riêng mình khi tôi rời khỏi nơi này.
Tôi vẫn đeo máy ảnh trên cổ khi bước vào Kroger. Tôi thấy Joshua đang đi ra, anh mặc một chiếc áo len ngư dân khác nhưng không mặc áo khoác. Tôi chụp vài tấm hình của anh, bởi anh thật sự tốt bụng mà không hề gượng ép. Khi nhìn thấy tôi, anh cười nhưng không dừng lại. Chẳng có dấu hiệu gì của Landon nên tôi mua một món đồ uống và đi thẳng về nhà. Tôi vẫn chú ý quan sát trong khi đi bộ nhưng không cảm thấy chút khó chịu nào còn sót lại như kiểu có ai đang theo dõi mình.
Tôi gửi tin nhắn cho Finney và Sterling để thông báo cho họ rằng những cựu binh cũng không gặp lại Landon từ hôm đó, rồi cuộn xuống danh bạ để tìm số của Eddison và ấn gọi. Tôi đã đọc tin tức về vụ tấn công nhằm vào Keely, đã thấy tấm hình chụp Inara; tôi vẫn chưa thể quyết định có nên viết thư cho cô về chuyện đó không hay để cô chủ động nhắc tới nó. Và vì Eddison vừa dành một nửa dịp cuối tuần để nhắn cho tôi những lời lẽ khoa trương về danh sách đào tạo mùa xuân của quốc gia, anh chắc sẽ rất giận dữ khi phải kết thúc quá trình này.
“Tôi không chắc liệu đó có phải một tin tốt hay không,” anh nói khi tôi kể cho anh nghe về Landon. “Tôi mừng rằng ông ta không còn làm phiền cô nữa, nhưng việc đó lại khiến công cuộc tìm kiếm ông ta khó khăn hơn nhiều.”
“Tại sao anh lại chắc chắn đó là ông ta?”
“Tại sao cô dám chắc đó không phải ông ta?” Anh vặn lại tôi.
“Anh cảm thấy ông ta đủ thông minh sao?”
“Thiếu năng lực xã hội không có nghĩa là không thông minh.”
“Điều đó không có nghĩa là ông ta bị nhận ra. Nếu anh là một cô gái tuổi vị thành niên, anh có sẵn sàng gặp ông ta vào buổi đêm không?”
“Nếu tôi là một cô gái đang tuổi vị thành niên,” anh nói to hẳn lên. “Tôi nghĩ tôi đã có những cơn ác mộng bắt đầu theo cách đó.”
“Ồ, vậy thì đây là một cơn ác mộng nữa dành cho anh này,” tôi càu nhàu trong lúc đi ra bậc cửa. “Trong vòng vài giờ vừa qua có thêm một bó hoa nữa được chuyển tới.”
Anh chửi thề rất nhỏ, một sự nối tiếp của những âm tiết gai góc, nghe như kiểu bị nén lại và kéo dài ra thật mỏng. “Hoa gì thế?”
“Tôi không biết.” Có ba loài hoa trong danh sách bắt đầu bằng chữ h, chỉ có hoa kim ngân là tôi có thể nhớ rõ. “Loài hoa gì đó đến từ miền nhiệt đới? Trông như thể nó được dán trên lọ kem chống nắng.” Những đóa hoa khá to, với những cánh hoa to như bàn tay diềm xếp nếp chồng lên nhau thành từng lớp ở phần rìa, một chiếc nhụy dài thò ra ngoài như cương cứng để chờ thụ phấn. Những cánh hoa ngả màu tím sẫm khi vào gần tâm và nhanh chóng đổ màu sáng rực rỡ ánh đỏ cam, sau đó ngả vàng tươi ở phần rìa. Từ trên cao nhìn xuống, chúng giống như nằm trên chai Fantasia. Tôi chuyển chế độ cuộc gọi sang loa ngoài để có thể chụp hình và gửi cho anh.
“Hoa dâm bụt,” anh nói sau một phút, giọng đầy nhẫn nại. “Cô có cảm thấy an toàn không, Priya?”
“Thực chất là cho đến giờ vẫn chưa có gì tấn công vào nhà.”
“Priya.”
“Anh đang ngày càng giống Vic đấy.”
“CÔ CÓ THẤY AN TOÀN KHÔNG?”
“Vừa phải,” tôi nói với anh. “Tôi hứa. Tôi sẽ khóa cửa. Tôi sẽ không lại gần cửa sổ, tôi sẽ luôn cầm những con dao tốt trên tay.”
“Cô có biết những con dao tốt ở đâu không?”
“Đương nhiên là có, mẹ tôi đã tìm thấy chúng hôm qua. Chúng vẫn đang ở trên quầy bếp cho tới khi chúng tôi xếp đủ đồ vào thùng.”
Tôi có thể nghe thấy một tiếng vỗ nhẹ qua điện thoại; tôi cho rằng anh vừa vỗ trán mình. “Được rồi. Finney sẽ tới ở với cô cho tới khi mẹ cô về nhà. Hoặc là Sterling và Archer, bất cứ người nào. Đừng tranh cãi về điều đó. Họ sẽ ở với cô.”
“Tôi không hề có ý định tranh cãi.” Với cách lái xe của ba đặc vụ, họ chỉ tốn không đến một giờ để từ văn phòng Denver tới đây. Mẹ sẽ không về nhà trong vòng ba giờ tới. Đôi khi, tôi cảm thấy họ nên có quyền trao trách nhiệm cho cảnh sát địa phương, lấy những báo cáo từ họ, nhưng tôi không chắc luật cho phép việc này.
“Tôi sẽ gọi Finney, cần gì cô cứ gọi lại cho tôi được chứ? Cho tôi biết cô vẫn ổn?”
“Tôi sẽ kiểm tra thông tin và thu thập những manh mối từ bó hoa vừa mới được chuyển tới cho họ.”
“Tốt.”
Tôi ngồi lại lên ghế với một con dao đặt ở tay ghế và một con dao nữa ở trên bàn uống nước, máy tính mở trong lòng. Tôi chỉ đi ra ngoài khoảng hai tiếng hoặc hai tiếng rưỡi, cho nên phần camera ghi hình có thể tách dễ dàng.
Lẽ ra phải thế.
Người duy nhất tôi nhìn thấy trong camera sau khi các đặc vụ rời đi là tôi, rời đi rồi quay lại. Như thể không có ai mang bó hoa tới. Tôi xem lại một lần nữa, chậm rãi, và thấy mười phút khung hình đứng im. Máy quay được kết nối với wi-fi nhà tôi, lẽ ra nó phải là một mạng lưới an toàn. Nó không thể bị hack.
Tôi kiểm tra lại thời gian quanh vùng bị đứng hình. Lạy Chúa. Những bông hoa được đặt ở đó ngay trước khi tôi về tới nhà.
Tôi không nhớ đã cầm lên một con dao, nhưng giờ thì những ngón tay tôi đang siết chặt cán dao. Tôi không hề đi qua ai tản bộ hay đạp xe, vậy thì người đặt bó hoa ở đây chắc hẳn phải bước xuống từ một trong những chiếc ô tô đã đi ngang qua tôi.
Đừng hỏi tôi vì sao điều này đáng sợ hơn cả việc ở nhà một mình khi bó hoa được chuyển tới. Có lẽ bởi khi tôi đang đi bộ bên ngoài, tôi cảm thấy mình yếu đuối hơn. Ở trong này tôi có vũ khí - dao, những vật cùn, cây gậy đánh bóng mềm của Chavi - nhưng ngoài đó tôi chỉ có lọ xịt hơi cay.
Chắc chắn tôi sẽ an toàn cho tới khi danh sách những loài hoa kết thúc.
Nếu tôi cứ lặp lại nó, có lẽ tôi sẽ tin vào nó lần nữa.