Đóa Hồng Quỷ Quyệt

Lượt đọc: 1038 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THÁNG TƯ

Geoffrey Macintosh sống trong bệnh xá của nhà tù, sức khỏe của hắn vẫn còn yếu nên không thể ở trong trại giam. Hắn phai thở máy oxy thường xuyên, hai lá phổi đã bị cháy hoàn toàn do vụ nổ ở khu nhà kính, những ống dò bằng nhựa được khóa chặt sau đầu nên hắn không thể nới lỏng ra, nếu không hắn sẽ tự làm hại chính mình. Hoặc như Eddison nghĩ, ngăn cản bất kỳ ai có ý định làm hại hắn. Vụ tấn công nhắm vào Keely đã lên bản tin quốc gia.

Hắn từng là một gã đẹp trai, Thợ làm vườn. Có những tấm ảnh của hắn trong hồ sơ và cả trên mạng nữa. Một người đàn ông lịch lãm, cuốn hút ngoài ngũ tuần với đôi mắt xanh lục và mái tóc vàng sẫm, luôn ăn vận chỉn chu. Hắn giàu có, nhờ phần tài sản thừa kế và kiếm được, và luôn sẵn lòng chi những khoản nho nhỏ cho quỹ từ thiện và những hoạt động nhân đạo khác.

Đương nhiên là cho cả khu nhà kính của hắn. Khu vườn của hắn.

Nhưng người đàn ông đang nằm trên giường bệnh có những vết sẹo bọng nước chạy dọc bên phải thân người, thịt da bị xoắn lại và kéo dãn ra. Những ngón tay độn dày và siết cứng với băng gạc. Cổ họng hắn bị khoét lỗ và lún xuống, những vết sẹo leo lên xé rách khuôn mặt. Miệng hắn bị kéo xuống ở một bên đến tận cằm, răng và xương lồi ra ở vài chỗ, đôi mắt thì đơn giản là đã bị hỏng cả, không thể trả lại vị trí ban đầu. Những vết bỏng đã lành bọc lại quanh da đầu. Phần thân trái của gã ít bị thương hơn nhưng cũng không hoàn toàn lành lặn. Cơn đau đã khoét những đường sâu xung quanh miệng và mắt gã. Vài vết bỏng không lành lại, những chất truyền nhiễm vẫn rỉ ra từ những miếng thịt được ghép vào.

Trông hắn không hề giống một gã đã dành ba mươi năm cuộc đời để bắt cóc, giết hại và giữ những cô gái mới lớn như những con bướm người cho riêng mình.

Có lẽ là xấu xa, nhưng Eddison thực sự ước anh có thể chụp một tấm ảnh của gã hiện tại để gửi cho nhũng người sống sót. Để an ủi họ.

Và bởi vì Bliss vẫn là Bliss, để cô thực sự tận hưởng niềm hạnh phúc khi được báo thù mà chắc chắn sẽ dâng lên tột độ.

Luật sư của Macintosh - hoặc chỉ là một trong những luật sư của gã; có lẽ gã đã thuê cả đoàn luật sư để bảo vệ cho mình - ngồi bên trái khách hàng của anh ta, nơi hắn có thể nhìn thấy anh ta qua con mắt trái còn giữ lại được. Anh ta là một người đàn ông cao, gầy trong bộ vest đắt tiền nhưng không được may quá chuẩn, như thể anh ta không đợi được đến khi thợ may xong. Nó khiến anh ta trông như bị bộ vest nuốt chửng và cảm giác không thoải mái rõ ràng với bệnh xá này cũng không giúp che giấu điều đó.

“Các đặc vụ, có lý do cụ thể nào khiến các anh khăng khăng gặp trực tiếp khách hàng của chúng tôi không?” Vị luật sư - tên là Redling hay Reed gì đó - hỏi với giọng khó chịu.

Vic dựa người vào chân giường, hai tay ông vòng quanh tay vịn nhựa chắc chắn. Biểu cảm của ông thật khó đoán, ngay cả đối với Eddison. Gần như ông không tin tưởng để cho chính mình biểu lộ bất cứ cái gì, vì nỗi sợ về những thứ nó có thể biểu lộ.

Eddison có thể hiểu điều này.

“Hãy gọi đó là một hành động tử tế,” Vic nói bằng giọng nhẹ nhàng. “Ông Macintosh, một tiếng rưỡi trước, con trai ông - Desmond - được phát hiện tử vong trong phòng giam của anh ta. Anh ta đã cắt quần để tết lại thành một sợi thòng lọng và cố gắng treo cổ từ đầu giường tầng. Anh ta đã không làm mình gãy cổ nhưng chặn đường oxy. Anh ta được công bố đã chết vào lúc năm giờ bốn mươi hai phút.”

Bất chấp những tiếng rít lên bất ngờ của màn hình đo nhịp tim, Macintosh trông vẫn bất động, hắn không thể phản ứng. Con mắt hắn đảo quanh và dừng lại nơi những người đặc vụ, rồi luật sư, vào khoảng không gian gần chân giường mà cô y tá nói rằng Desmond thỉnh thoảng đã ngồi ở đó.

“Tự sát ư?” Vị luật sư hỏi, những ngón tay xoay nhanh tới điện thoại. “Họ chắc chứ?”

“Sinh trắc học trong phòng giam; không ai đi qua cửa sau khi anh ta được báo cáo vào tối qua. Cho tới khi họ nhìn thấy anh ta sáng nay. Anh ta để lại một lời nhắn.”

“Chúng tôi có thể xem nó không?”

Tờ giấy nhớ đã được đựng trong túi vật chứng. Vic đã viết ba chữ cái đầu tên mình lên trên đó, nhưng ông vẫn lôi nó ra để họ có thể xem. Thực sự không có gì nhiều - chỉ là một dòng được viết bằng mực đen, những chữ cái nghiêng về phía trước vì tốc độ viết: Nói với Maya rằng tôi xin lỗi.

Vị luật sư nhìn khách hàng của anh ta, nhưng Macintosh cho thấy ông không nhận thức được gì về tờ giấy này.

Một cô y tá cuống quít bảo những người xung quanh phải yên lặng, tay cô đặt lên bên vai còn nguyên vẹn của bệnh nhân. “Ông à, ông cần phải thở.”

“Con trai ông ấy vừa mất,” vị luật sư lí nhí đáp.

“Ồ, trừ khi ông ta muốn đi theo con mình, bằng không ông ta cần phải thở,” cô y tá máy móc đáp.

Vic quan sát trong yên lặng, cuối cùng quay lại nói với luật sư. “Chúng tôi không cần gì từ ông ta cả. Chúng tôi không có câu hỏi nào.”

“Đây gọi là sự tử tế của các anh à?”

“Ông ta được nghe tin này trực tiếp, từ một người không có lý do gì để hả hê với nó. Ông ta được nghe tin này từ một người cha khác. Đó chính là lòng tốt.”

Eddison nhìn người đàn ông nằm trên giường lần cuối rồi theo Vic ra ngoài. Anh không nói gì cả. Anh chưa bao giờ định nói gì. Anh chỉ ở đó vì Vic và có lẽ vì cả những nạn nhân sống sót khác.

Vì Inara, cô gái có lẽ còn hiểu rõ mối quan hệ đầy bất ổn giữa cha và con trai hơn cả cha con nhà Macintosh. Inara, cô gái sẽ biết rõ đó là sự từ bỏ của Desmond chắc chắn như cách anh ta cuối cùng cũng báo cảnh sát. Đó không phải lòng dũng cảm, cũng không phải điều đúng đắn. Chỉ là từ bỏ.

Vic im lặng suốt chặng đường rời khỏi nhà tù, ông lấy lại súng và xe của họ. Ông để cho người cộng sự nói hết, nhưng Eddison biết cách nói chuyện với quản ngục. Nó không giống như cảm giác khó chịu khi phải nói chuyện với các nạn nhân. Họ quay về văn phòng. Vic vẫn đang đắm chìm trong những suy nghĩ.

Eddison lấy điện thoại ra kiểm tra lại vài thứ trước khi hối hả soạn vài tin nhắn. Hầu hết chúng đều được gửi cho bên ga-ra trước khi anh nhận được câu trả lời anh mong đợi. Anh quay số, để điện thoại kết nối với Bluetooth của xe. Khi chuông điện thoại reo, Vic quay sang nhìn anh.

“Anh đúng là một tên khốn khi gọi điện trước giờ trưa,” giọng lẩm bẩm ngái ngủ của Inara vang lên trong điện thoại.

Nếu là một ngày khác, anh có lẽ sẽ trêu cô. Nhưng không phải hôm nay. “Tôi muốn chắc chắn chúng tôi nói với cô tin này.” Anh nhìn sang Vic, Vic gật đầu. “Những người khác vẫn đang ngủ chứ?”

“Mới hơn tám giờ thôi, đương nhiên họ vẫn đang ngủ.”

“Có một chiếc hộp ở ngay bên ngoài cửa nhà cô; hãy mang nó và điện thoại của cô đi thẳng lên mái nhà.”

“Để làm gì cơ chứ?”

“Làm ơn, Inara.” Có điều gì đó trong giọng Vic, một sức nặng, một nỗi sầu khiến Eddison phải nhổm người khỏi chiếc ghế anh đang ngồi. Từ tiếng quần áo sột soạt, anh dám chắc câu nói ấy đã có tác dụng với Inara.

“Bliss, đi nào,” cô thì thầm. “Cô phải dậy ngay.”

“Vẫn còn sớm mà,” họ có thể nghe thấy tiếng rên rỉ của Bliss. “Sao phải dậy?”

“Cô có thể ngủ.”

“Ôi, chết tiệt. Thế là chuyện quan trọng rồi. Chúng ta đi đâu đây?”

“Mái nhà.”

Những đặc vụ ngồi trong xe lắng nghe tiếng sột soạt và tiếng chân huỳnh huỵch của hai cô gái đang ra khỏi giường, và Eddison không biết rằng ai trong số hai cô đã có một đêm tồi tệ vì hai người ở cùng nhau. Những cô gái đã làm điều này khi ở trong Khu vườn, cuộn tròn bên nhau như những chú cún con mỗi khi họ cần cảm giác thoải mái. Có những tiếng ngáy vang vang vào điện thoại, một tiếng nhẹ và lộn xộn, tiếng còn lại còn kinh khủng hơn tiếng cưa, và cả tiếng đàn piano đâu đó. Tiếng một cánh cửa đóng lại và sau đó họ nghe thấy giọng gầm gừ hết hơi của Bliss.

“Quỷ tha ma bắt, cái hộp này có cái quái gì mà nặng thế hả Eddison?”

“Tài hùng biện sáng sớm của cô đáng ngạc nhiên đấy,” anh lạnh nhạt đáp.

“Đi chết đi.”

Eddison cười. Vic thì chỉ lắc đầu.

“Cầm lấy điện thoại này, tôi sẽ mang cái hộp,” Inara nói, và có một tiếng thụp thật to trước khi họ bị ngắt kết nối.

Eddison nhấn nút gọi lần nữa.

“Im đi,” Bliss trả lời. “Không ai lại đi hợp tác bê cái đống chết tiệt này trong một buổi sáng chết tiệt cả.”

Có gì đó chắc chắn và khiến cho người khác yên lòng trong thói báng bổ của Bliss. Giống như người ta tin vào thủy triều vậy.

“Được rồi, chúng tôi ở trên mái nhà rồi đây và trời thì lạnh cóng,” cô nói với âm lượng vừa phải. “Có chuyện gì thế?” “Các cô mở loa ngoài chứ?”

“Ờ.”

“Inara có đó không?”

“Tôi đây,” cô nói, từng từ như bị bóp méo bởi một cái ngáp.

“Chúng tôi có tin mới cho các cô đây.”

“Tốt hay xấu?”

“Chỉ là tin tức thôi, tôi nghĩ vậy. Tôi sẽ để các cô tự quyết định.” Anh hít một hơi, tự hỏi tại sao anh lại là người làm điều này mà không phải Vic. “Desmond vừa được phát hiện đã chết trong ngục sáng nay.”

Họ im lặng khá lâu bên kia đầu dây. Anh có thể nghe thấy tiếng gió rít, thậm chí cả những hồi còi xe văng vẳng từ xa.

“Anh ta tự sát,” Inara cuối cùng cũng lên tiếng.

Bliss cười hô hố vào điện thoại. “Cuối cùng cũng có người thay trời hành đạo.”

“Không, anh ta tự sát. Đúng chứ?”

“Đúng,” Eddison xác nhận, và Bliss lầm bầm mấy câu chửi. “Cái hộp dành cho những lúc các cô muốn phê. Tôi đã nhờ một người bạn gửi nó ở đó.”

“Nếu chúng tôi muốn… Eddison.” Nhưng anh có thể nghe thấy âm thanh gần như là tiếng cười trong giọng Inara, và anh biết cô đã mở nó ra.

Và anh biết, bởi đó là chuyên môn của em họ anh mà, chiếc hộp chứa đầy những chiếc cốc xấu xí nhất quả đất, những món đồ rẻ tiền được sơn nhằng nhịt mà bạn sẽ tự hỏi không biết ai lại bỏ tiền mua chúng. Cô đã mua chúng vì trông chúng xấu kinh khủng và dùng chúng trong mái ấm trị liệu cho phụ nữ mà cô đang điều hành, bởi có điều gì đó khiến cho việc ném vỡ những món đồ chết tiệt vui không tả nổi.

“Nếu các cô cần thêm, hãy nói với tôi. Tôi có thể mang tới cho các cô.”

Vic hơi lưỡng lự trước tiếng gốm vỡ tan.

“Đó là Bliss,” Inara thông báo với họ bằng giọng buồn cười. “Anh ta tự sát thế nào?”

Và đó là kiểu nói chuyện của Inara, cô cứ đi một vòng rồi quay lại. Ngay cả khi cô không cố tình, ngay cả khi cô không có mục đích gây hoang mang cho người đối diện, cô cũng hay trượt dài theo một đề tài cho tới khi quay lại ở một điểm nào đó cô có hứng thú. Bạn chỉ phải đợi điều đó xảy ra mà thôi.

“Anh ta đã treo cổ,” Vic đáp. “Cuối cùng anh ta đã làm mình nghẹt thở.”

“Một tên khốn thậm chí còn biết chết làm sao cho đúng,” Bliss gầm gừ.

“Inara…”

“Tôi ổn mà, Vic,” Inara khẽ trả lời. Tuy rằng khá kỳ lạ nhưng Eddison tin những gì cô vừa nói. “Thợ làm vườn có thể cố gắng và trơ trẽn khi đứng trước tòa, với niềm tin vào những lỗ hổng trong hệ thống pháp lý và sự ưu ái mà hắn được nhận. Nhưng kiểu tự tin đó không bao giờ xuất hiện ở Desmond.”

Một bàn tay của Vic rời khỏi vô lăng, chạm vào túi áo đựng mảnh giấy nhớ của Desmond. Eddison lắc đầu ra hiệu.

“Thợ làm vườn thì sao? Các ông đã báo cho hắn chưa?”

“Chúng tôi vừa từ bệnh xá trở ra đây.”

“Các ông trực tiếp báo cho hắn?”

“Vic là một người cha.”

Câu trả lời trên khiến anh nhận lấy một cái liếc nhìn sắc lẹm từ người cộng sự, nhưng bù lại là giọng nói thấu hiểu từ loa điện thoại. “Văn phòng công tố vừa gọi để báo cho chúng tôi về nội dung của những bức thư,” cô nói. “Họ nói rằng anh ta có vẻ bất ổn nhiều hơn sau cái chết của Amiko.”

“Cô nói là anh ta có kết nối với điệu nhạc cuối cùng dành cho Amiko.”

“Họ biết rằng tôi đã cứ thế gửi thư đi mà không đọc chúng, lệnh cấm liên lạc… điều đó không có gì ngạc nhiên, đúng chứ?”

“Nhưng không có nghĩa là nó ít ảnh hưởng hơn.” Vic nói với cô.

“Đúng thế. Nhưng nó… nó không tệ như tôi nghĩ.”

“Việc nhận tin anh ta chết á?”

“Tôi đã nghĩ các ông gọi để báo với tôi rằng một cô gái nữa đã chết.”

Chết tiệt. Eddison chắc chắn không hề nghĩ đến chuyện này.

Từ vẻ mặt cứng đờ của Vic, anh biết Vic cũng không hề nghĩ tới.

Ồ, giờ thì đúng là một buổi sáng tồi tệ.

Họ nghe thấy một chiếc cốc nữa vừa bị đập vỡ.

“Đúng vậy, nên là chúng tôi cần các ông ghé qua và mang thêm những chiếc cốc này.”

“Inara? Cứ thương xót cho anh ta cũng được, nếu cô muốn.”

“Tôi không biết tôi muốn gì nữa, Vic à,” cô đáp, sau đó cười cay đắng. “Tôi đoán là tôi không muốn anh ta tốn thêm một giây phút nào hay một chút chú ý nào của tôi nữa. Nhưng điều đó công bằng một cách tàn nhẫn, đúng chứ?”

“Điều gì cơ?” Eddison hỏi trước khi kịp nghĩ kỹ hơn.

Cô cười nhẹ một tiếng, âm vang không chủ đích của tiếng cười trong sảnh bệnh viện và một người cha cứ đi đi lại lại, cùng một cô bé đang sợ hãi đối diện với vô số bi kịch. “Chúng tôi sẽ nhờ vài cô gái khác làm giúp ca của chúng tôi đêm nay. Có lẽ chúng tôi sẽ ra biển.”

“Việc đó có ích không?”

“Chúng tôi có thể chạy mải miết mà chẳng có một bức tường kính nào ngăn chúng tôi lại.”

Việc đó rõ ràng có ích phần nào.

“Các cô đừng kể cho ai vội. Họ muốn kiểm soát cách sự kiện này lên mặt báo.”

“Cảm ơn vì đã cho chúng tôi biết. Và vì cả những chiếc cốc chết tiệt này nữa.”

Họ nghe thấy thêm một tiếng vỡ.

Eddison từ bỏ và giơ tay lên miệng để cười. “Tôi sẽ gửi cho cô tên người mà cô có thể liên lạc, cô ấy sẽ cho cô biết chỗ lấy thêm những chiếc cốc như thế này.”

“Không, Bliss, cô không được ném khỏi mái nhà này!” Rồi cuộc gọi đột ngột ngắt.

Nhưng Vic đang hơi mỉm cười, vẻ cau có đáng ghét đã dần phai. “Họ sẽ ổn thôi, phải chứ?”

“Tôi nghĩ Inara sẽ có những ngày tệ hại, nhưng phần lớn thì đúng. Tôi nghĩ cách đó sẽ làm giảm một phần gánh nặng trong cô.”

Điện thoại di động của một trong hai người đổ chuông, khiến cả hai bỗng ngập ngừng. Eddison thấy bên hông mình đang rung. Anh lôi điện thoại ra, trong phút chốc bụng anh như thắt lại khi nhìn thấy tên Priya hiện lên trên màn hình. “Priya? Cô ổn chứ?”

“Có những bông dạ yến thảo trước hiên nhà,” cô nói, giọng sắc lại và gần như sắp vỡ òa. “Mẹ tôi đã để quên cái gì đó và quay lại trước khi bà tới thị trấn, và chúng đã ở đó. Camera hoàn toàn không ghi được cái gì.”

Phần thu lại từ camera cho thấy trong vòng nửa tiếng hoàn toàn không có gì thay vì ghi được cảnh ai đó đưa hoa dạ yến thảo. Lần này màn hình không đứng yên như trước - thời gian vẫn chạy - nhưng toàn bộ màn hình bị nhiễu trong vòng nửa tiếng rồi trở lại bình thường. Giữa hai mốc đó, tất cả đồng hồ trong nửa trước của ngôi nhà đều được cài đặt lại, giả thuyết của Archer là xung điện từ sóng ngắn. Anh ta nói chúng không khó tìm; thậm chí chúng còn quá dễ để làm tại nhà.

Ôi, niềm vui của công nghệ.

Archer đã làm… gì đó… với những chiếc máy quay, trong khi Sterling cãi vã to tiếng trong điện thoại, cố gắng xin phép sếp tổng để lấy ảnh của Landon và đi dán khắp nơi trong các khu dân sinh mà Eddison nghĩ ông ta có thể trú ngụ. Cuộc hội thoại không suôn sẻ nên ngay sau đó cô đã gọi cho Finney. Thế nhưng ông ấy không thể hủy bỏ lệnh giới hạn của sếp mình và giọng nói bị bóp méo của ông ấy nghe cũng đầy giận dữ như Sterling.

Archer trông không lạc quan lắm với chiếc máy quay. “Hy vọng tấm bảo vệ sẽ ngăn nó khỏi đợt sóng tiếp theo,” anh vừa nói vừa bắt vít tấm chắn bảo vệ.

“Hy vọng?” Mẹ tôi hỏi bằng giọng nguy hiểm, bà vẫn mặc quần áo công sở.

“Đây là dòng máy quay an ninh cho gia đình, điều đó không có nghĩa là nó không thể bị phá hỏng.”

Mẹ quắc mắt nhìn chiếc camera, lầm bầm chửi thề bằng tiếng Hindi.

Chủ nhật, chúng tôi lái xe tới Denver, bề ngoài là đi mua sắm nhưng thật ra là đưa tôi rời khỏi Huntington một chút. Mẹ chỉ cho tôi tòa nhà bà làm việc ở LoDo nhưng bà không muốn đi vào đó. Ngay cả khi tôi có tâm trạng gặp gỡ những đồng nghiệp của mẹ, mẹ cũng chưa từng đem công việc vào đời tư từ sau khi chúng tôi rời Boston.

Hai năm đầu di chuyển đây đó, công ty của bà cử bà đi xử lý bộ phận nhân sự trong các chi nhánh đang gặp khó khăn. Bà ở đó để sắp đặt mọi thứ đâu vào đấy. Ngay sau khi chúng tôi tới San Diego, họ đã đề nghị bà nhậm chức Giám đốc Nhân sự chi nhánh Paris; giám đốc hiện tại sẽ nghỉ hưu trong vòng vài năm tới, nhưng người phụ nữ mà ông nhắm cho vị trí này đã bị một công ty công nghiệp Đức săn được. Họ muốn mẹ tiếp tục làm công việc “dập lửa” này ở các văn phòng khác nhau tại Mỹ, đồng thời bắt đầu học về tất cả các vấn đề quốc tế của công ty, luật của Pháp và Liên minh châu Âu đòi hỏi thỏa thuận khác.

Tôi nghĩ điều đó có thể đã khiến tôi gắn bó với Aimée, trong khi những nước đi khác của tôi toàn là né tránh tình bạn. Cô đã rất phấn khích khi biết rằng cuối cùng tôi sẽ thực sự được sống ở Paris; đó là ước mơ của cô. Cho nên trong khi những người khác ở lớp chỉ học vừa đủ để tốt nghiệp hoặc lấy học bổng, Aimée và tôi đã khiến giáo viên phát điên vì đòi hỏi nhiều hơn.

Chúng tôi ăn ở một nơi tuyệt hơn mọi lần một chút bởi tại sao không cơ chứ, và trong toàn bộ thời gian chúng tôi ở đó, tôi có thể cảm thấy cơn giận dữ cuộn lên, bò trườn và cào cấu ruột mình, cơn đói còn nhiều hơn những gì đang có trên đĩa, bởi tôi vẫn không thể dứt khỏi những suy nghĩ về bó hoa dạ yến thảo.

Mọi người biết đến Kierstan Knowles đều nói về tiếng cười của cô. Cô luôn tươi cười, và tiếng cười của cô có thể tràn ngập cả phòng, khiến bạn hoàn toàn cảm thấy muốn hòa vào nó trước khi kịp ngoái lại nhìn xem rốt cuộc thì có gì buồn cười. Kiersten Knowles là sinh vật của niềm vui. Nhưng điều đó chỉ tồn tại cho tới khi dì của cô - cũng là người bạn thân nhất của cô - bị một tài xế say xỉn đâm chết.

Sau đó Kiersten không còn cười nữa.

Cô cũng bị sát hại ngay sau đám tang của dì mình. Cô ở lại nhà thờ trong khi những người khác đến quầy thủ tục; cô bảo với bố là cô cần thêm chút ít thời gian để nói tạm biệt với dì. Khi ông cảm thấy lo lắng và quay lại xem cô thế nào, ông đã thấy cô nằm chết trên sàn, thi thể cô song song với quan tài của người dì, điểm xuyết những đóa dạ yến thảo nhỏ xinh.

Khung cảnh tệ hại đó đã bị chụp lại. Tôi đã thấy nó trên mạng, cùng một bức ảnh khác mà lẽ ra không bao giờ nên được đưa vào hồ sơ cũng như lộ ra ngoài: đó là bố cô, khi cuối cùng cũng được phép lại gần cô, ông bị chụp khi đang quỳ gối, một tay nắm chặt quan tài của em mình, tay kia luồn qua những đóa dạ yến thảo trên tóc con gái mình.

Có một bức ảnh chụp mẹ của Aimée đang kêu khóc thảm thương trong khi xé nát tất cả những bông hoa bất tử trong vườn trên mái nhà vòm của họ. Chúng là những tấm ảnh đầy quyền lực, giàu cảm xúc, rất đắt giá, muôn kiểu chọn một mà bất cứ nhiếp ảnh gia nào cũng phải thật may mắn mới chớp được, giống như bức ảnh chụp tôi đang với về phía chị mình trong khi một nhân viên cấp cứu đưa tôi đi.

Những tấm ảnh đó được rải khắp mọi nơi bởi nền văn hóa của chúng ta hiếu kỳ với tội ác, bởi chúng ta nghĩ rằng nỗi đau riêng của gia đình là để cho người đời phán xét.

Kiersten là vụ án đầu tiên mà FBI tham gia. Một nhân viên là bạn của anh trai Mandy Perkins đã nói chuyện này cho sếp của anh ta, theo bài báo tôi từng đọc. Mandy Perkins là nạn nhân thứ năm - năm năm trôi qua và năm vụ án mạng trước vụ của Kiersten - cô gái thích tạo những ngôi làng thần tiên trong những khu vườn. Mercedes khi ấy đang là sinh viên năm cuối cao đẳng, thậm chí cô còn chưa vào học viện khi Kiersten bị sát hại, nhưng đã có tấm hình Eddison và Vic đứng bên ngoài nhà thờ, nói chuyện với một nữ cảnh sát mặc thường phục. Vic trông điềm đạm, quy củ, hoàn toàn kiểm soát mọi thứ quanh ông.

Eddison thì trông có vẻ tức giận.

Khi chúng tôi về nhà, có một vòng nguyệt quế kết bằng cỏ ba lá treo ở tay nắm cửa, những dây thép cứng giúp định hình chiếc vòng, và những sợi dây điện lủng lẳng rơi xuống từ nơi lắp đặt camera.

Mẹ và tôi đứng đó vài phút, nhìn vào khoảng không giữa hai điểm.

Cỏ ba lá là dành cho Rachel Ortiz, cô gái bị giết tại Hội chợ Phục hưng, nơi cô tham gia đoàn diễn, cỏ ba lá (Clover) cũng là tên nhân vật của cô, một cô gái chăn cừu ngốc nghếch nhảy múa khắp nơi, mang một chiếc giỏ đầy cỏ ba lá màu hồng và trắng để tặng cho trẻ em. Trên áo lót của cô, cô đeo một chiếc ghim có chữ gaolbait để mọi người biết cô là người thiểu số và do đó không bị bắt nạt nữa.

Cô đã bị hiếp dâm, tấm áo lót với chiếc ghim ở bên cạnh thi thể cô được tìm thấy trong một nhà nguyện bằng gỗ nhỏ xíu mà công chúa thường dùng trong đám cưới.

Mẹ đề nghị gọi cho Finney và Eddison nên tôi bước lên tầng hai để thay pajama. Archer sẽ tới đây trong vài phút nữa, mẹ bảo thế, vì anh ta đang loanh quanh ở khu này; Sterling và Finney sẽ lái xe từ Denver tới và mang máy quay mới theo. Chúng tôi gặp Archer khi anh ta tạt qua trên đường đi làm sáng nay, trước khi chúng tôi tới Denver. Việc tuần tra có lẽ sẽ khiến Finney và Vic cảm thấy tốt hơn, nhưng chắc chắn nó cũng tệ như việc không làm gì cho sự bình yên trong tâm trí tôi.

Tôi không xuống lầu. Tôi chẳng có gì để cho họ cả. Finney gọi với lên lầu khi ông tới nhưng tôi không trả lời và một khoảnh khắc sau đó, tôi nghe thấy tiếng mẹ kêu ca. Tôi biết ông mong sẽ gặp tôi để xem tôi ra sao, từ đó ông có thể nói với Bộ ba Đặc vụ là đã trực tiếp thấy tôi vẫn ổn.

Thay vào đó, tôi chui vào tủ quần áo, tìm chiếc hộp giày trên cùng dùng để đựng những ruy băng ảnh của tôi khi tôi tham gia các cuộc thi và lôi nó xuống. Tôi chuyển những dây này sang một chiếc hộp khác nhưng chỉ sau vài lần tôi lại chuyển về, hoàn toàn máy móc. Thú thực, tôi đã giữ những ruy băng ấy trong hộp này lâu tới mức nó đã trở thành hộp ruy băng nên mẹ không bao giờ nghĩ sẽ kiểm tra món bánh Oreo ở đó.

Hai tay tôi run lên, khiến cho giấy bóng kính phát ra tiếng sột soạt. Tôi làm rơi chiếc Oreo đầu tiên đến hai lần trước khi thật sự nắm chắc được nó, những vụn bánh đen dây ra ngón cái và ngón trỏ khi tôi cố dùng sức nắm chiếc bánh.

Nó có vị như tro vậy.

Nhưng tôi nuốt nó và nhét cái tiếp theo vào miệng, nhai nhiều nhất có thể trước khi nuốt được cái này.

Lẽ ra tôi không nên nghiên cứu gì về những vụ án khác. Tôi tự nhủ tôi cần làm điều đó, tôi nợ Aimée điều đó khi giữ những cái tên của họ trong tim mình, nhưng lẽ ra tôi không bao giờ nên làm điều đó, bởi tôi thấy họ rõ ràng, bởi tôi biết điều mà bạn bè và gia đình đã nói về họ, bởi tôi cảm thấy tôi biết họ.

Bởi vì giờ đây mỗi khi nhắm mắt lại, tôi không chỉ thấy Chavi với những bông cúc đại đóa vàng như bơ tỏa ra xung quanh chị, đầu cánh hoa đẫm máu. Tôi còn thấy Aimée, đôi tay cô gập lại để giữ một nhành hoa bất tử trên bộ ngực phẳng lì đặc trưng của những diễn viên múa ba lê, toàn thân cô được vây quanh bởi những đóa hoa. Tôi còn thấy Darla Jean Carmichael, cô gái đầu tiên, cổ họng cô bị cắt, ở chính giữa dòng thác của những đóa vạn thọ trắng và vàng. Tôi còn thấy Leigh Clark, bị cưỡng hiếp tàn ác tới mức nhân viên pháp y đã ngờ rằng có lẽ cô cũng chẳng thể sống nổi kể cả khi cổ họng cô không bị cắt. Tôi còn thấy Natalie Root, đầu cô gối lên một đám dạ lan hương với mọi sắc độ hồng, tím, và trắng giống như một tấm chăn được vá víu chằng chịt.

Những chiếc bánh Oreo nặng nề sau một bữa tối đã nhiều hơn bình thường nhưng nó không khiến tôi nguôi ngoai, bởi tôi thấy được vẻ mặt tê dại của bố tôi khi ông gặp chúng tôi trong bệnh viện, cú sốc không bao giờ hoàn toàn rời khỏi đôi mắt ông. Tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng khóc của Frank khi ông cố kéo tôi ra xa khỏi Chavi, vẫn cảm nhận được mùi máu, cái lạnh và cảm giác nhơm nhớp trên tay, trên cổ, ngực cùng quần áo của tôi khi máu thấm đẫm khác hẳn cái cách nó thấm đẫm Chavi, tôi bị kéo ra một chỗ an toàn, còn chị tôi đang nằm đó trên sàn nhà thờ, hoàn toàn trần truồng.

Tôi có thể thấy bức ảnh chụp Inara, sự hung dữ và cảm giác chở che trên khuôn mặt cô khi cô cố gắng bảo vệ một cô bé khỏi một vụ tấn công vô nghĩa.

Dạ dày tôi như cuộn lên phản đối, nhưng sau khi ăn xong gói bánh đầu tiên, tôi vẫn tiếp tục bóc gói thứ hai, nhồi nhét những chiếc bánh chết tiệt trong cơn buồn nôn. Đây là một nỗi đau hoàn toàn có thể lý giải, nỗi đau này sẽ dừng khi tôi dừng lại, nhưng tôi không thể, chẳng vì gì cả.

Tôi không thể lý giải nổi bất cứ điều gì trong chuyện này và tôi không nghĩ ra bằng cách nào họ chọn chuyện này, Bộ ba Đặc vụ của tôi, cả đặc vụ Finnegan, Sterling và Archer nữa, tôi không tài nào hiểu nổi làm sao họ có thể đối diện với điều này ngày qua ngày. Vấn đề không phải ở chỗ nó xảy ra với những người xa lạ.

Kiersten Knowles, Julie McCarthy, Mandy Perkins, họ đều xa lạ đối với tôi.

Nhưng tôi có thể thấy họ, với những bông hoa dạ yến thảo, thược dược và diên vĩ, da dẻ nhuốm máu và những sàn nhà thờ, và nó không hề…

“Priya! Không, con yêu, không.”

Tay tôi đã ôm chặt gói bánh Oreo trước khi mẹ kịp giằng nó ra. Mẹ tóm lấy hộp ruy băng, thấy còn hai gói trong đó, và đi thẳng ra cửa để ném chúng xuống lầu. Mẹ quỳ gối trước mặt tôi, đôi bàn tay xoa xoa khắp người tôi, ngón cái giữ chặt miệng túi để tôi không lấy ra thêm cái nào nữa.

“Priya, không.”

Mẹ đang khóc.

Mẹ đang khóc.

Nhưng mẹ là một người phụ nữ mạnh mẽ cơ mà, lúc nào cũng ổn ngay cả khi mọi việc không hề ổn (đúng hơn là đặc biệt khi mọi việc không hề ổn), thế thì tại sao bà lại khóc? Tôi sốc đến mức buông rơi cả gói bánh, và bà ném chiếc túi đi, những vụn bánh rơi đầy trên tấm thảm màu xám. Đôi tay bà vòng qua người tôi như một chiếc mỏ cặp.

Cuống họng tôi như bị thiêu đốt và bây giờ, khi không cố nhồi nhét thêm bánh Oreo vào miệng nữa, tôi lại cảm thấy buồn nôn ghê gớm.

“Nào, con yêu. Ngồi dậy nào.”

Mẹ kéo tôi dậy, bà luôn mạnh mẽ hơn vẻ ngoài, và chúng tôi cùng nhau đi qua hành lang tới nhà vệ sinh trong phòng mẹ, bởi vì tôi vẫn không thể nhìn vào nhà vệ sinh của mình mà không thấy những món đồ của Chavi còn sót lại. Nhưng mẹ rất gọn gàng và sạch sẽ, mọi thứ đều được xếp chồng lên nhau, đựng trong các thùng chứa hay cốc nhỏ hoặc cất gọn sau chiếc gương bên. Khi mẹ lục lọi ô chứa đồ, tôi ngồi phịch xuống tấm thảm dày và mềm giữa bồn cầu và bồn tắm. Nó có màu vàng lấp lánh nhưng nhẹ và nhạt như ánh nến.

Mồ hôi đọng thành vệt và nhỏ xuống qua tóc tôi, dọc hai bên má. Tôi có thể cảm thấy tay tôi run lên, rồi đến toàn thân tôi cũng run bần bật.

“Hai cốc,” mẹ nói và ngồi xuống cạnh tôi. Mẹ đưa cho tôi cốc nước muối đầu tiên. Thứ nước này thật ghê tởm và khó uống, lượng nước tôi ọe ra còn nhiều hơn lượng nước tôi có thể nuốt xuống, nhưng khi tôi nhắm mắt nhắm mũi nuốt hết, mẹ lại đưa tôi cốc thứ hai. Việc nôn ọe luôn khiến tôi cảm thấy vừa đau đớn vừa bẩn thỉu và nó sẽ khiến bạn muốn nôn thêm, nhưng nếu tôi có thể nôn ra bây giờ trước khi có cơ hội nôn thêm thì việc đó cũng không quá tệ.

Tuy nhiên, nó kinh khủng.

Mẹ kéo tóc tôi ra sau và buộc túm nó thành một búi lộn xộn, chiếc băng đô vải xấu xí của bà giữ những sợi tóc còn rơi ra phía trước trán tôi. Mẹ quỳ bên chiếc bát ngâm móng tay, một chiếc khăn được gấp lại trong nước lạnh.

Đã hàng tháng trời kể từ khi tôi lặp lại hành động này - tôi thề với Chúa rằng tôi đã ổn hơn - nhưng đó vẫn là một thói quen.

Với một cơn co rút đặc biệt đau đớn, tôi bắt đầu nôn thốc nôn tháo vào bồn cầu. Giữa những lần nôn như thế, mẹ dội sạch cái bát, vắt khăn để lau đi mồ hôi và những thứ bẩn thỉu trên mặt tôi. Ngay cả khi tôi (có vẻ như) đã nôn xong, cảm giác bẩn thỉu vẫn còn đó, sự lưỡng lự liệu nó có còn tiếp tục hay không khiến tôi chần chừ không muốn rời nhà vệ sinh.

Việc nôn ọe khiến tôi đau đớn, nó thúc mạnh trong cơ thể, khiến cổ họng tôi chua lòm và như bị xé rách, tôi bắt đầu khóc nhưng nó chỉ khiến tôi cảm thấy tệ hơn. Ngực tôi đau điếng vì lực ép mỗi khi nôn ra và nỗ lực hít vào chút không khí.

Mẹ ôm choàng lấy tôi, túm chặt tóc tôi, hai bên cổ họng tôi, tôi có thể cảm nhận rõ những ngón tay mẹ ướt lạnh vì liên tục thay khăn cho tôi. “Tất cả đang dồn lại,” mẹ thì thầm vào tai tôi. “Chúng ta sẽ cùng vượt qua mọi chuyện.”

“Con chỉ muốn dừng lại thôi,” tôi rên rỉ, “nhưng mà…”

“Cái gì cơ?”

“Chúng ta đã bảo hắn phải đi đâu để tìm chúng ta. Chúng ta đã cho hắn biết chúng ta sẽ đi đâu kế tiếp và còn thách thức hắn tới.”

“Thách thức ư? Không, là cầu xin mới đúng.” Mẹ nói chắc nịch. “Nhưng ngay khi con có một mối nghi ngờ nhỏ nhất, chúng ta sẽ dừng lại.”

Khi mẹ đề nghị trở về Birmingham, nghe mới thật đơn giản làm sao. Nếu tên sát nhân thực sự theo dõi chúng tôi, nếu việc hắn đã ở San Diego và giết chết Aimée không phải chỉ là trùng hợp, chắc chắn hắn đã thấy hồ sơ của mẹ trên tờ Econimist. Mẹ đã bảo rằng hãy nói cho hắn biết chúng tôi sẽ tới đâu và hắn sẽ theo tới đó. Đó là cách tốt nhất để tóm được hắn.

Ý tưởng này nghe có vẻ rất ổn, ngoại trừ việc chúng tôi vẫn chưa tóm được gã chết tiệt đó.

Chúng tôi không thể lường trước văn phòng FBI ở Denver lại có một bà sếp quái thai như vậy. Lẽ ra chúng tôi phải lường trước rằng hắn sẽ xử đẹp đống máy quay, hắn không thể trót lọt bao nhiêu năm như vậy nếu không cẩn trọng hết mực. Ý tưởng đó từng rất tuyệt vời khi mẹ nói với tôi, bất chấp chúng tôi có những lý do khác nhau để thích nó. Mẹ muốn tìm ra hắn và giết chết hắn.

Tôi muốn tóm hắn và trao cho các đặc vụ của tôi.

Tôi từng muốn như vậy.

Bây giờ tôi muốn gì, tôi cũng không biết nữa. Thật khó để nghĩ thông suốt khi nỗi đau đang cồn cào trong dạ và tôi cảm thấy bị mắc kẹt. Tôi đã bị bỏ lại phía sau, tôi biết điều đó, nhưng logic không thể giúp ngăn lại nỗi sợ khi nhận ra FBI đang giới hạn các đặc vụ của họ và chúng tôi đang phải chịu đựng hậu quả từ việc đó.

“Chúng ta sẽ không bỏ cuộc,” tôi lẩm bẩm.

“Con yêu…”

“Hắn sẽ vẫn ra tay cho tới khi hắn bị ngăn lại. Đó có phải là điều họ vẫn thường nói không? Rằng nếu thoát khỏi chuyện này, chúng sẽ không có lý do gì để dừng lại?”

“Priya à…”

“Những người mẹ khác sẽ tiếp tục mất đi con gái của họ.”

“Những chị em gái khác,” bà thở dài. “Con biết đó, mẹ sắp chuẩn bị xong để gửi con đi đâu đó nghỉ dưỡng khoảng một tháng. Mẹ nên cho con tới Paris trước để trang trí nhà mới.”

“Hắn sẽ tiếp tục giết người.”

“Nhưng việc ngăn hắn lại không đáng để hy sinh con.”

Tôi nhìn bà đứng dậy và ra ngoài, tôi biết bà sẽ không đi xa. Có lẽ bà tới phòng tôi để dọn dẹp chỗ vụn bánh trước khi chúng thu hút ruồi muỗi tới. Những âm thanh ù ù về một kỳ nghỉ ngắn, và một thoáng sau mẹ đã quay lại, trong tay cầm theo chiếc bàn chải đánh răng của tôi.

Miệng tôi bây giờ còn rất bẩn mà tôi không chắc bàn chải có thể chạm tới, nhưng tôi vẫn ngoan ngoãn chải răng, súc miệng và nhổ ra. Khi tôi không còn cảm giác buồn nôn nữa, mẹ giúp tôi rửa mặt. Bây giờ vẫn còn sớm, đặc biệt với chúng tôi, nhưng chúng tôi vẫn ôm nhau trên giường của mẹ - chiếc giường từ sau khi bố mất đã trở nên quá lớn. Mẹ bật ti-vi lên, bỏ qua các kênh cho tới khi đến một bộ phim tài liệu về thiên nhiên được kể bằng giọng đàn ông Anh trầm và dịu dàng.

Mẹ nói BBC là thứ duy nhất bà thật sự nhớ khi nghĩ về London.

Tôi không chắc liệu có ai trong chứng tôi đã thực sự ngủ; chúng tôi chỉ đơn giản là cố thoát khỏi sự kiệt sức và tâm trí trống rỗng. Khi chuông báo thức của mẹ kêu, bà ném nó qua phòng.

Nó vẫn không ngừng kêu.

Tôi vùi mặt mình vào vai mẹ. “Ta không thể rút cái dây nào từ đây để tắt nó đi.”

“Mẹ biết.”

“Nó sẽ không ngừng kêu cho tới khi mẹ tắt đi.”

“Suỵt.”

Chúng tôi nằm đó thêm năm phút nữa cho tới khi một trong hai cảm thấy cần phải làm gì đó. Ngay cả khi đó, chúng tôi cũng chỉ di chuyển sự khoan khoái này xuống lầu để lại cuộn tròn vào lòng nhau trên ghế. Mẹ cầm điện thoại trong tay, tôi có thể nghe thấy tiếng móng tay bà gõ màn hình trong khi ngón cái lướt trên đó, bà đang soạn một tin nhắn. Tôi đoán là gửi cho sếp của bà.

Cũng có thể là cho Eddison.

Có lẽ tôi nên cho anh biết tôi đã có sự cố với bánh Oreo, nhưng tôi thật sự không muốn. Không phải bởi tôi sợ anh sẽ thất vọng - anh sẽ hiểu cho tôi thôi - mà là anh sẽ lo lắng.

Anh sẽ lo lắng hơn nhiều.

Chết tiệt.

Cuối cùng khi dạ dày của mẹ bắt đầu sôi lên, mẹ phải rời khỏi tổ kén ấm áp của chúng tôi. Tôi cũng đói nhưng cứ nghĩ phải ăn cái gì, tôi liền cảm thấy buồn nôn. Mẹ quay lại với một bát yến mạch trộn chuối cho mình và đưa tôi một ly sinh tố. Thật là một sự thỏa hiệp hoàn hảo. Cơ thể tôi cần tiếp chất dinh dưỡng, nhưng lại không phải những món quá khó tiêu. Và sinh tố là đồ uống. Tôi không chắc tại sao nó lại khác biệt, nhưng có thể uống thay vì phải cắn rồi nhai, rõ ràng chúng khác biệt, có lẽ chỉ mình tôi nghĩ thế.

“Liệu đi chơi cờ có khiến con cảm thấy tốt hơn?”

Tình anh em, đồng đội không phải là lý do duy nhất khiến những cựu binh này tụ họp bên nhau. Nhìn thấy những con quỷ trong bạn phản ánh chính bạn, nó tạo ra một nơi an toàn để người ta được tổn thương. Nó cho phép bạn, một cách nào đó, được bất ổn. Bạn tìm đến anh chị mình và họ không chỉ bảo vệ bạn khi bạn rõ ràng không thể là chính mình, họ còn không bao giờ bảo bạn phải trở thành ai khác, ngay cả trong những ngày tồi tệ mà bạn như sụp đổ và mất đi những giá trị con người.

“Có lẽ ạ,” cuối cùng tôi nói.

“Thế thì đi tắm và thay quần áo đi. Mẹ sẽ cùng con tới đó.”

“Đi tắm và thay quần áo ạ?”

Mẹ kéo tôi đứng dậy khỏi ghế.

Khi tôi quay lại dưới lầu, trong khi vẫn mạnh tay quẹt đi những vệt đỏ còn dính trên môi, mẹ đã đứng ở chân cầu thang, quần áo sẵn sàng để ra ngoài. Khi tôi khóa lại cánh cửa phía sau, bà kiểm tra để chắc chắn chiếc camera mới vẫn hoạt động và ở đúng vị trí.

Với cái cách hắn vô hiệu hóa và phá hỏng chiếc camera cũ, tôi không nghĩ camera thực sự hữu ích.

Nhưng giống như việc khóa cửa đem lại cho người ta cảm giác an toàn hơn thực tế, tôi đợi cho đến khi mẹ kiểm tra xong nó rồi dẫn đường xuống vỉa hè. Đến cuối phố, mẹ dừng lại, ngoái lại nhìn ngôi nhà, rồi lắc đầu.

Khi chúng tôi đi bộ tới chỗ bãi cỏ - nay đã dần sáng hơn khi mùa xuân tới - phân nửa số cựu binh vụng về trượt chân khi thấy mẹ tôi.

Happy và Corgi thì huýt sáo như sói.

Mẹ nở một nụ cười hết cỡ trông vô cùng hấp dẫn với họ.

Họ nuốt nước bọt ừng ực và Pierce bắt đầu cười to. “Chắc chắn cô bé Xanh Dương học theo bà,” ông khò khè nói, một bàn tay giữ chặt lấy ngực.

Sau khi ngồi xuống thoải mái đối diện ông Gunny đang thiu thiu ngủ, mẹ ném cho tôi một ánh nhìn. “Cô bé Xanh Dương ư?”

“Vâng, nói thế thôi ạ, chúng ta thực sự cần đi nhuộm lại tóc cho con. Chân tóc của con đã gần chạm đến tuổi bỏ phiếu rồi đấy.”

Điều kỳ lạ trong việc mẹ tới chỗ chơi cờ - một trong vô vàn điều kỳ lạ vào một ngày làm việc như thế này - là bà rõ ràng rất ghét môn này. Bà ghét chơi cờ, ghét xem người ta chơi cờ, ghét cả việc nghe ai nhắc tới nó. Một lần bà đã phải cắt thuê bao cáp trong một tuần để bố không thể bắt bà xem thêm bất kỳ bộ phim tài liệu nào khác về những trận đấu và kỳ thủ nổi tiếng. Cho nên việc bà đang ngồi ở một đầu bàn, xem tất cả các ván cờ diễn ra với cảm giác bối rối được giấu kín, hoàn toàn không phải vì những ván cờ mà vì tôi.

Mẹ không kè kè bên tôi cũng không thả tôi quá tự do, nhưng đôi khi bạn cần một sự chắc chắn tuyệt đối rằng những người bạn yêu thương đang ổn, đang ở ngay trước mặt bạn. Đủ gần để bạn chạm tới.

Một lúc sau, khi Gunny thức dậy và giới thiệu về ông xong, một chiếc xe cảnh sát với những viền sơn xanh navy đi tới gần ốc đảo này và đỗ lại. Tất cả những cựu binh đều ngồi thẳng dậy, ai đang ngồi quay lưng lại phía bãi đỗ thì ngoái lại để nhìn xem có chuyện gì xảy ra. Hai viên cảnh sát bước ra, họ mặc áo khoác đen phồng to tướng, bên trong là bộ đồng phục màu xanh thẫm với những sọc màu mù tạt chạy dọc theo quần.

Những cựu binh cảm thấy thoải mái hơn khi nhận ra họ.

“Chào Pierce, chào Jorge,” viên cảnh sát lớn tuổi hơn cất tiếng chào, mái tóc dày toàn màu xám và trắng. “Dạo này các ông thế nào?”

“Hôm nay thì ấm và khỏe, Lou ạ,” Jorge trả lời. “Điều gì đã mang anh tới đây thế?”

Lou lôi một cuốn sổ bằng bàn tay từ túi sau ra. “Chúng tôi nghe từ một vài người hàng xóm rằng Landon Burnside thảnh thoảng tới đây chơi cờ với các ông.”

Burnside ư?

Mẹ thúc vào đùi tôi một cái.

Corgi gãi gãi chiếc mũi có hình củ hành của mình. “Đúng là ở đây có người tên Landon, tôi khá chắc về điều đó, nhưng chúng tôi không biết họ của ông ta. Một người bình thường?”

Đúng ra là một người nhạt nhòa.

Cộng sự của Lou giơ tấm ảnh lên, đúng rồi, đó là Landon, chúng tôi cũng không nghĩ có khả năng khác.

Corgi cùng vài người khác gật đầu xác nhận. “Đó là ông ta. Ông ta đã làm gì?” Ông không nhìn tôi khi nói câu đó, nhưng Yelp và Steven đều quay sang nhìn tôi.

“Ông ta được phát hiện đã tử vong trong phòng của mình vào tối qua.” Ánh sáng trắng cứ lóe lên trước mắt tôi, nhưng không thật sự rõ ràng vì tôi nháy mắt liên tục. Nó chỉ ở đó, làm tôi không thể nhìn rõ mọi thứ, cho tới khi ngón tay mẹ chọc vào giữa những chiếc xương sườn của tôi mạnh đến nỗi khiến tôi nghẹt thở. Các điểm sáng nhảy múa trong khi cả thế giới quay lại trước mắt.

“Ông ta bị giết như thế nào?” Mẹ bình tĩnh hỏi. “Ông có thể kể qua không?”

Hai viên cảnh sát nhìn nhau và nhún vai. “Khó mà nói được; ông ta đã chết một lúc. Nhân viên pháp y đang làm việc để xác định điều gì đã xảy ra với ông ta.”

“Xảy ra với ông ta,” mẹ nhại lại. “Cho nên các ông nghĩ đó là một vụ án mạng.”

“Đúng vậy, thưa bà.”

Mẹ gõ vào mu bàn tay tôi để tôi nhìn lên mặt bà. Mẹ gật đầu về phía bãi đỗ xe. “Mẹ sẽ nói với họ. Con gọi nhé.”

“Thưa bà? Bà có thông tin gì về ông Burnside à?”

“Tôi có thể nói với các ông rằng FBI đang xem ông ta là một đối tượng cần theo dõi trong một vụ điều tra đang tiếp diễn,” bà nói, giọng trơn tru và mạnh mẽ như ở chỗ làm.

Tôi đi ra khỏi bàn, cẩn trọng để vẫn nằm dưới tầm quan sát của hai viên cảnh sát trong khi đi một vài bước xa khỏi ốc đảo này. Tay tôi run lên và suýt đánh rơi điện thoại hai lần trước khi tôi cầm chắc nó.

“Chào Priya,” chỉ sau một phút đợi máy tôi đã nghe được giọng nói khàn khàn của Eddison. “Cô có tin gì mới à?”

“Họ của Landon là Burnside.”

“Cô biết được họ của ông ta à? Tốt lắm, điều này sẽ… à mà Priya, làm sao cô biết được họ của ông ta?”

Tôi mắc nghẹn vì một tiếng cười bối rối. “Ông ta đã bị giết cách đây không lâu. Người ta tìm thấy thi thể ông vào hôm qua.”

“Cảnh sát địa phương ư?”

“Còn ai vào đây nữa?”

“Chuyển máy cho họ nhé.”

Những viên cảnh sát đều đang nhìn tôi, mặc dù Lou đang chăm chú lắng nghe mẹ. Tôi quay lại và đưa điện thoại cho họ. “Đặc vụ Brandon Eddison muốn nói chuyện với các ông.”

Cộng sự của Lou nhìn tôi chăm chú, sau đó nhẹ nhàng nhận điện thoại từ tay tôi, như thể ông sợ nếu chạm vào tôi, tôi sẽ vỡ vụn, rồi bước về phía xa của đảo trước khi bắt đầu nói chuyện. Chắc ông đang tự giới thiệu, nhưng tôi không nghe rõ. Trước khi tôi có thể ngồi xuống, mẹ đưa tôi điện thoại của bà.

“Gọi cho đặc vụ Finnegan. Phòng trường hợp xấu có thể xảy ra.”

Tôi gật đầu và lại đi ra phía xa, sau đó bấm số mà đặc vụ Finnegan đã cho chúng tôi. Tôi thường xuyên gửi email cho ông, mặc dù gần đây tôi hay nhắn tin hơn mỗi khi có bó hoa nào mới được gửi đến. Tôi đếm tiếng chuông cho tới khi ông bắt máy.

“Đặc vụ Finnegan xin nghe,” ông nói bằng giọng quả quyết, thậm chí chỉ cách giới hạn của sự lỗ mãng chút ít.

“Chào ông, tôi là Priya Sravasti đây. Landon, kẻ theo dõi ghê sợ được phát hiện dã chết vào hôm qua.”

Ông lầm bầm một đống những câu chửi bằng tiếng Nhật. “Tôi không định hỏi vì tôi hiểu đó là một câu hỏi thô lỗ..

“Họ không biết ông ta bị giết khi nào nên tôi không thể cố gắng nói với ông là chúng tôi đã ở đâu.”

“Cô đã báo tin cho Hanoverian chưa?”

“Eddison đang nói chuyện điện thoại với một cảnh sát địa phương.”

“Được rồi, tôi sẽ lấy thông tin liên hệ từ cậu ấy để có thể yêu cầu đến xem xét thi thể và hiện trường. Cô có an toàn không?”

“Mẹ và tôi đang ở chỗ chơi cờ.” Câu nói này nếu xét kỹ ra thì không hoàn toàn là đáp án chính xác cho câu hỏi của ông. Nhưng đó là tất cả những gì tôi có thể nói.

“Khi nào cảnh sát cho các cô đi, hãy về thẳng nhà và ở đó. Nếu cô không cảm thấy an toàn, hãy tới Denver và thuê một khách sạn, rồi cho tôi biết địa chỉ.”

“Vâng, thưa ông.”

“Priya?”

“Vâng, thưa ông?”

“Chúng tôi sẽ đưa cô vượt qua chuyện này,” giọng nói của ông ấm áp và chắc chắn, trong những tình huống khác có lẽ tôi sẽ thấy nó thật an toàn, thậm chí còn dễ chịu nữa.

Nhưng tay ông đang bị buộc chặt rồi.

Tôi quay lại ngồi ở chỗ cũ và đưa điện thoại cho mẹ. Chúa ơi, món sinh tố đang ấm ách trong bụng tôi và tôi đã phải liên tục nuốt lại để không nôn ra ngoài.

“Thế người đàn ông này đã theo dõi cháu à?” Viên cảnh sát lớn tuổi hỏi.

“Có lẽ ạ,” tôi đáp. “Ông ta chắc chắn đã chú ý đến cháu nhiều hơn mức thoải mái một chút.” Tôi nhìn mẹ, thấy bà gật đầu. Có vẻ họ sẽ xem xét tất cả những tình tiết này. “Tôi đã liên tục nhận được hoa theo một quy luật trong những vụ án mạng chưa được giải quyết và với sự chú ý mà Landon dành cho tôi, những đặc vụ đã nghĩ có thể ông ta có liên quan. Họ muốn nói chuyện với ông ta nhưng ông ta đã không tới chỗ chơi cờ nữa và họ không thể tìm thấy bất cứ manh mối nào trên giấy tờ của ông ta.”

“Ông ta không có thẻ căn cước; chủ nhà của ông ta nói cho chúng tôi biết tên của ông ta.”

Người cộng sự quay lại bàn và trả điện thoại cho tôi. “Có vẻ như cô có sự may mắn theo định luật Murphy, cô Priya.”

“Sao cơ ạ?”

“Ồ, chỉ bởi vì tôi đã công tác trong lực lượng ở Boston khi chị cô mất,” ông giải thích bằng chất giọng ề à miền Texas. Lạy Chúa, không nghi ngờ gì nữa khi ông nhìn tôi chăm chú như vậy. Ông đã nhận ra tôi. “Vợ chồng tôi chuyển tới đây khi bố vợ tôi trở bệnh nhưng tôi không quên được gia đình cô. Thật là một bi kịch. Nói cho cô biết điều này, cô lớn lên cũng xinh đẹp như chị cô vậy.”

Tôi há hốc miệng nhìn ông. Tôi không nghĩ tôi có thể làm gì hơn thế.

Mẹ đứng lên và tức giận đi tới cho đến khi bà hoàn toàn chắn trước tôi. “Nếu anh cảm thấy nói như vậy với con gái tôi là hợp lý thì tốt nhất anh đừng nói gì cả,” bà nói với ông ta bằng giọng điệu lạnh như băng. “Cộng sự của anh có thể làm việc với chúng tôi, trong khi anh làm ơn cút đi xa.”

Trong khi viên cảnh sát ngượng nghịu xin lỗi, Corgi với người qua để vỗ vỗ đầu gối tôi. “Hãy tiếp tục học tập mẹ cháu nhé, cô bé Xanh Dương,” ông thì thầm. “Cùng nhau, hai người có thể dọa cả thế giới để bắt họ cư xử cho đúng.”

Tôi nắm chặt tay ông bởi tôi không thể cố cười.

“Anh gọi cho đội trưởng đi,” Lou bảo người cộng sự và nhìn anh ta đi ra. “Xin lỗi bà và cô. Tôi sẽ nói chuyện lại với anh ta về điều này.”

“Nói cho tôi biết tên của anh ta,” mẹ nói, giọng bà giống như ra lệnh hơn là hỏi.

“Cảnh sát Michael Clare,” ông đáp. “Tôi là cảnh sát Lou Hamilton, xin lỗi vì đã để chuyện này xảy ra, tôi biết đây là một quãng thời gian khó khăn nhưng tôi buộc phải hỏi hai người vài câu về những thông tin mới này. Tôi hứa tôi sẽ là người hỏi.” Ông ra hiệu về phía quán Kroger. “Cả mọi người nữa, có lẽ mọi người sẽ thấy thoải mái hơn khi ở trong quán,” ông nói với những cựu binh đang hoang mang, “Clare sẽ có một vài câu hỏi cho các ông, về ông Burnside, nếu các ông không phiền.”

Gunny nghiêm túc gật đầu. “Chúng tôi sẽ đợi anh ta. Cẩn thận nhé, Priya.”

Bên trong quán cà phê, Lou chỉ chúng tôi ngồi ở một bàn và đi lấy đồ uống cho chúng tôi. Tôi thấy Joshua ngồi cách đó mấy bàn, vùi đầu trong một cuốn sách và ở sau quầy, nhân viên pha chế chào viên cảnh sát với sự vui vẻ thường thấy.

Tôi không nhớ cảnh sát Clare. Công bằng mà nói, tôi không nhớ bất cứ người nào mặc đồng phục mà tôi gặp trong cái đêm Chavi bị giết hoặc vài ngày sau đó. Thú thực, những người lạ đầu tiên mà tôi có ấn tượng là Bộ ba Đặc vụ. Thế nhưng năm năm sau, cảnh sát Clare vẫn nhớ tôi.

Mặc dù tôi không thật sự nghĩ Landon đứng phía sau vụ gửi hoa, vẫn có điều gì đó đáng sợ về việc điều tra để khẳng định chắc chắn ông ta không dính líu gì.

Nếu không phải ông ta thì là ai cơ chứ?

“Được rồi, Finney, anh đã điều tra cả tuần nay, hãy cho chúng tôi tin gì tốt đi.”

Tiếng cười bất lực vọng ra từ cái loa ở giữa bàn họp không quá chắc chắn. “Tôi thật sự ước tôi có thể, Vic ạ, nhưng chúng tôi đã mất người duy nhất ở xa trong radar của chúng tôi.”

“Bây giờ chúng ta đã biết nhiều hơn về ông ta, liệu ông ta có khả năng gây ra những vụ án mạng lúc trước không?” Vic hỏi, ngả người ra một trong những cái ghế xoay lưng tựa. Một khuỷu tay của ông tựa lên tay ghế bằng nhựa để nâng người dậy, hai ngón tay day mạnh thái dương để ngăn chặn một thứ có vẻ như một cơn đau đầu. Ramirez đang gõ bút dồn dập lên mặt bàn, cô không thể ngừng lại.

Đó hầu hết là lý do mà Eddison phải cẩn thận khi theo sau Vic.

“Landon Burnside đã sống mà không có kết nối gì với xã hội. Không căn cước công dân do bang nào ban hành, không ô tô, không thẻ tín dụng, không tài khoản ngân hàng, không tài sản. Ông ta làm những công việc kỳ lạ để kiếm tiền mặt và thuê một phòng bí mật ở nhà một người bạn để chứa tiền mặt.”

“Nhưng?”

“Nhưng người bạn đó là em họ của ông ta và tên ông ta thực ra là Landon Cooper. Đã thi hành hai năm rưỡi trong án phạt bảy năm về tội hiếp dâm và đủ loại tội linh tinh khác. Ông ta lẽ ra phải đăng ký lại các giấy tờ khi ra tù nhưng thay vào đó, ông ta đã không tới báo cáo và xuất hiện ở Colorado. Kết quả xét nghiệm DNA gửi tới sáng nay đã xác định được danh tính của ông ta.”

“Có khi nào ông ta đi vòng qua San Diego hai năm trước không?”

“Không thể, khi đó ông ta vẫn ở trong tù. Ông ta chỉ mới được thả mười bốn tháng trước. Ông ta chỉ phải lao động công ích một lần nhưng phải tới tòa vài lần khác và đã bị phàn nàn rằng không thực hiện đủ. Một gã kiểu Thợ làm vườn.” Cả ba đặc vụ rùng mình. “Ông ta thích những cô gái mới lớn hơn rất nhiều so với các cô thích hắn. Ông ta đang bị giam trong tù ở Michigan khi xảy ra vụ án của Aimée Browder.”

“Thế nếu ông ta bị giết vì bảo vệ Priya thì sao?”

Cả Rarmrez và Vic đều xoay ghế lại ngay lập tức để nhìn Eddison, cả Finney cũng yên lặng trong điện thoại.

Eddison nhún vai. “Tôi đang hỏi nghiêm túc đó: thế nếu gã sát nhân giết chết Landon vì ông ta cứ bám theo Priya thì sao?”

Ramirez vẫn nhìn anh chằm chằm, như thể ý tưởng đó rất biến thái, nhưng Vic đã có suy nghĩ rõ ràng. “Giải thích cho chúng tôi đi,” ông đề nghị.

“Tôi có thể mua hoa để nguyền rủa, nếu ai đó khác nhận được chúng. Đó có thể là bất cứ thành viên trong gia đình nào của bất cứ nạn nhân nào. Nhưng chỉ có Priya nhận được. Những bó hoa là vì cô, chứ không phải vì những vụ án. Nếu chúng ta coi đó là những món quà…”

“Hắn đang phán xét cô và khi cô chuyển đi, hắn đã giết Aimée bởi đó là cách gần nhất hắn có thể tiếp cận Priya,” Ramirez nói.

“Bất kể điều gì thôi thúc hắn giết người, đó cũng không phải tình dục; chỉ một nửa số nạn nhân bị hiếp dâm và đó thậm chí giống sự trừng phạt hơn là nhu cầu tình dục. Hắn nhìn thấy một điều gì khác ở họ và cho dù đó là điều gì thì hắn cũng thấy Priya đặc biệt hơn. Hắn muốn Priya vì một điều gì khác mà những cô gái khác chưa từng được nghĩ tới. Cô là quá đủ với hắn, khiến hắn không chỉ chủ động tìm kiếm cô một lần, mà là hai lần. Và hắn tìm ra cô.”

“Cho nên hắn bắt đầu phán xét cô lần nữa,” Ramirez tiếp lời, như hàng ngàn lần họ nói chuyện với nhau, khi những cuộc trêu đùa chuyển thành chủ đề công việc, và họ đang ở rất gần để hoàn toàn hiểu ý nhau. “Hoa, thiệp. Sau đó là Landon. Nếu hắn theo dõi cô, hắn sẽ biết Landon cũng quấy rầy cô.”

“Bằng cách nào?” Finney hỏi.

“Bởi hắn cũng theo dõi cô. Hắn biết khi nào hai mẹ con nhà Sravasti rời khỏi nhà, biết khi nào nên đặt hoa và gửi tới. Thời gian biểu của Deshani thường không đổi nhưng của Priya thì thay đổi theo tâm trạng. Và chúng ta biết tâm lý đằng sau những món quà kiểu này: hắn sẽ muốn nhìn thấy phản ứng của họ.”

“Hắn thấy Landon bởi hắn cũng đã theo dõi Priya.”

“Và đó là vì Landon đã bước qua vạch giới hạn mà hắn vẽ ra. Hắn nghĩ Priya là của riêng hắn và Landon lại chen vào.”

“Một vài ngày nữa sẽ có kết quả khám nghiệm tử thi chính thức,” Finney nói thêm, giọng ông như vỡ ra qua loa điện thoại. “Nhưng chuyên gia khám nghiệm ở Huntington cảm thấy khá hài lòng khi sắp xếp ra những sự kiện. Landon đã chết gần ba tuần cho tới khi ông ta được phát hiện ra, có lẽ ngay sau khi Eddison ghé thăm. Vì phòng ông ta không có máy sưởi nên thi thể của ông ta phân hủy chậm nhưng cuối cùng mùi hôi thối cũng bắt đầu tỏa ra khắp ngôi nhà và người em họ đã tới xem thế nào. Ban đầu chỉ là những đợt mùi có thể chịu được, sau đó là những bằng chứng về sự kiềm chế. Có thể là dùng dây thừng. Đầu tiên ông ta bị trói lại, sau đó bị hoạn.”

Eddison biết điều đó, viên trung úy ở địa phương đã kể cho anh nhưng nó vẫn khiến anh sợ rúm người.

“Gã đó cũng không giết người một cách gọn gàng,” Finney tiếp tục. “Hắn muốn nó phải thật đau đớn. Sau đó là một tràng đánh đập tệ hại, chỉ để ông ta ngất đi, trước khi hắn xử lý cổ họng của Landon. Hiện trường bừa bãi, bạo lực và đầy giận dữ. Gã đó chắc hẳn phải tức giận lắm.”

“Hắn dùng cùng một con dao đúng không?”

“Không cách nào biết được. Họ đang làm lại khuôn, nhưng vì thi thể đang phân hủy nên sẽ khó mà chắc chắn. Nhưng ít nhất là trông nó giống nhau.”

“Và không có gì bị bỏ lại hiện trường.”

“Chỉ có Landon. Cả cuộn dây thừng hắn cũng mang đi.”

“Thế tại sao hắn không cố gắng vào nhà Priya?” Ramirez hỏi.

“Rõ ràng hắn có thể xử đẹp cái máy quay nhưng không có dấu hiệu nào cho thấy hắn cố tình vào nhà, thậm chí ngay cả khi Priya ở nhà một mình. Tại sao?”

Eddison xoa xoa mặt, sau đó càu nhàu một tiếng. Anh gác cằm lên chồng hồ sơ vụ án. “Câu trả lời nằm đâu đó trong này. Điều gì đó chúng ta chưa thể kết nối bởi hắn nhìn thấy điều gì đó mà chúng ta không thấy.”

“Finney?” Vic nói. “Anh có góc nhìn mới mẻ nhất khi nói về những vụ này. Có ý tưởng gì không?”

Họ có thể nghe thấy tiếng lạch cạch của chìa khóa và sột soạt của giấy tờ, Finney đang đọc qua những bản sao của báo cáo các vụ án và ghi chép riêng của ông về chúng. “Có lẽ.”

Bộ ba đặc vụ chờ đợi, nhưng ông không tiếp tục ngay. Khi sự yên lặng kéo dài tới mức khó chịu, Ramirez ném chiếc bút của cô vào loa. “Rồi sao?”

“Điều gì khiến hắn ta quyết định có cưỡng hiếp một nạn nhân hay không?”

“Chúng ta chưa bao giờ biết,” Eddison trả lời một cách máy móc.

“Hãy nhìn Leigh Clark,” Vic nói. Không ai trong hai cộng sự của ông phải với lấy tập hồ sơ, họ không cần nhìn những bức ảnh ấy. “Trong các cô gái, vụ của cô ấy là tàn độc nhất. Kể cả có sống sót, chắc chắn cô ấy vẫn phải chịu những tổn thương cả đời vì bị cưỡng hiếp. Điều gì ở cô ấy khiến hắn mất kiểm soát như vậy?”

“Bố mẹ cô ấy không chia sẻ nhiều. Họ không muốn nói điều gì không tốt về con gái mình, nhưng hầu hết những người được hỏi khác đều nhắc tới việc Leigh là một đứa trẻ nổi loạn. Tình dục, thuốc lá, ma túy… cho nên sự tàn độc tăng thêm này có phải một hình phạt hay không?”

“Zoraida Bourret lại được đối xử nhẹ nhàng, cổ họng cô bị cắt trong khi cô đang hôn mê và cô bị gây mê bằng cách làm ngạt chứ không phải một cú đánh trời giáng vào đầu.” Những ngón tay đầy đặn của Vic gõ trên mặt bàn. “Tất cả những lời khai trong hồ sơ đều khẳng định cô là một cô gái ngoan, luôn ưu tiên gia đình, chưa từng đi chơi với bất kỳ ai vì gia đình cô cần cô ở nhà.”

“Nhưng Natalie Root lại không còn trong trắng,” Eddison chỉ ra. “Cô mới nạo phá thai vài tháng trước khi bị giết, và thi thể cô bị bỏ lại ở một nơi hoang vắng.”

“Và còn Rachel Ortiz,” Ramirez nói thêm. “Cô đã bị cưỡng hiếp, nhưng pháp y lại nói cô chắc chắn còn trinh trước vụ tấn công.”

“Nhưng chúng ta chỉ đang nhìn vào chứng cứ; còn hắn ta lại quyết định hành động dựa trên cảm tính về những nạn nhân.”

“Tôi bắt đầu hiểu được vì sao không sếp nào muốn tách ba người ra rồi đấy,” Finney lạnh lùng quan sát. “Nhưng hãy thử nghĩ xem: nếu hắn ta quan sát những cô gái để có thể phán xét họ, vậy thì hắn đã theo dõi Priya từ năm năm trước. Cô và chị gái cô đặc biệt thân thiết cho nên để có được những đánh giá ý nghĩa về Chavi, hắn đã theo rất sát Priya.”

“Và hắn đã yêu cô.”

“Đó có phải một bước suy luận hơi xa không? Đặc biệt nếu chúng ta nói rằng đó không phải vì tình dục?”

Ramirez lắc đầu. “Tôi nói là tình yêu, chứ không phải tình dục. Đó là thứ tình yêu thuần túy: trinh bạch, thuần khiết. Hãy nghĩ mà xem, Priya không hẹn hò. Cô cũng không kết bạn với cậu trai nào. Cô chỉ làm bài tập, đi chơi cờ với những cựu binh, cô ở nhà với mẹ mình. Nếu hắn thật sự coi trọng sự thuần khiết, các anh chắc chắn không ai đọ lại được Priya.”

“Thế tại sao hắn lại không tấn công cô ấy khi tôi ở đó?” Eddison chỉ ra vấn đề, có một cơn đau cứ xoáy chặt vào ngực anh.

“Anh không ở lại qua đêm.”

“Đúng, nhưng chúng tôi đã ở một mình với nhau trong nhà vài giờ trước khi Deshani về nhà. Chúng tôi còn đi bộ tới chỗ chơi cờ và đi bộ về vào sáng hôm sau nữa.”

Họ cùng chìm đắm trong bầu không khí yên lặng, sau đó Finney hắng giọng. “Là bởi khi đó anh đang bảo vệ cô ấy. Đối với Landon kẻ bám đuôi, anh đang bảo vệ Priya. Có lẽ hắn nghĩ anh là một đồng minh.”

Ramirez liếc nhìn Eddison, khóe miệng cô như nhếch lên một chút. “Và bất cứ ai thấy anh và Priya đi cùng nhau sẽ không nghĩ anh là gì khác với cô, trừ gia đình.”

Anh tỏ thái độ với cô thay vì đưa ra câu trả lời, mặc dù cô không hề nói sai.

“Cho nên khi hắn hoàn thành việc gửi các loài hoa trong danh sách, chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo?” Finney hỏi. “Chúng ta nghĩ rằng hắn sẽ tiếp cận bằng cách nào đó ư? Hay là tấn công cô?”

“Cô ấy sẽ chuyển đi trong một tháng tới.”

“Bạn gái của Chavi, Josephine,” Ramirez nói trong khi lướt qua các trang trong tập hồ sơ màu vàng. “Cô ấy nói đã từng nhìn thấy một người đàn ông lạ mặt ở lễ hội mùa xuân trong khu dân cư một vài tuần trước khi vụ ám sát xảy ra. Cô ấy nói người này không hề đáng sợ, chẳng qua chỉ chú ý đặc biệt tới Chavi và Priya.”

“Tới cả hai sao?”

“Cô ấy nói hắn từng kể là hắn có em gái. Hắn nói hắn thấy chị em họ thân thiết như vậy thật là tuyệt vời.” Cô đóng tập hồ sơ lại và gõ ngón cái của mình lên đó, không theo một giai điệu rõ ràng nào. “Việc Chavi và Josephine hẹn hò không công khai với ai trừ mẹ của hai người họ và Priya. Deshani nói chồng bà đã từng rất tức giận nhưng hai cô gái là bạn thân kể từ khi nhà Sravasti chuyển tới Boston nên không ai từng nghi ngờ họ đang hẹn hò.”

“Theo tất cả những gì tôi biết, Chavi là một người bạn tốt và một cô chị gái tuyệt vời.”

“Josephine…” Sau những tiếng khua chìa khóa náo động, Finney reo lên mừng rỡ. “Cô ấy đang ở New York. Đại học Luật Columbia.”

“Tôi có thể bắt tàu tới đó,” Eddison đề nghị. “Tôi sẽ mang theo những bức ảnh Priya đã chụp và xem có ai trông quen thuộc không. Đã năm năm trôi qua, nhưng có thể điều gì đó sẽ đánh thức ký ức trong cô ấy.”

“Và lấy thêm những chiếc cốc cho bạn cậu nữa,” Vic nói. “Inara bảo chúng đã gần hết rồi.”

“Chỉ trong một tuần rưỡi ư? Trong hộp có hơn ba chục chiếc cốc!”

Ramirez đập trán xuống bàn và chìm trong một tràng cười nhẹ nhưng hơi điên loạn.

“Priya đã gọi tới vào chiều nay,” Finney nói khi ông đã ổn định lại phần nào. “Họ nhận được những bông cúc đại đóa vàng rực trên bậc thềm khi cô về nhà sau chuyến dã ngoại; người cựu binh già nhất và cháu gái ông đưa cô tới nhà thờ để ngắm những ô cửa sổ. Bó hoa đầu tiên cô nhận lại sau hơn một tuần.”

Chavi đã đội một vòng hoa cúc đại đóa vàng tươi như mặt trời quanh đầu, một vài bông được cài trong mái tóc đen.

“Có phải Priya…” Nhưng Eddison không biết hỏi ra sao, không phải dành cho Finney. Không phải trước mặt Vic và Ramirez.

“Cô ấy đã nhờ tôi cho số điện thoại của Ward để có thể đưa chúng cho mẹ,” anh nói. “Nói về chuyện đó thì…”

“Đừng nói,” Vic gầm gừ.

“Ward đã từ chối yêu cầu bảo vệ cho nhà họ, sau đó mắng nhiếc tôi thậm tệ vì đã tiêu tốn nguồn lực của ngành vào một vụ ám sát không hề liên quan tới bất kỳ vụ án hiện hành nào.”

Eddison lắp bắp. “Không có liên quan gì sao?”

Nhưng Vic thở dài một cái. “Để tôi đoán: đó chắc chắn không phải tên sát nhân chúng ta đang theo đuổi bởi hồ sơ nói hắn không giết đàn ông, không thể là một tên chuyên theo dõi người khác bởi hắn không biểu lộ dấu hiệu bạo lực nào. Tất cả chỉ là trùng hợp.”

“Đúng vậy, và sếp của bà ta còn ủng hộ bà ta nữa. Trụ sở cảnh sát ở Huntington lịch sự tới mức đáng kinh ngạc khi không nói với họ về việc chúng tôi điều tra vụ theo dõi này - tôi đoán chúng ta phải cảm ơn Deshani vì điều đó, sau khi bà ấy móc ruột móc gan ra mà nói với đội trưởng về hành vi của cảnh sát Clare - và họ đã đồng ý cập nhật cho tôi quá trình điều tra của họ.”

“Ward có đang gây khó dễ gì cho Sterling và Archer không?”

“Bây giờ bà ta chỉ đang tập trung vào tôi thôi và tôi đang giữ tình hình như thế. Tôi phải nói thật điều này, Vic ạ, nếu bà ta dồn ép tôi quá, hiện tôi đang cố hết sức, nhưng…”

“Tôi hiểu rồi. Tôi sẽ có một cuộc họp với phó giám đốc vào ngày mai. Ông ấy không thích Ward, nhưng ông ấy cũng không thích can thiệp vào vụ án của các đặc vụ khác. Tôi không chắc mọi việc sẽ đi tới đâu.”

“Hai mẹ con nhà Sravasti đã ghi lại những nơi họ tới trong khoảng thời gian Landon bị giết,” Finney nói sau một phút. “Chẳng có lỗ hổng nào đủ lớn để những cảnh sát địa phương có thể cáo buộc họ vì bất cứ tội gì. Nhưng đó lại là điều đáng chú ý.”

“Ồ?” Giọng Vic vang lên, hơi bình thường trong một tình huống phức tạp như thế này. “Tôi nghĩ chúng ta đã quá tốt bụng mà bỏ qua sự thật rằng Deshani hoàn toàn có khả năng giết chết người đàn ông đe dọa con gái bà.”

“Nhưng bà ấy sẽ không bừa bãi như thế,” Eddison và Ramirez đồng thanh nói.

Finney gầm gừ. “Một phụ nữ đáng sợ. Hãy cho tôi biết những gì các anh thu thập được từ Josephine nhé.”

Ramirez là người với tay tắt điện thoại. “Priya và Deshani đều cẩn thận,” cô thì thầm. “Họ thông minh, có óc quan sát tốt và tập trung cao độ. Khi thâm tâm nói với họ điều gì đó, họ sẽ lắng nghe. Làm sao chúng ta tìm được một người họ không để ý tới cơ chứ?”

Không ai trong số hai cộng sự trả lời cô.

Không ai trong số họ chỉ ra chỉ còn bốn loài hoa nữa là kết thúc danh sách.

Cú va chạm mạnh thứ tư trong một buổi sáng khiến mẹ phải chửi thề bằng cái giọng bà đã gần như bỏ lại ở London, cùng vài câu chửi bằng tiếng Hindi thốt ra ở mức độ vừa phải. Mẹ liếc ra ngoài để thấy xe tải chở hàng vẫn đang nằm chình ình giữa lối chứ không phải nép sát vào bên phải như chỗ lẽ ra nó phải đỗ để mẹ vẫn có thể cho xe ra ngoài ga-ra. Tôi cảm thấy tệ cho những nhân viên chuyển hàng - mẹ đã tỏ ra khó chịu khi phải nghỉ cả một ngày chỉ để ký giấy chuyển hàng, có sự cố vớ vẩn với chữ ký của tôi, chúng không được chấp nhận chỉ vì tôi chưa trưởng thành, nhưng bốn lần đụng xe ư? Thật luôn?

Và bởi tâm trạng bà đang không tốt, cũng như chúng tôi đã bắt gặp hoa dạ lan hương được để trước cửa nhà khi thức dậy, tôi đã nhốt mình an toàn trên phòng với một cuốn nhật ký của Chavi, tránh xa mọi phức tạp dưới lầu.

Tôi chưa đọc một lượt tất cả những cuốn nhật ký - chúng quá nhiều và không thể đọc xong trong một thời gian ngắn - nhưng tôi đã đọc nhảy cóc, chọn bất kỳ cuốn nào và đọc lướt qua chúng. Trong khi nhật ký của tôi có những tấm ảnh kẹp ở mọi nơi như những tấm đánh dấu trang hình thằn lằn, nhật ký của chị chứa đầy bản vẽ phác thảo, có khi chúng chiếm cả trang, như thể chị quên mất phải nói gì hoặc không thể diễn tả bằng từ ngữ. Ngay cả sau khi chị mất, tôi vẫn không bao giờ cảm thấy đọc nhật ký của chị là việc đúng đắn. Chúng vẫn nên là của riêng chị.

Chavi của mùa xuân năm năm trước là một cô gái vừa hào hứng vừa dễ sợ, hai sắc thái ở một mức độ vừa phải. Chị đang rất hạnh phúc bên Josephine, gần như ngây ngất khi được hẹn hò với bạn thân của mình, nhưng cũng sợ phản ứng của bố khi cuối cùng ông cũng phát hiện ra. Không chỉ sợ cho chị và Josephine mà còn cho cả tôi nữa - liệu bố có kiên quyết cắt đứt liên lạc giữa chúng tôi khi chị lên đại học không? Và còn trường học nữa chứ. Chị đã được nhận vào Trường Sarah Lawrence và Josephine sẽ học Đại học New York nên họ sẽ ở trong cùng một thành phố, nhưng đó là trường đại học, môi trường sẽ hoàn toàn mới mẻ, và chị háo hức bao nhiêu thì lo lắng bấy nhiêu.

Tôi lật đi lật lại đoạn chị viết về việc chị và mẹ gắn bindi cho tôi, hầu hết là vì nó chuyển thành một cuộc cãi vã về việc dùng cốc nguyệt san và băng vệ sinh cùng những thứ linh tinh khác trong kỳ kinh nguyệt, vào ngày thứ hai trong kỳ kinh nguyệt đầu tiên của tôi, tôi vẫn còn thấy rất bẩn thỉu. Tôi biết về lý thuyết, và rõ ràng tôi đã trải qua rất nhiều kỳ kinh nguyệt của mẹ và Chavi, nhưng tôi vẫn không sao quen với cảm giác đó. Không phải chỉ vì khi đó tôi mới mười hai tuổi. Rõ ràng ở tuổi đó, không có cách nào học sử dụng cốc nguyệt san không khiến tôi xấu hổ.

Gần về cuối sổ, tôi thấy những bức vẽ được cất trong ký ức từ lễ hội mùa xuân. Chúng tôi đã tổ chức những bữa tiệc và lễ hội trong khu phố ở nhà thờ cổ, đôi khi để gây quỹ tu sử và tăng lương cho Frank mà không để ông biết, đôi khi để làm từ thiện. Đôi khi chỉ để cho vui. Chavi đã dành cả hai ngày để vẽ mặt và những bức biếm họa, tôi đã giúp những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn kết vương miện hoa và tìm đường thoát khỏi mê cung làm từ đệm cũ.

Đó là nơi tôi nảy ra ý tưởng cho sinh nhật của mình, khi nhìn thấy những đứa trẻ chạy quanh với hoa và ruy băng.

Tôi để cuốn sổ mở trên bàn, rồi nhoài ra mở ngăn kéo giữa hàng trên cùng trong tủ đồ của mình. Tôi nghĩ nó được dùng để đựng tất hoặc thứ gì đó, nhưng tôi đã lót vải nhung để giữ những vương miện hoa từ sinh nhật mình trong đó. Vương miện của Chavi được kết từ cúc đại đóa, giống như vòng hào quang tỏa ra quanh đầu, của mẹ là một vòng nguyệt quế lởm chởm, góc cạnh được kết bằng hoa oải hương khiến bà trông như Nữ thần Demeter phiên bản da nâu. Còn của tôi làm từ hoa hồng trắng, những bông hoa to và nặng nề, với ruy băng mang năm sắc độ khác nhau của màu xanh dương tết xung quanh và buộc lại đằng sau.

Bây giờ nó vẫn nặng y như thế, nhưng hơi nhỏ so với tôi.

Khi chúng tôi tạm nghỉ ngơi trong suốt lễ hội, Chavi đuổi theo tôi giữa mê cung, cả hai chúng tôi đã cười banh nóc, và khi tôi tìm được lối ra, Josephine đã bắt tôi và bế tôi xoay vòng vòng cho tới khi Chavi đâm sầm vào cả hai bọn tôi. Chúng tôi thậm chí không đứng dậy nổi vì cười quá nhiều, gần như hết hơi mà tràn đầy sức sống.

Tôi không cố ý cắt đứt liên lạc với Josephine, nhưng tôi nghĩ cả hai chúng tôi biết rồi mọi chuyện sẽ phải như thế. Tôi yêu quý chị như một người chị gái nhưng vẫn có khoảng trống mà Chavi để lại giữa chúng tôi và những góc cạnh của nó thì khiến người ta đau đớn khôn cùng.

Với vòng hoa vẫn ở trên đầu, một vài góc mỏng manh của nó đã bị móp, tôi quay lại giường và tiếp tục đọc.

Chị đang nói về ngày thứ hai, bố đã chỉ trích mẹ thậm tệ về việc ăn một cái burger đến mức mẹ bỏ đi và mua hai cái hotdog kẹp thịt bò để trả thù, giọng điệu của chị trên trang nhật ký có vẻ căng thẳng. Tôi còn nhớ chúng tôi ngồi cách xa những người còn lại, nằm dài ra trong cùng một chiếc chăn với Josephine ở một góc tối thay vì ngồi bên bàn cắm trại hay trong lều. Chavi và tôi luôn ăn ngấu nghiến hết những chiếc burger của mình trước khi bố kịp thấy chúng.

Bố không hề sùng đạo hay để ý hơn mẹ nhưng ông cảm thấy tội lỗi hơn vì điều đó.

Hoặc chỉ đơn giản là cảm thấy tội lỗi, tôi đoán thế. Mẹ có vẻ theo thuyết bất khả thi thẳng thắn với cảm giác nhẹ nhõm.

Khi đọc những gì Chavi viết, tôi dường như nhớ được người đàn ông đã đi về phía chúng tôi, bởi sau đó hắn hỏi chúng tôi có phải chị em không. Tôi khi đó đang ngồi trong lòng chị, còn là một cô bé gần mười hai tuổi quá gầy đang đợi cân nặng của mình có thể bắt kịp người trưởng thành nhưng đó vẫn là một câu hỏi ngu ngốc. Chắc chắn thế, tuy nước da Chavi sậm màu hơn, nhưng da tôi vẫn nâu hơn những hàng xóm da trắng còn lại.

Trông hắn có vẻ buồn. Tôi không thể giải thích rõ ràng vì sao tôi lại nghĩ như vậy, ngay cả khi Chavi hỏi tôi sau đó cũng không, nhưng tôi nhớ cảm giác ấy. Hắn trông thật sự buồn, mặc dù hắn cười với chúng tôi.

Chavi nhắc tới hắn một tuần sau đó, sau bữa ăn sáng Ngày lễ Chị em hàng tháng của chúng tôi. Sau đó, chúng tôi tới rạp xem phim - mỗi sáng thứ Bảy, họ sẽ chiếu những bộ phim đen trắng kinh điển trên màn ảnh rộng - và chị đi mua kẹo trong khi tôi đi vệ sinh. Trông chị có vẻ bối rối nhưng khi tôi hỏi, chị chỉ nói là một tên đần ở một lớp học của chị hỏi xin chị số điện thoại.

Những điều này không được viết lại. Chị đã để ý thấy điều tôi không thấy, rằng có ai đó đã theo sau từ khi chúng tôi rời phòng ăn. Khi tôi đi vệ sinh, chị đã phanh phui hành động lén lút của hắn và bảo hắn rằng chị sẽ gọi quản lý và cảnh sát nếu hắn không để chị em tôi yên.

Hắn đã cảm ơn chị.

Chị viết rằng chị bị bối rối khi đó nhưng hắn đã cảm ơn chị vì đã làm một người chị tốt, rồi rời khỏi rạp.

Chị không nhắc lại về hắn nữa.

Một tuần sau, chị mất.

Chết tiệt. Tôi không nhớ được gì khác về hắn. Chỉ là hắn trông buồn bã và cũng có một cô em gái. Tôi biết tôi đã không viết gì về hắn; một thời gian sau khi Chavi mất, tôi đã điên cuồng đọc cuốn nhật ký viết về những tuần cuối cùng còn có chị. Tôi vẫn đọc lại nó nhiều hơn bất kỳ cuốn nhật ký nào.

“Priya!” Mẹ gọi tôi từ dưới lầu. “Archer tới rồi!”

Có lẽ anh ta đã tới Denver khi chúng tôi nhắn tin cho Finney và phải lái xe cả chặng đường để quay lại đây.

Khi tôi xuống lầu, anh đang ở trên bậc cửa với đống giấy gói hoa dạ lan hương. Anh ngước nhìn tôi với vẻ cau có. “Sterling nói hãy cho cô ấy biết nếu cô cảm thấy không ổn và cô ấy sẽ trừng trị tôi lần tới chúng tôi đi phòng tập cùng nhau.”

“Tôi quý Sterling.”

“Tôi xin lỗi nhưng tôi không thể biến việc bảo vệ này thành một hoạt động cần thiết.”

“Tại sao?”

Anh ta không trả lời ngay mà vẫn cúi xuống để chụp ảnh bó hoa chưa bị động vào. “FBI sử dụng những vụ án đã đóng băng trong học viện để dạy chúng tôi rằng chúng tôi không thể giải quyết tất cả các vụ án,” cuối cùng anh ta đáp. “Lẽ ra họ phải dạy cho chúng tôi tính thực dụng mới phải.”

“Thế thay vào đó họ đã dạy cho các anh cái gì?”

“Cô biết đấy, nói thật tôi từng nghĩ rằng các vụ án không giải quyết được là do điều tra viên lười biếng.” Anh ta bỏ bó hoa vào túi đựng vật chứng, sau đó dán kín lại và ký tên lên đó. Khi anh đứng thẳng dậy, anh dựa vào tường như thể đứng đó sẵn sàng cho cuộc nói chuyện. “Tôi từng là một kẻ ngốc, một tên ngạo mạn. Những người bạn của tôi trong học viện và tôi từng khoác lác với nhau rằng hồ sơ vụ án của chúng tôi sẽ không tì vết.”

“Sau đó anh học được rằng cuộc sống này quá phức tạp?”

“Tôi vốn là người da màu lớn lên ở một thị trấn nhỏ phía Nam Carolina, nơi đại diện trường trung học của tôi là một vị tướng lãnh đạo Liên minh miền Nam Hoa Kỳ; tôi đã nghĩ rằng tôi biết mọi thứ trong cuộc sống phức tạp này. Mọi người thấy tôi bây giờ trong bộ vest lịch lãm hay đeo huy hiệu và nghĩ rằng tôi không thuộc về cuộc sống phức tạp đó.”

“Và anh muốn chứng minh họ sai.”

“Đúng vậy. Nhưng… tôi không thể lợi dụng người khác để làm điều đó. Và khi nhìn thấy những áp lực mà cô đang phải gánh chịu… tôi thấy mình thật sự ngu ngốc khi đề nghị cô làm mồi nhử. Tôi đã thờ ơ và vượt quá giới hạn, tôi thành thật xin lỗi.”

“Lời xin lỗi của anh được chấp nhận.”

Anh nháy mắt với tôi.

“Nếu anh thật sự muốn chuộc lỗi, tôi sẽ trao anh cho mẹ; bà giỏi hơn tôi rất nhiều trong mấy việc này.”

Archer cười khúc khích, anh tháo đôi găng tay cao su và bỏ chúng vào túi áo. “Cô thật sự đặc biệt đấy.”

Sau khi anh rời đi, tôi nhắn tin cho Sterling. Cô không cần phải làm anh ấy nhụt chí nữa. Anh ấy đã xin lỗi chúng tôi rất chân thành.

Tốt, tôi nhắn lại, nhưng có lẽ tôi vẫn phải cố, phải thật sự khiến anh ta nhớ bài học này thật lâu.

Cuối cùng khi chiếc xe tải chở hàng đã vào đúng vị trí, mẹ lái xe tới Denver để làm việc trong vài giờ. Còn chưa đầy ba tuần nữa là tôi chuyển nhà nên họ đang chất đống công việc cho mẹ để chắc chắn rằng mẹ sẵn sàng. Còn về phần tôi, để đảm bảo mình đã sẵn sàng, tôi vùi đầu vào đống bài tập xem ra có vẻ quá nhiều để có thể làm hết trong sáng nay.

Khoảng bốn giờ chiều, bên ngoài có tiếng gõ cửa.

Tôi cứng đờ cả người, nhìn chằm chằm xuống hành lang ở cửa như thể nếu cái nhìn của tôi đủ mạnh, tôi có thể nhìn xuyên qua cửa. Tôi gần như đã trả lời “Ai đó?” nhưng lại thôi.

Nhẹ nhàng bò ra khỏi ghế, tôi với lấy cái gậy đánh bóng mềm của Chavi mà tôi mang theo bên mình mọi lúc mọi nơi. Tôi phải đóng gói những con dao lại. Cây gậy vừa nặng vừa cứng, phần tay cầm thì chắc chắn tuyệt đối trong tay tôi.

“Cô Priya?” Một giọng đàn ông vang lên. “Cô Priya, có nhà không?”

Đó có phải… đó có phải là cảnh sát Clare không?

Tôi chuyển màn hình để xem tín hiệu camera và đúng, là cảnh sát Clare đang đứng dưới mái hiên nhà tôi, ông cầm chiếc mũ trong tay. Chất giọng Texas của ông không lẫn đi đâu được. Tôi hoàn toàn không có ý định trả lời ông, thay vào đó tôi dành thời gian quan sát người đàn ông này. Ông có lẽ khoảng bốn mươi tuổi, khuôn mặt nhăn nheo nhưng cũng không thật sự đặc sắc. Tôi cố gắng sắp xếp gương mặt này vào điểm ký ức về những cảnh sát xuất hiện trong vụ sát hại chị Chavi.

Trông ông hơi quen nhưng không gợi nhiều ấn tượng. Ông không quá mờ nhạt như Landon - đã từng - chỉ là ông không khiến tôi nhận ra nét gì đặc biệt.

“Nếu đang ở nhà, cô Priya à,” ông gọi qua cánh cửa, “Tôi chỉ ghé qua để xin lỗi về việc hôm trước. Tôi sẽ gặp cô lần khác.”

Hôm nay như thể là ngày xin lỗi vậy.

Mẹ có thông tin liên lạc của cảnh sát Hamilton, tôi sẽ nhắn cho mẹ về việc Clare ghé qua để mẹ cho Hamilton biết.

Nhưng tại sao Clare lại tới một mình mà không đi cùng cộng sự của ông ta và ông ta như thể đoán trước được đứa trẻ là tôi đây đang ở nhà một mình? Việc này hoàn toàn khác với Eddison; anh là gia đình, anh và chúng tôi đã gặp gỡ nhau hàng năm trời. Có thể tôi bị điên, bất kể mọi việc khác vẫn đang xảy ra, nhung tôi thực sự không thích Clare xuất hiện ở đây.

Mẹ nhắn lại cho tôi ba hàng dài toàn biểu tượng ngọn lửa.

Tên nàng là Chavi Sravasti và nàng là một điều phi thường của tạo hóa.

Lần đầu tiên anh gặp nàng, nàng đang họa mặt tại một lễ hội xuân và nỗi giận dữ đang xâm chiếm anh. Đã nhiều năm rồi nhưng anh vẫn nhớ lời dối trá của Leigh Clark, sự xấu xa của cô ta. Cô con gái linh mục ấy trông mới ngọt ngào và bẽn lẽn làm sao khi làm cùng công việc ấy, nhưng đó chỉ là lớp mặt nạ của cô ta mà thôi.

Nhưng có điều gì đó thực sự khác biệt ở Chavi. Nàng cười và trêu đùa những đứa trẻ, trong khi mời chào cả những người lớn vào họa mặt. Nàng cũng rất tài năng, chính nàng đã đề xuất lấy mặt nạ và những đồ thủ công tinh xảo làm biểu tượng cho lễ hội của nhà trường. Giống như đa số các cô gái khác - và rất nhiều cậu trai khác - nàng đội trên mái tóc đen một vòng ruy băng kết bằng những đóa hồng nhỏ xíu.

Anh không chắc sẽ làm gì với nàng. Nàng thân thiện với mọi người chứ không tán tỉnh, ngay cả khi những cậu trai lớn nhất và những gã đàn ông trẻ cố gắng chiếm được sự chú ý của nàng. Cử chỉ của nàng cho thấy nàng là gái ngoan, nhưng vẻ ngoài của nàng… những lọn tóc đỏ rực lẫn trong mái tóc nàng, lớp trang điểm trắng và vàng rực rỡ cùng đường kẻ mắt đen đậm, đôi môi được tô đỏ và đậm. Những viên đá lấp lánh ánh vàng ở trên mũi và giữa hai mắt nàng.

Sau đó em gái nàng xuất hiện, một cô bé rụt rè, quá gầy với nụ cười rạng rỡ và thậm chí còn rạng rỡ hơn. Mặc dù còn nhỏ cô bé cũng có những lọn tóc màu lẫn trong mái tóc, màu xanh dương hoàng gia, và lớp trang điểm thì nhẹ hơn, đôi môi cô bé có sắc hồng tinh tế. Phù hợp với lứa tuổi. Tò mò về hai chị em, anh đã nhìn quanh để tìm kiếm bố mẹ họ. Không khó để tìm thấy họ; nước da nâu khiến họ nổi bật ở khu vực này. Mái tóc của người mẹ được để tự nhiên, nhưng ngay cả khi nhìn từ xa, anh cũng vẫn nhận ra đôi môi đỏ thẫm của bà một chiếc khuyên vàng được xỏ ở chính giữa môi dưới, và ánh lấp lánh của pha lê trên mũi và giữa hai mắt bà.

Ồ, đó là truyền thống gia đình.

Một cậu nhóc đang mang sơn tới chỗ Chavi và những cô bé đang nắm tay nhau chạy tới, cười nói và nhảy múa cùng nhau, không rối loạn, không vấp vào nhau. Anh theo dõi họ từ xa, cảm thấy tuyệt vời khi được ngắm khung cảnh này. Ngay cả khi thời gian nghỉ chấm dứt và họ phải quay lại căn lều của mình, họ vẫn quan sát nhau, thường xuyên nhìn lên và trao nhau những nụ cười.

Chavi quả là một người chị tốt. Anh đã theo họ suốt hai tuần, cái cách mà Priya - cuối cùng anh cũng biết tên cô em - chụp ảnh mọi thứ, cái cách Chavi thường xuyên vẽ lại mọi thứ. Họ có bạn bè riêng nhưng anh chưa từng thấy cặp chị em nào lại thích dành thời gian với nhau như hai cô gái này.

Priya chưa từng thấy anh, nhưng Chavi…

Chavi đã thấy anh và anh không chắc sẽ làm gì với điều đó. Anh không quen bị phát hiện, nhưng nàng nhìn anh chăm chú mỗi khi phát hiên anh đang chú ý tới nàng và em gái nàng. Và điều đó thật sự phi thường. Chavi quả là có một tâm hồn nghệ sĩ, nàng có thể thấy những thứ mà người khác hay bỏ qua.

Cho nên anh đã tập quen với việc để nàng phát hiện ra anh ở tòa nhà đá nhỏ từng là nhà thờ hoặc sẽ lại là nhà thờ. Nhà thờ bị bỏ quên, và có điều gì đó hơn là tiêu khiển ở đó, đúng chứ?

Anh đã ở đó trong bữa tiệc sinh nhật, bữa tiệc có sự tham gia của gần như cả khu phố, sự lặp lại ít trang trọng hơn của lễ hội múa xuân chỉ vừa diễn ra hai tuần trước. Hoa được bày ở khắp mọi nơi, những bông hoa thật nở rộ xung quanh nhà thờ nhỏ màu xám và tạo thành từng khóm tuyệt đẹp, hoa lụa và nhựa được đặt lên trên tất cả. Anh thấy những cô gái nhà Sravasti, ai nấy đều mặc váy hai đây và áo len khoác ngoài không đóng cúc, chạy chân trần trên thảm cỏ mùa xuân.

Cô em Priya trông thật ngọt ngào với những đóa hồng trắng trên mái tóc đen.

Cô chị Chavi sắc sảo với những bông cúc đại đóa vàng rực tỏa sáng như nụ cười của nàng.

Bữa tiệc tổ chức vào thứ Bảy và bạn dõi theo họ cả ngày Chủ nhật nữa, khi cả gia đình tổ chức kỷ niệm cùng nhau. Họ đã ra ngoài chơi và quay lại, Priya đang sờ lên chiếc khuyên mới trên mũi mình và thông thường anh sẽ không bao giờ chấp nhận nhưng cả gia đinh đã đi cùng cô bé, điều đó có ý nghĩa đặc biệt với họ, chiếc khuyên mũi kia ắt hẳn phải thay đổi điều gì đó trong họ.

Thứ Hai, khi đang theo họ tới trường, anh nghe Chavi nhắc em nàng về buổi học nhóm và nàng sẽ không thể cùng em mình đi bộ về nhà. Cho nên anh đã ở đó, theo sau nàng ở một khoảng cách an toàn, đảm bảo Priya về nhà an toàn. Họ sống ở một khu phố an toàn, một vùng ngoại ô giàu có nơi người ta biết nhau khá rõ nên có thể trông chừng cho nhau. Nhưng hơn ai hết, anh biết rõ ác quỷ luôn biết cách giấu mình ở những nơi an toàn. Priya đi thẳng về nhà sau buổi họp câu lạc bộ, thỉnh thoảng đứng lại nói chuyện với những người hàng xóm nhưng không hề đi lệch cung đường.

Bạn tự hào về cô bé. Đúng là một cô con gái ngoan.

Đúng là một người em ngoan.

Đêm đó Chavi tới nhà thờ, trong anh nóng ran, tràn ngập nồng nhiệt, tức giận và cả tình yêu, quá nhiều tình yêu dành cho em gái nàng. Anh gần như không muốn giết nàng, không muốn mang nàng rời xa Priya, nhưng dẫu sao Chavi cũng sẽ lên đại học vào mùa thu và anh đã chứng kiến việc này có thể gây ra điều gì cho mọi người, nó có thể tàn phá những cô gái ngoan và bỏ lại những thi thể.

Nhưng anh tin vào thiên thần, vào người bảo hộ, và anh biết điều này là tốt nhất. Chavi sẽ mãi là gái ngoan, nàng sẽ mãi ở đó dõi theo em mình.

Và Priya sẽ lắng nghe, bởi Priya là một cô gái ngoan.

Khi anh đặt những bông cúc đại đóa lên mái tóc nàng, chúng trông như những vầng dương trong vũ trụ, thật phù hợp, anh nghĩ Chavi thật sự tỏa sáng.

“Ăn đi.”

Giọng nói thô bạo bất ngờ vang lên, cú bám vào bàn theo phản xạ của Eddison là thứ duy nhất giữ anh không ngã khỏi ghế. “Chúa ơi, Ramirez, đeo chuông vào.”

“Hoặc anh có thể luyện tập nhận biết tình huống.” Cô đẩy một chồng giấy lớn đến bên cạnh anh, sau đó ngồi cách anh vài ghế, từ đó cô có thể thấy anh mà không phải sang tận dãy bên kia của bàn họp. “Nào, bây giờ thì ăn chút gì đi.”

Eddison càu nhàu và mở túi, lấy ra một chiếc hộp đựng thịt bò và bông cải xanh. “Mấy giờ rồi?”

“Gần ba giờ.”

“Chúa ơi. Thế cô đang làm cái gì ở đây?”

“Mang đồ ăn cho anh từ quán ăn Trung Hoa duy nhất mở thâu đêm trong khu này.”

Anh luôn quên rằng cô Ramirez khi không làm nhiệm vụ vừa dịu dàng vừa dữ dằn hơn. Dịu dàng hơn, bởi cô đã thay bộ vest và đôi cao gót sắc sảo cùng lớp trang điểm kiểu thách thức bằng quần jean, áo len rộng và tóc đuôi ngựa đánh rối, khiến nhìn tổng thể trông cô dễ gần hơn nhiều. Nhưng cô cũng dữ dằn hơn, thậm chí sống động hơn, bởi khi lớp trang điểm được tẩy đi, không có gì che những vết sẹo, những đường dài mờ mờ chạy dọc từ mắt trái xuống má cho tới dưới hàm. Những vết sẹo là lời nhắc nhở rằng cô là kẻ sống sót trong quyền hạn của chính mình, kẻ sống sót với phù hiệu và súng cùng lòng tự nguyện tuyệt đối để làm mọi thứ nếu điều đó cứu sống một đứa trẻ.

Anh không thể đòi hỏi điều gì hơn ở một cộng sự.

“Thế cô thậm chí không định giả vờ ngạc nhiên khi thấy tôi ở đây ư?”

Cô tét vào tay anh một cách thô bạo. “Hôm qua Priya đã nhận được hoa loa kèn, hôm nay là hoa bất tử; chỉ còn một loài hoa nữa thôi. Tôi biết anh chẳng thể làm được gì ở đó, thế thì còn nơi nào ngoại trừ ở đây?”

“Tôi bắt đầu ghét cô rồi đấy.”

“Đi mà nói với chính mình, mijo; ngày nào đó anh sẽ tin nó. Giờ thì anh đang xem cái gì thế?”

“Lịch sử giao dịch qua bưu điện,” anh trả lời trong khi miệng đang đầy rau. “Nếu hắn theo dõi các nạn nhân của mình, hắn không thể chỉ lướt qua, cho nên tôi đang soát lại các địa chỉ.”

Cô bắt đầu gật gù, sau đó nhăn mặt. “Tôi có thể thấy ít nhất hai vấn đề trong việc này.”

“Nếu hắn không phiền khi chuyển tiếp thư của hắn thì sao?”

“Được rồi, bây giờ là ba vấn đề.”

Anh cười và nhún vai. “Thế hai vấn đề còn lại của cô là gì?”

“Nếu hắn không sống trong các thành phố thì sao? Nếu hắn sống ở một thị trấn gần đó và cứ lái xe vào thành phố…”

“Những thị trấn nhỏ hơn sẽ để ý tới những người thuê nhà ngắn hạn; các cộng đồng sẽ quen thân với nhau hơn, điều đó sẽ gây họa cho hắn. Thêm vào đó, tôi đang kiểm tra các bang, chứ không phải các thành phố.”

“Thế thì sẽ có rất nhiều thông tin cần lọc ra.”

“Yvonne đã chỉ cho tôi cách dùng máy tính để làm hầu hết mấy việc này.”

“Chỉ cho anh ư?”

Anh chỉ vào bức tường dùng làm bảng trắng, hầu hết mặt bảng được phủ kín hướng dẫn từng bước cách cài đặt và lọc ra những tham số trong hệ thống mạng nội bộ của ngành. Là nhân viên phân tích kỹ thuật được bộ ba đặc vụ yêu mến, Yvonne hiểu rõ thế mạnh và thiếu sót của từng thành viên khi động tới các vấn đề về máy tính.

Theo anh, Bật máy tính lên là một lời hướng dẫn quá thừa thãi nhưng công bằng mà nói, anh đã đuổi theo và tóm được cô khi cô đang rời khỏi phòng.

“Thế còn vấn đề thứ hai là gì?” Anh hỏi.

“Thế nhỡ hắn ta không đi trực tiếp từ điểm A đến điểm B thì sao? Priya và Deshani chỉ ở Birmingham trong bốn tháng. Họ cũng từng ở Chicago trong chưa đầy ba tháng. Họ không phải là những người duy nhất sống kiểu nay đây mai đó như thế.”

Eddison thả chiếc hộp đựng đồ ăn mua về xuống bàn đánh bịch một cái. “Thế làm sao chúng ta có thể tìm ra hắn? Làm sao chúng ta tìm ra hắn nếu hắn là một hồn ma chết tiệt như thế này?”

“Nếu tôi biết câu trả lời thì liệu chúng ta có đang ngồi đây không?”

Nỗi tức giận cào cấu dưới da anh, khiến những cơ bắp của anh siết lại và vặn xoắn vào nhau. Nỗi tức giận và cả sợ hãi. Deshani đã gọi cho Vic chiều nay để hỏi liệu Priya nên làm gì nếu tên sát nhân đó tiếp cận cô. Vic không biết phải nói gì với bà ngoại trừ bảo bà hãy bình tĩnh, cố gắng khiến hắn nói chuyện và gọi điện xin giúp đỡ. Họ biết tên khốn đó muốn Priya nhưng vì điều gì cơ chứ?

Hắn giết người để cô được an toàn nhưng hắn mới là mối nguy hại lớn nhất của cô.

“Đi nào,” Ramirez bất ngờ nói và đứng thẳng dậy.

“Tôi phải…”

“Anh không cần phải nhìn chằm chằm vào máy tính trong khi nó làm công việc của mình. Tôi sẽ để anh quay lại, tôi hứa, nhưng bây giờ thì đi thôi.” Khi anh không di chuyển đủ nhanh so với cô, cô kéo ghế của anh và đẩy anh ra cửa. Anh bật dậy vừa kịp tránh không đâm sầm vào khung cửa.

“Tôi đứng lên rồi và tôi đang tới đây, cô dừng lại đi chứ?” Anh yêu cầu.

Đáp lại yêu cầu đó, cô tóm lấy khuỷu tay anh và kéo anh theo sau cô tới thang máy.

Cuối cùng, họ tới một trong những phòng tập thể dục, những tấm thảm dày che hết sàn nhà xung quanh những võ đài được nâng lên. Một bức tường có những hàng túi thể thao và bao cát đấm bốc. Ramirez chỉ những bao cát. “Đi.”

“Ramirez.”

“Eddison.” Cô thả khuỷu tay anh ra để khoanh hai tay trước ngực. “Anh đang kiệt sức. Anh đang quá tức giận, quá sợ hãi, quá rối loạn nên anh không thể nghĩ thông suốt. Anh đang mất đi sự rành mạch và việc chôn sâu bản thân không hề giúp ích gì. Bây giờ, tôi biết anh đang hồi hộp, anh sẽ mất ngủ nên hãy đấm mấy cái túi đằng kia đi.”

“Ramirez…”

“Đi. Đấm. Cái túi.”

Phàn nàn về những người phụ nữ hay chỉ đạo và can thiệp chỉ khiến cô cười nhạo anh thôi, cho nên anh đồng ý và bước tới chỗ những cái túi. Anh xắn tay áo lên, đứng vững và nhìn nó chằm chằm.

“Vì đống rắc rối này, Eddison, đấm cái túi đi!”

Anh nghe theo cô và với cú đánh đầu tiên, những chuỗi căng thẳng xoắn lấy ruột anh đứt gãy ra. Anh đấm túi bụi vào chiếc túi, không quan tâm tới cách đấm hay hiệu quả, những cú đấm lộn xộn và mạnh mẽ và liên tục trong cơn thịnh nộ của anh. Cơ bắp anh đang chống lại những hoạt động đột ngột nhưng anh mặc kệ cơn đau, chỉ tập trung vào sự chuyển động của chiếc túi đang treo lơ lửng và vị trí giáng nắm đấm vào túi.

Cuối cùng anh chậm dần rồi dừng hẳn, dựa người vào chiếc túi và thở hồng hộc. Hai tay anh phồng rộp lên và anh hơi sợ phải kiểm tra hai nắm đấm không bọc lại của mình. Dẫu vậy anh cảm thấy tập trung hơn nhiều.

Ramirez nhẹ nhàng cầm lấy tay trái của anh và kiểm tra những khớp xương. “Trông không có vẻ bị gãy chỗ nào,” cô nhẹ nhàng bảo anh. “Anh sẽ có một vài vết bầm tím và sưng phồng rất dễ thương, tôi nghĩ da anh đã bị bong gần hết và dính lại trên túi.”

“Tại sao cô không bảo tôi phải bọc tay lại?”

Cô với lấy tay kia của anh, ngước nhìn anh qua hàng mi. Không phải cô e lệ gì mà đúng hơn, đó là cử chỉ mỗi khi cô không chắc gương mặt cô có đang biểu lộ những gì cô nghĩ. “Trông anh có vẻ như cần bị đau.”

Anh không có câu trả lời.

“Đi thôi. Hãy rửa sạch và băng bó chúng. Anh có đồ sơ cứu ở nhà để thay băng vào ngày mai không?”

“Chắc là có. Tôi sẽ dừng lại và mua…” Anh nói nhỏ dần, gần như quá mệt để nói nốt câu. Ramirez chỉ chờ đợi và trầm ngâm quan sát anh. “Có bao nhiêu địa điểm trong một khoảng cách hợp lý với Huntington mà cô nghĩ là bán hoa thược dược?”

“Gì cơ?”

“Hoa thược dược. Không thật sự dễ tìm được chúng. Khi Julie McCarthy bị sát hại năm ngoái, chúng ta phải mất một tuần nhưng vẫn tìm ra chính xác tiệm hoa đó, bình thường với những loài hoa khác ta đâu thể tìm được. Có rất nhiều tiệm không bán hoa thược dược.”

“Đúng vậy…”

“Chúng ta đã cố gắng chơi trò đuổi bắt này trong suốt cả quá trình; tại sao chúng ta không thử đón đầu hắn? Nếu muốn kết thúc danh sách này, hắn phải tìm ra hoa thược dược ở đâu đó. Nếu chúng ta gửi thông điệp tới những tiệm hoa…”

“Trong bang này ư? Eddison, điều đó…

“Đúng vậy, một danh sách dài, cho nên chúng ta lập ra một danh sách tổng, rồi mượn các nhân viên kỹ thuật hoặc đặc vụ, hoặc cái quái gì cũng được, các học viên trong học viện, để họ trực điện thoại. Những bông hoa luôn còn tươi khi chúng được chuyển tới nên ngay cả khi hắn chuẩn bị sẵn thì cùng lắm là một, hoặc hai ngày trước. Việc bán được một loại hoa hiếm như thế chắc chắn họ sẽ nhớ. Chúng ta thậm chí còn có thể chụp ảnh hoặc vẽ lại phác thảo từ người đã hoặc sẽ bán hoa thược dược cho hắn.”

“Đó… thật sự không phải một ý tưởng tồi,” cô thừa nhận. “Nhưng chắc chắn phải là Yvonne.”

“Gì cơ?”

“Ngay cả với những hướng dẫn của cô ấy, chúng ta vẫn không biết tìm kiếm kiểu này. Không phải trên quy mô rộng như thế này.”

“Tốt thôi, vậy chúng ta…”

“Chúng ta sẽ không gọi cho cô ấy vào bốn giờ sáng,” cô khẳng định chắc nịch. “Chúng ta sẽ đi băng bó lại tay cho anh. Sau đó chúng ta sẽ lên lầu và viết tất cả mọi thứ ra, vào một thời gian hợp lý, chúng ta có thể cập nhật cho Vic và xin phép để Yvonne làm việc ngoài giờ. Sau đó chúng ta sẽ gọi cho Yvonne. Anh có biết anh sẽ làm gì giữa khoảng ghi chú và gọi cho Vic không?”

“Bất cứ điều gì cô bảo tôi làm, nếu không tôi sẽ phải hối tiếc vì điều dó, đúng chứ?”

“Thấy không, mijo?” Cô ngoắc cánh tay mình qua tay anh và kéo anh về phía cửa. “Anh đang suy nghĩ tốt hơn rồi đấy.”

Tên nàng là Aimée Browder và nàng chính xác là một món quà từ Thượng đế.

Anh đã lo lắng rất nhiều cho Priya. Anh đã rời Boston - anh chưa từng sống quá sáu tháng ở một nơi nào - nhưng sau đó anh đã quay lại và Priya không còn ở đó nữa. Anh mất một thời gian dài để tìm thấy cô; cuối cùng anh thấy tên cô và thành phố mới mà cô sinh sống được ghi lại trong danh sách những thí sinh chung kết của một cuộc thi nhiếp ảnh trong một tạp chí. Anh chuyển tới San Diego ngay tức khắc. Anh cần chắc chắn rằng cô ổn.

Nhưng rồi anh nhận ra cô không ổn chút nào. Cô vẫn là một cô bé ngoan như anh nhớ, nhưng ánh sáng và hơi ấm của cô đã biến mất. Cô mong manh dễ vỡ và quá cô đơn.

Sau đó cô tìm thấy Aimée. Anh quan sát không ngừng, Aimée dần dần thắp sáng Priya từ bóng đêm của nỗi đau, trò chuyện với cô bằng tiếng Pháp và nhảy múa xung quanh cô khi họ cùng đi bộ. Đôi khi thú thực là… nàng quá hoàn hảo. Aimée, nàng đã dành quá nhiều thời gian trong các buổi học và luyện tập, thậm chí ngay cả khi nàng đi bộ tới phòng tập vào đêm muộn tập luyện tới mức mệt mỏi rã rời, nàng trông vẫn tràn đầy tình yêu đành cho những điệu múa nên nàng không thể rời mắt. Và anh thấy Priya lại bắt đầu hé nở, tươi cười, đôi khi cười lớn nữa, và nói chuyện về những bộ phim Pháp, vở opera và cả nhà hát ba lê.

Chính Aimée đã giới thiệu Priya làm gia sư cho một cậu nhóc, và bạn nhận ra ngay cậu nhóc đó đã thích cô. Anh không trách cậu ta nhưng anh quan sát, cẩn thận, phòng khi anh phải xen vào. Nhưng anh không bao giờ cần làm gì cả. Priya biết rõ giá trị của mình, biết rõ như thế nào là tốt, và cô không bao giờ khuyến khích cậu ta, không bao giờ ngồi sát cậu ta hơn mức bình thường và không bao giờ chấp nhận lời mời ra ngoài đi chơi cùng cậu ta.

Mẹ của Aimée nấu ăn với hoa bất tử mọc trên mái vòm nhà mình. Anh thật sự chưa bao giờ nghĩ về điều đó, rằng một loài hoa lại có nhiều tác dụng hơn là để làm cảnh, làm thức ăn cho ong hoặc bất cứ tác dụng nào khác, nhưng bạn đã nghe thấy người nhà Browder trêu đùa nhau về loài cây này trong bếp và những đóa hoa trên búi tóc của Aimée, những người phụ nữ trong sự kết hợp dễ dãi và lười biếng của văn hóa Pháp và Tây Ban Nha, người cha thỉnh thoảng nói chất giọng ầm ầm kiểu Đức mà không ai hiểu nhưng lai khiến hai mẹ con cười.

Họ cũng yêu mến Priya nhiều gần bằng Aimée yêu quý cô và anh biết ơn họ về điều đó, biết ơn vì cô đã có những người trao lại cho cô ánh sáng.

Anh gửi cho Priya những đoa hoa, cố gắng thể hiện sự trân trọng của anh với sự tốt đẹp của cô, tình yêu của anh dành cho cô, và trái tim anh được sưởi ấm khi anh nhìn cô cười với những đóa baby, cài chúng quanh mái tóc của bạn mình như một chiếc vương miện mà người ta hay dùng để biểu diễn.

Nhưng một ngày nọ, Priya lại biến mất. Anh đã đi xa vài ngày để tìm loài hoa anh cần trong những thị trấn lân cận để không ai có thể liên kết chúng với nhau, hoặc với anh. Anh chưa từng sơ suất trong nhiều năm. Nhưng chỉ một vài ngày mà anh đã lỡ chiếc xe tải chuyển đồ, cả những lời tạm biệt và chuyến đi. Lần này anh tốn rất nhiều thời gian để tìm ra cô và bây giờ…

Aimée cũng nhớ Priya, anh có thể thấy điều này trước khi nàng nói với mẹ. Anh thấy nó trong cách nàng xoắn một cành hoa bất tử trong tay, nhìn nó với một nụ cười buồn, trước khi nàng với tay lên để cài nó vào mái tóc.

Thế nên anh thu thập hoa bất tử, nhiều nhất có thể mà không lột sạch vườn hoa của mẹ nàng và anh đợi, bởi anh đã theo dõi nàng đủ lâu để biết rằng mỗi khi không ngủ được, nàng sẽ không làm phiền bố mẹ hoặc em trai và em gái mình. Nàng sẽ trốn ra khỏi nhà và đi bộ qua ba con phố tới nhà thờ với một cảnh cửa luôn mở và ở đó nàng múa. Trước đây, nàng từng đi qua hai con phố ở hướng ngược lại để xem liệu Priya có muốn đi cùng nàng không và họ đã ở nhà thờ cả đêm, Aimée thì múa, còn Priya chụp ảnh những ô kính đọng vệt nước và ánh trăng huyền diệu.

Anh cố gắng để Aimée chịu ít đau đớn hết mức có thể. Anh làm điều này vì nàng và cả Priya nữa. Nàng thật sự là một cô gái ngoan, một người bạn tốt khi Priya cần nàng nhất. Anh xếp những bó hoa bất tử màu hồng sậm xung quanh nàng và ngồi đó với nàng một lúc, nhìn lên những ô cửa sổ và nghĩ về Priya.

Cô là một cô em gái ngoan, xứng đáng được bảo vệ. Cô không giống Darla Jean, cô luôn tốt như vây. Cô sẽ cảm thấy biết ơn khi cô biết anh yêu cô đến nhường nào.

Anh sẽ lại tìm ra cô và lần này anh sẽ không dừng lại cho tới khi cô biết cảm nhận của anh. Anh không thể chờ để nghe thấy cô nói cô cũng yêu anh.

Những bông thược dược đến vào thứ Ba, ba bông hoa to như bàn tay tôi, màu tím đậm như thể chúng đang xấu hổ mà chuyển đen. Chưa đầy một năm trước, Julie McCarthy mười bốn tuổi đã được phát hiện bị cưỡng hiếp và giết hại trong một nhà thờ ở Charlotte, Bắc Carolina, ba bông thược dược xếp thành hàng trên miệng, ngực và háng cô như một tấm bản đồ luân xa điên loạn.

Cuộc điện thoại đầu tiên tôi không gọi cho Eddison, mẹ tôi hay Finney, mà cho Hannah Randolph, cháu gái của Gunny. Kể từ khi chúng tôi biết về vụ án mạng của Landon - hay đúng hơn là kể từ khi những cựu binh biết mọi thông tin liên quan đến vụ án mạng của ông ta - những cựu binh đã dứt khoát đề nghị tôi không đi bộ tới chỗ chơi cờ và ra về một mình nữa. Hannah đã đề nghị đưa đón tôi, bởi dù sao cô cũng ngồi đợi trong xe suốt thời gian đó. Vì ở đó những cựu binh khác có thể trông chừng Gunny, cô có thể dễ dàng quay xe để lái một dặm rưỡi đến nhà tôi.

Rõ ràng họ đã chuẩn bị kỹ càng để tranh luận với tôi về điều đó nên tôi đã khiến họ bất ngờ khi đồng ý ngay và cảm ơn họ. Nhưng đề nghị này cũng hợp lý và tôi cảm thấy biết ơn họ vì điều đó. Khi gần đến giờ tôi ra chỗ chơi cờ, tôi sẽ gọi cho Hannah để cô biết tôi có đi không.

Hoặc trong trường hợp sáng hôm nay thì tôi gọi để báo với cô là tôi sẽ không đi.

“Cô có phiền không nếu tôi đến ngồi với cô?” Cô lập tức hỏi. “Ít nhất là cho đến khi các đặc vụ ghé qua? Tôi không thích ý nghĩ rằng cô phải ở một mình bây giờ.”

“Thế còn Gunny…”

“Ông sẽ ổn thôi vì có Pierce để mắt tới rồi. Nếu có chuyện gì xảy ra, tôi chỉ cách đó năm phút thôi mà.”

“Điều đó sẽ giúp tôi cảm thấy tốt hơn,” tôi thừa nhận. “Cảm ơn cô.”

“Tôi đang trên đường tới đây. Cô gọi các đặc vụ đi.”

Tôi nhắn tin cho Eddison, sau đó pha một chút sô cô la nóng trong khi gọi cho Finney. Khi Hannah tới nơi, cô bước cẩn thận vòng qua bó hoa để tránh giẫm vào cái gì và nhận lấy chiếc cốc với một nụ cười cùng một cái gật đầu khi thấy tôi đang nói chuyện điện thoại. Khi tôi mở phần ghi hình trong camera, cô ngồi vào chiếc ghế bành với đống đồ len đang đan.

Tôi nên học đan len. Trông nó có vẻ yên bình.

“Camera cho thấy gì?” Finney mệt mỏi hỏi.

“Nó không ghi hình gì từ chín giờ ba mươi tám phút,” tôi trả lời. “Sau đó không có gì cả.”

“Có nhiễu không?”

“Không có gì cả. Như thể nó không thu được tín hiệu nhưng mạng lưới thì vẫn ổn.”

“Camera sau thì sao?”

“Vui vẻ ghi lại những chuyển động của con sóc xa nhất tôi từng thấy.”

“Cô có cảm thấy đủ an toàn cho tới khi chúng tôi ở đây không? Tôi có thể yêu cầu cảnh sát địa phương cử ai đó xuống đây.”

Tôi nghĩ về cảnh sát Clare và rùng mình. “Hannah ở đây với tôi rồi.”

“Được rồi. Chúng tôi sẽ tới đó sớm nhất có thể.”

Trong khoảng mười phút, tôi và Hannah ngồi lặng yên nhưng thoải mái. Những chiếc kim đan của cô khoan thai kêu lách cách, có một sự dễ chịu và trầm ngâm trong đó.

Có tiếng gõ cửa.

Chắc chắn đó không thể là các đặc vụ của tôi, không thể nhanh như thế. Ngay cả với cách lái xe của họ.

Lạy Chúa, đó có thể là…

“Cô Priya? Các đặc vụ nói cô đang gặp rắc rối?”

Đó là cảnh sát Clare. Ông nói ông đã quay lại từ chỗ chơi cờ mà không có cộng sự của mình, để kiểm tra xem tôi có ổn không. Cả Lou và đội trưởng của họ đã bảo ông không được làm thế, nhưng điều đó không thể ngăn ông. Ông nói rằng trên đường tới cửa hàng hoặc là đi ăn trưa thì chúng tôi đã gặp nhau.

“Cô Priya, tôi biết cô ở nhà. Tôi có thể thấy xe của cô Randolph. Tôi chỉ muốn chắc chắn rằng cô ổn cho tới khi những đặc vụ FBI tới đây.”

Hannah cẩn thận đặt đồ đan len sang bên cạnh. “Tôi sẽ bảo ông ta đi, được chứ?”

“Vâng, làm ơn.” Tôi thì thầm.

Cô đi xuống hành lang dẫn ra cửa và mở cửa chỉ vừa đủ nhìn, người cô chắn cửa lại để ông không thấy tôi bên trong. “Chúng tôi ổn, cảnh sát ạ,” cô lịch sự nói. “Ông không phiền bước ra khỏi hiện trường chứ?”

“Tôi có thể ở lại với các cô…”

“Chúng tôi biết ơn ông vì điều đó, nhưng quả thật là không cần thiết.”

“Tôi đã ở đó, cô biết mà, khi cô ấy mất đi chị gái mình. Tội nghiệp cô bé. Khi nghĩ về em gái tôi, tôi thấy những cô em gái cần được bảo vệ.”

“Cảnh sát Clare. Sự giúp đỡ của ông là không cần thiết lúc này. Làm ơn hãy đi đi.”

Ông ta nói to hơn. “Bây giờ, cô Priya…”

Tôi mở danh bạ điện thoại và tìm thấy số đội trưởng của ông ta và bấm gọi. Người đàn ông trả lời tôi bằng họ của ông chứ không phải một lời chào. “Đội trưởng, tôi là Priya Sravasti, và…”

“Làm ơn nói với tôi không phải Clare lại đang làm phiền cô đấy chứ.” Ông càu nhàu.

“Ông ta đang ở trước cửa và không chịu rời đi.”

“Tôi xin lỗi, cô Sravasti. Tôi sẽ lo liệu việc này.” Khi ông cúp máy, tôi nghe thấy tiếng càu nhàu nghe như là đuổi việc ông ta và tự hỏi liệu chuyện đó có sắp xảy ra hay không.

Cuối cùng Hannah đóng cửa lại trước mặt Clare, cài luôn cả hai khóa. Một lúc sau, cô đóng luôn xích để đảm bảo an toàn. “Người đàn ông đó trông có gì sai sai,” cô nói, sau khi trở lại với việc đan lát của mình. “Chẳng có lý do gì mà ông ta phải đặc biệt lưu ý đến cô như thế.”

“Rõ ràng có thứ gì đó về những vụ án kiểu như này,” tôi thở dài. “Mercedes đã giải thích về tâm lý trong những vụ án đó một lần. Đôi khi, một phản ứng khẩn cấp có thể bị kẹt lại trong một vụ án khiến họ khó chịu, đặc biệt nếu có điều gì khác đang xảy ra trong cuộc sống của họ. Một vài người bị ám ảnh bởi việc giải quyết các vụ án, nhưng những người khác thì suốt ngày dõi theo gia đình của nạn nhân.”

“Ông ta có cư xử như vậy hồi ở Boston không?”

“Theo tôi nhớ thì không, nhưng nếu quay lại Boston, ông ta đã có thể thực hiện âm thầm hơn.”

“Nếu ư?” Cô hỏi lại.

“Đó không phải là cách kỳ dị nhất mà một người hâm mộ tham gia vào một vụ án, theo Mercedes nghiên cứu. Cô ấy đang kiểm tra xuất thân đầy đủ của ông ta.”

Hannah lắc đầu. “Tôi biết con người là sinh vật phức tạp, nhưng việc này có vẻ hơi quá.”

Không lâu sau, Finney và Sterling đã tới nơi. Finney trông hơi xanh xao khi bước ra khỏi xe. Ở bên ghế lái, Sterling cố gắng trông vừa xấu hổ lại vừa tự hào.

“Cô thấy vui với đèn nháy và còi hụ à?” Tôi lạnh lùng hỏi.

Sterling cười với tôi trước khi giấu nụ cười sau một biểu cảm chuyên nghiệp. “Chúng tôi đã mất thời gian sau một vụ tai nạn; tôi không muốn để cô phải đợi.”

Đảo mắt một lượt, Finney nhìn sang Hannah và chìa tay ra. “Cảm ơn vì đã ở cùng cô ấy, cô Randolph.”

Cô bắt tay ông. “Ông có cần tôi ở lại không? Ý tôi là sau khi các ông đi.”

“Thật ra…” Ông liếc nhìn tôi. “Mẹ cô yêu cầu chúng tôi đưa cô tới Denver, nếu cô không phiền. Tôi nghĩ bà ấy sẽ cảm thấy tốt hơn khi có thể nhìn thấy cô trong tầm mắt.”

“Được thôi. Cảm ơn cô rất nhiều, Hannah.”

“Bất cứ khi nào cô cần,” cô nói và ôm tôi một cái. “Cẩn thận nhé, Priya.” Cô nói giống hệt ông của cô khi tạm biệt tôi, chỉ có ông gọi tôi là cô Priya, cảnh sát Clare đã làm ô uế cái tên đó.

Nói về ông ta thì… tôi kể cho Finney về cảnh sát Clare, sau đó lên lầu thay đồ và nhét mấy thứ vào túi để mang đi. Tôi không biết cơ quan mẹ có wi-fi không nên bài tập trên trường có lẽ không phải là một lựa chọn tốt.

“Làm hỏng camera với xung điện từ, sau đó cắt dây nối,” Sterling khẳng định khi tôi trở xuống lầu.

“Thế bây giờ chúng ta phải làm gì?”

“Bây giờ chúng tôi sẽ đưa cô tới chỗ mẹ cô,” Finney trả lời. “Sau đó chúng ta sẽ bàn chi tiết về phương án bảo vệ cô.”

Phương án bảo vệ chi tiết, trong trường hợp này, có nghĩa là Archer sẽ ở cùng tôi cả ngày, Sterling sẽ ngủ lại buổi đêm và mọi người phải cầu nguyện sếp Ward không phát hiện ra. Thật ra đây là làm chui - vì lợi ích cá nhân - nên cũng tiềm tàng nhiều vấn đề. Nếu có chuyện gì xảy ra, các đặc vụ có thể trực tiếp đối mặt. Chúng tôi sẽ tiến hành phương án này trong hơn một tuần nhưng có cảm giác nó kéo dài vô tận, đặc biệt với sự đổi ca luân phiên của các đặc vụ. Mẹ đã sắp xếp một khoảng thời gian bí mật để gặp Sterling, bởi có lẽ chúng tôi đã đủ an toàn khi ở cơ quan của bà, và các đặc vụ đi ra ngoài.

Tôi ngồi vào một góc trong văn phòng có phần tẻ nhạt của mẹ với laptop đặt trong lòng. Tôi nên làm bài tập mới phải - vì mẹ đã cho tôi mật khẩu mạng nội bộ - nhưng thay vào đó, tôi lại xem những bức ảnh chụp tại nhà thờ của Gunny và Hannah. Đó là một buổi chiều vui vẻ ở bên họ và những ô cửa sổ kỳ thú chắc chắn là một điểm cộng. Các cảnh được vẽ lại trên các bức ngăn, thay vì một tấm kính khảm, và thậm chí được vẽ bằng sơn nửa trong nửa mờ, nó khiến ánh sáng thay đổi khi chiếu qua.

Dưới tấm chân dung của một phụ nữ và một ngôi mộ bỏ trống, Gunny lướt những ngón tay xương xẩu trên một tấm biển hiệu bằng đồng nhỏ xíu với tên của vợ ông trên đó.

Người thư ký nhà thờ thậm chí còn lớn tuổi hơn cả Gunny, bà biết rõ lịch sử của từng ô cửa và người tài trợ để làm chúng. Khi tôi nhắc tới tình yêu của tôi với những ô cửa, bà đưa tôi một tấm thẻ thông tin về một nhà nguyện nhỏ cách đó một giờ. “Một vài người nói rằng Chúa cho chúng ta khả năng sáng tạo nghệ thuật để chúng ta có thể ngợi ca Ngài,” bà nói và nở một nụ cười. “Những ô cửa sổ ở Nhà nguyện Shiloh khiến chúng ta dễ tin vào điều đó hơn.”

Lòng tôi dấy lên mối nghi ngờ nhiều tới mức tôi muốn tận mắt chứng kiến.

Tôi sập máy tính lại với một tiếng thở dài tức giận. Tôi đã hy vọng rằng khi xem những bức ảnh này tôi sẽ thấy vui hơn nhưng chúng chỉ khiến tôi buồn thêm. Với lấy túi của mình, tôi lấy ra một phong thư đã nằm trong hòm thư từ lâu, với nét chữ viết tay gọn gàng của Inara ở trên.

Priya thân mến,

Desmond Macintosh đã chết, anh ta đã chết gần một tháng nay và tôi vẫn không chắc tôi cảm thấy thế nào về việc này. Mọi người đều cho rằng tôi sẽ buồn, bởi chúng tôi là “đôi tình nhân bất hạnh” hoặc một thứ vớ vẩn nào đó mà mọi người ghép đôi do không hiểu rõ thế nào là “đôi tình nhân bất hạnh”. Hoặc họ nghĩ tôi nên vui bởi vì, nhìn này, một trong những kẻ hành hạ tôi đã tự kết liễu đời gã, như thể việc nhìn thấy các cô gái khác tự sát sẽ khiến tôi vui khi gã cũng chịu kết cục tương tự.

Nhưng hầu như tôi chỉ cảm thấy nhẹ nhõm và đó là cái phản ứng quái quỷ gì vậy?

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì không phải nhìn thấy anh ta trong phòng xử án nữa, không phải chịu đựng ánh mắt anh ta nhìn tôi khi tôi tố cáo anh ta và cha anh ta. Tôi nhẹ nhõm vì không phải dành hàng giờ để chứng kiến biểu cảm ra vẻ tội nghiệp của anh ta nữa. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì định mệnh của anh ta đã được phán quyết và tôi sẽ không phải căng thẳng vì nó thêm một chút nào.

Tôi luôn biết rằng nhìn chung tôi là một kẻ tệ hại, nhưng điều đó xảy ra theo một cách mà tôi không kỳ vọng.

Đặc biệt là khi tôi nghĩ về nó: Tôi sẽ cảm thấy rất biết ơn nếu Thợ làm vườn cũng làm ra hành động ngu ngốc đó và chết vì những vết thương của hắn, hoặc bất kỳ điều gì tự nhiên. Tôi không cảm thấy cần phải giết hắn, thậm chí không cần hắn tự sát. Tôi thật sự chỉ muốn hắn chết đi.

Có lẽ phiên tòa sẽ không bắt đầu cho tới mùa thu và trong khi tôi còn đủ tiêu cực để nghĩ rằng hắn có thể được trắng án, vẫn có rất nhiều kết quả khả dĩ khác. Tôi không muốn hắn được chăm sóc trong khoa Tâm thần của bệnh viện hay viện dưỡng lão. Tôi muốn hắn bị giam lại, bi tước đi mọi thứ hắn lấy khỏi chúng tôi và bị ép trở thành cái gì đó vô cùng yếu ớt.

Nhưng hơn hết, tôi chỉ muốn hắn chết đi. Chiếc lồng giam nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng hắn vẫn có đủ tiền để khiến nó trở nên thoải mái hoặc thoải mái nhất có thể với những vết thương của hắn. Tôi không muốn hắn được thoải mải.

Tôi muốn hắn chết, nhưng mọi người luôn nhìn vào tôi như thể tôi nên tốt hơn thế, như thể tôi nên vượt lên mọi thứ, và thật khốn kiếp, tôi không muốn. Hắn không thể nhận kết cục tốt đẹp như vậy.

Nếu cô có cơ hội, Priya, hãy giết gã. Tự vệ, và thế là xong.

Ồ.

Bây giờ tôi cảm thấy vui hơn rất nhiều, cảm ơn cô, Inara.

Nhưng miễn là tôi chú tâm làm, tôi sẽ làm được, cho nên tôi lại mở máy tính ra. Tất cả nạn nhân của tên khốn đó đều có những trang Facebook để tưởng nhớ, ngay cả những người khi còn sống không dùng Facebook. Hầu hết họ đều rất năng động vào mùa xuân, mọi người đăng lên những kỷ niệm, hoặc lời cầu nguyện khi tới dịp kỷ niệm, mặc dù có cả những tin nhắn chúc mừng sinh nhật nữa. Chức năng lọc cho phép nhanh chóng loại bỏ lời bình luận của những kẻ khốn.

Tôi bắt đầu với Julie McCarthy và đi ngược dòng thời gian, đọc tin trên tường của cô. Có những tấm ảnh mới chụp, được bạn bè, gia đình và bạn cùng lớp hồi tưởng. Tôi bỏ qua trang của Chavi.

Tôi chưa từng vào trang Facebook của Chavi từ khi chị mất. Tôi không ghét những người đăng lên Facebook của chị, hầu hết họ đều là bạn chị. Josephine kiểm soát tất cả nên tôi biết trang của chị vẫn giữ được sự tôn nghiêm. Nếu việc đó giúp họ than khóc rồi bước tiếp thì cũng gọi là ban phước thêm cho họ. Tôi chỉ không muốn ký ức của mọi người về Chavi xâm nhập vào ký ức của tôi.

Khi tôi vào trang của Darla Jean - nạn nhân đầu tiên - có một bài đăng của mẹ cô, Eudora Carmichael, vào ngày giỗ của cô năm nay. Eudora nói rằng bà nhớ ánh sáng cùng tiếng cười của con gái mình và Darla Jean đã trở thành niềm vui của cả gia đình như thế nào. Bà nhớ cả con trai mình, cậu trai chưa từng vượt qua được cái chết của em gái. Sau khi cầu nguyện cho công lý, bà kết lại bằng một bức tranh, một bức chân dung gia đình từ Lễ Phục sinh năm ấy.

Darla Jean là một cô gái tóc vàng xinh đẹp trong bộ váy đăng ten trắng, bên cạnh cô, Eudora đậm người và thoải mái với đôi mắt hiền hậu di truyền cho con gái mình. Con trai bà đứng sau họ, và khốn kiếp, mười bảy năm sau, tôi biết gương mặt kia.

Tôi biết gương mặt kia.

“Mẹ!” Tôi kêu ré lên.

Bà ngước nhìn lên từ máy tính của mình. “Priya? Con ổn chứ?”

“Mẹ tới đây xem này.”

“Priya?”

“Mẹ, làm ơn. Tới xem cái này đi ạ.”

Mẹ chậm rãi đứng lên và bước qua căn phòng, ngồi xuống bên cạnh tôi trên chiếc ghế cứng như đá. Bà liếc tôi, rồi nhìn màn hình. “Nét mặt con cho thấy đây là một điều quan trọng, nhưng mẹ không hiểu.”

Tôi kéo ra một trong những tập hồ sơ đựng ảnh mà tôi chụp vào mùa xuân năm ấy, bấm chuột lướt qua cho tới khi thấy bức ảnh tôi muốn cho mẹ xem. Tôi kéo các cửa sổ để có thể đặt nó cạnh bức ảnh của nhà Carmichael.

Mẹ chăm chú nhìn bức ảnh một lúc, cơ mặt khẽ siết lại. Đó là hắn, bà cũng biết điều đó, đó là kẻ đã giết Chavi, gần như chắc chắn đó là kẻ đã liên tục gửi cho tôi những món quà.

Bà nuốt ực một cái, lau đi những dòng nước mắt câm lặng, sau đó quay lại nhìn tôi. “Con không cầm điện thoại trong tay. Con đang sốc, hay con đang bồn chồn?”

Mẹ hiểu tôi quá rõ. “Con đang bồn chồn thôi.”

“Tại sao?” Mẹ có vẻ tò mò nhưng không giống như đang buộc tội. Bà cũng không với điện thoại để tự mình báo cho cảnh sát.

Tôi đưa lá thư của Inara cho bà và nhìn bà đọc lướt qua lướt lại trang giấy.

“Mẹ nghĩ có lẽ mẹ quý Inara,” bà nhận xét sau khi đọc xong.

“Con nghĩ mẹ chỉ vừa miêu tả cá tính chết dẫm của Eddison thôi.”

“Nhưng đây là ý kiến của Inara, thế còn con thì sao?”

Tôi hít một hơi thật sâu, sau đó cho mình thời gian để thực sự nghĩ về câu hỏi của mẹ. Có những khoảnh khắc tôi nhận ra mối quan hệ của mẹ và tôi phi truyền thống tới mức nào. Có những khoảnh khắc tôi lại phải thừa nhận rằng bà có lẽ có xu hướng chống đối xã hội và đơn giản là bà lựa chọn không sử dụng quyền lực của mình cho những hành động tàn ác dư thừa.

Và tôi là con gái bà.

“Mẹ nghĩ chúng ta có bao nhiêu bằng chứng?” Cuối cùng tôi lên tiếng. “Mười bảy năm mà không bị bắt, hắn ta rõ ràng không phải một kẻ ngốc. Chúng ta sẽ báo tên hắn cho FBI, theo mẹ có bao nhiêu phần trăm họ sẽ tìm ra đó không phải chỉ là suy diễn? Nếu hắn có ý muốn thú tội, hắn sẽ không làm như thế nhiều năm trước.”

“Nếu có đủ chứng cứ để ra tòa thì vẫn chưa đủ để buộc tội hắn.”

“Nếu họ cố gắng buộc tội hắn và hắn lại được tha bổng thì cũng chẳng giải quyết được gì. Họ không thể cố buộc tội hắn ta giết người lần nữa. Sẽ không có công lý dành cho các cô gái từ Darla Jean tới Julie McCarthy. Không có công lý cho Chavi.”

“Landon nữa,” bà trầm ngâm nói.

“Landon là một kẻ ái nhi; con không muốn có công lý cho ông ta.”

Đôi môi mẹ giật lên với một nụ cười tự hào.

“Điều gì ngăn hắn ta không theo chúng ta tới Pháp nữa?” Tôi hỏi.

“Thế bây giờ con muốn gì? Bẫy hắn để hắn thú nhận những tội lỗi trong quá khứ cho con ghi âm lại ư? Khiến cho việc kết án khả dĩ hơn?”

“Không ạ.”

Mọi việc chìm xuống trong một lúc. Tôi chưa bao giờ là một kẻ dã man. “Con đang nghiêm túc,” bà nói.

“Con muốn mọi chuyện kết thúc,” tôi nhẹ nhàng bảo bà, với âm lượng chỉ hơn một lời thì thầm chút ít. “Con không muốn dành cả cuộc đời mình để lo lắng và tự hỏi hắn sẽ giết ai tiếp theo. Con không muốn cứ phải chuyển nhà với mối lo treo lơ lửng trên đầu. Con chỉ muốn mọi chuyện kết thúc.”

Bà hít một hơi thật sâu, khoanh tay trong lòng. Những khớp xương của bà trắng bệch vì siết quá chặt. “Thế chúng ta phải làm gì?”

Chiếc laptop trượt xuống sàn một cái thịch khi tôi vòng tay ôm lấy mẹ. “Con yêu mẹ.”

“Nhưng?”

“Nhưng phần này con phải tự giải quyết, chứ không phải chúng ta.”

Một bên lông mày mẹ nhướn lên đầy nguy hiểm. “Con sẽ phải giải thích chuyện này.”

“Nếu con làm, đó gọi là tự vệ. Nếu mẹ làm, mẹ sẽ là kẻ giết người. Có lẽ mẹ sẽ được tha bổng, nhưng không thể không bị sa thải và không ai muốn thuê mẹ nữa. Nếu mẹ ở đó, Bộ ba Đặc vụ sẽ không bao giờ tin đó chỉ là tai nạn.”

“Con nghĩ họ tin con ư?”

“Nếu con hoàn toàn ở một mình? Không, đó chắc chắc là một cái bẫy.” Từ trong cặp, tôi lôi ra một tấm bưu thiếp hình Nhà nguyện Shiloh. “Nhưng nếu đặc vụ Archer đi cùng con và lỡ để con lại một mình?”

“Sau tất cả, con lại để anh ta dùng con làm mồi nhử.”

“Vâng.”

“Con tin anh ta sẽ không nói cho người khác?”

“Ồ không, đó là lý do mà con không nói với anh ta.” Tôi cười với vẻ bất cần. “Lời xin lỗi của anh ta là thật lòng; điều đó có nghĩa là anh ta cảm thấy tội lỗi.”

“Và khi một người đàn ông tốt cảm thấy tội lỗi, anh ta muốn đền bù cho điều đó, chứ không chỉ nói suông.”

“Cho nên con sẽ nhờ Archer đưa con tới nhà nguyện. Nếu mẹ vẫn còn cố gắng bắt kịp công việc giấy tờ từ cái ngày mẹ cố gắng vì con, mẹ không thể đánh bại con đâu. Và thứ Bảy tới là sinh nhật con. Tên khốn đó đã đi hết danh sách các loài hoa, điều đó có nghĩa là bất kể kế hoạch tiếp theo của hắn dành cho con là gì, hắn cần một cơ hội. Chúng ta sẽ cho hắn cơ hội.”

“Lạy Chúa, mẹ đã dạy con thật tốt, phải không?”

“Con sẽ ở đó, giữ khoảng cách an toàn với kẻ tình nghi, và nếu hắn ta quan sát con đủ gần như chúng ta nghĩ, hắn sẽ đi theo.”

“Và đặc vụ Archer trẻ trung, nhiệt tình của chúng ta sẽ thấy đó là một cơ hội để tóm được tên giết người hàng loạt, anh ta sẽ cố gắng, giải quyết vụ án và chứng tỏ bản thân. Anh ta sẽ để con lại một mình nhưng không đi xa.”

“Đó sẽ là một điểm tựa phía sau nếu con hoảng sợ hay có gì đó không ổn xảy ra. Nó sẽ hạn chế tối đa rủi ro.”

Chúng tôi ngồi trong yên lặng, cả hai cùng suy nghĩ về những khả năng.

“Con biết nếu con có chuyện gì, Brandon sẽ tan vỡ.”

Tôi nhìn bà đầy nghi ngại. “Mẹ chưa từng gọi anh là Brandon. Không ai gọi anh là Brandon cả.”

“Nó sẽ làm cậu ta tan vỡ. Con phải biết điều đó, Priya.”

“Con biết. Vì thế con nghĩ Archer là một lựa chọn sáng suốt.”

Nó sẽ không hủy hoại bà, dẫu không ai trong chúng tôi nói ra điều đó. Nó có thể đập vỡ, thậm chí xé nát bà thành nhiều mảnh nhỏ nhưng những mảnh đó sẽ ráp lại, sắc hơn, mạnh hơn, tựa như làm bằng thép nguyên chất, bởi nếu có điều gì Deshani Sravasti không bao giờ trải qua, đó là bị đánh bại. Bất kể chuyện gì xảy ra, bà sẽ không bao giờ để thế giới ngoài kia phá vỡ bà mãi mãi.

Thế nhưng Brandon Eddison có một điều mà mẹ không có: một vết thương chưa khép miệng, vẫn còn rỉ máu mang tên Faith. Anh có lẽ sẽ tìm kiếm cô ấy trong hình hài bất kỳ cô gái tóc vàng nào trạc ba mươi tuổi mà anh bắt gặp nhưng trong tâm trí anh, cô ấy vẫn là em gái nhỏ với những bím tóc và nụ cười răng thưa, quỷ nhỏ đáng yêu không bao giờ phân biệt được công chúa và siêu anh hùng. Cho tới khi - trừ phi - anh tìm thấy cô ấy, vết thương đó sẽ không bao giờ lành.

Và đó là nơi tôi sống, tôi nghĩ vậy, mọi thứ của tôi bao bọc trái tim mong manh dễ vỡ của anh. Tôi bảo vệ phần còn lại trong anh khỏi vết thương này, nhưng tôi cũng làm nó chảy máu, vừa đủ gần, vừa đủ xa. Một cú đánh đủ mạnh vào tôi sẽ làm tan vỡ tất cả nhũng phần còn lại của Faith.

Tôi sẽ không làm Eddison tổn thương vì điều gì nhưng tôi không thể sống cuộc đời mà Inara chỉ cho tôi. Tôi cần công lý chứ không phải hy vọng về công lý, nhưng hơn hết, tôi cần tất cả chuyện này chấm dứt.

“Cho nên con sẽ nói chuyện với Archer vào buổi sáng à?”

Tôi gật đầu.

“Hãy chắc chắn về điều đó, Priya con yêu,” Mẹ nghiêm nghị nói. “Nếu một lúc nào đó con cảm thấy không chắc chắn, hãy quay lại. Chúng ta vẫn có thể giao tên hắn cho FBI.”

“Con biết.”

Sáng muộn hôm sau, khi tôi xuống lầu sau khi đã làm xong bài tập ở trường hôm đó, Archer đang ngồi trên ghế với các bộ phận của một chiếc máy quay vương vãi trên bàn uống nước. “Chào buổi sáng, cô nàng ngủ nướng,” anh chào tôi.

“Tôi làm bài tập chứ không ngủ.” Tôi đi thẳng vào bếp để pha một ly sinh tố cho bữa sáng muộn.

Anh theo tôi vào trong. “Cô có kế hoạch gì cho ngày hôm nay không?”

Tôi vờ như đang suy nghĩ. “Có ổn không nếu tôi tới chỗ chơi cờ?”

“Miễn là đi cùng tôi.”

Tôi rót sinh tố ra hai chiếc cốc du lịch, đưa cho anh một cốc và nâng cốc với anh. “Tôi sẽ lên lấy túi.”

Mắt anh đảo liên tục khi chúng tôi đi bộ. Xe anh đang đỗ trên đường, nhưng tôi nhớ cảm giác được đi bộ và anh chấp nhận. Thời gian thừa để tập trung suy nghĩ chắc chắn không khiến tôi tổn thương. Thật thú vị khi thấy Archer ghi lại và phân loại tất cả mọi thứ xung quanh chúng tôi.

“Theo kế hoạch bảo vệ này, tôi có bao nhiêu phần tự do di chuyển?” Tôi hỏi khi chúng tôi đi qua trạm xăng. “Kiểu như miễn là có anh hoặc Sterling đi cùng thì những chuyến dã ngoại có ổn không?”

Anh liếc nhìn tôi, chắc chắn anh đang rất tò mò. “Cô đang nghĩ gì thế?”

Tôi lấy tấm bưu thiếp có hình Nhà nguyện Shiloh từ trong túi ra và đưa cho anh. “Tôi luôn dành tình yêu cho những ô cửa sổ. Hoặc chính xác hơn, người đó là chị tôi, và tôi thích việc chị tôi dành tình yêu cho những ô cửa sổ.”

“Rối thế nhỉ?”

“Ờ. Dẫu sao thứ Bảy cũng là sinh nhật tôi, mẹ và tôi đã định tới đó.”

“Đã định?”

“Nhưng mẹ tôi lại phải đi làm. Cũng sắp tới ngày chuyển nhà nên giám đốc nhân sự chi nhánh Paris đang lo lắng. Tôi thật sự muốn chụp ảnh nhà nguyện này trước khi chúng tôi đi và ở trong hoàn cảnh bình thường, tôi sẽ đưa mẹ đi làm rồi tự lái xe đến đó.”

“Ừ, nhưng điều đó sẽ không xảy ra.”

“Đó là lý do mà tôi nói là ở hoàn cảnh bình thường. Anh hãy hiểu cho đúng, Archer.”

Anh bật cười, hai vai thư giãn hơn một chút. “Nên cô muốn tôi dành một giờ lái xe đưa cô đi chụp ảnh những ô cửa sổ à?”

Tôi lục lại trong ví, lấy ra vũ khí bí mật của mình: những tấm ảnh tôi yêu thích từ chiếc hộp dưới giường mà tôi dán một nhãn đơn giản Chavi ở nhà thờ. Trên cùng là tấm ảnh tôi yêu thích nhất. Nó được chụp tại một trong những nhà thờ Thiên Chúa lớn ở Boston, với trần nhà cao vút mang lại ấn tượng không trọng lượng, như thể mọi thứ bên trong đó đang trôi nổi giữa một không gian rộng lớn. Chavi đã ngồi đó hàng giờ ở lối đi giữa để tập trung vẽ, còn tôi đã chụp rất nhiều ảnh của chị và nội thất của nhà thờ cùng những ô cửa sổ từ gần như mọi góc độ.

Nhưng tôi lên gác xép nơi dàn hợp xướng chơi nhạc, đứng dựa vào phần nhô ra phía trước, nơi nhạc trưởng thường đứng và chụp ảnh bóng chị đổ xuống ngay phía trước ô cửa sổ đầy nắng, những hạt bụi ánh vàng lên như đang hân hoan quanh chị. Nếu bức ảnh trước là nhân cách của Chavi thì bức ảnh này là linh hồn chị, rực rỡ và tràn đầy kỳ thú.

“Chavi luôn cố bắt được khung cảnh đó trong tranh,” tôi thì thầm, cảm thấy hơi đau đớn khi sử dụng ký ức của chị để lôi kéo. Cố lên nào, Priya. “Màu sắc ấy, anh biết đó, ngưỡng bão hòa và cách ánh sáng được lọc qua. Đôi khi tôi cảm thấy nếu tôi tiếp tục chụp ảnh những ô kính huyền diệu, chị cũng sẽ thấy được chúng.”

Anh lật nhanh qua những tấm ảnh còn lại, trên mặt hiện rõ vẻ phức tạp. Phức tạp là tốt. Phức tạp nghĩa là anh đang nghĩ đúng những gì tôi mong đợi. Chúng tôi có thể thấy chỗ chơi cờ trước khi anh đưa ra câu trả lời cuối cùng. “Chắc chắn rồi, chúng ta có thể đi. Ý tôi là, đó là sinh nhật cô mà.”

“Thật chứ?”

“Ừ, cô vừa bảo tôi thế mà,” anh né tránh và cười lớn khi tôi đập vào tay anh. “Đó là cho chị gái cô.”

“Cảm ơn anh rất rất nhiều.” Tôi lấy lại tập ảnh và cất chúng vào ngăn ngoài cùng của chiếc ví. “Tôi hứa sẽ ở yên chỗ chơi cờ nếu anh đợi trong quán cà phê.” Anh hơi lưỡng lự, nhưng tôi nhướn mày. “Bất kể tên khốn đó là ai, hắn cũng không dám nhảy bổ ra trước tôi khi tôi ở cùng nhiều người đâu.”

“Được thôi, nhưng phải có một người dẫn cô từ đó vào trong này khi mọi người chơi xong.”

“Quyết định thế nhé.”

Anh sẽ gặp rắc rối lớn khi để tôi một mình ở nhà nguyện. Tôi hy vọng anh rút ra bài học từ việc đó để trở thành một đặc vụ tốt hơn. Có lẽ khi đó tôi sẽ không cảm thấy quá tội lỗi.

Gunny tỉnh giấc khi tôi bước tới chỗ chơi cờ, ông cười với tôi qua bàn cờ mà ông đang chơi dở với Jorge. Tôi cười đáp lại ông, có gì đó êm dịu và ấm áp có lẽ chỉ dành riêng cho Gunny, bởi thực ra nó không quá sắc sảo.

Nếu có điều gì tôi học được từ các chức năng công việc thỉnh thoảng mẹ vẫn bắt tôi làm, đó là cách tìm kiếm sự chuyển tiếp trong các cuộc hội thoại và nhẹ nhàng lái chúng theo hướng mà tôi muốn. Trong chuyện này, mẹ xuất sắc một cách đáng sợ. Cho nên khi đang chơi với ông Yelp có đôi mắt đảo như rang lạc và cho phép ông suy nghĩ bao lâu cũng được để quyết định mỗi nước đi bởi những bóng ma của ông khiến ông cứ suy đi nghĩ lại nhiều lần, tôi lắng nghe một đoạn chuyện phiếm về những cuộc hẹn gặp với bác sĩ, những bộ phim và những kẻ ngốc không biết làm sao để lái xe, sau đó Pierce kể rằng em gái ông muốn ông tới kỷ niệm May Day với gia đình.

“Một đứa cháu của bà ấy tích trữ những quả pháo hoa nhỏ ngu xuẩn này, những quả pháo nổ, cháu biết chứ? Chúng rất là ồn nhưng lại không có nhiều tia sáng? Ngay cả khi đã lường trước điều này, ta vẫn…” Ông nói nhỏ dần và rầu rĩ nhìn vào bàn cờ đang chơi với Corgi.

“Cầm lấy cái này đi,” Happy đề nghị và thúc cùi chỏ vào Corgi một cái. Nước bắn tung lên thành cốc đầy bọt mà ông đang cầm, và tôi nghĩ chúng tôi đều đang lịch sự giả vờ như không biết rằng trong đó rượu whiskey và cà phê nhiều như nhau. “Cái cốc xấu xí của ông ấy sẽ khiến cháu gặp nhiều ác mộng hơn cả tiếng ồn.”

“Ông thậm chí không biết ông xấu thế nào đâu, ông già ngu ngốc ạ, ông không thể giữ được một cái gương trọn vẹn cơ mà,” Corgi mãn nguyện đáp.

Tình bạn của đàn ông thật kỳ lạ.

“Có ai khác có kế hoạch gì vào dịp cuối tuần này không ạ?” Tôi hỏi, trong khi di chuyển quân Xe của mình khỏi một vị trí nguy hiểm gần kề.

Yelp đi thăm con gái ông. Ông chỉ tới đó thăm họ mỗi tháng một lần, bởi thỏa thuận chăm nom được đưa ra khi ông đang trải qua một thời kỳ khó khăn và ông không cảm thấy đây là thời điểm ông cần thay đổi nó. Khuôn mặt ông như giãn ra khi nói về họ và tay ông bớt run một chút. Họ không giúp được ông nhiều, tôi nghĩ vậy, nhưng ông sẽ không để mình là gánh nặng của họ vào những ngày tồi tệ của chính ông.

Rồi hóa ra là Steven sẽ có một cuộc hẹn, hầu hết mọi người trong bàn bắt đầu trêu chọc ông về điều đó. Ông chấp nhận tất cả với một nụ cười ngốc nghếch. “Bà ấy là góa phụ Marine,” ông giải thích. “Bà ấy biết điều đó là như thế nào.”

Gunny sẽ tới Denver để xem chắt của ông biểu diễn ba lê, Hannah sẽ lái xe đưa ông đi như thường lệ. “Ta chỉ mong mình có thể thức xem hết màn biểu diễn,” ông thở dài. “Càng ngày ta càng khó kiểm soát cơn ngủ gật giữa chừng.”

“Ông chỉ cần dặn Hannah gọi ông dậy trước bài hát của thằng bé thôi mà,” Phillip nói. “Miễn là ông xem thằng bé biểu diễn ở đó, ông có ngủ suốt những phần còn lại cũng không phải vấn đề lớn đâu.”

Gunny gật đầu, ăn quân Hậu của Jorge bằng quân Tốt và nhìn chéo sang tôi. “Còn cháu, cô Priya? Cháu có kế hoạch gì chưa?”

“Mẹ cháu phải đi làm vào thứ Bảy để hoàn thành nốt vài việc.” Yelp ăn một quân Tượng của tôi. Ông sẽ đánh bại tôi chỉ trong vài nước nữa. “Đặc vụ Archer đã đồng ý đưa cháu tới Rosemont.”

“Có gì ở Rosemont?” Jorge hỏi.

“Một nhà nguyện nhỏ cực kỳ xinh xắn với những ô cửa sổ huyền diệu. Bà thư ký ở nhà thờ mà ông Gunny chỉ cho cháu đã kể cháu nghe về nhà nguyện này. Cháu muốn tới chụp ảnh những ô cửa kính màu.”

“Mất gần một giờ để lái xe tới đó đấy,” Steven nói. “Chỉ để chụp ảnh mấy ô cửa sổ thôi sao?”

“Chị cháu thực sự thích những ô cửa kính,” tôi nói nhỏ. Tất cả những cựu binh đều ngồi ngay ngắn lại, như những chú chim đậu trên dây điện. “Có lẽ đó là cách chào tạm biệt, trước khi mẹ con cháu rời đi.”

“Theo lần cuối ta từng nghe thì ở Paris có rất nhiều ô cửa kính xinh đẹp.” Corgi gãi gãi mũi, những nốt đỏ li ti như bừng lên xung quanh một mạch máu bị vỡ vì áp lực. “Nhà thờ Đức Bà (Notre Dame) ở đó, đúng chứ?”

Tôi kiềm chế một nụ cười với cách phát âm của ông: No- tree. “Vâng, đúng vậy,” tôi đồng ý. “Thật khó để miêu tả bằng lời. Cháu đoán nó giống như… ồ, Chavi từng thấy những ô cửa đó. Chúng cháu đã tới Paris vài lần hồi cháu còn nhỏ, khi chúng cháu còn sống ở London.”

“Cháu từng sống ở London sao?”

“Cho tới khi cháu năm tuổi. Cháu sinh ra ở đó.” Tôi nhún vai trước ánh nhìn ngỡ ngàng của mọi người. “Mẹ cháu đã nhận được một công việc quá tốt ở Boston. Và bà thật sự muốn giữ khoảng cách giữa chúng cháu và hai gia đình, nhưng cháu không thể nói điều đó với những người luôn nhớ về gia đình họ hơn bất cứ điều gì nhưng lại thấy đau khổ dằn vặt từng ngày phải sống bên họ. Không phải tất cả bọn họ, nhưng một số lượng vừa đủ.”

“Giọng cháu nghe không giống như người ở London.”

“Ông chưa từng thấy cháu sau một cuộc đua marathon của BBC.” Và sau đó tôi đi quân Xe của mình. “Cháu đã mất hết giọng London từ hồi tiểu học vì những đứa trẻ cùng lớp trêu cháu quá nhiều và mẹ đã giúp cháu luyện lại giọng nói cho mượt mà hơn. Mỗi khi mệt cháu vẫn sẽ nói giọng London nhiều hơn.”

“Giọng con dâu của ta cũng giống giọng London pha với Minnesota,” Jorge cười. “Nó cũng khá vui về chuyện đó.”

Happy chuyển đề tài của cuộc nói chuyện sang một bài chỉ trích các đường dây chăm sóc khách hàng và tôi để ông dẫn dắt câu chuyện theo hướng đó. Hôm nay là một ngày đẹp trời, bầu trời quang đãng, gió hiu hiu thổi và thời tiết thì ấm áp, tôi những muốn ở đó cả buổi chiều nhưng Archer đang đợi tôi và tôi thật sự cảm thấy an toàn hơn khi ở nhà. Tôi có thể thấy cảnh sát Clare chếch bên phía bãi đỗ xe gần nhà hàng, đang mặc thường phục. Tôi quan sát ông. Tôi không nghi ngờ gì về việc ông sẽ tới chỗ chơi cờ và hỏi thăm về tôi.

Hannah đi bộ cùng tôi trở lại tiệm tạp hóa và ở bên tôi cho tới khi Archer rời mắt khỏi chiếc máy tính bảng và nhìn thấy chúng tôi. Cô quay lại bên ngoài và hôn tạm biệt tôi một cái lên má.

“Anh uống gì?” Tôi hỏi viên đặc vụ. “Tôi mời.”

“Cà phê đen đậm gấp ba lần, cảm ơn cô nhé.”

“Anh định không ngủ trong cả tuần sau đấy ư?” Tôi lùi lại để có thể xếp hàng, và không may đụng phải ai đó. Chiếc túi của tôi rơi xuống sàn, tấm bưu thiếp, ảnh chụp và ví của tôi rơi tung tóe. “Ôi túi của tôi, không.” Tôi ngồi xổm xuống để nhặt chúng, nhưng một bàn tay đã giúp tôi trước.

Tôi ngước lên thì thấy Joshua đang quỳ trước mặt mình, tay anh cầm lấy những tấm ảnh và bưu thiếp của tôi. Tách trà và cuốn sách bìa cứng của anh đặt cạnh đầu gối. Trên cổ áo len mỏng anh mặc treo một cặp kính nhẹ, những chiếc áo len ngư dân dày có lẽ sẽ không được dùng cho tới mùa thu năm sau.

“Cảm ơn anh. Xin lỗi vì đã đụng vào anh.”

“Không sao. Tôi thật sự vui vì đã không làm hỏng những bức ảnh.”

Anh gật đầu chào Archer, một kiểu công nhận mập mờ rằng đặc vụ đã trở lại.

Tôi thả những tấm ảnh và bưu thiếp lên bàn. “Như này tôi cảm thấy an toàn hơn. À, Archer? Để cảm ơn anh đã lái xe đưa tôi đi, tôi sẽ mua cho anh bột cà phê vào thứ Bảy. Tôi muốn tới Rosemont trước khi mặt trời mọc.”

Những lời chửi thề thảng thốt của anh theo sau tôi vào hàng người đang đợi tới lượt.

Khi tôi quay lại bàn với cốc sô cô la nóng của mình và cà phê của anh trong một chiếc tách, Archer đang ngồi một mình bên bàn. “Trước bình minh ư?” Anh chua xót hỏi.

“Hoặc là gần nhất có thể. Anh đã bao giờ ngắm bình minh qua những ô kính màu chưa, đặc vụ Archer?”

“Chưa,” anh rầu rĩ nói. “Tôi thấy ổn nếu giờ giấc không bị thay đổi như thế này.”

“Nhưng đó là sinh nhật tôi mà.”

Anh thở dài và uống một hớp từ tách của mình.

“Đặc vụ Hanoverian, ngài có chuyển phát.”

Eddison nhìn thoáng qua đống giấy tờ của mình và ngước lên cửa phòng họp. Vic và Ramirez đều có vẻ thảng thốt, anh có thể đoán được nhờ khoảng thời gian Vic cần để đứng thẳng dậy.

Sau đó Vic cười lớn. “Mẹ tôi gửi cho chúng ta bữa tối.”

“Chúa ban phước cho bà,” Ramirez lẩm bẩm.

Đẩy những tờ ghi chú sang một bên, Eddison nhận bát bò hầm vẫn còn ấm và món cuốn phết bơ bọc giấy thiếc. “Bà quả là một thiên thần,” anh đồng ý.

Họ tập trung ăn uống một lúc. Họ đã ăn trưa từ lâu. Khi Vic chia những mẩu bánh óc chó cho mọi người, họ quay lại công việc của mình.

“Những cô gái này trở nên quan trọng với hắn,” Vic nói. “Bất kể hắn đang gìn giữ sự thuần khiết của họ hay trừng phạt sự độc ác của họ, đó vẫn là việc làm mang tính cá nhân đối với hắn ta.”

“Thế câu chuyện về Darla Jean thì sao?” Ramirez bắt đầu xếp nếp tấm giấy thiếc thành hình một chiếc quạt. “Cô ấy không chỉ là nạn nhân đầu tiên; cô ấy còn hình thành động cơ của gã.”

“Tất cả những người được phỏng vấn đều nói rằng cô ấy là gái ngoan. Bạn trai của cô ấy nói rằng họ chỉ mới hôn nhau lần đầu cho tới trước khi cô ấy bị giết. Mọi người trong thị trấn đều biết và yêu quý cô ấy.”

“Nhưng cô ấy đã bị cưỡng bức,” cô đáp. “Sự bệnh hoạn của hắn làm hắn thấy điều gì đó là tội lỗi. Có thể chính là nụ hôn đấy.”

Vic cầm tập hồ sơ của Darla Jean, đọc qua những nhận xét được thu thập. “Anh bạn trai không hề nhận ra ai xung quanh cho tới khi vị mục sư ra khỏi văn phòng. Sau đó anh ta về nhà, vị mục sư không thấy ai khác ngoài Darla Jean, sau đó ông đi bộ vào thị trấn. Theo tất cả những gì ông biết, khi đó Darla Jean ở một mình.”

“Cô thậm chí còn không cố gắng chạy thoát,” Eddison chỉ ra. “Cô không cố gắng chống cự cho tới khi mọi việc quá muộn. Đó không chỉ là một người cô biết, đó là một người cô tin tưởng.”

“Kể cả khi cô bị cưỡng bức, khả năng đầu tiên vẫn thường là người trong gia đình gây ra,” Ramirez nói. “Bố, anh em trai, anh em họ, ai đó nhìn thấy nụ hôn kia, quyết định những hành động xấu xa của cô khiến cô không xứng đáng thuộc về gia đình nữa.”

“Bố của Darla Jean đã mất hai năm trước khi xảy ra vụ án của cô ấy vì một cơn đau tim, và tất cả anh em họ của cô đều quá trẻ hoặc không ở thị trấn. Cô đúng là có một người anh.” Vic lật nhanh qua vài trang trong hồ sơ. “Jameson Carmichael; khi ấy hai mươi mốt tuổi. Tốt nghiệp năm hai mươi tuổi tại Đại học Texas với tấm bằng Thiết kế web. Có một công việc trong một công ty marketing nhỏ trên thành phố, hàng ngày đi làm từ căn nhà của anh ta ở Holyrood.”

“Anh ta có nằm trong danh sách không?”

Eddison lắc đầu, mặc dù đã kiểm tra chéo hai lượt. Anh gõ thử tên người này vào máy tính bảng, sau đó bắt đầu lọc các kết quả tìm kiếm. “Trông không giống như anh ta ở trong một danh sách nào gần đây. Anh ta đã nghỉ việc và rời khỏi Holyrood/San Antonio vài tháng trước khi em gái mình chết. Anh ta được nhắc đến trong một vài bài tưởng nhớ và bài báo, nhưng ngoài ra không còn thông tin gì.”

“Ồ, việc này nghe có vẻ bất thường.”

Cầm lấy điện thoại, Eddison ấn một dãy số và bật loa ngoài, rồi để điện thoại giữa bàn.

“Anh cần gì vậy?” Yvonne hỏi thẳng, bỏ qua tất cả những lời chào hỏi đầu tiên.

“Sự thông thái và chỉ dẫn của cô,” anh đáp. “Ít nhất là những kỹ năng máy tính siêu phàm của cô. Cô có thể tới đây tối nay không?”

“Tôi phải trông con một mình nhưng tôi đã mang máy tính an ninh về nhà nên có thể truy cập tất cả hệ thống của mình. Ai cần tôi nào?”

“Chúng tôi,” Ramirez cười lớn. “Chúng tôi đang tìm kiếm Jameson Carmichael; anh ta là anh trai của Darla Jean.”

“Và cô có thể sắp xếp cho chúng tôi những cuộc gọi gần đây tới các tiệm hoa không?” Eddison hỏi.

“Các anh có biết có bao nhiêu nhà phân tích đang thầm ghét các anh không?” Họ có thể nghe thấy tiếng click chuột qua điện thoại, cả tiếng trẻ em bi bô nữa.

“Tôi biết công việc này rất mệt đầu nhưng liệu gọi cho các tiệm hoa có phải là điều tệ nhất chúng tôi từng yêu cầu mọi người thực hiện không?”

“Tôi biết khá rõ số tiệm hoa trong bang Colorado. Các anh có nghĩ tôi muốn biết điều đó không?”

“Tôi chắc chắn rằng có một số lượng nhất định những người chồng trong bang Colorado thật sự biết ơn bảng thống kê của cô đấy.”

“Dễ thương đó, nhưng gọi nó là Google. Gã đàn ông các anh đang tìm - Carmichael - có khả năng đã chết vô danh ở nơi nào đó? Bởi anh ta thật sự biến mất từ khi rời nhà. Anh ta đã đóng tài khoản ngân hàng nhưng có vẻ như không mở một tài khoản khác. Bằng lái xe của bang Texas đã hết hạn, chưa bao giờ được gia hạn lại, nhưng anh ta cũng không làm lại ở bất kỳ nơi nào khác. Không hóa đơn, không vé, không hợp đồng thuê hay tước danh, không hộ chiếu, không giấy nhập viện bằng tên anh ta. Anh ta cũng không bị giam giữ héo hon trong tù, trừ khi là một kẻ vô danh hoặc đang chịu án dưới một cái tên khác. Có thể anh chàng mà các anh đang tìm kiếm đã chết, đang bị mất trí nhớ hoặc anh ta đã xây dựng cuộc đời mình dưới một cái tên khác.”

“Còn chiếc xe đăng ký dưới tên anh ta thì sao? Cô có thể lần theo mã số nhận diện xe để xem liệu anh ta có bán lại hay đăng ký lại ở đâu không?” Vic hỏi.

“Thật sự là tôi có thể làm được, nhưng anh ta đã không bán hay đăng ký lại. Chiếc xe đã bị hỏng nặng một vài tuần sau khi em gái anh ta qua đời. Cảnh sát và bên bảo hiểm đều báo cáo rằng anh ta đã đâm phải một đôi nai.”

“Nai làm hỏng chiếc xe ư?”

“Ồ chuyện này xảy ra như cơm bữa,” Yvonne trả lời. “Bambi và cô bạn gái của nó hoàn toàn có thể làm phần đầu xe anh nát bét. Carmichael đã đặt cọc thanh toán bảo hiểm khoảng hai tuần trước khi đóng tài khoản.”

Eddison lắc đầu. “Cô có thể tìm được những thông tin này chỉ trong vài giây nhưng lại mất cả đời để tìm xem ai đã bán mấy bông thược dược gần đây.”

“Ừ thì lần này anh cho tôi một cái tên, anh bạn ạ, không phải hàng trăm doanh nghiệp và chủ cửa hàng - họ không phải lúc nào cũng nhấc máy hoặc gọi lại.”

“Tôi xứng đáng với điều đó mà,” anh nói với vẻ rụt rè.

“Vâng, vâng, anh xứng đáng.”

“Tôi xin lỗi, Yvonne.”

“Này, tôi biết vụ này rất quan trọng,” cô dịu giọng. “Nếu tôi có thể cho thế giới này một cú đá hay một lời nguyền và khiến nó quay nhanh gấp mười lần, tôi sẽ làm như thế.”

“Tôi biết.”

“Carmichael nên có dấu vân tay được ghi lại từ vụ điều tra đó, cô có thể tìm kiếm chúng, xem liệu chúng có xuất hiện ở đâu khác không?”

Ramirez liếc nhìn Vic, vài lọn tóc xoăn của cô rơi khỏi chiếc bút chì cài trên tóc. “Chúng tôi không có dấu vân tay của kẻ sát nhân ở bất cứ hiện trường vụ án nào.”

“Không, nhưng có lẽ hắn đã để lại dấu vân tay dưới một cái tên khác. Tên có thể thay đổi nhưng dấu vân tay thì không thay đổi nhiều.”

“Không có gì cả, sếp ạ.”

“Nhưng vẫn đáng để hỏi,” Vic thở dài. “Cảm ơn Yvonne và làm ơn hãy gửi cho chứng tôi bản danh sách cập nhật.”

“Tôi sẽ gửi, thưa các đặc vụ. Hãy cố gắng ngủ một chút.” Cô cúp máy, và Eddison ấn tắt loa ngoài.

“Cô ấy nói đúng, về nhà đi, cả hai người.”

“Vic à…”

“Chúng ta đều đã kiệt sức rồi,” đặc vụ cấp cao nhắc nhở họ, sau đó đứng lên. “Đi về. Ngủ. Quay lại chỗ tôi vào buổi sáng. Mẹ tôi sẽ rất vui lòng nếu có cơ hội nấu cho hai người ăn và tôi có thể cập nhật tình hình cho Finney.”

Eddison hơi lưỡng lự, nhìn vào xấp giấy tờ và hồ sơ trên bàn. Anh có thể nghe thấy Vic và Ramirez càu nhàu với nhau, sau đó cánh cửa đóng lại. Một cánh tay lớn nắm lấy vai anh. “Vic…”

“Brandon.”

Anh ngước nhìn. Vic chỉ dùng tên anh khi ông muốn chắc chắn rằng anh đang sự chú ý.

“Ngày mai là sinh nhật Priya,” Vic nói nhỏ. “Cậu biết đó là một ngày khó khăn đối với cô ấy. Cô ấy sẽ cần cậu nhất đấy.”

“Nhưng nếu sự cố gắng tốt nhất của tôi là chưa đủ thì sao?” Thay vì trả lời, Vic nắm chặt vai anh và thả ra.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của dot hutchison