Độc giác

Lượt đọc: 794 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ĐỘC GIÁC
những mẩu đối thoại

Ông không thích người ta gọi ông là thầy.

- Người thầy là một người biết làm những gì đã dạy. Còn tôi, tôi còn chả biết tôi dạy những gì.

Một lần người ta hỏi ông:

- Ngài là kẻ đã nhập định?

Câu trả lời:

- Nếu đó là đặc quyền thì không. Nhưng nếu đó là trách nhiệm sống ngày càng tăng thì đúng.

- Tôi đã học nhạc, nhưng không soạn, từ đó đến nay bằng tri thức nhưng không ghen tị, tôi nghe nhạc. Tôi đã học các thể loại khoa học, các loại nghề, học nghệ thuật, tôi am hiểu chúng nhưng không sử dụng, và thế là tôi có thể thưởng thức chúng một cách không vị lợi. Chỉ còn viết là thứ tôi cần từ bỏ nữa thôi, và lúc đó tôi có thể ngưỡng mộ nó mà cũng không cần sự ghen tị.

Ta duy trì và sẽ luôn luôn duy trì quyền được lên tiếng của ta.

Tối tối ông thường lặng lẽ dạo chơi một mình. Khi quay về, ông viết một cái gì đó, thơ, vài câu, hoặc duy nhất một từ.

- Cây, bầu trời, gió, chim hoặc những ngôi sao ngày nào cũng tặng ta phẩm vật. Ta đã tìm thấy trục của thế gian.

Hôm sau ông nhắc lại:

- Ta đã tìm thấy trục của thế gian.

- Như thế nào - tôi hỏi - trục của mỗi ngày? và mỗi ngày đều khác?

- Thế gian có vô vàn trục của nó, một số cái cùng lúc quay trong vô số hướng, quay theo mức độ thời gian khác hẳn nhau hoặc trùng hợp nhau.

Một lần ông nói:

- Không phải đạt tới đích khi ta đã cạn kiệt mà khi ta tìm ra cái vô tận.

Lúc khác ông bảo:

- Nếu bạn xuất phát từ sự vô hạn của thế gian, bạn sẽ không bao giờ đạt tới sự thật. Bạn nhận biết ra một cái gì đó nếu bạn hiểu niềm hứng khởi cá nhân của kẻ sáng tạo. Là một điều quan trọng đối với kẻ sáng tạo. Kẻ xuất phát từ sự vô hạn, sẽ đạt tới con số. Kẻ xuất phát từ cái vô tận sẽ tìm thấy bản chất của sự vật. Chừng nào kẻ sáng tạo còn có cảm hứng, sự vật còn đó, nếu kẻ sáng tạo hết quan tâm, sự vật hỏng rữa. Cái ta gọi là lực tương tác lẫn nhau (gravitácio) chính là trọng lực cá nhân trong sự vật.

Không có sự sống độc lập với cá nhân.

Chuyện xảy ra trong thời điểm thu hoạch nho, một ngày tháng chín ấm áp, buổi trưa, trong ruộng nho. Chúng tôi ăn thoải mái các loại nho khác nhau đã chín. Sau bữa trưa chúng tôi chậm rãi, im lặng và no đủ đi về phía nhà nuôi ong, trên con đường rải sỏi ngập nắng. Chúng tôi ngồi im lặng hồi lâu trong tiếng ong vo ve.

Rồi ông cất tiếng:

- Thôi được rồi. Ta sẽ thử trả lời câu hỏi của bạn. Cái ta nói là lí thuyết và ta dựng nó lên, sự cần thiết, rằng ta không độc đáo hơn kẻ khác, bởi vậy, hãy có thứ lí thuyết của ta, và ta hãy làm một điều gì đấy cần bị thất bại. Cuộc đời của ta bước sang một thời kì mới khi ta nhận ra sự vinh quang và sự thành công không giống nhau.

- Tôi không hỏi một Con Người Lớn là như thế nào, vì người ấy sinh ra đã là như vậy, không cần quan tâm. Tôi muốn hỏi một Đời sống Lớn là gì, làm sao thực hiện được nó.

- Điều này tất nhiên là như vậy, đúng thế, quá thông minh. Gần như là khoa học. Hãy tính cả đến sự long trọng của nó, và cả điều này nữa: tôi chống lại sự giả bộ của trí thông minh và khoa học.

- Người ta cho rằng một Con Người Lớn là một bản sao đặc biệt và hiếm hoi. Cái cực kì. Một thiên tài. Kẻ ngoại lệ. Hoặc thảm hại hoặc điên khùng. Sau cùng là một kẻ rồ dại.

- Trong định nghĩa này tôi muốn nhìn thấy sự trả thù của kẻ muốn hạ thấp con người và coi Con Người Lớn là một ngoại lệ để khỏi phải nhìn thấy tác động bắt buộc của người ấy lên nó.

- Bí mật của một Con Người Lớn không phải sự rồ dại, mà ngược lại, là sự khỏe mạnh. Đấy không phải một kẻ ngoại lệ mà là một con người phổ quát và bình thường. Ngoại lệ là những kẻ khác. Rồ dại là kẻ không giống người ấy. Đời Sống Lớn là đời sống của một người bình thường, còn đời sống của đám đông là nhà thương điên và rạp xiếc. Bí mật của một Con Người Lớn: đấy là người duy nhất không có bí mật. Đấy là người mang tính phổ quát, tự nhiên, giản dị và mang tính người thực chất.

- Ở những kẻ khác chỉ toàn là những điều bí mật, giấu giếm, rối loạn, ngoại lệ, che đậy, bê bối, đặc quyền, đặc tính, méo mó, điên rồ, như trò hề rạp xiếc. Chỉ từ một Con Người Lớn tôi biết ai là người thực chất.

- Chừng nào tôi còn cho rằng một Con Người Lớn là ngoại lệ, chừng đó vị trí của tôi vẫn bất hạnh như của nhiều kẻ khác. Tôi bắt buộc phải nhìn thấy Con Người Lớn sinh ra đã như thế. Không có cách khác. Trong ý nghĩa rằng: người ấy không chỉ bình thường mà còn khỏe mạnh và đầy tính người, và tôi đã đạt đến bản chất. Giờ đây tôi có thể bình thản tuyên bố: không quan trọng là làm thế nào để có thể là một Con Người Lớn, mà là làm thế nào để có thể có một Đời Sống Lớn. Câu hỏi này chẳng khác câu hỏi làm thế nào để có thể có một đời sống thực chất, bình thựờng và khỏe mạnh. Đây là câu hỏi đầu tiên trong vô số các câu hỏi.

- Với câu hỏi đầu tiên không có câu trả lời bởi vì đây là câu hỏi của sự ngoại lệ. Với những câu hỏi sau có câu trả lời, vì đó là câu hỏi của tất cả mọi người. Một ai là Con Người Lớn cần sinh ra nó đã như thế, hoặc không. Đời sống Lớn ai cũng có thể đạt tới. Đạt tới bằng cách làm thế nào để biến một đời sống hư hoại, bất thường, mỏng manh, điên rồ, bệnh tật, méo mó và ngoại lệ thành một đời sống bình thường, khỏe mạnh, có ý nghĩa, phổ quát và tỉnh táo. Một đời sống người thực chất.

- Một giai đoạn mới trong đời tôi bắt đầu, khi tôi nhận ra vinh quang và thành công không giống nhau. Thành công là sự vật của sự ngoại lệ. Của tài năng. Là sự trình diễn, trò xiếc, kỉ lục, kết quả, cá nhân, sự đặc biệt. Còn vinh quang là sự sáng sủa, là tính phổ quát, nhận thức, sự lành mạnh, là sự vật của sự thật.

- Thành công nằm trong hướng nhỏ nhất, sự vinh quang nằm trong hướng phản kháng lớn nhất.

- Con người của thành công là con người bé nhất, con người của vinh quang là con người lớn nhất.

- Vị trí của thành công là đường phố, vị trí của vinh quang là nhà kho bí mật của trái tim bạn.

- Mới đây người ta vừa nghĩ ra trò hạ nhục kẻ đã chết một cách công khai. Kẻ đã mất, khi không còn biết tự bảo vệ nữa sẽ bị dựng thành tượng, lấy tên đặt cho một ủy ban kỉ niệm, in thành tem thư và khắc vào huy hiệu, rồi lấy tên của họ đặt cho đường phố.

Bạn rất biết tôi không phải một Con Người Lớn nên sự lăng nhục những gì lớn lao không động đến tôi. Tôi muốn di chúc lại rằng, đừng viết những kỉ yếu về tôi, những người bạn hãy đừng viết hồi kí về tôi, đừng đọc điếu văn cho tôi, đừng lấy tên tôi đặt tên đường phố, đừng vẽ chân dung tôi, đừng dựng tượng tôi, đừng xây mộ và tượng đài cho tôi, đừng sử dụng tên tôi làm một giải thưởng văn học lớn.

- Tóm lại tôi đã chọn con đường khó nhất. Con đường thiếu vắng nhà cầm quyền và một sự quy định chuyên biệt.

- Sống không có nhà cầm quyền chỉ có nghĩa chừng này: sống không có sự bảo vệ, không chính danh, không cha.

- Sống không có sự quy định chỉ có nghĩa chừng này: sống thiếu những quy định, thiếu những từ ngữ hiểu theo những ý nghĩa nhất định, sống thiếu các lí thuyết, các điều kiện, các thế giới quan.

Theo Thomas à Kempis: Chẳng thà tôi mong ước được trải nghiệm sự lo lắng quan tâm còn hơn là chỉ biết định nghĩa nó.

- Sống thiếu nhà cầm quyền chỉ có nghĩa chừng này: đứng không có sự giúp đỡ, bắt buộc trong từng khoảnh khắc ta phải sống trọn vẹn toàn bộ sự sống của ta.

- Nói và viết thiếu sự quy định chỉ có nghĩa chừng này: định nghĩa lại toàn bộ trước khi lên tiếng.

- Với Socrates và Khổng Tử thật dễ dàng. Một lần và mãi mãi họ tin chắc rằng ý nghĩa sau cùng của ngôn từ được sử dụng đúng chỗ của nó. Còn chúng ta không tin điều này, với chúng ta ý nghĩa của ngôn từ không còn nữa.

Hãy nhân danh cá nhân, tự do và tình yêu thương.

- Rilke nói: Một lần. Không bao giờ. Không bao giờ thêm một lần nữa. Chỉ đúng một lần. Tất cả chỉ đúng một lần.

- Đứng ở ngưỡng. Liên tục trong sự bước qua, chuyển hóa. Sống như chết, chết như sống.

- Khoảnh khắc. Đấy là nhân cách. Một. Một lần. Không bao giờ. Không bao giờ thêm một lần nữa. Kẻ nào đạt tới điều này, tự do. Và nếu nó tự do, nó thấy cái khác không đáng, chỉ cái nhiều nhất. Sự Yêu Thương.

- Philosophia normalis - triết học bình thường.

Phần thứ nhất: xóa sổ hoàn toàn khái niệm thiên tài.

Phần thứ hai: một con người bình thường (khỏe mạnh, lành lặn, không hư hoại).

- Baader: con người không phải là một tiểu vũ trụ (mikrokozmus) mà là một tiểu Thượng Đế (mikrotheos).

Một triết học bình thường là tiểu triết học nhân văn (mikroteisztikus).

- Điều kiện đầu tiên: kiếm tìm nền tảng cơ bản.

Ở trại nuôi ong ông cũng nói điều này:

- Bạn hãy nhìn những người tàn tật. Mỗi người một kiểu. Người thì gù lưng, người thì lệch vai, kẻ tay khòng khoèo, kẻ chân co quắp. Thật là những dị bản! Mỗi kẻ là một cá nhân. Không kẻ nào giống kẻ nào. Mỗi kẻ đều chỉ mặc được thứ quần áo may riêng cho họ, những đôi giày chỉ riêng họ xỏ nổi. Tất cả đều là ngoại lệ. Những mức độ khác thường.

- Mức độ của con người khỏe mạnh và lành lặn như nhau. Đây chỉ nói về các tỉ lệ.

- Khỏe mạnh chỉ có nghĩa chừng này: trở thành gù lưng, lệch vai, co quắp chân. Trở thành kẻ bị hư hoại, hay người tàn tật. Người ta gọi bản chất ngoại lệ của một cái TÔI là tài năng. Trong con người đó phi mức độ. Mũi to, mắt mù lòa hoặc thọt chân.

- Đối diện với kẻ tài năng là con người bình thường giản dị và minh bạch. Màu trong suốt khởi thủy.

- Bệnh tật là sự tò mò và li kì. Sự khỏe mạnh không tò mò và không li kì. Sự khỏe mạnh đẹp đẽ. Cái đẹp là mức độ cổ. Mức độ cổ phổ quát.

- Cái đẹp cổ của con người bình thường và khỏe mạnh đều có thể trả lại trong tất cả mọi con người.

- Cái Đẹp là con người và nền tảng cơ bản thế gian của nó.

- Hölderlin: Bạn đang ở đây trong cái đẹp của thời Khải Huyền.

- Chúng ta cần gánh chịu đến cùng sự hư hoại đã khoác lên chúng ta trong thân xác.

- Bí ẩn không thể hiểu nổi của con người là nó sống một đời sống đích thực độc lập với số phận của nó.

- Con người có thể độc lập hóa mình với số phận như thế nào?

Nếu nó uống đến giọt đắng cuối cùng (cốc đắng).

- Nghịch lí của sự sống: kẻ hạ gục số phận là kẻ khoác toàn bộ số phận lên bản thân mình. Khiêm nhường. Dâng hiến. Phụng sự. Kiên nhẫn. Chỉ ai phụng sự người ấy tự do. Chỉ ai khiêm nhường, người ấy mới thống trị.

- Con người cùng lúc có thể vừa tò mò vừa lãnh đạm. Cùng lúc có thể vừa gần gũi vừa xa xôi. Cùng lúc có thể vừa ngập đến tận cổ trong số phận vừa đứng ngoài số phận. Có thể cùng lúc vừa phụng sự vừa tự do. Có thể cùng lúc vừa khiêm nhường vừa thống trị. Có thể cùng lúc vừa là một cá nhân vừa không là gì hết.

- Khoác lên bản thân chính số phận của mình, sẽ mang lại một khe hở nhỏ xíu giữa lúc uống cạn cốc đắng (đau khổ) và chiêm ngưỡng sự thống lĩnh của tự do hoàn hảo (hạnh phúc). Con người có thể chui ra khỏi thời gian và không gian qua cái khe nhỏ xíu này.

- Thượng Đế vẫn còn xa lắm.

- Sự sống đích thực. Cuốn sách giáo khoa của sự sống đích thực là lời tuyên bố (là Đấng Thể Hiện).

- Keats: divine melodious truth - Sự thật là giai điệu của Trời.

- Tôi không nhận ra sự khác biệt của con người năng động và con người suy tư. Lí tưởng và hiện thực không tách rời khỏi nhau. Không có chuyện có cái này mà lại thiếu vắng cái kia. Lí tưởng và hiện thực tách bạch nhau: bắt đầu danh nghĩa và sự giả dối.

- Hölderlin: Dem Höchsten aber ist fast zu wenig das Wirken - kẻ muốn điều cao nhất, hành động gần như vẫn còn ít đối với kẻ ấy.

- Triết học không là sự dạy dỗ mà là một trạng thái.

- Philo Sophia. Yêu say đắm Sophia, người đàn bà đẹp nhất.

- Nếu người ta sỉ nhục tôi, tôi chịu đựng tương đối dễ dàng, vì đấy không phải tôi. Nhưng nếu người ta sỉ nhục sự thật, tôi không chịu nổi, vì họ đã chạm đến cá nhân tôi.

- Nếu người ta tấn công sự thật, tôi không bảo vệ mình mà tôi bảo vệ người đàn bà mà tôi yêu.

- Tôi muốn mô tả những điều khó khăn nhất của đời tôi. Buổi sáng, khi tỉnh dậy tôi muốn lặp lại ngày hôm qua một cách tự nguyện. Năm ngoái vào tất cả các mùa hè. Những điều trước trong mọi tư tưởng của mình. Cuộc đời của cha tôi trong đời tôi. Lặp lại. Lặp lại vĩnh viễn.

- Chúng ta sống trong vòng quay của vũ trụ và tất cả chúng ta đều muốn vĩnh viễn quay. Thức dậy như mặt trời, lặng xuống và một lần nữa lại thức dậy. Sang xuân và chín muồi, thiu thiu ngủ dưới tuyết và một lần nữa lại sang xuân. Sống, thu thập sức lực trong cái chết và phục sinh.

- Sự va đập lớn nhất của đời tôi luôn luôn với cái mới. Với khoảnh khắc. Với cái bất ngờ, với cái khó chịu, với cái không lường trước, với cái đột ngột. Đây là những cái bắt buộc phải dẫn đến suy tư. Thaumedzein - cái làm rúng động. Tôi luôn luôn muốn lặp lại. Quay. Và cái trong khoảnh khắc luôn luôn lay thức tôi dậy.

- Cho đến chừng tôi nhận ra, có hai thế gian. Một thế gian lặp lại là của luật pháp, của sự lường trước, của luân hồi. Sự chuyển động vòng tròn.

- Và một thế gian của cái mới luôn luôn thuộc về tự do, của cá nhân, của sự không lường trước, của ân sủng. Một lần. Luôn luôn chỉ một lần. Luôn luôn lần đầu tiên, luôn luôn lần cuối cùng.

- Không kiếm tìm pháp luật. Trở thành tự do. Không thích nghi. Quyết định. Không là thói quen. Cái không chờ đợi. Cuộc mạo hiểm. Sự hiểm nguy. Sự liều lĩnh. Sự dũng cảm.

- Tôi cho rằng giữa thế gian của sự lặp lại với thế gian của cái mới, tồn tại mối quan hệ bài trừ lẫn nhau như giữa thế gian của kẻ theo Kitô giáo và kẻ không theo Kitô giáo. Thế gian không-Kitô giáo nằm trên luật pháp và những điều chỉnh sự lặp lại. Sự đột nhập đáng sửng sốt của ân sủng duy trì thế gian Kitô giáo.

- Con người của pháp luật là con người của quy tắc. Là có thể lường trước, tin cậy. Là hành vi. Là con số. Con người của tự do là một chủ thể cực nhỏ (infimtezimalis). Là sự không lường trước. Là tự do.

- Nỗ lực lớn nhất đời tôi là tôi đã biết phá tan vòng quay của những sự lặp lại vĩnh cửu để biến thành đường parabol.

- Tất cả mọi người chỉ một lần. Tất cả mọi người là lần đầu tiên. Và tất cả mọi người là lần cuối cùng.

- Pascal định nghĩa con người là thứ ở giữa hai cực vô hạn, vô hạn vi mô và vô hạn vĩ mô.

- Upanisad cho rằng: vô hạn vi mô và vô hạn vĩ mô chính là bản thân con người. Con người bé hơn cả một hạt lúa mì, bé hơn cả một hạt kê, con người to hơn cả trái đất, to hơn cả mặt trời, to hơn cả thế gian, to hơn tất cả mọi thế gian gộp lại.

Bản thân tôi chỉ chính tôi duy trì nó bằng cái giá của sự dâng hiến.

- Bản chất tôi, kẻ vì tôi mà dâng hiến mãi mãi, dâng hiến muôn đời, nằm trong sự vô hình. Và đến cả sự vô hình nó cũng từ bỏ, nó giúp tôi như vậy đó. Không bao giờ nó biểu lộ bằng cái khác, ngoài sự duy trì khả năng sự sống của tôi. Nó đấy, kẻ tôi nói về nó rằng: không là gì cả. Không là ai. Vũ trụ. Cái chủ thể cực nhỏ (infinitezimalis szubjektum). Nó là tự do và sự hiện hữu toàn bộ, kẻ bằng sự dâng hiến tạo ra và duy trì tôi. Bản chất thực sự của chúng ta cháy trong ngọn lửa của sự hiến dâng không ngừng nghỉ.

- Cái gọi là sự hiện hữu phi chất lượng không có. Hoặc tôi tạo dựng hoặc tôi tàn phá. Hoặc tôi cho hoặc tôi lấy. Hoặc tôi sản xuất hoặc tôi tiêu thụ. Hoặc tôi dâng hiến hoặc tôi ăn bám (kí sinh trùng).

- Cái người ta gọi là chủ thể không là gì khác ngoài một viễn cảnh. Nơi, từ đấy nhìn rõ nhất. Cái vô hình. Nơi toàn bộ có thể thấy cùng một lúc.

- Không có khách thể. Hiện thực duy nhất không thể nắm bắt và vô tận vô hình và phi xác định. Ngoài ra nó như thể nhìn thấy, như một bộ phận, một sự đông cứng quặn lại của cái vô hình này.

- Khách thể-phức hợp. Niềm tin rằng ngoài sự bấp bênh ra còn một cái gì đó.

- Khách thể là bái vật. Niềm tin rằng ngoài sự phân vân ra còn một cái gì đó có thể xác định, ngoài sự bấp bênh ra còn một cái gì đó chắc chắn, ngoài sự vô toàn ra còn một cái gì đó an toàn, ngoài sự yếu đuối ra còn một cái gì đó là sức mạnh, ngoài sự bất lực ra còn một cái gì đó là quyền lực, ngoài sự vô tận ra còn một cái gì đó làm cạn kiệt được, ngoài sự vô hình ra còn một cái gì đó hữu hình.

- Mi hãy đừng tạo ra những bức ảnh tượng đẽo. Mi hãy đừng tạo ra bái vật. Mi hãy đừng làm ra các lí luận, lí thuyết và các thế giới quan.

- Cái khó nhất là cái dễ nhất, cái ai cũng đều biết. Cái dễ hơn và cái khó hơn, giống như mi hãy đi đi và cho tất cả mọi thứ của mi? Cho tất. Không chỉ nhà của mi, áo quần, thức ăn đồ uống của mi, đồ đạc, ruộng đất tiền bạc bát đĩa, chăn màn giường chiếu của mi, đừng giữ lại ngay một cái chăn duy nhất, một cái khăn mùi xoa duy nhất, một cuốn sổ tiết kiệm duy nhất.

Hãy cho đi các nguyên lí, kiến thức, tri thức của mi như cho của cải, chỗ ẩn náu, thế giới quan, hầm trú ẩn của mi, tóm lại hãy cho đi toàn bộ những cái gì của mi.

- Tôi đứng dưới sự bảo vệ đặc biệt của Thượng Đế. Điều này không có nghĩa rằng tôi đặc biệt đáng sợ, mạnh và cực kì quyền thế. Trái lại, điều này có nghĩa rằng chẳng ai nên sợ tôi gây ra điều gì cho họ. Thượng Đế đặc biệt bảo vệ những kẻ không được ngài cho quyền lực, sức mạnh và của cải.

- Đứng dưới sự bảo vệ đặc biệt của Thượng Đế, có nghĩa là tôi ủy thác tôi cho ngài. Tôi tin chắc rằng ngài biết hơn tôi rằng tôi có thể làm được gì.

- Sự ngu ngốc vô giới hạn của lòng kiêu ngạo là niềm tin rằng, ta là kẻ biết rõ nhất ta cần cái gì. Người ta chịu đựng tôi nhiều hơn là tôi chịu đựng mình.

- Nếu người ta không cứu mi, bản thân mi cũng không cứu nổi mi đâu, đồ điên!

- Sự yếu đuối của tinh thần. Mới quyền thế làm sao.

- Điều này, rằng tôi ủy thác mọi việc của tôi cho Thượng Đế, đấy là việc của riêng tôi. Nhưng nó có nghĩa gì đối với kẻ khác?

- Tinh thần lớn lên từ bên trên xuống phía dưới.

Sau chiến tranh thế giới II. Một lần, cuối tháng Tám tôi đến thăm ông. Đấy là một năm khá giả, phước lành tỏa trên những khuôn mặt người, trên những vòm cây nặng trĩu tán lá sum sê, trên những ngôi nhà no đủ và trên những con vật béo tròn.

Chúng tôi ngồi dưới lùm cây, trên bàn là bánh nhồi hạnh nhân và mật. Tôi chưa bao giờ thấy ông nói nhiều đến thế.

Đầu tiên tôi nói những ý nghĩ của tôi. Sau đó ông lên tiếng:

- Ta nghe thấy sự trách móc trong giọng nói của bạn. Phải chăng bạn đang kết án dân tộc này, một dân tộc đang sinh sôi như lúa mì và rượu. Bạn đợi một quyết định từ họ, phải chăng một sự nổi loạn và bạn nghĩ rằng nếu có thể phải cưỡng bức họ bằng roi. Bạn bảo họ vô cảm và lãnh đạm. Họ đang ngủ. Và giấc ngủ này, đặc biệt hôm nay, là tội lỗi.

- Tôi luôn luôn thấy quả thật tôi đã lựa chọn đúng. Lựa chọn đúng, tại đây trong cái dân tộc đang ngủ này, bởi thà vẫn ngủ nhiều như vậy còn hơn sống như vậy.

- Đây là dân tộc và đất nước của BerzsenyiKisfaludy Sándor. Bạn có thể hủy hoại nó nhưng sẽ không bao giờ đánh thức dậy nổi thời hoàng kim của nó nữa. Đây là đất nước của bầy ong.

- Bạn nói gì về cái thế gian bạn vừa từ đấy tới? Máu, răng đánh vào nhau lập cập, nỗi sợ hãi. Đây là cái thế gian đối kháng với thế gian sẽ phục hồi từ vĩnh hằng.

- Tất nhiên bạn không hề nghĩ đến chuyện cân nhắc cái bản án của bạn chống lại cái thế gian đẫm máu này. Nếu bạn làm, rất có thể sẽ không thể tha thứ được. Định mệnh của họ là vĩnh viễn nhầm lẫn. Là luôn luôn bất hạnh. Và họ cam chịu là nạn nhân thay chúng ta uống sạch chén thuốc đắng của sự rồ dại. Đây là ảo ảnh của lịch sử.

Nhưng dân tộc này sẽ luôn luôn phản đối chống lại việc người ta lừa dối họ bước vào ảo ảnh này. Chống lại bằng việc ngủ, và như vậy sẽ duy trì một hiện thực hòa bình vĩnh cửu.

- Trước mặt kẻ biết sống trải qua sự hư hoại đến từng khoảnh khắc tận cùng của thời kì hiện đại, trước mặt kẻ đó một viễn cảnh chưa bao giờ thấy sẽ mở ra. Sau sự lừa dối, mất mát, hư hoại, nhiễu nhương, vô thức, bất lực, đờ đẫn và nhầm lẫn, một khả năng mới sẽ mở ra để chúng ta có thể xây dựng những kế hoạch cuộc đời lớn vượt xa hơn những gì đã từng có.

Cách thức xây dựng kế hoạch cuộc đời ai cũng có trong tay, nên chính họ, gia đình họ, dân tộc họ sẽ không bao giờ còn ủy thác đời sống nhân loại cho số phận và cho sự ngẫu nhiên nữa, mà họ sẽ sáng tạo một cách thông minh, tỉnh táo, hiệu quả và có ý thức, có phong cách.

- Đây là Ars Magna mà những vòng tròn của nó đang lan rộng. Sẽ không ai còn là sản phẩm thuần túy của các hoàn cảnh và môi trường của họ nữa. Tôi đây, sẽ không là tôi từ sự cưỡng bức, mà từ quyết định riêng của tôi. Và con người không hoàn chỉnh hóa mình trong công việc mà trong bản chất của mình.

- Cơ hội và điều kiện mở ra để con người chỉ coi số phận là thứ nguyên liệu ban đầu, từ đó có thể xây dựng lên những bản chất phi thường.

- Ars Magna là nghệ thuật của kế hoạch đời sống, bên cạnh những sáng tạo của thứ nghệ thuật này các nhà thơ, thủ lĩnh, vị thánh hay kẻ tu hành xa xưa, với tầm vóc và sự sâu sắc như Alexandras, Caesar hay Milapepa hoặc Goethe đều nhỏ bé, thậm chí nực cười.

- Cái tôi muốn, đấy là nền tảng trên hết của một nghệ thuật lớn của kế hoạch đời sống có ý thức.

- Điểm xuất phát không mấy hiệu quả. Đôi khi tôi thần người ra với mình rằng, về cái quan trọng nhất mình cũng không thèm để ý. Tôi vẫn tiếp tục sống mù quáng, tiếp tục không để ý tới hiện thực của thời gian. Toàn bộ thực chất không có bất cứ ý nghĩa gì. Tôi đã đánh mất mối quan hệ của tôi với thời đại.

- Cảm giác tồi tệ.

- Tôi bị lạc hậu? Tôi ở ngoài thời gian? Outsider? Không hợp thời?

- Nhưng rồi tôi nghĩ, nếu đúng là mình lạc hậu, đến điều ấy mình cũng không nhận ra. Giống như những kẻ không hợp thời và lạc hậu, chúng cũng không hề nhận ra. Chúng thuyết trình và bực tức, chúng xử sự như kẻ độc tài hoặc truyền giáo. Những kẻ thật sự tụt hậu không tự nhận ra. Còn người luôn luôn đặt ra và duy trì sự nguy hiểm của khả năng lạc đứt với thời đại, người đó không lạc hậu.

- Có thể sau rốt tôi vẫn là kẻ outsider (không hợp thời), nhưng tỉnh táo đến nỗi tôi không cho là mình như vậy. Thế thôi. Tôi không thể khác được nữa.

- Cho dù thế này hoặc thế kia, thực ra vẫn ít.

Nhận thức con người của tôi bắt đầu từ khoảnh khắc tôi hiểu, tôi rỗng, bạn rỗng, tất cả mọi người rỗng, và con người là nguyên tử số không, neutron, một cái khung trung tính, một kẻ rỗng. Con người từ những tính chất cơ bản không khác nhau. Tất cả mọi người đều đã từng rỗng và tiếp tục rỗng, và không bao giờ là cái gì khác ngoài sự rỗng.

Không thể xếp hạng. Phi chất lượng. Cái làm con người khác nhau, là mỗi người nhận vào và bồi bổ một số phận ma quỷ khác nhau và đồng hóa mình với nó. Nhầm lẫn mình với ma quỷ đó.

Tôi không bao giờ đối kháng với con người. Tôi cũng không thể đối kháng nổi. Sự rỗng không đối kháng được với sự rỗng. Những người đứng đối kháng nhau là những số phận ma quỷ. Và những kẻ này luôn luôn đối kháng nhau, số phận chỉ có nghĩa như sau: đứng đối kháng. Rilke nói: gegeüber, immer gegenüber (đối diện, luôn luôn đối diện).

- Bước đầu tiên về nhận thức con người của tôi là thừa nhận, vì cái đã xảy ra không cần đổ thừa trách nhiệm cho con người mà cần phải tìm ra loài ma quỷ của nó. Chiến tranh, sự nhầm lẫn, hiểu sai, hận thù, ghen tị, nịnh bợ, bạo lực, mê muội, ghen tuông đều không phải sự việc của con người mà là của ma qủy.

- Mức độ đầu tiên khi con người là hóa thần của số phận ma quỷ là nó không hề mảy may nhận biết. Tính cách. Hành vi. Chủ nghĩa cá nhân, số phận, sự vật lộn vì sinh tồn, chiến tranh, nhiễu nhương, sự căm thù, chạy đua, sự ghen tuông, sự tức giận, các tài năng, sự sợ hãi, sự chống đỡ, sự ghen tị. Theo Upanisadok: szamszara- luân hồi. Theo Böhme: Angstrad. Theo Orpheus: anaké. Kẻ nào nhận ra, có thể giải thoát khỏi chúng.

- Mức độ tiếp theo: Toàn bộ lũ ma quỷ, những kẻ sống trong con người, những kẻ con người cho chúng chốn nương thân, những kẻ (có tên gọi) các tính nết, tất, hoặc ít nhất những tính nết con người biết đến, bắt đầu nổi lên. Những nỗi hiểm nguy cực kì. Mức độ phép thuật. Trạng thái rơi xuống địa ngục (có tên gọi) sự nhận biết bản thân. Thực chất đây là tâm lí học ma quỷ.

- Mức độ thứ ba: exorcizmus - phép đuổi tà ma. Phép lật tẩy, nhận thức và xua đuổi lũ ma quỷ. Mức độ khổ hạnh. Đạo đức. Ethosz. Đuổi lũ buôn bán ra khỏi nhà thờ. Thời gian của nhộng bóng ma. Phê bình. Kỉ luật tự thân. Nếu điều này thành công, con người đạt tới trạng thái cổ.

- Mức độ thứ tư: Sự trống rỗng, niết bàn. Lũ ma quỷ biến mất. Chúng chạy trốn khỏi ánh sáng. Xua đuổi thành công một số trong lũ đó. Không có các đặc tính. Không có thiên tài. Không thể xếp hạng. Phi chất lượng. Hư vô. Netron. Nguyên tử số không.

Theo Keats: negative capability - khả năng thụ động. Phi cá nhân. Phi đặc tính - tính cách. Phi hành vi, phi số phận, phi dục vọng, phi mục đích. Ataraxia. Đạo.

- Trung lập không phải mức độ cuối cùng. Đây là sự thụ động. Sự chờ đợi. Một hư vô mở. Con người từ sức lực tự nhiên của nó không thể vượt qua mức độ này. Sự trung lập chờ đợi là mức độ thứ năm. Trong nhiều trường hợp trạng thái này đọng lại rất lâu. Trong nhiều trường hợp con người không bao giờ bước ra khỏi nó. Đây là trạng thái khi con người đã được tạo dựng, nhưng Lời sống động chưa được thổi vào nó. Đây là trạng thái của nhân loại trước khi có Thiên Chúa giáo.

- Mức độ thứ sáu, khi bên trong con người nhận được hơi thở của Lời. Cái phi chất lượng đạt tới chất lượng cơ bản của nó. Cái hư vô trở thành một cái gì đó, một kẻ không là ai trở thành một kẻ nào đó. Mục đích được sinh ra. Con người hoàn toàn và hoàn hảo.

- Hiện tại tôi là kẻ chờ đợi trong mức độ thứ năm.

- Trại nuôi ong trở thành nơi chờ đợi của tôi. Tiền sảnh của vinh quang. Thành công và số phận và lũ ma quỷ không bao giờ thu hút nổi tôi nữa.

- Thành công đối với tôi như bài ca của những con chim. Âm nhạc của siren. Ma thuật, sự quyến rũ, sự kiều diễm, ngọt ngào và chết người. Tôi bắt phép thử Odüsszeus dừng lại. Tôi nghe thấy nhưng chúng không quyến rũ tôi.

- Bài ca của sự vinh quang giống như bài ca của lũ dế. Giống tiếng lao xao của bầy ong. Không chút mê thuật. Không chút ngọt ngào. Một điệu hát sâu và hiền lành.

- Tôi không chọn sự ngây ngất cắm rễ của giọng hát siren mà tôi chọn sự bất tử của giọng dế. Sự bất tử của giọng ong.

Tất cả mọi người đều có một trại ong riêng của mình.

- Nếu tôi nhìn lũ ong với sự vất vả dính liền với chúng, giống như một lũ điên, quay cuồng, tôi biết nền tảng cơ bản là sự phi hành động.

- Sau cùng có thể làm một việc không có lợi lộc gì.

- Tôi nghĩ rằng tôi đã tìm ra yoga của việc không làm gì-phi hành động. Và đỉnh cao của yoga này là sự bất tử của giọng ong.

- Thực hành sự nhàn tản, không làm gì.

- Hiện sinh Digan. Không phải thứ tốt nhất. Thây kệ cuộc đời và từ sự lười biếng ấy không đạt tới bất cứ cái gì.

- Thực hành sự trống rỗng.

- Giữa lũ ma quỷ có hai kẻ lớn nhất là quyền lực và sở hữu. Chừng nào tôi còn số phận, tôi vẫn ở trong móng vuốt của chúng.

- Ma quỷ có quyền lực nhất của đời chúng ta ngày nay là sự HỚT HẢI. KẺ THỞ HỔN HỂN VĨ ĐẠI. Lưỡi nó thè ra, nó quay cuồng, tắc thở đêm ngày. Loài ma quỷ cầm lái.

Bên cạnh nó chỉ có một thứ có quyền lực hơn: sự trung lập. Sự lãnh đạm, con số không, sự thoát lui. Ông chủ của cái cối xay thời gian, kẻ xay thời gian thành tro bụi. Sự trung lập làm ra vũ trụ, ra sự phi dục vọng, trạng thái tránh sang một bên. Nhiệm vụ của trung lập là chất lượng hóa sự vật thành trung tính. Với hằng hà vô số quân hầu, đầu tiên nó thu hẹp thế gian lại, sau đó tẩy trắng, rồi phủ voan lên đến chừng nào thế gian nhợt nhạt hóa sương mù và sau cùng hóa thành vũ trụ. Tránh đi. Đông cứng lại. Nhún vai. Quay đi. Devalváció (mất giá).

- Chừng nào con người vẫn còn có chất ma quỷ của nó, chừng đó nó vẫn còn số phận, chừng đó nó vẫn còn tính chất cá nhân, chừng đó nó vẫn còn các nguyên lí, các điều kiện, các lí thuyết, vẫn còn thế giới quan. Thần tượng. Sự đồng bóng.

- Chỉ bọn lầm lạc mớỉ cần lí thuyết.

- Chỉ bọn bạc nhược mới cần quyền lực.

- Sự trung lập giữa các loại ma quỷ của số phận là loại cuối cùng và đáng sợ nhất. Sự lãnh đạm, sự trống rỗng, sự nhàn hạ, sự thờ ơ, sự vô cảm, sự duy trì khoảng cách. Đây là trạng thái khi con người thấy cần phải đề phòng những đam mê cháy bỏng và tàn khốc, thứ đã tạo dựng, đang kiến tạo và giữ gìn thế gian.

- Vô phúc cho những kẻ trung lập.

Một lần tôi hỏi:

- Bạn nói quá nhiều về sự chờ đợi. Đấy không phải là chủ nghĩa kvietizmus (chủ nghĩa vô vị)?

Câu trả lời:

- Luôn luôn vẫn là sự khiếp hãi từ các từ ngữ. Bạn đừng sợ. Sự chờ đợi không phải là thứ hòa bình thu được từ giá của sự thu mình tội lỗi. Hình ảnh tượng trưng của sự chờ đợi là bông hoa hồng nở. Tại sao các cánh hoa lại mở ra? Nó đợi. Đây là trạng thái của linh hồn Đức Mẹ Maria. Chờ đợi gì? Cái đang đến.

Cần chờ đợi bởi không thể làm gì hơn để giục giã cái đang đến. Nhưng trước hết cũng vì cái đang đến tồn tại trong sự tê dại của nỗi bất lực hạnh phúc, vẫn cứ cần phải làm một cái gì đó? Vâng, ngồi xuống và đợi. Đến cầu nguyện cũng bị quên lãng, như hoa hồng, chỉ ửng hồng như ánh lửa từ thân nhiệt và tỏa hương trong niềm cảm hứng. Hạnh phúc cũng ít ỏi đúng như nỗi bất hạnh. Đấy là sự chờ đợi.

Một lần người ta nói với ông:

- Nhiều người cho rằng chưa bao giờ từng có kẻ nào đầy tham vọng, kiêu ngạo, khinh người và tự mãn như ngài. Và ngài còn từ chối không phải là một nhà thông thái. Và cũng chẳng phải một vị thánh. Chưa hết! Ngài còn nói ngài muốn trở thành một con người bình thường, và ngài làm như là từ thuở khai thiên lập địa đến giờ từng chỉ có, đang có và sẽ có mỗi một con người bình thường, và đấy là ngài. Đây há chẳng phải một sự ngạo mạn chưa từng có?

Ông trả lời:

- Những buộc tội này làm sao thích hợp nổi với lời tự buộc tội nghiêm khắc của tôi từ cách đây rất lâu rồi.

- Nhưng khi tôi vẫn còn tự buộc tội mình, vẫn còn một hành vi đúng đắn tôi chưa biết đến. Con người sở dĩ tự buộc tội mình trước, khá sớm, bởi muốn bằng sự tự vấn này ngăn chặn những lời buộc tội khác, và như vậy ít nhất có lợi cho nó hơn. Nó gật đầu trước mọi lời buộc tội và nói: tôi biêt, tôi biết, nặng hơn thế tôi cũng biết rồi.

- Nếu một kẻ nghiêm khắc với chính bản thân mình, vẫn còn phi mức độ. Bởi mặt trái của sự nghiêm khắc là tính thiên vị. Chừng nào tôi vẫn tàn bạo với chính bản thân, chừng đó tôi vẫn cho mình là đặc biệt hơn những kẻ khác.

- Điều khó nhất là tôi cần đúng với chính bản thân mình. Tôi đừng thương tôi nhưng cũng đừng tàn bạo với chính tôi. Bởi thương mến và tàn bạo là một. Đừng tự buộc tội mi nhưng cũng đừng bào chữa cho mi. Bởi lời buộc tội và lòi bào chữa là một. Hãy đừng tin là mi sai, nhưng cũng đừng tin là mi hoàn hảo. Bởi sai lầm và hoàn hảo là một.

- Trong con người đằng sau cái xấu có cái tốt, nhưng đằng sau cái tốt cũng có cái xấu.

- Tôi không thích những người lạnh lùng với chính bản thân. Tôi yêu bản thân tôi, và mong muốn tình yêu thương này biết trở nên cao thượng và nồng nhiệt.

- Hãy nhận lấy sự thiên vị dành cho mình một cách khiêm nhường. Hãy trở nên công minh và hãy thiên vị.

- Phê bình. Lẩn ra đằng sau. Lật mặt. Đâm từ đằng sau. Hạ gục. Một hành vi quyền lực (Giết người).

- Tự phê bình. Lẩn ra đằng sau chính mình. Lật tẩy bản thân mình. Một hành vi quyền lực ngược lại (Tự tử).

- Phê bình.

- Goethe: Tôi sẵn lòng lừa bịp mình. Ô! Giá mà được thế mãi!

- Bảo vệ sự dối trá chính là sự phản bội.

- Đời sống chúng ta như thế, như đang có, một bản sao phi hình thức và tan chảy. Đặc tính, tài năng, cá tính, khả năng, số phận đều nổ vỡ, thất lạc, không được sử dụng. Chúng ta còn tồi tệ hơn cả một người hầu, kẻ không phát huy năng lực của nó mà còn cất giấu đi. Chúng ta không nhận ra chính mình.

- Nền tảng cơ bản của con người là bệnh tật. Nhiệm vụ: không chạy chữa mà chung sống cùng bệnh tật. Sự thỏa hiệp. Galiani: vivre avec ses maux - sống cùng nỗi đau.

- Nếu tôi có nhiều kẻ thù, nếu tôi nghèo hoặc bị nhiều người chế nhạo, điều ấy vẫn chưa có nghĩa là tôi đáng giá.

- Tránh xa sự kiêu căng của những kẻ hạ nhục bạn. Đừng tin rằng họ xua đuổi bạn như vậy có nghĩa là bạn đúng.

- Chỉ có cái Tôi chết đi. Kẻ nào sống với cái Tôi, là sống với cái chết của nó.

- Phúc cho kẻ chiến thắng?

- Cái ở sâu thẳm nhất, cái đó xuất hiện trước nhất. Sự sợ hãi.

- Con người không cho phép kẻ khác làm phiền sự tự hủy hoại của chính họ.

- Không phải lí thuyết tác động mà sự hình dung về tồn tại tác động đến tôi. Không phải sự dạy dỗ mà là hành vi. Không phải hình ảnh mà là cá nhân tác động.

Một lần người ta nói với ông:

- Học trò của ông đang tìm ông.

Ông trả lời:

- Từ học trò tôi muốn dành cho bản thân tôi.

Rồi quay về phía tôi ông bảo:

- Tôi không hạnh phúc. Chưa bao giờ, và rất có thể sẽ không bao giờ. Tôi biết chắc chắn, tôi chỉ có thể hạnh phúc nếu tôi đã là một trong mười hai môn đệ (của Chúa) và tôi đã nghe thấy Người.

- Học trò là kẻ hiến dâng bản thân mình cho ông thay của mình. Còn kẻ nịnh bợ là kẻ biến ông thay thành nạn nhân của mình, là kẻ bóc lột và cướp bóc ông thầy, kẻ làm như nghe lời, thậm chí bên ngoài trông có vẻ ngoan ngoãn nhưng trong thực tế đang cười nhạo sau lưng thầy của mình. Kẻ nịnh bợ trái ngược với người học trò.

- Tôi chưa thấy ai bị xa lánh từ sự vinh quang, còn sự thành công cất giấu người đó đi thì đúng hơn.

- Tôi cho phép tất cả mọi người, bởi vậy tôi cũng có quyền không ưa thích một ai đấy. Để tôi đừng quá vô tội hoặc trở thành một ông thánh hoặc một nhà thông thái. Đấy, tôi không ưa kẻ nịnh bợ.

- Hiểu Phúc Âm chỉ có nghĩa chừng này: không phải hiểu một sự dạy dỗ mà là hiểu kĩ thuật sống của một con người bình thường.

- Trong thời hiện đại sự hư hoại đã lên tới điểm đỉnh. Chúng ta là những hoạn quan thời hiện đại thì đúng hơn. Nhạt nhẽo, hờ hững và đáng nguyền rủa. Baader nói trước tiên chúng ta cần biến thành bọn vô thần. Thành con vật. Thành trung tính, trong sạch, rỗng. Chỉ sau đó chúng ta mói có thể thành tín đồ Kitô. Kitô chỉ có nghĩa như sau: một con người.

- Sự gột rửa khéo léo giữa cái tốt và cái xấu (chính sách thực dụng).

- Thích nghi. Một sự bôi bẩn chậm chạp nhất định.

- Báo chí: việc gây ra các vụ ầm ĩ, bê bối.

- Chính trị. Sự tự sướng.

- Hôn nhân: Gynaikotropizmus-chủ nghĩa toàn trị đàn bà.

- Kassner: Störungsprodukt - sản phẩm lỗi (con người hãy đừng là sản phẩm của sự nhiễu nhương lịch sử).

Nội dung của những cuốn sách thiêng là nền tảng cơ bản. Bằng từ ngữ của kẻ giả kim: prima materia. Đây là philosophia normalis. Con người bình thường là con người của Thánh kinh, kẻ có trước thế gian. “Ta có trước cả Ábrahám”.

- Tôi đặt tên cho sự can thiệp phi luật pháp vào đời sống người khác là sự dạy dỗ.

- Con người bản thân nó là tác phẩm cuộc đời tự thân. Tác phẩm là kẻ sáng tạo. Mọi tác phẩm khác đều của sự hư hoại.

Ưu điểm duy nhất của lịch sử là: học để trở thành hiện tại. Kierkegaard: suy tư trong praesens - hiện tại (Suy tư theo thể hiện tại ở thời gian hiện tại. Suy tư và trở thành hiện tại).

- Học thuyết cho rằng văn hóa làm hư hoại nhân loại tồn tại quá ngắn ngủi.

- Nếu tôi học viết-đọc, tôi không trở nên xấu hơn. Tất nhiên, tốt hơn cũng không.

- Văn hóa không sửa chữa nhưng cũng không làm hỏng bất cứ cái gì.

- Tôi nghĩ rằng học thức không là gì khác ngoài việc làm trầm trọng và gây khó khăn cho việc giải quyết những vấn đề vốn đơn giản, khi nó xuất phát từ nhiều điều kiện tiên quyết phức tạp hơn.

- Học thức như một phương pháp giải quyết những vấn đề của số phận, các nhà tư tưởng như Trang Tử, Heracleitos, Platon, Nietzsche đều coi thường điều này.

- Và tôi nói rằng cách giải quyết những vấn đề của số phận độc lập với học thức. Để cuộc đời một kẻ nào đó thành công, không cần thiết đến kiến thức và học thức.

- Không cần phải có học hơn mà cần phải tỉnh táo hơn. Các hình thức của sự tỉnh táo: niềm cảm hứng - giấc mơ - sự hài hước.

- Hành vi nhỏ nhất của chủ thể là sự hài hước. Nó không xóa bỏ được sự hư hoại nhưng biến sự hư hoại trở nên có thể chịu đựng nổi. Bên ngoài có vẻ như hòa hoãn với sự hư hoại, nhưng không phải vì thế thỏa hiệp mà chỉ để nó không phải từ bỏ một cái gì hết.

- Không có gì để nổi loạn. Nhưng cũng không cho phép bất cứ cái gì.

- Nhận biết cái đang có nhưng không để nó đè lên đầu.

- Hài hước là tri thức không thể mất của nền tảng cơ bản.

Chống lại viết, tôi có một quan điểm nặng nề. Ở câu thứ tư, đôi khi ở câu thứ ba, thậm chí ngay ở câu thứ hai một quyền lực xa lạ và gần như không cưỡng nổi ập xuống các dòng viết của bạn, và ta không viết cái ta muốn mà viết cái quyền lực cưỡng bức ta.

Phần lớn tôi không hề hay biết. Làm xong, tôi đọc lại. Có một cái gì đó tôi không thích trong bài viết, tôi không biết. Một cái gì đó không đồng nhất. Tôi nghi ngờ. Tôi không hài lòng. Cái này không phải cái đó. Tôi không muốn cái này sao? Không! Có thể tốt hơn cái tôi định viết, có thể tồi hơn. Nhưng chắc chắn không phải cái đó. Sau này tôi nhận ra cái quyền lực xa lạ ấy một lần nữa tóm lấy mình. Và giữa chừng, khi viết, một sự ngây ngất lan tỏa đến mức tôi không thể chống lại nó. Và giá của sự ngây ngất này là tôi cần phải viết cái mà nó muốn.

- Nhưng không chỉ mỗi mình tôi như vậy. Phần lớn con người không viết điều đó vào thơ, vào nhạc - điều nó nghĩ và cảm thấy, không vẽ hoặc nặn tượng điều đó, nhà tư tưởng không nghĩ đến tư tưởng đó, mà chỉ làm cái mà quyền lực của thi ca, âm nhạc, hội họa, tư tưởng cưỡng bức họ. Tôi chỉ biết một vài tác phẩm ngoại lệ trong đó phần lớn sự sáng tạo là của tác giả. Và những tác phẩm nào tác giả viết đến tận dòng cuối cùng, những tác phẩm ấy cũng không phải họ làm.

- Viết là một nhiệm vụ đặc biệt. Một nhiệm vụ đặc biệt khi cần viết điều thật sự tôi muốn viết. Khó hơn cả. Và không phải lúc nào cũng thành công.

- Giờ đây phần lớn sức lực dồn lại của tôi không phải để diễn giải mọi tư tưởng một cách có ý nghĩa, mà để chống lại quyền lực bắt buộc của viết.

- Tôi chỉ thỏa mãn hoàn toàn nếu tôi viết ra được điều tôi muốn viết. Nếu tôi không viết điều muốn viết ra chất độc nằm lại trong tôi. Tôi quay lại điểm xuất phát. Bồn chồn. Không thỏa mãn. Mang nợ.

- Giấy lộn, giấy lộn. Các quy định của chính phủ, thơ, tiểu thuyết, thư tình, tiền, thuế, báo chí, các biển quảng cáo, đều là giấy lộn. Giấy lộn là khoa học, lịch sử, giấy lộn đầy các công sở, trường đại học, trường học, các viện lưu trữ tài liệu chỉ toàn hồ sơ là hồ sơ, bưu điện chuyên chở giấy lộn, người ta tạo chiến tranh bằng giấy lộn và kí kết hòa bình trên giấy lộn, và viết các hóa đơn cùng danh sách người chết trên giấy lộn, và trả tiền nhau bằng giấy lộn, hãy nói xem cái gì sẽ xảy ra khi tất cả giấy lộn trên thế gian bốc cháy trong một sự thay đổi cơ bản nào đó?

Sẽ không bao giờ còn tiểu thuyết chẳng khoa học xã hội, chẳng thi ca, chẳng tuyên truyền quảng cáo, chẳng thư tòa thánh gửi, hết báo chí, hết hợp đồng, chẳng thư viện, hết hồ sơ. Ta sẽ bất hạnh hay sau cùng sẽ hạnh phúc?

Kết thúc mọi bản viết nốt nhạc, cùng mọi thi phẩm, cùng các bản án nhà tù, các hợp đồng mua bán cùng giấy tờ nhà đất, giấy gọi nhập ngũ, các thư đặt tên thánh cùng các luận án tiến sĩ, các bằng khen thị dân danh dự, các giấy bổ nhiệm lẫn chứng chỉ cùng vé tàu hỏa tàu thủy, cái gì sẽ xảy ra với con người, với tôi?

Các nhà tù sẽ rỗng, các nhà nước sẽ đổ, ta không cần đi đến trường và công sở, quân đội biến mất, tư hữu chấm dứt, sẽ không có pháp luật, tiền, các nhà băng khóa cửa, trẻ bán báo rong không gào lên, các nhà bác học ngơ ngẩn nhìn nhau, các bộ trưởng hỏi nhau đây là toàn bộ quyền lực ư - thứ giấy lộn này?

Khi lần đầu tiên những điều này hiện ra trong trí óc, tôi bắt đầu sợ. Tất cả những gì tôi coi là nghiêm chỉnh trong đời mình chỉ là vài tờ trong đống giấy lộn. Tác phẩm cuộc đời sẽ tan tành. Nhưng ngày hôm sau tôi đã hết sợ. Mất đi! Đau? Rất đau. Công việc của nhiều tháng năm. Nhưng tôi được gì? Hãy thử nghĩ xem.

- Bằng viết cũng mang đến hiệu lực cho từng cử động của đời sống.

- Tôi sẽ thành công trong hướng nhỏ bé nhất của sự phản kháng, nếu tôi lựa chọn con đường dễ nhất, nếu tôi lắng nghe quyền lực của viết và viết ra cái mà nó muốn.

- Nằm trong hướng phản kháng lớn nhất không phải thành công mà là sự vinh quang. Nếu tôi chọn con đường khó nhất. Nếu tôi gạt sang một bên sức quyến rũ của quyền lực viết và chỉ viết ra cái tôi muốn.

- Con đường khó khăn nhất. Sự phản kháng lớn nhất. Cái gì vậy? Âm thanh khẽ khàng nhất. Như lời của Phúc Âm: hadü to pszithüriszma - Tiếng thì thào của gió.

- Hadü to pszithüriszma là âm hưởng cơ bản của thế gian. Chủ đề chính. Là từ ngữ vang lên vĩnh cửu. Là Cantus firmus (dàn ca nhà thờ không nhạc đệm - ND) của tạo hóa.

- Nếu bạn mài sắc đôi tai của mình, sẽ nghe thấy tiếng thì thào của gió khắp mọi nơi. Nhất là trong im lặng. Trên bờ biển. Trong đêm đông, khi trên bầu trời những ngôi sao cháy sáng rực. Đôi khi bạn đứng lại trong hoàng hôn thung lũng và nghe mới rõ làm sao. Trong âm nhạc của dế. Trong tiếng vo ve của bầy ong, đặc biệt vào một chiều hè nóng bỏng.

- Đặc biệt tôi cần lắng nghe xem cái gì là cái tôi muốn. Sự đồng điệu.

- Những nơi công cộng.

- Lamettrie: Evangile du jour (Tin Mừng trong ngày).

- Hiện thực trần trụi.

- Quãng nghỉ cho một tập.

Một buổi tối tháng Mười Một, chúng tôi ngồi bên lò sưởi ba người, ông, một nhà thơ trẻ và tôi. Chúng tôi ăn hạt dẻ và uống rượu mới cất. Nhà thơ trẻ dưới tác động của rượu bắt đầu nói lớn. Hai chúng tôi ngồi lún trong chiếc ghế bành và lắng nghe.

Rồi bỗng ông bảo:

- Không, tôi tuyệt đối không đồng ý. Bạn bảo nó giống như tranh vẽ bằng bút dạ của Trung Hoa. Một không gian lớn và trong đó có một vệt như mực bôi khắp. Thực ra đây là một giả thiết tâm lí học. Không có chút tích cực nào! Tôi giữ tôi ở cái gì?

Không động đậy, ông nói tiếp:

- Bạn lại quên rồi, tôi không phải là người thầy. Không có bài học nào cả. Không thiếu tí sách vở nào. Không có công thức nào cả. Thậm chí ngược lại. Thật bất tiện nếu tất cả mọi người đều phải tự làm cho bản thân?

- Tôi đã nói gì? Rằng những cuốn sách thiêng không dạy dỗ, mà chỉ nói về kĩ thuật sống một đời sống bình thường và khỏe mạnh của con người. Một kế hoạch đời sống cội nguồn. Và bản kế hoạch này từng người một, tự bản thân họ một lần, đúng một lần duy nhất tự dựng xây cho mình. Lần đầu tiên và lần cuối cùng. Không có công thức. Không có gì để dạy dỗ.

- Trong giây phút này tôi chỉ muốn mở rộng thêm tư tưởng trên, rằng chúng ta những con người, chúng ta không chỉ không thích những lí thuyết, những lí luận, những dạy dỗ có giá trị và thỏa mãn nhu cầu chung chung, và từ đáy lòng chúng ta không chỉ ghê tởm chúng. Những thứ lí tưởng được gọi là tổng quát và dành cho tất cả mọi người này thực chất chúng ta không hiểu. Cái chúng ta thực sự hiểu là cái chỉ một lần. Cá nhân. Cái chỉ có một lần và không bao giờ có nữa. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng. Cái tinh tế, gần gũi, đáng tin cậy, bí ẩn. Vậy thôi, không có cái khác.

- Đây là tất cả.

- Nhưng nếu bạn thích, tôi có thể nói tôi đã thực hiện một bước đi lớn của tôi như thế nào. Nhưng bạn đừng làm theo. Chỉ nghe thôi. Tôi không nói được cái khác, chỉ cái riêng tư, bởi vì cái khác cũng không đáng nói. Chỉ có thể hiểu được.

- Baader cho rằng, thế gian này, nơi chúng ta đang sống là tàn dư của lửa cổ vĩ đại. Một ánh chớp bùng cháy duy nhất lật đổ Lucifer và đốt cháy thế giới cội nguồn. Ngày là những mảnh tàn cháy dở, bốc khói của thế giới này. Thế gian này chín phần mười đã bị đốt cháy, hủy hoại, là mảnh đất bị sét đánh. Tư tưởng này trùng với tư tưởng của Böhme và Heraclaitos, tôi cảm thấy cái phi thường bấp bênh - thường là dấu hiệu nhận biết hiện thực.

- Thế giới bên trong của chúng ta chín phần mười cũng bị cháy, đổ vỡ, u ám, bị tàn phá, bị hư hoại và biến thành bãi rác. Nhiệm vụ của ta là cần biết cái thế giới cội nguồn, cần biết sống trong sự hư hoại và lập lại vị trí cho nó.

- Tôi kinh nghiệm rằng, công việc tôi cảm thấy có kết quả là khi một lần nữa tôi biết lọc ra những nguyên tố lẫn lộn trong cái thế gian hỗn loạn này và đưa nó vào trật tự, chấn chỉnh và đưa nó trở lại hình thức cội nguồn. Khi từ dung nham, tà cái thế gian bị hư hoại này tôi biết nung chảy những nguyên tố gốc.

- Như vậy tôi tiếp cận đến tư tưởng mà tôi thử hiện thực hóa mối quan hệ với các nguyên tố cổ mà tôi đặt tên bằng một từ tuyệt vời: nền tảng cơ bản. Đây là một con người trong suốt, minh bạch, kẻ mà Lời thổi vào trong nó đã biến đổi nó thành kẻ đó. Lời đã thổi vào trong là tên của nó. Tên thật. Đây là Lời mà Kinh Thánh đã dạy. Đây là niềm đam mê đã tạo dựng nên thế gian. Người lính canh của Lời trong ngôn ngữ của chúng ta, chúng ta gọi là tình yêu thương. Không phải tình yêu thương của giáo sĩ mà của người mẹ. Không phải của sách vở mà của những kẻ cảm tử. Không phải của các triết gia mà của Abraham và Ízsac.

- Lập lại nền tảng cơ bản cùng lúc tiến hành trong con người, trong xã hội, trong thế giới vật lí và hóa học, trong kinh tế, trong toán học và trong tư duy. Nhưng trọng tâm là con người. Centroverzió. Tự đó nảy sinh sự tạo dựng mới. Ở nơi tôi đạt được kết quả, người khác cũng sử dụng được. Trên nhiều con đường cùng lúc chung ta lên đường. Thế nhưng đều chỉ đi trên một con đường duy nhất. Mục đích là một: lập lại nền tảng cơ bản.

- Nhưng sau đây là đến một điều mà chắc chắn một ai đó đã nói ra và đã viết, nhưng tôi không hề biết cho dù tôi vứt vào lửa hai chục nghìn cuốn sách vì người ấy. Đó là: nền tảng cơ bản này không phải nền tảng cơ bản cũ và của thế giới đầu tiên, mà nó cao hơn, hoặc cũng đúng như thế nhưng sâu sắc hơn. Sự khác nhau giữa hai điều này là sự khác nhau giữa những cuốn sách thiêng của Trung Hoa, Ấn Độ, Do Thái, Hi Lạp và Kinh Thánh.

- Tôi không phải người Kitô từ chủ nghĩa pietism (chủ nghĩa ôn hòa), hay từ sách vở, hoặc mù quáng hoặc vì danh hão, mà vì tôi quả quyết rằng Phúc Âm là lời thể hiện duy nhất, bởi Chúa Jézus thật sự là con trai Thượng Đế. Điều này ở tôi không phải là thế giới quan, là đức tin, là kết quả của giáo dục. Phúc Âm là Lời tuyên bố nói về sự sống xác thực. Điều này tôi đã kiểm chứng.

- Và bởi vậy nền tảng cơ bản mà tôi muốn thực hiện chỉ có thể có từ nền tảng của Phúc Âm. Nó không nói về thế gian đầu tiên đã bị hủy diệt. Đã bị mất. Hết. Không thể làm lại được, cần phải làm một cái mới. Và chúng ta đang làm. Chúng ta làm theo Lời phả vào bên trong chúng ta. Làm một cách tự do. Bởi thế gian chỉ có nếu chúng ta tự do làm ra. Chỉ từ đó mới có con người. Chỉ từ đó có hôn nhân.

Từ đó sẽ có nghệ thuật, tư tưởng, từ đó có dân tộc, cộng đồng, nhân loại. Từ đó có thế gian. Một cách tự do. Chúng ta hãy làm từ bản thân mình, từ bản thân chúng ta nghĩa là từ bản chất chúng ta chứ không phải từ sách vở của chúng ta. Con người là tác phẩm. Đó mới là con người hoàn chỉnh và tự do, kẻ mà từ nó thế gian được xây dựng nên. Đây là một cá nhân. Đây là chất liệu cơ bản của thế gian.

- Chất liệu cơ bản này là một con người bình thường. Một con người lành lặn và khỏe mạnh. Không phải thiên tài, không phải khả năng xuất chúng hay ngoại lệ hoặc kiệt xuất. Tôi nhận ra một người bình thường, nếu người đó không dửng dưng, vô cảm, nước đôi, vô giá tri. Đấy là một con người nồng nhiệt, hứng thú, say mê, mơ mộng. Tóm lại một con người chân thực. Không phải nhà thông thái, chẳng phải thánh cũng chẳng phải người anh hùng.

- Trong cái thế gian rạn nứt, hư hoại và sắp sụp đổ này, tình yêu, sự nồng nhiệt sự hứng thú biến con người thành kẻ bình thường. Đây là thứ duy nhất triệt tiêu sự hư hoại hài hước này và dựng xây lên một thế gian cao hơn thế gian đã từng có. Là thứ biến kẻ tàn tật thành ngườỉ mạnh khỏe, như ngôn từ của Kinh Thánh: hãy vứt nạng đi và hãy khỏi bệnh. Chấm dứt sự hỗn loạn, sự hoảng loạn và đầy biến chứng.

- Tất cả mọi người đều khác. Tất cả mọi người là chính nó. Một lần. Một lần duy nhất. Không có sự dạy dỗ. Không có công thức. Lần đầu tiên. Và cũng là lần cuối cùng. Một cách không thể nhắc lại, không thể dạy dỗ và một cách cá nhân.

- Đấy là tất cả những gì tôi có thể nói.

Cũng trong buổi tối hôm đó, muộn hơn, sau bữa tối chúng tôi ngồi xuống bên bàn và tôi cất tiếng hỏi:

- Ông không nghĩ ông sẽ ghi lại những kinh nghiệm của mình trên con đường của mình để giúp chỉnh sửa đường đi của những kẻ khác?

Ông trả lời:

- Tôi đã từng nghĩ. Nhưng những thứ đó rất nguy hiểm. Nó dạy sự khôn lỏi, thực dụng. Nô lệ. Lưỡng tính. Sau cùng cũng sẽ sinh ra một sự dạy dỗ nào từ đó.

- Nhưng bây giờ tôi muốn nói điều này, bạn thấy đấy, tôi không vận dụng cả điều bây giờ tôi nói ra. Nhưng bạn hãy coi nó là sự dạy dỗ và hãy gọi thế. Còn tôi lập tức tự nhạo mình. Kể cả điều bây giờ tôi nói đây tôi cũng không vận dụng nó.

Và đúng là ông cười. Sau đó ông nói tiếp:

- Khi tôi vật lộn chống lại lũ ma quỷ của số phận mình, tôi thấy mình đã vận dụng rất tốt kĩ thuật xưa của người Ấn Độ. Đấy là phương pháp neti-neti. Neti-neti có nghĩa là: không phải cái này không phải cái này. Nếu tóm được một ma quỷ nào đấy tôi đọc: mi không phải là ta. Neti- neti. Nhớ đấy, mi không phải là ta. Mi là đồ ma quỷ. Kí sinh trùng. Đồ kí sinh trùng mất dạy, thô bỉ, hôn xược. Mi hãy chết đi. Ta không muốn nhìn thấy mi. Ta không chịu nổi. Neti-neti.

- Khi tôi duy trì sự hóa phép này giữa lũ ma quỷ và bản chất hình dung của tôi xuất hiện một khe hở. Đúng là, chúng tôi đã tách khỏi nhau. Giữa ma quỷ và kẻ không là ai (tôi) mối quan hệ nhầm lẫn phức hợp đã đứt. Giờ đây tôi đã không tin một cách không ngập ngừng rằng tôi và ma quỷ đồng nhất nhau. Giờ đây tôi đã biết chút ít rằng tôi phản chiếu nó, và nguyên nhân đầu tiên của sự phản chiếu này là sự hư hoại riêng của tôi. Tôi cần phải chịu đựng nó, tôi nghĩ, loài sâu bọ bẩn thỉu này.

- Và lúc đó tôi nghĩ như sau: tôi không sợ, nỗi sợ hãi ẩn trong tôi. Hoặc nói đúng hơn nữa: cái khái niệm này tôi sợ rằng, rất không chính xác. Định nghĩa chính xác là như sau: tôi nhầm lẫn bản thân mình với nỗi sợ hãi. Nỗi sợ hãi này đang sợ trong tôi. Nên tôi cứ tưởng mình đang sợ. Tất cả chỉ vì tôi đã nhầm lẫn bản thân mình với nỗi sợ hãi. Tôi không ghen tị - nỗi ghen tị đang ghen tị trong tôi.

- Tôi tạo khoảng cách giữa nỗi sợ, sự ghen tị với kẻ không là ai (tôi). Neti-neti. Tôi không ghen tị. Tôi không sợ. Tôi không dũng cảm. Tôi không ốm. Tôi không thông minh. Tôi chẳng là gì cả. Tôi chẳng là ai. Không phải điều này, chẳng phải điều kia, điều nọ cũng không phải nốt. Và cái điều “Không phải điều này, chẳng phải điều kia, điều nọ cũng không phải nốt” - đấy là hiện thực, hay nói cách khác đấy không là ai và không là cái gì cả.

Ngoài điều này ra những cái khác nhìn thấy chỉ là ảo ảnh.

- Tôi ngày càng trung tính. Bảng đo đặc tính hạ thấp. Tôi đi về phía điểm không.

- Và khi lũ ma quỷ từ từ biến mất như những thí nghiệm, tôi cũng từ từ lấy lại quyền lực trên đầu chúng. Tôi có thể nhắc đến chúng và ra lệnh cho chúng. Nhưng tôi không thích. Tôi không phải một nhà tư tưởng. Chẳng phải nhà văn. Tôi không dễ xúc động. Tôi không thích rượu. Nhưng tôi có thể gọi ra loài ma quỷ yêu rượu, yêu nhà văn và nhà tư tưởng. Phục vụ xong tôi nhét chúng lại vào chai và ban phép cho chúng. Neti-neti. Tôi không phải là nó. Tôi chẳng là ai. Rỗng. Tôi đợi. Không phải đợi lũ ma quỷ, mà đợi cái hoàn toàn khác.

- Lũ ma quỷ chỉ biến thành quyền lực trong tôi nếu tôi nhầm lẫn đồng nhất mình với chúng. Nếu tôi báo chúng: neti-neti, sự nhầm lẫn này tan ra, và tôi cắt đứt quan hệ với chúng. Trong giây phút ấy chúng đánh mất sức mạnh của chúng.

- Trạng thái này tôi gọi là sự Tỉnh Thức, hay nói cách khác là Buổi Hoàng Hôn của sự Điên Rồ. Tôi đều đặn trải qua nó nếu tôi uống và vì thế hòa tan vào Bình Minh của sự ngất ngây Cảm Hứng.

Hôm sau ông bảo:

- Bạn thấy chưa tôi nói đúng khi tôi bảo tôi không muốn trở thành người thầy! Hôm qua tôi cũng thua. Tôi nói về một điều gì đó, nhưng quên mất một nửa.

- Tôi không nói là ở tất cả mọi người, nhưng ở tôi phương pháp neti-neti rất may mắn được phương pháp tat tvam ászt bổ sung. Tat tvam aszi có nghĩa là: đây là mi.

- Tôi nói với lũ ma quỷ: neti-neti. Ta không phải là mi. Ta không phải sự hư hoại. Ta không phải sự ghen tị. Ta không sợ. Ta không dũng cảm. Ta không thông minh. Ta chẳng là ai. Và như vậy là ổn. Nhưng nếu với một người khác ta cũng nói đúng như thế thì lại hoàn toàn không ổn. Tại sao? Bởi vì điều đó có nghĩa là tôi muốn rũ bỏ toàn bộ trách nhiệm khỏi bản thân mình. Tôi muốn rút mình ra khỏi cuộc chơi. Điều ấy có nghĩa là tôi bỏ mặc người khác. Điều này không được phép.

- Như vậy đối với một người khác tôi cần khoác lên mình một hành vi hoàn toàn ngược lại. Quay vào trong neti-neti. Quay ra ngoài tat tvam aszif nghĩa là: đây là mi. Toàn bộ, tôi cần nhận vào mình. Tôi ghen tị? Rất tiếc, tôi là như thế. Tôi cần nhận ra. Thực dụng? Láu cá? Ngu ngốc? Thấp kém? Đúng.

- Ô! Với em mới dễ dàng làm sao, em yêu! Kẻ ghen tị, hèn nhát, hư hỏng, dối trá, tôi đấy, kẻ bất cứ lúc nào em cũng có thể bỏ nó mà đi. Quay lưng lại nó và đi. Đúng không? Nhưng tôi làm thế nào bây giờ? Tôi đã rất nhiều năm cần phải sống chung với bản thân, một tia hi vọng nhỏ nhoi cũng không, rằng có thể thoát khỏi nó. Thật kinh khủng! Xin thề, đúng là như thế!

- Nếu người ta bảo, mi là kẻ dối trá, không được phép chống trả. Cần phải chấp nhận. Đúng thế. Đây là mi. Và cái đặc biệt trong toàn bộ là quả thật đúng thế. Mi kiêu căng? Đúng. Keo kiệt? Vâng. Tham lam? Đúng. Trả thù. Vâng. Đây là mi.

- Mi có hiểu nói về điều gì không? Sao lại không hiểu. Trong khi ở góc độ này mi đập tan tác cho lũ ma quỷ rơi rụng khỏi mi, thì ở góc độ kia mi lại tiếp nhận chúng một cách tự nguyện và thành kính. Bên trong mi biết mi chẳng là ai, chẳng là gì hết, trống rỗng, con số không. Bên ngoài mi vác lên người tất cả những gì người ta đẩy cho mi. Thậm chí không chỉ những gì người ta tống cho mi, mà còn tất cả tội lỗi, lỗi lầm, sự hư hoại, sự sa ngã của họ. Không tránh bất cứ cái gì. Không chối từ bất cứ điều gì. Dự phần. Đây là mi. Đừng hình dung hiện thực một cách khác. Nhận lấy tất cả. Nhất là những sự bẩn thỉu.

- Một mặt mi ngày càng nhỏ đi, bé lại, như một hạt lúa mì, như một hạt kê, nhỏ hơn cả cái vảy của hạt kê. Còn mặt kia mi càng ngày càng lớn, lớn hơn cả trái đất, lớn hơn cả mặt trời, lớn hơn cả thế gian, lớn hơn cả toàn bộ vũ trụ gộp lại.

- Hoàng hôn của sự điên rồ, hay bình minh của cảm hứng đối với việc sử dụng kết hợp cả hai phương pháp đều ít. Giờ đây cần cả sự hài hước nữa.

- Nó có ngần ấy tội lỗi, như một linh mục già.

Một lần người ta hỏi ông:

- Điều ngài muốn nói, hãy thử nói trong một câu xem nào!

Ông trả lời:

- Tôi muốn biết điều mà tất cả mọi người đều biết.

Tôi hỏi:

- Số phận nào là số phận ông đã thành công tạo ra cho mình?

Ông trả lời:

- Nghèo linh hồn. Nghèo linh hồn là gì? Là kẻ, Phúc Âm cho đấy là người hạnh phúc, vì có thể chờ đợi để học hỏi trong sự khốn cùng. Là hành vi nhận bỉết sự bất lực hoàn toàn và hành vi duy trì nhu cầu hướng về cái cao nhất.

- Trong việc giảm những đặc tính của mình (loài ma quỷ của mình) tôi đã đạt tới mức trống rỗng. Không là ai. Tôi đói và tôi khát. Tôi đang trong nạn đói. Tôi đang chờ đợi. Nhưng giờ đây tôi không sẵn lòng tiếp nhận cái gì khác ngoài cái cao cả nhất.

- Chỉ trong dạng hình này tôi mới biết duy trì toàn bộ hiện thực của tôi.

- Mọi lí tưởng đều ít ỏi, bé nhỏ, giả dối, mọi ý tưởng, mọi người anh hùng, vị thánh, vua chúa, thi sĩ, triết gia, nhà thông thái, nhà bác học… Không, cảm ơn.

- Tôi chọn sự khờ khạo.

- Đây là một sự khờ khạo của tôi, đây là điều duy nhất.

- Chỉ nước biết thật sự mực nước là gì.

KẺ ĐIÊN KẺ KHÔNG SẮP XẾP MỘT ĐỜI SỐNG VĨNH CỬU

Một luận văn

Một phần mang tính chất trần tục, phần kia mang tính chất giáo sĩ (không mang tính thần học)

về: cái dễ dàng nhất, cái khó khăn nhất,

về: từ “Thượng Đế” - mà không ai biết thốt ra một cách đúng đắn,

và: cần phải làm gì để con người có thể thốt ra một cách đúng đắn.

Những thời gian ngoại lệ, những ngày, hay những tháng, hoặc những năm biết quánh đặc lại thành một điểm duy nhất. Như thể chỉ tồn tại trong một khoảnh khắc. Biến thành các vì sao và bất tử. Bởi vì nếu cái vĩnh cửu xuất hiện trong thời gian, luôn luôn chỉ là một khoảnh khắc rạng ngời duy nhất, và nếu thời gian bước vào cái phi-thời gian, cho dù là bao nhiêu tháng hoặc năm, đều biến thành ngôi sao, thành sự bất tử, thành điểm cháy duy nhất.

Khoảnh khắc cháy vĩnh cửu như thế, sự bất tử đặc quánh thành một điểm duy nhất như thế giờ đây trôi qua hay ở lại vĩnh viễn, không phải cho tôi, bởi vì tôi không cần. Nó có bởi vì tôi đã từ bỏ. Và nó còn, chừng nào tôi cho đi.

Phụ thuộc vào tôi, là tôi mang cái gì vào vĩnh cửu. Âm nhạc. Rượu. Một buổi chiều hè trên bờ biển, ánh sáng cháy bỏng, nước xanh biếc và những con hải âu. Những người đàn bà. Và trước hết, khi tôi ngủ trên sân thượng, gió liếm mặt tôi trong ánh bình minh.

Chẳng liên quan gì đến niềm hạnh phúc. Và sự sung sướng cũng chỉ quấy rầy. Và sự đau khổ cũng thiếu vắng. Có thứ ngây ngất nào bằng ta nhìn thấy tất cả không? Có sự đau khổ nào lớn hơn việc ta không thể làm được bất cứ cái gì? Sống như thế đến cùng, tôi biết nó dở ở chỗ nào và tôi càng biết nhiều tôi càng ít khả năng thay đổi nó.

Để, có thể giải phóng hoàn toàn một ai đó, cần đời sống hoàn toàn của một người khác. Một sự thực như thế không có. Không ai có thể tự cứu mình.

- Và các tội lỗi! Con người không bao giờ biết cháy bỏng như thế, cháy sém trong sự xấu hổ như thế, đến gần cái tốt như thế, cầu mong sự trong sạch đến như thế, khi nó phạm tội.

Có tất cả. Một cách đáng sợ và không thể đạt tới như Orizon (chân trời) trong đêm đông. Một cách chai lì và lạnh lùng.

Đây là sự mất dạy!

Trong cả một thời gian dài tôi quan tâm đến việc nghe lén cách phát âm từ “Thượng Đế”. Các ngôn ngữ. Đúng thế, các ngôn ngữ. Một lần trên biển có một cơn bão đêm, và tiếng một người Pháp bị say sóng rống lên: ôi… ôi… Tiếng Anh từ God giống như cổ áo bị cài khuy kín đến tận cổ. Từ Gott của tiếng Đức như bản tuyên án mười lăm năm tù trong bài giảng của linh mục phái Lutheran. Từ Latin Deus giống như khi kẻ quá thông minh phát điên. Từ Hi Lạp theosz pneumatikosz là một cơn ác mộng. Và trong tiếng Do Thái, Sancrit, Trung Quốc, Tây Tạng? Sự rao giảng Tin Lành từ Thượng Đế Hungary với chòm râu dài đằng trước, đằng sau ứa đầy nước dãi.

Böhme phát âm từ này một cách đơn giản nhất với niềm sợ hãi ban đầu của Cựu Ước, đầu gối luôn quỳ xuống. Thầy Eckhart thử bè bạn với nó, muốn gần gũi, muốn ve vuốt nhưng cuối cùng từ này mắc nghẹn trong cổ ngài. Powys mạnh dạn cắt ngang và làm ra vẻ không sợ từ này. Gott của Höfdelin giống như dải mũ hải quân xanh sẫm. Của Rillké giống như một miệng hang trống hoác.

Từ này của Voltaire giống như khi con người kể một chuyện cười vô duyên. Của Milton giống như một bức họa chỉ có mỗi hai màu đen và đỏ. Của Homeros giống như một điệu van xơ trong hí kịch. Của Nietzsche giống như đám mây bão dông. Của Tolstoi giống như một kẻ vô chính phủ ở Siberi. Của Dostoiepski giống như kẻ “từ nhà thờ đi ra quán rượu, từ quán rượu đi vào nhà thờ”. Của Baadere giống như một lương tâm gần như tử tế.

Bọn trẻ con nói Thượng Đế bé nhỏ, từ của chúng phảng phất vị bánh sữa có mùi vani. Bọn hài hước nhất là bọn vô thần, đặc biệt khi họ cất giọng gầm gừ và dọa dẫm (luôn luôn trong đám râu rậm và với đàn piano) họ nói rằng, không có Thượng Đế. Họ giật mình, liếc nhìn quanh thật nhanh, bởi họ tưởng ai đấy sẽ tát cho họ một cái. Khi thấy không có gì xảy ra họ bắt đầu lôi các loại lí thuyết ra: đây là sự lừa dối của giáo sĩ, tàn dư của việc thờ thần linh. - Là sự giác ngộ? (no! no!) Thậm chí, họ cần đến những giả thuyết như vậy.

Còn các nhà thần học khiến tôi bị hút thẳng vào đó. Mẹo của họ là cái sự này-cái sự nọ. Cái sự Thượng Đế. Gotiheit. Divinité. Người ta thử tô vẽ, thư mục hóa, văn bản hóa và giáo điều hóa nó. Der verkappte Atheist. Người ta. thử phát biểu một cách chuyên môn hóa: doryotagrafolitoriomalbiocitis - Tên một loại bệnh mà các tác hại của nó khoa học chưa tìm ra, nhưng vẫn đang trong quá trình nghiên cứu.

Vậy xin mời!

Thượng Đế không phải là một cái tên mà là một khái niệm. Nhưng tôi chưa hề biết một ai, kể cả người sống lẫn kẻ đã chết từng biết phát âm từ này. Một kẻ biết nói ra từ này mà lại thiếu sự khúm núm và sợ hãi, nồng cháy và trang trọng, ban ơn và cao ngạo, thiếu sự nịnh bợ, thiếu cảm giác phạm tội và buồn rầu và muốn ngất xỉu và vô minh và thiếu một lương tâm bị cắn rứt run rẩy, thiếu sự giả vờ và sự sợ hãi.

Từ: “Thượng Đế” không thể phát âm giống như phát âm từ: “gan ngỗng”.

Bởi bằng từ này, bạn ơi, bạn đã bị tóm lấy. Tại đây bạn không biết nói dối, không có nghĩa lí gì phải trốn tránh, cũng như cao ngạo, hoặc run lẩy bẩy cũng không, sự trịnh trọng của bạn, sự ban phát của bạn, sự lo sợ của bạn không đạt được bất cứ điều gì.

Bạn là tín đồ hiền lành. Nhưng bạn có nguyền rủa cũng chả tốt hơn. Bạn không thể chạy trốn. Bạn lảng tránh bằng cách nào? Nếu bạn bảo không có Thượng Đế? Bạn cần phải đóng kịch. Dù bạn muốn hay không, ban hãy cứ phát âm tư đó và bạn sẽ thấy ngac nhiên.

Chắc chắn

Trong đời tôi một giây phút duy nhất cũng chưa từng, tôi có thể nói như vậy, một khoảnh khắc duy nhất cũng chưa từng, đó là điều chắc chắn, cho dù tôi nghĩ đến cái gì, tôi làm cái gì, một cách liên tục và không ngưng nghỉ, không dừng lại và không đứt đoạn - mà Thượng Đế lại để cho tôi yên, mà ngài lại không hành hạ, xua đuổi, hãm dọa, lay động tôi, đây chẳng là ai, đây chẳng là cái gì, một kẻ đến tên tôi cũng không biết, chỉ biết đấy là Thượng Đế, một từ mà tôi không thể nhắc đến mà không đau đớn, đây là một cái gai sắc, là lửa, là thuốc độc, cạm bẫy, là sự say sưa, là một khoảnh khắc chưa từng có, tôi có thể nói, một khoảnh khoắc cũng chưa, điều này chắc chắn.

Cho dù

Cho dù: “Đời một con người do mối quan hệ của nó với Thượng Đế xác định”. Không chỉ một cách chung chung. Mà, như cách thức con người mặc chiếc áo sơ mi lên như thế nào, đi qua dòng suối ra sao, dán một cái tem lên thư như thế nào. Không chỉ như nó cầu nguyện ra sao. Và như cách thức nó cạo râu, nó ho và nhìn ra từ cửa sổ. Toàn bộ, tôi nói, toàn bộ tác động trở lại từ từ ngữ này, và trôi qua thông qua từ ngữ này.

Baader bảo: nếu con người, không cần hoàn toàn nhưng một lần nữa đặt lại quan hệ bình thường với Thượng Đế, tác động không thể tránh khỏi của mối quan hệ này cũng sẽ tác động lên môi trường, như cách thức nó bước ra khỏi một hoàn cảnh bình thường thì cũng kéo theo mình toàn bộ môi trường quanh nó.

Vậy ý nghĩa sau rốt của sự nồng cháy? Khi con người thốt lên từ này - Thượng Đế - nó phát âm một cách nồng nàn. Và vì thế nó phát âm nồng nàn một số từ. Cái gì là sự khôn lỏi luồn lọt? Nếu nó phát âm ra một cách khôn lỏi luồn lọt. Cái gì là sự trịnh trọng, sự bôi bác, là chủ nghĩa trơ trẽn, sự nhố nhăng, sự ngây độn? Tất cả mọi từ đều có thể thay thế. Tất cả mọi từ đều có thể ẩn dụ hóa. Tất cả mọi từ đều có thể xác định và chứng minh được. Nhưng có một từ không thể (Bên cạnh sự phủ nhận Thượng Đế còn có một sự ngu xuẩn lớn hơn, đấy là một kẻ nào đó chứng minh sự sống của nó).

Trong suốt cả cuộc đời tôi tôi muốn đạt tới việc biết nói ra từ Thượng Đế

1. Tôi sợ ngài và tôi tránh. 2. Vỗ về bên ngoài. 3. Tôi đã phủ định (không có, sự dối trá giáo sĩ vân vân…). 4. “Vật sở hữu”, “Một Ông Già” (Ngài Thủ Trưởng Lớn). 5.???

Sự hãi hùng của những chữ cái viết hoa.

Trước Thượng Đế tất cả mọi người trần trụi như nhau. Bởi vậy không có ý nghĩa gì cho sự ẩn nấp, tự vệ, cho các mặt nạ, những sự dối trá, những khẳng định, những lí thuyết và những sự bôi bác.

Con người không thể đến bằng bất cứ cái gì. Mà đến bằng chính bản thân nó. Như người ta thường nói: “đi tay không” - đến bằng chính bản thân riêng của nó. Không thể cáo ốm. Không có tay trong. Không thể bị thất thoát. Nếu con người đi về phía Thượng Đế (và không thể không có mặt trước mặt ngài), nó không thể để quên bản thân nó ở nhà. Ai không tin điều này, nó sẽ không tin điều nó tin. “Không thể nói dối với hiện thực”.

Người ta thường khắc từ Thượng Đế vào những lưỡi lê, những quả lựu đạn và vào những quả bom để thả xuống.

Sự thỏa mãn lưng chừng là điều xấu nhất.

Thánh Gióp: Là “một vị vua, mà tên tuổi và sự xinh quang của ngài vĩ đại và không được biết đến”.

Thính cảm

Từ ngữ này bắt nguồn từ Ferdinand Ebner. Thực chất mọi từ được nói ra đều vang lên giữa con người và Thượng Đế. Ngôn ngữ không là gì khác ngoài sự đối thoại giữa Thượng Đế và con người. Sự đối thoại thực chất được bao bọc trong lời nói. Có thể mở sự đối thoại này ra và có thể nghe được những từ ngữ chân chính. Một tác phẩm cấm, thậm chí, bất nhã. Một sự rình mò.

Thính cảm đơn giản và dễ dàng, ai cũng có thể thực hành. Nếu đã học được, từ một âm điệu duy nhất có thể xác định con người với Thượng Đế nằm trong mối quan hệ nào. Những điều này đôi khi cực kì ngộ nghĩnh, đặc biệt trong nhà thờ, hoặc trong các buổi lễ, hoặc lúc thực hành các nghi lễ cực kì nghiêm túc khác. Tất cả mọi người đều nói dối như mọi kẻ khác.

Những ngôn ngữ gợi cảm (thi ca, triết học, âm nhạc, hội họa, điêu khắc) và ngôn ngữ hằng ngày không bao giờ như nhau. Tôi ít nhất chưa bao giờ quen duy nhất một người, một tác phẩm, một văn bản đã viết, một bức họa, một tác phẩm âm nhạc mà ngôn ngữ gợi cảm có thể diễn tả như ngôn ngữ hằng ngày. Ai có thể nói ra điều hiện thực nói, kẻ đó là người đích thực.

Tôi chỉ biết đến đúng một văn bản đích thực cội nguồn, đó là lời tuyên bố. Lời tuyên bố là tiếng mẹ đẻ của sự tồn tại. Mọi ngôn ngữ, văn bản, lời nói khác đều giả, về mặt âm điệu, và tất nhiên về mặt logic lẫn tâm lí học, văn phạm học. Tóm lại: một sự lừa bịp. Có loại giả thô bạo và làm tổn thương tai nghe. Có loại tinh tế, như thể dễ chịu. Loại đầu là sự đau đớn (sự dối trá) loại sau là loại ngọt ngào (thi ca, nghệ thuật, tiếng hát của siren). Thứ ngôn ngữ giả có giai điệu sinh ra cùng nhân loại là ngôn ngữ thơ ca.

Thính cảm là khả năng có sẵn, đứa trẻ mang theo bên mình, nhưng muộn hơn nó đánh mất, bởi sự thỏa thuận không quyết định dừng chân tại ngôn ngữ đích thực mà ở lại cùng loại ngôn ngữ gợi cảm. Đứa trẻ ban đầu học nói từ ngôn ngữ đích thực. Đấy là ngôn ngữ trẻ thơ. Nhưng khi đứa trẻ bắt đầu đến trường từ phút đó trở đi ngôn ngữ đích thực của nó chìm vào quên lãng.

Baader nói về định luật cơ bản của sự thính cảm như sau: “Cái tôi nói trong mọi trường hợp chỉ là tôi nói to lên điều tôi cần nghe thấy lần đầu tiên từ một ai đấy…

Đức Hồng y Newman viết: “đặc tính cơ bản của con người là sự đồng thuận” (assent). Sự đồng điệu. Thiếu điều này không có ngôn ngữ. Thiếu điều này đứa trẻ không bao giờ học nói được. Tất cả mọi người đều phù hợp với một sự đồng điệu nào đó, nhưng tất nhiên tính chất đồng thuận này khác cái gọi là ngôn ngữ.

Hamann trong tác phẩm Metakritik của mình cho rằng Kant đã phạm một sai lầm ngớ ngẩn. Lời giải thích về điều này cực kì đơn giản (lời giải thích những nhầm lẫn ngớ ngẩn luôn đơn giản). Chủ nghĩa duy lí như một vũ trụ quan là một hiện tượng thứ yếu. Các hình thức của toàn bộ các thế giới quan được đưa ra trong ngôn ngữ.

Các từ ngữ và các ngôn ngữ không phải do tư tưởng, nhận thức, trí óc, tính hợp lí tạo thành. Trái lại, nhận thức không là gì khác ngoài một dạng ngôn ngữ được chia sẻ bởi nhân loại. Cái tiên nghiệm (priori) không phải là nhận thức mà là ngôn ngữ. Cần hướng sự phê phán bản chất không phải đến nhận thức mà đến ngôn ngữ. Đây là thính cảm. Đây là điều cấm. Đây là điều cần.

Tất cả những điều này tôi ghi chép lại để một người nào đấy một lúc nào đấy sẽ xây dựng lên một khoa học về sự thính cảm. Có một số người cho rằng không có gì cản trở trong việc chúng ta có thể xây dựng lên một dụng cụ mẫn cảm biết đo khoảng cách giữa thứ ngôn ngữ gợi cảm giác (ngôn ngữ nghệ thuật) và ngôn ngữ hằng ngày, biết ghi lại những từ đã phát ra.

Nhưng từ sự sửng sốt và đau đớn của các nhà thơ bất tài, những kẻ lừa bịp, những kẻ khoác lác, bọn chính trị gia, bọn lừa đảo, các giáo sĩ, các nhà báo bên cạnh những ngôn từ đã nghệ thuật hóa còn cả ngôn ngữ hằng ngày được ghi lại. Dụng cụ này cho dù ý nghĩa thực tiễn lớn đến đâu, nhưng không có chút hi vọng nào để tạo ra nó.

Vật chất cho dù không phải hoàn toàn phi tinh thần, bởi vì như vậy nó sẽ là thứ phi-tồn tại, hay vật chất không phải là vô thần nhưng nội dung thần bí của nó ít đến nỗi nó chỉ nắm bắt được những tuyên bố tinh thần rất thô thiển (vật lí, hóa học v.v.).

Với từ Thượng Đế, vật chất chỉ có thể diễn đạt một cách phi hoàn hảo, gần như không thể hiểu nổi. Trong thế gian của chúng ta vật chất là thứ mà sự đồng điệu của nó trì trệ nhất. Bởi vậy từ vật chất chế tạo ra một dụng cụ để hiểu, để đo, để đánh dấu về sự đồng điệu tinh tế của linh hồn là một việc không thể. Chế tạo ra máy thính cảm là việc không bao giờ có.

Tôi muốn kể về một vài trường hợp thính cảm.

Người thầy ở Marokkó

Họa sĩ Csontváry vào giữa cuộc Thế chiến I đã viết một thông báo khẩn cấp cho Bộ Ngoại giao, trong đó ông nói rằng con người không cần phải lo lắng, không có nỗi nguy hiểm nào đe dọa, bởi vì ông đã tìm thấy sự liên kết với Thượng Đế. Ông còn đề nghị hãy nói với cả nhà vua về điều này.

Những kẻ cùng thời cười thương hại cho họa sĩ. Một thằng điên. Có thể nhận định của họ đúng nếu như Csontváry không vẽ bức tranh Người thầy ở Marokkó.

Thế là những kẻ cùng thời lập tức im phăng phắc. Bức tranh Người thầy ở Marokkó là một bằng chứng cho thấy khi Csontváry nói mình đã tìm thấy sự liên hệ với Thượng Đế, ông đã đúng. Bức tranh là một dấu hiệu mời gọi. Giữa tất cả các bức tranh ông đã vẽ đây là bức duy nhất thể hiện bằng một sự đồng điệu đặc thù. Nói như người họa sĩ, bằng một sự liên kết.

Bức tranh nhận ra tâm trạng một người khi nói ra (một cách nghiêm túc) một dấu hiệu mời gọi (từ: Thượng Đế), lúc ấy người đó bước vào sự liên kết với Thượng Đế. Tâm trạng này không xa lạ. Nó được đặt tên là Miki và Aljosa của Dostojevskij. Kẻ ngốc. Kẻ khờ khạo. Kẻ nghèo khó về tinh thần. Thật hạnh phúc cho những kẻ nghèo khó tinh thần, bởi họ biết thốt ra từ: Thượng Đế.

Với Csontváry rất có thể từ Thượng Đế không phải là một tín hiệu mời gọi, mà là một cái TÊN thật sự. Nhưng chúng ta không biết Thượng Đế người ta gọi bằng tên gì. Chúng ta chỉ biết đấy là Thượng Đế. Chỉ là một vị trí, một nghề nghiệp, chúng ta bảo, một phẩm hàm. Nhưng cũng chỉ những kẻ nghèo khó tinh thần mới biết thốt ra từ này. Chỉ sự vô tội ngốc nghếch. Đấy là bức tranh Người thầy ở Marokkó.

Trên mặt người thầy là sự hài hước của tri thức. Bởi tri thức luôn là sự hài hước. Bức tranh Gioconda (Leonardo da Vinci) là một bằng chứng. Bản thân ông thầy cũng không hiểu sự hài hước ở đâu ra, biết đâu sẽ bị mất ngay trong khoảnh khắc tiếp theo. Điều quan trọng là nó vẫn còn đó. Và ông thầy hiểu nó. Nếu nó bị mất, thầy sẽ luôn luôn nhớ rằng có một lần nó đã từng có. Chỉ cần nhận ra, điều này cần dạy dỗ như thế nào.

Luôn luôn cần nói với một nửa giọng thôi và nếu thầy mới chỉ tìm ra sự hài hước này thôi thầy đã có thể giúp biết bao nhiêu linh hồn. Tất cả họ đều chờ đợi điều này.

Trong bức tranh Bức Tường Than vãn Csontváry đã vẽ những linh hồn chờ đợi này. Giờ đây chỉ tác giả có nó, đúng hơn, có một gánh nặng. Không thể cho đi. Cho dù không phải của ông nữa. Cần phải nói ra, rằng… Điều này không đủ chính xác. Đơn giản hơn nữa. Cần đơn giản hơn nữa. Nữa, đơn giản hơn thế nữa. Toàn bộ để làm gì cơ chứ khi chỉ tôi biết, và tôi không có khả năng chuyển cho bất cứ ai!

Schumann

Giữa các tác phẩm của Schumann tôi thích nhất là bản noveltet cuối cùng của ông, có thể vì nó phù hợp nhất với sự chờ đợi của tôi với ông.

Cái tôi kiếm tìm trong đó, chắc chắn cũng có trong tác phẩm etude simfonia, cho những tổ khúc và độc tấu cho piano, chưa nói đến dàn nhạc a- moll. Nhưng chưa ở đâu biến thành một thứ phóng đại kí ức điên cuồng như ở bản nhạc này.

Đối với tôi trong tất cả các tác phẩm của Schumann chỉ có duy nhất một chủ đề. Đấy là sự se lại hiếm hoi, dịu dàng đến vô tận của trái tim, mà một người đang yêu đặc biệt trải qua khi người yêu ở xa mình. Trái tim se lại như thể không muốn làm phiền sự hiện diện của người yêu. Khi đột nhiên một lần nghĩ đến người ấy, trái tim hoàn toàn tê dại. Như thể từ mặt đại dương tối đen một ngôi sao cháy sáng rực bay lên trong đêm. Đề tài vĩnh cửu của Schumann là niềm hạnh phúc lóe sáng của trái tim, là sự tái hiện rực rỡ đầy dục tính khoảnh khắc tê dại của tình yêu bí ẩn.

Tôi giả dụ rằng Schumann cảm thấy điều này trong cái hôn của Klára. Bởi vì trong bản nhạc này đúng hơn tôi cảm thấy Klára chứ không phải ông. Chưa ở nghệ sĩ nào người đàn bà truyền cảm hứng lại trở thành nàng thơ hoàn toàn như vậy. Đây là điều tuyệt vời của Schumann. Và không ở đâu hoàn hào hơn là ở bản nhạc cuối cùng của ông. Klára, chỉ có Klára mà thôi. Tôi chưa bao giờ nghe ai chơi bản novellet cuối cùng này. Nó xa lạ với các cuộc biểu diễn âm nhạc. Không có gì đáng ngạc nhiên. Đấy là một dòng điện truyền ngay lập tức lúc nhạc nổi lên, một viễn mộng trí tuệ ngùn ngụt từ niềm cảm hứng ngây ngất. Bơi trong biển bạc của tình yêu dành cho Klára toàn bộ. Không có chỗ cho phòng biểu diễn của dàn nhạc.

Nhưng điều này mới chỉ là một nửa nội dung của bản novellet. Còn một điều khác nữa ló ra từ niềm hạnh phúc. Và khi nó lộ ra, nó đóng băng, đột ngột lạnh lùng và cấu cào và ngọt ngào. Đây là một sự trớ trêu. Con người muốn hiểu chính bản thân mình, chỉ có một cách duy nhất, nếu nó yêu.

Sự trớ trêu tấn công, và cũng như vậy, nó tự vệ. Căm thù. Trả thù. Đây là một sự gắn bó khác. Schumann yêu Klára, yêu một cách mất trí, và khi ánh lửa ngây ngất trong trái tim cháy bùng lên, chàng bắt đầu run rẩy và cười ngạo nghễ. Sự tự hành hạ nỗi đau khổ, sự bất lực, cái cười nhăn nhở ngạo nghễ trong sự ngu ngốc của chính mình. Đây là đề tài của bản novellet.

Hai điều. Nhìn ra bất cứ đâu cũng luôn luôn thấy hai điều. Tắc thở trong sự say đắm ngây ngất và tắc thở trong cái cười ngạo nghễ nhăn nhở. Nếu nhăn nhở cười ngạo nghễ trên những thằng ngu, kệch cỡm, đê tiện, đờ đẫn, nhút nhát, đạo đức giả còn có thể được. Nhưng Klára? Nhạc sĩ muốn gì? Kẻ này đâm xuyên vào kẻ kia, quay tròn và nhai rôm rốp và rên rỉ. Cùng lúc tất cả lộ ra và hết.

Van Gogh

Van Gogh trong giai đoạn cuối ở Arles đã vẽ rất nhiều bức đảo nguyệt quế. Những bức tranh nguyệt quế làm tôi nhớ nhiều đến chúng, kể cả lúc này, những cái cây dày đặc đứng cạnh nhau, bức tranh như thể từ trên nhìn xuống, như thể không thể nhìn xuyên thấu, giống như một bức họa Trung Quốc, như thể một đám cháy bốc lửa vẽ bằng những cột khói dày đặc.

Van Gogh điên rồ, như Schumann (và Csontváry và Nietzsche) nhưng giữa đám người châu Âu, tôi có cảm tình với những kẻ điên rồ. Bọn không điên rồ luôn nghĩ trong đầu làm thế nào để lấy được tiền từ túi thằng khác, hoặc cái dùi cui từ tay kẻ khác.

Ở đây không nói về một cái gì đặc biệt và hiếm hoi, về một thực hành ngập ngừng. Một tội lỗi. Một sự nhầm lẫn. Không phải một cái phi hoàn hảo của kĩ thuật hay kiến thức nào cả. Không. Xin thưa đây là một sự điên rồ thế hệ của toàn bộ loài người.

Van Gogh nhận ra, con mắt của chúng ta trong cái nhìn mạt sát là con mắt hư hoại giả dối, không nhìn thấy hiện thực, mà chỉ thấy tấm màng méo mó mà máy ảnh đã chấp nhận. Tất cả chúng ta trong sự lãnh đạm và bằng cái bản chất đóng băng một nửa của mình đã nhìn thấy một thế gian không giống hiện thực. Vô hiệu quả. Để con người nhìn thấy đúng hiện thực, đúng sự giả dối được gọi là hiện thực, cần phải nhóm lửa của nó lên.

Để con người trở thành tỉnh táo, cần phải trở nên điên rồ. Van Gogh nhóm thế gian lên và trở thành điên, để nhìn thấy hiện thực như là nó. Cái mà chúng ta gọi là sự điên rồ gần với trạng thái bình thường hơn là gần với cái chúng ta gọi là tỉnh, không điên.

Nhưng như vậy bức tranh này vẫn chưa là gì cả. Vẫn mới chỉ là một bức họa. Vẫn mới chỉ là nghệ thuật. Nhưng bức đảo nguyệt quế không như vậy. Ô! Mà là nó rất khủng khiếp! Làm sao để có thể nói hết toàn bộ nó ra đây?

Nói ra điều nó nói ra. Nói ra điều không thể nói ra. Cùng lúc, tất cả, đường cày in thành rãnh, quả bí vàng, những cái cành, những cái ghế rơm, quả đồi, lớp vỏ cây, khói, những hòn đá, cái khăn trải bàn, khuôn mặt rậm râu, mặt trời, vâng, chính thế, mặt trời.

Thi phẩm của Hölderlin về một kỉ niệm

Con người trong sự lãnh đạm câm lặng vẫn có thể sống được, trong sự lười biếng vẫn có thể hạnh phúc, như một kẻ ngốc, như súc vật. Bằng trái tim trống rỗng dễ trở nên hạnh phúc - es ist leicht, mit seichtem Herzen glücklich zu sein.

Nhưng con người không chọn sự lãnh đạm mà chọn thứ LUẬT LỚN. Đấy là sự thừa kế. Bởi vậy con người sống trong sự thử nghiệm nước đôi. Nếu cầu hòa bình, nó cần sự thản nhiên súc vật, nếu chọn LUẬT LỚN, nó cần đổ máu. Và nó làm.

Khi nào nó hoàn thành mệnh lệnh ghi trong bản chất? Treue Gottes là cái gì? Không, nếu nó trở thành súc vật. Không, nếu nó lớn lên trong sự sinh sôi của cái chết hoang dại (das allzu gebundene). Đặc biệt làm sao. Đây là trạng thái tỉnh. Một cách hiểu biết và theo duy lí.

Có gì trí tuệ hơn việc muốn hạnh phúc và trở nên hạnh phúc. Nỗi nguy hiểm của sự tỉnh táo, sự hiểu biết và trí tuệ là sự trả giá khi sống đờ đẫn bình yên với trái tim rỗng tuếch. Trên giá của sự phản bội nữa. Bán mình cho niềm hạnh phúc và trong sự thản nhiên câm lặng biến thành súc vật. Đấy là sự hiểu biết và tỉnh. Đấy là sự duy lí.

Còn lịch sử là sự vô nghĩa. Lịch sử là sự điên rồ của đổ máu. Và đây là sự trung thành với Thượng Đế. Treue Gottes. Cái này dù khủng khiếp đến đâu, trong sự kinh hoàng này con người dù đạt tới ít đến đâu, một sự vĩ đại vẫn bắt đầu. Des grossen Anfang. Tại sao?

Bởi vì bằng việc hiến dâng sự tỉnh táo, hòa bình, hạnh phúc, bởi vì bằng việc lựa chọn sự điên rồ, sự đổ máu và sự bất hạnh, nó đã mở ra. Denn lang steht offen, wie Bücher, zu lemen, oder Linien un Winkel dev Seele. Trong niềm hạnh phúc súc vật linh hồn câm và thản nhiên, và còn lại như thế. Chỉ trong sự điên rồ của lịch sử nó mở ra. Còn Thượng Đế với kẻ đã mở lòng, che đi những điều khủng khiếp. Phủ lên mắt nó bằng cái đẹp - und decket die Lider mit Kunst.

Tình huống Pascal

Điều này tôi đặt tên là tình huống Pascal: nhận thức cứng nhắc, nền kinh tế học đã cân nhắc kĩ, chủ nghĩa cá nhân cứng như đá, tính lạnh lùng, kệch cỡm, và sự phi ảo tưởng, thuần túy đức hạnh buôn bán, tiện ích khô khan. Sự tự duy trì bản thân, dùng từ khác là háo danh, nỗi đam mê sự vĩ đại, thứ không thỏa mãn với cái nhỏ bé, thứ đòi sự tận cùng và chắc chắn.

Trong tôi có bấy nhiêu đấy, và sự kết hợp này lựa chọn Kitô giáo trong tôi. Không có chút gì về chủ nghĩa lí tưởng, sự chiêm ngưỡng, tôn giáo, rửa tội ở đây. Trong tôi thuần túy đây là sự tính toán. Tôi biết, không phải là quyền lực, của cải, sự thành công, sự hưởng lạc. Đấy là những thứ giả bộ nghiêm chỉnh.

Chỉ có sự ngẩn ngơ muốn ngự trị, hoặc muốn nhiều tiền, hoặc sự hưởng lạc. Một đảm bảo đời sống như vậy với tôi không đủ vững chắc. Tôi nghi ngờ nhiều hơn. Thậm chí. Tôi còn sợ hơn nữa cơ. Kẻ tương đối ích kỉ, tương đối tỉnh và biết tính toán, kẻ trong nó có đủ bản năng kinh doanh, có sự nhạy cảm về việc đầu tư, và kẻ chỉ muốn được trở thành một người theo Kitô giáo.

Điều này, xin thưa, không phải sự sâu sắc, chẳng phải đức tin hay việc của tinh thần. Xin thưa, đây là thực tiễn. Một hoàn cảnh duy nhất được đảm bảo: trở thành kẻ theo Kitô giáo. Tôi là kẻ nghiêm khắc, tính toán, biết lo âu vì sự đảm bảo bản thân đến tận cùng, và vì thế tôi chọn Kitô giáo.

Tình huống Pascal là: con người biết điều này. Nó biết chẳng có gì nhiều hơn. Không phải Kitô giáo. Nó chỉ biết thế. Cần phải trở thành điều này vì điều này không chỉ đúng mà còn thông minh nữa - và bằng điều này cùng một lúc nó giải quyết được tất cả.

Tôi biết chắc chắn rằng tôi cần phải trở thành kẻ theo Kitô giáo. Nhưng tôi chỉ biết thôi. Tri thức này chắc chắn đến nỗi thật tai hại nếu chống lại nó. Và kẻ nào không biết, kẻ ấy ngu. Tôi biết. Tôi đứng trong tri thức này nhưng tôi không phải người theo tinh thần Kitô giáo. - Đấy là tình huống Pascal.

Một câu của Saint-Martin

Saint-Martin nói một câu rằng đầu tiên cần làm cái tốt, rồi sau đó mới muốn và nghĩ đến nó.

Một lời khuyên nguy hiểm. Tôi dám nói rằng có ít cái khác nguy hiểm hơn. Xóa hẳn ảo tưởng đầu tiên của trực giác. Đầu tiên cần làm đã. Rồi sau đó mới muốn và nghĩ, hoặc không cần muốn và cũng chẳng cần nghĩ, chỉ làm.

Nếu mi cứ đợi để việc muốn cái tốt tự phát mi sẽ phải đợi lâu và sau rốt mi nhận ra đến một cái tốt duy nhất mi cũng không làm. Lúc đó đã muộn rồi, vô ích mi âu sầu. Bởi vậy, đúng thế, con đường dẫn xuống địa ngục rải đầy những ý định tốt. Và chỉ toàn những ý định tốt. Và chỉ toàn những hành động xấu.

Hãy đừng nghe những ý định tốt của mi. Hãy đừng trở nên tự phát. Hãy làm cái tốt. Hãy làm chống lại chính bản thân mi. Mi không phải là cái tốt đâu. Hãy nhận ra đi, mi không tốt. Cái tốt cần làm trước tiên, trái với ý định của mi, độc lập hoàn toàn với mọi tri thức và mọi ý định tốt, và trái lại với những cơn tự phát của mi.

Sokrates là một kẻ vụng về, cái tốt đầu tiên không cần biết và không cần muốn, đầu tiên cần phải làm, sau đó, nếu kẻ nào có hứng, có thể muốn cũng được, nhưng không quan trọng. Có thể sau đó mi sẽ quen và một cách tự phát mi sẽ làm ngay. Nhưng cũng có thể mi sẽ chẳng bao giờ quen. Không sao. Không được phép chờ đợi để tự nguyện làm cái tốt. Dù tự nguyện hay không, cũng cần phải làm.

…Những hậu quả…

Kitô giáo chống lại tính tự phát? Chống lại sinh học? Một bạo lực thực hành trên những bản năng sống? Sự phá hoại đời sống? “Lí tưởng muôn năm, đời sống hãy chết đi!”. Nhưng không chỉ Kitô giáo, mà tất cả những gì bắt nguồn từ Kitô giáo? Tôi cần tự mình chống lại cái có trong lợi ích của chính mình? Cần chiến thắng và tiêu diệt cái tự phát? Không quan trọng điều tự nó đến mà quan trọng là cái hãy tốt?

…Và lời giải thích

Trước hết mi hãy yên đi hẵng. Rồi sau đó mi hay nghĩ về những từ ngữ như “Lí tưởng muôn năm, đời sống hãy chết đi!” - cần phải bỏ hẳn. Bạo lực? Vụng về và rẻ tiền. Rỗng tuếch giả dối.

Cái người ta đặt tên nó là sự tự phát, cái xuất hiện từ bản năng của mi, hay như ngày nay người ta thường nói, hiện sinh, cái đó, bạn thân mến, đều rất văn hoa, rất tiểu sử danh nhân, hay đều đóng vai anh hùng, và thánh và nhà thông thái. Tất cả những điều này liên quan đến con người đã hư hỏng. Nếu mi để cho con người đã hư hỏng hành động, nó sẽ tự phát, sẽ chân thành và sẽ hiện sinh. Toàn những ý đồ tốt. Và toàn những hành động lưu manh. Nó sẽ kinh tởm từ sự giả dối. Và nó sẽ làm tiếp toàn những tội ác. Vì nó đã như thế.

Tôi không ưa thích loại văn học như vậy. Tôi kinh tởm điều trở thành anh hùng, hoặc thánh, hoặc nhà thông thái. Tôi không tò mò tiểu sử danh nhân của mình. Tôi muốn trở thành một con người bình thường.

Và mi hãy tin đi, cho dù chúng ta đã hư hỏng đến bao nhiêu, trong tất cả chúng ta vẫn còn con người bình thường này. Và khi mà mi làm việc tốt (tôi gọi như vậy vì cảm hứng của sự giản dị, và mi thừa biết cái gì là cái tốt) lúc đó kẻ bình thường chính là kẻ đã hành động.

Với một con người bình thường những câu hỏi nêu ra như sự tự phát hay lòng chân thành đều không có Với người bình thường chỉ có một câu hỏi thôi: cái gì tốt? Nó cũng chẳng hỏi nó nói dối hay không. Điều này, nghĩa là hiện sinh, với nó không thành vấn đề.

Nó không hỏi bởi nó không phải nhà thông thái, không phải thánh cũng không phải người anh hùng, và tiểu sử danh nhân nó cũng chả thiết. Điều nó quan tâm là cái gì tốt. Bởi cái tốt là sự bình thường và khỏe mạnh. Không có chuyện ý đồ và ý chí. Cái này tốt. Cái này là cái cần làm. Không có vấn đề. Không có xung đột. Đây là cái tốt. Toàn bộ rất giản dị: đây là cái tốt, hây làm điều này, vậy thôi.

Thêm một lần nữa về Pascal

“Mi sẽ không tìm kiếm ta nếu ta không phải là của mi. Đừng lo âu”.

“Vĩnh viễn “không” thay vì cho “có”

“Luôn luôn cần ít nhất là một ý nghĩ bí mật”.

Mi run rẩy? Như Turenne nói: mi run rẩy! Giá như mi còn biết nhỉ, ta đưa mi đến đâu! Ta đưa mi vào lửa. Ta đưa mi đến cây thập tự. Mi không biết sao kẻ bất hạnh, cái mi gọi là đời sống, chỉ là giấc mộng đẹp nhất của tinh thần mi. Không có hòa bình. Không có bình yên. Không có nốt cả niềm hạnh phúc, lẫn niềm vui, lẫn thiên đường.

Đời sống! Hậu quả cuối cùng của việc mi nghiền nát và xé tan bản thân mi ra, mi dâng hiến, đốt cháy và đóng đinh mình lên thánh giá. Cái vì thế mi hành hạ và khủng bố bản thân, cái vì thế mi run rẩy và không bao giờ muốn cái tốt, nhưng mi làm chống lại ý chí của mi.

Đừng lo lắng thế! Ta là của mi. Mi tìm kiếm bởi vì ta là của mi. Mi không bị mất đâu, không thể bị mất. Đừng lo lắng, nếu ta đã hỏi. Đừng sợ. Hãy đạp đổ, hãy xé nát, hãy tiêu diệt. Cái mi làm chống lại bản thân nằm trong lợi ích của bản thân mi. Hãy thông minh một chút. Hãy tỉnh và ích kỉ và thực dụng.

Có: vĩnh viễn quay về không và không quay về có. Luôn luôn chúng ta có ít nhất một tư tưởng không nói ra, ngậm miệng. Nếu mi sống trong sự hưởng lạc, trong quyền lực, trong của cải, hoặc trong thành công, sau mi là cây thánh giá. Nếu mi sống trong sự đau khổ, trong sự từ bỏ, trong sự dâng hiến, sau mi là đời sống và sự vinh quang. Chớ lo lắng.

Tình trạng khó xử của một ông thợ đường ống hay: không có gì lúng túng hơn như khi đao phủ bị treo cổ

Có thể nhận ra nụ cười của bác sĩ trưởng. Nụ cười có chuyên môn. Hiện thực, ngài cười và nói, không phụ thuộc vào con người. Vâng xin thưa, đúng là như thế, ngài vừa nói vừa cười. Vô ích chúng ta chống đỡ. Cho đến tận khi ngài ốm. Từ lúc đó trở đi bác sĩ trưởng không bao giờ cười nữa.

Ngài nhận ra, hiện thực hóa ra cũng không hoàn toàn độc lập với con người. Giờ, ngài đang lâm nguy. Chừng nào ngài đưa những kẻ khác đi treo cổ, chừng đó ngài chưa gặp nguy. Hiện thực, ngài nói, độc lập với con người. Khi người khác đưa ngài đi, ngài giật nảy mình và nụ cười chuyên môn hóa không nhìn thấy ở đâu nữa.

Có vẻ như nụ cười độc lập với con người chỉ có hiệu quả chừng nào còn tốt cho một kẻ nào đây. Khi nụ cười này bắt đầu mệt mỏi, tất nhiên lạp tức khác. Không bao giờ còn khách quan nữa. Nó trở nên nguy hiểm, nổ tung, đánh lạc hướng, bỏng giãy, đam mê, quay cuồng, thậm chí hơn thế, mất dạy một cách đáng khùng, ti tiện và ngạo mạn, mang tính chất quyền lợi phi khoa học.

Cơn diên không thể tấn công nổi của hiện thực độc lập với con người có thể tồn tại nếu bác sĩ trưởng không bao giờ mắc bệnh. Nhưng từ bấy đến nay tất cả các bác sĩ trưởng đều mắc bệnh. Và khi người ta mang họ đi treo cổ, ô! mới bấn loạn làm sao.

Hiện thực độc lập với con người, cái còn gọi là thế giới khách quan là một ảo ảnh phi trái tim đã bị mất trí. Bản thân khái niệm hiện thực hiện đại là một bằng chứng cho việc hiện thực phụ thuộc vào con người.

Thế giới khách quan không là gì khác, ngoài một thế gian phụ thuộc, một thế gian phụ thuộc vào kẻ bị luộc chín cứng như đá trong chủ nghĩa cá nhân súc vật.

(… ta điên tiết, ta nổi giận và ta thuyết giảng. Tiếng ồn ào chẳng nói lên điều gì. Chỉ có nghĩa là bản thân ta cũng yếu ớt. Nếu ta đủ cứng cỏi, ta đã không gào lên).

Thế giới khách quan là một chức năng của điều kiện chủ quan đặc thù, là điều kiện chủ quan phi tưởng tượng, phi đam mê, thường nhật và trung lập, tầm thường và thô thiển.

Thế giới khách quan không độc lập với con người mà phụ thuộc vào thứ người lãnh đạm, thế giới khách quan là thế giới của chủ nhà băng, kẻ thực hành, cảnh sát, người chuyên chở, thủ trường hành chính, chủ nhà chứa. Một sự cưỡng bức. Một sự ngu muội máy móc hóa.

Nó là bác sĩ trưởng, chừng nào ngài bác sĩ trưởng chưa bị làm sao. Nhưng khi bị dẫn đi treo cổ, lúc đó hết giải pháp. Hết thế giới khách quan chỉ còn lại một thế gian đau khổ, bị hư hoại, bệnh tật, rách rưới, nghèo đói, bị bỏ rơi trần trụi, tối tăm, phức tạp không thể nhận biết, một thế gian rống gào lên trong đau đớn.

Nhu Cầu

Không được phép nhầm lẫn chủ nghĩa duy lí với khoa học. Chủ nghĩa duy lí phạm một sai lầm là nhầm lẫn một trong những bộ mặt bị biện chứng hóa của vũ trụ - nhu cầu - với bản thân thế giới và tin rằng đấy là Thượng Đế (theo Bergyajev).

Thần tượng

Chủ nghĩa khách quan chỉ có nghĩa chừng này: sự thờ lạy thần tượng (“Hiện thực độc lập với con người”).

Thiếu sự thỏa thuận của tôi trên thế gian này không có bất cứ cái gì xảy ra hết, một cái móng tay cũng không động đậy, một va đập đụng chạm cũng không thể diễn ra trên đường đi của nó.

Thần tượng. Sự quỳ lạy. Khách quan. Thượng Đế bị vật chất hóa. Giả danh Thượng Đế. Các sự vật. Các vật thể. Các con số. Thống kê. Thần tượng là một cá nhân hóa tưởng tượng. Không hiện thực. Moral insanity, cần chuẩn bị đến sự mất giá của nó.

Whichcote

Good men spiritualize their bodies, bad men incarnate their souls - Con đường đúng đắn là con người tinh thần hóa thể xác của nó, con đường sai là con người khoác xác thịt lên linh hồn của nó.

Hãy tránh xa bọn thi sĩ đĩ điếm (Cave poetam)

(Một ghi chép về đàn bà, về nghệ thuật, về thi phẩm và hiện thực của sự phù phép)

Đây là nói về mối quan hệ mới của hiện thực và phép thuật. Tất nhiên tốt nhất nếu giữa cái chúng ta gọi là thế gian hiện thực và thế gian phép thuật tìm ra một cái trung lập bình thường (các mức độ). Nhưng đấy chính là sự phi lí dành cho tôi khi tôi đã hư hỏng. Điều chắc chắn: tôi không thể xóa bỏ cái này hoặc cái kia.

Cần duy trì cả hai. Phép thuật hiện thực và hiện thực phép thuật.

Tôi gọi là hiện thực tất cả, những gì khách quan, lạnh lùng, trừu tượng, hình học hóa, phi đam mê, vô cảm, cá nhân chủ nghĩa, bầy đàn, ảo ảnh chủ quan phi trái tim. Tôi gọi phép thuật là những gì nhận ra, không thể nắm bắt, cụ thể và đam mê.

Cái chúng ta gọi là hiện thực là một mối quan hệ như thế nào đấy của hiện thực và phép thuật. Bởi vì, không sao cả nếu giữa hiện thực và phép thuật có sự căng thẳng, nhưng mức độ căng thằng giữa hai cái tôi không sắp xếp được, tôi không biết đồng nhất cả hai cũng như không biết tách rời chúng;

Sau phép thuật có hiện thực và sau hiện thực có phép thuật.

Đây là lúc cần nói đến thi phẩm.

Với phụ nữ ngay từ đầu tôi đã có mối ác cảm riêng của mình. Tôi cảm thấy điều này vì sự phi đam mê của họ. Tôi nghi ngờ. Tại sao điều đầu tiên ở họ là họ sợ hãi và ngượng ngập cho chính mình? Đây luôn luôn là kinh nghiệm trực tiếp đầu tiên của tôi khi tiếp xúc gần với một phụ nữ. Thật đáng ngất lịm đi.

Kinh nghiệm cho thấy đàn bà đầy ắp cảm xúc, nhưng là thứ cảm xúc lạnh lùng. Theo kiểu của loài bò sát. Càng mang tính đàn bà càng như vậy. Đây là sự rỗng tuếch. Một sự rỗng tuếch đau đớn, thèm khát, ham muốn, bất lực, phát buồn ngủ. Đây là sự vô cảm phi trái tim và phi trí tưởng tượng. Đây là thứ tính dục lạnh lẽo và ẩm ướt. Một sự thiếu vắng trí tưởng tượng tình yêu. Đây là sự bất lực tính dục.

Họ không kiêu hãnh, cùng lắm là kiêu ngạo, không nhún nhường, cùng lắm là bị hạ thấp. Bởi vậy họ kiêu ngạo đến mức ngu xuẩn. Từ sự đờ đẫn ngác ngơ. Và họ không có gu. Bởi vậy họ dễ cảm thấy bị xúc phạm nhưng không nhạy cảm. Bởi vậy thật là một sự điên rồ khi bằng giới tính họ dính lấy một người đàn ông, kẻ đến gần họ như thể để giải phóng họ ra khỏi chính họ, như thể để cho họ dự phần vào chút ấm áp, chút xúc cảm, chút đam mê và chút ngất ngây hưởng lạc thú. Cái này đàn bà gọi là tình yêu.

Sự bất lực. Sự ngất lịm trong rỗng tuếch. Đây là sự nghèo nàn cảm xúc đến chấn động. Đây là sự rét run lập cập đến giật mình. Điều này trong thứ tính dục đàn bà là sự bám chặt vừa lạnh lùng tàn bạo vừa buồn nôn vừa dính dấp, thứ thèm khát và là kí sinh trùng. Như thể họ không hề sống, chỉ là những con ma sống dậy để nếm thử một hụm từ sự say mê của đàn ông.

Đúng vậy, ngay từ khi còn nhỏ tôi đã biết đàn bà giống con muỗi, không có máu riêng của nó, và nếu nó không kiếm được một giọt máu từ nơi nào đó (bất kì từ đâu), nó sẽ bị hủy diệt phi dấu vết. Thật không cảm giác nào thảm hại hơn thế.

Tôi chỉ bắt đầu hiểu họ khi tôi thấy vì sự thu thập một giọt máu mà họ có khả năng cố gắng đến như thế nào. Và nếu họ không hút được, cả cái thế gian đã tạo dựng này không có thực thể nào thảm hại hơn đàn bà. Rỗng tuếch, phi nội dung, vô cảm, phi đam mê, lạnh lẽo, dấp dính, vô nghĩa, khách quan, trừu tượng, phi trái tim, cá nhân chủ nghĩa, tỉnh, tàn bạo. Hoàn toàn sống trong lĩnh vực của hiện thực. Đầy tính toán, lãnh đạm, thực dụng, máu con buôn, phi trí tưởng tượng, tầm thường, thô thiển, vô đạo đức, mất dạy.

Kassner nói đàn bà mong muốn họ được nhận sự phù phép (ein Weib will verwandelt sein). Một người đàn bà không sống trong sự phù phép - không một thực thể nào thảm hại hơn trên thế gian. Lúc đó sự phù phép cơ bản của họ là trang phục.

Alain viết, đàn bà chỉ đúng là đàn bà khi đã diện đồ. Sự phù phép đó là mốt. Nếu không có mốt, đàn bà sẽ ăn thịt người sống, và cái quan trọng nhất trong toàn bộ điều này là họ không hề biết họ đang làm gì. Rất có thể họ cũng sẽ ăn thịt cả con trẻ, rất có thể giữa các hình thức “văn minh hóa” cao hơn đám đàn bà không có trí tưởng tượng, thiếu sự phù phép, phi đam mê biết “ăn thịt” cả con trẻ! Và người ta gọi đó là tình yêu của người mẹ.

Tôi kinh nghiệm ra rằng: một trong những tính chất quan trọng nhất của thi ca đồng nghĩa với sự lạnh băng của xúc cảm đàn bà. Nơi sự say đắm không đến với ngôn từ, mà chỉ sự lãnh đạm có tính toán. Đây là một chất khô khan thiếu máu, thiếu không khí phi sinh sản, thứ không có sự đam mê và trí tưởng tượng, là sự rét buốt và vô cảm, sự tự thưởng thức mình một cách kiêu ngạo của chủ nghĩa cá nhân.

“Thi ca trong một góc nhìn nào đấy phi cá nhân”. Loài bò sát ngu ngơ, loài cần một giọt máu, ít nhất một giọt máu, nếu không chỉ là bóng ma, vô cảm, rỗng tuếch. Những hình nộm, người thiếc, hình người sáp, chậu hoa cảnh, các bức vẽ. Trừu tượng. Khách quan. Khô khan. Hiện thực.

Kẻ đánh thức sự đam mê, bản thân nó không đam mê. Sự kém cỏi quảng cáo sức mạnh. Sự yếu ớt của đàn bà - một quyền lực đến như thế nào! Sự lạnh lùng của thi ca - Lửa đến như thế nào!

Lĩnh vực xúc cảm lạnh như băng của thi ca và nghệ thuật.

Tất nhiên chừng nào một kẻ nào đấy còn bị lôi kéo vào trách nhiệm với đàn bà, với các nhà thơ hoặc các nghệ sĩ, nó sẽ còn nhầm lẫn, như nhầm lẫn vào quan niệm sướt mướt đa cảm rằng trái tim đàn bà ngay từ đầu đã ấm áp, hoặc nhầm lẫn rằng thi ca chỉ nói về thế giới cảm xúc nhân đạo.

Tôi thấy thương hại những kém cỏi của phụ nữ, và tôi thấy họ khổ sở như thế nào trong sự kém cỏi của họ, và họ yếu đuối một cách khó tưởng tượng nổi, tôi thương họ đến mức không thể hiểu được tình yêu của đàn bà ngoài một sự yếu mềm, một sự thèm khát nỗi niềm được phù phép, từ lúc đó trử đi tôi biết rằng Kassner dã đúng: ein Weib will verwandelt sein, đàn bà muốn, họ được nhận sự phù phép.

Biến họ thành kẻ khác như kẻ ấy. Họ muốn sự trừu tượng, lạnh lùng, sự trống rỗng phi đam mê và phi tưởng tượng này, cái là hiện thực - hãy được đam mê, máu và tâm trạng và niềm cảm hứng đổ ngập vào, bao phủ và làm nóng họ lên và phù phép họ. Sự phù phép này là phép thuật.

Người đàn bà thuần túy về mặt hóa học, nếu có, là sinh linh đáng thương nhất của thế gian. Giống như người đàn bà đứng về mặt hóa học chừng nào còn trong sạch (trinh tiết) chừng ấy còn vô cảm, rỗng, lạnh lùng, cứng rắn, phi cá nhân (nữ thần Artemisz).

Con người càng rơi xuống sâu bao nhiêu (cái gọi là) thế giới cổ của các bản năng (côn trùng, bò sát, cá) đời sống của họ càng lạnh lẽo, tàn bạo, khát máu, phi đam mê, dính dấp, phi chia sẻ bấy nhiêu.

Con nhện cái nuốt chửng nhện đực và sinh sản như vậy. Những sợi đời sống do các Moira - nữ thần nhện dệt nên. Ở đáy sâu đời sống chúng ta đều sống trong xúc cảm - bò sát tàn bạo. Đấy là hiện thực. Đấy là khách quan. Vật thể. Con số. Trừu tượng. Điều này năm trong sâu thẳm của thi ca và nghệ thuật. Và nếu một bài thơ tìm cách tiếp cận, luôn luôn tiếp cận với thứ nước dãi ẩm ướt dính dấp này.

Truyền thống Do Thái gọi thứ nước dãi này là nachas, con rắn. Giấc mộng và nghệ thuật và thi ca và tôn giáo biết rất rõ về con rắn này. Đấy là Proteusza của người Hi Lạp và Széth của người Ai Cập. Đây là bóng tối, là sự quy định và sự trống rỗng. Đây là cảm xúc phi nhân tính và tàn bạo. Trái ngược với phép thuật nóng bỏng và sáng rực rỡ của Mặt Trời, ảo ảnh sáng sủa, cái thấy, cái không nắm bắt được, phép thuật.

Đàn bà muốn được phù phép. Vật liệu cơ bản của nghệ thuật và thi ca là con rắn, nhưng cái nó làm lại là phép thuật. Bản chất của đàn bà là hư hoại, xám xịt, dấp dính như nước dãi, nhưng nếu được phù phép ảo ảnh của cái đẹp rực rỡ bên trong nó vụt sáng ngời.

Phía sau hiện thực có phép thuật và phía sau phép thuật có hiện thực.

Tranh thủy mặc Trung Quốc

(Một cái gì và hư vô. Vật thể và không gian. Khách thể và chủ thể cực nhỏ. Kinh nghiệm xúc giác và cái không thể nói ra nổi. Hiện thực và phép thuật.)

Tranh thủy mặc Trung Quốc chứa đựng hai yếu tố: một là đường nét và mảng tối, hai là một không gian trống rỗng màu trắng. Khi, theo cách thức hội họa châu Âu, tôi nhận thấy, mình xuất phát từ đường nét và mảng tối, và khi nhìn khoảng không phủ kín bằng một không gian màu trắng, tôi không hiểu gì hết.

Tôi cứ tưởng đây là sự mô tả một vật, một phong cảnh hoặc một hiện tượng. Trong một giây may mắn tôi chợt nhận ra, đây không nói về hai lực, hai sức mạnh hình thức hóa như nhau. Không. Màu trắng không phải là môi trường, là không gian thụ động, là sự trống rỗng, là hư vô, là sự tình cờ. Không, và không. Đúng hơn nó tạo ra màu đen (đường nét, mảng tối), giống như màu đen tạo ra màu trắng. Quyền lực tạo ra hình thức là màu trắng. Vũ trụ, hư vô. Cái phi xác định. Infinitezimális (cực tiểu).

Đối với con mắt châu Âu chỉ có đường nét màu đen và mảng tối. Họ chỉ nhìn thấy những cái đó. Họ chỉ cho rằng những cái đó tồn tại. Không gian, vũ trụ, màu trắng, hư vô, họ không nhận ra. Trong một giây may mắn tôi không xuất phát từ màu đen sang màu trắng, mà đi từ màu trắng sang màu đen. Đấy là giây phút tôi bông chợt hiểu tranh thủy mặc Trung Quốc. Cùng lúc, tôi cũng chợt hiểu, mặc dù màu trắng ở “bên ngoài” màu trắng là “môi trường” là “không gian” - thế nhưng nó lại chính là cái bên trong, chính là nội dung, là nhân vật và là thời gian.

Tất cả những điều này bởi vì, tôi đã không nhìn từ màu đen có thể “sờ” bằng cảm giác đến màu trắng, mà tôi nhìn từ màu trắng phi xác định sang màu đen.

(Chủ thể là vị trí mà từ đó thực tại có thể nhìn thấy.)

Tôi không đặt vị trí vào sự vật mà vào một sức mạnh tạo ra hình thức, không đặt vào khách thể mà đặt vào chủ thể. Không vào cái lồ lộ mà vào tính chất phép thuật của nó.

Hội họa hiện đại không còn nghi ngờ gì nữa có quan hệ họ hàng với tranh thủy mặc Trung Quốc. Nó chỉ có một sai lầm duy nhất, vẫn luôn luôn xuất phát từ màu đen, từ kinh nghiệm cảm giác, từ khách thể, và coi không gian là cái thụ động và trống rỗng. Đây vẫn là sự sùng bái thần tượng (idolatria). Chủ nghĩa hiện thực. Khách thể-phức tạp. Hậu trường. Đây vẫn chưa là thực tại.

Người họa sĩ hiện đại lớn là kẻ nhận ra không phải một cái gì hình thức hóa tạo nặn ra hư vô, mà là hư vô tạo nặn, hình thức hóa ra một cái gì. Là người hiểu, màu trắng, sự trống rỗng, khoảng không và chủ thể nhỏ nhất không có ở bên ngoài, mà ở bên trong, không phải cái lộ thiên mặ là tính chất huyền thuật, không phải khách thể mà là chủ thể. Tôi cho rằng, hoàn cảnh để người họa sĩ được sinh ra, phải chín muồi.

Chừng nào chúng ta mới chỉ nhìn thấy đường nét và các hình dạng trên tranh, chừng đó chúng ta mới chỉ nhìn thấy nửa bức tranh. Giống như tranh châu Âu thực chất chỉ là nửa bên ngoài của hiện thực. Chừng nào chúng ta chưa hiểu rằng từ bên ngoài sự trống rỗng trắng tác động vào bên trong không là gì khác, ngoài một lực hình thức hóa tác động từ bên trong ra ngoài, chừng đó chúng ta hoàn toàn không thể am hiểu gì về hiện thực thật sự của hội họa.

Sự im lặng

(Ghi chép về tranh thủy mặc Trung Quốc)

Feruccio Busoni trong phần mĩ học âm nhạc của mình đã viết, trong âm nhạc châu Âu, trong âm nhạc thực thụ ông chỉ thấy có hai yếu tố: fermata (âm ngắt) và quãng nghỉ.

Quãng nghỉ, sự im lặng, sự tĩnh lặng là sự dâng tràn đầy ắp cao nhất của âm thanh. Điều này trong thủy mặc Trung Quốc là không gian trống rỗng, là cái hư vô. Tranh châu Âu chín mươi tám phần trăm là âm nhạc và hai phần trăm là quãng nghỉ (sự tĩnh lặng, khoảng không, sự phi xác định, sự im lặng). Tranh Trung Quốc ít nhất sáu mươi phần trăm là quãng nghỉ, sự im lặng và bốn mươi phần trăm là âm nhạc.

Tranh thủy mặc Trung Quốc bơi trong hư vô.

Có những bức tranh không có cả quãng nghỉ. Nặng nề. Trong điêu khắc quãng nghỉ là tính chất méo mó trong tượng, thiếu chi tiết, là đã giữ nguyên sự sần sùi nguyên thủy.

Quãng nghỉ của sấm rền

Không cần tạo dựng hình thức cho vật thể mà cần cho cái hư vô - một quãng nghỉ đã được xác định đúng đắn. - Thượng Đế sống trong cái hư vô.

Chỉ một lần, một lần duy nhất, từ khi có thế gian, Thượng Đế không chịu nổi tiếp, đã gần như cất tiếng. Gần như thôi. Khi trái tim Ngài đập mạnh và Ngài muốn kêu thét. Đấy là khoảnh khắc Chúa Jézus bị đóng đinh trên cây thánh giá thốt lên: Cha ơi, Cha, sao Cha nỡ bỏ rơi con!

Thượng Đế không lên tiếng. Ôi! Giá mà ta biết Thượng Đế muốn thét lên điều gì. Và sau những từ ngữ này, một quãng nghỉ khủng khiếp nhất có thể hình dung đã xuất hiện. Đây chính là quãng nghỉ của sự hú gào. Đây là quãng nghỉ của sấm rền.

Sự giàu có và sự đói kém

Tác phẩm của Nietzsche xuất hiện từ sự thừa mứa giàu có của các sức mạnh đời sống, tách ra từ cái xuất hiện từ sự đói kém của các sức mạnh đời sống. Aus Pülle-aus Not. Trong tác phẩm càng nhiều không gian, cái hư vô, bầu khí quyển, đoạn nghỉ, sự im lặng, cái không xác định được, màu trắng, càng mô tả rõ sự đói kém. Nói đúng hơn chúng xuất hiện từ những sự giàu có lớn.

Tác phẩm càng chật chội, gò bó, lắm lời, huênh hoang, càng mô tả rõ sự giàu có. Nhưng điều này xuất phát chính từ sự đói kém. Những tác phẩm giàu có nhất thường kiệm lời, nhiều quãng nghỉ, nhiều không gian, chân trời. Những tác phẩm nghèo nàn nhất thường ba hoa đến tắc thở.

Chúng ta cần nhận rõ một điều, không có ngoại lệ, tất cả chúng ta đều sống trong sự đói kém (trong sự hư hoại, bất lực, đóng băng, bị bỏ rơi) và sự giàu có của chúng ta không là gì khác ngoài sự giàu có dành cho sự yếu kém.

Sự thần bí (müsztész)

Ban đầu tôi cứ tưởng dưới bộ mặt của hiện thực tôi càng rơi sâu xuống càng tối hơn. Nhưng không phải. Phép thuật không tan ra. Tôi càng ở sâu trong hiện thực phép thuật càng rạng ngời. Phạm vi lớn hơn (müsztész nghĩa là nhập định và che phủ kín). Phía dưới. Tầng sâu - tầng sâu, ở trung tâm là Mysterium Magnum. Ảo ảnh lộng lẫy. Böhme: Glanz dér Majestat.

Kiểm tra: nếu tôi chỉ thấy người đàn bà, một hình ảnh - nếu tôi thèm muốn, sex - nếu tôi quyên rũ, tôi bắt đầu nhận biết - điều này trong ánh sáng của sự phù phép từ từ rõ hơn trong tôi - càng sâu sắc càng rõ ràng hơn - nếu tôi yêu, sinh linh sống - tôi càng yêu sâu sắc hơn càng hiện thực hơn - tôi càng che phủ tôi càng biết nhiều về họ hơn.

Con đường ngược

Con đường ngược là đối tượng. Sự phù phép ngày càng hẹp dần, ánh sáng giảm, hiện thực tối tăm hơn và nghèo nàn hơn. Trên bề mặt, trên tấm màng duy nhất phép thuật chấm dứt, hoàn toàn là đêm tối. Đấy là khách thể. Không tấm voan phủ, có nghĩa là không có ánh sáng. Sự thần bí cực tiểu. Bề mặt. Ảo ảnh. Sự đui mù. Điểm không của hiện thực. Vật thể. Sự vật hóa.

Kiểm tra: Tôi càng sự vật hóa đàn bà bao nhiêu hiện thực của họ càng bị đánh mất bấy nhiêu - họ chỉ như một sinh linh sống và tồn tại trong sự thần bí - nhưng nếu tôi bỏ tấm voan phủ ra, một sinh vật giống cái, một nhà nước tế bào, xấu xí, hôi hám, ngu ngốc, vật thể, sự vật, hàng hóa - không thực chất, không đúng.

Những con cá

Tôi đến vào sáng sớm. Tôi không muốn nghỉ nên thay quần áo và lang thang ra cảng. Tôi tìm ra một quán ăn dưới bóng cây trúc đào, đọc thực đơn và như ta thường nói lập tức hiểu ngay. Cá của tất cả các mùa đều có, không thiếu thứ nào. Điều này làm ta yên lòng. Đúng lúc đó chủ quán hiện ra ở cửa và cất tiếng chào rõ to. Ông ta có cái bụng chính xác như tất cả các ông chủ quán cần phải có.

- Đây là thực đơn ngày hôm qua - ông bảo - tối nay có các món mới, rất hân hạnh, ngài là khách lạ nhưng như tôi thấy, là người đàng hoàng, nghệ sĩ, tôi rất biết nhìn người, ngài không hề nhìn đến cả Bellevue, đằng kia, thưa ngài, hãy tin tôi (bằng khăn giấy ông ta vẫy vẫy về phía một khách sạn ba tầng với vẻ thương hại vô tận).

- Tôi sống ở một đất nước không có biển.

Ông đột nhiên buồn rầu và đầy thông cảm:

- Thưa ngài, làm sao có thể sống ở một đất nước như thế?

- Vậy thôi - tôi trả lời - khi nào có thể là tôi đến đây ngay. Nhưng ông biết đấy, bầu trời thì ở đó cũng có.

Vào lúc hoàng hôn tôi đi về phía hàng cây trúc đào, và đưa mắt kiếm tìm ngài to bụng. Ông đang đến chỗ một cái thùng to dưới cổng, Cái thùng lót bằng thiếc và đầy đá lạnh, đủ loại cá trong đó: cá ngừ, cá mòi, cá hồi, cá karamari, cá thu…

- Cá thu đi - tôi nói, và chỉ vào con cá xanh.

Ông cúi gần sát mặt đất và ra hiệu đã hiểu, rồi nâng con cá lên.

- Tôi biết - ông nói - tôi biết hết. Ăn với cơm nóng, xà lách hỗn hợp, rượu đỏ ướp lạnh từ hầm mang lên. Mời ngài ngồi.

Tôi ngồi và bắt đầu uống. Sau đó cá được bưng lên, rán giòn trên than, với lửa liu riu, ngài bụng to đã thận trọng phết dầu ăn nhiều lần lên nó, nên nó vừa mềm vừa giòn, vừa sền sệt vừa có nước sốt. Tôi không còn thời gian quan tâm đến chuyện khác nữa.

Tôi không hề để ý, năm-sáu người đàn ông bước vào, đứng trước đám cá nằm trong đống đá băng. Tên các loại cá vang lên trong không gian, rồi tiếng ông bụng to nói nhanh quay cuồng. Tôi chỉ bỗng nghe thấy:

- Thưa ngài, không thể nấu như vậy!

Vị khách nhất quyết đòi nướng con cá lên với hành và ớt. Chủ quán lịch sự nhưng giọng nói đã bắt đầu cáu và hơi giễu cợt:

- Thưa ngài, ngài hãy quá bộ sang khách sạn Bellevue, ở đó vì tiền người ta làm mọi thứ - kẻ cả loại cá này - có thể còn đặc biệt hơn, nhưng tôi, ở chỗ tôi, không bao giờ. - Cả đời tôi chỉ làm các món cá, tôi biết làm - cá này nấu như vậy không còn mùi vị gì - ngay từ bé tôi đã biết - ngài muốn gì cũng được, hãy chặt tay tôi đi, không bao giờ - bàn tay đáng trọng này (ông chìa ra) ngài hãy chặt nó đi nhưng tôi không thể nấu nó với ớt được - bàn tay đáng kính, già đi trong việc nấu các món cá (ông gần như nghẹn ngào) ngài chặt tay tôi đi, nhưng đừng bắt tôi nấu, không bao giờ, không bao giờ.

Người khách bắt đầu gào lên. Ông chủ quán to bụng ném nắm giấy ăn xuống đất.

- Không bao giờ! Trong Bellevue kia kìa, ở đấy có thể, còn chỗ tôi không bao giờ, tôi không biến mình thành thằng ngu (ông cười ha hả cay đắng) thưa ngài, ở Bellevue kia kìa, cách có ba trăm bước, xin mời ngài, họ nấu cá hồi và rán cá thu, họ làm thế từ hồi tôi còn bé xíu và suốt cả đời tôi.

Người khách to tiếng quát tháo. Ông to bụng giậm chân:

- Không bao giờ!

Đám bạn bè bắt đầu can ngăn người khách, nhưng người này không chịu thôi. Anh ta gọi cảnh sát. Cảnh sát đến. Sao, cá Dental nấu với ớt? Cảnh sát lắc đầu, ông ta cũng không biết nấu. Ông chủ quán bụng to kêu rống lên:

- Thấy chưa? Thấy chưa?

Ông ta túm lấy con cá ném xuống đất và giẫm lên. Vừa giẫm vừa gào to. Người khách định đánh ông nhưng mọi người ngăn y lại. Còn tay cảnh sát xoa dịu ông to bụng.

- Ở Bellevue kia kìa, nếu trả tiền người ta nấu cho, chỗ ấy (ông khạc nhổ) - không bao giờ! không bao giờ!

Bình luận

Ông bụng to không phải là người có phong cách lớn nhưng là một tín đồ. Vòng đời sống phép mầu của ông là nấu các món cá. Văn hóa của ông. Sự chăm sóc đời sống của ông. Các công cụ: thùng đá ướp cá, dây, chảo, nồi, lửa. Nghi lễ nghiêm khắc. Cá dental không thể nướng. Đây là chuyên môn. Cá thu nướng được, trên than củi, khía bốn chỗ và cần xoa dầu lên đó. Xứ Babilon hiện đại (Bellevue) đã phản bội truyền thống vì tiền. “Ở đó có thể nếu trả tiền”.

Cả đời ông không phải không có hiệu quả, ông già đi trong việc nấu các món cá: “đây là bàn tay đáng kính”. Cá dental từ xưa đến nay người ta chỉ nấu với rau củ pha chút giấm, có thể ăn với sốt cà chua hoặc mì spagetti, hoặc với khoai tây rán và xà lách trộn. Thịt cá trắng như thịt con sò tách vỏ, không hề có xương và có thể tống nó đầy bụng.

Một thử thách đối với ông to bụng là phản bội truyền thống bằng tiền. Bởi vậy ông nhạy cảm với tội lỗi này. Trong khoảnh khắc cuối cùng nếu phải ra đi, ông sẽ giải phóng linh hồn một cách thư thái, bởi ông đã không phản bội. Ông coi thường lợi nhuận và không bao giờ nướng cá dental. Cá dental nếu nướng lên sẽ hút mùi rơm, không thể ăn được.

Ông to bụng là một người nhiệt thành, như tất cả những ai cảm thấy sự thật từ mình bị đe dọa. Năm giờ sáng ông đã có mặt ở chợ cá để chọn hàng. Nếu không thấy cá đúng mùa ông coi thường kẻ đánh cá và thề đêm mai tự ông sẽ đi bắt cá: “Con người đều phải tự mình làm tất cả… không thể tin vào người khác… những quân tồi tệ… mang chúng vào Bellevue hết đi… tôi không cần, tôi không muốn mang tôi làm trò cười trước các khách ăn của tôi”.

Ông xếp những con cá cạnh nhau, nhìn chúng từ xa, cân đong chúng bằng mắt, hít ngửi chúng. Ông đọc tên các loại cá đúng như kẻ biết rõ vị trí thế gian của chúng. Không nhiều hơn, không ít hơn. Ông biết về giá trị đẳng cấp của các loại cá. Ông to bụng không coi cá như thực thể hay khách thể lí tính hay đề tài để vẽ mà như một chất dinh dưỡng.

Cá như kẻ bảo tồn quan trọng nhất của sự tồn tại người. Bản thân nó là món ăn. Những thứ khác bên cạnh nó chỉ để làm tăng thêm ý nghĩa của nó thôi (bột, rau, quả, rượu). Ông không quan tâm đến thịt, bởi nó mang tính giáo điều, và ưu thế (bất lợi) của giáo điều là nó không để ý đến một cái gì đó.

Biển là nơi người ta bắt cá. Người đánh cá là người bắt chúng. Các vị khách là người ăn chúng. Ông là người nấu các món cá. Trong một vị trí giữ chìa khóa. Đến một bước ông cũng không cho phép làm khác. Thiếu đức tin không có gì hết. Phi đức tin là Bellevue.

Nếu con người làm một nghề như vậy, phạm một tội cũng bằng thừa, phạm tội để làm gì khi chỉ cần không trung thành với chính minh đã là sự vấy bẩn Thượng Đế rồi.

Khoa học và chủ nghĩa duy lí

Chủ nghĩa duy lí là một quan điểm giáo điều.

Khoa học là một sự nỗ lực gắng sức năng động (biện chứng, mang tính lịch sử).

Chủ nghĩa duy lí muốn thực hiện một kĩ thuật biện chứng của bản năng quyền lực.

Niềm cảm hứng của khoa học là chăm sóc sự thần bí của đời sống.

Chủ nghĩa duy lí là nền văn minh. Khoa học là văn hóa (thần tượng).

Chủ nghĩa duy lí là một khái niệm chính trị. Khoa học là một khái niệm lịch sử tâm trạng.

Khoa học không duy lí.

Tinh thần Phúc Âm tạo dựng khoa học để chuyển hóa thế giới vật chất bằng quyền lực của tinh thần con người.

Lời nguyền rủa Thượng Đế

Thượng Đế - giá là một lời gọi trực tiếp. Đây là Lời không ai chịu nổi.

Cách gọi khác là chủ nghĩa vô thần.

Cách gọi khác nữa là lời nguyền rủa Thượng Đế. Bất lợi của lời nguyền rủa Thượng Đế là nó làm cho tất cả các cách gọi khác đều sợ hãi. Bị sốc. Gây ra bê bối. Schaudern ist dein bester Teil, Goethe nói. Bí hiểm của sự chửi rủa và lời nguyền rủa.

Giáo hoàng Ambrus trong một chuyến du ngoạn trên biển, đến một hòn đảo vắng, ngài nghe thấy một mục đồng cất tiếng nguyền rủa Thượng Đế. Mi nói gì vậy kẻ bất hạnh kia? - ngài hỏi. Tôi cầu nguyện - kẻ mục đồng hiền lành trả lời. Giáo hoàng Ambrus bảo: mi cầu nguyện với những lời không phù hợp rồi. Và ngài dạy cho người mục đồng bài kinh cầu nguyện. Một tiếng sau, ngài lên đường. Từ đằng xa ngài nghe thấy người mục đồng cất cao giọng nguyền rủa. Giáo hoàng quỳ sụp xuống và thở dài: Lạy Chúa, giá một lần thôi con biết cầu nguyện như người mục đồng này!

Trong những khoảnh khắc quan trọng

Trong những khoảnh khắc quan trọng tôi bắt buộc phải giả bộ chế giễu mình, để người ta đừng cho tôi là có thẩm quyền. Những lúc đó tôi tự hạ mình. Chủ thể đồng nghĩa với subjicere - tự hạ mình. Không vênh mặt, không rậm râu, không thuyết giảng, không thiên thần. Vớ vẩn!

Kierkegaard: không phải mi được sử dụng khi mi cất cao giọng hát, mà khi trong hiện thực mi đúng như điều mi nói.

Ví dụ như một điều mà những kẻ vô thần cũng không làm nổi: gọi Thượng Đế bằng anh.

Chủ nghĩa vô thần và thần học

Phủ nhận Thượng Đế, phủ nhận từ một niềm tin say mê. Trong mắt tôi điều này còn nhiều hơn cả việc xức nước hoa cơ. Và tôi cho rằng trong mắt Thượng Đế cũng thế.

Chủ nghĩa vô thần nồng nhiệt và phủ nhận tinh thần, thứ cho rằng con người là một loại động vật, vứt bỏ sự bất tử của linh hồn, nhưng bằng toàn bộ sức lực chiến đấu vì sự phồn vinh kinh tế của con người, chống lại sự áp bức của xã hội, vì tự do - và thứ thần học vô thần đạo đức giả, thứ giáo điều giáo sĩ - dạy về sự bất tử của linh hồn người, nhưng khi nhìn thấy nhu cầu và sự ngu xuẩn, không biết làm gì ngoài việc than thở. Loại nào dở hơn?

Dionüsziosz Areopagita

Trong đời tôi có một thời kì liên tục, tôi xé những trang sách có ghi các tên Thượng Đế mà Dionüsziosz Areopagita viết. Cuốn sách nói ngôn ngữ của chúng ta không từ nào đủ khả năng nói về các tính chất của Thượng Đế. Không từ nào đủ sức, kể cả “đấng toàn nàng”, “đấng giác ngộ”, “đấng hiện diện khắp nơi”, “đấng sự thật, sức mạnh, cái đẹp, ân sủng, quyền lực”, Thượng Đế không thể xác định. Không thể nhận biết. Không thể nắm bắt. Là hiện thực duy nhất, là thứ có thể nắm bắt, nhận ra duy nhất.

Trong khi tôi trầm ngâm trước cuốn sách, một lần tôi đã nhìn thấy Thượng Đế.

Một con trẻ. Nhạy cảm và mảnh khảnh, vô tội và giản dị. Mềm mại. Mềm mại yếu ớt đến mức đã bao nhiêu lần nghĩ đến ngài tôi đều run lên, nước mắt dâng trào lên mắt.

Từ đó trở đi tôi yêu ngài. Từ đó trở đi tôi yêu ngài, trên tất cả, yêu một cách vô hạn, mê say và run rẩy, và từ đó trở đi tôi hiểu sự yếu ớt mềm mại này chính là sức mạnh lớn nhất của ngài. Đấy là sự hiền từ. Đấy là sự nhún nhường. Sự tinh tế, sự nhạy cảm, thấu suốt, lịch sự, duyên dáng, kiên trì và sự tôn trọng.

Ngài không thể nắm bắt được vì ngài giản dị như thế. Ngài mạnh mẽ bởi vì ngài mềm mại yếu đuối như thế. Ngài thấu suốt hết thảy bởi ngài khiêm nhường. Ngài vô hạn bởi mong manh như thế. Quyền lực của ngài thật đáng sợ như sấm trời chính vì ngài khẽ khàng nhất.

Từ ngài tôi nhận ra con người, kẻ có những đặc tính chính của ngài. Không phải một tài năng rực rỡ, không phải sự vĩ đại, quyền lực, sự thành công, các tỉ lệ quá khổ, mô hình người anh hùng hay cái đẹp. Không. Sự tôn trọng, lòng tin cậy, sự khiêm nhường, sự trong sạch, sự lịch thiệp, sự mềm mại, âm thanh khẽ khàng nhất. Đúng vậy, sự yếu đuối mềm mại.

Sự yếu đuối dịu dàng

Tội nghiệp cho kẻ nào tin vào quyền lực của sưc mạnh và khinh thường sự yếu đuối. Böhme nói như sau về Lucifer: er verachteie die Sanftmuth im Lichte (Khinh thường sự dịu dàng trong ánh sáng).

Dị ứng - Allergia

Không gì quan trọng bằng việc giữ gìn sự mong manh của đam mê. Tất cả chúng ta đều què quặt, đến mức sự nhạy cảm của chúng ta cũng là một loại bệnh. Ngày nay người ta gọi nó là dị ứng - allergia.

Dị ứng là bệnh lí học về sự nhạy cảm quá mức của một bộ phận, hay nhiều bộ phận cơ thể, hay da, hoặc hệ thần kinh. Một cái gì, một thứ điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại bình thường, biến thành khuyết tật trong chúng ta. Chúng ta chỉ có thể lựa chọn giữa da tê giác và sự dị ứng mà thôi.

Sự yếu đuối - sự nhạy cảm - dị ứng

Dị ứng là căn bệnh của sự nhạy cảm tinh thần (moi de finesse).

Tại sao quyền lực lớn nhất là sự nhún nhường, sự kiên nhẫn, sự nhường nhịn, sự dịu dàng, sự nhạy cảm?

Sự lịch thiệp (poltesse).

Không từ sự bắt buộc, không từ lợi nhuận, từ các lợi ích mà một cách tự do. Mọi thứ chống lại nó. Vậy mà. Chắc chắn nó thắng. Vậy mà. Họ cản đường nó. Vậy mà. Nhiều đến nỗi không thể vứt bỏ bất cứ cái gì từ nó.

Cái xúc phạm và báo hiệu từ sâu thẳm, cái vì thế làm tôi xấu hổ, đỏ mặt, từ ngữ đóng băng trong tôi, cái đó không phải thứ giết người, mà chỉ là sự thô bạo, sấn sổ, vô học, thiếu tôn trọng của linh hồn.

Bataile: Một sức mạnh như vậy không phải đạo đức cũng chẳng phải sự hèn kém. Les valeurs supérieurs sont plusfaibles que les valeurs inférieurs.

Phân phối hình học và vẻ đẹp tinh tế

Pascal còn nói về tư duy hình học và tư duy tinh tế. Ngày nay chúng ta đã biết về cái TÔI hình học và sự tinh tế.

Sự nguy hiểm của cái TÔI hình học chính là sự trừu tượng, khoảng không trống rỗng, tinh thần phi chất lượng, sự trung lập, sự thờ ơ, chủ nghĩa khách quan, thần tượng, tháp Babel, sự phi tưởng tượng, sự vô cảm, xuống cấp đạo đức, sự lạnh lùng.

Sự nguy hiểm của cái TÔI tinh tế là cơn hứng, cơn nổi loạn, sự khó tính, cảm hứng bất chợt, mộng du, chán đời, đa cảm, giáo phái, suy nhược thần kinh.

Kết cấu đời sống của một ngày

Hình ảnh tượng trưng của kết cấu đời sống một ngày là một bông hoa, một côn trùng nhỏ xíu gần như lẫn trong không khí, mảnh dẻ vô tận như một mùi hương. Cực tiểu của đời sống. Giống như một tin tức trên báo, chỉ sống trong ngày hôm đó, hôm sau tin ấy đã cũ. Giống như bộ trang phục dạ hội.

Ở Nam Mĩ có một loại cây sáng nở ra một loại hoa đỏ như son hương thơm ngọt ngào và quyến rũ, buổi trưa nó chuyển thành màu tím và hương thơm bắt đầu nồng, buổi tối nó biến thành màu nâu và mùi hương giống như mùi thịt thối hỏng.

Kết cấu đời sống của một ngày kèm theo nhà hát, rạp phim, tất cả những thứ sẽ trôi qua và thường nhật, mốt quần áo, tóc, các màu sắc. Những con người mà đời sống của họ là đời sống một ngày. Những vòng đời sống bó hẹp: đảng phái, hội đoàn, nhóm, hiệp hội, nghề nghiệp. Các cơ quan hành chính nhỏ. Người ăn mày. Bà nội trợ. Người công nhân nhà máy. Nhà chuyên môn. Nhà bác học trong phòng. Các nhà nước và các dân tộc sống một đời sống một ngày.

Cái trái với điều này: những ngày thường nhật thần bí. Sự sâu sắc của biểu tượng. Cái đơn điệu phi thường.

Tính chất mù lòa với lời tuyên bố

Tính chất mù lòa đối với biểu hiện của lời tuyên bố và các hậu quả của nó là sự vô cảm đạo đức, sự phi thẩm mĩ, trí tuệ thấp kém, thiếu vắng nhận thức, chủ nghĩa đa cảm ngu độn, tính chất lí thuyết hóa, các lí tưởng hão - đấy là đời sống một ngày.

Đời sống một ngày buổi sáng là bông hoa đỏ như son hương thơm gắn bó, buổi trưa đã chuyển sang màu tím và hương thơm nặng nề, buổi chiều thành màu nâu và hương vị thối rữa như xác chết. Còn ngày thường nhật thần bí buổi sáng cứng rắn và nặng trĩu, buổi trưa nở đầy hoa và buổi tối quả chín trĩu nặng.

Đời sống một ngày đắm trong sự mù lòa đối với biểu hiện của lời tuyên bố. Là sự thu hẹp các vòng quay đời sống. Ngoài cái nhìn thiển cận ra không có gì nữa. Chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa mê tín có đời sống một ngày. Báo thường nhật mang tính vô thần. Đến tối là biến mất. Không viễn cảnh. Không có thời gian của nó. Loài côn trùng Tisza ngắn tuổi. Không có độ sâu. Không có sự thần bí.

Exousia

Khi gần năm mươi tuổi, lần đầu tiên tôi biết đọc Phúc Âm, tuy không phải từ nào cũng hiểu hết, nhưng tôi cảm nhận được sự nóng bỏng của nó. Phúc Âm Máccô tôi đọc một mạch trong một chiều muộn tháng Chín, khi trên rãnh hiên nhà cà chua xếp thành hàng đợi chín.

Phúc Âm nói rằng Chúa Jézus đưa những đứa con trai của sấm sét (boanérges) lên núi Hermon, núi “thề nguyện”, nơi Azazel và các thiên thần sa ngã họp tụ và thề với nhau là sẽ trộn máu của thiên thần với máu của bọn con gái sống ở trái đất. Một nơi có phép thuật!

Và tại đây Chúa Jézus đã hiện ra trong ánh sáng rực rỡ đến nỗi các học trò cần phải che mắt. Họ nghe thấy lời và tiếng hát của trời. Tại đây quyền năng của Chúa Jézus đã được bộc lộ. Quyền năng này Phúc Âm gọi là Exousia, tiếng Do Thái gọi là el szaddhai, tiếng Sanskrit là Sziddhi.

Quyền năng siêu nhiên. Quyền năng huyền bí. Sự mầu nhiệm. Phép mầu. Một sự dạy dỗ mới trên cơ sở của quyền năng Thượng Đế, diddakhé kainé kat’ exouszian. Ngài dạy dỗ họ như một kẻ có quyền năng - exousia. Vâng, vâng, vâng. Oupo szüniete? - các ngươi vẫn chưa chịu hiểu sao?

Phép mầu

Đúng một lần duy nhất tôi ở trong bầu khí quyển có một quyền lực lớn hơn, lúc đó tôi tưởng rằng tôi sẽ tan ra như sáp trên lò sưởi nóng. Lúc đó tôi hiểu cái gì là exousia.

Trong chiến tranh tôi ở cách xa gia đình khoảng hai nghìn rưỡi cây số. Nguy hiểm trong từng khoảnh khắc không nhiều hơn như thường thấy trong các cuộc chiến tranh, nhưng tai họa đang đến gần, điều này ai cũng biết. Chúng tôi sợ. Sợ hơn cả mường tượng cần phải ngồi trong lửa bỏng.

Giữa sự sợ hãi đầy lo âu này một cái tin đến rằng người ta sẽ tách một nhóm chúng tôi ra và cho về nhà. Chúng tôi chờ đợi. Lệnh đến muộn. Tất cả mọi người đều biết chắc chắn tai họa đang đến gần và ai cũng muốn tránh đi. Tôi cũng vậy.

Lệnh càng đến muộn hơn. Không hiểu tôi có được cho về không? Đợi, đợi, một tuần, hai tuần, một tháng, hai tháng. Đợi chờ, sợ hãi, lo âu. Và một buổi tối lệnh được mang đến. Giải ngũ. Tôi cũng được phép về nhà.

Không có bất cứ một bằng chứng vật thể nào. Tôi không thể kể gì về âm thanh, sự xuất hiện, ánh sáng, hay lời nhắn nhủ nào từ trời. Sau cùng tôi cũng không biết phép mầu xảy ra ở đâu, như thế nào, bằng cách nào, do ai, lúc nào. Nhưng tôi biết có phép mầu xảy ra.

Mầu nhiệm đến nỗi tôi vội vã ra khỏi nhà, đi thật xa, ngồi xuống cỏ, đối diện với mặt trời đang lặn và khóc nức nở. Sự hiện diện của một Quyền Lực. Exousia. Tôi bơi trong sự huyền diệu ánh sáng đã che phủ cả khuôn mặt các học trò của ngài. Tôi không biết làm gì khác ngoài nhắc đi nhắc lại: Con không chịu được nữa Chúa ơi, hãy dẫn dắt con, hãy đưa con đi.

Tôi ngập trong sự mầu nhiệm. Tôi cảm thấy nhận thức của mình, kí ức của mình, ý chí của mình, cảm giác của mình tan vỡ ra như thế nào trong tôi, một ngọn lửa màu kim cương cháy sáng và nuốt chửng tôi tan trong nó. Tôi biết, đó là phép mầu. Tôi luôn luôn chờ đợi ngài. Và giờ đây, ngài ở đây và tôi không chịu được. Hãy dẫn dắt con, Chúa ơi, con không chịu đựng thêm được nữa. Đây là exousia. Bầu khí quyển nhiệm mầu, con không chịu nổi nữa, hãy dẫn dắt con.

Don Juan

Sẽ ra sao, nếu tôi viết một cuốn sách nhỏ với một đề tài hoàn toàn vụn vặt một cách đầy đủ và từ tốn có âm điệu, không đến mức như nhạc phẩm Mikrokozmosz (Tiểu vũ trụ) của Barrtók, mà đúng hơn, như Novellett (Tiểu phẩm) của Schumann. Thế là ngay lập tức Don Juan xuất hiện. Tôi lập tức nhớ ra nhân vật này.

Khi Don Juan không còn tự nhủ với mình, không có hứng, không có thì giờ, quá yêu, quá nhiều đức tin để có thể tiếp tục như vậy, như cho một đêm duy nhất, nhưng vẫn tiếp tục chinh phục, nhưng không trước hoa, hương thơm, sự hưởng lạc, đàn bà, cái đẹp, sự lộng lẫy, mà thực chất chỉ cảm thấy tất cả đều đồng nhất và coi như một sự tạm ứng.

Don Juan đã không còn là một cá nhân, chỉ còn là sự bất lực, vẫn còn là hiệp sĩ, vì bắt buộc, nhưng sau đó đã thành thánh tiếp theo, đây là bến đỗ trước bến dỗ cuối cùng, cái hôn từ biệt, khi run lên từ sự ngây ngất và vì sự ngây ngất của khoảnh khắc cuối cùng.

Goethe cho rằng, cần phải du ngoạn thế nào để ở đâu nhiều nhất cũng có ba ngày tự do. Đừng thả cội rễ ở bất cứ đâu. Đây là cây cầu thế gian, hãy đi qua nó, nhưng đừng xây nhà ở bất cứ đâu.

Đây là Don Juan, là hoa, là ngôi sao, là bài ca của chim, tất cả mềm mại, êm ái, không thể nắm bắt, sự hài hước thoảng qua và nụ cười nhếch nghịch lí, halküon, kẻ đi xa hơn tất cả mọi người để chết, đi thật xa, không u sầu, để kẻ hôn nó đừng buồn.

Matatron

Tất cả chúng ta ít-nhiều đều sống trong một hiện thực ướp lạnh. Chúng ta hờ hững với cái cội nguồn chúng ta biến thành phi cá nhân. Thành khách thể. Chúng ta thận trọng với hiện thực đích thực và quyền lực của nó (exousia), chúng ta sống trong bầu khí quyển của một thứ, như thanh nến để trên lò sưởi nóng, và nhận thức về nó. Thực chất chúng ta phạm một tội mang tính khách quan. Thực ra chúng ta thờ ơ. Để đừng cần nhận ra niềm say mê cao cả cháy bỏng và không thể dập tắt nổi trong chúng ta.

Chúng ta vật vờ trên giới hạn của việc biểu diễn sự tồn tại hoàn hảo. Bởi kẻ đã nhận ra niềm say mê cao cả, kẻ đó không bao giờ còn lãnh đạm và phi cá nhân, và khách quan và vô cảm nữa. Như thể dưới gánh nặng bị phát hiện có một điều cấm. Cái gì vậy? Đấy là nhận ra hiện thực và sống trong hiện thực. Ta không chịu nổi hiện thực.

Chúng ta run sợ trong bầu khí quyển mạnh mẽ của hiện thực, sợ rằng chúng ta sẽ bị tan ra.

Nhưng có những linh hồn không sợ hãi và bước vào hiện thực. Theo truyền thống Do Thái, Hénoch (Matatron), là người đi khắp bầu trời, nhìn thấy cấu tạo của thế gian, trò chuyện với các thiên thần và nghe thấy giọng của Thượng Đế.

Trong Hénoch trí tuệ logic và chủ nghĩa nhiệt tình đơn điệu, hay toán học và sự ngu ngốc, hay nói cách khác nhận thức lạnh lùng và thiểu năng trí tuệ gặp nhau. Chỉ có một viêc quan trọng nhất. Đây - ngài nói. Logic, toán học, trí tuệ và thiểu năng. Chỉ có một việc duy nhất quan trọng, đấy là sự đam mê tươi tỉnh.

Đây là tri thức cao nhất, cùng lúc là một sự điên rồ. Sự thông thái và sự điên rồ. Toán học và bệnh thần kinh. Ngoài ra chẳng gì có ý nghĩa hết. Cũng không cần thiết phải quan tâm tới những điều khác. Hénoch không sợ.

Bằng trí tuệ trong bầu khí quyển mạnh hơn của hiện thực (exousia) và bằng sự điên rồ của nó cùng lúc cần bước qua đời sống. Bởi kẻ nào chỉ bước qua nó bằng một thứ, sẽ bị tan trong đó. Hénoch không bị điều đó hạn chế, rằng sẽ bị phá hủy. Khi rơi vào ánh sáng của Thượng Đế, ngài run rẩy. Nhưng không hề nghĩ ngài sẽ không chịu được. Ngài không lo lắng cho bản thân mình.

Matatron là phẩm hàm cao nhất trong đẳng cấp thần bí. Từ điều này có thể thấy, Thượng Đế đã cho ngài nhập định vào việc điều khiển sự tạo dựng, giao cho ngài cai quản các vì sao và các linh hồn.

Hénoch không ngạc nhiên. Ngài không cảm thấy được trao một điều gì to lớn, ngài không hoảng hốt, nhưng cũng không tỏ ra khiêm tốn. Tính chất con trẻ nhiệt huyết bảo vệ ngài khỏi điều này. Ngài không cảm thấy mình được khen ngợi. Thượng Đế biết điều này tốt hơn ngài. Đúng không? cần gì phải trầm ngâm và muốn và bắt buộc mình - thật là một sự ngu ngốc!

Đối thoại với thiên thần

Phong cách Hamlet. Kẻ không tin tưởng vào bản thân. Bởi không tìm ra sự chắc chắn về những việc chắc chắn.

Theo Ebner: ngôn ngữ nhìn thấy chỉ là kí hiệu đã viết ra, trên đó tất cả mọi người nói về nội dung riêng vở kịch của bản chất mình.

Nietzsche: aus Betenden müssen wir Segnende sein (khát vọng cá nhân và đam mê của tôi: ít lời tụng, muốn trở thành phước lành).

Bạn hãy nhìn kĩ câu nói này “phước lành” - ông muốn cúi xuống vũ trụ như một vòm cây và che chở cho tất cả mọi người.

Một lo âu! Một lo lắng chăm sóc. Một suy tưởng. Một sự gánh vác.

Người ta coi ông là thầy. Thầy! Chỉ có một người thầy thôi. Tôi không dạy ai phát âm từ Thượng Đế. Tôi muốn gì? Ít nhất chính tôi muốn học. Một học trò. Kẻ đa thần.

Tại sao quỷ Sa tăng sẽ là kẻ duy nhất không hí hửng? Chẳng phải không cần ư mọi sức lực của tôi dành dể đuổi con quỷ Sa tăng (trong người tôi) đi? Phải chăng có những kẻ sẽ giữ con quỷ đó lại? - Sự thảm hại.

Nếu tôi vẫn thèm khát, tôi vẫn chưa đạt gần tới việc biết phát âm ra từ ấy.

Tôi không nói VỀ Ngài, mà tôi nói VỚI Ngài.

Tôi không có các lí thuyết. Tôi chỉ cho rằng nói chuyện VỚI Ngài là một việc tốt. Như thế. Tốt. Không có những lời giải thích khác.

Thật là một thực thể kì lạ! Nó sợ, bị vật chất hóa, khát tiền, lo âu, run rẩy, nói dối, bẩn thỉu, đầy những bản năng thấp hèn, bị dằn vặt, bối rối -

- và giữa chừng nó có những khát vọng tôn giáo, nó mơ ước giá mà biết thốt lên được từ Thượng Đế (nếu dễ dàng đã có thể dùng vào một sự hèn kém nào đó).

Nếu nó chỉ sợ hãi và thấp kém (lưỡng lự!) đã đủ khủng khiếp.

Nhưng còn khủng khiếp hơn đên đâu khi có cả hai!

Tôi muốn sự đói rách nhỏ hơn hay lớn hơn?

Cả một cuốn sách. Đầy những lời bất kính.

Tôi ước mình che chở được tất cả mọi người. Tôi, kẻ yếu ớt. Tôi, kẻ cần sự che chở.

Tôi, kẻ….

Thiên thần

Thằng hề của Đức Mẹ của chúng ta. Trước thánh đường biểu diễn những trò ảo thuật vì sự kính trọng Đức Mẹ Đồng Trinh.

Cứ như thế tiếp tục…- (Những sự khác biệt? - Hoàn toàn. Các gia vị (sự cho phép tự do của cá nhân)

Sự tương phản… Sự xa lạ…

Đây là toàn bộ, cái tôi biết.

Epilegomena - Cái đã chọn

1.

Trong lời nói cuối này tôi muốn nói về quan hệ cá nhân của tôi đối với một kẻ khác, kẻ mà tôi đã thu thập cho nó những mẩu đối thoại và những ghi chép. Nếu ngoài những điều này ra tôi vẫn còn muốn viết những cái khác nữa, tôi cần đối diện với chính bản thân mình, cần gặp một kẻ đã nghe từ chính tai tôi mọi điều và đòi hỏi tôi phải viết xứng đáng với nó.

Yêu cầu này, tôi cần thổ lộ rằng cả một thời gian dài tôi đã hiểu sai. Đúng, nó không dự phần vào thành công, nhưng cũng không đòi hỏi.

Ai đã đọc những đối thoại về thành công và vinh quang đều đã rõ. Nhưng tôi đặt giả thiết rằng sự đánh mất thế hệ của thành công không là gì khác, ngoài việc giải quyết nhu cầu của nỗi háo danh nhạy cảm bị xúc phạm, và toàn bộ quá trình biện chứng thành công-vinh quang chỉ là việc bản năng hóa sự háo danh hão có một không hai.

Sự giải quyết này, tôi cần thổ lộ rằng, đã phạm lỗi tâm lí học thuần túy, và hoàn toàn sai lầm. Sau cùng tôi đã hiểu, thành công là một phẩm hàm cực kì thấp của sự bất tử. Một lần nữa tôi viện đến các mẩu đối thoại nói trên, cần phải trở thành một kẻ cực kì khiêm tốn, để thấy hài lòng với việc người ta sẽ tạc tượng và viết sách nói về mình. Nhưng kẻ nào muốn đạt tới một phẩm giá cao hơn, tới sự vinh quang, kẻ đó cần dâng hiến, cần từ bỏ bản chất của cái TÔI.

Bạn đọc có nhớ một ghi chép có nhan đề Matatron. Từ đó bạn sẽ hiểu thành công chỉ như một chức nhỏ trong đội quân của sự bất tử, như chức sĩ quan chẳng hạn. Còn sự háo danh nôn nóng hơn, dành cho kẻ, người ta lấy tên nó đặt cho đường phố, và sự háo danh này thật nực cười.

Matatron không phải là một phẩm hàm quân đội mà là một phẩm chất quý tộc. Và kẻ nào ao ước có, kẻ đó cần trở nên vô danh. Một cá nhân từ thế gian của các hành động đi vào thế gian của các tác động thuần túy chỉ là những cái tên mang tính lịch sử mà thôi. Mãi mãi sẽ chỉ là Goethe hay Sophoklés, Gioan Thánh Giá hoặc Pascal. Nhưng kẻ nào trong thế gian của các tác động sống vô danh tiếp tục, sẽ biến thành Quyền Lực. Hoặc thành phẩm chất quý tộc. Matatron.

Sự từ bỏ thành công không do nhu cầu bản năng nhắc nhở, mà do một nhu cầu cao hơn. Không là sự háo danh bị xúc phạm, mà là một khái niệm đời sống cao thượng hơn.

Thành công? Ít ỏi. Tiểu phong cách. Phù hợp với các chính trị gia, các nhà thơ yêu nước, hiệu trưởng trường học, các giám đốc. Kẻ nào có nhu cầu lớn hơn, kẻ muốn tác động của mình được giữ gìn một cách siêu đẳng hơn, kẻ đó cần tìm kiếm sự vinh quang.

Có một thời gian khi đi thu thập các mẩu đối thoại từ các cá nhân khác nhau trong những năm tháng khác nhau và ngẫm nghĩ về bí ẩn của sự thành công, tôi đã chần chừ không biết có nên cho ra cuốn sách này không. Tôi tưởng rằng nếu tác phẩm này kể cả khi không đặt tên, ra đời, sẽ phạm sai lầm.

Nhưng một người bạn tôi nói rằng cuốn sách này sẽ giống những câu hỏi vang lên trong những lần chúng tôi trò chuyện ở trại nuôi ong. Rất tiếc người bạn không nhớ ra chính xác từng từ, nhưng đại loại cuộc trò chuyện từng như sau: “Không sao, nếu được in hay không… được in, ở một phương diện nào đấy tốt hơn… nghĩa là một sự lãng quên lớn… những tác phẩm thực sự lớn… Lão Tử, Heraklaitos, Rabelai, Shakespeare, Nietzsche… Bạn đừng tin là tôi coi thường nhân loại lịch sử…Lợi ích của họ… trở thành nhà văn không tốt tí nào… ở một mức độ nhất định không cần phải chống lại việc này nữa… Thừa… Cái tôi nói ra không bao giờ còn là của tôi nữa, mà của người mà tôi nói với họ… hãy làm cái mà họ muốn… In ra là một hình thức từ bỏ, một sư từ bỏ hoàn hảo hơn và không thể rút lại được nữa… không có tác động tiếp… chỉ còn cái chưa nói ra…”.

2.

Những mẩu đối thoại và ghi chép đứng ra ngoài các thể loại tác phẩm đúng như những người viết ra chúng đứng bên ngoài các loại thế giới quan. Không nhờ vả uy tín ai và không cần kẻ có chuyên môn giúp đỡ, nói một cách khác, viết một cách cá nhân với ngôn ngữ sống động riêng.

Thiếu sự nhờ vả uy tín có nghĩa là không cần sự tham khảo, lí thuyết, từ ngữ giả, các điều kiện, các điểm bắt buộc mà viết một cách tự do, với tư cách cá nhân và có trách nhiệm. Không cần chuyên môn can thiệp nghĩa là thiếu những quyết định quan trọng hóa, sự này sự nọ, thế giới quan thế này thế kia, mà viết trong sự say mê đàm thoại. “Mọi câu cất lên đều định nghĩa lại mọi việc hoàn toàn”.

Sự tiếp cận con người như vậy dành cho những kẻ mong muốn đưa ra những nguyên lí, những chương trình và sự giáo dục, những kẻ mơ ước đưa các chỉ dẫn đời sống của họ vào tay một người nào đấy, rất khó, gần như không thể.

Ban đầu tôi cũng là một trong số những người như vậy. Tôi hi vọng từ họ có thể chờ đợi một cách có ý nghĩa rằng tôi nên và không nên làm gì. Tôi không biết ông ấy hiểu biết hơn tôi nghĩ nhiều. Ngay lập tức ông nói ông không thích người ta gọi ông là thầy. Ông không muốn dạy dỗ tôi cũng như bất cứ ai khác. Ông không có chương trình của mình. Ông không coi triết học là khoa học mà coi là một sự say mê cá nhân.

Khoa học, trong một đối thoại kín đáo, ông gọi nó là một sự thực hành có trí tuệ, thứ: “không hiểu những kết quả của tư tưởng, và cũng không nhận ra… nhanh hơn, bởi vậy ứng dụng một cách sai lệch… Bởi vậy kĩ thuật chiến tranh tấn công đi trước thứ kĩ thuật quan tâm đến đời sống hòa bình ít nhất một bước… khoa học không hiểu tư tưởng… tư tưởng không phải là thứ hủy diệt đời sống, mà là thứ chăm lo đến đời sống… khoa học ngày nay là sự thực hành bản năng quyền lực (chính trị, thần chết, giết chóc)… bom nguyên tử… triết học không phải là khoa học, mà là một tình yêu nồng nàn… không hướng tôi các vật mà hướng tới các cá nhân… chăm lo… có sự lo lắng triết học, tư tưởng triết học, sự chăm lo triết học… khoa học là tội lỗi khách quan, mâu thuẫn-khách quan… cá nhân không phải là khách thể, không phải là phainomeno mà là noumenon… không xác định được… tôi chỉ có thể hiểu nếu tôi nói với Ngài, nếu tôi yêu Ngài… Chúa Jézus: ta là ai? trước tiên là kẻ nói với mi… là kẻ yêu mến mi… người không yêu tôi, lúc đó tôi là sự vật, sự việc, con số… bị sự vật hóa… người tôi không yêu, đối với tôi đấy là sự vật, là khách quan”.

Ban đầu, đúng thế tôi sững sờ, và tôi không hiểu một tí gì về toàn bộ. Chỉ một sự tò mò hồi hộp tóm lấy tôi. Nhưng sự nghi ngờ của tôi rất nhanh chóng tiêu tan. Tôi tưởng ông không hút thuốc, không uống rượu, là một người mẫu mực, đạo đức, nghiêm trang. Nhưng không ngờ ngược lại, ông chơi đàn, ưa thích phụ nữ, cực kì yêu thích hoa lá và luôn có sự ngon miệng.

Có thể đấy chính là kế hoạch khi ta không có kế hoạch? Có thể đấy chính là thế giới quan khi ta không có thế giới quan? Có thể sự không nhất quán, sự hài hước, đam mê “cái chủ thể cực nhỏ” lại nhất quán và có hệ thống? Có thể tạo ra một sự dạy dỗ khi không có sự dạy dỗ nào không? Có thể cười nhạo mọi ủy quyền, nhưng chấp nhận sự ủy quyền bản thân duy nhất một cách không phê phán và ngu ngốc chăng?

3.

Một lần tôi hỏi ông: Ông hãy nói một câu duy nhất là ông muốn gì. Ông trả lời: tôi muốn biết điều tất cả mọi người đều biết.

Tất nhiên đây không phải một trí thông minh học đường định nghĩa, hay một nghệ sĩ khôn lỏi muốn tạo phong cách (dù ông bảo phong cách chính là cách phụng sự), mà là sự BIẾT, ví dụ con người nhìn thấy phụ nữ đẹp là thích ngay như khi được cắn vào một trái đào thơm, hay trở nên lắp bắp vì sững sờ khi chiêm ngưỡng bình minh trên biển.

Đấy là điều biết. Cái ai cũng biết, khi nhấp một li rượu, hoặc cần thiu thiu ngủ hoặc nhấm nháp một miếng bánh ngọt ngon lành hoặc vỗ vỗ mông một đứa trẻ.

Một lần đại khái ông nói như sau: “lí thuyết… chỉ có nghĩa như bị phồng lên… không có lí thuyết… như được thả ra…”. Mẩu đối thoại này nằm trong vòng chờ đợi, như trạng thái của bông hoa hồng, như trạng thái của Đức Mẹ Maria.

Phi chương trình không phải là chương trình. Sự không nhất quán không nhất quán. Không có sự dạy dỗ, không dạy dỗ. Thế thôi. Đây là sự chờ đợi. Và chỉ liên quan đến nó, không liên quan đến ai khác. Một lần. Lần đầu tiên và lần cuối cùng. Tại sao lại có chuyện cuối cùng tôi vẫn nhận ra? Chỉ có một lần vậy mà tôi vẫn hiểu?

Bởi vì: “không cái gì tổng quát, có hiệu lực một cách siêu việt tôi có thể hiểu được, tôi chỉ có thể hiểu và có thể hiểu, cái cá nhân cụ thể, có đúng một lần duy nhất đúng một Lần”.

Cái trực tiếp một cách cá nhân và riêng tư là cái duy nhất, cái tôi có thể nắm bắt từ kẻ khác. Chỉ cái không thể hiểu nổi mới có thể hiểu. Tôi chỉ có thể nhận ra cái không xác định được. Cái cực nhỏ là cái tích cực duy nhất. Ngôn ngữ nằm trên cơ sở ấy. Còn lại là nghệ thuật và khoa học, phong cách và khái niệm. “Cái tác động đến tôi không phải là lí thuyết mà là sự hình dung mang tính chất tồn tại”. Cái không thể bắt chước.

Kết quả sau cùng là, tôi hiểu điều này như thế nào, tôi đã không diễn tả nổi. Một nhân tố, đó là nó đã xảy ra. Trong lúc nó xảy ra, đã nhiều năm trôi qua. Sợi chỉ dẫn đường bị mờ nhạt đi. Nếu tôi thử lặp lại từ đầu, tôi chỉ có thể làm một cách tùy tiện.

Nhưng khi tôi đã hiểu ra điều ông nói, một sự việc đặc biệt xảy ra. Tôi không bao giờ biết xác định sự khác biệt giữa ông và tôi nữa. Tôi cảm thấy một cách kì lạ là những cái ông nói tôi cũng có thể nói như vậy? Không. Chính xác như tôi đã nói. Rất hiếm có những tác phẩm người ta bảo: ông ấy nói điều tôi nghĩ - ô, chẳng là cái gì cả, bởi vì ai cũng nghĩ như vậy.

4.

Nguyên nhân của sự không tin cậy cuối cùng của tôi là, theo quan niệm của tôi về Kitô giáo, ông đã nói nhiều hơn cần thiết. Tôi trích dẫn hàng loạt cho ông. Tôi hơi thương hại ông khi ông phát âm từ Phúc Âm, hoặc Thượng Đế, hoặc Chúa Jézus. Ông vụng về, đôi khi như cưỡng bức. Ông muốn, nhưng không thể. Ông muốn trở thành kẻ theo Kitô giáo. Màn hài kịch để làm gì?

Tất nhiên ông rất biết điều này, nhưng không bao giờ nói về nó. Một lần có người thử chọc tức ông, nhưng ông bảo: “tôi không phải một kẻ truyền giáo… bạn hãy tự thuyết phục lấy mình”.

Tôi hiểu câu này khi lần đầu tiên nghe ông nói: “trở thành người Kitô giáo chỉ có nghĩa chừng này: là con người”. Tôi ngạc nhiên, ông không dùng bổ ngữ. Ông không nói là người đích thực, hay chân chính, hay đầy đủ giá trị. Chỉ như vậy.

Và bằng nó ông để lại sự phân vân từ thiện rằng, vậy ai là kẻ không phải Kitô giáo? Một kẻ không phải con người? Ông xây dựng một Kitô giáo đặc biệt cho ông. Điều này có ý nghĩa gì? Kì tô giáo là trạng thái tự nhiên - bình thường - là nền tảng cơ bản - là sự tồn tại xác thực. Bài học. Tôi không bị thuyết phục.

Một lần, khi tôi không nhớ đến ông, đột nhiên điều này hiện ra trong óc tôi: Ơ! Con người này chưa bao giờ nói mình là kẻ theo Kitô giáo. Trái lại thì có. Ông đã viết vừa ngang tàng vừa kính trọng truyền thống; tôi là kẻ đa thần. Và với ai chưa đủ, hãy đọc chương nói về Pascal và Don Juan.

Trong rất nhiều năm trong mọi trường hợp tôi đều phạm đúng lỗi lầm ấy! Tôi luôn luôn tin là ông đồng nhất mình với một học thuyết nào đó và là “nhà truyền giáo”. Không. Ông không phải người như vậy, và đây là điều khó trở nên quen thuộc nhất đối với tôi.

Nhìn về tính cách, số phận, cá nhân, ông cũng bị tổn thất giống hệt những người khác. Ông là một người có tài năng và tính cách, lưng ông gù, mũi dưa chuột và chân vặn vẹo. “Bản sao phi hình thức và chảy nhão của hiện thực”. Ông không hề phủ nhận một mảng hiện thực nào hoặc tô vẽ thêm: “Trạng thái bình thường cùa con người là bệnh tật”. “Nhiệm vụ không phải là chạy chữa mà là sống chung với bệnh tật”.

Nhưng trên sự tổn thất này dạng hình và bản chất của con người bình thường sẽ phá rào, sẽ vượt qua. Vượt qua và thức tỉnh. Và còn nhiều hơn nữa. Con người bình thường sẽ bắt đầu lập lại trật tự cho bản thân từ bên trong. Trong cái thế gian đổ nát, các phân tử bắt đầu kết tinh.

Baader gọi quá trình này là sự tái hòa nhập. Một con bệnh, nếu nhận biết về căn bệnh của mình và chấp nhận, sẽ đủ sức để tạo dựng một con người “đích thực” “bình thường” “khỏe mạnh” vượt qua chính bản thân mình. Vượt qua chính mình. Bước đi này tôi đã nhận biết từ lâu.

Nietzsche gọi là Überschöpfung (con người sáng tạo) khi con người coi đời sống của riêng mình như một chất liệu xây dựng, được nó nhận để từ mình xây dựng lên một người nào đó, kẻ cũng chính là mình. Đây là Ars Magna.

Ars Magna từ sự tổn thất không bao giờ giải phóng ra và cả hai cùng không được phép đứt đoạn với nhau. Đây là một hoạt động liên tục đỂ con người tự tay xây dựng bản chất đúng - bình thường - khỏe mạnh của mình, liên tục nhận dinh dưỡng từ sinh linh rách rưới bệnh tật - không bình thường của mình. Cả hai cùng cần ở lại cùng nhau. Ông gọi cái liên minh đôi này là kẻ học trò. Kẻ học trò bị ốm đau bệnh tật, bị tổn thất, nhưng lại biết nhận thức và sự nhận thức này cho nó một sức mạnh để nó có thể bắt đầu xây dựng một bản chất đúng, bình thường và thực chất của nó. Đây là người học trò. Kẻ chờ đợi. Hay dùng từ khác: một linh hồn nghèo khó. Giờ đây tôi đã hiểu điều ông nói: “Tôi sẽ hạnh phúc biết bao nếu tôi có thể trở thành một trong mười hai người học trò (tông đồ của Chúa).”.

Từ thời gian ấy trở đi ý nghĩa của khái niệm sự xúc phạm - sự thiêng liêng bắt đầu hình thành trong tôi và ý nghĩa của điều này nữa: khi con người phát âm từ Thượng Đế, điều đó có nghĩa là gì. Sự thính cảm nghĩa là gì. Tìm kiếm trong Schumann và Van Gogh và Pascal mang Ý nghĩa gì?

Còn một câu hỏi nữa. Từ đâu ông biết là con người thật sự - bình thường - khỏe mạnh - thực chất là kẻ Kitô giáo. “Điều này ở tôi không phải chuyện của đức tin, không phải của thế giới quan. Tôi đã kiểm tra rồi” - ông nói.

Tôi biết trước kia ông đã thử đi theo chủ nghĩa vô thần, đa thần, truyền thống Trung Hoa, Ấn Độ, Do Thái và thậm chí nhiều sự giáo dục khác. Khi tôi quen ông, ông đã trải qua tất cả những điều này. Và những cuốn sách nằm trên giá chứng minh ông đã đọc tất cả chúng rồi và tự kiểm tra điều mình nói.

Và điều chắc chắn là nếu con người bình thường, ngoài Phúc Âm ra ông đã tìm thấy trong Unipanisadok, trong Cựu Ước, hoặc trong khoa học hiện đại, hoặc trong chủ nghĩa vô thần, ông đã nói ngay ra rồi.

Đây là những mẩu đứt đoạn của một mẩu hội thoại chân tình: “trở thành kẻ Kitô giáo… không có gì lạc hậu hơn, buồn chán hơn, bất hợp lí hơn, thông thường hơn… sự thỏa hiệp… ngu ngốc… cần một sự bất lực như thế nào của trí tuệ để một ai đấy tự xưng là kẻ Kitô giáo… Không cưỡng bức không được, không thể thiếu sự dối trá và đánh lừa… lúc đó trở thành kẻ lí tưởng chủ nghĩa chân thật hơn, hoặc kẻ vô thần… Ai hôm nay tự xưng mình là kẻ Kitô giáo, kẻ nhẹ dạ… họ muốn một cái gì đó với điều này… không có gì khác ngoài để sống tốt… tránh mọi điều chọc ngoáy…”.

Cùng lúc đó ông cũng nói như sau: “Trí tuệ không chỉ cần đến sự chín muồi Phúc Âm, để một người như là nó, dám suy tư và dám nói ra… một linh hồn chứa đựng những tế bào khỏe mạnh chỉ có thể là kẻ biết tất cả… lời bất kính? Tự do! Nhìn đối diện với tất cả, không cụp mắt xuống… không chấp nhất bất cứ cái gì mà không phê phán… và biết cái gì giả cái gì đích thực…”.

Điều này đúng là không phải chuyện đức tin và thế giới quan. Có vẻ như đúng là ông đã kiểm tra lại.

5.

Trại nuôi ong là gì? Một viễn cảnh. Hiện thực hóa tình huống - chủ thể. Bởi vì: “chủ thể là nơi từ đó có thể nhìn thấy toàn bộ cùng một lúc”.

Những đoạn trong một mẩu hội thoại: Viễn cảnh của thần học (triết học) dối trá… nhìn sự vật nhỏ hẹp lại, có lẽ bởi vì để nhìn được nhiều hơn cùng một lúc… nhưng viễn cảnh của khoa học cũng giả dối, bởi vì nhìn sự vật phóng đại lên… cả hai đều dở… có loại viễn cảnh khỏe mạnh và bình thường… mang tính con người… nhân đạo… giới hạn và ở giữa… chủ thể… trở thành người bình thường…”.

Giống như mọi hành vi, hành vi mang tính quyền lực, thần thánh, thông thái, chủ thể cũng đều trong một dạng hình số phận nào đấy có thể hiện thực hóa và mô tả được. Đây là trại nuôi ong.

Từ năm bốn mươi tám tuổi trở đi ông sống trong một cái làng trong một xó phía đông tây cách đường tàu hỏa đi ba tiếng đồng hồ. Cái làng nằm giữa những cái gò hiền lành, dưới vườn là suối có viền những cây liễu và những cây trăn. Tiếng động của thị trấn không ảnh hưởng tới nhà của ông, hay nói như người Trung Quốc, không thể nghe thấy tiếng động nào ngoài tiếng gà gáy, một căn nhà quý phái xây từ thế kỉ XVII với những bức tường cao mét rưỡi, có bốn buồng, có vườn rau và cây ăn quả, cách suối không xa.

Sau nhà có cái sân rải sỏi, và ở góc sau là trại nuôi ong, dưới bóng một cây óc chó “an toàn”. Căn phòng quét vôi trắng. Ngoài khoảng hai mươi-hai mươi hai thùng ong ra không có gì khác, có những dụng cụ, đồ dùng cần thiết cho việc nuôi ong, một chiếc giường cũ kĩ, cái bàn bằng gỗ thông, ghế, một giá sách lưa thưa với Trang Tử, Upanisadok, Zohár, vài cuốn của Rabelais, Keats, Hölderlin, Shakespeare, Rilke, Sterne, Kierkegaard, Nietzsche, Kassner. Vài tập giấy, mực, bút, một chai rượu vang và một chai nước khoáng.

Trại nuôi ong không phải nơi để rút lui mà là sự hiện diện cấp cao nhất, một lần ông nói. Các nhà thơ Kisfaludy và Berzsenyi từng ở đây. Ngày nay nhà thơ không còn phù hợp với thời gian nữa. Ít ỏi.

Đây là một loại chăn nuôi ở nơi này. “Đời sống được tô điểm trên các vị trí thế gian, như loại thông hanga ở phía Bắc, phía nam là cây dừa, ở Trung Quốc là gạo, ở Mexico là ngô… một sự trung thành gắn bó với đất mẹ… truyền thống… cho dù có bao nhiêu hình thức cầm quyền đi chăng nữa, ở nơi đây, trên đất này sẽ không bao giờ trồng gì khác ngoài lúa mì, làm rượu vang, trồng anh đào, cây óc chó”.

Trại nuôi ong là nơi để thiền định. Ông trích dẫn Hölderlin: “Kẻ muốn điều cao nhất, kẻ đó hành động ít”. Trong cái không gian thiền định này không phải “để sinh ra các loại triết học lắm lời như ở các trường đại học”. “Một trăm từ là đủ - một lần ông bảo - hơi nhiều nữa là khác”. Herakleitos có một trăm ba mươi câu nói. Lão Tử để lại tám mươi bài thơ. Ai cho là ít? Nhận thức của con người ở nơi đây hoạt động giống như bầy ong. Chỉ làm ra mật nguyên chất.

Phần lớn thời gian ông tiêu khiển ở đây, nhiều lần ông ngủ lại và hàng tuần ông im lặng, chỉ nói những gì cần thiết.

6.

Trong trại ong nhiều lần chúng tôi ngồi cùng nhau. Ông ngắm lũ ong, đôi khi nằm nghỉ, đôi khi đọc hay đúng hơn chỉ lật trang sách. Ông đi lại như thể chỉ có một mình, khẽ cằn nhằn hoặc ngoáy mũi, tôi để ý.

Rồi ông nhìn tôi, cái nhìn lâu và bình thản. Một cái nhìn đặc biệt, không dò hỏi, không phán đoán, không bất nhã, chẳng tò mò, không ngạc nhiên. Lúc chìm trong ánh nắng hè dưới biển tôi cũng không cảm thấy mình như trong cái nhìn này. Không có gì bí mật, tôi nghĩ. Trong tôi không có gì bao phủ. Cái nhìn ấm áp và trang nghiêm.

Trong cái nhìn này, khi ông ngước nhìn tôi, tôi nhìn sâu vào bản thân mình, thật sâu, không choáng váng, không bận rộn, chỉ bình thản và tôi không thấy ông, tôi chỉ thấy ánh sáng trong suốt.

Tôi nghĩ về điều trước kia, trong những giờ phút im lặng thật dài trong tôi luôn nổi lên một cái gì căng thẳng khó chịu. Cái gì sẽ xảy ra? Ông nói gì? Tại sao ông không nói? Ông chỉ ngồi, ngồi và không nói nửa lời. Không ngu ngốc ư? Ông làm tôi bực bội. Nhưng bây giờ thì không.

Tôi nhìn ông. Ông hơi lắc lư cái đầu và khẽ nhún vai. Có nghĩa là: tất nhiên rồi, ai cũng liên tục chờ đợi một cái gì đó… như thế này cũng tốt mà… họ không biết họ đợi cái gì, có, luôn luôn đã từng có và họ không thể đánh mất.

Một lần chúng tôi ngồi ba người với nhau, và người thứ ba liên tục nói lải nhải. Sau cùng người đó bắt đầu tâng bốc ông, gọi ông là nhà tư tưởng, nhà thông thái thậm chí thiên thần. Theo thói quen ông ngồi xổm trước những thùng ong, nhìn ngắm lũ ong, thỉnh thoảng xoa mặt và bắt đầu bực bội.

Rồi bỗng nhiên mặt ông dãn ra và mềm lại như một bông hoa. Trong bữa chiều, ông bảo: “Xin lỗi, tôi đã không kiên nhẫn”. Người bạn của chúng tôi ngẩng đầu: “Sao?” ông trả lời: “Bạn đã xúc phạm tôi”. Người kia không hiểu, “đúng - ông nói - bạn đã chửi tôi… nhà thông thái, thiên thần… bạn tôi gọi tôi thế… tất nhiên hoàn toàn không phải không xứng đáng… nhưng vẫn làm tôi đau… như thể tôi là kẻ ngoại lệ… Vì tôi không được phép phá vỡ các mức độ giới hạn… cần giữ chúng… đấy là điều lớn nhất… nhưng điều bây giờ tôi nỗi, xin lỗi bạn, vì nó giống như thể tôi đang dạy dỗ bạn, nhưng tôi chỉ nói những điều bạn cũng biết và là điều tất cả mọi người đều biết”.

Tôi không hiểu ông muốn gì. Đúng. Nhưng tại sao cần giữ một cái gì đó bằng tất cả và với tất cả mọi người và bằng mọi giá? Tôi sẽ làm gì với cái vô tận? Tôi sẽ làm gì với bầu trời rạng rỡ? Hoặc với biển? Tôi không biết dùng chúng vào việc gì. Đến việc học hỏi từ đó cũng không.

Chỉ mãi sau này một lần tôi đột nhiên cảm thấy mình là bầu trời và mặt biển vô tận. Lần đầu tiên chỉ khi đó, khi nó trở thành hiện tại. Muộn hơn, khi tôi đẵ sống xa ông, nhưng vẫn nhớ đến ông. Tôi đã hiểu ra: “tất cả mọi người đều có một trại nuôi ong của mình”.

Tôi không nói về điều này, nhưng ông hiểu. Ông trở nên tươi tỉnh và dễ chịu. Ông đi đi lại lại và gật đầu. Ông lẩm bẩm điều gì đó tôi chỉ nghe loáng thoáng: “tôi im lặng một cách tự do… không thủ đoạn”.

7.

Quyển sách này rất lâu rồi tôi có ý định cho nó một nhan đề là Người Canh Giữ Sự Im Lặng. Tôi nghĩ, nói về một người canh giữ cổng một đất nước bí ẩn, ở một biên giới xa lạ, giữa bóng tối và ánh sáng.

Tôi không tin vào từ ngữ thần bí và chỉ vì sự bí ẩn tôi muốn đưa cuốn sách ra. Nhưng cuốn sách này nói về sự thần bí, về sự phi xác định, hay nói đúng hơn nói về một hiện thực duy nhất và cái duy nhất có thể nhận biết được. Cuối cùng, tôi chọn nhan đề Unicornis.

Unicornis là con vật có một sừng.

Con vật hai sừng có hai mắt, hai chân, hai giới tính, hai đặc tính. Con vật một sừng có con mắt giữa trán, một giới tính, androgen, lingam, joni, trái tim. Con vật một sừng là loài vật siêu việt trong khu rừng thiêng.

Ở Trung Quốc người ta gọi nó là Kì Lân. Mẹ của Khổng Tử trước khi trở dạ sinh ra ông đã mơ thấy con kì lân. Con vật một sừng đầu tiên nhảy vọt ra từ trung tâm của trái đất. Người ta hiếm khi thấy nó. Người ta kể rằng Tyanai Apollonius một lần đã gặp nó. Mózes viết: Thượng Đế đưa họ ra khỏi Ai Cập, sức mạnh của ngài như của con vật một sừng.

Một là cái không bao giờ nhắc lại. Chỉ có một lần. Duy nhất một lần. Lần đầu tiên và lần cuối cùng. Không thể nắm bắt và không thể xác định. Sự huyền bí. Người lính canh của sự im lặng là con vật một sừng lặng câm sống trong khu rừng thiêng câm lặng, trên ngưỡng của những sự bí ẩn, là sinh linh cuối cùng, là dạng hình cuối cùng của sự sống tận cùng là MỘT.

Nhưng vô ích là một và duy nhất. Nếu bạn ở bên nó, bạn biết, đây là một và toàn bộ và đây là duy nhất, là tất cả. Vô ích lần đầu tiên và lần cuối cùng. Nó luôn luôn từng có và sẽ có. Vô ích không nắm bắt được. Nó là thứ duy nhất có thể nắm bắt, nó là hiện thực, là hiện tại, là kinh nghiệm và là cái cụ thể, và ngoài nó ra chỉ còn ảo ảnh.

Vô ích nó là sự thần bí, bởi sự thần bí này có trong tôi và trong bạn, nó quấn lấy chúng ta và nó là cái chúng ta tiếp cận, cái chúng ta ăn, cái chúng ta thấy và hít vào bằng mũi của chúng ta, và vô ích nó bí mật, nó là cái ai cũng biết, và vô ích nó bị cấm, nó là cái từ đó có chúng ta. Đấy là Unicornis - con vật một sừng.

Có thể gặp con vật một sừng trên đường phố của các thành phố, lúc đó nó khoác bộ mặt thần hộ mệnh các số phận. Những lúc đó nó ngồi trên cổ con người, trong tay là chiếc roi da và xua đuổi con người. Con người luôn vội vã trên các đường phố vì bị nó lùa, xua.

Có thể gặp cọn vật một sừng trên khuôn mặt lũ con trẻ, bọn thiếu nữ, các thánh, lúc đó nó là thiên thần. Những lúc đó nó nắm tay con người và dắt đi một cách hiền từ. Khi con người từ bỏ trái đất, nó sẽ là thủ lĩnh linh hồn, đi trước và chỉ đường. Chiếc sừng độc nhất chiếu sáng như một ngôi sao.

Có những linh hồn ngồi trên nó, và con vật một sừng đưa họ đi trên lưng, đưa qua các vương quốc của thế giới bên kia, qua các cánh rừng, các ngọn núi, các dòng sông, ánh sáng từ cái sừng độc nhất ngày càng tỏa sáng rạng ngời, dấn vào không gian và chỉ đường.

(Viết xong tại Szentendre

tháng Bảy-tháng Chín năm 1948)

« Lùi
Tiến »