Minh Triết Thiêng Liêng Tập 2

Minh Triết Thiêng Liêng Tập 2

Lượt đọc: 205 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần thứ tư
SỰ NHẬP ĐỊNH
I. Hermes Trismegistos
1.

Dưới cái tên Hermes Trismegistos còn lại vài đoạn đối thoại và những văn bản vụn của thời Alexandria. Ngôn ngữ của những lưu trữ này bằng tiếng Hi Lạp, bởi vậy thoạt đầu người ta tưởng tác giả của chúng là một nhà triết học Alexandria sống đầu Công nguyên, hoặc cao nhất là trước Công nguyên một, hai trăm năm.

Nói về nội dung của các tác phẩm, theo một quan điểm đồng nhất, người đọc cần đối diện với những tác phẩm đã thích nghi với tính chất Hi Lạp hóa đặc trưng ( sinkretikus hellenistikus). Chủ nghĩa Sinkretizmus (thích nghi) trong trường hợp này có nghĩa là tác giả từ mọi miền quen thuộc của thế gian cố gắng thử nghiệm tính thống nhất bắt buộc của những tinh thần khác nhau xuất phát từ các nguồn ở Alexandria. Công việc mang tính chất thích nghi này về bản chất khác hẳn sự thích nghi; cái ban đầu chỉ tập hợp chất liệu, cùng lắm hàn gắn lại; cái sau đúng là tạo ra một sự thống nhất.

Giữa nhiều tác giả, văn bản của Mead có ý nghĩa nhất, đáng tin cậy nhất, ngoại trừ những nhầm lẫn xuất phát từ lí thuyết của ông. Văn bản Hi Lạp này không chỉ được coi hoàn toàn cổ, mà còn là-một bản dịch nhập định Ai Cập cho phép người đọc quay trở lại thiên niên kỉ thứ tư.

Ngôn ngữ Hi Lạp và thuật ngữ tương tự phái Ngộ đạo (gnostikus) trong những lời đối thoại gốc, văn bản gốc, rất ít thay đổi. Ở Alexandria lúc ấy hàng đội quân các nhà bác học làm việc để thu thập những kỉ vật cổ khắp trái đất cho thư viện. Các đại lí của thư viện từng đi đến tận Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Tạng, Iran, Caucazus; Những kẻ kế tục các triều đại cai trị ở Alexandria sử dụng ảnh hưởng của mình để kiếm cho bằng được những văn bản cổ nổi tiếng từ các nhà nước khác. Sau đó cho dịch ra tiếng Hi Lạp và giữ gìn trong thư viện.

Ảnh hưởng sống của các nhân vật đã thánh hóa mai một từ lâu, chỉ còn sách giữ gìn tinh thần thời cổ. Mục đích của thư viện Alexandria là gìn giữ truyền thống của nhân loại ở một nơi. Có thể giả thiết rằng, các văn bản gốc Hi Lạp, ngoài các tên bị gọi khác đi, bản chất không thay đổi. Cái tên Hermes Trismegistos là một sự biến đổi tên theo kiểu Alexandria như vậy.

Theo bản gốc, Hermes có tên là Toth. Dưới cái tên Toth ẩn chứa ba biểu tượng: Toth là một thần linh Ai Cập, và một vị giáo chủ cao nhất của Ai Cập mang tên như vậy, giống như Dalai Lama ở Tây tạng, Zarathusra ở Iran, Puthia ở Delphoi; sau cùng Toth là đẳng cấp giáo chủ, hay là tên gọi của những kẻ đã nhập định. Sau khi đã nhập định, giới giáo sĩ và học giả thường lấy tên của một thần linh là Toth, bởi vì Toth đại diện tinh thần của thần linh thông qua hành động ở loài người.

Trong văn bản nếu người dịch chép lại được một điều gì đó gần như phù hợp với tinh thần tác phẩm thì có thể chấp nhận độ trung thành của bản dịch. Các khó khăn trong sự tin cậy của bản dịch chưa từng là những việc không vượt qua nổi và đặc điểm phổ quát của tiếng Hi Lạp cho phép có thể bước tiếp sang tiếng Ai Cập cũng phổ quát một cách phù hợp nhất. Ngày nay, nếu văn bản Latin cần dịch ra tiếng Pháp, Tây Ban Nha hoặc Ý, các khó khăn gặp phải sẽ lớn hơn một cách phi tỉ lệ, bởi vì cần phải dịch thứ ngôn ngữ Latin phổ quát ra các ngôn ngữ hiện đại đã cá nhân hóa.

Trong trường hợp này thứ bị đánh mất chính là thứ quan trọng nhất: tính phổ quát. Tính chất phổ quát của một ngôn ngữ chỉ mang ngần này ý nghĩa: có khả năng “gọi tên” tất cả các sự vật, sự việc của thế gian.

Ngày nay cùng lắm chỉ còn ngôn ngữ ngoại giao, ngôn ngữ đối thoại, ngôn ngữ văn học. Nhưng những loại ngôn ngữ này cũng đánh mất bản chất phổ quát của ngôn ngữ cổ, đặc biệt đánh mất những khả năng xướng danh “gọi tên” những hiện thực tinh thần cao nhất. Ngày nay người ta vẫn bắt buộc phải sử dụng các từ ngữ Latin hoặc Hi Lạp để diễn tả các hiện thực tinh thần cao nhất.

Phạm trù tác giả hoàn toàn không mang ý nghĩa gì. Trong bất kì văn bản cổ nào đều không có vai trò cá nhân tác giả như ngày nay. Tinh thần phổ quát không nhấn mạnh đến hiệu suất cá nhân con người, không đánh giá, cũng như không dùng để nhận thức.

Ở châu Á, nơi, tinh thần của truyền thống một phần vẫn chính là hiện thực sống, tình trạng trên ngày nay vẫn như vậy. Nếu khách lữ hành châu Âu có mặt ở Ấn Độ nghe thấy một bản Ballad (bài hát cổ) và thích, họ sẽ hỏi tên bài hát. Dịp khác, họ yêu cầu một danh ca khác hát bài Ballad này, và khi người này hát, người châu Âu kia vẫn nhất định không thỏa mãn. Không giống bài hát họ đã nghe.

Lúc đó người Ấn giải thích, ở Ấn Độ không có các cá nhân tự do diễn đạt bản thân mình trong các tác phẩm âm nhạc và thi ca như ở phương Tây. Người biểu diễn bị ràng buộc chặt chẽ vào các tác phẩm họ diễn, cần giữ nguyên bản chất của tác phẩm. Sự ràng buộc này không đem lại sự tùy tiện và không làm mất sự trung thành của bản gốc. Thi ca và tác phẩm âm nhạc mang chất Âu châu, nếu được bảo tồn trong hình thức truyền khẩu truyền thống như vậy, có thể sẽ tồn tại hàng trăm năm và tinh thần của tác phẩm không hề bị thay đổi.

Bản anh hùng ca Homeros được trình diễn ở Hi Lạp là như vậy; hoặc trường ca Nibelung và Edda cũng thế. Sự trung thành không biểu hiện ra bên ngoài như hình thức theo chữ cái ngày nay nhiều khi hoàn toàn đánh mất tinh thần bên trong của văn bản. Trong thời kì xưa người ta gìn giữ sự trung thành đích thực, và vì vậy tên tuổi của các nghệ nhân xưa lớn hơn nhiều, bởi tính chất đích thực của các buổi biểu diễn của họ.

Về tính chất của cội nguồn như ngày nay con người cá nhân thề thốt, rất có thể xưa kia chưa từng mang ý nghĩa gì. Mỗi tác phẩm của truyền thống cổ khi rơi vào thư viện Alexandria có thể giống như việc người Hi Lạp cổ xây một cái nhà thờ, sau đó người Cơ đốc giáo làm lễ rửa tội trong đó, và hôm nay nhà thờ này của người Hồi giáo. Các tôn giáo thay đổi, nhưng cái nhà thờ vẫn còn lại đúng như vậy. Ngôn từ, cách diễn đạt, tên gọi đã thay đổi nhưng tinh thần cơ bản vẫn còn nguyên.

Trong đại đa số những tác phẩm mang tên Hermes Trismegistos đều có thể nhận ra tinh thần cổ tự do của nó. Và tinh thần cổ ngự trị trong thời Alexandria Hi Lạp không hề bị bóp méo, ví dụ: sự thống trị của đạo Phật trong các văn bản của Tử thư Tây Tạng hoặc trong cuốn T’ai I Csin Hua Cung Csih của Trung Quốc.

2.

Tính chất đáng tin cậy của các tác phẩm dịch Hi Lạp dựa trên ba khía cạnh: thứ nhất là các tượng trưng siêu hình học, thứ hai là tên của các vị thần linh, và thứ ba liên quan đến các huyền thoại.

Các tượng trưng siêu hình học được giữ gìn trong các từ ngữ. Nhưng các từ ngữ này không phải là những từ ngữ hằng ngày. Trong các văn bản Hermes Trismegistos người ta gọi từ mang tính chất tượng trưng siêu hình học là logo. Logo nghĩa là sức mạnh, ý nghĩa, tác dụng của tinh thần được tuyên bố, thậm chí trong số nhiều, các logo mang ý nghĩa như những lời kinh (sutra) của tiếng Sancrit.

Mọi liên hệ logos trong tất cả các trường hợp đều mang tính chất phổ quát. Nhiều nơi logos thường trùng với ý nghĩa của từ “buddhi” (Phật tính tiếng Sancrit) Sancrit và “csisti” (sự tỉnh táo) của Iran; trong những trường hợp này logo có nghĩa là sự tỉnh táo trực giác hay sự tỉnh táo tâm linh. Bí ẩn của logo: trước những kẻ chưa nhập định không được phép trình bày các sự vật.

Nếu để kẻ chưa nhập định tiếp cận, xuất hiện sự thay đổi huyền bí của logo; tác dụng và sức mạnh của logo suy giảm và biến mất. Không hiếm trường hợp, ý nghĩa đích thực của logo bị hiểu ngược hẳn nhất là khi kẻ muốn sử dụng logo chỉ vì lợi ích cá nhân. Đặc tính của logo không chỉ vô tác dụng trong tay kẻ vô đạo, mà: nếu kẻ vô đạo muốn sử dụng logo một cách vô luật lời tuyên bố có thể mang đến những sự nguy hiểm không lường trước cho kẻ đó bởi một sức mạnh siêu việt đã linh thiêng hóa.

Vì vậy một trong những mục đích của sự nhập định là người thầy dạy cho học trò các bí ẩn của logo. Không được phép phát ngôn bất cứ gì từ nhu cầu lợi ích ích kỉ; kẻ nào sử dụng dễ dãi những từ ngữ của Thượng Đế, kẻ đó đùa giỡn với sự sống của nó, từ ngữ sẽ chống lại nó. Người thầy dẫn nhập kẻ học vào vương quốc linh thiêng của logo - thần ngôn.

Theo quan điểm siêu hình học, nơi nào có logo, chính xác nơi đó xuất hiện huyền thoại. Lời tuyên bố đầu tiên ở tất cả mọi trường hợp đều mang tính chất siêu hình học. Cái logo tuyên bố chính là sự tượng trưng của cái vô hình và vô ngôn. Cái huyền thoại tuyên bố, cũng vô ngôn nhưng đã hữu hình.

Theo Veda con người nhận ra tượng trưng siêu hình học bằng trực giác tâm linh và tâm bồ đề, và nhận ra hình ảnh huyền thoại bằng manas. Manas là sự nhạy cảm bên trong, sự nhạy cảm với các hình ảnh cổ của linh hồn. Nói theo diễn dịch của Gúenon: sens interne. Logo và huyền thoại cùng nhận ra điều này, nhưng bằng giác quan khác: con người nhận ra logo bằng khả năng siêu nhân phổ quát, nhận ra huyền thoại bằng khả năng mang tính chất tập thể. Logo và huyền thoại cùng nói lên một điều: một cách vô ngôn và khôn tả.

Khía cạnh thứ hai đáng tin cậy của các tác phẩm Hi Lạp liên quan đến tên của các thần linh. Các thần linh - nếu điều này lại trêu tức người ta lần nữa - như các công thức đại số, không thể định nghĩa nổi. Các thần linh không phải là các nhân vật cố định có hình thù rõ ràng. Trực giác tâm linh và sự nhạy cảm bên trong (manas) cùng một lúc nhìn thấy những đường nét và đặc tính mới hơn, và tìm ra những khuôn mặt và tên gọi cho những thứ này. Theurgia như một hoạt động tạo dựng.

Con người nhạy cảm với cái nhìn trực giác sẽ nhìn sự vật một cách bí ẩn (theurgikus). Sự bí ẩn này như một hoạt động tạo dựng trái ngược hẳn với tư duy khoa học ngày nay-thứ chỉ tạo ra các hình thức trừu tượng.

Khía cạnh thứ ba đáng tin cậy của các tác phẩm Hi Lạp là sự nhận thức bằng những hình ảnh huyền bí. Các thi phẩm lớn của Dante, Heros, Vergilius, Shakespeare đầy rẫy những hình ảnh (được gọi là) thiền định mà bất cứ chỗ nào cũng có thể trích dẫn, và là tác động thực chất của tác phẩm.

Điều bí mật của những hình ảnh này: chỉ dẫn tới những biến đổi, những quá trình bên trong (được gọi là) sự thanh tẩy, sự ngộ ra, và bằng những điều này nâng đời sống con người lên cao. Ý nghĩa của những hình ảnh này là sự đánh thức. Biến con người thành kẻ tỉnh táo. Và cái gì sống trong các thi phẩm, trong một mức độ nhất định cũng sống trong huyền thoại. Nội dung của huyền thoại là hình ảnh đánh thức, là hình ảnh cổ, hình ảnh thiền định. Tác dụng của các hình ảnh này phổ quát và mang tính tập thể; không một ai có thể rời bỏ nổi tác động của những hình ảnh này.

Tính chất đáng tin cậy của các đối thoại Hermes Trismegistos phụ thuộc vào những điều sau: có hay không những tượng trưng siêu hình học bên trong nó? Dồi dào hay ít ỏi những quan điểm mang tính chất phổ quát của sự sống siêu việt và sau cùng, có hay không những hình ảnh thiền định huyền bí bên trong?

Cả ba đặc tính này ngay lập tức có thể nhân ra trong các đối thoại Hermes Trismegistos. Có thể thấy các dịch giả đã cứu vớt toàn bộ những gì quan trọng trong các tác phẩm khi dịch chúng từ ngôn ngữ Ai Cập cổ sang các ngôn ngữ đã Hi Lạp hóa.

3.

Sự nhập định luôn dẫn nhập vào một huyền bí nào đấy, nhưng ngay bản thân sự nhập định đã mang tính chất huyền bí.

Trong thời cổ, khi sự nhập định còn là một tổ chức, và nhân loại là tổ chức quan trọng nhất của nó, sự nhập định diễn ra theo luật, giữa những điều kiện nghiêm khắc bên ngoài. Thiếu sự nhập định không thể đạt tới các vị trí giáo chủ, vua hay thượng nghị sĩ, thậm chí để trở thành linh mục, quân nhân, quan tòa, hay thầy thuốc, nhân viên hành chính cũng không thể.

Ngoài những nhập định đẳng cấp thông thường để một thanh niên gia nhập vào hoạt động xã hội người đó còn cần trở thành một sinh linh tỉnh táo và biết dự phần vào một đời sống tinh thần cao hơn.

Việc học tập này độc lập hoàn toàn với trường học. Trường học chỉ đem lại kiến thức mang tính chất vật chất và số lượng; còn sự nhập định mang đến các mức độ tinh thần và sự tỉnh táo. Kinh Veda gọi sự học tập ở trường là vidnya, còn mức độ tinh thần và sự tỉnh táo là vidja. Sự phân biệt này ở Iran, Trung Quốc, Tây Tạng cũng giống hệt như ở Ai Cập, ở Mĩ với các tín đồ Orphikus và Pythagoras.

Ngày nay sự nhập định đã hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại sự học tập ở trường học một cách không mấy lành mạnh. Bởi vì ngày nay con người chỉ tham dự vào vidnya (kiến thức, số lượng nhận thức) còn mức độ tinh thần và sự tỉnh táo thì không biết đến, nên sự nhập định không còn chạm đến họ một cách trực tiếp nữa.

Điểm xuất phát là: các giác quan ràng buộc con người vào thế giới vật chất, nhưng kinh nghiệm và xúc cảm về hiện thực của con người không có. Con người chỉ có đời sống; còn sự sống của nó ẩn hiện trong bóng tối. Ai một lần trong đời cũng sẽ đạt đến ngưỡng chót của đời sống, một lúc nào đấy hoặc trong giây phút hấp hối, kẻ tỉnh táo sẽ đạt tới sớm hơn kẻ mê muội, nhưng con người đều sẽ phải mở mắt ra một lần trước hiên thực đích thực.

Cái chết và sự nhập định là một hiện tượng liên quan với nhau. Bởi nhập định vừa là cái chết vừa là sự sinh ra. Chết trong thế giới vật chất và sinh ra trong thế giới tinh thần. Cái chết cắt đứt thô bạo đời sống, làm tan vỡ mối quan hệ có vẻ cần thiết với thiên nhiên vật chất. Sự nhập định cũng đúng như vậy: cắt đứt sự liên tục của đời sống bằng một can thiệp nhân tạo, và làm cản trở hướng của các giác quan hướng về thiên nhiên.

Nhập định cần phải như thế vì con người cần nhập vào sự sống thông qua phần bị cắt đứt bằng can thiệp nhân tạo. Nói bằng ngôn ngữ ngày nay: sự nhập định cắt đứt mối quan hệ với thiên nhiên bằng phương pháp do người thầy chỉ dẫn, và ở vị trí bị cắt đứt này người thầy sẽ dẫn dắt, đưa tinh thần của sự sống siêu nhiên vào linh hồn người. Quá trình này mang tính chất Hi Lạp hóa, và có thể nguồn gốc của nó bắt nguồn từ truyền thống Orphikus-Pythagoras cổ, mang tên: metanoia. Có nghĩa là sự chuyển hóa.

Sự nhập định có họ hàng với cái chết, và cùng lúc cũng là sự sinh ra. Một số truyền thống gọi nó là sự tái sinh. Đôi khi sự tái sinh xảy ra không cần sự nhập định, khi con người từ trực giác tâm linh tỉnh táo tự dẫn dắt mình chuẩn bị, một cách đạo đức, một cách cần thiết cả về mặt tinh thần lẫn linh hồn. Nhưng metanoia - sự chuyển hóa này chỉ xảy ra từng phần, và như vậy không hoàn thiện. Trong thời cổ các ông thầy thường chuẩn bị toàn diện cho những người trẻ tuổi nhập định một cách phù hợp nhất.

4.

Sự nhập định thường cần đi kèm với những điều kiện bên ngoài cần thiết.

Bắt đầu từ giây phút Brahmacsárin - người học trò trẻ của Brahma - xuất hiện ở cửa phòng ông thầy với cây đuốc trong tay, cần phải tiến hành đầy đủ các bước dài của nghi lễ. Ngày nay người ta giải thích một cách tượng trưng những chi tiết nghi lễ này. Họ nhầm. Thực chất như sau: quá trình diễn ra bên trong người học trò và trong thế giới tinh thần và vật chất tự nhiên có sự phù hợp quan trọng.

“Cái gì có ở trên phù hợp đúng như vậy với cái có ở dưới - Hermes Trismegistos tuyên bố trong cuốn Tabula Smaragdina - cái ở dưới cũng phù hợp đúng như vậy với cái có ở trên”.

Trong thiên nhiên mọi điều xảy ra đúng như trong tinh thần và trong linh hồn. Sự phù hợp của con người thiên nhiên trong các sự kiện tinh thần chính là các nghi lễ. Đây là sự phù hợp mà ngày nay người ta không hiểu hoặc cho là phép thuật.

Các mức độ thức tỉnh của học trò cũng cần phải thể hiện ra hình thức bên ngoài: bằng trang phục, bằng màu của trang phục, cách may cắt, bằng đồ vật trang trí trên đầu, bằng sự lựa chọn các cử chỉ, và chọn lựa thực phẩm.

Sau khi đã thử thách những người học trò Ai Cập bằng những bài thi cuối cùng khó nhất, trưởng lão đãi một bữa ăn chung. Bữa ăn này gọi là süntrophion, là nghi lễ thực phẩm thống nhất của những lính canh của tinh thần thần linh Toth hợp nhất trong và nhờ thực phẩm.

Vết tích của bữa ăn này ở thành Roma gọi là caenaromana. Đây là bữa ăn tối hợp nhất với thần linh. Bởi vì: cái gì ở dưới cũng giống như cái ở trên. Trong thế giới tinh thần sự hợp nhất diễn ra cùng lúc với bữa ăn tối hợp nhất, và việc cùng ăn là ý nghĩa của nghi lễ, không là gì khác.

5.

Truyền thống cổ không dạy những gì chưa từng ai nghe thấy bao giờ, những gì hoàn toàn mới, đặc thù, đặc biệt và vì thế cần nhiều thời gian và sự cố gắng.

Tư tưởng của truyền thống là những tư tưởng tuyệt đối và vĩnh cửu, là những điều tất cả mọi người đều biết và hiểu một cách trực tiếp, là những điều ai cũng nhận ra. Phần quan trọng nhất không thể so sánh với bất cứ gì của truyền thống chính là sruti, lời tuyên bố, xuất hiện, ra đời cùng thế gian. Nó không hề xuất hiện như thể một người ở một nơi nào đấy viết ra toàn bộ và tiếp tục truyền bá.

Lời tuyên bố trong Tạo Hóa chính là sự sống, là gốc gác, là mục đích, là sự sáng sủa tỉnh táo của ý nghĩa, của hiện thực. Khi thế gian xuất hiện, cùng lúc xuất hiện cả tri thức về nguồn gốc, sự sống, mục đích, ý nghĩa, hiện thực của thế gian, là cái trong tinh thần của Tạo Hóa cùng thời với tạo hóa và cùng với sự tỉnh táo, sự sáng sủa. Khi trong linh hồn tạo hóa cùng lúc xuất hiện mục đích, ý nghĩa, dạng hình, hiện thực và những quá trình, nhận thức chợt lóe lên, trí nhớ tỉnh táo hình thành, và đây là đặc thù từ thuở đó cho tới nay của linh hồn. Linh hồn gìn giữ các tư tưởng. Bởi Linh hồn là tạo hóa, là Sinh Linh tạo nên thế gian.

Truyền thống gọi tư tưởng đầu tiên có liên quan đến tạo vật đầu tiên là Lời Tuyên Bố, là ý nghĩa cổ, mục đích cổ của sự vật, là sự bí ẩn của tạo hóa, là những quy luật của đời sống thế gian. Gọi là lời tuyên bố bởi vì những tư tưởng này xuất hiện cùng sự mở ra của sự sống trong buổi ban mai của thời gian: chúng cùng lúc mở ra cùng tạo hóa và biến thành sự tỉnh táo trong linh hồn.

Linh hồn đều nhớ ra tất cả những kí ức này. Huyền học Hi Lạp gọi kí ức này là anamnesis : những kí ức cổ của con người nhớ ra một cách siêu việt những sự vật tuyệt đối của sự sống. Khi con người sống trong thiên nhiên vật chất, bằng sự giúp đỡ của kí ức cổ ( anamnesis ) nhận ra những sự vật tuyệt đối, là cái mà thời cổ người ta thường nói đấy là sự tiếp nhận lời tuyên bố.

Nghe thấy và gắn bó với lời tuyên bố không phải là cái gì kì lạ đối với những khát vọng mơ hồ nào đó. Biết về nó và hiểu về nó không đòi hỏi con người phải đi thu thập, học hỏi từ đâu. Linh hồn mang trong bản thân điều này, tùy theo cá tính. Chỉ cần thức tỉnh. Sự dạy dỗ của lời tuyên bố là kiến thức tổng quát nhất và trực tiếp nhất, là thứ tất cả mọi người không cần nghe duy nhất một từ, cũng hiểu.

Nghe thấy, gắn bó, nhận thức, hiểu ra lời tuyên bố - cần hai bước: con người cần nâng mình lên đến mức hiểu được logo-siêu hình học, và cần tỉnh táo.

Cần phải được nâng lên mức độ logo, bởi lời tuyên bố chỉ có thể hiểu và nắm được bằng logo; Logo tạo ra thế gian, và ai muốn hiểu bí ẩn của tạo hóa, người đó cần phải biết rằng: logo - thứ tạo dựng thế gian, bản thân nó chính là lời tuyên bố.

Thứ tạo dựng thế gian, thứ đó là ý nghĩa, là sự sáng sủa, là ý chí, là bản năng; là tư tưởng, ý tưởng, ý muốn, là kinh tế, là lửa, sức mạnh, quyền lực, giới hạn, hình ảnh, kiến thức, tình yêu thương, sự phù hộ, chính là logo. Bởi vậy cần nâng lên mức độ logo.

Cùng lúc đó cần phải giữ vững sự tỉnh táo. Bởi vì lời tuyên bố không thể do một linh hồn vật vờ lĩnh hội.

“Lời tuyên bố chỉ có thể nghe thấy - Böhme nói - như một âm thanh bên trong, và chỉ con người tỉnh táo mới trải qua”.

Lời tuyên bố là những tư tưởng tuyệt đối và vĩnh cửu, mà con người ai cũng nhớ ra, là những tư tưởng tất cả mọi người ngay từ đầu đều đã biết, không cần lời giải thích, là những ấn tượng cổ: trạng thái bắt đầu của sự sống, là tạo hóa, mục đích của thế gian và đời sống, là những quy luật sự sống.

Truyền thống Ai Cập nói, Hermes Trismegistos là người ở mức độ tỉnh táo đến mức đã nếm trải qua ấn tượng “lời tuyên bố nghe thấy như một âm thanh bên trong”. Tri thức của Hermes được “ghi lại trong bầu khí quyển eter” - ghi lại trong tinh thần của con người.

Lời tuyên bố ở Ấn Độ được bảy đạo sĩ tiếp nhận. Ở Trung Quốc do Hoàng Đế. Ở Mexico do Kecalkoat, Rắn Bút, ông thầy của nhân loại.

Sự bắt đầu của tạo hóa, của sự sống, ý nghĩa, mục đích và định luật của nó con người biết từ lúc mới sinh ra, và trong tri thức từ thuở khai thiên lập địa con người mang theo mình có cả sự nhập định.

Rằng cái gì là sự nhập định, không cần phải dạy dỗ, giống như cái gì là sự sống, là đời sống, cái gì là ý nghĩa và mục đích của tất cả. Trong tận cùng sâu thẳm của linh hồn chứa đựng tri thức về sự nhập định, rằng sinh ra trong sự sáng sủa của thiên nhiên chưa đủ - ý nghĩa và mục đích đích thực của đời sống trần thế là ở đây, trong số phận này, trong cái TÔI này, trong không gian, thời gian này, cần phải sinh ra lần nữa trong cộng đồng, cần phải sinh ra lần thứ hai từ sự sáng sủa vật chất đi vào sự sáng sủa chói lọi cao hơn.

Sự nhập định cũng chính là một ấn tượng cổ, như sự sống, như linh hồn, số phận, hiện thực. Trong nhân loại cổ sự nhập định quan trọng nhất, là một hành động có ý nghĩa quyết định toàn bộ đời sống. Kẻ nào chưa trải qua điều này, kẻ đó chỉ sinh ra một lần. Thực thể đó không thể coi trọng nổi: nó là người anh em thiu thiu ngủ trong đờ đẫn vật chất, như súc vật hoặc cây cỏ.

Nhân loại thực thụ sinh ra hai lần (dvidzsa) và cộng đồng đích thực là cộng đồng của những con người đó. Của những kẻ đã nhập định, những kẻ đã thức tỉnh và trở thành một phần trong lời tuyên bố. Lời của những kẻ này, logo của những kẻ này nằm trong sự thống trị, trong luật lệ, trong sáng tạo; như kinh Veda nói: trong sự thêu dệt tiếp nối đời sống. Những kẻ này là sự thức tỉnh Veda, là những con người chân chính.

6.

Với câu hỏi, các quá trình hình thức của sự nhập định là gì, cần trả lời như sau:

- Quá trình đầu tiên là những hoạt động say mê cho mục đích vật chất nhất thời trong một đời sống vô trách nhiệm và bị mê ngủ;

- Quá trình thứ hai bắt đầu khi con người đôi khi chậm rãi, đôi khi đột nhiên tỉnh thức khi nhận ra nếu đời sống con người cứ tiếp tục vô trách nhiệm và đờ đẫn, sẽ rơi vào vô nghĩa, vào cái không có gì; nhận thức này thường bất thình lình và rúng động;

- Quá trình thứ ba là sự khủng hoảng; con người vẫn bằng toàn bộ thực thể của mình bám chặt lấy thế gian vật chất, nhưng phân vân và bơ vơ đi về phía các giá trị vĩnh cửu và tận cùng; nó từ từ thấy những hiện thực sâu sắc hơn đời sống vật chất, nó thức tỉnh, đời sống của nó mở rộng ra; sự thức tỉnh và mở ra đôi khi chỉ diễn ra trong vài khoảnh khắc, và người ta gọi khoảnh khắc đó là sự ngộ ra;

- Quá trình thứ tư là cuộc chiến dài lâu và khó khăn, để con người từ bản thân mình quên đi đời sống vật chất hữu hạn và trở nên rắn rỏi dần trong sự sống;

- Quá trình thứ năm là sự trầm tĩnh dần dần tới khi con người thấy sự giải thoát khỏi những điều kiện thiên nhiên vật chất một cách hoàn toàn là không tưởng; con người thánh thiện hóa những nỗ lực và mọi khả năng của mình hướng về sự cứu vớt bản thân bằng sự phục vụ nhân loại phổ quát.

Khi hiểu ra các quá trình hình thức trong phác họa cơ bản này không ai giấu được sự ngạc nhiên, rằng các quá trình này trong hình dạng khác, nhưng gần như trong cùng một ý nghĩa, và thực ra là lời chỉ dẫn đến các quá trình cổ, mà họ đã gặp không biết bao nhiêu lần.

Bởi vì điều này, người ta thường nhìn thấy trên sân khấu, nghe thấy trong âm nhạc, đọc thấy từ một truyền thuyết hoặc từ một tiểu thuyết. Đây là điều nói về các nhịp điệu đơn giản hóa về mặt hình học của sự sống: đây là các hình thức cơ bản, các công thức cơ bản. Đây là hình dạng tuyệt đối không thể đơn giản hóa thêm được nữa.

Vậy đây là hình dạng gì vậy? Một cuộc sống vô tư, vô trách nhiệm, vô giới hạn - sự khủng hoảng rúng động - sự thức tỉnh bất ngờ về cái cao hơn, vượt quá đời sống, và sự cố gắng chậm rãi từ từ vươn lên một sự sống cao hơn.

Đây là một công thức cơ bản, mà các kết cấu bi kịch dựa trên đó, là kết cấu của âm nhạc, của tiểu thuyết và thi ca, là các kết cấu của hội họa, điêu khắc, triết học: khởi nguồn từ nền tảng của thiên nhiên - sắc nét dần - đạt đến điểm điển hình - trải qua trạng thái ngộ ra ( catharsis ) và cân bằng lại trong sự sáng sủa.

Tất cả mọi sáng tạo rơi ra từ tay con người và mang nội dung tinh thần đều giữ gìn những nhịp điệu này: những nhịp điệu nhập định - bởi vậy tất cả những gì rơi khỏi tay con người đều một lần nữa nói lên một ấn tượng cổ của sự nhập định. Mọi hình ảnh cổ của lời tuyên ngôn tinh thần của con người đều xảy ra trên cơ sở ấn tượng cổ của sự nhập định, và chỉ có thể diễn ra như vậy mà thôi.

Mọi sáng tạo của con người đều chứa đựng một đời sống dấn thân vào sự khủng hoảng, thanh lọc bằng sự khủng hoảng, và sau rốt trấn tĩnh lại. Mọi sáng tạo văn học, nghệ thuật, triết học đều là bản sao nhạt nhòa của sự nhập định - kể cả những sáng tạo đáng tin tưởng nhất, ngay trong bản thân nó cũng giữ gìn, duy trì, và thể hiện những mệnh lệnh của sự rúng động và thanh lọc bằng cách truyền bá ấn tượng tương tự nảy sinh từ con người.

Và tác phẩm càng mang tính chất quyết định và có ý nghĩa, càng thể hiện rõ nét ấn tượng cổ của sự nhập định càng giống với sự nhập định đích thực. Tác phẩm dưới tác động trực tiếp của sự nhập định như vậy thường là các vở bi kịch và các tác phẩm âm nhạc lớn. Bi kịch của Nietzsche được cho là bắt nguồn từ âm nhạc. Rất có thể đúng như vậy.

Nhưng cả hai thứ đều xuất phát từ tính chất huyền bí của sự nhập định: một đội ngũ các hình ảnh tượng trưng dẫn dắt linh hồn con người-bí ẩn của sự giải nghĩa các hình ảnh tượng trưng, không phải về Oidipus, về Antigone, về Philoktetes, về Aias, mà về linh hồn người. Linh hồn là thứ mang số phận người sống trên trái đất và linh hồn nhận lấy số phận này để thức tỉnh.

Linh hồn trên điểm đỉnh của số phận rơi vào sự khủng hoảng và cần phải thanh lọc, tẩy rửa: cần phải thức tỉnh. Bi kịch là một sự mô tả linh hồn anh hùng - tés heroikhes tükhes episztasis - âm nhạc cũng không khác. Và cả hai cùng lúc nói lên một cách tượng trưng quá trình nhận thức ra ánh sáng và trạng thái từng trải tỉnh táo mà sự nhập định dạy dỗ.

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang