Đồng Hồ Xương

Lượt đọc: 993 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
17 Tháng Tư

Ván buồm, mòng biển, gió mằn mặn chua oi, biển xanh biếc, và một cuộc tản bộ sáng sớm dọc theo cầu cảng với Aoife. Aoife chưa bao giờ thấy cầu cảng nên rất thích. Con bé cứ nhảy cóc, thích thú nhìn đèn LED ở gót giày nhấp nháy. Con nít thời tôi nếu thấy giày kiểu đó chắc phải thèm nhỏ dãi, nhưng Holly nói rằng bây giờ tìm giày không gắn đèn mới khó. Aoife có bóng bay Dora nhà thám hiểm nhí buộc vào cổ tay. Tôi vừa trả năm bảng tiền bóng cho một tay người Ba Lan dễ mến. Tôi ngoái lại phía sau, cố xem cửa sổ nào ở khách sạn Grand Maritime là phòng mình. Tôi có rủ Holly đi dạo nhưng nàng nói rằng phải giúp Sharon chuẩn bị sẵn sàng trước khi thợ làm tóc đến (hẹn chín giờ rưỡi). Bây giờ còn chưa được tám rưỡi nữa. Nói vậy để tôi biết rằng nàng vẫn chưa đổi ý từ tối qua.

“Ba ơi? Ba? Ba nghe con nói gì không?”

“Xin lỗi cưng,” tôi nói với Aoife, “Ba cứ ở tận đâu đâu.”

“Không phải. Ba ở ngay đây mà.”

“Ý ba là nói theo nghĩa bóng đó.”

“Nh… nhĩa bóng là sao?”

“Là trái với nghĩa đen.”

“Nh… nhĩa đen là sao?”

“Là trái với nghĩa bóng.”

Aoife phụng phịu. “Không giỡn à, ba.”

“Ba đâu có giỡn hồi nào. Lúc nãy con hỏi gì vậy?”

“Nếu ba có thể biến thành một con vật nào cũng được, ba muốn thành con gì? Con muốn thành con ngựa bay màu trắng, trên trán có ngôi sao màu đen, tên là Kim Cương Cánh Lượn. Rồi má và con sẽ bay tới Ba-nát để thăm ba. Ngựa bay không có làm hại môi trường như máy bay, vì tụi nó chỉ ị thôi. Ông ngoại Dave nói lúc ngoại còn nhỏ ba của ngoại hay treo táo trên mấy cây cột cao ơi là cao ở ngoài vườn rau, để mà ngựa bay lượn qua đó, ăn táo rồi ị xuống. Cục ị của ngựa bay vô cùng nhiệm màu, làm mấy trái bí to ơi là to, to hơn Aoife nữa, chỉ cần một trái là cả nhà ăn đủ một tuần.”

“Nghe giống chuyện của ngoại Dave quá. Mà Ba-nát là đâu vậy?”

Aoife nhướng mày nhìn tôi. “Chỗ ba ở đó, còn đâu nữa, ba kỳ quá à”

“Baghdad. Bát-đa, không phải Ba-nát gì hết cưng à. Nhưng ba đâu có ở đó.” Trời, may mà Holly không nghe con bé nói gì. “Ba chỉ làm ở đó thôi.” Tôi tưởng tượng cảnh ngựa bay lượn qua Vùng Xanh, bị bắn tơi tả, rơi xuống đất và bị đám Đảng viên Đảng Cộng Hòa trẻ tuổi biến thành thịt nướng. “Nhưng ba sẽ không ở đó mãi.”

“Má muốn làm con cá heo,” Aoife tiếp, “vì cá heo bơi lội, nói chuyện nhiều, biết mỉm cười và rất trung thành. Cậu Brendan muốn làm con rồng Komodo, vì có mấy người ở Hội đồng thành phố Gravesend cậu muốn cắn xé ra từng mảnh, giống kiểu rồng Komodo xé nhỏ đồ ăn. Dì Sharon muốn làm con cú vì cú là loài thông thái còn mợ Ruth muốn làm con rái cá để được bơi ngửa cả ngày ở California và gặp David Attenborough.” Hai cha con tới một khúc cầu cảng mở rộng quanh một khu nhà trò chơi. Mấy chữ “BRIGHTON PIER” cỡ lớn đựng dựng lên giữa hai lá cờ Vương quốc Anh mềm rũ. Khu trò chơi chưa mở cửa, vậy là hai cha con đi dọc lối đi bộ bên ngoài. “Ba muốn làm con gì hả ba?”

Mẹ tôi ngày trước hay gọi tôi là chim ó biển; trong nghề tôi từng bị gọi là kền kền, bọ hung, rắn rết; một cô gái tôi từng biết có gọi tôi là cún cưng, nhưng không phải theo kiểu xã giao thông thường. “Chuột chũi.”

“Tại sao?”

“Vì tụi nó rất giỏi đào hang trong mấy chỗ tối.”

“Tại sao ba muốn đào hang trong mấy chỗ tối?”

“Để khám phá mọi thứ. Nhưng chuột chũi còn giỏi một chuyện khác nữa.” Hai tay tôi đưa lên như giương vuốt. “Thọc lét.”

Nhưng Aoife nghiêng đầu qua một bên, y hệt như một Holly thu nhỏ. “Nếu ba mà thọc lét thì Aoife sẽ tè dầm rồi ba phải đi giặt quần cho Aoife.”

“Thôi vậy.” Tôi ra vẻ ăn năn. “Chuột chũi không thọc lét.”

“Nói vậy mới phải à.” Con bé nói năng già dặn, khiến tôi tự dưng sợ rằng tuổi thơ của Aoife tựa như một cuốn sách mà tôi chỉ đọc lướt qua, chứ không nghiền ngẫm tới nơi tới chốn.

Phía sau khu trò chơi, đám mòng biển đang chí chóe giành khoai tây chiên vương vãi từ một cái túi rách. Đám này to xác thật. Một dãy gian hàng trò chơi và cửa hiệu buôn bán chạy dọc theo đoạn giữa cầu cảng. Tự dưng tôi để ý thấy một người phụ nữ đang tiến lại gần, vì mọi thứ quanh đó dường như mờ đi. Nàng bằng tuổi tôi, hoặc gần vậy, khá cao, nhưng không cao đến mức kỳ dị. Tóc nàng vàng óng trong ánh nắng, mặc bộ đồ nhung màu xanh rêu và đeo kính xanh dương, mấy chục năm nữa có khi lại thành mốt. Tôi đeo kính râm vào. Nàng thu hút sự chú ý. Thu hút tuyệt đối. Nàng thực ngoài tầm với của tôi, hay của bất kỳ ai khác, tôi thấy mình thật gớm ghiếc, thật thiếu chung thủy với Holly, nhưng nhìn nàng xem, lạy Chúa, cứ nhìn nàng đi – duyên dáng, uyển chuyển, thông thái, ánh sáng như bị bẻ cong quanh nàng. “Edmund Brubeck,” cặp môi đỏ như rượu vang lên tiếng. “Sờ sờ trước mắt tôi đây, đúng là anh, phải không?”

Tôi đứng sựng lại. Làm sao có thể quên được nhan sắc như thế này. Nhưng thế quái nào mà nàng biết tôi, mà tại sao tôi lại không nhớ? Tôi tháo kính râm rồi đáp, “Chào cô!”, cố ra vẻ tự tin, nhân tiện câu giờ để cố nhớ lại. Không phải giọng Anh. Giọng Âu châu. Pháp chăng? Mềm mại hơn giọng Đức, nhưng không phải giọng Ý. Dân trong nghề của tôi không có cái vẻ ngoài nửa thánh nữ thế. Một diễn viên hay người mẫu nào tôi từng phỏng vấn, nhiều năm trước? Cô vợ huê hậu của ai đó mà tôi từng gặp ở tiệc? Bạn của Sharon đến Brighton dự tiệc cưới? Trời, thật là xấu hổ.

Nàng vẫn mỉm cười. “Tôi làm anh khó xử quá, nhỉ?”

Tôi đang đỏ mặt sao? “Xin cô thứ lỗi. Tôi… tôi…”

“Tôi là Immaculée Constantin, bạn của Holly.”

“Ồ,” tôi buột miệng, “Immaculée – vâng, đúng rồi!” Tôi ngờ ngợ, dường như tôi từng nghe cái tên ấy? Tôi bắt tay nàng, rồi lúng túng chạm má hôn xã giao. Da nàng mịn như cẩm thạch nhưng mát dịu, không có hơi nắng. “Xin cô thứ lỗi, tôi… tôi mới từ Iraq về hôm qua, đầu óc vẫn còn lơ mơ lắm.”

“Đâu có gì mà phải thứ lỗi,” Immaculée Constantin - người đẹp bí ẩn đáp. “Có quá nhiều người mà. Phải quên vài người cũ mới có chỗ nhớ người mới chứ. Tôi quen Holly lúc cô ấy còn nhỏ ở Gravesend, nhưng tôi dọn đi nơi khác khi cô ấy tám tuổi. Kỳ lạ là cả hai cứ thi thoảng lại tình cờ gặp nhau. Cứ như có duyên vậy. Còn quý cô này,” nàng quỳ một gối xuống để ngang tầm mắt con gái tôi, “hẳn là Aoife. Tôi nói đúng không?” Aoife tròn mắt, gật đầu. Dora nhà thám hiểm nhí tung tẩy, quay một vòng. “Con bao nhiêu tuổi rồi, Aoife Brubeck? Bảy? Tám?”

“Con sáu tuổi,” Aoife đáp. “Sinh nhật con ngày một tháng Mười Hai.”

“Trông con như người lớn vậy! Ngày một tháng Mười Hai? Chà chà.” Immaculée Constantin ngâm nga, giọng du dương bí hiểm: “‘Cái lạnh ùa về, hành trình vẫn bắt đầu giữa ngày khó ấy, một hành trình thật dài: đường đi hiểm trở, đất trời giá băng, ngày đông chết chóc’[43]”.

Khách du lịch lướt qua cả ba như những bóng ma, hay chính ba người mới là bóng ma.

Aoife lên tiếng, “Trên bầu trời không có một đám mây luôn.”

Immaculée Constantin nhìn con bé. “Con nói đúng rồi, Aoife Brubeck. Giờ kể cô nghe. Con giống má nhiều hơn, hay giống ba nhiều hơn?”

Aoife mím môi rồi ngước nhìn tôi.

Sóng vỗ bờ, vang vọng bên dưới, một bài hát của Dire Straits len lỏi vọng ra từ khu trò chơi. “Tunnel of Love”- tên bài hát: hồi nhỏ tôi mê bài này lắm. “Ừm, con thích màu tím nhất,” Aoife đáp, “má cũng thích màu tím. Nhưng ba lúc nào cũng đọc tạp chí mỗi khi ba về nhà, mà con cũng đọc nhiều nữa. Nhất là tạp chí Em yêu Động vật. Nếu biến thành con vật được, cô muốn thành con gì?”

“Một con phượng hoàng,” Immaculée Constantin lẩm bẩm. “Chính con phượng hoàng ấy. Thế còn mắt vô hình thì sao nhỉ, Aoife Brubeck? Con có mắt như thế không? Con để cô xem nhé?”

“Mắt má màu xanh,” Aoife đáp, “nhưng mắt ba màu nâu hạt dẻ còn mắt con cũng màu nâu hạt dẻ luôn.”

“Ô, không phải mắt đó,” nàng gỡ cặp kính râm màu xanh lạ kỳ ấy. “Ý cô là con mắt đặc biệt, vô hình của con đó, ở ngay… đây này.” Nàng đặt mấy ngón tay lên thái dương bên phải của Aoife rồi vuốt trán con bé bằng ngón cái, và trong sâu thẳm ruột gan tôi biết có điều gì đó rất quái lạ, không bình thường nhưng cảm giác đó lắng xuống khi Immaculée Constantin mỉm cười nhìn tôi bằng thứ nhan sắc khiến người ta muốn thót tim. Nàng ngắm một khoảng trên mắt tôi rồi quay lại nhìn Aoife, nhướng mày. “Không,” nàng nói, khẽ cong đôi môi như tranh vẽ ấy. “Đáng tiếc thật. Mắt vô hình của cậu con tuyệt vời, mắt vô hình của mẹ con cũng đẹp lắm, trước khi nó bị một gã thầy phép quỉ quái đóng lại.”

“Mắt vô hình là cái gì?” Aoife hỏi.

“Ồ, không có gì cả.” Nàng đứng dậy.

Tôi hỏi, “Vậy cô đến đây dự đám cưới Sharon phải không?”

Nàng mang kính râm vào. “Tôi xong việc ở đây rồi.”

“Nhưng… cô là bạn của Holly, phải không? Cô không ở lại…” Nhưng khi nhìn nàng, tôi quên mất mình định nói gì.

“Chúc anh vui.” Nàng bước về phía khu trò chơi.

Aoife và tôi dõi theo khi bóng nàng nhỏ lại về phía xa. Con gái tôi hỏi, “Cô đó là ai vậy ba?”

Rồi tôi hỏi con gái, “Cô đó là ai hả cưng?”

Aoife chớp mắt nhìn tôi. “Cô nào kia, ba?”

Cả hai nhìn nhau, rồi tôi quên bẵng đi điều gì đó.

Ví tiền, điện thoại; Aoife; đám cưới của Sharon; cầu cảng Brighton.

Đâu có. Tôi đâu có quên gì. Hai cha con bước tiếp.

Một cặp choai choai đang hôn nhau, như thể thế giới chung quanh không tồn tại. “Gớm chưa!” Aoife thốt lên, cô cậu nghe được, vội cúi xuống trước khi tiếp tục trò vờn lưỡi. Ừ, tôi thầm nhắn nhủ cậu bé, cứ tận hưởng hoa trái tươi ngon đi nhóc con vì hai mươi năm nữa chẳng gì có thể ngon như xưa. Cậu ta lơ tôi. Phía trước, Aoife chăm chăm nhìn một bức tranh vẽ sơn xịt trên cánh cửa sập bằng thép đã đóng: Một gương mặt giống kiểu thầy pháp Merlin, râu bạc mắt hoắm giữa một vòng hào quang những lá bài Tarot, pha lê và bụi sao. Aoife đọc tên trên đó: “D-wiggert?”

“Dwight.”

““Dwight… Silverwind. Nhà… nhà… tiên… tri”. Là sao hả ba?”

“Là thầy bói, một người tự nhận là mình biết trước tương lai.”

“Hay quá! Mình đi vô trong đó đi ba”

“Tại sao con muốn đi gặp thầy bói?”

“Để xem sau này con có mở được trung tâm cứu nạn động vật không.”

“Ủa, chứ ba tưởng con muốn thành nghệ sĩ múa như Angelina Ballerina?”

“Cái đó lâu lắc rồi mà, ba, lúc Aoife còn nhỏ xíu.”

“Ô. À, không được. Mình không đi gặp ông Silverwind này đâu.”

Một, hai, ba – cái cau mày đặc trưng của người nhà Sykes: “Tại sao không?”

“Thứ nhất, ông ấy đóng cửa rồi. Thứ hai, ba rất tiếc nhưng mấy ông thầy bói này thực ra không biết trước được tương lai. Họ chỉ giỏi bịa chuyện. Họ…”

Cửa sập rầm rập kéo lên bởi một phiên bản tầm thường hơn của thầy pháp Merlin sơn trên đó. Lão Merlin này trông như vừa được hà mã ị ra, ăn mặc như dân chơi prog-rock: áo sơ mi tim tím, quần jeans đỏ, áo gi-lê gắn đá quý - hẳn là đồ giả như người mặc nó.

Tuy vậy, Aoife vẫn ngẩn người ra. “Ông Silverwind?”

Lão ta nhướng mày, nhìn quanh rồi mới cúi xuống. “Chính ta đây. Còn tiểu thơ là ai?”

Lại dân Mẽo. Chứ gì nữa. “Aoife Brubeck” Aoife đáp.

“Aoife Brubeck. Tiểu thơ hôm nay dậy sớm vậy.”

“Hôm nay là đám cưới dì Sharon. Con làm phụ dâu đó.”

“Vậy chúc tiểu thơ một ngày thật tuyệt vời. Còn quý ngài đây hẳn là cha của tiểu thơ?”

“Đúng rồi,” Aoife nói. “Ba là phóng viên Ba-nát.”

“Ta nghĩ chắc ba cũng cố gắng ngoan mà, Aoife Brubeck.”

“Ý nó là Baghdad”, tôi nói với lão hề.

“Vậy hẳn ba con là người… rất dũng cảm.” Lão nhìn tôi. Tôi trừng mắt nhìn lại. Tôi không thích kiểu ăn nói của lão, không thích lão tý nào.

Aoife hỏi, “Vậy ông có biết trước được tương lai thật không, hả ông Silverwind?”

“Nếu không biết thì làm sao ta làm nhà tiên tri được.”

“Vậy ông tiên tri cho con đi? Đi mà?”

Đủ rồi. “Ông Silverwind đang bận, Aoife à.”

“Không, làm gì có. Ổng đâu có khách nào nữa đâu.”

“Khách của ta thường ủng hộ mười bảng cho mỗi lần tiên tri,” lão già dịch nói, “nhưng hôm nay rảnh rỗi, lại là cho các tiểu thơ đặc biệt thì ta chỉ cần năm bảng thôi. Hoặc…” Dwight Silverwind với tay lên kệ phía sau lưng, lấy ra hai cuốn sách “…ba của tiểu thơ có thể mua một trong hai cuốn sách của ta, Sợi dây vô định hoặc Ngày hôm nay chỉ xảy đến một lần với giá ưu đãi mười lăm bảng một cuốn, hoặc hai mươi bảng cả hai cuốn, ta sẽ khuyến mãi một màn đọc sách tại chỗ.”

Ba của tiểu thơ lúc này đang rất muốn đá cho ông Silverwind một cú tan tành hàng họ. “Tụi tôi đành từ chối sự hào phóng của ông,” tôi nói, “cảm ơn.”

“Ta vẫn còn mở cửa đến khi mặt trời lặn, nếu quý khách đổi ý.”

Tôi kéo tay con gái, để nó biết mà đi tiếp, nhưng con bé gào lên: “Không công bằng mà! Con muốn biết tương lai mà!”

Rõ hay. Nếu bây giờ tôi mang Aoife nước mắt ngắn dài trở về, Holly sẽ cho tôi biết tay. “Thôi mà, thợ làm tóc của dì Sharon đang đợi.”

“Chậc chậc.” Ông Silverwind lui vào quầy. “Ta đoán sắp có chuyện rồi.” Lão đóng cánh cửa có gắn bảng “Chánh Điện” ngay sau lưng.

“Không ai biết trước được tương lai cả, Aoife. Mấy người này…” Tôi cố tình nói vọng vào “Chánh Điện”

“…toàn bịp bợm, nói những thứ người ta muốn nghe.”

Aoife tối sầm mặt mày, đỏ phừng, vùng vẫy. “Không!”

Tôi cũng bắt đầu hết kiên nhẫn. “Không gì kia?”

“Không không không không không không không không không không!”

“Aoife! Không ai biết được tương lai. Chính vì vậy mới gọi là tương lai chứ.”

Con gái tôi mặt mày đỏ lựng, run rẩy, gào lên: “Kurde!”

Tôi vừa mở miệng định mắng con tội nói bậy - nhưng khoan, con gái tôi vừa gọi tôi là đồ dân Kurd sao? “Cái gì?”

“Aggie nói vậy mỗi lần cổ giận nhưng Aggie tốt hơn ba cả triệu lần, mà Aggie lúc nào cũng ở đó! Ba còn không chịu ở nhà!” Con bé dằn dỗi đi ngược trở lại cầu cảng một mình. Bình tĩnh nào, chỉ là một từ chửi thề hạng nhẹ bằng tiếng Ba Lan, cộng thêm trò ăn vạ như người lớn, có lẽ là học của Holly. Tôi đi theo. “Aoife! Quay lại!”

Aoife quay lại, giật dây quả bóng bay, dọa sẽ thả nó bay luôn.

“Thả đi.” Tôi biết cách trị Aoife. “Nhưng nhớ đó, con mà thả thì ba sẽ không bao giờ mua bóng bay cho con nữa.”

Aoife nhăn nhó mặt mày như tiểu yêu, rồi - tôi vừa ngạc nhiên vừa thấy tổn thương - thả quả bóng ra. Quả bóng bay lên, màu bạc trên nền trời xanh, Aoife khóc lóc càng lúc càng căng. “Con ghét ba - con ghét Dora nhà thám hiểm nhí - Con ước gì ba đi về đi - về lại Ba-nát đi - ở luôn đó đừng về đây nữa! Con ghét ba ghét ba ghét ba ghét ba lắm luôn!” Rồi cặp mắt con bé nhắm nghiền, buồng phổi sáu tuổi căng đầy.

Một nửa dân số Sussex nghe rõ tiếng khóc lóc inh tai, vùng vẫy đó.

Cho tôi ra khỏi đây. Đến bất kỳ nơi nào. Nơi nào cũng được.

Nasser thả tôi xuống gần Cổng Sát Thủ, nhưng không quá gần: chẳng thể biết được con mắt nào đang dõi theo những kẻ dám chở người nước ngoài trên xe, đám lính canh ở cổng lại hay mắc tật giật mình, tay bóp cò súng hay run, đúng khốn nạn. “Tôi sẽ gọi anh sau khi họp báo xong,” tôi dặn Nasser, “hoặc nếu rớt mạng thì cứ đón tôi ngay đây lúc mười một giờ rưỡi.”

“Ô kê, Ed,” trợ lý của tôi đáp. “Để tôi kiếm Aziz. Nhớ nói với Klimt là người Iraq thương ổng lắm. Thiệt luôn. Sẽ làm tượng ổng thiệt to, chĩa ấy về Washington.” Tôi đập lên nóc xe, Nasser lái đi. Rồi tôi đi bộ năm mươi mét đến cổng, qua những khối bê tông như chướng ngại trên đường đua, qua hố bom sau vụ nổ hồi tháng Giêng, vẫn còn lộ rõ: nửa tấn chất nổ dẻo, thêm một mớ vỏ đạn pháo, hai mươi người chết, sáu mươi người bị thương. Olive dùng năm tấm trong số hình Aziz chụp, báo Washing Post sau đó có trả phí in lại.

Dòng người xếp hàng trước Cổng Sát Thủ hôm Thứ Bảy tuần trước cũng không quá dài: chừng năm mươi nhân viên người Iraq, nhân viên giúp việc và cư dân của Vùng Xanh từ trước chiếm đóng đứng trước tôi, tất cả xếp thành hàng về một bên của cổng vòm sến súa, trên nóc cổng có một cái vú bằng sa thạch khổng lồ, núm vú dỏng lên. Một tay người Á Đông đứng ngay trước tôi, vậy là tôi gợi chuyện. Li, ba mươi tám tuổi, đang điều hành mấy nhà hàng Trung Hoa bên trong Vùng Xanh - người Iraq không được phép đến gần bếp ăn, đề phòng âm mưu đầu độc tập thể. Li mới đi gặp một tay buôn gạo về, nhưng khi biết tôi làm nghề gì, tiếng Anh của gã tự dưng kém hẳn; hi vọng của tôi về một bài báo tựa đề “Từ Cửu Long đến Baghdad” cũng bốc hơi theo. Vậy là tôi tập trung nghĩ đến công tác hậu cần trong ngày hôm đó, cho đến lượt mình bị đẩy vào đường hầm bằng vải bố bụi bặm và kẽm gai. An ninh “Vùng Bom Nổ” đã được quốc tế hóa, toán lính cựu Gurkha niềm nở thường hay trực ở Chốt số Một nay đã được thay bằng lính cựu Peru, tuyển qua trung gian, rẻ hơn, sẵn sàng liều mạng để đổi lấy bốn trăm đô một tháng. Tôi trình thẻ nhà báo và hộ chiếu Anh, được soát người, rồi trình tiếp hai máy ghi âm cho một tay đại úy khám. Tay này bị bệnh da liễu, khám xong còn khuyến mãi thêm vẩy da chết lên đó.

Lặp lại như thế ba lần ở ba chốt nữa, từ chốt số Hai đến số Bốn, là vào đến Thành Phố Ngọc Lục Bảo, tức Vùng Xanh, một pháo đài mười cây số vuông được gìn giữ bởi quân đội Mỹ và đám lính đánh thuê, vừa để tự bịt mắt trước cái thực tế của một Iraq sau chiếm đóng, vừa duy trì ảo tưởng về một thành phố Tampa, Florida ở Trung Đông. Trừ những loạt đạn súng cối thi thoảng nổ ra, ảo tưởng ấy cũng được giữ gìn, mặc dù với cái giá cắt cổ tính bằng tiền thuế của dân Mỹ. Những chiếc GM Suburban màu đen chạy đều đều tốc độ 35 dặm một giờ - giới hạn tốc độ trên đường tốt; điện và xăng có sẵn 24/24; bia Bud ướp lạnh được phục vụ bởi nhân viên pha chế đến từ Mumbai, đã đổi tên thành Sam, Scooter và Moe để chiều khách hàng; siêu thị của người Philippines bán nước ngọt Mountain Dew, kẹo Skittles và bỏng ngô phủ phô mai Cheetos.

Xe buýt sạch bóng luân chuyển khách quanh Vùng đang chờ sẵn ở Cổng Sát Thủ. Tôi nhảy lên xe, tận hưởng không khí từ máy điều hòa nhiệt độ, xe chuyển bánh đúng y giờ trên lịch, không sai một giây. Xe chạy êm ru qua phố Haifa, qua những khu đất đai nhà cửa ngon lành nhất ở xứ này, đến tháp Ziggurat tưởng niệm thế trận bế tắc đẫm máu trong chiến tranh Iraq –Iran, một trong những đài tưởng niệm xấu xí nhất Trái Đất, rồi qua vài chiếc xe moóc Halliburton màu trắng cỡ lớn. Hầu hết nhân viên Chính Quyền Liên Minh Lâm Thời (CPA) sống trong những bãi xe moóc như thế, ăn trong nhà ăn, ị trong nhà vệ sinh cơ động, không bao giờ cất bước ra khỏi Vùng Xanh, cứ ở đấy mà đếm ngược cho đến ngày hồi hương với đủ tiền đặt cọc nhà đàng hoàng ở một khu dân cư tử tế.

Khi tôi xuống xe ở Điện Cộng Hòa, chừng hai chục người chạy bộ đổ ra vỉa hè, ai nấy đeo kính râm khủng, cột bao súng và mặc áo thun lấm tấm mồ hôi. Vài chiếc áo thun ghi những câu tếu táo “Who’s your Baghdaddy Now?”, số còn lại thì tuyên bố “Bush-Cheney 2004”. Để tránh va chạm tôi phải nhảy qua một bên nhường đường. Rõ là đám này không có ý định chủ động nhường trước.

Tôi đứng qua một bên nhường lối cho một nhóm các cô ăn mặc điệu đàng đang chạy xuống lối đi giữa nhà thờ All Saints’ ở Hove, thành phố anh em hiền lành hơn của Brighton. “Nửa đám chủ hàng hoa ở Brighton sẽ tha hồ mà đi nghỉ ở Seychelles, chỉ nhờ vụ này,” Brendan nhận xét. “Hoa cưới mà cứ như Vườn Bách Thảo Kew ấy nhỉ?”

“Hẳn là tốn nhiều công sức lắm,” tôi nhìn lớp lớp hoa loa kèn, hoa lan và những cành hoa hai màu tím hồng.

“Tốn đạn nữa chứ, Ed thân mến. Anh có hỏi ông già vụ này hao bao nhiêu, nhưng ông già nói là …” ông anh vợ hất đầu về phía đám ghế bên kia, phần chỗ ngồi của nhà Webber, rồi thì thào “…người ta lo hết rồi.” Brendan kiểm tra điện thoại. “Không sao, vụ này chờ được. À nói chuyện đạn điếc, anh muốn hỏi chú một việc trước khi chú bay về lại chiến địa, chú có ý sao với em gái lớn của anh?”

Tôi có nghe nhầm không đó? “Gì kia?”

Brendan nhe răng cười. “Đừng lo, giờ hơi bị trễ để nói chuyện cưới xin nọ kia. Ý anh là chuyện nhà cửa. Chỗ của nó ở dưới Stoke Newington đúng là ấm cúng thật, ấm cúng như cái tủ dưới cầu thang. Nhưng hẳn chú tính mua chỗ nào ngon hơn, chứ?”

Ngay lúc này đây Holly đang tính đá tôi ra khỏi nhà thì có. “Vâng, rồi cũng sẽ mua.”

“Vậy thì tới gặp tôi trước. Thị trường địa ốc ở London bây giờ loạn lắm, cho chú hai chữ thôi: ‘trượt’ và ‘giá’”.

“Sẽ đến gặp anh, Brendan à,” tôi đáp. “Cảm ơn anh nhiều.”

“Tôi lệnh cho chú đó, không phải giúp đỡ gì đâu.” Brendan nháy mắt, thật khó ưa. Hai người chầm chậm đi tới bàn nơi Pauline Webber, mẹ của Pete-chú-rể, tóc vàng kiểu Margaret Thatcher đang phát hoa cẩm chướng cài áo cho cánh đàn ông. “Brendan! Trông tươi tỉnh thế, nghe bảo đêm qua ‘vui lắm’ kia mà?”

“Không có gì không thể chữa bằng một vại espresso và một bình máu truyền.” Brendan đáp. “Pete vẫn ngon lành chứ?”

Pauline Webber mỉm cười bằng cái chun mũi. “Tôi nghe nói là có đi tăng hai ở ‘câu lạc bộ’ gì đó.”

“Tôi cũng nghe đồn thế. Đám bà con xứ Cork bên nhà tôi có giới thiệu Pete với món whisky Ireland quốc hồn quốc túy. Bà đúng là đang đội một tác phẩm nghệ thuật, bà Webber à.”

Tôi thì thấy mũ của Pauline Webber trông như một con quạ vừa đâm sầm xuống, xịt máu xanh tung tóe, nhưng bà ta chấp nhận lời khen. “Tôi rất mê tín một anh nghệ nhân làm mũ ở Bath. Anh chàng từng đoạt giải nọ kia. Với cả anh cứ gọi tôi là Pauline, Brendan nhé - cứ ‘bà Webber’ nghe như nhân viên sở thuế chuẩn bị báo tin xấu. Giờ gắn hoa nào, nhà gái hoa trắng, nhà trai hoa đỏ.”

“Rất là Chiến Tranh Hoa Hồng nhỉ,” tôi góp chuyện.

“Không phải,” bà ta nhướng mày, “cẩm chướng mà. Hoa hồng gai lắm. Còn anh đây là?”

“Đây là Ed,” Ruth đáp. “Ed Brubeck. Chồng của Holly.”

“Ôi, là anh nhà báo gan dạ! Vô cùng hân hạnh. Tôi là Pauline Webber.” Bà ta bắt tay tôi, tay đeo găng, siết chặt như muốn bóp vụn tay người ta. “Tôi nghe rất nhiều chuyện về anh qua Sharon và Peter. Để tôi giới thiệu anh với Austin, ông ấy…” Nói rồi bà ta quay sang ông chồng vắng mặt. “À, Austin cũng rất mong được gặp anh. Tụi tôi rất mừng là anh về kịp. Nghe bảo máy bay bị hoãn liên tục, nhiêu khê lắm nhỉ?”

“Vâng, Iraq không phải là chỗ dễ đi khỏi.”

“Còn phải nói. Sharon có nói anh từng ở cái chỗ đấy, Fa-Faloofah? Falaffel? Chỗ người ta treo xác người lên cầu ấy.”

“Fallujah.”

“Tôi nhớ là bắt đầu bằng ‘Fa’ mà. Kinh thật. Mà tại sao chúng ta cứ can thiệp vào những nơi đấy nhỉ?” Bà ta làm vẻ mặt như thể vừa ngửi thấy thịt muối bị thiu. “Người trần mắt thịt như bọn tôi không cách gì hiểu nổi. À.” Bà ta đưa tôi một bông cẩm chướng trắng. “Tôi đã gặp Holly và con gái anh rồi, ngay hôm qua - Aoife phải không? Trời, đáng yêu không chịu được! Dễ thương quá chừng.”

Tôi nghĩ đến tên tiểu yêu mặt mày dằn dỗi trên cầu cảng. “Cũng có lúc dễ thương thật.”

“Pippa! Felix! Trong xe có em bé đấy trời ạ!” Bà Webber chạy vụt đi, cả hội đi dọc theo lối giữa nhà thờ. Brendan phải liên tục chào hỏi, bắt tay, hôn má - khá đông họ hàng người Ireland của Holly đến dự cưới, kể cả bà trẻ Eilísh trứ danh, người từng đạp xe đạp từ Cork đến Kathmandu hồi đầu những năm 1960. Tôi dạt lên phía trước. Ngay trước cửa phòng áo lễ, tôi thấy Holly mặc đầm trắng, đang bật cười trước câu đùa của một gã trai trẻ cài hoa cẩm chướng đỏ. Ngày xưa tôi cũng từng có thể khiến nàng cười như thế. Gã trai đang ngắm nàng, tự nhiên tôi muốn bẻ cổ hắn quá, nhưng tôi nào trách hắn được? Trông nàng thật nổi bật. Tôi dạo bước đến gần. Áo sơ mi mới cứ cà lên cổ khó chịu, bộ complet cũ bó lấy ở khúc giữa tạm thời hơi bị phì, để rồi tôi sẽ giải quyết bằng một chế độ ăn kiêng và tập luyện nghiêm túc. “Chào,” tôi lên tiếng. Holly làm như không thấy tôi.

“Chào anh,” gã trai đáp. “Tôi là Duncan. Duncan Priest. Vậy anh bên nhà Sharon, theo như hoa dì tôi gắn.”

Tôi bắt tay gã. “Vậy anh là, ừm… cháu của Pauline sao?”

“Đúng rồi. Em họ của Peter. Anh gặp Holly đây chưa?”

“Tụi tôi hay chạm mặt nhau mỗi khi đi đám cưới đám tang,” Holly nói, mặt tỉnh bơ. “Toàn những dịp sum họp gia đình vừa chán, vừa mất thì giờ với những người có sự nghiệp thăng tiến vù vù.”

“Tôi là cha của Aoife,” tôi nói với Duncan Priest, mặt mày gã ngớ cả ra.

“Anh là Ed sao? Ed Brubeck? Anh là…” gã chỉ qua Holly, “nửa kia của Holly? Tối hôm qua không có anh ở tiệc độc thân của Pete, tiếc quá.”

“Tôi quen rồi, đành chịu vậy chứ biết sao.”

Duncan Priest nhận ra tôi đang cáu, làm mặt thôi được rồi. “Vậy, tôi đi xem… đồ đạc đây.”

“Anh phải thứ lỗi cho Ed, Duncan à,” Holly nói. “Cuộc sống của ảnh đầy phiêu lưu, có mục đích rõ ràng nên ảnh có quyền thô lỗ với đám người thường như tụi mình, cái thứ dân làm công ăn lương chỉ biết cắm mặt ở văn phòng. Đúng ra tụi mình phải thấy biết ơn ảnh đã để mắt tới.”

Duncan Priest mỉm cười với nàng, như hai người lớn trước mặt một đứa trẻ hư. “Vậy rất vui được biết cô, Holly à. Chúc cô vui, chắc sẽ gặp lại ở tiệc chiêu đãi.” Rồi hắn bước đi. Đồ cà chớn.

Tôi không thèm nghe kẻ phản bội cùng nhà tố tôi là đồ cà chớn. “Dễ thương quá hả,” tôi nói với Holly. “Chung thủy nữa.”

“Tôi không nghe anh nói gì nữa, Brubeck” nàng ủ rũ đáp. “Anh không có ở đây. Anh đang ở Baghdad.”

Kẹp giữa lá cờ Sao - Sọc của Mỹ và lá cờ mới hay bị rủa xả của Iraq, Tướng Mike Klimt nắm chặt lấy bục diễn giả, chuẩn bị phát biểu trước phòng họp báo đông đúc, đầy dây nhợ như hồi Đặc phái viên Paul Bremer III tuyên bố đã bắt giữ được Saddam Hussein trước đám đông reo hò, hồi tháng Mười Hai năm ngoái. Tụi tôi đã hi vọng là Đặc phái viên Bremer cũng sẽ có mặt hôm nay, nhưng người nắm quyền trên thực tế ở Iraq dường như đã tạo ra một khoảng cách khá xa với cánh báo chí, cái bọn càng lúc càng ưa phê phán và bớt kiềm chế như thời “hậu 9/11”. Klimt nhìn giấy: “Tội ác mà chúng ta đã thấy ở Fallujah ngày 31 tháng Ba đi ngược lại mọi thông lệ văn minh ở cả thời bình lẫn thời chiến. Lực lượng của ta sẽ không dừng bước cho đến khi kẻ thủ ác được đưa ra công lý. Kẻ thù của ta sẽ phải hiểu rằng ý chí chiến đấu của Liên minh càng mạnh thêm, chứ không hề yếu đi sau hành động đồi bại của chúng. Và tại sao ư? Tại vì qua đó ta thấy kẻ thủ ác đã đến đường cùng. Giờ đây chúng biết rằng Iraq thực sự đã có bước ngoặt. Rằng tương lai không còn thuộc về những khẩu súng máy nữa, mà thuộc về thùng phiếu. Và đây chính là lý do tại sao Tổng thống Bush đã cam kết tiếp tục ủng hộ Đặc phái viên Bremer và các tư lệnh của chúng ta trong Chiến dịch Quyết tâm Cảnh giác. Chiến dịch sẽ chặn bước những kẻ cùng đường của lịch sử, ngăn chúng khủng bố đại đa số nhân dân Iraq yêu chuộng hòa bình, và đưa quốc gia này đến gần hơn với cái ngày mà các bà mẹ Iraq có thể yên tâm cho con cái ra đường chơi như các bà mẹ Mỹ. Xin cảm ơn.”

“Rõ là,” Big Mac lẩm bẩm vào tai tôi, “Tướng Klimt chưa bao giờ làm mẹ ở Detroit.”

Người ta bắt đầu la lối khi Klimt đồng ý trả lời vài câu hỏi. Larry Dole, từ hãng thông tấn AP to mồm nhất, át hết cả, dành được sự chú ý: “Tướng Klimt, ông có thể xác nhận hay phủ nhận những con số từ bệnh viện Fallujah không, theo đó trong tuần rồi có sáu trăm thường dân đã bị giết và hơn một ngàn bị trọng thương?”

Câu hỏi khiến cả phòng lao xao: quân Mỹ không hề, và có lẽ là không thể, nắm số liệu về dân Iraq bị giết giữa các cuộc giao tranh, vì thế ngay chuyện đặt câu hỏi như vậy đã là một hành động phê phán. “Chính quyền Liên minh Lâm thời,” Klimt khom đầu như bò tót về phía Dole, “không phải là văn phòng thống kê. Chúng tôi còn phải theo đuổi công cuộc chống nổi loạn. Nhưng tôi nói thế này: thương vong vô tội ở Fallujah đều do bọn nổi loạn gây ra. Máu nhuộm tay chúng. Không phải tay chúng tôi. Khi chúng tôi có lỗi thì sẽ có đền bù thỏa đáng.”

Tôi từng viết một bài về chế độ đền bù đó cho tạp chí Spyglass: tiền máu đã giảm từ $2.500 xuống còn $500 cho mỗi mạng người - ít hơn một lần đi rút tiền của nhiều người ở phương Tây - và hồ sơ pháp lý toàn tiếng Anh đối với phần lớn người Iraq thì không khác gì ngôn ngữ của người sao Hỏa.

“Tướng Klimt”, một phóng viên người Đức hỏi, “ông có đủ quân để duy trì chiếm đóng không, hay ông sẽ yêu cầu Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld cung cấp thêm các tiểu đoàn để đối phó với những cuộc nổi loạn lan rộng ở Iraq như chúng ta đang thấy?”

Ông tướng đưa tay đập ruồi. “Đầu tiên, tôi không ưa hai chữ ‘chiếm đóng’: ở đây ta đang tham gia ‘tái kiến thiết.’ Thứ hai, những ‘cuộc nổi loạn lan rộng’ này - anh đã tận mắt chứng kiến chưa? Anh đã tự đi đến những nơi đó chưa?”

“Xa lộ quá nguy hiểm, thưa Tướng Klimt,” tay người Đức đáp. “Vậy lần cuối cùng ông đi thị sát các tỉnh thành bằng xe hơi là khi nào?”

“Nếu tôi là nhà báo,” Klimt nhếch mép, một nửa nụ cười. “Tôi sẽ rất thận trọng phân biệt giữa những chuyện nghe hơi nồi chõ và thực tế. An ninh đang trở lại với Iraq. Câu hỏi cuối cùng, trước khi…”

“Tôi muốn hỏi, thưa Tướng Klimt,” Don Gross - phóng viên kỳ cựu của Washing Post chộp lấy cơ hội, “liệu bây giờ Chính phủ Liên minh Lâm thời đã chịu thừa nhận rằng vũ khí hủy diệt hàng loạt của Saddam Hussein là không có thực?”

“À, lại chuyện xưa như trái đất.” Klimt gõ ngón tay lên cạnh bục. “Anh nghe đây, Saddam Hussein đã tàn sát hàng chục ngàn đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Nếu chúng ta vẫn chưa lật đổ tên Hitler Ả rập này, hắn đã có thể tiếp tục tàn sát hàng chục ngàn người nữa. Với tôi, chính những kẻ ôn hòa chủ trương không đụng đến tay kiến trúc sư của nạn diệt chủng ấy mới có trách nhiệm giải trình. Chương trình gầy dựng vũ khí hủy diệt hàng loạt của hắn đã đến giai đoạn nào rồi? Chúng ta có thể sẽ không bao giờ biết. Nhưng đối với người dân thường Iraq yêu chuộng hòa bình, mong muốn một tương lai tốt đẹp hơn cho gia đình mình, thì điều đó không can hệ. Được rồi, hôm nay nghỉ ở đây…” Nhiều câu hỏi tiếp tục bật ra, nhưng Chuẩn tướng Mike Klimt đã rời khỏi chỗ trong một cơn bão tuyết đèn flash.

“Và bài học rút ra là,” tôi ngửi thấy mùi bánh khoai tây chiên và whisky trong hơi thở của Big Mac, “nếu muốn có tin tức thực sự, thì đừng bao giờ vào Vùng Xanh.”

Tôi tắt máy ghi âm, đóng sổ tay lại. “Chừng đó đủ rồi.”

Big Mac khịt mũi. “Cho bài ‘Tin chính thống vớ vẩn và Thực tế hiện trường’ sao? Ông vẫn tính chuyện lái xe ra hướng tây à?”

“Nasser đã chuẩn bị sẵn giỏ picnic, bia gừng nọ kia đầy đủ cả.”

“Dễ ông đi picnic lần này còn được xem pháo hoa nữa.”

“Nasser biết vài đường lánh. Với cả tôi làm gì được nữa? Nhai lại mấy món sạch sẽ từ Klimt -người lính chân chính, và hi vọng người ta sẽ lầm tưởng đó là báo chí? Tìm cách đưa Spyglass trở lại danh sách được phê duyệt để tôi còn chạy con Humvee sáu tiếng đồng hồ và gởi cho Olive một bài nữa từ góc nhìn của lính thủy đánh bộ? ‘Địch bắn!’ tay pháo thủ hét lên, lựu đạn RPG dội lên vỏ xe tăng, cảnh tượng bỗng chốc kinh hoàng dữ dội.”

“Ê, câu đó của tôi mà. À mà chiều nay tôi sẽ đi cùng với các chiến binh dũng cảm của chúng ta. Nếu anh cao mét chín ba, nặng tám mốt ký và mắt xanh như Chúa Jesus thì cách duy nhất đi vào Fallujah là ngồi Humvee.”

“Đứa nào về khách sạn trước phải mua bia.”

Big Mac đặt bàn tay to bằng cái xẻng lên vai tôi. “Coi chừng đó Brubeck. Nhiều tay ngầu hơn ông đã bị nướng chín ngoài kia.”

“Ông đang đùa khiếm nhã vụ lính đánh thuê Blackwater sao?” Big Mac nhìn ra xa, nhai kẹo cao su. “Kiểu vậy.”

• • •

“Trước khi Sharon và Peter chính thức kết hôn, tôi muốn tất cả chúng ta ở đây cùng dành một phút nghĩ về tương lai sắp đến của hai người…” Linh mục Audrey Withers có kiểu cười tinh nghịch. “Chính xác thì hôn nhân là gì, ta giải thích khái niệm ấy với một nhà nhân chủng học ngoài hành tinh như thế nào? Hôn nhân đâu đơn giản chỉ một sự dàn xếp đời sống. Phải chăng nó là một nỗ lực, một lời hứa, một biểu tượng hay một sự khẳng định? Phải chăng nó là chuyện chia sẻ năm tháng, chia sẻ trải nghiệm? Là một cách hợp thức hóa chuyện chăn gối? Hay câu đùa cũ rích ấy đã nói chính xác? ‘Nếu tình yêu là một giấc mơ kỳ diệu thì hôn nhân chính là đồng hồ báo thức.’” Tiếng cười (đa số của đàn ông) bên dưới ngay lập tức bị “suỵt”. “Có lẽ khó định nghĩa được hôn nhân vì hôn nhân có quá nhiều kiểu cách, nhiều quy mô. Hôn nhân khác biệt giữa những nền văn hóa, giữa các bộ tộc, qua những thế kỉ khác nhau, thậm chí là thập kỉ, qua các thế hệ và - nhà nghiên cứu ngoài hành tinh có thể thêm vào - mỗi hành tinh một khác. Hôn nhân có thể của vua chúa, của dân thường, có thể được tiến hành trong bí mật, rồi ‘bác sĩ bảo cưới’, có thể được dàn xếp, hoặc như trường hợp của Sharon và Peter…” bà linh mục mỉm cười nhìn cô dâu mặc váy cưới và chú rể đóng bộ bảnh tỏng “…xuất phát từ tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau. Cuộc hôn nhân nào cũng có thể - và chắc chắn sẽ - trải qua những lúc thăng trầm. Thậm chí chỉ trong một ngày, buổi sáng có thể đầy bão táp nhưng đến chiều tối lại thanh bình, trong xanh…”

Aoife mặc áo đầm phụ dâu màu hồng điệu đà đang ngồi cạnh Holly gần bể rửa tội. Con bé đang bưng một cái khay bọc nhung có nhẫn của cô dâu chú rể. Trông hai mẹ con kìa. Hai tháng sau kỳ nghỉ ở Northumbria, tôi gọi điện cho Holly từ buồng điện thoại ở sân bay Charles de Gaulle, bằng tiền francs hẳn hoi. Lần đó tôi đang trên đường về từ Congo, sau khi viết một bài dài về binh lính trẻ em và nô lệ tình dục trong Lực lượng Quân Kháng Chiến của Chúa Trời. Holly cầm máy, tôi nói, “Hê, anh đây,” rồi Holly đáp, “Vậy sao, chào ba.”

Tôi nói, “Không phải ba em, là anh mà, Ed đây.”

Holly đáp: “Biết rồi, đồ dở hơi. Dính rồi.”

Tôi nghĩ, mình chưa sẵn sàng vụ này, rồi nói, “Vậy thì tuyệt vời.”

“Về hôn nhân,” linh mục Audrey Withers tiếp tục, “Jesus chỉ có một câu bình trực tiếp: ‘Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân rẽ.’ Các nhà thần học từng tranh cãi ý nghĩa câu này qua bao nhiêu năm, nhưng tôi nghĩ bên cạnh lời nói, ta cũng nên nên xem hành động của Jesus ra sao. Nhiều người trong chúng ta biết câu chuyện tiệc cưới ở Cana, giai thoại được nhắc đến trong hầu hết những bài giảng ở các đám cưới Thiên chúa giáo, kể cả đám cưới này. Tiệc ở Cana vừa cạn rượu, vậy là Mary nhờ Jesus ra tay. Đến cả con của Chúa Trời cũng không dám từ chối một bà mẹ kiên quyết, vậy là Ngài nói với gia nhân hãy đổ nước lã vào các chum rượu. Khi gia nhân nghiêng chum rót, rượu chảy ra - mà không phải loại xoàng xĩnh đâu nhé. Rượu quý hẳn hoi. Người quản tiệc liền nói với chú rể, ‘Ai ai cũng thết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ’ Con của Chúa Trời mới thật nhân bản làm sao, Người đã chọn màn ra mắt không phải bằng cách làm phép, hay khiến người chết sống lại, chữa bệnh phong hay đi trên mặt nước; Người ra mắt với tư cách một người con hiếu đễ và một người bạn trung thành.” Linh mục Audrey mơ màng nhìn xuống, như thể đang xem một cuốn phim tiệc cưới Cana cây nhà lá vườn. “Tôi tin rằng nếu Chúa có quan tâm đến quy mô, hình dạng, thể thức hôn nhân của con người, thì hẳn Người đã cho ta những hướng dẫn vô cùng cụ thể qua sách Phúc âm. Vì thế, tôi tin Chúa hẳn đã tin cậy nơi chúng ta, Người tin rằng chúng ta hiểu hôn nhân không chỉ màu hồng.”

Brendan ở ngay cạnh tôi. Điện thoại đã tắt chuông đang rung lên. Ông anh bỏ tay vào túi áo nhưng bị Kath lườm một cái từ hàng ghế trước, liền rụt ngay lại.

“Sharon và Peter,” linh mục tiếp tục, “đã tự viết lời thề đám cưới. Tôi rất hâm mộ những lời thề tự biên. Muốn viết được cả hai người phải ngồi lại, nói và lắng nghe những điều được nói ra và cả những điều không nói ra, cũng thường là nơi sự thật ẩn náu. Cả hai phải thỏa hiệp - một từ linh thiêng, nhưng cũng là một nghệ thuật thực tế. Linh mục không phải là thầy bói,” tôi thấy Aoife vểnh tai nghe ngóng ngay lập tức, “nên tôi chẳng thể nói với Sharon và Peter điều gì sẽ đợi họ trong những năm đến, nhưng mọi cuộc hôn nhân đều có thể, đều nên và đều bắt buộc phải tiến triển. Đừng sợ hãi, đừng ghét bỏ điều đó. Hãy kiên nhẫn và rộng lượng, đừng nao núng. Về lâu dài, những bình nước chườm ấm giữa đêm đông sẽ quý giá hơn những món quà xa xỉ. Hãy tỏ lòng biết ơn, đặc biệt là với những cử chỉ nhỏ nhặt, dễ bị xem thường. Hãy cùng nhận diện vấn đề khi mới nảy sinh, và nhớ rằng cơn giận dữ rất dễ bén lửa. Khi anh làm điều gì ngớ ngẩn, Peter,” chú rể mỉm cười, nhìn xuống chân, “thì nhớ rằng một lời xin lỗi chân thành không bao giờ hạ thấp kẻ xin lỗi. Có lỗi lầm mới biết đúng sai.”

Tôi tự hỏi liệu tôi và Holly sẽ được bao nhiêu điểm đây, nếu xét theo thang điểm hôn nhân của linh mục Audrey Withers? C+? D-?

“Tới chỗ nào thì chú Peter mới hôn cô ấy?” một đứa bé lên tiếng.

Cả đám cưới cười vang. “Ý hay đó.” Linh mục Audrey Withers dường như rất yêu thích công việc của mình. “Tại sao không tua luôn tới chỗ hấp dẫn hả?”

Nasser lái con xe nửa-Corolla-nửa-Fiat 5. Aziz ngồi ghế trước, camera đặt dưới chân, có mền phủ lên còn tôi ngồi ghế sau, trước mặt là một đống đồ giặt ủi, trong tư thế sẵn sàng nằm thụp xuống chỗ để chân và ẩn dưới đống ga trải giường và những thùng sữa công thức. Vùng ngoại ô phía tây Baghdad toàn nhà cửa thấp, trải dài dọc theo xa lộ bốn làn đường đến Fallujah. Sau một hai dặm, các khu chung cư nhường chỗ cho những con phố trung lưu có từ những năm 70, thời còn ăn nên làm ra: sơn trắng, nhà mái bằng, bao quanh là tường cao và cổng thép. Rồi xe qua tiếp vài dặm toàn những tòa nhà bê tông hai tầng, dưới là hàng quán, nhà xưởng còn bên trên là những khu nhà ở chật chội. Nhà cửa lặp đi lặp lại như phim hoạt hình rẻ tiền. Chúng tôi chạy qua vài trạm xăng, chỗ nào cũng có hàng trăm xe xếp hàng đợi. Cánh tài xế sẽ phải đợi nguyên ngày. Mới tháng Tư nhưng mặt trời ở đây như tràn khắp bầu trời nóng gắt, chứ không chỉ là chiếc đĩa màu sáng như ở các xứ phương bắc. Đàn ông thất nghiệp đủ độ tuổi mặc áo dishdasha đứng quanh, vừa hút thuốc vừa trò chuyện. Từng nhóm nhỏ phụ nữ choàng khăn hijab hoặc mặc nguyên bộ burkha trùm kín đi lại, xách túi ni lông đựng rau củ: tự dưng tôi thấy Iraq càng lúc càng giống như Iran. Trẻ con trạc tuổi Aoife chơi đánh trận, chia phe Quân nổi loạn và Lính Mỹ. Nasser cho băng cassette vào máy, nhạc Ả rập vang ra từ chiếc loa tí xíu. Giọng nữ cao đến buốt tai, bài này chắc cũng thuộc hàng kinh điển, vì cả Nasser và Aziz đều hát theo. Đến đoạn nhạc dạo, tôi hỏi Nasser - gần như hét để át tiếng xe chạy rầm rập inh tai và tiếng nhạc - bài hát nói về cái gì vậy. “Một cô gái,” trợ lý của tôi hét trả lời. “Người cổ yêu đi chiến đấu ở Iran nhưng không bao giờ trở lại. Cô này đẹp lắm, nên mấy người khác nói, ‘Ê cưng, anh có tiền, anh có nhà, anh có wasta, cưới anh không?’ Nhưng cô gái nói, ‘Không, tôi đợi anh lính của mình, đợi một ngàn năm.’ Vậy đó, bài này rất là… Nói sao hả? - giống kiểu món gì đổ quá nhiều đường á? Tui quên từ đó rồi - ướt… mướt hả?”

“Sướt mướt.”

“Rấấất là sướt mướt, vợ tui nói, cô gái trong bài hát chắc là điên! Nếu không lấy chồng thì sao? Lính chết rồi đâu có gởi tiền được! Chết đói sao! Chỉ có đàn ông mới viết bài hát ngu vậy, vợ tui nói đó. Nhưng tui nói, “À…” Nasser phẩy tay, ra ý bất đồng. “Bài hát này làm tui cảm động.” Gã vỗ tay lên ngực. “Tình yêu mạnh hơn cái chết”, rồi quay mặt lại. “Anh biết không hả?”

Ivano del Pio của báo Sydney Morning Herald trước khi rời Baghdad đã giới thiệu Nasser làm trợ lý cho tôi. Nasser là một trong những trợ lý giỏi nhất tôi từng thuê được. Trước chiếm đóng, gã từng làm việc trong ngành phát thanh truyền hình, từng lên trưởng phòng, cũng có nghĩa là phải vào Đảng Ba’ath. Thời đó gã có nhà cửa tử tế, đủ nuôi vợ và ba con, ngay cả ở cái xứ nghèo đói dưới đủ loại cấm vận của Mỹ và Liên Hiệp Quốc. Sau chiếm đóng Nasser chật vật kiếm sống bằng cách làm việc cho báo giới ngoại quốc. Dưới chế độ Saddam, đám trợ lý chính thức thường rất cà chớn, ăn lương chỉ để nhai lại lời của Saddam và mách lẻo với cánh tình báo Ả rập Mukhabarat nếu có người dân thường nào dám dại dột nói ra sự thật về cuộc sống dưới chế độ độc tài. Nasser khác hẳn, gã có con mắt và cái mũi của dân báo chí, một số bài hay nhất của tôi trên Spyglass tôi bắt gã phải đứng tên đồng tác giả và chia nhuận bút. Gã không bao giờ dùng tên thật, phòng khi địch muốn tố gã tội câu kết với một trong những nhóm nổi loạn. Thợ ảnh Aziz là cựu đồng nghiệp của Nasser, nhưng tiếng Anh của Aziz cũng hạn chế như tiếng Ả rập của tôi nên tôi không biết nhiều về anh chàng. Tuy vậy Aziz rất lành nghề, cẩn trọng, khéo léo và dũng cảm khi theo đuổi một khung hình. Nhiếp ảnh là một sở thích nguy hiểm ở Iraq: cứ cầm máy ảnh thì bị cảnh sát giả định đang do thám chuẩn bị cho một vụ đánh bom cảm tử.

Xe qua những bức tường đổ nát và hàng quán tan hoang.

“Anh làm vỡ món gì” Colin Powell từng cảnh báo Bush, câu chuyện còn được gọi là Giai thoại ở hiệu đồ sứ Pottery Barn, “anh phải mua luôn món đó…”

Những gia đình lê lết lục lọi giữa đống rác khổng lồ hỗn độn.

“Vậy nên anh sẽ là người chủ tự hào của hai lăm triệu con người…” Những hàng cột đèn đường lướt qua, phần lớn xiêu vẹo, vài cái gãy đổ. “Tất cả những hi vọng, ước mơ, khó khăn của họ. Giờ là của anh cả.”

Xe qua tiếp một thanh chắn đường đã oằn xuống ngay trước hố bom nhỏ: hiện trường một vụ nổ mìn tự chế. Rồi đến một chốt kiểm soát của cảnh sát Iraq, mất hết bốn mươi phút. Cảnh sát thường không gây phiền hà gì với nhà báo nước ngoài nhưng cả bọn đều thấy nhẹ nhõm khi họ còn không để ý tôi là người nước ngoài. Xe của Nasser vô cùng nát, thậm chí là tính theo tiêu chuẩn Iraq nhưng chính sự rệu rã đó lại trở thành lớp ngụy trang hiệu quả. Bởi thứ nhà báo nhà biếc, điệp viên hay chiến binh jihadist nào lại đi cái xe rác như vậy?

Càng đi xa, hành trình càng nguy hiểm. Nasser ít rành đường sá hơn, mà cả xa lộ Abu Graib và xa lộ số 10 hẳn có hàng tá mìn tự chế dọc đường. Mục tiêu rõ ràng là những đoàn xe quân sự Mỹ, nhưng chuyện mỗi xác chó, mỗi thùng giấy hay túi rác đều có thể là chỗ chứa đủ chất nổ để đánh bay một con Humvee khiến ta luôn phải cảnh giác cao độ. Rồi cả nguy cơ bị bắt cóc nữa. Nước da ngăm, mắt nâu và áo quần bản địa, mới nhìn qua người ta có thể nghĩ rằng tôi là một gã Iraq trắng trẻo, nhưng với vốn tiếng Ả rập lõm bõm, chỉ cần tôi mở miệng nói vài từ thì đã lộ rõ là người nước ngoài. Tôi thủ sẵn hộ chiếu Bosnia giả, để giải thích tại sao mình không nói thạo tiếng Ả rập nhưng vẫn có cái gốc Hồi giáo. Nhưng trò này rất nguy hiểm, bởi nếu có thể lý lẽ được với côn đồ thì nói làm gì nữa. Dân Bosnia không phải là con mồi béo bở để bắt cóc tống tiền, nhưng cho đến cách đây hai tuần thì cũng chẳng ai bắt cóc nhân viên tổ chức phi chính phủ người Nhật làm gì. Nếu bọn bắt cóc tìm được thẻ nhà báo, giá trị của tôi sẽ tăng vọt: chúng sẽ bán tôi cho một chi nhánh của Al-Qaeda, đám này thì ít quan tâm đến tiền nong, mà sẽ muốn có một màn “thú tội” và chặt đầu truyền qua webcam. Ngay giữa Baghdad và Fallujah, xe đến Abu Ghraib, vốn nổi tiếng với các nhà máy đổ nát, cây chà là và một khu phức hợp nhà tù mênh mông, nơi kẻ thù của Saddam và những kẻ tình nghi từng bị tra tấn trong những điều kiện tệ hơn thời Trung cổ. Big Mac có nghe đồn rằng dưới thời Chính quyền Liên minh Lâm thời, mọi thứ vẫn không thay đổi mấy. Chúng tôi qua bức tường cao, kiên cố, dài một cây số ở bên trái, Nasser dịch câu khẩu hiệu lem nhem trên tòa nhà đã bị đánh bom đối diện đó: Chúng ta sẽ gõ cửa Thiên đường bằng xương sọ Mỹ. Một câu mở hoặc kết bài vô cùng đắt giá. Tôi ghi lại ngay vào sổ tay.

Ngay trước một nhà thờ Hồi giáo, Nasser dừng xe để nhường đường cho một đoàn xe Mỹ vừa đến xa lộ. Aziz chụp vài tấm từ trong xe nhưng không dám bước ra: với một pháo thủ hay bị giật mình thì ống kính máy ảnh trông khá giống nòng súng chống tăng. Tôi đếm được hai mươi lăm xe trong đoàn đang tiến về Fallujah, tự hỏi Big Mac có đang ngồi vã mồ hôi như tắm trong một trong những con Humvee đó chăng. Aziz nói gì đó bằng tiếng Ả rập rồi Nasser nói, “Ed, có chuyện!” Nửa tá đàn ông đang đi bộ về phía chúng tôi từ một dãy nhà thấp dọc theo nhà thờ.

“Đi thôi,” tôi nói.

Nasser vặn khóa khởi động. Không ăn thua.

Nasser vặn khóa khởi động.

Không ăn thua.

Ba giây để quyết định xem sẽ giở trò vờ vịt, hay nấp kỹ…

Tôi chui xuống dưới mấy thùng sữa, chỉ vài giây trước khi có người chào hỏi Nasser qua cửa sổ xe. Người đàn ông hỏi xe đang đi đâu. Nasser đáp mình và em họ đang chở hàng về Fallujah. Tiếp tục hỏi Nasser, “Anh là Sunni hay Sh’ia?”

Một câu hỏi nguy hiểm: trước thời chiếm đóng, tôi hầu như chẳng bao giờ nghe ai hỏi vậy.

Nasser đáp, “Trong lúc Fallujah bốc cháy thì chúng ta ai cũng là người Iraq.” Như tôi đã nói, Nasser rất giỏi. Giọng nói ấy hỏi xin một điếu thuốc lá.

Im lặng một lúc, người đàn ông hỏi xe chở hàng gì.

“Sữa em bé” Aziz đáp. “Cho bệnh viện.” Nasser nói tiếp rằng imam của gã có kể rằng bọn lợn Mỹ cứ ném sữa xuống cống, vì không muốn trẻ con Iraq mau lớn để thành jihadist.

“Ở đây cũng có trẻ con đói bụng,” người đàn ông nói.

Cả Aziz cả Nasser đều không có sẵn câu trả lời.

“Tôi nói rồi,” người đàn ông lặp lại, “ở đây cũng có trẻ con đói bụng.”

Nếu hàng bị dỡ khỏi xe thì tôi bị lộ ngay, hiện nguyên hình một gã ngoại quốc ở sát bình địa nhà tù Iraq. Đã chọn cách trốn cũng có nghĩa là tôi không thể dùng câu chuyện nhà báo Hồi giáo người Bosnia được. Nasser vui vẻ cười nói. Hai người sẵn sàng ủng hộ một thùng sữa bột cho trẻ em Abu Ghraib chứ. Rồi vô cùng tự nhiên, gã nhờ người đàn ông giúp một tay đổi lại thùng sữa. Số là cái xe chết tiệt này không nổ máy được, cần có người đẩy.

Tôi không nghe được câu trả lời. Khi cửa chiếc Corolla mở ra, tôi không thể biết là Nasser đang bị gọi ra với mũi súng dí đầu, hay đống thùng sữa công thức sắp bị lấy ra hết. Ghế xe ngả về trước, chiếc thùng che mặt tôi được nhấc lên…

… Tôi thấy một cổ tay lông lá đeo đồng hồ Rolex hàng Tàu, đáy hộp che mặt tôi. Tôi chờ tiếng hét. Rồi ghế tài xế lật lại, không thùng nào được lấy ra nữa. Tôi nghe có tiếng cười, rồi chiếc xe võng xuống dưới trọng lượng của Nasser, có tiếng chào tạm biệt xôn xao. Không lâu sau tôi có cảm giác xe đang được đẩy đi, nghe tiếng săm lốp nghiến trên sỏi, xe nảy lên một cái trước khi máy khởi động.

Aziz há hốc: “Tưởng chết rồi”

Tôi nằm dưới đám hộp, vặn vẹo, nín thở.

Nghĩ thầm, Lần này về nhà, tôi sẽ không bao giờ đi nữa.

Nghĩ thầm, Lần này về nhà, sẽ không bao giờ tôi lại có cảm giác sống sót như thế này nữa.

“Ô-kê đô-kê, đầu tiên là quan viên hai họ,” tay thợ ảnh mặt dài như chó Beagle, mặc áo sơ mi Hawai lên tiếng. Chỗ bậc tam cấp trước nhà thơ đầy nắng ấm, lá cây tươi tốt, xanh mơn mởn. Cây cối này mà ở xứ Lưỡng Hà thì chỉ cần một buổi chiều đã bị nướng thành màu nâu, ở nơi ấy đến cỏ cây cũng phải tự trang bị áo giáp và gai góc để sống sót. “Nhà Webber bên trái,” tay thợ ảnh chỉ đạo, “Nhà Sykes bên phải, mời quý vị vào chỗ.” Pauline Webber điều động cả nhà, nhanh chóng như nhà binh còn nhà Sykes thì thủng thỉnh dạt vào hàng. Holly nhìn quanh tìm Aoife, con bé đang bốc hoa giấy confetti để chơi trò ném nhau. “Chụp hình nào, Aoife.” Aoife dụi người vào Holly, cả hai không thèm tìm tôi. Vậy là tôi đứng nguyên tại chỗ, khỏi ảnh iếc gì. Như những kẻ cùng ổ, nhà Sykes và nhà Webber không nhận ra rằng họ thật dễ dàng đứng vào chỗ, đúng tôn ti trật tự. Nhưng những kẻ ngoại cuộc thì luôn biết mình là ai, mà cũng chẳng sao. “Hai bên ép sát vào nào,” tay thợ ảnh tiếp tục.

“Tỉnh dậy đi Ed,” Kath Sykes vẫy tay ra hiệu cho tôi. “Anh cũng phải vô vụ này chứ.”

Sém tý nữa tôi đã buột miệng, “Hình như Holly không nghĩ vậy,” nhưng tôi bước vào, đứng giữa Kath và Ruth. Holly đứng hàng dưới, không quay lại, nhưng Aoife tóc cài hoa thì ngoái ra sau, nhìn với lên.

“Ba ơi, lúc nãy ba có thấy Aoife bưng khay nhẫn không?”

“Ba chưa bao giờ thấy ai bưng khay nhẫn khéo như vậy cả, Aoife à.”

“Ba ơi, giỏi nịnh thì việc gì cũng xong,” mọi người chung quanh phá ra cười, cười nhiều đến nỗi Aoife khoái chí, lặp lại lần nữa.

Tôi đã từng hi vọng rằng, vì không kết hôn, tôi và Holly có thể tránh được những cảnh tượng như của ba mẹ tôi trước khi ba tôi đi tù mười hai năm. Thì đúng là tụi tôi không la hét, không ném đồ đạc, nhưng thực ra tụi tôi cũng làm đủ hết, theo kiểu vô hình.

“Ô-kê đô-kê,” tay thợ ảnh tiếp. “Đầy đủ hết rồi chứ?”

“Bà trẻ Eilísh đâu rồi?” Amanda, con gái lớn của Brenda lên tiếng.

“Với con thì phải gọi là bà cố trẻ mới đúng,” Brendan chỉnh.

“Gọi gì chẳng được.” Amanda mười sáu tuổi.

“Kẻo mà hết cả giờ giấc,” Pauline Webber tuyên bố.

“Lúc nãy bà nói chuyện với linh mục Audrey…” Amanda lỉnh đi.

Tay thợ ảnh đứng thẳng dậy, mỉm cười hơi tiu nghỉu. Tôi quay sang em-vợ-hờ, “Lễ cưới rất đẹp, Sharon à.”

“Cảm ơn anh Ed.” Sharon mỉm cười. “Mình cũng may mắn với thời tiết nữa.”

“Trời xanh nắng vàng suốt.”

Tôi bắt tay Peter. “Vậy Pete, anh cảm giác ra sao khi thành ông Sykes?”

Peter Webber mỉm cười, cứ tưởng tôi nhầm. “Ơ, ý anh là Webber chứ nhỉ, Sharon bây giờ là bà Webber.”

Vẻ mặt tôi ra ý, Chú mới lấy một người nhà Sykes còn gì, nhưng anh chàng vẫn còn đắm đuối, không nhận ra. Rồi sẽ biết cả. Cũng như tôi đã biết vậy thôi.

Holly cứ làm như tôi không có ở đó. Chắc tập trước cho quen.

“Bà già khú đế đang tiến vào, xê ra, xê ra,” bà trẻ Eilísh lên tiếng, bằng thứ giọng Cork sang sảng, Amanda hộ tống. “Audrey - linh mục sẽ đi Tanzania tuần tới nên muốn hỏi tôi vài chuyện. Kath, cho tôi vô đây luôn…” Vậy là tôi tiến về trước, cuối cùng lại đứng ngay cạnh Holly, tôi thầm ước có thể luồn tay vào tay nàng dễ dàng như trước. Nhưng đâu có được.. Nên tôi đứng im.

“Đầy đủ, đúng chỗ hết rồi,” Pauline Webber nói với tay thợ ảnh. “Ơn Trời.”

Một tay chơi giày trượt uyển chuyển lượn qua trước nhà thờ. Trông hắn thật tự do.

“Ô-kê đô-kê,” tay thợ ảnh tiếp, “khi tôi đếm tới ba mọi người cùng nói “Cheeeeeeese” nhé? “Mốt, hài, baaa…”

Xuyên qua lỗ bom nổ trên một bức tường chắn khô khốc, Aziz chụp hình một gia đình đang hối hả đi qua phần đất trống ở phía bắc khu nhà của bác sĩ. Cảnh tượng gợi nhớ đến tác phẩm Chùm nho phẫn nộ nhưng lấy bối cảnh Ả rập với những con người di cư bằng chân đất. Tôi nói Aziz tấm đấy có thể làm ảnh bìa, nếu đẹp. “Mai tôi đem qua khách sạn, sau khi rửa ảnh. Nếu ảnh bìa,” Aziz xát ngón cái vào ngón trỏ và ngón giữa chụm lại, thứ mật hiệu ai cũng hiểu ấy, “Bà Olive, bả trả nhiều hơn chớ?”

“Nếu được in,” tôi đáp, “Nhưng anh phải…”

Một chiếc trực thăng phành phạch bay thấp, gió bụi mù mịt, Aziz và tôi thụp người xuống. Trực thăng “Rắn hổ mang”? Trẻ con đổ ra trên đường từ khu nhà cạnh đó, la hét, chỉ chỏ về phía đám mây bụi, rồi nhìn nó biến mất. Một thằng bé ném hòn đá theo như chửi thề. Một người phụ nữ quấn khăn hijab lo lắng gọi bọn nhóc vào nhà, hằn học liếc chúng tôi rồi đóng cổng lại. Đoàn đã đến rất gần Fallujah, chỉ một đường bóng golf là đến giao lộ “Cỏ bốn lá”, nơi xa lộ Abu Ghraib lồng vào xa lộ số 10. Về phía nam, qua cái nóng gắt, không khí trước mắt như chập chờn rung rinh, một hàng xe dài mệt mỏi đang đứng chờ, dồn về gần chốt kiểm soát bên ngoài. Có nhiều xe tăng chở lính thủy đánh bộ và vài chiếc Bradley - xe tăng cỡ nhỏ, chặn kín cả đường. Chốt kiểm soát thứ hai ở ngay ngoài giao lộ “Cỏ bốn lá”, kẹp giữa một bờ kè đã được san ủi, một gò đất bụi bặm đá sỏi, bên trên là dây kẽm gai. Hôm nay không ai được phép vào Fallujah, chỉ có phụ nữ và trẻ em mới được cho phép đi ra.

Những lời đồn đoán về trạm y tá dã chiến cho dân tị nạn do vài bác sĩ người Iraq dựng lên hóa ra là có thật. Nasser đang ở bên trong, ghi âm các cuộc phỏng vấn, nhờ có giấy tùy thân hãng thông tấn Al Jazeera, cũng thứ thiệt như tấm hộ chiếu Bosnia của tôi. Aziz và tôi vào với gã một lúc: ít nhất có đến một trăm bệnh nhân đang được chăm sóc bởi hai bác sĩ và hai y tá, y cụ chỉ là những hộp cứu thương quyên góp được. “Giường bệnh” là những tấm chăn trải trên sàn một căn phòng khách cỡ rộng, còn bàn mổ chính mới gần đây vẫn là bàn chơi billiard. Không có thuốc tê. Hầu hết các bệnh nhân đều đang đau đớn, ở nhiều mức độ, có người đang quằn quại, vài người hấp hối. Nhà xác là căn phòng bên trong, nơi để sáu cái xác chưa ai nhận. Ruồi nhặng và mùi hôi thối quá sức chịu đựng: vài người đang đào huyệt mộ trong vườn. Y tá hứa sẽ phân phát chỗ sữa công thức, nhưng cánh bác sĩ cứ hỏi xin thuốc giảm đau và băng gạc.

Trong khi Nasser phỏng vấn bệnh nhân, Aziz tranh thủ chụp vài tấm. Tôi được giới thiệu là em họ người Bosnia của Nasser, cũng làm việc cho Al Jazeera, nhưng ở đây người ta ác cảm với người ngoại quốc đến nỗi Aziz và tôi chuồn lẹ ra ngoài, đứng đợi gần xe, để Nasser thoải mái làm việc. Vẫn còn mùa xuân nhưng xứ Lưỡng Hà đã nóng đến nỗi có thể uống nước cả ngày mà không cần đi tiểu. Từ Fallujah, chỉ cách một cây số về phía Tây, chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ và cứ cách vài phút thì có tiếng bom nổ lớn. Không khí như có vị săm lốp bốc cháy.

Aziz cất máy ảnh vào xe hơi. Anh ta quay trở lại mang theo thuốc lá, mời tôi một điếu, nhưng tôi vẫn đang cố cai. “Bush, như tui hiểu,” Aziz vừa nói vừa châm thuốc. “Bush cha đó, ổng ghét Saddam, rồi tới vụ Tháp Đôi, vậy là Bush muốn trả thù. Mỹ cần nhiều dầu, Iraq có dầu, vậy là Bush qua đây kiếm dầu. Bạn của Bush cũng được tiền, Halliburton, hàng hóa, súng đạn, nhiều tiền lắm. Lý do xấu, nhưng tui hiểu. Nhưng tại sao nước của anh lại tới đây hả Ed? Anh quốc muốn gì ở đây? Anh quốc tiêu nhiều đô la ở đây, mất cả trăm con người ở đây - vì sao, Ed? Tui không hiểu. Hồi xưa người ta nói, ‘Anh quốc tốt, người Anh chơi đẹp.’ Giờ người ta nói, “Anh quốc theo của Mỹ.” Tại sao vậy? Tui muốn hiểu.”

Tôi cân nhắc những câu trả lời khả dĩ cho Aziz. Tony Blair có thật tin rằng Saddam Hussein sở hữu tên lửa có thể phá hủy London trong vòng bốn mươi lăm phút? Ông ta có thật sự tin cái luận điệu Tân bảo thủ về chuyện gây dựng một nền dân chủ tự do ở Trung Đông, rồi chờ nó lan rộng ra? Tôi chỉ có thể nhún vai. “Ai mà biết được?”

“Thượng đế biết,” Aziz nói. “Blair biết. Vợ Blair biết.”

Tôi sẵn sàng giảm thọ một năm chỉ để nhìn được bên trong đầu óc của ông thủ tướng. Ba năm cũng được. Ông ta là người thông minh. Nhìn cách ông ta né tránh điệu nghệ trong các cuộc phỏng vấn cũng đủ thấy. Không lẽ trong đầu ông ta, mỗi khi ông ta nhìn mình trong gương, lại không có cái câu hỏi ấy, Chết thật, Tony ơi, Iraq đã be bét cả - tại sao tại sao tại sao mày lại đi nghe lời George chứ?

Một chiếc máy bay không người lái lượn lờ trên đầu chúng tôi. Hẳn là có vũ trang, Tôi nghĩ đến kẻ đang vận hành nó, mường tượng ra một cậu nhóc mười chín tuổi, tóc húi cua, tên Ryan, đang ngồi tại căn cứ ở Dallas, uống Frappuccino đá lạnh bằng ống hút. Cậu ta có thể khai hỏa đốt trạm xá, giết sạch mọi người bên trong và gần đó mà không bao giờ ngửi thấy mùi thịt chín. Với Ryan, chúng ta chỉ là những ảnh nhiệt tính bằng pixel trên màn hình, vặn vẹo một lúc, rồi chuyển màu từ vàng sang đỏ sang xanh dương.

Chiếc máy bay lượn đi, rồi một xe tải nhỏ màu trắng sầm sập đổ tới trên con đường lấm bụi từ phía chốt kiểm soát. Chiếc xe đỗ xịch lại ngay cổng trạm xá, tài xế - đầu quấn khăn keffiyeh lấm máu, nhảy ra và chạy ngay qua cửa xe bên kia. Aziz và tôi đi tới để giúp một tay. Tài xế cỡ tuổi tôi, kéo ra một đống lù lù bọc vải. Anh ta cố khiêng vào nhưng bị vấp một khối bê tông xỉ than, anh ta ôm chặt đống vải vào người khi ngã xuống. Khi dựng anh ta dậy tôi thấy anh ta đang ôm một bé trai. Đứa bé đã bất tỉnh, nhợt nhạt, chỉ độ năm hay sáu tuổi, máu đã hộc ra đằng miệng. Người đàn ông hấp tấp tuôn một tràng tiếng Ả rập - tôi chỉ biết từ “bác sĩ”, Aziz dẫn anh ta vào khu trạm xá. Tôi đi theo. Bên trong căn phòng vốn là phòng khách, một phụ nữ bắt mạch trên cánh tay đứa bé, không nói gì cả, rồi gọi bác sĩ, bác sĩ hét trả lời từ góc xa. Khi mắt đã quen với bóng râm trong nhà tôi nhìn thấy Nasser đang nói chuyện với một ông già mặc áo may ô, mặt mày thảng thốt trống rỗng, đang tự quạt mát cho mình. Rồi một người đàn ông ăn nói nhỏ nhẹ (ở đây mà cũng sực nức nước hoa), đến ngay trước mặt tôi, hỏi một câu phức tạp bằng tiếng địa phương - câu hỏi trở thành một lời đe dọa - có mấy từ “Bosnia”, “Mỹ” và “giết”. Gã nói xong, làm động tác cắt cổ bằng ngón tay. Tôi vừa gật vừa lắc, ra ý mình cũng hiểu nhưng tình hình đang quá phức tạp nên không thể trả lời dứt dạc với gã được. Rồi tôi đi ra. Ngu ngốc làm sao, tôi ngoái lại nhìn: gã vẫn dõi theo. Aziz đi theo tôi ra ngoài, đi vòng đến chỗ chiếc Corolla.

Anh ta nói, “Du kích đó. Thử anh đó.”

“Vậy tôi qua không?”

Aziz không trả lời. “Tui kiếm Nasser. Nếu thằng đó đi tới thì trốn đi. Nếu cả đám vác súng ra thì… Tạm biệt Ed.” Aziz vội vã trở lại khu nhà. Quang cảnh chung quanh là đất hoang, không có chỗ nào ẩn nấp. Khác với cơn hú hồn bên ngoài nhà thờ Hồi giáo, lần này tôi có thời gian để suy nghĩ. Tôi nghĩ đến Aoife ngồi trong lớp của cô Vaz ở trường tiểu học Stoke Newington, hát bài “Somewhere Over The Rainbow.” Tôi nghĩ đến Holly ở khu nhà tạm cho người vô gia cư gần Quảng trường Trafalgar, đang giúp một đứa trẻ dạt nhà nào đó điền đơn xin trợ cấp.

Nhưng người bước ra từ khu nhà, cách chỗ tôi chừng hai mươi bước, không phải là Aziz, không phải là Nasser hay một người Hồi Giáo ôm khẩu AK-47. Mà là tài xế chiếc xe tải lúc nãy, cha của cậu bé con. Anh ta đưa mắt quá chiếc xe, nhìn về Fallujah, nơi máy bay trực thăng vẫn phành phạch - phành phạch - phành phạch trên đầu một phần tư triệu người.

Rồi anh ta gục ngã và òa khóc giữa cát bụi.

“Trời trời, dữ không” David Sykes bước vào nhà vệ sinh nam ở Khách sạn Maritime khi tôi đang rửa tay, vừa nghĩ thầm ở Iraq nước sạch mới quý làm sao. Ban nhạc trong phòng tiệc đang chơi bài “Lady In Red” của Chris de Burgh theo kiểu jazz. Dave nhìn khắp căn phòng thênh thang. “Chỗ này bỏ sân golf mini vô cũng vừa nữa.”

“Hàng ngon à,” tôi nói. “Gạch lát là đá hoa thứ thiệt.”

“Toilet xịn, giống chỗ Mafia thanh toán nhau. Tưởng tượng năm tên ôm súng máy nhảy ra từ sau cửa.”

“Miễn là không phải vào ngày cưới con gái mình.”

“À, không không.” Dave bước lại bồn tiểu, kéo khóa quần. “Nhớ mấy cái nhà vệ sinh trong quán Thuyền trưởng Marlow không?”

“Nhớ chứ. Nghe kỳ hả. Cháu nhớ cả mấy vụ viết bậy lên tường nữa. Đương nhiên là cháu không tham gia vụ đó rồi.”

“Tường bậy nhất ở Gravesend, đặc sản của quán Thuyền trưởng Marlow. Kath hồi đó suốt ngày bắt tui phải sơn lại, nhưng cứ sơn được hai tuần thì như cũ.”

Nhà báo trong tôi hỏi, “Bác có nhớ việc cũ không?”

“Cũng chút chút, có chứ. Cũng nhộn mà. Vài người khách quen. Không nhớ chuyện thức khuya dậy sớm, hoặc mấy vụ oánh nhau. Hay thuế má giấy tờ. Nhưng chỗ đó là nhà trong bốn mươi năm, nên làm sao không nhớ được. Đám con lớn lên ở đó. Nhưng không thể quay về được. Giờ tui nhìn quán mà chịu không nổi. Đổi tên thành quán ‘Con rùa tím’, nghe có chán không? Toàn đám nứt mắt rủng rỉnh cắm mặt vào điện thoại. Ở trên lầu thì đều đã sửa thành ‘căn hộ cao cấp’ hết. Anh có về lại Gravesend không?”

“Kể thì khi mẹ cháu mất thì không. Chưa về một lần.”

Dave kéo khóa quần, bước lại gần, chân bắt chéo, dáng điệu bệ vệ, thừa vài cân. Ở bồn rửa, ông sè sẹ đưa tay ra dưới máy phun xà phòng: một nhúm bọt bắn ra rồi nhỏ xuống tay: “Coi nè! Cuộc sống ngày nay mỗi lúc mỗi giống khoa học viễn tưởng. Không chỉ là mình già đi, con cái dọn ra: mà là cả thế giới như vươn ra, còn mình thì cứ lưu luyến ngày xửa ngày xưa.” Dave đặt tay đầy xà phòng dưới vòi nước ấm, nước bắn ra. “Cứ tận hưởng tuổi thơ của Aoife, Ed à. Chớp mắt mà mình mới cõng con cún trên vai, quay tới quay lui nó đã dọn ra khỏi nhà rồi. Rồi mình nhận ra điều từ lâu đã nghi ngờ: có thương con cái tới chừng nào thì cũng chỉ được vay mượn tụi nó tạm thời mà thôi.”

“Cháu nghĩ tới bạn trai đầu tiên của Aoife mà ớn quá” tôi nói.

Dave vẩy tay cho ráo. “Ô, lo gì.”

Đúng là miệng mồm dại dột, tôi vừa nhắc Dave nhớ đến Vinny Costello và vụ việc trước khi Jacko mất tích, vậy là tôi đổi đề tài ngay:

“Pete được quá chứ hả.”

“Chắc vậy. Nhưng anh biết đó, Sharon vốn là đứa kén chọn.”

Tự dưng tôi nhìn mặt Dave trong gương, dò xem ông có định buột miệng “Khác hẳn Holly.” không, nhưng ông đã nói tiếp: “Đừng lo, Ed, anh ngon lành. Anh là một trong số ít người biết để râu, giống tui.”

“Cảm ơn bác.” Tôi để tay dưới máy sấy rồi tự hỏi, tôi có dám làm vậy không? Bỏ Holly và Aoife để đổi lấy công việc?

Tôi thấy giận dữ vì Holly bắt tôi phải lựa chọn.

Tôi chỉ muốn Holly chia sẻ tôi với công việc.

Như chuyện tôi chia sẻ Holly với công việc của cô ấy. Công bằng thôi.

“Chắc cũng sẽ hơi sốc ha,” Dave nói, kiểu ông chủ quán tinh ý, “vụ về lại Anh luôn đó. Anh thấy sao?”

“Dạ… chắc vậy, nếu không có gì thay đổi.”

“À. Tức là có thay đổi gì sao?”

“Spyglass mời cháu gia hạn đến tháng Mười Hai.”

Dave thở hắt ra, vẻ thông cảm. “Chuyện đau đầu xưa nay. Công việc và gia đình. Không thể khuyên gì anh được, Ed à, nhưng nói gì thì nói, tui đã gặp khá nhiều người ngay sau khi họ bị bác sĩ tuyên án tử. Nghĩ cho kỹ - nếu có lão lang băm nào nói rằng tui chỉ còn sống được X tuần thôi, tui sẽ cần một quán bar, một người bạn biết lắng nghe và một ly thiệt nặng đô. Anh sẽ không ngạc nhiên gì nếu tôi nói rằng mấy cha đó, không một ai nói, ‘Dave, giá mà hồi đó tôi làm việc nhiều hơn.’”

“Chắc họ chọn nhầm nghề,” tôi nói, rồi ân hận ngay lập tức vì giọng mình thật bố láo. Tệ hơn nữa, tôi không có cơ hội thanh minh gì, cửa mở ra, ba người bà con từ Ireland của Holly xông vào, cười nghiêng ngả: “Ed, bác Dave, hóa ra ở đây,” Oisín lên tiếng, tôi vẫn không biết cô này họ hàng với Holly ra sao. “Dì Kath biểu tụi này đi kiếm hai người, bắt sống đem về cho bả.”

“Trời ơi, tui làm gì nên tội vậy?”

“Bình tĩnh bác Dave. Tới giờ cắt bánh, có vậy thôi.”

Aziz lái xe đưa chúng tôi trở lại Baghdad, để Nasser có thể kể cho tôi nghe về những bệnh nhân đã phỏng vấn ở trạm xá. Với mấy tấm ảnh của Aziz, tôi đã có được một dàn ý tốt để viết bài cho Spyglass. Trước khi đến Abu Graib, xe bị kẹt sau một hàng dài. Nasser nhảy ra khỏi xe, tới một hàng ven đường mua bánh kebab rồi quay lại, mang theo hai mẩu tin tức: một là đoàn xe chở nhiên liệu đã bị tấn công, đường chính trở lại Baghdad bị chặn bởi một hố bom đường kính chín mét, nên xe cộ kẹt hết lại; hai là một chiếc trực thăng Mỹ đã bị bắn rơi trên phần đất ruộng phía đông nam khu nhà tù. Cả ba quyết định sẽ đi vòng đến chỗ máy bay rơi. Chúng tôi nhai mấy miếng thịt cừu dai nhách, mà có khi là thịt dê. Đến chỗ nhà thờ gặp rắc rối ban sáng, xe chuyển hướng về phía nam. Qua khỏi khu nhà tù, cả bọn thấy một cột khói xơ xác, màu đen bay thẳng lên từ phía sau hàng cây liễu bách chắn gió. Một cậu bé đạp xe ghé lại nói chuyện, đúng vậy, trực thăng Mỹ, một con Kiowa, đã bị bắn hạ ngay đằng kia, Tạ ơn Thượng đế. Các cậu bé ở Iraq lớn lên dưới thời chiếm đóng biết về vũ khí và máy móc súng đạn như kiểu tôi từng rành rọt về đồ câu cá, xe máy và Top 40 bài hát hồi những năm 80. Thằng nhóc làm động tác bom nổ, bùm một cái rồi phá ra cười. Lính thủy đánh bộ đã chuyển xác hai lính Mỹ đi ba mươi phút trước, nó kể tiếp với Nasser, nên giờ đã an toàn, cứ tới đó mà xem.

Một con đường mòn chạy trên kênh tưới, băng qua đám cây liễu bách và đổ ra một cánh đồng cỏ dại. Xác chiếc máy bay Kiowa dập nát, cháy đen, bốc khói nằm nghiêng một bên, phần đuôi ở cách đó nửa quãng đồng. “Tên lửa đất đối không,” Nasser đoán, “cắt ngay khúc giữa. Như kiếm chém vậy.” Khoảng chừng hai mươi người, đàn ông và các cậu bé con đứng quanh. Những khu nhà trại ở phía xa, máy móc bỏ không. Aziz đậu xe trong góc, cả ba xuống xe, bước đến. Buổi chiều muộn râm ran tiếng côn trùng. Aziz chụp hình khi cả ba tiến lại gần. Tôi nghĩ đến hai phi công, tự hỏi không biết lúc rơi xuống đất trong đầu họ nghĩ gì. Một ông già quấn khăn keffiyeh màu đỏ hỏi Nasser có phải chúng tôi là dân báo chí không, rồi Nasser đáp, đúng thế, là người của một tờ báo Jordan. Chúng tôi đến đây để phản biện lại những lời dối trá của quân Mỹ và đồng minh, Nasser tiếp, rồi hỏi lúc nãy ông có thấy máy bay rơi không. Ông già đáp, không, không biết gì cả, chỉ có nghe tiếng nổ thôi. Có mấy người đàn ông, có lẽ là quân Mahdi vừa đánh xe đi, nhưng đứng xa quá, với cả xem này - ông già chỉ tay lên mắt - thủy tinh thể đã đục hết.

Cứ nhìn thấy quá nhiều thứ ở Iraq cũng dễ chết lắm.

Đột nhiên có tiếng xe quân đội rầm rập đến, đám đông tản ra, hoặc cố tản ra: cả ba túm tụm lại một chỗ, nhận ra cả hai lối chạy khỏi cánh đồng đều bị chặn bởi hai đoàn xe Humvee bốn chiếc. Lính thủy đánh bộ nhảy ra, vũ trang tận răng, chĩa súng trường M16 về phía chúng tôi. Một tiếng gào dữ tợn vang cả cánh đồng: “Đưa tay lên đầu! Đưa lên cho tao! Nằm hết xuống đất ngay, nếu không tao thề tao sẽ cho chúng mày cắm mặt xuống hết, đồ Alibaba ngủ với lợn” Không cần dịch nhưng ai cũng hiểu.

“Tay lên cao nữa!” một tên lính thủy đánh bộ hét vào mặt một người đàn ông mặc đồ thợ cơ khí lấm dầu, người này cứ nói, “Mafi mushkila, mafi mushkila,” không sao, không sao, nhưng tên lính lại hét, “Đừng cãi tao! Đừng cãi tao!” rồi đá anh thợ một cái ngay bụng - tất cả đứng quanh thót ruột theo - anh thợ ngã lăn quay, thở gấp, ho sặc sụa. “Xem đứa nào chủ cái trại này,” tên lính ra lệnh cho người phiên dịch, người này che mặt bằng khăn quàng đầu như ninja. Tên lính nói vào điện đài, báo rằng khu vực đã an toàn, trong khi người phiên dịch hỏi ông già quấn khăn keffiyeh đỏ ai là chủ trang trại.

Tôi không nghe được câu trả lời vì một tên lính đa đen đang đứng trước Aziz, lên tiếng “Chụp ảnh lưu niệm sao? Cái này của mày hả?” Ngay lúc đó một chiếc Chinook rầm rập bay tới giữa nắng: tiếng động cơ át giọng tôi, người lính giật camera khỏi cổ Aziz, mạnh đến nỗi làm đứt cả dây đeo, Aziz ngã đập đầu xuống đất. Tiếp đó tôi chỉ kịp nhận ra tên lính quỳ cạnh Aziz đang dí súng vào đầu anh thợ ảnh của tôi.

Tôi hét lên, “Không - dừng lại! Anh ấy làm việc cho tôi” nhưng tiếng động cơ của chiếc Chinook át đi, rồi đột nhiên tôi ngã bật ra đất, một cái đầu gối mặc đồ lính ép khí quản tôi xuống bụi đất, rồi tôi nghĩ, cho đến khi tôi chết hẳn họ mới nhận ra đã nhầm người. Rồi nghĩ tiếp, Không, họ sẽ không nhận ra nhầm lẫn gì cả: xác tôi sẽ bị vứt xuống hố cạn ven Baghdad.

“Tại sao họ không biết ơn mình hả Ed?”

Mẩu bánh cưới chưa tới miệng tôi thì giọng của Pauline Webber đã vang lên sắc lẻm, rồi tự dưng tôi thành nơi đổ mắt vào của bốn người nhà Webber, sáu người nhà Sykes, Aoife và một bình hoa huệ màu cam. Vấn đề là tôi không biết bà ta đang nói chuyện về ai hay về việc gì, những phút vừa rồi tôi còn bận thầm soạn trong đầu một email gởi cho phòng kế toán công ty mẹ của Spyglass. Tôi nhìn Holly, cầu cứu, nhưng nàng lờ tịt, nấp sau mặt nạ người-đàn-bà-bị-ruồng-rẫy. Nhưng biết đâu đấy chẳng phải chỉ là mặt nạ.

May thay, Lee- em ruột của Pete kiêm phụ rể kịp nhảy vào cứu bồ: “chuyên môn nghiệp vụ” của cậu ta là “tránh thuế” nhưng hình như cậu ta còn là chuyên gia về quan hệ quốc tế nữa. “Iraq dưới thời của Saddam, trên mặt đất là trại tập trung, dưới lòng đất là mồ chôn tập thể. Vậy nên mình với mấy chú Mẽo nhảy vào, hạ bệ tên độc tài cho họ, miễn phí hoàn toàn - rồi họ trả ơn mình ra sao? Phản bội lại những người đã giải phóng họ. Dân Ả rập vốn vô ơn từ trong máu. Mà họ đâu có ghét mỗi lính tráng: cứ Tây là ghét, phải vậy không Ed? Như tay nhà báo tội nghiệp bị xẻo hồi năm ngoái đó, chỉ vì là người Mỹ thôi nhỉ? Quá kinh.”

“Chú bị dính rau bina trên răng kìa, Lee,” Peter nói.

Đương nhiên, ngay lúc đó Aoife phải hỏi, “‘Bị xẻo’ là sao hả ba?”

“Hay là hai má con mình,” Holly nói với Aoife, “đi tới chỗ Lola và Amanda ở bàn của mấy bạn lớn? Má thấy hình như bàn đó có CocaCola.”

“Má hay cũng nói uống Coca-Cola là không ngủ được mà.”

“Ừ, nhưng hôm nay Aoife rất ngoan, chịu khó làm phụ dâu cho dì Sharon, nên tối nay ngoại lệ.” Holly và Aoife rời khỏi bàn. Lee vẫn chưa nhận ra. “Hết dính rau chưa?”

“Hết rồi,” Peter đáp, “nhưng vẫn còn vô duyên lắm.”

“Hở? À.” Lee cười, ra vẻ ăn năn. “Úi. Không có ý gì nha Ed. Chắc do hôm nay uống nhiều quá.”

Đáng ra tôi phải nói, “Không sao,” nhưng tôi chỉ nhún vai.

“Nhưng mà,” Lee tiếp, vẻ mặt kiểu nói-gì-thì-nói, “chuyện chiếm đóng Iraq chung qui lại chỉ có mỗi một lý do: dầu mỏ.”

Nếu mỗi lần nghe câu đó tôi được mười bảng thì bây giờ tôi đã mua được quần đảo Outer Hebrides. Tôi đặt nĩa xuống. “Nếu muốn có dầu mỏ của một nước nào đó, thì cứ tới đó mua. Giống như ta đã làm với Iraq trước Chiến tranh vùng vịnh lần I.”

“Nhưng làm sao rẻ bằng cách cài vào đó một chính phủ bù nhìn.” Lee thè đầu lưỡi, ra vẻ khiêu khích. “Nghĩ tới đám hợp đồng dầu mỏ béo bở đó xem. Toàn điều khoản có lợi. Ngon chứ.”

“Có lẽ người Iraq phản đối điều đó,” Austin Webber, cha của Peter và Lee lên tiếng. Ông Webber là một giám đốc ngân hàng đã về hưu, mắt trũng xuống còn trán nhăn nheo gồ ghề giống người ngoài hành tinh Klingon. “Họ phản đối chính phủ bù nhìn. Nếu là tôi thì tôi cũng chẳng ưa gì.”

“Mọi người để Ed trả lời câu hỏi của tôi được không?” Pauline nói, “Tại sao vụ chiếm đóng Iraq lại đi lệch kịch bản đến vậy?”

Đầu tôi ong ong. Sau tối hậu thư của Holly đêm qua, tôi không ngủ được, hôm nay lại uống khá nhiều champagne. “Bởi vì kịch bản được viết ra cho một nước Iraq khác, một Iraq được hứa hẹn bởi những người Iraq lưu vong thân phương Tây. Họ cứ nghĩ Iraq cũng sẽ là một đất nước thống nhất, như Nhật Bản năm 1945. Nhưng không, kết cục lại là nội chiến triền miên giữa người Ả rập Shi’a đa số, người Ả rập Sunni thiểu số và người Kurd.

Ban nhạc ở cuối sảnh chuyển sang đánh bài “The Birdie Song.”

Ruth hỏi, “Vậy người Sunni gây chiến ở Fallujah vì họ muốn đưa một lãnh đạo Sunni trở lại sao?”

“Đó là một lý do, nhưng người Shi’a ở những nơi khác gây chiến vì họ muốn những người ngoại quốc phải ra về.”

“Bị chiếm đóng hẳn rất khó chịu,” Austin nói. “Tôi hiểu vụ đó. Nhưng chắc người dân Iraq phải thấy được cuộc sống bây giờ tốt hơn xưa chứ.”

“Hai năm trước một người Iraq trung bình - đàn ông - dù gì cũng có việc làm. Nhưng giờ thì không. Trước đây thì có nước máy, có điện. Giờ thì không. Trước đây có xăng dầu. Giờ thì không. Trước đây nhà vệ sinh hoạt động được. Giờ thì không. Trước đây người ta có thể để con tự đi học mà không sợ bắt cóc. Giờ thì không thể. Iraq trước đây là một nơi bị cấm vận tàn phá, hư hỏng, rệu rã, nhưng ít ra nó vẫn vận hành được, theo một kiểu nào đó. Giờ thì không.”

Một tay bồi bàn trông có vẻ như dân Ả Rập đang rót đầy cốc cho tôi từ chiếc bình bạc. Tôi cảm ơn anh ta, rồi tự hỏi phải chăng anh ta đang nghĩ thầm, “Thằng cha này cóc biết khỉ gì mà nói như đúng rồi.”

Sharon, cô gái có thể vui vẻ nói chuyện chính trị Trung Đông ngay lúc ăn bánh cưới, liền hỏi, “Vậy tóm lại là lỗi của ai?”

“Tùy vào chuyện em hỏi ai nữa,” tôi đáp.

“Tụi này hỏi anh đó,” chú rể Peter nói.

Tôi nhấp cà phê. Ngon thật. “Hiện giờ ông vua thực sự ở Iraq là một đệ tử của Kissinger, tên là L. Paul Bremer III. Khi nhậm chức, ông ta đưa ra hai sắc lệnh tạo nên diện mạo cuộc chiếm đóng. Thứ nhất là sa thải mọi thành viên của Đảng Ba’ath trên một cấp bậc nhất định. Chỉ bằng một nét bút, Bremer vứt hết các công chức, nhà khoa học, giáo viên, cảnh sát, kỹ sư và bác sĩ mà Liên minh đang cần để tái thiết đất nước. Năm mươi ngàn dân cổ cồn trắng Iraq mất tiền lương, chế độ hưu trí và tương lai, và họ muốn liên minh phải thất bại ngay từ ngày đó. Sắc lệnh thứ hai là giải tán quân đội Iraq. Không có trợ cấp, không lương hưu, không tất tần tật. Bremer qua đó tạo ra 375,000 lính nổi dậy tiềm năng - thất nghiệp, có vũ trang, được huấn luyện để giết chóc. Đương nhiên hạ hồi thì ai cũng rõ, nhưng nếu là người cầm quyền của một đất nước bị chiếm đóng thì hơn ai hết anh phải có khả năng nhìn trước thiên hạ - hoặc ít ra thì phải lắng nghe cánh cố vấn có khả năng đó.”

Điện thoại của Brendan đổ chuông: ông anh vợ bắt máy, quay ra xa, nói, “Jerry, Isle of Dogs sao rồi?”

“Nếu tay Bremer này chẳng làm được trò trống gì,” Peter hỏi, tháo lỏng cà vạt lụa trắng, “tại sao người ta không lôi cổ hắn về?”

“Thì cũng sớm muộn thôi.” Tôi thả một viên đường vào cà phê. “nhưng tất cả, từ tổng thống đến nhân viên tép riu nhất trong Vùng Xanh đều hưởng lợi từ việc nhai đi nhai lại cái luận điệu ngớ ngẩn rằng quân nổi dậy chỉ là thiểu số điên loạn, rằng tình hình đã có bước ngoặt thật sự. Vùng Xanh cũng như Bộ quần áo mới của hoàng đế, ở đó nói ra sự thật đồng nghĩa với tội phản động. Những kẻ duy thực thường không gặp may.”

“Nhưng hẳn là,” Sharon hỏi, “nếu bước chân ra khỏi Vùng Xanh thì sự thật phải đập vào mắt họ chứ?”

“Phần lớn nhân viên không bao giờ bước ra khỏi đó. Không đời nào. Chỉ trừ lúc đi sân bay thôi.”

Nếu Austin Webber đeo kính một mắt, hẳn kính đã rơi. “Làm sao ngồi trong boong-ke mà điều hành cả một đất nước được, hở Trời?”

Tôi nhún vai. “Điều hành kiểu đại khái. Rời rạc. Mù tịt.”

“Nhưng ít nhất thì cánh quân nhân hẳn biết chuyện gì đang xảy ra chứ. Họ là người chịu cảnh bom nổ đạn bắn mà.”

“Họ biết chứ, Austin, đúng thế. Mâu thuẫn giữa phe theo Bremer và các tướng lĩnh vô cùng gay gắt, nhưng cánh quân nhân nhiều khi lại hành xử như thể chính họ cũng muốn khiêu khích người dân. Aziz, thợ ảnh của tôi, có một ông chú ở Karbala trồng được vài mẫu ô liu. Đúng ra đã từng trồng vài mẫu. Tháng Mười vừa rồi, một đoàn xe quân sự bị tấn công trên con đường chạy qua đất của ông ấy, vậy là quân Liên minh đi hạch hỏi người dân trong vùng, truy tìm ‘bọn côn đồ’. Khi không ai ra mặt, một tiểu đội lính thủy đánh bộ đổ đến, chặt sạch cây ‘Để khuyến khích người dân địa phương hợp tác nhiều hơn trong tương lai.’ Cứ nghĩ xem, phá hoại như vậy thì sẽ khiến người ta muốn hợp tác kiểu gì.”

“Giống như quân Anh ở Ireland hồi năm 1916,” Oisín O’Dowd góp chuyện. “Họ đã lặp lại cái câu thần chú côn đồ muôn thuở đó, ‘Bạo lực là thứ duy nhất mà người dân bản địa hiểu được,’ lặp lại nhiều lần đến nỗi chính họ cũng tin vào điều đó. Một khi đã tin vậy rồi thì vô phương cứu chữa.”

“Nhưng tôi đã đi Mỹ nhiều lần trong ba mươi năm qua,” Austin tiếp. “Những người Mỹ tôi biết đều là những người khôn ngoan, có lòng trắc ẩn, tử tế nhất mà ta có thể gặp được. Tôi không hiểu nổi.”

“Austin, tôi ngờ những người Mỹ ông gặp trong giới ngân hàng không phải là dạng bỏ ngang trung học từ Nebraska, có bạn thân bị bắn chết bởi một thiếu niên người Iraq tươi cười tay cầm bịch táo. Cha của cậu bé người Iraq này tuần trước đó đang sửa ăng ten tivi thì bị một tay súng trên chiếc Humvee chạy ngang qua nhà bắn tan xác. Tay súng ấy lại có bạn thân bị ăn một viên đạn đum đum ngay cổ, từ một kẻ bắn tỉa nấp trên nóc nhà, chỉ mới hôm qua. Chị gái của kẻ bắn tỉa từng ngồi trong một chiếc xe hơi bị chết máy ngay giao lộ, vừa lúc có đoàn xe quân sự đi qua, đám vệ sĩ trong đoàn ngay lập tức xả súng khắp xe, vì biết rằng làm vậy sẽ cứu được đoàn khỏi một kẻ đánh bom tự sát nếu họ đoán đúng, còn nếu đoán sai thì luật Iraq không áp dụng được với họ. Cơ bản là, chiến tranh leo thang bằng cách ăn cứt của chính nó, ị ra, rồi ăn lại nhiều hơn.”

Tôi thấy rõ phép ẩn dụ của mình đã đi quá xa.

Lee Webber đang nói chuyện với bạn ở bàn bên cạnh.

Bà mẹ cậu ta hỏi, “Còn lát bánh cuối cùng, có ai muốn ăn không?”

Con mắt vẫn mở được của tôi (không bị ép xuống bụi và cát sỏi), nhìn ra vị trí của tên lính da đen, tự dưng tôi thấy mình có khả năng đọc miệng khi hắn ta nói với Aziz, “Chụp ảnh sao, để tao chụp cho một phát nhé, đồ chó.”

“Anh ấy làm việc cho tôi!” Tôi nhổ cát ra.

Hắn nhìn về phía tôi. “Mày nói gì?”

Chiếc Chinook vừa rời đi, ơn Chúa, và hắn nghe được tiếng tôi. “Tôi là nhà báo,” tôi lầm bầm, cố quay miệng lên trên, “nhà báo người Anh.” Giọng tôi khô khốc, lạo xạo.

Một giọng Mỹ Tây Trung lè nhè ngay tai tôi, “Báo biếc con mẹ gì”

“Tôi là nhà báo người Anh, tên tôi là Ed Brubeck và…” Tôi cố hết sức nói năng như Christopher Hitchens “…tôi làm việc cho tạp chí Spyglass. Thợ ảnh giỏi ngày nay rất hiếm, vậy nên phiền anh đừng chĩa thứ ấy vào đầu anh ta.”

“Thiếu tá! Thằng chó này nói hắn là nhà báo Anh.”

“Là cái gì kia?” Bước chân mang giày bốt rầm rập đến. Người mang giày bốt sủa vào tai tôi: “Mày nói tiếng Anh à?”

“Vâng, tôi là nhà báo người Anh, và nếu…”

“Mày có bằng chứng gì không?”

“Giấy tờ của tôi ở trong chiếc xe màu trắng.”

Có tiếng cười khẩy. “Xe trắng nào?”

“Chiếc đậu ở góc bãi ấy. Nếu binh nhì của anh dỡ đầu gối khỏi cổ tôi, tôi sẽ chỉ.”

“Đại diện truyền thông luôn phải mang giấy tờ sẵn trong người chứ.”

“Nếu dân quân tìm được thẻ nhà báo trên người tôi, họ sẽ giết tôi ngay. Thưa thiếu tá, làm ơn cho tôi ngẩng cổ lên?”

Cái đầu gối được nhấc ra. “Đứng dậy. Thật chậm.” Hai chân tôi tê cứng. Tôi muốn xoa cổ nhưng không dám, nhỡ chúng nghĩ tôi với tay lấy vũ khí. Viên sĩ quan tháo cặp kính phi công ra. Khó đoán hắn bao nhiêu tuổi: hai mấy chớm ba mươi, nhưng gương mặt đầy cáu ghét. Bảng tên “HACKENSACK” được khâu ngay dưới phù hiệu sĩ quan. “Vậy tại làm quái gì mà một tay nhà báo Anh lại ăn mặc như cái bọn đầu quấn giẻ, rồi đi đú với bọn đầu quấn giẻ quanh con OH-58D vừa bị bắn rơi?”

“Tôi đến đây để khai thác tin tức, tôi ăn mặc như vậy vì ăn mặc giống Tây rất dễ ăn đạn.”

“Nhưng quá giống Ả rập cũng suýt khiến anh bị ăn đạn còn gì.”

“Thưa thiếu tá, làm ơn để anh ấy đi” Tôi gật đầu về phía Aziz. “Anh ấy là thợ ảnh của tôi, và…” tôi thấy Nasser, “…người mặc áo sơ mi xanh đằng kia. Trợ lý của tôi.”

Thiếu tá Hackensack thong thả để cả bọn run thêm vài giây. “Được rồi.” Aziz và Nasser được phép đứng dậy, cả bọn hạ tay xuống. “Anh quốc, Britain, tức là England, đúng không?”

“England cộng Scotland, cộng xứ Wales, với Bắc Ire…”

“Nottingham. Chỗ đó tính là England hay Britain?”

“Cả hai, như Boston vừa ở Massachusetts vừa ở Mỹ vậy.”

Tay thiếu tá nghĩ tôi dám láo lếu nhạo hắn. “Anh của tôi lấy một y tá ở Nottingham, thực tình chưa bao giờ tôi thấy chỗ nào gớm như vậy. Gọi bánh kẹp thịt nguội thì mang ra một miếng nhờn nhờn màu hồng giữa hai miếng cứt khô. Thằng làm món đó là người Ả Rập. Hết thảy bọn taxi là Ả Rập. Nước của anh là lãnh thổ bị chiếm đóng mẹ nó rồi, anh bạn ạ.”

Tôi nhún vai. “Ở Anh có nhiều người dân nhập cư.”

Tay thiếu ta nghiêng người một bên, khạc ra một bãi tướng, nhìn nó rơi xuống đất. “Anh sống trong Vùng Xanh phải không, nhà báo Anh quốc?”

“Không. Tôi ở khách sạn bên kia sông. Khách sạn Safir.”

“Đi sâu đi sát quần chúng nhân dân, nhỉ?”

“Vùng Xanh và Baghdad là hai chỗ khác nhau.”

“Để tôi nói anh nghe về bọn dân Iraq thứ thiệt. Bọn này nói, ‘Chiếm đóng làm mất an ninh!’ Tôi nói, ‘Vậy thì đừng giết, đừng đâm chém, đừng cướp bóc lẫn nhau nữa.’ Bọn chúng tiếp, ‘Người Mỹ lùng sục nhà dân ban đêm, không tôn trọng văn hóa của tụi tôi.’ Tôi nói, ‘Vậy thì đừng đứng trong nhà mà chĩa súng bắn tụi tao nữa, đồ chó.’ Bọn chúng lại tiếp, ‘Vậy cống rãnh, trường học, cầu đường của tụi tôi đâu?’ Tôi nói, ‘Vậy mớ tỉ đô tụi tao cho mày để xây cống rãnh, trường học và cầu đường đâu?’ Chúng tiếp, ‘Tại sao không có điện nước?’ Tôi nói, ‘Ai đánh bom mấy trạm phát phụ và bịt mớ đường ống chết tiệt mà tụi tao đã lắp?’ Rồi chưa hết, bọn giáo sĩ của chúng kèo nèo, ‘Này, nhà thờ cần được sơn lại.’ Tôi nói ‘Vậy thì tụi mày leo lên thang mà sơn đi, quân khốn nạn!’ Nhớ viết vậy lên báo. Mà báo của anh là báo gì?”

“Tạp chí Spyglass. Của Mỹ.”

“Là kiểu sao… giống tạp chí Time hả?”

“Thể loại lề trái ưa lèm bèm, thưa sếp,” một tay lính thủy đánh bộ gần đó lên tiếng.

“Lề trái?” Thiếu tá Hackensack nói như thể mấy tiếng ấy là “Tội ấu dâm”. “Vậy anh là dân lề trái sao, nhà báo Anh quốc?”

Tôi nuốt khan. Đám người Iraq vẫn đang nhìn theo, tự hỏi không biết số phận của họ có đang bị định đoạt bằng cuộc đối thoại bí ẩn mà rõ là gay gắt đó. “Anh được gởi đến đây bởi một trong những chính phủ bảo thủ nhất trong lịch sử. Thực lòng, thưa Thiếu tá, tôi rất muốn nghe quan điểm của anh: anh có nghĩ lãnh đạo của anh là những người khôn ngoan và can đảm không?”

Ngay lập tức tôi nhận ra mình đã đi sai nước. Ai lại đi bóng gió với một sĩ quan đang mất ngủ, nóng giận, rằng tư lệnh của anh ta là đồ đần độn dở hơi, rằng đồng đội của anh ta đã chết một cách vô nghĩa. “Còn đây là câu hỏi cho anh,” Hackensack càu nhàu. “Quý ông nào trong đám này biết thủ phạm bắn hạ trực thăng của tụi tôi?”

Đến lúc này tôi thấy chới với, mất kiểm soát hoàn toàn. “Tụi tôi đến đây chỉ vài phút trước các anh.” Côn trùng vo ve, tiếng máy xe xa xa nổ phành phạch. “Những người này chẳng nói gì với tụi tôi cả. Thời bây giờ họ không thể tin cậy người lạ được, người nước ngoài càng không.” Tay sĩ quan dò xét thật kỹ khi tôi trả lời: có lẽ nên đổi để tài. “Thiếu tá Hackensack, tôi có thể trích dẫn lời anh về người Iraq không?”

Hắn ngả ra sau, nheo mắt nhìn về phía trước: “Anh giỡn mặt với tôi đó hả?”

“Độc giả tạp chí sẽ rất muốn biết quan điểm của anh.”

“Không, anh không được trích dẫn gì hết, và nếu…” Máy bộ đàm của Hackensack rọt rẹt lên tiếng, hắn ta quay mặt đi. “Một-tám-không? Đây là hai-mười sáu: hết. Tình hình xấu, xấu lắm, Một-tám-không, không có ai ở đây cả, trừ con ma Casper và một đám đứng trơ mắt ngó. Tôi sẽ vẫn mở điều tra, cho đủ thủ tục nhưng bọn đầu quấn giẻ sẽ tha hồ cười vào mặt mình. Hết… À há… Rõ rồi, Một-tám-không. Cuối cùng: có tin gì của Balinski chưa, hắn sống không? Hết.” Cánh mũi thiếu tá phập phồng, hàm nghiến ken két. “Khốn nạn, Một-tám-không. Khốn nạn, bỏ mẹ, chó chết. Khốn nạn. Hết.” Hắn ném một hòn đá: hòn đá đập vào vỏ chiếc Kiowa. “Không, thôi khỏi đi. Bọn hành chính căn cứ làm được [bad word] gì. Báo trực tiếp cho liên lạc đơn vị của hắn đi. Ô kê, hai-mười sáu, hết và ngắt máy.” Thiếu tá Hackensack nhìn tên lính da đen, lắc đầu, rồi hằn học nhìn về phía tôi. “Anh chỉ thấy một gã quân nhân mồm thối, phải không? Anh chỉ thấy một nhân vật biếm họa, một đám lính lỗ mãng. Anh nghĩ tụi tôi đáng bị như thế này…” hắn hất đầu về phía xác máy bay “…chỉ vì tụi tôi ở đây. Nhưng người chết, họ cũng có con cái, có gia đình, cũng như anh. Họ muốn làm gì đó trong đời, cũng như anh. Nhưng khác với anh, thưa ông nhà báo Anh quốc, họ phải trả giá cho sự dối trá của kẻ khác bằng mạng sống của mình. Họ can đảm hơn anh. Họ tử tế hơn anh. Họ xứng đáng được đối xử tốt hơn anh. Vậy anh và thầy trò Người dơi và Robin kia, làm ơn biến khuất mắt tôi. Đi ngay.”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của david mitchell