Assalaam aleikum.” Bà lão Ireland có mái tóc bạc trắng như mây, mặc áo choàng poncho bằng len cashmere có họa tiết zigzag lên tiếng. Bà lão đúng kiểu người mà ta không bao giờ dám trái ý.
Tôi đặt ly Drambuie xuống bàn. “Waleikum assalaam.”
“Rồi sao nữa ta? Shlon hadartak?”
“Alhamdulillah. Bà xứng đáng được một ly, bà Eilísh.”
“Anh thật tử tế. Hi vọng tôi không phiền anh quá chứ?”
“Không hề.” Chỉ còn mỗi tôi và Eilísh đứng trong góc phòng tiệc. Tôi thấy Aoife, đang chơi trò đập tay đọc vè với một cháu gái của chú rể Peter, còn Holly thì tiếp tục nói chuyện với bà con người Ireland nào đó nữa. “Ở bar trên lầu người ta có trữ một chai.”
“Trên đường đi ngươi có gặp sinh vật ngoài hành tinh nào không?”
“Nhiều lắm. Bar trên đó như cảnh tượng trong phim Chiến tranh giữa các vì sao.” Tôi đoán một bà lão người Ireland tám mươi tuổi sẽ không hiểu tôi đang nói gì. “Chiến tranh giữa các vì sao là một bộ phim khoa học viễn tưởng cũ, có đoạn…”
“Lão từng đi xem ở rạp chiếu bóng Bantry khi phim mới ra, xin đa tạ. Một đàn chị và lão cùng đi xem, trả bằng mấy quan tiền thời đó.”
“Xin phép bà, cháu không có ý… Ừm…”
“Sláinte.” Bà lão chạm ly Drambuie với ly G&T của tôi. “Ơn Chúa, ngon thật. Giờ kể tôi nghe nào. Anh đã đến Amara và khu đầm lầy ở Iraq chưa?”
“Dạ chưa, thật đáng tiếc. Khi ở Basra cháu có hẹn phỏng vấn thống đốc Anh ở Amara nhưng ngay trong sáng đó trụ sở Liên hợp quốc bị đánh bom ở Baghdad, vậy là cháu lái xe ngược về. Giờ Amara quá nguy hiểm, không thể đến được, vậy là cháu đã bỏ lỡ cơ hội. Bà từng đến đó sao?”
“Một vài tháng trước khi Thesiger đến, đúng thế, nhưng tôi chỉ ở đó hai tuần. Bà vợ tù trưởng mê tôi lắm. Anh biết không, đến giờ tôi vẫn nằm mơ thấy khu đầm lầy đó? Nghe đâu cũng không còn gì nhiều.”
“Saddam cho người rút hết nước, để kẻ thù không có chỗ ẩn nấp. Những chỗ còn lại thì đầy rẫy mìn từ hồi chiến tranh Iran.”
Eilísh cắn môi và lắc đầu. “Một con người kinh khủng, một tay tiêu diệt cả một vùng đất, một lối sống…”
“Lúc đi phiêu lưu đó bà không bao giờ thấy sợ hãi sao?”
“Tôi thủ sẵn một khẩu Browning dưới yên xe.”
“Bà có bao giờ dùng không.”
“À, chỉ một lần thôi.”
Tôi đợi nghe câu chuyện, nhưng bà trẻ Eilísh chỉ mỉm cười, già cả hiền hậu. “Hôm nay thật vinh hạnh gặp anh ngoài đời, Ed à, cuối cùng cũng gặp được.”
“Cháu xin lỗi, cháu vẫn chưa đưa Holly và Aoife đi thăm bà. Chỉ vì…”
“Công việc, tôi biết. Công việc. Anh còn phải đi đưa tin chiến sự. Tôi có đọc bài anh viết mỗi khi có thể. Holly có gởi mấy bài cắt ra từ Spyglass. Vậy, cha của anh cũng là nhà báo sao? Di truyền hả?”
“Không hẳn thế. Cha cháu là… dân làm ăn.”
“Vậy sao? Làm gì vậy, tôi hỏi được không?”
Thôi thì tôi cứ nói thật là hơn. “Ăn trộm. Mặc dù từng chuyển ngành làm đồ giả và hành hung đánh người. Ông ấy lên cơn đau tim chết trong phòng tập thể dục nhà tù.”
“Tôi đúng là bà lão lắm chuyện nhỉ? Thứ lỗi cho tôi nhé, Ed.”
“Có gì đâu ạ.” Mấy đứa bé chạy ngang qua bàn của chúng tôi. “Mẹ cháu dạy dỗ rất nghiêm khắc, lúc ở Gravesend. Nhà chẳng dư dả gì, nhưng cậu Norm của cháu cũng hay giúp đỡ mỗi khi có thể, và… và… mẹ cháu rất tuyệt. Mẹ cũng đi xa rồi.” Tôi thấy ngường ngượng. “Trời đất, nghe như Oliver Twist ấy. Mẹ cháu đã được bế Aoife trong tay. Cháu cũng thấy an ủi. Cháu có hình chụp hai bà cháu.” Từ cuối phòng chỗ ban nhạc đứng có tiếng reo hò và vỗ tay. “Chao ơi, nhìn Dave và Kath kìa.” Cha mẹ Holly đang khiêu vũ theo bản ‘La Bamba’ trông sành điệu hết biết.
“Sharon có kể là hai người đang tính học nhảy nữa.”
Tôi quá ngượng, không dám nhận là mình không biết. “Holly có nói.”
“Tôi biết anh bận lắm, Ed à, nhưng chỉ cần vài ngày thôi cũng được, đi xứ đảo Đầu Cừu mùa hè này đi. Tệ gì thì đám gà của tôi cũng nhường chỗ ngủ cho anh, đừng ngại. Mấy năm rồi Aoife sang chơi, lần nào cũng thích mê. Anh qua đó, dẫn nó đi cưỡi ngựa ở Durrus, hoặc đi dã ngoại ở hải đăng chỗ mũi đất.”
Tôi rất muốn nhận lời với Eilísh, nhưng nếu tôi nhận lời với Olive, tôi sẽ ở Iraq suốt mùa hè. “Nếu đi được, cháu sẽ đi. Holly có một bức tranh cô ấy vẽ nhà của bà. Holly quý lắm, nếu cháy nhà thì chỉ cần cứu bức tranh đó thôi. Nhà chúng cháu ấy.”
Eilísh chướm cặp môi nhăn nheo như trái mận khô. “Anh biết không, tôi còn nhớ cái ngày nó vẽ bức tranh đấy? Kath đi qua thăm nhà Donal ở Cork, để Holly ở với tôi vài ngày. Hồi đó là năm 1985. Nhà đang gặp chuyện buồn kinh khủng, chắc anh nhớ… vụ Jacko.”
Tôi gật đầu, tiếp tục uống, rượu gin lạnh tê cả nướu.
“Cả nhà rất khổ tâm cứ mỗi dịp tụ họp gia đình. Nếu còn thì giờ Jacko đã lớn chừng nào rồi. Anh có quen thằng bé không, hồi anh ở Gravesend ấy?”
“Không. Chỉ nghe tiếng thôi. Ai cũng nói nó là dị nhân hoặc thiên tài, hoặc… Bà biết rồi đó. Trẻ con cũng ác miệng lắm. Cháu học cùng lớp với Holly, nhưng đến lúc cháu quen Holly thì thằng bé đã… Chuyện đã xảy ra rồi.” Chừng đó ngày tháng, núi non, chiến tranh, hạn nộp bài, bia bọt, những chuyến bay, sách vở, phim phiếc, mì gói và thi thoảng là những cái chết… nhưng tôi vẫn nhớ rõ lúc đạp xe qua đảo Sheppey, đến nông trại của Gabriel Harty. Tôi nhớ mình hỏi Holly, “Jacko có ở đây không?” và nhìn mặt nàng cũng biết là nó không đó. “Bà có thân với Jacko không hả bà Eilísh?”
Bà lão chậm rãi thở dài. “Kath có đưa nó sang lúc nó chừng năm tuổi. Một chú bé dễ thương, nhưng không có gì quá nổi bật. Rồi sau đó tôi gặp lại nó, sau mười tám tháng, tức là sau đợt bị viêm màng não.” Bà lão uống Drambuie và chu miệng lại. “Thời xưa, người ta hay gọi những đứa như nó là thể loại ‘bà nhập’, bị người Trời đánh tráo, nhưng ngày nay tâm thần học đã tiến bộ. Jacko sáu tuổi là… một đứa trẻ hoàn toàn khác.”
“Khác như thế nào cơ?”
“Nó biết nhiều thứ - về thế giới, về con người, đủ cả… Những thứ mà mấy chú bé con không hề, không thể và không nên biết. Nó cũng chẳng phải là đứa ưa khoe khoang gì. Jacko biết cách giả vờ ngây thơ, nhưng,” Eilísh nhìn ra xa, “nếu nó tin tưởng ai, người đó sẽ thấy thôi. Lúc đó tôi làm thư viện ở Bantry, tôi mượn cuốn Cái cây xa xôi thần kì của Enid Blyton cho nó, trước hôm nó đến, vì Kath từng nói nó là đứa mê đọc, như Sharon vậy. Jacko đọc liền một mạch, nhưng không nói là thích hay không. Vậy là tôi hỏi nó, nó trả lời, ‘Nói thật lòng sao hả bà dì?’ Tôi đáp, ‘Đương nhiên, chứ chẳng lẽ bà muốn cháu nói không thật lòng sao?’ Nó nói, ‘Được rồi, vậy thì cháu thấy nó hơi bị ấu trĩ, bà dì à.’ Sáu tuổi, mà nó dùng từ ‘ấu trĩ’! Ngày hôm sau tôi đem Jacko đến chỗ làm - thề, tôi không hề bịa - nó lấy ngay cuốn Đợi chờ Godot từ trên kệ xuống. Tác phẩm của Beckett. Thực lòng lúc đó tôi nghĩ Jacko ưa gây sự chú ý, muốn gây ấn tượng với người lớn. Nhưng rồi đến bữa trưa, hai bà cháu ăn bánh mì kẹp chỗ gần bãi thuyền, tôi hỏi nó thấy Samuel Beckett viết thế nào, và…” Eilísh nhấp Drambuie “… tự dưng Spinoza và Kant cũng nhập cuộc với hai bà cháu. Tôi cố gặng cho bằng được, hỏi thẳng nó, ‘Jacko, làm sao cháu biết những chuyện này?’ rồi nó đáp, “Chắc cháu nghe trên xe buýt đâu đó, bà dì à. Cháu chỉ mới sáu tuổi mà.” Eilísh lắc nhẹ ly rượu. “Kath và Dave có đi gặp bác sĩ chuyên khoa, nhưng vì Jacko không đau ốm nên có gì mà lo?”
“Holly hay nói rằng bệnh viêm màng não làm thay đổi đầu óc của thằng bé… như thể nhờ đó mà dung lượng não tăng lên rất nhiều.”
“À, thì người ta vẫn nói thần kinh học là giới hạn cuối cùng đó sao.”
“Nhưng bà không tin bệnh viêm não là lý do, đúng không?”
Eilísh ngập ngừng: “Thứ thay đổi không phải là não thằng bé, Ed à, mà là linh hồn của nó.”
Tôi cố làm mặt nghiêm túc. “Nhưng nếu linh hồn khác đi, thì nó…”
“Không. Nó không còn là Jacko nữa. Không phải là đứa bé đến thăm tôi hồi năm tuổi. Jacko sáu tuổi là một người hoàn toàn khác.” Gương mặt những người tám mươi tuổi thật khó đọc: da quá nhăn nheo và mắt như chim, các manh mối cảm xúc đều bị che giấu. Ban nhạc đã bị đám bà con ở Cork uy hiếp: vừa phải chuyển đánh bài “The Irish Rover”.
“Cháu đoán bà chưa từng nói chuyện này với ai, phải không Eilísh?”
“Đúng thế. Nói vậy nghe vừa điên khùng, vừa làm người ta đau lòng. Tôi chỉ có nói với một người thôi. Là chính nó. Một vài đêm sau cái ngày nó đọc Beckett, trời có bão, sáng ra tôi và Jacko đi lượm rong biển chỗ vịnh bên dưới khu vườn, rồi tôi buột miệng hỏi: ‘Jacko, ngươi là ai?’ Nó đáp, ‘Tôi là một người khách hiền lành, Eilísh à.’ Thế đấy. Tôi không thể cố mà hỏi tiếp, ‘Vậy Jacko đâu rồi?’ nhưng bằng cách nào đó nó hẳn đã nghe được suy nghĩ của tôi. Nó nói rằng Jacko không thể ở lại, nhưng nó đang giữ gìn ký ức của Jacko. Đó là khoảnh khắc kỳ lạ nhất trong đời tôi, mà đời tôi không thiếu chuyện lạ.”
Tôi duỗi chân, chân tôi tê cứng. “Rồi bà làm gì?”
Eilísh làm vẻ mặt thì-thôi-chứ-sao. “Hai bà cháu trải rong biển lên đám cà rốt. Như thể đã thỏa thuần ngầm vậy. Kath, Sharon và Holly bay về Anh ngày hôm sau. Chỉ khi,” bà lão nhướng mày, “tôi nghe tin thằng bé mất tích…” bà nhìn tôi “tôi cứ tự hỏi liệu việc nó đi có như cách nó đến…”
Một chai rượu bật nút “pop!”, cả bàn reo hò.
“Cháu rất cảm kích bà đã tin tưởng cháu mà kể chuyện, Eilísh à, thật lòng đấy, nhưng tại sao bà lại kể hết những chuyện này cho cháu?”
“Tôi được lệnh phải kể.”
“Nhưng ai… ai …lệnh?”
“Kịch Bản.”
“Kịch bản nào kia?”
“Tôi có thứ Trời cho Ed à.” Bà lão người Ireland có cặp mắt màu xanh lá như mắt chim gõ kiến lông đốm. “Giống Holly vậy. Anh hiểu tôi đang nói chuyện gì, hẳn anh phải hiểu.”
Tiếng trò chuyện lúc xa lúc gần, như sóng biển vỗ bờ sỏi. “Cháu đoán bà muốn nói đến chuyện Holly nghe thấy những giọng nói trong đầu khi còn nhỏ, và thứ mà vài người gọi là những khoảnh khắc ‘tiền thức’.”
“À, đúng là có nhiều tên gọi khác nhau.”
“Cũng có những cách giải thích về mặt y khoa rất hợp lý nữa, bà Eilísh à.”
“Tôi chắc là có chứ, nếu anh tin. Nhưng trong tiếng Ireland tụi tôi gọi đó là cluas faoi rún. Chiếc tai bí mật.”
Bà trẻ Eilísh đeo vòng tay đá mắt hổ. Mấy ngón tay cứ lần lần trên đó khi nói chuyện và quan sát tôi.
“Eilísh, cháu phải nói… ý cháu là, cháu rất tôn trọng Holly, bà biết đó… rõ là cô ấy có trực giác rất nhạy - đôi khi đến là kỳ khôi. Cháu cũng không có ý bỉ bôi gì truyền thống ở đây cả, nhưng…”
“Nhưng anh thà tự gặm nhẵn cánh tay mình còn hơn là tin mấy thứ vớ vẩn như con mắt thứ ba và lỗ tai bí mật nọ kia từ miệng bà già Tây Cork lẩn thẩn dở chứng.”
Đúng là tôi nghĩ thế thật. Tôi mỉm cười, xin lỗi. “Thế cũng tốt thôi, Ed. Cho anh…” Tôi thấy thái dương mình đau nhói.
“… nhưng không phải cho Holly. Nó phải sống với điều đó. Khó lắm, tôi biết. Ở London hào nhoáng hiện đại sẽ khó hơn nhiều so với tôi ở Ireland xưa cũ mờ mịt. Nó sẽ cần anh giúp. Sớm thôi, tôi nghĩ thế.”
Đây có lẽ là câu chuyện quái gở nhất mà tôi từng dự phần ở đám cưới. Nhưng ít ra nó không liên quan gì đến Iraq. “Cháu phải làm gì?”
“Tin Holly, nếu anh không tin điều ấy.”
Kath và Ruth bước đến, mặt bừng hồng hào sau màn nhảy Latin. “Hai người ngồi đây làm gì mà rủ rỉ rù rì cả buổi tối.”
“Eilísh kể chuyện phiêu lưu Ả Rập,” tôi đáp, vẫn còn bâng khuâng về câu nói cuối cùng của bà lão.
Ruth hỏi, “Hai người có thấy Kath và Dave nhảy lúc nãy không?”
“Có thấy, hoan hô cả hai,” bà trẻ Eilísh đáp. “Dave trông ngon lành lắm, nhất là đã tuổi đấy rồi.”
“Lúc mới quen nhau tụi này vẫn hay đi nhảy,” Kath kể, giọng bà đặc chất Ireland khi ở giữa những người bà con, “nhưng từ hồi làm quán Thuyền Trưởng Marlow thì không đi nữa. Ba mươi năm không đêm nào được nghỉ cả hai người.”
“Gần ba giờ kém mười lăm rồi, bà Eilísh,” Ruth nói. “Taxi của bà sẽ đến bây giờ. Bắt đầu đi tạm biệt là vừa.”
Không! Bà lão không thể vừa nói chuyện siêu linh với tôi rồi đi ngay.
“Cháu cứ tưởng tối nay bà sẽ ở lại suốt đêm chứ, bà Eilísh”
“Ôi, tôi biết sức mình chứ.” Bà lão tựa cây gậy chống đứng dậy. “Oisín sẽ đi với tôi ra sân bay, ông O’Daly hàng xóm sẽ ra đón tôi ở sân bay Cork. Anh có vé mời đến thăm Cork rồi đấy. Nhớ dùng trước khi hết hạn. Hay trước khi tôi hết hạn.”
Tôi nói, “Trông bà vẫn còn ngon lành lắm.”
“Chúng ta ai cũng còn ít thời gian hơn mình tưởng, Ed à.”
Những đám mây gợn hồng giữa dải bầu trời hẹp trên thanh chắn chạy dọc theo xa lộ về Baghdad từ phía tây nam. Xe cộ đông nghịt, chậm chạp, ngay cả ở làn phụ; dặm cuối cùng trước khi về đến khách sạn Safir chiếc Corolla di chuyển như một gã béo phì chạy bộ. Những chiếc xe máy chở quá tải chạy vượt qua. Nasser lái xe, Aziz gà gật còn tôi ngồi thụp xuống phía sau tấm bình phong làm bằng mớ áo sơ mi. Baghdad giờ đây là một thành phố tối tăm theo nhiều nghĩa - không có điện thắp đèn đường - buổi chập choạng khiến ta thấy hoang mang rờn rợn, chỉ muốn về đến nhà đóng cửa cài then. Hôm nay cả ba đã thấy vài thứ vô cùng xấu xí và tâm trạng Nasser như ảm đạm hơn bình thường. “Vợ tui á, Ed, vợ tui hồi nhỏ sướng. Ông già làm bên công ty dầu, đi học trường ngon, đủ tiền, bả thông minh, bả siêng học nữa, Baghdad hồi đó cũng là chỗ sống được. Ngay cả sau khi chiến tranh Iran bắt đầu vẫn có nhiều công ty Mỹ ở đây. Ông Reagan gởi tiền, gởi vũ khí, gởi chuyên gia CIA cho Saddam - gởi hóa chất chiến tranh. Saddam hồi đó là đồng minh Mỹ, anh biết rồi đó. Thời ngon lành. Tui mới choai choai, chạy Suzuki 125, mặc áo da, ngon lành. Ngồi cà phê cà pháo tới khuya với bạn. Gái gú, nhạc nhiếc, sách vở, linh tinh đủ món. Lúc đó có tương lai. Ông già vợ tui quen biết, nên tui không phải đi lính. Tạ ơn Thượng đế. Tui có việc ở đài phát thanh, làm cho Bộ Thông Tin. Rồi hết chiến tranh. Tụi tui thở phào, nghĩ giờ Saddam sẽ đầu tư phát triển, đại học này kia, Iraq sẽ thành Thổ Nhĩ Kì. Rồi tới vụ Kuwait. Mỹ mới nói, ‘Ô kê, đánh đi, Kuwait là tranh chấp biên giới địa phương’ Nhưng mà dễ gì. Đùng cái có nghị quyết Liên Hợp Quốc. Tụi tui ngơ ngẩn, chẳng hiểu mô tê chi? Saddam như con vật bị dồn vào đường cùng, mặt mũi đâu mà rút quân. Hồi chiến tranh Kuwait công việc của tui rấấất là sáng tạo - làm sao đưa tin thất bại thành tin chiến thắng cho Saddam. Nhưng lúc đó thì thấy tương lai mù mịt. Ở nhà tụi tui nghe đài BBC tiếng Ả rập, hai vợ chồng bí mật nghe. Quá chừng ghen tị với nhà báo BBC, được tự do đưa tin thiệt sự. Tui muốn làm vậy đó. Nhưng không. Tụi tui suốt ngày bịa chuyện về người Kurd, về Saddam và con trai ổng, về Đảng Ba’ath, về tương lai sáng sủa của Iraq. Nếu cố viết sự thật thì sẽ chết ở Abu Ghraib. Rồi tới vụ 9/11, rồi Bush nói, ‘Lật đổ Saddam.’ Tụi tui vui lắm. Tụi tui lo chớ, nhưng vui. Rồi, vậy mà Saddam, tên khốn kiếp đó, hắn đi thiệt. Tui nghĩ, ông Trời có mắt, Iraq làm lại từ đầu, Iraq vươn dậy như… con chim lửa đó, gọi là gì hả Ed?”
“Phượng hoàng.”
“Vậy nên, tui nghĩ, Iraq vươn dậy như con phượng hoàng, tui thành nhà báo thiệt sự. Tui nghĩ, tui sẽ muốn đi là đi, muốn nói với ai cũng được, muốn viết gì thì viết. Tui nghĩ, con gái tui sẽ có tương lai sự nghiệp, như bà vợ tui hồi xưa, rồi tụi nó sẽ có tương lai. Tượng Saddam bị lính Iraq và lính Mỹ kéo đổ - nhưng chỉ tới đêm thì bắt đầu có hôi của trong bảo tàng. Lính Mỹ chỉ đứng giương mắt ngó. Tướng Garner nói, ‘Lẽ tự nhiên thôi, thời hậu Saddam mà.’ Tui nghĩ, Trời ơi, người Mỹ đâu có kế hoạch gì. Tui nghĩ, rồi cũng tới ngày đốn mạt. Tiền để xây trường học bị ăn cắp. Vậy là không có trường lớp gì cả một thời gian. Con gái tui không được đi ra ngoài. Quá nguy hiểm. Tụi nó ở nhà cả ngày, cãi nhau, đọc sách, vẽ vời, mơ mộng, nếu có nước thì tắm rửa, nếu có điện thì xem nhờ tivi hàng xóm. Tụi nó thấy mấy đứa con gái bên Mỹ, ở Beverly Hills, đi học, lái xe, bồ bịch này kia. Mấy đứa trên tivi có phòng ngủ to bằng nhà tụi tui, có phòng chỉ để đựng áo quần giày dép. Trời đất! Mấy đứa con gái tui mơ mộng khổ sở lắm. Khi người Mỹ đi rồi, ở Iraq chỉ có hai tương lai. Một tương lai toàn súng toàn dao, Sunni đánh Shi’a, không có hồi kết. Như Lebanon hồi những năm 1980. Tương lai khác là thành chỗ của người Hồi giáo, luật Shariah, áo choàng burkha. Như Afghanistan bây giờ. Omar em họ tui trốn qua Beirut hồi năm ngoái, rồi đi Brussel tìm đàn bà con gái để lấy vợ, già trẻ gì cũng lấy, miễn có hộ chiếu EU. Tui nói, “Omar, Trời ơi, mày điên hả? Mày đâu có lấy người ta, mày lấy cái hộ chiếu thì đúng hơn.” Hắn nói, “Sáu năm thôi, tui đối xử với người ta đàng hoàng, với ông bà gia nữa, rồi lên kế hoạch li dị cẩn thận, rồi tui thành dân EU, tui thành người tự do, tui được ở lại.” Giờ hắn đang ở bên đó. Thành công. Ngày hôm nay tui nghĩ, Không, Omar đâu có khùng. Tụi tui ở lại, tụi tui mới khùng. Tương lai chết hết rồi.”
Tôi không biết phải nói gì. Chiếc xe nhích từng chút một, qua một quán cà phê Internet đông đen, mấy cậu bé ngồi há hốc, tay cầm bộ điều khiển, mắt dán vào màn hình nơi lính thủy đánh bộ Mỹ đang bắn những tay du kích trông giống người Ả Rập trên những con phố tan hoang, rất có thể là Baghdad hay Fallujah. Tôi đoán hẳn trò chơi không có lựa chọn phe du kích cho người chơi.
Nasser vứt đầu thuốc qua cửa sổ. “Iraq. Nát hết.”
Hình như tôi đang ngà ngà say. Holly đang đứng cạnh mấy cái bát bạc đựng rượu hoa quả, giữa một đám phụ nữ nói liên thanh như súng bắn. Người nhà Webber, người nhà Sykes, người nhà Corcoran ở Cork, ông kia bà nọ… Mấy người này là ai vậy trời? Tôi đi ngang một cái bàn, Dave đang chơi Connect 4 với Aoife, thua con bé xiểng liểng. Tôi chưa bao giờ chơi với Aoife như thế: con bé cười khúc khích khi ông ngoại ôm đầu rên rỉ, “Khôôông, không lẽ Aoife lại thắng nữa! Ông ngoại mới là quán quân Connect 4 chứ!” Ước gì khi nãy tôi đừng làm mặt lạnh trả đũa Holly. Tôi quyết định sẽ xuống nước trước. Nếu nàng còn cố tình gây sự thì sẽ rõ ai là kẻ khó chịu, ai là người biết điều. Chỉ cách ba nhóm người ăn mặc bảnh bao nữa là đến chỗ người đàn bà ấy, tức bạn đời của tôi - tự dưng Pauline Webber chen ngang chặn đường kéo theo một thanh niên gầy gò. Cậu này ăn mặc như sắp đi đánh giải billiard thanh thiếu niên - áo lụa tím, gi lê cùng màu, nước da xanh xao. “Ed, Ed, Ed,” bà ta reo lên. “Cuối cùng cũng gặp. Đây là Seymour, tôi có kể hết với anh rồi đó. Seymour, Ed Brubeck, nhà báo thứ thiệt.” Seymour cười, thoáng thấy toàn niềng răng. Bàn tay của cậu ta xương xẩu, lóng ngóng như máy gắp thú trong khu trò chơi. Pauline mỉm cười, như một bà mối hài lòng. “Anh biết không, giờ tôi sẵn sàng lấy đồ khui rượu đâm người ta, chỉ để có máy ảnh mà chụp hai người một pô?” Nhưng bà ta không thèm hô lấy một tiếng, quanh đó thiếu gì máy ảnh.
Cái bắt tay của Seymour hơi bị lâu. Hàng chân mày hằng hà sa chi chít mụn - trông như hình chữ W bẹp của chòm sao Thiên Hậu - rồi cái cảm giác ngà ngà say rằng tôi đã từng mơ thấy cảnh này bị đè bẹp bởi cái cảm giác, không, tôi chỉ mơ thấy cái cảm giác là tôi từng mơ thấy cảnh này thôi. “Tôi rất hâm mộ các bài viết của anh, anh Brubeck.”
“Ồ.” Một kẻ nuôi mộng báo chí, hẳn là bị bùi tai bởi những câu chuyện phiêu lưu táo bạo, chuyện làm tình với những nữ phóng viên ảnh người Đan Mạch ở những nước có hậu tố -stan.
“Anh nói là anh có thể chia sẻ vài bí kíp nghề nghiệp,” Pauline Webber lên tiếng.
Tôi nói vậy sao? “Tôi nói sẽ chia sẻ bí kíp nào vậy, Pauline?”
“Quỷ sứ, Ed à.” Bà ta đấm vào bông cẩm chướng cài áo tôi. “Đừng có làm bộ làm tịch với tôi - giờ là người nhà cả rồi nhé.”
Tôi phải đến chỗ Holly. “Seymour, cậu muốn biết gì?”
Seymour nhìn tôi chăm chăm bằng cặp mắt gian giảo và nụ cười máy móc của một nghệ sĩ nói bụng, trong khi giọng của Pauline Webber tiếp tục cắt ngang tiếng ồn inh tai: “Vậy làm sao để thành một nhà báo giỏi?”
Tôi đang cần thuốc giảm đau, ánh sáng tự nhiên và không khí. “Theo lời của một bậc đàn anh ngày trước,” tôi nói với thằng nhóc, “‘Một nhà báo giỏi phải láu cá như chuột, có phong thái đĩnh đạc, cộng thêm một chút khả năng viết lách.’ Chừng đó được chưa?”
“Còn các bậc thành danh thì sao?” Pauline Webber tiếp tục khai hỏa.
“Thành danh? Những người đó điều có một tính cách chung, mà Napoleon từng ngưỡng mộ ở các tướng của mình: may mắn. Có mặt ở Kabul ngay hôm thất thủ. Có mặt ở Manhattan đúng dịp 9/11. Có mặt ở Paris trong đêm tài xế của công nương Diana phạm sai lầm chết người.” Tôi nheo mắt, cửa sổ như vỡ tung, nhưng không, không phải bây giờ, vụ đó đã mười ngày rồi. “Nhà báo lấy tin tức làm vợ, Seymour à. Cô vợ này cực kỳ đỏng đảnh, độc ác và ghen tuông. Cô nàng bắt ta phải đi theo đến nơi nào sống rẻ nhất trên Trái Đất, cô ta ở đó một hai ngày rồi biến đi. Bản thân ta, sự an toàn của ta, gia đình ta đều không là gì cả…” Tôi nói như thể đang thở ra một vòng khói thuốc lá, “không là gì cả với cô ả. Ta cứ tự nhủ là ta sẽ có cách làm sao để vẹn toàn cả công việc lẫn gia đình, nhưng không. Toàn vớ vẩn cả. Cô vợ này sẽ bắt ta đến những nơi chỉ có bác sĩ với lính tráng đến, nhưng trong khi bác sĩ được người ta tôn làm thánh, lính tráng được xây đài tưởng niệm thì anh nhà báo, Seymour à, chỉ có được chấy rận, bỏng lạnh, tiêu chảy, sốt rét và nhiều đêm trong tù. Anh ta sẽ bị nhổ vào mặt, mắng là đồ kí sinh, sẽ bị hoạnh họe mỗi khi xin thanh toán công tác phí. Nếu cậu muốn có cuộc sống hạnh phúc, Seymour, thì làm nghề khác. Với cả, nhà báo cũng gần tuyệt chủng rồi.” Nói xong, tôi chen giữa hai người, đến chỗ đám bát bạc đựng rượu hoa quả, cuối cùng cũng đến nơi…
…mà chẳng thấy Holly đâu. Điện thoại tôi rung lên. Tin nhắn của Olive Sun. Tôi kéo màn hình xuống:
CHÀO ED, ĂN CƯỚI VUI CHỨ, DUFRESNE OK VỤ PHỎNG VẤN THỨ NĂM NGÀY 22. ANH BAY TỚI CAIRNS THỨ TƯ NGÀY 21 ĐƯỢC KHÔNG? BÀ DÌ BUÔN TRÁI CÂY SẼ ĐÓN ANH Ở KHÁCH SẠN. HỒI ÂM SỚM, CHÀO, OS
Suy nghĩ đầu tiên của tôi là, Kết quả! Nghi ngờ thư từ của Spyglass bị một vài cơ quan chính phủ can thiệp, Olive Sun quyết định nhắn tin bằng mật khẩu: Dufresne là biệt hiệu tụi tôi chọn, lấy từ Nhà tù Shawshank, dành cho tay tổng-tư-lệnh người Palestine phụ trách đào hầm dưới biên giới Gaza - Ai Cập; Cairns là Cairo, “buôn trái cây” là Hezbollah; còn bà dì là một tay dàn xếp. Đúng những thứ sặc mùi hình sự, điệp viên Bond mà những đứa nhóc như Seymour nghĩ cánh nhà báo làm thường xuyên: nhưng chẳng có gì Bond biếc ở đây cả, khi bị an ninh biên giới Ai Cập bắt giam bảy mươi hai tiếng ở một nhà tù Cairo chỉ để chờ một tên điều tra viên chán nản đến hạch hỏi cớ gì mà đến đây. Tôi gợi ý bài này cho Olive hồi mùa thu năm ngoái, bà ta chạy vạy không biết bao nhiêu chỗ để dàn xếp. Dufresne (nếu hắn ta là một chứ không phải mười người) là một huyền thoại ở Ai Cập, Dải Gaza và Jordan. Cuộc phỏng vấn sẽ là một đòn táo bạo, tăng uy tín của tạp chí Spyglass ở các nước Ả rập đến mười lần. Bao vây cấm vận không làm người ta để ý: chẳng có gì để nói hay để xem. Ai thèm quan tâm nếu người Israel cấm nhập khẩu sữa bột vào dải Gaza? Nhưng câu chuyện về địa đạo ngầm dưới những bức tường lại là chuyện khác hẳn. Đúng kiểu Chạy trốn từ nhà tù Colditz, kiểu Bá tước Monte Cristo, người ta sẽ sẵn sàng há miệng mà đớp lấy những chuyện như thế. Tôi vừa định nhắn trả lời đồng ý thì nhớ ra: bảy giờ tối thứ Tư tuần tới, cô Aoife Brubeck sẽ lên sân khấu một đêm duy nhất, đóng vai Con sư tử hèn nhát trong vở kịch Phù thủy xứ Oz ở trường tiểu học nhà thờ Anh giáo Thánh Jude, cha của cô đã được mời đến dự..
Thể loại ông bố ích kỉ nào lại nhỡ dịp xem con gái mình lên sân khấu? Việc quái gì phải quan tâm đến những đứa bé sáu tuổi của người khác, những đứa trẻ sẽ chẳng bao giờ được đóng vai gì cả vì chúng đã chết khi xe ủi Israel hay đạn rocket của Hezbollah cày nát nhà cửa? Chúng đâu phải con cái ta. Ta quá khôn, được sinh ra ở những nơi không có khói lửa. Hiểu ra vấn đề chưa hả Seymour?
Tay bảo vệ trực ở chốt kiểm soát khách sạn Safir nhận ra xe của Nasser, hắn nhấc thanh chắn lên, vẫy tay cho xe vào. Xe nặng nhọc dừng lại, Nasser nói, “Ô kê, Ed, vậy Aziz với tui sẽ tới mười giờ sáng mai. Anh với tui sẽ chép lại từ băng ghi âm. Aziz sẽ đem hình tới. Bài hay. Olive sẽ rất vui.”
“Gặp lại anh mười giờ sáng mai.” Vẫn ngồi trong xe, tôi đưa cho Nasser một phong bì đựng mớ đô la tiền Spyglass trả công ngày hôm đó. Hai người bắt tay, Aziz để tôi nhảy ra ở phía cửa của anh ta, chiếc Corolla chuyển bánh. Xe dừng lại ngay sau đó vài mét. Tôi tưởng máy móc có vấn đề nhưng Nasser quay cửa sổ xuống, vẫy vẫy một thứ gì đó về phía tôi. “Ed, giữ cái này đi.”
Tôi bước đến, Nasser đặt máy ghi âm vào tay tôi. “Tại sao? Ngày mai anh còn tới kia mà.”
Nasser nhăn mặt. “Để đây với anh an toàn hơn. Nhiều thứ trên băng lắm.” Rồi gã lái quanh vòng xoay, trở lại chỗ chốt kiểm soát. Tôi bước lên bậc thang của khách sạn, mỗi cửa sổ là một hình chữ nhật tối om. Ngay cả khi có điện, khách sạn cũng cảnh báo khách không nên bật đèn buổi tối, đề phòng mấy tay bắn tỉa. Ở cổng bọc thép, Tariq- tay bảo vệ ôm khẩu Dragunov chào tôi. “Hàng họ ngon lành hở ông Ed?” Tariq rất thích thực hành tiếng lóng.
“Không có gì để phàn nàn, Tariq. Hôm nay êm chứ?”
“Hôm nay êm. Tạ ơn Chúa.”
“Big Mac về rồi sao?”
“Vâng, về rồi. Ổng ở dưới bar.”
Tôi lót tay cho Tariq và ba đồng nghiệp thật hậu hĩnh, để họ báo tôi nếu có ai hỏi thăm, và nếu có thì trả lời bâng quơ cho qua chuyện. Tôi không thể chắc chắn rằng Tariq không chơi trò một chân đạp hai xuồng, nhưng có thờ có thiêng, có kiêng có lành. Từ cổng tôi đi qua cửa gương, vào sảnh lễ tân hình tròn, đèn công suất thấp chiếu lập lòe trên bàn trực. Trên trần có một chùm đèn hoành tráng nhưng tôi chưa bao giờ thấy bật lên, bây giờ cả chùm đèn bọc đầy mạng nhện. Tôi chưa bao giờ nhìn lên đó mà không tưởng tượng cảnh nó rơi xuống. Ông Khufaji, quản lý khách sạn đang giúp một thanh niên chất ắc quy xe cũ lên xe đẩy hành lý. Ắc quy chết được đổi với ắc quy sống mỗi sáng, như người ta đổi chai sữa lúc tôi còn nhỏ. Khách trọ dùng ắc quy để chạy máy tính xách tay và điện thoại vệ tinh.
“Chào anh Brubeck,” ông quản lý lên tiếng, lấy khăn mùi soa chặm trán. “Để tôi lấy chìa khóa cho anh.”
“Chào ông Khufaji.” Tôi đợi trong khi ông ta lấy chìa từ ngăn kéo.
“Làm ơn cho tôi một bình ắc quy được không?”
“Có ngay. Tôi sẽ nói thằng nhỏ cầm lên cho anh sau.”
“Cảm ơn.” Hai người nói năng chừng mực lễ độ, ngay cả khi Baghdad tan hoang và Safir không phải khách sạn năm sao, mà gần hơn với một khu cắm trại có dịch vụ bên trong một khách sạn đã chết.
“Tôi nghe giọng ông, êm như chuông.” Tay cầm cigar Honduras, Big Mac xuất hiện từ quầy bar tù mù, cũng là phòng sinh hoạt chung, trung tâm đồn đoán và trao đổi nọ kia. “Mấy giờ rồi nhỉ?”
“Thì tôi về trễ hơn ông, có nghĩ là ông phải mua bia.”
“Không không không, vụ đó là đứa nào về sau phải mua bia.”
“Nói dối trắng trợn, ông MacKenzie, biết rồi mà còn.”
“Ê. Nhờ nói dối trắng trợn mới có chiến tranh, mới có việc làm cho phóng viên háo tin chứ. Trên đường Fallujah có gì hay không?”
“Chặn hết. Còn ông sao?”
“Phí thời giờ vô ích.” Big Mac rít khói thuốc đầy phổi. “Đến trại Victory thì được báo là tình hình căng lắm, nghĩa là lính thủy đánh bộ không có thời gian bảo vệ mấy ông mập này. Ngồi gặm cứt với cán bộ thông tấn rồi bị tống hết vào xe hàng quay về Baghdad. Đương nhiên không phải là chiếc bị trúng mìn tự chế, đã nổ banh xác đó. Còn ông?”
“Khá hơn. Tụi tôi tìm ra một trạm xá dã chiến cho người tị nạn từ Fallujah, thêm một chiếc Kiowa bị bắn rơi. Aziz chụp được vài tấm hình trước khi một tay lính đồng hương với ông lệnh cho cả đám rút.”
“Không tệ nhỉ, nhưng…”Big Mac nhìn quanh phòng rồi hạ giọng, mặc dù ông Khufaji đã đi khỏi “…một trong những nguồn khá ngon của Vincent Agrippa vừa nhắn tin cho hắn hai mươi phút trước, về vụ ‘ngừng bắn đơn phương’, có hiệu lực từ ngày mai.”
Tôi không tin. “Mac, cánh dân quân Fallujah không rút đâu. Có lẽ chỉ là để củng cố lực lượng…”
“Không, không phải phía nổi dậy. Lính thủy đánh bộ sẽ rút.”
“Trời đất. Nguồn này đâu ra vậy? Văn phòng Tướng Sanchez?”
“Không. Cánh quân nhân sẽ nổi khùng cho xem. Tụi nó sẽ tha hồ la lối ‘Nếu muốn đánh Vienna, thì phải đánh bỏ mẹ Vienna ra.’”
“Ông nghĩ Bremer đứng bếp vụ này hả?”
“Ông bạn thân mến: Ông Đặc phái viên đáng kính không thể nào tự nấu hai hòn của mình trong bể nham thạch được.”
“Vậy thì ông phải cho tôi một gợi ý chứ?”
“Vì tối nay ông mua bia, cho ông luôn ba gợi ý.” Big Mac nghỉ năm giây hút cigar. “C, I và A. Lệnh trực tiếp từ văn phòng Dick Cheney.”
“Vincent Agrippa có nguồn ở CIA? Nhưng hắn là người Pháp kia mà! Hắn là thể loại khỉ đột ăn phô mai chuyên đầu hàng kia mà.”
“Vincent Agrippa có nguồn cắm sẵn ở phòng khẩn cấp của Chúa Trời, nên mâm nào chẳng có. Cheney đang lo là vụ Fallujah sẽ chia rẽ Liên minh Tự nguyện, mặc dù cóc phải liên minh mà cũng chả tự nguyện gì, nhưng có sao. Rửa ráy đi rồi xuống ăn tối - đoán xem tối nay có món gì.”
“Có phải thịt gà với cơm không?” Thực đơn chính thức của khách sạn Safir có năm mươi món, nhưng lúc nào cũng chỉ dọn mỗi gà và cơm.
“Trời đất, thằng cha này biết trò ngoại cảm nữa.”
“Để tôi thay đồ thoải mái rồi xuống.”
“Lại còn hứa với chả hẹn, lẳng thế.” Big Mac trở về quầy bar khi tôi đi leo cầu thang lên tầng một - thang máy đã bị hư từ năm 2001 - rồi lên tầng hai, rồi tầng ba. Qua cửa sổ tôi nhìn băng qua dòng sông Tigris đen như dầu về phía Vùng Xanh, đang đèn đóm tưng bừng như công viên Disneyland ở Xứ Bệ Rạc. Tôi nghĩ đến tiểu thuyết High Rise của J.G. Ballard, trong truyện một chung cư cao tầng hiện đại ở London như một sân khấu theo chiều đứng, trên đó nền văn minh dần lụi tàn cho đến khi chỉ còn bạo lực man rợ. Một chiếc trực thăng đậu phía sau Điện Cộng hòa, nơi sáng nay Mike Klimt đã nói với chúng tôi về diễn biến tích cực ở Fallujah và những nơi khác. Người Iraq nghĩ gì khi họ nhìn thấy cái Đặc Khu Sung Túc ấy ở giữa thành phố của mình? Tôi biết, vì Nasser, ông Khufaji và những người khác đã nói với tôi: họ nghĩ rằng một Vùng Xanh sáng sủa, đủ năng lượng, được bảo vệ nghiêm ngặt chính là bằng chứng cho thấy người Mỹ sở hữu một thứ gậy thần có thể giúp khôi phục trật tự ở các thành phố của Iraq, nhưng tình trạng vô chính phủ lại chính là tấm bình phong dày dạn, giúp họ tha hồ nấp sau đó mà hút dầu mỏ. Những người đó rõ là sai, nhưng liệu niềm tin của họ có kỳ khôi hơn niềm tin của tám mươi mốt phần trăm dân Mỹ, những người tin rằng thiên thần có thật trên đời? Tôi nghe có tiếng meo gần đó và cúi xuống, thấy một con mèo màu xám trắng đang bước ra từ bóng đêm. Tôi cúi người chào nó, cũng là lý do duy nhất khiến tôi không bị lột sạch như trứng luộc khi vụ nổ bên ngoài thổi vào tung tóe vụn gương cửa sổ ở mặt phía tây của khách sạn Safir, lấp đầy những hàng lang tối tăm bằng những đợt khói cuộn, lấp đầy tai với tiếng gầm rú liên hồi, và lấp đầy khoảng không giữa các nguyên tử bằng thứ hợp âm không điệu thức của sự tàn phá.
Tôi uống một viên ibuprofen nữa và thở dài nhìn màn hình laptop. Tôi đã viết tường thuật vụ nổ trên chuyến bay từ Istanbul hôm qua trong lúc bụng dạ trở chứng và mất ngủ, tôi e là đọc lên sẽ thấy ngay: báo chí mà đọc như văn chương thì vừa không phải báo chí mà cũng chẳng phải văn chương. Sắp có phát biểu của Rumsfeld về Iraq lúc mười một giờ sáng giờ bờ Tây, tức là vẫn còn năm mươi phút nữa. Tôi bấm chuyển kênh CNN, bật nhỏ âm lượng, nhưng chỉ có một phóng viên Nhà Trắng đang bình luận về “một nguồn tin đáng tin cậy gần với bộ trưởng quốc phòng”, nguồn này dự đoán lát nữa Rumsfeld sẽ nói gì. Trên giường nhỏ, Aoife ngáp, rồi đặt cuốn Đội biệt động cứu hộ động vật 2004 xuống. “Ba ơi, ba bật Dora nhà thám hiểm nhí cho con đi?”
“Không được đâu cưng. Ba phải xem cái này để làm việc.”
“Cái nhà to màu trắng đó có phải ở Ba-nát không?”
“Không phải, mà đó là Nhà Trắng. Ở Washington.”
“Tại sao lại màu trắng? Chỉ có người da trắng ở đó thôi sao?”
“Ơ… Ừ.” Tôi tắt tivi. “Tới giờ ngủ rồi, Aoife.”
“Phòng mình ở ngay dưới phòng ông ngoại Dave với bà ngoại Kath phải không ba?”
Đáng ra tôi phải đọc sách cho con bé, Holly vẫn hay đọc, nhưng tôi phải viết cho xong bài. “Ông bà ở tầng trên, nhưng không phải phòng ngay trên phòng mình.”
Hai cha con nghe tiếng chim mòng biển. Màn cửa bằng vải lưới đong đưa. Aoife im lặng.
“Ba ơi, mình tới chỗ ông Dwight Silverwind sau khi ngủ trưa đi?”
“Đừng nói chuyện đó nữa. Ngủ đi con.”
“Ba nói với má là ba cũng ngủ mà.”
“Ừ ba sẽ ngủ, nhưng con ngủ trước đi. Ba phải viết xong bài và gởi về New York trước tối nay.” Rồi nói với Holly và Aoife rằng tôi sẽ không đến xem Phù thủy xứ Oz vào Thứ Năm, tôi nghĩ thầm.
“Tại sao?”
“Con nghĩ tiền ở đâu ra, để mua đồ ăn, áo quần và sách Đội biệt động cứu hộ động vật?”
“Trong túi ba. Túi má nữa.”
“Nhưng làm sao có ở đó?”
“Bà tiên Tiền.” Aoife giả vờ ngây thơ.
“Ừ đúng rồi. Ba là Bà tiên Tiền đó.”
“Nhưng má cũng đi làm lãnh tiền mà.”
“Đúng rồi, nhưng London rất đắt đỏ, nên ba cũng phải kiếm tiền nữa.” Tôi nghĩ ra được một từ khá súc tích, thay thế cho chỗ “khoảng không giữa các nguyên tử” rườm rà đó nhưng vừa có email mới. Chỉ là email của hãng hàng không Air France, nhưng khi tôi quay trở lại bài viết thì chẳng nhớ nổi từ đó nữa.
“Tại sao London đắt đỏ hả ba?”
“Aoife, thôi mà. Ba phải làm việc. Nhắm mắt lại.”
“Được thôi.” Con bé hừ một tiếng, nằm xuống rồi giả vờ ngáy như Teletubby. Thật là bực mình, nhưng tôi không nghĩ ra được thứ gì để nói cho Aoife thôi đi, mà lại không làm con bé khóc lóc. Thôi cứ lơ nó cho xong. Suy nghĩ đầu tiên của tôi là, tôi gõ máy, tôi còn sống. Suy nghĩ thứ hai… “Ba ơi, tại sao con không được đi tới chỗ Dwight Silverwind một mình?”
Đừng nóng. “Vì con mới có sáu tuổi, Aoife à.”
“Nhưng con biết đường tới chỗ Dwight Silverwind! Đi ra khỏi khách sạn, băng qua đường chỗ vạch trắng đen, xuống cầu tàu là tới.”
Một Holly thu nhỏ. “Tương lai của mình là do mình quyết định. Không phải do một người lạ với tên giả nói ra. Giờ thôi nhé. Để ba làm việc.” Con bé ôm con sói bông xám. Trở lại bài viết dở: Suy nghĩ đầu tiên của tôi là, tôi còn sống. Suy nghĩ thứ hai là, Cúi xuống: nếu thứ vừa nổ là lựu đạn chống tăng thì khả năng là vẫn còn nữa. Rồi…
“Ba ơi, ba không muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai sao?”
Tôi bực mình, im lặng vài giây. “Không.”
“Tại sao không?”
“Bởi vì…”Tôi nghĩ đến Kịch Bản bí hiểm của bà trẻ Eilísh, gia đình của Nasser, thiếu tá Hackensack, cuộc đạp xe dọc đường mòn ra cửa sông Thames vào một ngày nóng nực năm 1984 và phát hiện một cô gái đang nằm trên bãi biển đầy sỏi, mặc áo thun Quadrophenia, quần jean đen như màu mái tóc ngắn, cô gái đang nằm ngủ, túi thể thao làm gối, rồi tôi nghĩ thầm, Đạp tiếp, đạp tiếp nào... Và quay xe lại. Tôi đóng laptop, đến bên giường con bé, đá giày ra rồi nằm xuống cạnh nó. “Bởi vì nếu ba biết được có chuyện gì xấu sẽ xảy ra với ba - hay tệ hơn nữa là với má, hay với con, nhưng ba không thể thay đổi được thì sao? Ba thà không biết gì hết, để mà tận hưởng buổi chiều nắng đẹp cuối cùng còn hơn.”
Đôi mắt Aoife mở to, nghiêm nghị. “Nếu ba thay đổi được thì sao?”
Tôi nắm nhẹ chỏm tóc con bé, làm thành búi tó như võ sĩ samurai.
“Nhưng nếu ba không thay đổi được thì sao, hả Tiểu Thơ Đầu Quả Dứa?”
“Ê, con không…” con bé ngáp… “phải là Đầu Quả Dứa.” Tôi cũng ngáp, rồi con bé nói, “Ha! Ba bị lây ngáp của con.”
“Thôi được rồi, ba sẽ chợp mắt một lúc với con vậy.” Cũng không tệ, Aoife sẽ ngủ ít nhất một tiếng đồng hồ, còn sau hai mươi phút tôi sẽ thức dậy, tỉnh táo hơn, bật tivi xem lời bịa đặt mới nhất của Rumsfeld và nghĩ chuyện làm sao để nói với Holly và Con sư tử nhút nhát rằng Thứ Tư tôi phải đi Cairo. “Ngủ ngon,” tôi nói với Aoife, như Holly thường nói, “Ngủ đi bé con.”
“Ed! ED!” Tôi mơ thấy Holly đánh thức tôi trong một phòng khách sạn, mắt nàng hoảng hốt như mắt ngựa hấp hối. Nghe như nàng đang nói, “Aoife đâu rồi?” nhưng làm sao thế được vì Aoife đang ngủ, ngay cạnh tôi. Trọng lực như đảo chiều, tay chân tôi trống rỗng và tôi cố nói, “Có chuyện gì vậy?” Holly trông như một người đang đóng giả Holly.
“Ed, Aoife đâu rồi?”
“Đây nè,” tôi giở tấm chăn lên.
Chỉ có mỗi con sói bông.
Hai mươi ngàn volt chạy qua người tôi, khiến tôi trở nên cực kỳ tỉnh táo.
Không cần phải hoảng loạn. “Trong nhà tắm ấy.”
“Em xem rồi! Ed! Con bé đâu rồi?”
“Aoife? Ra đây nào, Aoife! Không buồn cười đâu nhé” Tôi đứng dậy, trượt chân lên cuốn Đội Biệt Động Cứu Hộ Động Vật 2004 rồi ngã ra sàn. Tôi kiểm tra tủ quần áo; nhìn vào khoảng trống hai inch dưới giường; rồi đến nhà tắm, trong góc vòi tắm. Xương tôi như hóa thành đất sét ấm. Con bé đi mất rồi. “Nó mới ở đây. Hai cha con nằm ngủ, chỉ mới một phút đây thôi.” Tôi nhìn giờ trên TV: 16:20! Khốn nạn, khốn nạn, khốn nạn. Tôi chạy đến cửa sổ, như thể… như thể tôi sẽ thấy con bé vẫy tay với tôi từ đám đông cuối tuần nhung nhúc trên đường dọc bờ biển bên dưới? Ngón chân cái của tôi đập vào thứ gì đó, đau tê tái: Aoife hỏi phòng của Dave và Kath ở đâu; rồi hỏi tại sao nó không thể tự đi đến chỗ Dwight Silverwind. Tôi đi tìm giày sandal của con bé. Không có. Holly đang nói gì đó nhưng cứ như tôi vừa quên sạch tiếng Anh, chỉ nghe được phụ âm và nguyên âm, rồi nàng dừng lại, đợi tôi đáp lời.
“Chắc nó đi tìm em, hoặc đến phòng ba má em, hoặc… hoặc nó đến chỗ ông thầy bói dưới cầu cảng. Em đi lên phòng ba má đi. Và báo Lễ tân đừng cho một con bé sáu tuổi mặc… mặc…” khốn thật, gì nhỉ, con bé mặc gì mới được chứ? “áo thun ngựa vằn một mình rời khỏi tòa nhà. Anh sẽ đi xuống cầu cảng.” Tôi nhét chân vào giày, khi tôi vừa bước ra Holly gọi với theo, “Anh có điện thoại đó không?” rồi tôi kiểm tra và trả lời, “Có,” và chạy dọc hành lang, đến chỗ thang máy nơi hai bà lão bước ra từ tiểu thuyết của Agatha Christie mặc đầm hoa đứng đợi bên một cây tỏi rừng kích cỡ tiền sử trong chậu đồng khủng, rồi tôi nhấn nút xuống, nhưng thang máy không đến và tôi đấm nút một lần nữa, nhận ra nãy giờ tôi luôn miệng, “Mẹ kiếp mẹ kiếp mẹ kiếp mẹ kiếp” và hai bà lão nhìn tôi chằm chằm, cuối cùng cái thang đến, cửa mở, Darth Vader cầm thanh kiếm chỉ lên trên và nói, “Đi lên hả?” bằng giọng Belfast, và tôi thấy thắt cả ruột khi nghĩ đến cảnh Aoife leo lên mái nhà, vậy là tôi vào thang. Bà Marple nói với Darth Vader, “Tụi này đi xuống, nhưng phải công nhận hóa trang của anh tuyệt vời.” Không, tôi nghĩ gì thế này? Mọi cửa mở ra mái nhà đều được khóa chặt, ngu quá. Qui định an toàn mà. Với cả, chắc chắn Aoife đi ra cầu cảng. Tôi bước ra, ngay khi cửa vừa đóng, đá chân vào cửa, khiến cửa lại mở ra và Darth Vader nói, “Quyết định dứt đi, bồ tèo.” Ra cầu thang. Tôi theo mũi tên ghi chú “Cầu thang” đến một mũi tên nữa ghi chú “Cầu thang” rồi theo đó đến một mũi tên nữa, lại một mũi tên, và một mũi tên nữa. Thảm lót sàn khiến bước chân tôi dội thình thịch. Phía trước hai bà lão chuẩn bị vào thang máy vậy là tôi hét lên, “GIỮ THANG CHO TÔI VỚI” rồi nhảy đến, như Michael Jordan, nhưng vấp dây giày chưa buộc và trượt gần mười mét, trái cổ tôi chà dưới thảm nóng ran và cửa thang máy rầm rập đóng lại, và biết đâu các bà Agatha Christie đã có thể giữ thang cho tôi, có thể không, nhưng họ đã không giữ, đồ cà chớn, và tôi đập ngón cái lên nút bấm nhưng thang đã đi mất và con gái ngây thơ, dễ tin của tôi đang tới gần gã đàn ông ở trên cầu cảng với căn phòng lắp khóa, gã chắc chẳng thèm mặc quần lót dưới áo choàng Merlin. Tôi cột dây giày, đứng lùi lại, thang máy dừng ở số “7”, khoảng một thập kỷ sau thì xuống đến “6” rồi đứng đó một thập kỷ nữa, và khi tiếng thang rít to dần lên, tôi để ý thấy cầu thang bộ qua cửa gương, đằng sau chậu tỏi rừng. Chết tiệt! Tôi chạy thình thịch xuống cầu thang, tiếng bước chân vang dội, như một người hùng bị đau gối, nhưng thể loại người hùng nào lại ngủ gật khi đang trông đứa con gái duy nhất của mình, đứa con gái mong manh, hoàn hảo, ngộ nghĩnh, đáng yêu duy nhất ấy? Tôi chạy xuống, hết tầng này đến tầng khác, như đang Du Hành Vào Trung Tâm Trái Đất, mùi sơn mỗi lúc một kỳ khôi, tôi qua mặt một anh thợ sơn đang đứng trên thang, “Trời đất, từ từ đã, coi chừng trượt một cú bể sọ bây giờ” Tôi ra đến một cánh cửa có ghi “Lối thoát hiểm” cạnh cửa sổ nhỏ bụi bám nhìn ra bãi dỡ hàng dưới mặt đất, tức là ở mặt sau của tòa nhà, mà tôi thì cần phải ra mặt trước, mà đằng nào thì cửa đã khóa và tại sao tôi không đứng mà đợi cái thang máy chết tiệt ấy? Tôi chạy dọc theo một lối chuyển hàng hóa, qua khỏi bảng chỉ dẫn “LỐI VÀO TẦNG TRỆT”, rồi tự dưng tôi có một cảm giác chắc chắn, thôi thúc, rằng tôi đang ở trong một mê cung, không chỉ là mê cung của những ngã rẽ và cửa nẻo, mà còn là của những lựa chọn và ưu tiên, rằng tôi không chỉ mới ở trong đó có một hai phút mà đã lâu lắm rồi, đến hàng năm trời, và rằng tôi đã đi sai vài nước nhiều năm trước đó mà không thể trở ngược lại, rồi tôi đâm sầm vào một cánh cửa ghi chữ “LỐI VÀO”, vặn núm cửa và kéo ra nhưng cửa không mở - vì phải đẩy chứ không phải kéo, vậy là tôi đẩy…
Gì thế này? Một không gian triển lãm càng về sau càng sâu hơn, rộng hơn và cao hơn, tôi nhìn quanh, không hiểu làm sao khách sạn Maritime có thể chứa được không gian này - rõ là nó nằm dưới móng của cả những tòa nhà gần đó, dưới con đường dọc biển, nếu không phải là dưới eo biển Manche. Hàng ngàn người đang ngắm nghía hàng dãy quầy hàng và cửa hiệu, tiếng động rì rầm như đại dương. Vài người mặc đồ bình thường nhưng đa số đều hóa trang: Siêu nhân, Người dơi, Người Canh Gác, Doctor Spock, Doctor Who, Doctor Evil; một bộ ba người máy C-3PO, một đôi Klingon, người rắn Silurian; một loạt Harry Potter nữ giới người Trung Quốc, một Miêu Nữ râu ria lởm chởm đang chỉnh lại dây nịt ngực và một cặp khỉ từ Hành Tinh Khỉ; một đội điệp viên Smith từ Ma Trận, một cỗ máy thời gian Tardis biết đi, một gã Schwarzenegger say xỉn để lộ bộ xương máy T-800; tiếng đùa giỡn, tiếng cười, những cuộc thảo luận hăng say. Nếu Aoife đi lạc vào cái chốn đầy những kẻ quái gở, lập dị, huyễn ảo này thì sao? Làm sao con bé có thể đi ra được? Làm sao tôi đi ra được? Qua cửa lớn ở phía xa, đương nhiên rồi, dưới dải băng-rôn “NGÀY HỘI BRIGHTON PLANET CON 2014”. Tôi chen vội qua những kẻ di chuyển chậm rãi, tần ngần đứng đọc manga, qua mớ dị thú Tribble, qua dãy áo thun in ra rả “TREKKIE CHỈ ẤY BẰNG TUỐC BIN TRỤC”, rồi những tàu không gian USS Enterprise tự lắp, mô hình đúc bằng kim loại các nhân vật trong Battlestar Galactica; qua một tên Dalek đang oang oang “Nam thanh nữ tú ngời ngời, Rồi ra ai cũng hết đời thành tro”; tôi né được một Người Vô Hình, tránh ra sau Ming Kẻ Tàn độc, chen giữa vài tên Uruk-hai, và giờ đây tôi đã lạc mất lối ra, lạc mất Aoife, không biết đâu là đông tây nam bắc, vậy là tôi phải hỏi Yoda đi lối nào đây và lão trả lời, “Gần nhà xí á, bồ tèo,” rồi chỉ tay về hướng đó, rồi cuối cùng tôi cũng ra đến sảnh, đứng giữa một phóng viên nhí và Dredd Kẻ Phán Xét.
Tôi chạy bổ ra ngoài…
…vào buổi chiều đượm vị muối, nhảy chen giữa xe cộ ra đường đi bộ dọc biển. Còi xe inh ỏi nhưng hôm nay tôi lờ tất. Không khí ấm ấp gợi nhớ đến bức tranh đố Wally ở đâu? nhung nhúc người bên bãi biển, những gia đình chưa lạc mất đứa con gái sáu tuổi vì bất cẩn, vì lơ là, và tôi sẵn lòng đánh đổi linh hồn chỉ để quay lại căn phòng khách sạn một giờ trước đó, tôi sẽ không nổi nóng với Aoife, tôi sẽ nói, “Có lẽ lúc nãy ba hơi cáu, xin lỗi cưng, mình đi tới ông Silverwind nhé,” và chỉ cần Aoife trở lại tôi sẽ nộp thẻ ATM cho lão già chết tiệt bí hiểm ấy, và lau đít cho hắn một năm lẻ một ngày. Hoặc nếu tôi có thể nhảy đến một giờ sau, khi Aoife đã trở về an toàn, việc đầu tiên tôi làm là gọi Olive Sun và nói, “Xin lỗi, Olive, để Hari đi phỏng vấn Dufresne, để Jen đi.” Lạy Chúa, lạy Chúa, lạy Chúa: hãy để Aoife chạy qua đám đông và về trong vòng tay tôi. Đừng để kẻ lạ mặt nào tống con bé vào xe tải - Đừng đi vào đó, đừng đi vào đó. Một dòng người chen lấn lên xuống cầu cảng, tôi chen lên trước, rồi chậm lại; sợ nhỡ mất con bé nếu nó đi ngược trở lại, nhìn khắp các gương mặt tìm Aoife; đừng nghĩ đến tít báo “CON GÁI CỦA PHÓNG VIÊN CHIẾN TRƯỜNG MẤT TÍCH” nữa, hay những lời kêu gọi đẫm nước mắt trên tivi, hay phát ngôn của luật sư đại diện gia đình Sykes, người nhà Sykes đã từng sống qua cơn ác mộng này một lần, cũng y như vậy - “BI KỊCH LẶP LẠI VỚI GIA ĐÌNH CỦA JACKO SYKES”; những tuần ấy hồi năm 1984- quán Thuyền trưởng Marlow đóng cửa “vì việc gia đình”, như thông báo trên cánh cửa khóa chặt; báo chí có đưa tin một vài lần người ta nhìn thấy Jacko, nhưng toàn là nhìn nhầm; tôi nhớ Kath nói, “Xin lỗi Ed, hôm nó nó không muốn gặp ai hết”; cuối cùng tôi không đi phượt châu Âu bằng tàu lửa, mà đi làm ở một cửa hàng làm vườn ngay vòng xoay A2 suốt mùa hè. Lúc đó tôi thấy mình cũng có một phần trách nhiệm: nếu tôi thuyết phục Holly về nhà hôm tối Thứ Bảy, thay vì đi phá khóa cái nhà thờ ấy, Jacko có lẽ đã không bỏ đi; nhưng tôi lúc đó tôi đang thích thầm Holly, cứ khấp khởi hi vọng biết đâu đó… điện thoại đổ chuông - Xin Chúa làm ơn chấm dứt cơn ác mộng này, là Holly - Holly cứng cỏi, và tôi cầu nguyện, Lạy Chúa hãy để đấy là tin tốt, rồi tôi nói, “Có tin gì chưa?”
“Ba má không thấy nó đâu cả. Còn anh?”
“Anh vẫn đang đi xuống cầu cảng.”
“Em đã dặn người quản lý khách sạn. Họ đã thông báo trên loa, Brendan trực sẵn ở Lễ Tân. Họ nói cảnh sát sẽ không gởi người đến ngay, nhưng Ruth đã ra tay rồi.”
“Anh sẽ gọi lại ngay khi đến chỗ tay thầy bói.”
“Được rồi.” Dập máy. Tôi gần đến chỗ khu trò chơi - mà nhìn nhìn nhìn nhìn nhìn kìa! Một cô bé tóc đen mặc áo thun ngựa vằn và mang tất quần màu xanh đứng bên trong cánh cửa mở hé. Lạy Chúa, con bé đây rồi, đúng rồi, một quả lựu đạn hi vọng nổ tung gan ruột tôi và tôi hét lên. “AOIFE!”
Người ta quay lại nhìn gã điên, không nhìn Aoife.
Tôi chen giữa những cánh tay ăn nắng, những que kem và những cốc nước đá bào.
Bóng râm trong khu trò chơi khiến tôi choáng váng lẫn lộn. “Aoife!”
Tiếng đua xe gầm rú như tiếng cưa máy, tiếng ackackackack của trò bắn súng laser thế kỷ hai mươi hai và tiếng nhà cửa bị bom nổ đổ rầm rầm…
Nó đây rồi! Aoife! Tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa. Con bé đang ngước nhìn một cô bé lớn hơn mặc áo thun khoét vai, đeo vòng kiềng ở sàn trò chơi Dance Dance Revolution, và tôi chạy tới, quỳ gối xuống cạnh nó: “Aoife, cưng ơi, con đừng có đi như vậy! Làm ba má muốn đau tim! Về nhà thôi.” Tôi đặt tay lên cánh tay nó. “Aoife, mình đi về nhà thôi.”
Nhưng Aoife quay lại nhìn tôi, với cặp mắt, cái mũi và gương mặt khác hẳn, và tôi bị một bàn tay mạnh mẽ kéo ra, một người đàn ông lực lưỡng chừng năm mươi tuổi mặc áo sơ mi vải ni lông rẻ tiền, rồi “Anh nghĩ anh đang làm cái quái gì với con gái tôi vậy?”
Mọi thứ trở nên tệ hơn, tệ hơn nữa. “Tôi tưởng con bé là con gái tôi, tôi lạc mất con gái, nó đang… Nhưng nó… nó…”
Người đàn ông cân nhắc xem có nên xé xác tôi không. “À, nhưng đây không phải con anh, mà anh cũng nên ý tứ bớt. Người ta hay hiểu lầm, hay hiểu đúng, biết tôi nói gì không?”
“Tôi xin lỗi… tôi… tôi… tôi..” Tôi chạy bổ ra bên ngoài khu trò chơi, như thánh Jonah được con cá voi trơn nhẫy màu ám khói nhả ra.
Đây là quả báo của ngươi, cho Aziz và Nasser.
Dwight Silverwind là hi vọng duy nhất của tôi. Chỉ cách sáu mươi giây nữa thôi.
Lão sẽ không dám làm gì con bé ở đây. Quá đông người.
Có lẽ lão sẽ nói con bé đợi cha đến.
Aoife sẽ ngồi đó, tất cả chỉ là một trò đùa.
Aoife có biết số điện thoại di động của Holly không? Không biết.
Qua một quầy bánh kẹp thịt; qua quầy trò bóng rổ có chăng lưới.
Qua một con gấu bông khổng lồ, bên trong là một người mồ hôi như tắm.
Có một cô bé đằng kia, đang nhìn về mặt biển êm dịu.
Cửa tiệm của Dwight Silverwind mỗi lúc một gần thêm, cầu cảng Brighton nghiêng ngả, xương sườn tôi như muốn uốn cong vào trong, một phụ nữ ngồi đang len bên ngoài Chánh điện, có bảng thông báo “Đang hành lễ” treo trên cửa. Tôi xông vào cái hang nho nhỏ, tối mờ đó, bên trong có một cái bàn, hai cái ghế bọc vải, ba cây đèn cầy, trầm hương, bài Tarot trải ra, một lão Dwight Silverwind mặt mày ngạc nhiên và một phụ nữ da đen mặc đồ thể thao - và không có Aoife. Không có Aoife. “Ơ… anh chờ cho xong có được không?” bà khách hàng lên tiếng. Tôi hỏi Silverwind. “Con gái tôi có đến đây không?”
Người phụ nữ đứng dậy. “Anh không thể xông vào như thế được!”
Silverwind nhướng mày. “Tôi nhớ mặt anh. Cha của Aoife.”
“Con bé đi đâu mất. Từ khách sạn, khách sạn Maritime. Tôi… tôi… tôi nghĩ nó…” Hai người nhìn tôi như thằng điên. Tôi thấy buồn nôn. “…có thể đã đến đây.”
“Tôi rất tiếc, anh Brubeck,” Dwight Silverwind đáp, như thể con bé vừa qua đời, “nhưng tụi tôi không thấy tăm hơi cô bé đâu cả.”
Tôi ôm đầu, như sợ nó sắp nổ tung ra, sàn nhà nghiêng bốn lăm độ và nếu người phụ nữ không chụp kịp và đẩy tôi ngồi vào ghế thì có lẽ tôi đã đập đầu xuống sàn nhà. “Bình tĩnh nào,” bà ta nói, giọng Birmingham. “Có một đứa trẻ mất tích, đúng không?”
“Vâng,” tôi trả lời lí nhí. Mất tích.
Phong thái bình tĩnh, sáng suốt: “Tên gì, bao nhiêu tuổi?”
Mất tích. “Edmund Brubeck. Tôi, ừm, ba mươi lăm.”
“Không, Edmund. Tên tuổi của đứa trẻ ấy.”
“À. Aoife Brubeck. Nó lên sáu. Chỉ mới sáu tuổi!”
“Được rồi, được rồi. Aoife mặc đồ gì?”
“Áo thun có hình ngựa vằn. Mang giày sandal.”
“Được rồi, quan trọng là phải phản ứng nhanh, vậy tôi sẽ gọi an ninh cầu cảng, nhờ người trực để mắt tìm con gái anh. Anh viết lại số điện thoại đây.” Bà ta đưa tôi một cây viết và một tấm danh thiếp, tôi nguệch ngoạc viết tên lên. “Dwight, anh dẫn Ed đi xuống cầu cảng, tìm trong đám đông. Tôi sẽ ở đây. Nếu anh không tìm ra con bé dưới cầu cảng thì về lại khách sạn Maritime, có gì tính tiếp. Ed, nếu Aoife đến đây, tôi sẽ gọi anh. Giờ đi đi. Đi đi, mau!”
Ra bên ngoài, điện thoại đổ chuông: Holly, hỏi “Con bé có đó không?”
Sự ngập ngừng của tôi để lộ câu trả lời: “Không.”
“Được rồi. Sharon đang nhắn tin cho tất cả khách mời đám cưới, nhờ họ tìm trong khách sạn. Về lại đây đi. Em sẽ ở dưới sảnh với Brendan.”
“Được rồi, anh sẽ về nga…” Nhưng nàng đã dập máy.
Nhạc từ khu hội chợ xập xình. Có khi nào Aoife ở đó? “Người ta không cho trẻ con dưới mười tuổi vào trong mà không có người lớn đi kèm.” Dwight Silverwind vẫn mặc áo gi-lê đính đá lấp lánh. “Đi nào, tìm khắp cầu cảng. Cô Nichols…” lão ta gật đầu về phía Chánh điện “cô ấy sẽ trực ở đó. Cô ấy vốn là thanh tra giao thông.”
“Còn ông thì sao…” Tôi chỉ tay về quầy “…ông đang làm việc kia mà.”
“Con gái anh đến tìm tôi sáng nay là có lý do, tôi tin chính là lý do này đây.” Cả hai đi xuống cầu cảng, kiểm tra mọi gương mặt, tìm cả trong khu trò chơi. Vô ích. Khi đã đi đến đầu, hay cuối cầu cảng, tôi lúng búng cảm ơn Dwight Silverwind đã giúp đỡ, nhưng ông ta chỉ nói, “Không, không: Kịch Bản lệnh cho tôi ở với anh đến cuối.”
Tôi hỏi, “Kịch bản gì kia?” nhưng cả hai đang sang đường và bước vào sảnh mát rượi của khách sạn Maritime, nơi mà sau cuộc chạy như điên xuống cầu cảng, tôi trở về trình diện với lão thầy pháp nhăn nheo mặc đồ hóa trang, mà thực lão cũng không đến nỗi lạc lõng giữa đám đông đi hội hôm đó. Sau bàn trực một trung tâm điều phối đã được dựng lên. Tay quản lý khách sạn liên tục bị quấy rầy, kẹp điện thoại trên vai, bao quanh là người nhà Sykes và Webber, hai họ cùng nhìn về ông bố kém cỏi, kẻ đã gây ra cơn ác mộng chưa dứt này: Sharon và Peter, Ruth và Brendan, Dave và Kath, rồi cả Pauline và Austin. “Con bé không có ở cầu cảng,” tôi nói, thừa thãi.
Ruth kể, “Amanda đang ở trên phòng chú, phòng khi nó trở lại đó.”
Pauline lên tiếng, “Đừng lo lắng, nó sẽ quay về ngay ấy mà,” và Austin gật đầu cạnh đó, báo với tôi rằng Lee đã rủ bạn ra bãi biển tìm, phòng khi con bé đi ra đó nghịch nước. Dave và Kath như già đi trông thấy còn Holly thì không để ý là tôi đã trở về.
Tay quản lý khách sạn nói với nàng, “Chị nói chuyện với cảnh sát được không, chị Brubeck?”
Holly cầm điện thoại. “A lô… vâng. Con gái tôi… Vâng, vâng, tôi biết là vẫn chưa tới một tiếng đồng hồ, nhưng nó chỉ mới sáu tuổi, tôi muốn ông phát lệnh tìm khẩn cấp ngay bây giờ… Vậy thì coi như đây là trường hợp ngoại lệ đi, thưa sĩ quan!…Không, ông nghe đây: chồng tôi là phóng viên ở một tờ báo lớn và nếu Aoife không trở về an toàn, ông sẽ rất rất rất hối hận nếu nếu ông không phát lệnh tìm ngay bây giờ… Cảm ơn. Sáu tuổi… Tóc đen, chấm vai… Áo thun ngựa vằn… Không phải áo thun sọc, áo thun in hình ngựa vằn… Quần hồng. Giày sandal… Tôi không biết, đợi một lát.” Holly nhìn tôi, mặt nàng tái mét. “Cái nơ thun của nó còn trên phòng không?”
Tôi ngớ mặt ra. Cái gì kia?
“Cái dây màu bạc lấp lánh mà nó buộc tóc đó?”
Tôi không biết. Tôi không biết. Tôi không biết. Nhưng trước khi Holly kịp trả lời, đầu nàng ngả ra sau thật kỳ khôi và gương mặt nàng như tắt hẳn. Chuyện gì đang xảy ra? Có lần tôi chứng kiến một đồng nghiệp có bệnh tiểu đường bị hạ đường huyết, trông khá giống vậy. Sharon nói, “Chụp lấy chị ấy!” và tôi nhảy ào tới, nhưng Brendan và Kath đã giữ được Holly khỏi bị ngã.
Tay quản lý khách sạn nói, “Qua đây, đem chị ấy vào đây,” và Holly được người ta nửa kéo nửa đỡ đưa vào văn phòng sau.
Nhịp thở của nàng dồn dập liên hồi và Kath, từng học khóa y tá ở Cork nhiều năm trước, lên tiếng, “Chừa chỗ! Lùi lại, lùi lại hết!”, vừa nói vừa cùng Brendan đỡ nàng xuống một cái sofa vừa được dọn gấp. “Thở chậm lại, cưng ơi,” Kath nói với con gái, “thở chậm thôi, thở thiệt chậm cho má…” Tôi phải đứng cạnh nàng nhưng có quá nhiều người nhà Sykes ở giữa và văn phòng thì nhỏ xíu, với cả, suy cho cùng, tất cả những chuyện này là lỗi của ai? Nhưng tôi đứng đủ gần để thấy đôi mắt Holly, đồng tử co lại, gần như biến mất. Pauline Webber nói, “Cặp mắt bị sao vậy?” - và Peter chen vai sang - rồi mặt Holly co giật - rồi Dave nói, “Kath, hay gọi bác sĩ?”…và gương mặt Holly tắt hẳn như thể nàng đã bất tỉnh hoàn toàn - Brendan hỏi, “Nó bị lên cơn gì hả má?” rồi Kath đáp, “Mạch đang rất nhanh” - rồi tay quản lý khách sạn tiếp, “Tôi gọi xe cấp cứu đây”- nhưng môi và hàm của Holly bắt đầu co giật rồi nàng nói “Mười…”, giọng run run, như thể một người bị điếc nặng bẩm sinh học nói, nhưng giọng khàn hơn và chậm như tra tấn, như một cuốn băng ghi âm tốc độ sai, khó nhọc phát ra từng âm chậm rãi. Kath nhìn Dave và Dave nhún vai: “Mười gì hả Holly?”
“Cô ấy còn nói gì nữa, Kath à,” Ruth tiếp. Holly phát ra từ thứ hai: “mười…”
Peter Webber thì thào, “Tiếng Anh hay sao?”
“Holly, cưng ơi,” Dave tiếp, “con nói gì vậy?”
Holly run người nhè nhẹ, giọng nàng cũng run theo, “Lăm…”
Tôi cảm thấy đáng ra tôi phải đứng mũi chịu sào, bằng cách nào đó; tôi là bạn đời của nàng, nhưng tôi chưa bao giờ thấy nàng - hoặc ai khác bị như thế.
Peter luận ra: “Mười giờ mười lăm.”
Dave hỏi con gái, “Cưng à, mười giờ mười lăm có chuyện gì sao?”
“Không có gì đâu,” Brendan nói. “Chắc nó bị lên cơn gì đó.” Mặt dây chuyền mê cung của Jacko trượt khỏi cạnh ghế sofa, đong đưa ở đó. Rồi Holly sờ lên đầu, nhăn mặt đau đớn nhưng mắt nàng trở lại bình thường, nàng chớp mắt nhìn một loạt gương mặt đang căng thẳng nhìn xuống. “Ôi trời đất, đừng nói tôi vừa ngất ra đó chứ?” Không ai biết phải nói gì trước.
“Cũng gần vậy,” Sharon nói. “Từ từ hẵng ngồi dậy.”
“Con có nhớ con nói gì không?” Kath hỏi.
“Không, mà liên quan gì, Aoife còn… à. Nhớ là đọc số gì đó.”
“Nghe như giờ giấc, Hol à,” Sharon nói. “Chị nói là Mười mười lăm.”
“Chị đỡ hơn nhiều rồi. Mười giờ mười lăm có việc gì?”
“Nếu cô còn không biết,” Brendan tiếp, “làm sao tụi này biết?”
“Chẳng có ích gì cho việc tìm Aoife cả. Vậy có ai thay tôi nói chuyện nốt với bên cảnh sát không?”
“Lúc đó hoảng quá,” Kath nói, “giống như con lên cơn đau tim vậy.”
“Không có đâu má. Vậy ông quản lý khách sạn đâu rồi.”
“Đây,” người đàn ông tội nghiệp lên tiếng.
“Làm ơn nối máy cho tôi với đồn cảnh sát. Không làm lớn chuyện thì họ sẽ rề rà mãi.” Holly đứng dậy rồi bước về phía cửa, cả đám cũng lủi thủi đi ra. Tôi lui lại phía sau bàn Lễ tân nhường chỗ… rồi một giọng nói cất lên: “Edmund.”
Tôi thấy Dwight Silverwind, nãy giờ tôi đã quên bẵng. “Cứ gọi tôi là Ed.”
“Một thông điệp đấy. Từ Kịch Bản.”
“Cái gì kia?”
“Một thông điệp.”
“Nhưng cái gì mới được chứ?”
“Mười mười lăm. Một dấu hiệu, một sự chỉ dẫn. Không phải Holly nghĩ ra đâu.”
“Thì trông như chính cô ấy nói ra còn gì.”
“Ed, Holly có khả năng ngoại cảm không?”
Tôi không thể che giấu sự bực bội. “Không, cô ấy…” Người Trên Đài. “À, khi cô ấy còn nhỏ có nhiều chuyện khó hiểu, với cả… Cũng có chút ít.”
Gương mặt ủ rũ, nhàu nhĩ như vân gỗ sồi của Dwight Silverwind xuất hiện thêm nhiều nếp nhăn. “Tôi không phủ nhận chuyện tôi ‘thảo luận vận mệnh’ người ta, hơn là ‘tiên đoán vận mệnh’. Người ta có nhu cầu thổ lộ lo lắng và hi vọng với một người đáng tin cậy, còn tôi cung cấp dịch vụ đó. Nhưng thỉnh thoảng tôi thấy người có khả năng thực sự, mà nếu thấy thì tôi biết chắc. Mấy tiếng Mười mười lăm của Holly đó. Có ý nghĩa hẳn hoi.”
Gương mặt lão trông như thầy Gandalf trong truyện Chúa Nhẫn, đầu tôi đau buốt, cầu cảng quay vòng, Eilísh… Xe cộ có thể phát nổ bất cứ lúc nào… Ý nghĩ rằng Aoife đi lạc, sợ hãi, bị dính băng keo lên miệng… không không không…
“Suy nghĩ đi Ed. Những con số đó không phải ngẫu nhiên.”
“Có thể là không. Nhưng tôi rất tệ món mật mã.”
“Không, không… Kịch Bản không phải là một thứ công thức phức tạp. Nhiều khi nó rất hiển nhiên, đến nỗi ta không nhận ra.”
Tôi cần phải đi tìm Aoife, chứ không ngồi đây mà nói chuyện siêu hình linh tinh. “Nghe này, tôi… tôi…” Dwight Silverwind đang đứng cạnh kệ đứng chìa khóa phòng. Thời bây giờ mà dùng chìa khóa thì hơi có vẻ hoài cổ, vì phần lớn khách sạn Mỹ hoặc Anh (khách sạn Iraq thì không) đều dùng kiểu chìa bằng thẻ từ có thể ghi lại được. Mỗi ngăn kệ có gắn bảng đồng khắc số, theo đúng số trên xâu chìa khóa. Cách đầu của Dwight Silverwind chừng tấc rưỡi về bên trái là một ngăn kệ gắn bảng 1015. 1015. Chìa khóa có trong đó.
Chỉ là tình cờ ngẫu nhiên thôi - đừng có mà tưởng tượng lắm chuyện.
Dwight Silverwind dõi theo ánh mắt hơi hoảng hốt của tôi.
Nhưng sự ngẫu nhiên đó phải vô lý tới chừng nào thì ta nên bắt đầu chú ý? “Hay thật,” lão lẩm bẩm. “Là tôi thì tôi biết ngay phải làm gì.”
Nhân viên lễ tân đang quay đi. Holly đứng đợi bên điện thoại. Những người còn lại khổ sở, mệt mỏi, xanh xao. Một người bạn của Sharon đến, “Không thấy nó đâu cả, nhưng mọi người đang tìm,” rồi Austin Webber nói điện thoại. “Lee? Thấy con bé đâu không?” Tôi lấy chìa khóa phòng 1015: chân tôi đưa tôi ra thang máy.
Thang máy đang đợi, không có ai. Tôi vào thang, bấm số “10”.
Cửa đóng. Dwight Silverwind vẫn theo tôi.
Thang máy lên tầng mười, không có ai chen ngang.
Silverwind và tôi bước vào một không gian im lặng như lăng tẩm, không giống gì với một khách sạn bận rộn tháng Tư. Ánh nắng chiếu xiên qua bụi bặm. Một tấm biển báo “PHÒNG 1000-1030 ĐÓNG CỬA ĐỂ SỬA ĐIỆN CHO ĐẾN KHI CÓ THÔNG BÁO MỚI. TUYỆT ĐỐI CẤM VÀO.” Tôi bước đến phòng 1015, đặt chìa khóa vào ổ, vặn rồi bước vào. Silverwind đứng ngoài, tôi cố lờ đi cái ý nghĩ nếu Aoife không có ở đây tôi sẽ không bao giờ gặp lại con bé nữa, tôi bước vào căn phòng có mùi âm ẩm rồi lên tiếng, “Aoife?”
Không có lời đáp. Hoang tưởng mất rồi. Mày đã mất con bé.
Rồi có tiếng sột soạt. Tấm trải gường động đậy. Con bé nằm cuộn người trên giường, ngủ say, mặc y đồ cũ. “Aoife.”
Con bé tỉnh dậy, bối rối, thấy tôi và mỉm cười.
Những giây phút đó như đốt cháy vào trong ký ức tôi.
Nhẹ nhõm tột độ, hạnh phúc trào dâng.
“Aoife, cưng ơi, con làm mọi người sợ quá.”
Hai cha con ôm chặt lấy nhau. “Con xin lỗi ba nhưng sau khi ba ngủ rồi con không buồn ngủ, nên con đi kiếm ông ngoại Dave để chơi Connect 4, nên con đi lên cầu thang, nhưng rồi con… con đi lạc. Rồi con nghe hình như có tiếng người tới, nên con sợ bị la nên con trốn vào đây nhưng sau đó cửa không mở ra. Nên con khóc một chút, con thử gọi điện thoại nhưng không gọi được, nên con ngủ. Con có hư lắm không ba? Ba đừng cho con tiền tiêu vặt nữa đi.”
“Không sao cưng à, nhưng mình đi xuống chỗ má và mọi người đi.”
Dwight Silverwind đã biến mất. Những câu hỏi chung quanh chuyện tại sao Holly lại có thể biết trước được sẽ phải chờ đấy. Chúng chẳng quan trọng gì lắm. Chẳng quan trọng gì nữa.
Tiếng nổ tắt đi, nhưng còi báo động từ một nửa tá xe phát inh ỏi, đủ mọi tông điệu. Tôi nhớ đã được dặn rằng không nên chạy ra ngoài, phòng khi các tay súng còn lảng vảng quanh đó để bắn người sống sót và nhân viên cứu trợ. Tôi nằm đó, run rẩy một lúc, tôi không biết đã nằm như vậy bao lâu, cho đến khi đứng dậy và đi xuống sảnh, đế giày nghiến lên kính vỡ. Ông Khufaji khom người ôm xác Tariq, tay bảo vệ có vũ trang, cố gắng rủa xả để gã sống lại. Có lẽ tôi là người cuối cùng Tariq nói chuyện trước khi chết. Big Mac và vài phòng viên bước ra khỏi quầy bar, hồi hộp lo sợ một đợt tấn công mới - thường thì Bom Thủ Số Một sẽ dọn đường, còn Bom Thủ Số Hai sẽ đi vào và làm nốt việc sau khi các mục tiêu đã bị băm vằm.
Nhưng khách sạn Safir đã không phải chịu một trận đánh bom kép, thời gian trôi vèo đến nửa đêm. Một đơn vị cấp cứu vũ trang đến, có cả thanh tra nói tiếng Anh, “Thanh tra Zerwaji” có mặt ở hiện trường sớm hơn thông thường vì vụ này có dính đến người nước ngoài. Người ta đốt đuốc khảo sát quanh sân trước khách sạn, cùng với ông Khufaji vẫn chưa hoàn hồn. Tôi không đi. Big Mac kể rằng vài chiếc xe đậu phía trước bị nổ banh xác, hắn thấy cả mấy mẩu thi thể. Thanh tra Zerjawi đặt giả thuyết rằng một tay bảo vệ đã ra tay hạ đồng nghiệp - chỉ có một thi thể - và để kẻ đánh bom xe vào. Tay này đã lên kế hoạch lái xe xuyên qua cổng có kính thẳng vào sảnh rồi phát nổ ở đó, hi vọng sẽ đánh sập cả tòa nhà. Tuy nhiên kế hoạch của hắn vấp phải một chướng ngại trong bãi đỗ xe… “Ai biết đâu đấy?”…đã khiến cho bom nổ ngay bên ngoài. Thượng đế đã rộng lượng với chúng ta, Thanh tra Zerjawi giải thích trong ở quán bar, vậy nên giờ đây gã cũng sẽ rộng lượng với bọn tôi: chỉ cần tám trăm đô la, gã sẽ để lại ba sĩ quan giỏi nhất đứng canh dưới sảnh tan hoang. Nếu không làm vậy sẽ rất khó đảm bảo an toàn cho cả bọn đến sáng mai. Bọn khủng bố sẽ biết tình trạng sơ hở ở đây.
Sau khi quyên góp tiền, người thì đi mở máy tính viết lại câu chuyện; người thì giúp ông Khufaji dọn dẹp, người thì về phòng, ngủ giấc ngủ của kẻ-may-mắn-sống-sót. Tôi vẫn còn quá căng thẳng, không làm được việc gì trong số đó, vậy là tôi lên nóc nhà rồi gọi cho Olive ở New York. Trợ lý của bà ta nhận tin nhắn: khách sạn Safir ở Baghdad bị đánh bom, không có nhà báo nào bị giết. Tôi cũng nhờ trợ lý nhắn với Holly ở London. Rồi tôi ngồi đó, nghe tiếng súng đổ đì đoàng, tiếng động cơ, tiếng máy phát điện, tiếng la hét, chó sủa, tiếng thắng gấp, nhạc nhẽo và súng tiếp tục nổ: một bản giao hưởng của Baghdad. Ánh sao yếu ớt trên thành phố bị cúp điện nham nhở, mặt trăng trông lốm đốm như da người bệnh gan. Big Mac và Vincent Agrippa cũng lên nóc để gọi điện thoại vệ tinh. Điện thoại của Vincent bị hỏng, vậy là tôi cho hắn mượn. Big Mac cho mỗi thằng một điếu cigar, ăn mừng thoát chết và Vincent lôi ở đâu ra một chai rượu hơi bị ngon. Dưới ảnh hướng của lá thuốc Cuba và nho vùng Loire, tôi thổ lộ rằng đáng ra tôi đã chết nếu không có con mèo ấy. Vincent, vẫn là dân Công giáo ngoan đạo, nói rằng con mèo hẳn được Chúa gởi đến. “Không biết con mèo là gì,” Big Mac góp chuyện, “nhưng ông, Brubeck, là một thằng cực kỳ may mắn.”
Rồi tôi nhắn tin cho Nasser báo là tôi ổn.
Tin nhắn không gởi được.
Tôi nhắn tin cho Aziz báo là tôi ổn.
Tin nhắn cũng không gởi được.
Tôi nhắn cho Big Mac, xem mạng điện thoại có hoạt động không.
Mạng vẫn hoạt động. Rồi một khả năng khủng khiếp nảy đến trong tâm trí tôi.
Có lẽ giờ đồng hồ tệ hại nhất trong sự nghiệp nuôi con chung của Holly và tôi đã kịp chuyển thành một giai thoại nhiều người biết, được thêu dệt thêm đủ thứ, có cả một vài chỗ hài hước. Tôi nói với đám đông đang mừng rỡ trong sảnh lễ tân rằng tôi chợt nghĩ biết đâu Aoife đã đi lên đến hai tầng trên, thay vì chỉ một, để tìm phòng của ông bà ngoại, vậy là tôi đi lên kiểm tra và tìm được một nhân viên dọn dẹp cho tôi vào tất cả các phòng xem. Đến phòng thứ ba thì tôi gặp may. Cũng may là mọi người còn bận thở phào nhẹ nhõm, không ai màng soi kỹ câu chuyện của tôi, mặc dù Austin Webber cứ hấm hứ rằng khách sạn có vấn đề về an toàn, rồi cửa nẻo kiểu gì mà khóa trái trẻ con bên trong. Pauline Webber tuyên bố, “May không chứ, nếu anh không nghĩ thế thì sao? Aoife tội nghiệp có khi bị nhốt trong đó đến vài ngày! Thật không dám nghĩ đến!” và tôi đồng ý. May mắn kinh khủng. Tôi không kể đã tìm được Aoife trong phòng số mấy: chi tiết ấy sặc mùi hình sự kiểu X-Files và sẽ khiến người ta choáng đến quên cả đám cưới của Sharon và Peter. Cho đến hai mươi phút trước, khi ở ban công khách sạn Maritime, nhìn xuống cầu cảng về đêm, tôi kể hết cho Holly nghe. Như thường lệ, tôi không thể biết được nàng đang nghĩ gì.
“Em đi tắm một lát,” nàng nói.
Aoife đã nằm trên giường với con sói bông Snowy. Một đoàn xe máy nhịp nhàng rít qua ở bên dưới.
Chúng tôi nói chuyện rất lâu. Một cảm giác mới mẻ dễ chịu. Holly nằm cạnh tôi, gối đầu lên vai tôi và gác đùi qua người tôi. Chúng tôi chưa ân ái, nhưng đã lâu lắm rồi tôi mới có cảm giác gần gụi như vậy. “Lần này khác với những lần trước,” Holly giải thích, “anh biết đó, hồi em thấy trước được những chuyện chưa xảy ra. Vụ tiền thức đó.”
“Có giống hơn với vụ Người Trên Đài không, khi em còn nhỏ đó?”
Im lặng một lúc. “Hôm nay như thể chính em là cái đài.”
“Như thể người khác nhập vào em?”
“Rất khó diễn tả. Sợ nữa. Tự dưng ngất ra vậy. Người ở đây mà hồn ở đâu. Xấu hổ nữa chứ, tỉnh lại thấy mọi người đứng chung quanh như thể… cảnh… cảnh hấp hối thời Victoria. Chúa mới biết nhà Webber nghĩ gì.”
Xưa nay tôi vẫn luôn đặt mấy món “ngoại cảm” của Holly trong ngoặc kép, nhưng hôm nay chính món ngoại cảm ấy đã đem con gái tôi trở lại. Niềm tin vào thuyết bất khả tri trong tôi bị lay động nặng nề. Tôi hôn đầu nàng. “Lúc nào đó em hãy viết ra đi. Chuyện này thật là… thú vị.”
“Làm gì có ai thèm đọc những thứ lảm nhảm điên khùng đó.”
“Em sai rồi. Người ta luôn tha thiết tin rằng còn có…”
Tiếng la hét từ hội chợ trên cầu cảng vượt qua mặt nước bình lặng, len vào cửa sổ mở hé.
“Hol,” tôi nhận ra mình sẽ nói ra hết “Nasser ở Baghdad, trợ lý của anh và Aziz Al-Karbalai, thợ ảnh. Hai người bị giết trong vụ bom xe ở khách sạn Safir tuần trước. Hai người chết là vì anh.”
Holly dỡ người khỏi tôi, ngồi dậy. “Anh nói chuyện gì vậy?”
Holly áp đầu gối vào ngực. “Đáng ra anh phải kể với em.”
Tôi chặm mắt trên tấm trải giường. “Đám cưới Sharon mà, làm sao nói được. Phải không?”
“Hai người là đồng nghiệp của anh. Bạn bè của anh. Giả sử Gwyn chết mà em cứ làm thinh suốt mấy ngày rồi mới chịu nói với anh thì sao. Có tang lễ không?”
“Có,…cho những gì còn lại của cả hai. Nhưng anh không thể đi được vì quá nguy hiểm.” Tiếng cười đùa của người say vọng vào từ hành lang bên ngoài phòng. Tôi đợi người ta đi hẳn. “Lúc còn tối thì không thấy gì nhiều, nhưng sáng hôm sau, khi mặt trời lên, chỉ còn mấy mẩu rúm ró của chiếc xe cài bom, và chiếc Corolla của Nasser… Ông Khufaji có đặt vài chậu cây ở đằng trước, loại chậu cảnh tỉa thành hình ấy. Để nhắc đến những ngày văn minh hơn. Giữa hai chậu cây có một… một… một cái cẳng chân, còn dính bàn chân và một… một chiếc giày vải. Lạy Chúa, anh từng thấy những thứ kinh khủng hơn ở Rwanda, một anh lính quèn ở Iraq hẳn thấy những thứ còn hãi hơn gấp nhiều lần mỗi ngày. Nhưng khi anh nhận ra chiếc giày đó - là giày của Aziz - anh nôn thốc nôn tháo.” Bình tĩnh nào. “Trước đó Nasser có ghi âm phỏng vấn bệnh nhân ở trạm xá bên ngoài Fallujah. Định là ngày hôm sau, tức chỉ cách đây một tuần thôi, anh ấy sẽ đến khách sạn và chép lại ra giấy. Anh ấy đưa anh giữ máy ghi âm cho yên tâm. Hai người chào tạm biệt. Anh đi vào khách sạn. Đề máy xe của Nasser rạc lắm rồi, có lẽ Aziz đã nhảy ra để đẩy xe, hay đấu dây sạc, nhiều khả năng là vậy. Kẻ đánh bom nhằm vào sảnh khách sạn, có lẽ muốn hạ cả tòa nhà, anh không chắc, tòa nhà có thể đã đổ sập vì tiếng nổ khá to, nhưng chiếc xe lại đâm vào xe Nasser và…” Bình tĩnh nào. “Lạy Chúa, nước mắt ra đằng mũi, làm sao thế được? Vậy nên… mấy đứa con gái của Nasser giờ đã mất cha vì Nasser phải đưa anh về trễ, ngay đúng giờ xe cài bom đến khách sạn của người nước ngoài.”
Từ tivi ở phòng kế bên tôi nghe tiếng một bộ phim chiến tranh vũ trụ Hollywood.
Nàng chạm vào cổ tay tôi. “Anh biết đâu có đơn giản vậy mà? Như anh thường nói với em mỗi lần em dằn vặt chuyện Jacko.”
Aoife, trong cơn mơ ngủ, ú ớ như tiếng kèn harmonica đơn độc.
“Ừ thì, tại vụ 9/11, tại Bush và Blair, tại cánh Hồi giáo vũ trang, tại cuộc chiếm đóng, tại Nasser chọn nghề, tại Olive Sun và Spyglass, tại chiếc Corolla bệ rạc không khởi động được, xui xẻo giờ giấc, ôi, cả triệu thứ nguyên cớ… nhưng có cả anh nữa. Ed Brubeck thuê họ. Nasser phải làm việc để nuôi sống gia đình. Anh là lý do tại sao anh ta và Aziz có mặt ở đó…” Tôi nghẹn ngào, phải kìm lại. “Anh là con nghiện, Holly à. Cuộc sống buồn tẻ chán ngắt khi anh không được làm việc. Brendan không cần chối gì cả, anh ấy đã nói đúng. Nói sự thật tuyệt đối, sự thật hoàn toàn. Anh… anh là con nghiện khói lửa. Mà anh không biết phải làm sao.”
Holly đang đánh răng, một vệt sáng màu vani đổ ngang qua người Aoife. Nhìn nó xem, cô bé không-còn-quá-bé-bỏng này, cô bé thông minh, tinh nghịch lần đầu xuất hiện trước mắt chúng tôi qua màn hình siêu âm, cách đây đã gần bảy năm. Tôi còn nhớ báo tin cho bạn bè và gia đình: người nhà Sykes vui mừng ngạc nhiên, rồi nhìn tôi tủm tỉm, khi Holly nói thêm, “Không có đâu má, Ed với con sẽ không kết hôn. Năm 1997 rồi, đâu phải năm 1897 nữa”; và mẹ tôi - khi ung thư máu đã di căn vào tủy, thốt lên, “Ôi, Ed!” rồi bật khóc, rồi tôi hỏi, “Tại sao mẹ khóc?” và bà cười, “Mẹ không biết!”; “Cục cưng” cứ lớn dần lên cho tới khi rốn của Holly bị lộn ngược lại; “Cục cưng” đá bụng má; khi ba má ngồi trong quán cà phê Spence ở Stoke Newington, cùng viết ra danh sách tên con gái - nhưng đâu cần thiết vì Holly đã biết sẵn rồi, đương nhiên; và tôi đi Jerusalem mà sốt ruột bần thần, cứ nghĩ đến vỉa hè đóng băng và bọn trấn lột ở London; rồi đêm ngày 30 tháng Mười Một Holly gọi từ phòng tắm, “Brubeck, lấy chìa khóa xe đi”; xe chạy ào vào khoa sản, Holly vật vã đau đớn như bị xé xác trong cơn vượt cạn cho đến khi ôm trong tay một sinh vật ươn ướt và nói, “Ba má chờ con đây”; và bác sĩ Shamsie người Pakistan khăng khăng, “Không, không, không, anh Brubeck, anh phải cắt dây rốn chứ, anh cắt đi. Đừng sợ - anh đã thấy nhiều thứ đáng sợ hơn khi tác nghiệp kia mà”; và cuối cùng, những tách trà sữa và đĩa bánh qui trong căn phòng nhỏ cuối hàng lang. Aoife lần đầu thưởng thức sữa mẹ, còn Holly và tôi thì thấy đói bụng cồn cào.
Đó là bữa sáng đầu tiên của gia đình tôi.