Mình kéo toang rèm cửa. Bầu trời khát khô, dưới sông đầy tàu thuyền lớn nhỏ lô nhô nhưng trong đầu mình chỉ có đôi mắt màu sô cô la của Vinny, dầu gội đầu chảy xuống lưng chàng, mồ hôi lấm tấm trên vai chàng, rồi nụ cười tinh quái của Vinny. Tim mình như muốn vỡ tung. Chúa ơi, ước gì mình thức dậy ở nhà Vinny trên phố Peacock, chứ không phải trong căn phòng chết giẫm này. Đêm qua những lời ấy như tự thốt ra, “Lạy Chúa, em yêu anh quá chừng, Vin à,” rồi Vinny phả khói thuốc thành đám mây nhỏ, rồi Vinny giả giọng như Thái tử Charles, “Phải nói rằng, ta cũng ưa ở cùng cô lắm, Holly Sykes à,” mình cười muốn són cả ra, mặc dù vẫn hơi bực vì chàng chẳng đáp “Anh cũng yêu em”. Thiệt tình. Nhưng mà, đàn ông con trai hay ra vẻ vớ vẩn bông lơn để mà che giấu cảm xúc, chẳng phải báo vẫn viết vậy sao. Ước gì mình gọi được cho Vinny ngay bây giờ. Ước gì người ta chế ra điện thoại có thể gọi mọi nơi mọi lúc. Giờ này hẳn chàng đang cưỡi chiếc Norton đi làm trên Rochester, chàng mặc áo da có chữ LED ZEP đính đinh bạc. Tháng Chín này mình tròn mười sáu tuổi, chàng sẽ chở mình trên chiếc Norton.
Dưới nhà có tiếng đóng cửa tủ đánh rầm.
Má. Còn ai đóng cửa kiểu đó nữa.
Hay má biết rồi? Mình nghĩ mà quặn cả ruột.
Không có đâu. Hai đứa vô cùng cẩn thận.
Má đang tuổi mãn kinh nên nóng nảy. Chỉ có vậy thôi.
Đĩa Fear of Music của Talking Heads đang nằm trong máy, mình hạ cây kim máy xuống. Vinny mua tặng mình đĩa này, hôm đó là ngày thứ Bảy thứ nhì tụi mình gặp nhau ở tiệm đĩa Magic Bus Records. Đĩa hay tuyệt. Mình thích bài “Heaven” và “Memories Can’t Wait” nhưng nói chung cả album không có lấy một bài dở. Vinny đã từng đến New York, từng xem Talking Heads biểu diễn. Dan bạn của Vinny làm bảo vệ ở đó nên cho Vinny vào sau cánh gà, Vinny đã gặp David Byrne và ban nhạc. Năm sau mà đi tiếp thì chàng sẽ dẫn mình theo. Mình thay đồ, ngắm mấy vết cắn yêu trên người rồi ước gì tối nay lại được đến thăm Vinny, nhưng chàng bận đi gặp bạn ở Dover. Đàn ông rất ghét đàn bà hay ghen, nên mình giả bộ không ghen gì hết. Stella - bạn thân nhất của mình, đã đi London để đi săn đồ cũ ở chợ Camden. Má nói mình còn quá nhỏ, không thể đi London mà không có người lớn, vậy là Stella rủ Ali Jessop. Ngày hôm nay mình chỉ còn trông mỗi việc hút bụi ở quầy bar để kiếm ba bảng tiền tiêu vặt. Chán mớ đời. Rồi phải ôn tập để chuẩn bị thi tuần tới. Thực lòng chỉ muốn nộp giấy trắng, dẹp hết tam giác tam giếc Py-ta-go và tiểu thuyết Chúa ruồi với vòng đời sâu bọ nhảm nhí. Có khi làm vậy luôn.
Ừ, biết đâu đó.
Dưới nhà bếp không khí lạnh như Nam Cực. “Chào bà con,” mình lên tiếng nhưng chỉ mỗi Jacko ngồi vẽ bên cửa sổ là ngước lên. Sharon ngồi ở ghế sa-lông, xem phim hoạt hình. Ba ở lối sảnh dưới nhà, nói chuyện với người giao hàng – xe tải của công ty bia mở máy gầm gừ ngay trước quán. Má đang cắt mấy trái táo thành từng miếng nhỏ để nấu ăn, vẫn mặt lạnh như tiền với mình. Đáng ra mình phải nói “Sao vậy má, con làm gì sai sao?” nhưng mình cóc thèm. Đương nhiên má biết tỏng khi tối mình về trễ, nhưng cứ để má nói trước. Mình đổ sữa lên miếng ngũ cốc Weetabix rồi mang ra bàn. Má đậy nắp xoong đánh rầm, bước lại. “Được rồi. Cô có muốn nói năng gì không?”
“Chào má. Hôm nay trời lại nóng nữa ha.”
“Cô có muốn nói năng gì không hả?”
Nếu không chắc thì tốt nhất cứ làm bộ ngây thơ. “Nói gì kia?”
Cặp mắt má long lên. “Hôm qua về nhà mấy giờ?”
“Ô kê, ô kê, thì về trễ chút mà, xin lỗi má.”
“Hai tiếng đồng hồ đâu phải là trễ chút. Cô đi đâu?”
Mình nhai Weetabix. “Nhà Stella. Quên giờ giấc.”
“Vậy sao, kỳ quá chừng. Mười giờ tui điện cho má của Stella xem cô đang ở chỗ nào, mà biết sao không? Cô đi khỏi đó trước tám giờ. Vậy ai nói dối đây hả Holly? Cô hay bà ta?”
Chết thật. “Sau khi ở nhà Stella ra con đi dạo.”
“Cô đi dạo ở đâu vậy?”
Mình gằn từng tiếng. “Đi dạo dọc bờ sông, được chưa?”
“Đi xuôi dòng hay ngược dòng vậy?”
Im lặng một lúc. “Thì có khác gì?”
Phim hoạt hình trên TV đang đến đoạn nổ bùm chíu. Má quay sang nhỏ em mình, “Sharon, tắt ngay, đóng cửa lại.”
“Không công bằng! Chỉ có chị Holly bị la mà.”
“Nghe không Sharon. Còn Jacko nữa…” Nhưng Jacko đã đi mất. Khi Sharon đã đi khỏi, má lại ra đòn: “Đi bộ kiểu vậy có một mình thôi sao?”
Tại sao mình cứ có cảm giác má đang giăng bẫy? “Đúng vậy.”
“Đi bộ vậy được bao xa?”
“Gì nữa trời… Má muốn tính bằng dặm hay cây số?”
“À, có phải vụ đi bộ này dẫn cô tới phố Peacock, gặp một tay tên là Vincent Costello?” Quanh mình gian bếp quay mòng mòng. Bên ngoài cửa sổ, trên bờ sông ở địa phận Essex có dáng người xíu xiu đang nhấc xe đạp xuống từ trên phà. “Tự dưng cứng họng rồi hả? Để tui nhắc cô nhớ vậy: mười giờ tối hôm qua, cô kéo rèm xuống, ngay cửa sổ trước nhà người ta, trên người mặc độc áo thun.”
Đúng là lúc đó mình đi xuống nhà lấy bia cho Vinny. Đúng là mình đã hạ rèm cửa. Đúng là có người đi ngang qua. Bình tĩnh đã. Dễ gì người đó nhận ra mình? Má đang đợi mình xìu tại chỗ, nhưng quên đi. “Má chạy quán thiệt là phí. Đáng ra má nên làm cho cục tình báo MI5, chuyên trị đám nội gián sừng sỏ.”
Má liếc mình muốn đứt da mặt – cái liếc đặc sản của bà Kath Sykes.
“Thằng đó nhiêu tuổi?”
Giờ tới lượt mình khoanh tay lại. “Không phải việc của má.”
Cặp mắt má lườm lườm. “Nghe đâu là hai mươi bốn.”
“Nếu biết rồi má còn hỏi làm gì?”
“Vì một tay hai mươi bốn tuổi mà dính vào nữ sinh mười lăm tuổi thì bị coi là phạm pháp. Đi tù chứ chẳng chơi.”
“Tháng Chín này con đủ mười sáu tuổi, cảnh sát hạt Kent còn khối chuyện khác phải làm. Con lớn rồi, con tự biết việc mình.”
Má châm một điếu Malboro đỏ. Mình thèm chết được. “Để tui nói với ông già cô, rồi ổng cho tay Costello này biết mùi.”
Xưa nay thỉnh thoảng ba vẫn phải xua mấy tay say xỉn ra khỏi quán, nhưng ba đâu phải loại giang hồ dao búa gì.
“Hồi bồ với Mandy Fry anh Brendan có mười lăm tuổi, không lẽ má nghĩ hai người đó chỉ có nắm tay nhau ngồi xích đu thôi. Nhưng hình như má đâu có ca bài tù tội gì.”
Má nói từng tiếng, như thể mình ngu lắm: “Nó-là-con-trai.” Mình phì cười, ra bộ tui-không-tin-nổi-má-vừa-nói-gì.
“Tui nói cho cô biết, Holly à, cô muốn đi gặp cái tay buôn xe này nữa thì… hãy bước qua xác tui đã.”
“Thiệt tình, nói cho má biết, tui muốn đi đâu kệ tui!”
“Nội quy mới.” Má dụi tắt điếu thuốc. “Tui sẽ đưa rước cô đi học bằng xe tải. Cô không được ra ngoài, trừ khi đi với tui, ba cô, Brendan hay Ruth. Nếu tui còn thấy tay cà chớn này lảng vảng quanh đây, tui sẽ báo cho cảnh sát túm cổ – tui nói là làm, thề có Chúa. Rồi… rồi tui sẽ gọi cho chỗ nó làm, báo họ biết là nó đang dụ dỗ con gái vị thành niên.” Mấy giây trôi qua chậm chạp khi mình nghe hết chừng đó.
Mắt mình bắt đầu ngân ngấn nhưng mình quyết không nhân nhượng trước mặt bà Hitler. “Đây đâu phải là Ả rập Saudi! Má không nhốt tui được!”
“Sống trong nhà này thì phải theo nội quy của tui. Khi tui bằng tuổi cô…”
“Biết rồi khổ lắm nói mãi, má có hai chục em trai, ba chục em gái, bốn chục ông bà nội ngoại, phải cuốc năm chục mẫu ruộng khoai vì ở Ái-Nhĩ-Lan cực lắm chẳng chơi! Nhưng đây là Anh quốc, má à, Anh quốc, má biết chưa! Bây giờ là năm tám mấy rồi. Nếu cái hóc bà tó Tây
Cork đó sướng vậy thì mắc gì má phải mò tới…” Chách! Một cái tát ngay bên má trái mình.
Hai người nhìn nhau: mình run rẩy vì sốc, má giận sôi – trước giờ mình chưa từng thấy má giận như vậy, rồi mình nhận ra… dường như má biết vừa đánh vỡ thứ gì đó, không thể hàn gắn nữa. Mình bỏ ra ngoài mà không thèm nói năng, như thể vừa thắng cuộc.
Mình chỉ khóc một chút thôi, khóc vì sốc quá, chứ không phải mít ướt thảm thiết gì. Khóc xong mình đi soi gương. Mắt mình hơi bị húp, nhưng chỉ cần kẻ lại một chút là xong… Thêm chút son, chút phấn hồng… Xong. Đứa con gái trong gương giờ đã là một người đàn bà, tóc đen tém gọn, mặc áo thun Quadrophenia, quần jeans đen. Cô ta nhìn mình, nói “Nghe đây, hôm nay mày sẽ dọn vào ở với Vinny.” Mình bắt đầu liệt kê những lý do tại sao không thể làm vậy được, rồi dừng lại. “Thôi được,” mình đồng ý, cảm giác vừa ngây ngây vừa bình thản. Mình sẽ bỏ học luôn. Bắt đầu từ bây giờ. Giám thị trên trường chưa kịp đánh rắm thì đã đến kỳ nghỉ hè, tháng Chín này mình mười sáu tuổi, kệ mẹ trường Phổ Thông Windmill Hill. Dám không?
Dám chứ. Vậy thì sắp đồ đi. Sắp gì bây giờ? Sắp đủ cái túi thể thao bự đó. Quần lót, áo ngực, áo thun, áo khoác vải phao; hộp đồ trang điểm rồi cả cái hộp thiếc Oxo đựng vòng xuyến dây chuyền. Bàn chải đánh răng, thêm một mớ băng vệ sinh – kỳ này hơi trễ nên chắc sắp rồi. Giờ tới tiền. Đếm hết được 13 bảng 85 xu, cả tiền giấy lẫn tiền xu. Trong sổ tiết kiệm ngân hàng TSB còn 80 bảng. Vinny đời nào lại đòi tiền nhà, rồi tuần tới mình sẽ đi tìm việc. Giữ em, làm ở chợ, chạy bàn: muốn kiếm vài đồng thì thiếu gì cách. Còn đám đĩa LP thì sao? Mình không thể mang hết sang phố Peacock, mà để lại thì kiểu gì má cũng sẽ đem cho cửa hàng từ thiện Oxfam cho bõ tức, vậy là mình chỉ lấy đĩa Fear of Music, gói cẩn thận trong áo khoác vải phao rồi bỏ vào túi cho khỏi bị cong. Đám đĩa còn lại mình giấu dưới ván sàn nhà, tạm vậy đã. Nhưng khi lấp thảm lên trên mình muốn điếng cả hồn vía: Jacko đang đứng ngay bệ cửa, nhìn mình. Nó vẫn còn mặc bộ đồ ngủ và mang dép vải Thunderbirds.
Mình nói, “Trời, làm tui thiếu điều muốn đau tim.”
“Chị sắp đi.” Jacko hay có kiểu nói mơ hồ như vậy.
“Ừ, nhưng đừng nói ai nha. Chị không đi đâu xa, đừng lo.”
“Jacko làm cho chị cái này, để chị nhớ Jacko.” Jacko đưa cho mình một tấm bìa hình tròn – hộp phô mai Dairylea ép dẹp, trên đó có vẽ hình mê cung. Jacko rất khoái mê cung này nọ: chắc là vì nó và Sharon suốt ngày cứ ưa đọc sách báo về trò chơi nhập vai Rồng rắn và Ngục tối. Mê cung này thực ra rất đơn giản so với những thứ Jacko hay vẽ, chỉ có khoảng tám chín vòng tròn lồng vào nhau. “Cầm đi,” nó nói. “Hắc ám vô cùng.”
“Thấy đâu có đến nỗi nào.”
“‘Hắc ám’ là giống như quỷ đó, chị à.”
“Vậy tại sao cái này lại giống quỷ hả?”
“Bụi Tối sẽ đuổi theo chị ở trong đó. Nếu để nó chạm đến chị sẽ tan ra ngay, nên nếu rẽ sai đường, vào ngõ cụt thì tiêu đời. Nên chị phải học thuộc lòng cái mê cung này.”
Lạy Chúa, thằng em mình nó mới quái đản làm sao. “Được rồi. Cảm ơn Jacko ha. Nghe nè, giờ chị phải…”
Jacko cầm lấy cổ tay mình. “Học thuộc cái này đi, Holly. Chiều Jacko quái đản đi chị. Đi mà.”
Mình thấy hơi choáng. “Lạy ông, ông quái vừa vừa thôi.”
“Hứa với Jacko chị sẽ cố nhớ đường đi trong đó, khi cần chị sẽ định vị được trong bóng tối. Đi mà.”
Mấy đứa nhóc em của bạn mình toàn chỉ thích đồ chơi xe đua Scalextric, xe đạp BMX hay bộ bài Top Trumps – cớ làm sao mình lại có thằng em kiểu này, toàn nói những từ như “định vị” rồi cả “hắc ám”?
Trời đất, nếu nó mà đồng tính nữa thì làm sao sống nổi ở Gravesend này. Mình vò mái tóc nó. “Được rồi, chị hứa sẽ học thuộc mê cung của Jacko.” Rồi Jacko ôm mình, thật kỳ lạ vì Jacko vốn không phải là đứa nhỏ thích được ôm ấp. “Nghe nè, chị không đi đâu xa mà… Khi nào lớn lên Jacko sẽ hiểu, rồi…”
“Chị dọn tới ở chung với anh bạn trai.”
Tới giờ thì mình chẳng lý gì mà choáng nữa. “Ừ.”
“Chị Holly bảo trọng.”
“Vinny tử tế lắm. Đợi má nguôi rồi mình sẽ gặp lại nhau – mình vẫn gặp anh Brendan sau khi ảnh lấy chị Ruth, đúng không?”
Nhưng Jacko chỉ nhét tấm bìa với mê cung vào sâu trong túi mình, nhìn mình lần cuối rồi lỉnh đi.
Má ôm một giỏ đựng đầy thảm dơ, đứng ngay trên đầu cầu thang tầng một, làm ra bộ như không thèm chực sẵn. “Tui không nói chơi. Cô bị cấm cửa. Đi lên gác ngay. Tuần tới thi rồi. Lo ôn bài đi.”
Mình nắm chặt lan can. “Ở nhà má thì phải theo luật của má, phải vậy không. Được rồi. Tui cóc thèm luật của má, cóc thèm nhà má, cóc thèm cảnh má cứ nóng lên là chưởng tui nữa. Má mà là tui thì đời nào má chịu nhịn, đúng không?”
Gương mặt má giật giật mấy cái, cứ như thể đang nghĩ nếu bây giờ má lựa lời, mình sẽ ngồi xuống mà làm hòa. Nhưng, không hề, má chỉ nhìn cái túi thể thao của mình, cười khinh khỉnh như thể má không ngờ mình khờ tới vậy. “Trước kia cô cũng từng là đứa có đầu óc.” Vậy là mình cứ bước tiếp, xuống thẳng tầng trệt.
Ở trên kia, giọng má rít lên. “Không đi học nữa sao?”
“Má đi học đi, nếu má thấy quan trọng tới vậy!”
“Tui đâu có được sướng như cô! Tui phải chạy quán, chăm anh em nhà cô, chăm cô, chăm Brendan, chăm Sharon rồi Jacko, cho mấy người cơm ăn áo mặc, cho học hành. Để sau này cô không phải đi chùi cầu tiêu, đi đổ gạt tàn. Để cô không phải nai lưng đầu tắt mặt tối.” Nước đổ đầu vịt. Mình bước tiếp xuống cầu thang.
“Nhưng được rồi, cô đi đi. Đi đi. Đi cho biết mùi. Giỏi lắm ba ngày thằng Romeo đó sẽ đá cô ra khỏi cửa. Cô cứ tưởng đàn ông ưa đàn bà con gái ở phẩm hạnh tính cách sao, hả Holly. Không có đâu.”
Mình lờ đi. Từ lối sảnh mình nhìn thấy Sharon đứng sau quầy bar, chỗ kệ nước trái cây. Nó đang giúp ba xếp hàng lên kệ, nhưng mình biết nó nghe được hết. Mình vẫy tay chào nó, con nhỏ run run vẫy lại. Giọng ba vọng lên từ dưới tầng hầm, ngân nga bài “Chuyến phà qua dòng Mersey”. Tốt nhất là đừng đả động gì tới ổng ngay lúc này. Trước mặt má, kiểu gì ba cũng hùa với bả. Rồi ba sẽ bô lô với đám khách quen “Dại gì mà xen vô chuyện đàn bà con gái”, rồi cả đám sẽ gật gù, lẩm bẩm, “Chính xác luôn Dave” Với nữa mình không muốn đứng đó khi ba biết chuyện Vinny. Mình không xấu hổ gì cả, chỉ là không muốn ở đó thôi. Con chó Newky đang ngủ trong giỏ. “Mày là con chó hôi nhất Kent,” mình nói với nó, chỉ để không òa khóc, “Đồ ve rận gớm ghiếc.” Mình vỗ lên cổ nó, kéo chốt cửa hông rồi bước ra Hẻm Marlow. Sau lưng, cửa đóng đánh cộp.
Phố West vừa sáng vừa tối, như màn hình TV liên tục bị chỉnh. Mình đeo kính râm vào. Cả thế gian như đi trong mơ, sặc sỡ hơn, sống động hơn. Cổ họng mình đau rêm, mình đang run. Không ai chạy đuổi theo từ quán. Tốt rồi. Một chiếc xe tải chở xi-măng rầm rập đi qua, bụi khói khiến cây dẻ ngựa nghiêng ngả, xào xạc. Mình ngửi thấy mùi mặt đường nhựa nóng ran, mùi khoai tây chiên và mùi rác rến đầy tràn nguyên cả tuần – công nhân vệ sinh lại đình công nữa.
Chim chóc lượn qua lượn lại hót líu lo như ống sáo thiếc có cột dây mà người ta hay mua làm quà sinh nhật cho con nít, hồi trước thôi chứ giờ cũng hiếm. Mấy thằng nhãi con chơi đá lon trong công viên gần nhà thờ ở Ngõ Quẹo. Bắt nó! Ở sau cái cây đó! Thả tao ra! Đồ con nít hôi. Stella nói là chỉ nên bồ với đàn ông lớn tuổi: bọn trai choai choai giống như cây cà rem, vừa cầm tới tay đã chảy nước. Chỉ có mỗi Stella biết chuyện Vinny – hôm ở tiệm Magic Bus ngày thứ Bảy đầu tiên cũng có Stella. Lúc Stella chỉ mình hút thuốc, mình nôn thốc tháo nhưng nó không hề cười hay kể lại cho ai nghe, nó còn chỉ cho mình hết chuyện đàn ông con trai. Stella đúng là đứa con gái hay ho nhất trong khóa mình ở trường.
Ngõ Quẹo bẻ ngoặt lên từ dọc bờ sông. Mình rẽ lên phố Queen, sém chút nữa thì tông sầm vào Julie Walcott đang đẩy xe em bé. Đứa nhỏ khóc inh tai trong xe, còn Julie trông bơ phờ rũ rượi. Julie có bầu, bỏ học. Mình và Vinny cực kỳ cẩn thận, tụi mình chỉ có quan hệ mỗi một lần mà không dùng bao cao su, là ngay lần đầu tiên. Mà khoa học chứng minh rồi, quan hệ lần đầu không thể dính bầu. Stella nói vậy mà.
Cờ phướn treo khắp phố Queen, như thể ăn mừng Ngày Độc Lập của Holly Sykes. Bà người Scotland ở tiệm bán len đang tưới những giỏ hoa treo, ông Gilbert thợ kim hoàn đang đặt mấy khay nhẫn ra chỗ cửa sổ, hai ông hàng thịt Mike và Todd đang khiêng một con heo cụt đầu từ trong thùng xe tải ra, trong xe còn treo một tá xác heo bò treo lủng lẳng. Bên ngoài thư viện mấy người bên công đoàn đang cầm xô quyên góp ủng hộ thợ mỏ đình công. Đảng viên đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa cầm khẩu hiệu CẦN THAN KHÔNG CẦN TRỢ CẤP, rồi THATCHER TUYÊN CHIẾN VỚI CÔNG NHÂN. Ed Brubeck lượn xe đạp tới. Mình bước ngay vào chợ, tránh mặt hắn. Ed chuyển từ Manchester tới Gravesend hồi năm ngoái sau khi ông già đi tù vì tội trộm cắp và hành hung. Hắn không có bạn bè gì, mà hình như cũng chẳng thèm kết bạn với ai. Thường kiểu đó ở trường mình dễ gì sống nổi, nhưng từ hồi một đứa lớp trên chưa gì đã bị Ed đấm cho gãy mũi thì không ai dám đụng đến hắn nữa. Ed đạp xe ngang qua mà không nhìn thấy mình, trên ghiđông có cột cần câu cá. Mình đi tiếp. Ngay trước quầy trò chơi điện tử người hát rong đang chơi nhạc đám ma bằng kèn clarinet. Một người đi qua quăng đồng xu vào hộp kèn, vậy là anh ta chuyển sang chơi nhạc nền phim bộ Dallas. Khi ngang qua tiệm đĩa Magic Bus Records mình ghé mắt liếc vô. Hôm đó mình đang xem danh mục chữ R, tìm đĩa của “Ramones”. Vinny nói là chàng đang xem danh mục chữ H, để tìm “Hấp dẫn,” “Hứng tình”, và “Holly”. Phía sau tiệm có mấy cây guitar cũ. Vin đánh được khúc dạo đầu của bài “Stairway to Heaven” nhưng chưa bao giờ chơi quá chỗ đó cả. Mình sẽ tự học chơi guitar trên đàn của Vin mỗi khi chàng đi làm. Vin và mình sẽ lập ban nhạc. Tại sao không? Tina Weymouth là con gái mà chơi guitar bass trong Talking Heads còn gì. Tưởng tượng ra bộ mặt của má, khi vừa nói “Không má con gì với nó nữa,” rồi thấy mình lên chương trình Top of the Pops. Vấn đề của má là má chưa bao giờ yêu ai sâu sắc như mình với Vinny yêu nhau. Má với ba cũng ô kê, nhưng cả nhà ngoại ở Cork chẳng ưa gì chuyện ba không phải là dân Ireland, lại còn không phải dân Công giáo. Mấy người bà con ở Ireland rất khoái kể mình nghe chuyện ba làm má có bầu anh Brendan trước khi hai người đám cưới. Nhưng hai người ở với nhau tính tới giờ đã được hai mươi lăm năm, vậy cũng không đến nỗi, nhưng cái chính là, má với ba không có sự đồng điệu tuyệt vời như mình với Vin. Stella nói mình với Vin là một cặp trời sinh. Nhỏ nói là nhìn vô thấy ngay, tụi mình sinh ra để cho nhau.
Bên ngoài ngân hàng NatWest trên phố Milton mình tình cờ gặp anh Brendan. Tóc vuốt keo, cà vạt hoa hòe ngoằn ngoèo, áo vét khoác hờ qua vai. Nhìn qua cứ tưởng ông anh mình đang đi tới Trường Nam Thanh Nữ Tú, chớ không phải tới văn phòng Scott và Conway. Ông anh mình đẹp trai có tiếng, đốn tim nhiều người, nhất là trong đám chị của mấy đứa bạn mình – ặc ặc nghe mà mắc ói. Anh mình lấy chị Ruth, là con gái của ông Conway sếp ảnh. Đám cưới ở tòa thị chính, đãi tiệc hoành tráng ở Câu lạc bộ điền dã Chaucer. mình không làm phụ dâu vì mình không thích mặc đầm, nhất là thể loại đầm mặc vào khiến mình giống như búp bê Cuốn theo chiều gió mà người ta hay sưu tầm. Vậy là Sharon và đám cháu gái của chị Ruth làm hết mấy trò đó, bà con bên ngoại từ Cork qua dự rất đông. Má cưng Brendan như cục vàng, Brendan thì thương má nhất nhà. Kiểu gì hai người cũng sẽ ngồi mổ xẻ những gì mình sắp nói ra.
“Chào ông anh,” mình lên tiếng. “Sao rồi?”
“Ngon lành. Quán hôm nay sao?”
“Ổn. Bữa nay má tự dưng vui lắm.”
“Vậy hả?” Brendan mỉm cười, ngơ ngác. “Tại sao vậy?”
Mình nhún vai. “Chắc là tốt ngày.”
“OK.” Brendan nhìn túi thể thao của mình. “Đi đâu xa hả?”
“Không có. Chỉ tới nhà Stella Yearwood ôn tập tiếng Pháp, rồi ngủ lại luôn. Tuần tới thi rồi.”
Brendan hơi bị choáng. “Em gái ngoan quá ta.”
“Chị Ruth đỡ hơn chưa?”
“Cũng không hơn mấy. Chúa mới biết sao người ta gọi ốm nghén là ‘chứng buồn nôn buổi sáng’ chứ nửa đêm còn tệ hơn.”
“Chắc là để tập cho anh quen, khi đứa nhỏ chui ra,” mình cà khịa. “Rồi sẽ mất ngủ triền miên, cãi vã, nôn trớ… Cần phải dai sức lắm.”
Ông anh mình không thèm chấp. “Chắc vậy.” Khó mà hình dung Brendan trong vai bố trẻ con, nhưng đến Giáng Sinh này thì đúng vậy.
Sau lưng mình ngân hàng NatWest bắt đầu mở cửa, nhân viên ngân hàng lục tục đi vào. “Ông Conway chắc không đuổi việc con rể đâu,” mình nói với Brendan, “nhưng chẳng phải anh bắt đầu làm lúc chín giờ sao?”
“Đúng rồi. Hẹn ngày mai gặp nhé, khi cưng đã ôn tập căng thẳng xong. Má rủ hai đứa tụi anh về ăn trưa. Cưng đi vui ha.”
“Chưa hôm nào vui như hôm nay,” mình nói với ông anh, cũng là gián tiếp nói với má.
Brendan nở nụ cười ăn tiền, rồi lỉnh đi, hòa vào dòng người mặc complet và đồng phục đang tiến đến các văn phòng, cửa hiệu, nhà máy.
Thứ Hai mình sẽ đi cắt thêm một chìa khóa nhà Vinny, nhưng hôm nay mình vẫn dùng lối đi bí mật như thường lệ. Dọc theo phố The Grove, ngay trước sở thuế là con hẻm khuất có thùng rác mở, đầy mấy túi rác nồng nặc mùi tã lót sôi bùng bục gớm ghiếc. Một con chuột màu nâu nhìn mình, vẻ câng câng bố đời. Mình đi dọc theo hẻm, rẽ phải, lọt vào giữa hàng rào vườn sau của dãy nhà phố Peacock và bức tường sở thuế. Tít dưới kia, căn nhà cuối cùng cạnh đường xe lửa là nơi Vinny ở. Mình chen qua mấy tấm liếp lỏng lẻo, lội vào vườn sau nhà Vinny. Cỏ dại mọc cao tới eo mình, mấy cây mận bắt đầu ra trái, nhưng chắc chỉ có đám ong và sâu bọ ăn hết, Vinny nói là chàng không thèm hái mận. Cứ như mình đang đi vào khu rừng trong truyện Công Chúa Ngủ Trong Rừng.
Khu rừng um tùm nuốt trọn cả tòa lâu đài nơi người ta ngủ quên một trăm năm. Đáng ra Vinny phải dọn dẹp vườn tược ngăn nắp cho bà cô, nhưng bà cô ở tuốt trên King’s Lynn, lại chẳng bao giờ ghé thăm. Với nữa, Vinny là dân chơi xe phân khối lớn, không phải dân làm vườn. Để ổn định rồi mình sẽ ra tay dọn dẹp. Khu vườn cần có bàn tay phụ nữ, thế thôi. Có khi mình sẽ bắt đầu dọn ngay hôm nay, sau buổi tự học đàn guitar. Trong góc vườn, sau bụi mâm xôi có nhà kho nhỏ chứa đồ làm vườn và máy cắt cỏ. Hướng dương, hồng, bươm bướm, cẩm chướng, oải hương, rồi cả rau thơm trong mấy chậu đất, mình sẽ trồng hết chừng đó. Mình sẽ làm bánh scone, làm bánh pie nhân trái mận, làm bánh ga-tô cà phê rồi Vinny sẽ phải thốt lên, “Lạy Chúa, Holly làm sao anh sống được mà không có cưng?” Hết thảy tạp chí đều nói là đường tới trái tim đàn ông phải đi qua dạ dày. Cạnh thùng nước mưa có một bụi cây màu tía tua tủa như ngón tay, bươm bướm trắng bay quanh, như kim tuyến rắc, đăng ten viền; sống động vô cùng.
Cửa sau không bao giờ khóa vì Vinny đã làm mất chìa. Hộp bánh pizza và ly rượu của hai đứa vẫn còn nằm trong chậu rửa từ tối hôm qua, không có dấu hiệu gì của bữa sáng cả – chắc là Vinny ngủ quên rồi phải ba chân bốn cẳng chạy đi làm như thường lệ. Chỗ này cần một cuộc tổng vệ sinh dọn dẹp, hút bụi. Nhưng đầu tiên mình phải làm ly cà phê và hút điếu thuốc đã – mình chỉ mới ăn một nửa phần Weetabix trước khi má ra đòn như Muhammad Ali. Mình quên mua thuốc lá trên đường đi – gặp Brendan xong mình quên khuấy mất, vậy là mình lóc cóc chạy lên cầu thang dốc đứng, vào phòng ngủ của chàng. Đúng ra phải nói là phòng ngủ của hai đứa. Rèm cửa vẫn chưa kéo, không khí thum thủm như tất dơ, vậy là mình kéo rèm, mở cửa sổ, quay lưng lại, rồi điếng cả người khi thấy Vinny trên giường, mặt thộn như ngỗng ị. “Là em, em mà,” mình lắp bắp. “Xin lỗi, em… em… em tưởng anh đi làm rồi.”
Chàng đặt tay lên ngực, vẻ như suýt phá ra cười, như thể vừa bị trúng đạn. “Lạy Chúa, Hol. Cứ tưởng ăn trộm vào nhà!”
Mình cũng gượng cười. “Anh… ở nhà.”
“Nhầm lịch – con bé thư ký mới đúng là vô dụng – vậy là Kev gọi nói hôm nay anh được nghỉ.”
“Hay quá,” mình nói. “Vậy thì tuyệt, vì… em có chuyện này hơi bị bất ngờ.”
“Tuyệt, anh thích bất ngờ lắm. Nhưng đầu tiên đặt hộ anh ấm nước nhỉ? Anh sẽ xuống ngay. Trời đất, gì nhỉ? Anh hết cà phê rồi – cưng chịu khó chạy ra Staffa’s mua giùm anh một lọ Gold Blend. Mua về rồi anh trả tiền lại cho.”
Mình phải nói ngay. “Má biết chuyện tụi mình rồi, Vin à.”
“À há?” Trông chàng có vẻ nghĩ ngợi. “À. Thế bà ấy…”
Tự dưng mình sợ chàng không muốn có mình nữa. “Cũng không hay ho lắm. Đúng ra là phát điên lên. Nói là không cho em gặp anh nữa, gần như dọa nhốt dưới hầm. Vậy là em bỏ đi. Vậy nên…” Vinny hồi hộp nhìn mình, không hiểu ý.
“Vậy nên… em… em ở với anh được không? Ít nhất vài hôm coi sao.”
Vinny nuốt khan. “Được rồi… Được thôi. Hiểu rồi. Rồi. Ô kê thôi.”
Nghe chẳng có vẻ gì là ô kê cả. “Vậy là anh đồng ý hả Vinny?”
“Ừ. Đương nhiên. Ừm. Nhưng giờ anh thèm cà phê quá.”
“Thật chứ? Ôi, Vin!” mình thấy nhẹ cả người, như vừa được tắm bồn nước ấm. Mình ôm lấy chàng. Chàng đẫm mồ hôi. “Anh dễ thương nhất trên đời, Vinny à. Vậy mà em cứ sợ anh sẽ…”
“Không lẽ để bé mèo cưng sexy ngủ dưới gầm cầu sao? Nhưng thiệt tình, Hol à, anh thèm cà phê như Dracula thèm uống máu, nên…” Chàng không nói hết được câu vì mình đã hôn chàng, Vinny của mình, bạn trai của mình, từng đi New York, từng bắt tay David Byrne. Tình yêu trong mình trào dâng, như nồi hơi sôi bùng bục, rồi mình kéo chàng lại, cả hai lăn trên đống chăn mền, nhưng tự dưng đống chăn động đậy rồi tay mình kéo tấm chăn ra và trước mặt mình là Stella Yearwood, nhỏ bạn tốt nhất trần đời của mình. Trần truồng như nhộng. Mình thấy như đang gặp ác mộng, chỉ có điều ác mộng lại là sự thật.
Mình há hốc miệng nhìn chỗ đó của nó, cho tới khi nó nói, “Không lẽ của tui khác với của bồ lắm sao?”
Rồi mình há hốc nhìn Vinny, lúc này mặt mày như vừa bĩnh ra.
Vinny bật cười ngô nghê: “Không phải như cưng nghĩ đâu.”
Stella, không chút ngượng ngùng, lấy chăn che người rồi quay sang Vinny, “Đừng có mà dở hơi. Đúng y như bồ nghĩ đó, Holly à. Tụi tui sẽ nói với bồ, nhưng như bồ thấy đó, bất ngờ quá. Thực tình là bồ đã bị đá. Chẳng hay ho gì, nhưng cũng là chuyện thường, ai cũng gặp, à, hầu như ai cũng gặp thì đúng hơn, vậy nên c’est la vie. Bồ đừng lo, rồi còn có nhiều Vinny nữa. Vậy nên giờ bồ đừng ỉ ôi nữa mà biến phứt cho rồi. Để đỡ mất mặt vậy?”
• • •
Cuối cùng, khi khóc xong, mình thấy mình đang ngồi trên bậc thang lạnh lẽo ở một khoảng sân nhỏ, chung quanh có nhà gạch cũ năm sáu tầng, cửa sổ kéo kèm. Cỏ dại mọc lên giữa những kẽ gạch lót sân, hạt bồ công anh bay bay như tuyết trong quả cầu tuyết chặn giấy. Sau khi đóng sầm cửa nhà Vinny mình thẫn thờ bỏ đi tới sau lưng Bệnh viện Đa khoa Gravesend, nơi bác sĩ Marinus từng giúp mình đuổi cô Constantin hồi bảy tuổi. Lúc nãy mình có đấm Vinny không? Mình thấy mình như trôi trong nước rỉ đường đen đặc. Thấy không thở được. Hắn nắm lấy tay mình, đau điếng, đến giờ vẫn còn đau, Stella sủa vào mặt mình, “Đừng làm trò con nít nữa, biến đi Holly. Đây là đời thiệt, chứ có phải là phim bộ Dynasty đâu!” Rồi mình chạy ra, đóng sầm cửa, chạy thật nhanh, đến bất kỳ đâu, một chốn vô chừng, một nơi nào đó… Mình biết nếu dừng lại mình sẽ gục ngã, sẽ mắt mũi đầm đìa, rồi tai mắt của má sẽ trông thấy và tâu lại để má tha hồ hí hửng. Vì má đã nói đúng mà. Mình yêu Vinny như hắn là một phần của mình, còn với hắn mình chỉ là một tép kẹo gôm. Khi đã nhạt miệng hắn nhổ toẹt mình ra, bóc ngay một tép khác, nhưng không phải là ai khác, mà lại là Stella Yearwood. Nhỏ bạn tốt nhất của mình. Sao hắn nỡ làm vậy? Sao nó nỡ làm vậy? Không khóc nữa! Cố nghĩ đến điều gì khác…
Holly Sykes và Chuyện quái đản, Phần 1. Năm 1976 mình bảy tuổi. Cả mùa hè trời không có lấy giọt mưa, mấy khu vườn chuyển thành màu nâu. Mình nhớ cảnh xách xô đứng xếp hàng cuối phố Queen với Brendan và má, chờ hứng nước ở vòi công cộng, năm đó nóng hạn kinh hồn. Mùa hè đó mình cũng bắt đầu gặp ác mộng ban ngày. Mình nghe có giọng nói trong đầu. Mình không điên, cũng không ngớ ngẩn, cũng chẳng có gì đáng sợ lắm, ban đầu thì không… mình gọi mấy người đó là Người Trên Đài, bởi vì ban đầu mình tưởng ở phòng kế bên có mở đài radio. Giọng nói nghe rõ nhất lúc đêm tối nhưng khi đi học mình cũng nghe, nếu chung quanh đủ im ắng, chẳng hạn như khi làm bài kiểm tra. Ba bốn giọng cùng nói một lúc, mình không thể nghe rõ họ đang nói gì. Brendan từng kể cho mình nghe chuyện nhà thương điên có mấy người mặc đồ trắng, vậy nên mình không dám kể với ai cả. Má đang mang bầu Jacko, ba bận túi bụi ở quán, Sharon mới ba tuổi còn Brendan thì lúc đó đã tồ tệch vô đối. Mình biết nghe thấy giọng nói trong đầu là không bình thường, nhưng cũng chẳng hại gì, nên có lẽ chỉ là một thứ bí mật riêng tư, kiểu ai cũng có.
Một đêm mình gặp ác mộng, mình thấy bầy ong sát thủ bị xổ ra trong quán Thuyền trưởng Marlow, mình bừng tỉnh, mồ hôi nhễ nhại. Một cô đang ngồi ở chân giường mình lên tiếng, “Đừng sợ Holly à, không sao đâu,” rồi mình nói, “Cảm ơn má,” vì còn ai vào đó nữa? Rồi mình nghe giọng má cười dưới bếp, sau hành lang – lúc này phòng mình chưa dọn lên gác xép. Vậy là mình nghĩ mình đã nằm mơ có người ngồi trên giường, nên mình bật đèn lên để chứng minh.
Rõ là không có ai ở đó.
“Đừng sợ,” cô nói, “ta cũng là người thật như em.”
Mình không hét lên, cũng không hoảng loạn. Rõ là mình đang run, nhưng ngay cả khi sợ, mình vẫn có cảm giác đó chỉ một trò đánh đố, một bài kiểm tra. Vậy là mình thu hết bình tĩnh, rồi hỏi xem cô có phải là ma không. “Không phải ma,” cô vô hình đáp, “nhưng là một người khách ghé thăm tâm trí em. Vậy nên em mới không thấy ta.” Mình hỏi vậy cô tên gì. Constantin, cô đáp. Cô nói đã xua Người Trên Đài đi rồi, vì họ làm mình mất tập trung, cô mong là mình không phiền. Mình đáp dạ. Cô Constantin tiếp rằng cô phải đi ngay nhưng cô muốn trở lại thăm mình sớm, vì mình là “một cô bé xuất chúng”.
Rồi cô đi mất. Phải lâu sau mình mới ngủ được, nhưng đến khi chìm vào giấc ngủ, mình cảm thấy như mình vừa có thêm một người bạn.
Giờ sao? Đi về nhà? Mình thà nhai đinh còn hơn. Má sẽ làm món bánh thịt bốc khói chết giẫm cho mình, rưới đầy nước thịt chết giẫm, rồi ngồi đó vênh mặt nhìn mình ăn từng miếng chết giẫm. Rồi từ giờ cho tới mãi mãi về sau, nếu mình dám không nghe lời, má sẽ nhắc lại Vụ Vinny Costello. Được rồi, mình không dọn đến phố Peacock, nhưng mình vẫn có thể bỏ nhà đi, ít nhất là đi một thời gian, để chứng tỏ với má rằng mình đã đủ lớn, tự lo được, má đừng coi mình như đứa nhỏ bảy tuổi nữa. Mình có đủ tiền ăn một thời gian, đợt nắng nóng này xem chừng còn kéo dài nữa, vậy cứ coi như mình nghỉ hè sớm. Khỏi thi cử học hành gì nữa. Stella kiểu gì cũng sẽ bẻm mép, gieo tiếng rằng mình chỉ là một con nhỏ mít ướt lụy tình, không chấp nhận nổi chuyện bị bạn trai chán. Đến chín giờ sáng thứ Hai, Holly Sykes sẽ bị cả trường Windmill Hill cười cho thúi mũi. Chứ gì nữa.
Còi xe cấp cứu mỗi lúc một gần, nghe gấp gáp hơn, vọng qua khoảng sân rồi ngừng bặt, như người ta nói chưa hết câu… Mình xóc lại túi thể thao rồi đứng dậy. Được rồi, giờ đi đâu? Bọn choai choai ở Anh bỏ nhà ra đi đều thẳng tiếng về London, mơ mộng rằng sẽ gặp người phát hiện ra tài năng của mình, hoặc sẽ gặp một bà tiên mẹ đỡ đầu nào đó, nhưng mình đi hướng ngược lại, dọc theo bờ sông, về phía đầm lầy Kent: lớn lên trong quán, mình đã nghe quá nhiều chuyện về các thể loại cha mẹ đỡ đầu thường ra tay giúp đỡ thiếu niên dạt nhà ở London. Biết đâu mình sẽ tìm được một cái chuồng bò hay nhà nghỉ bỏ trống nào đó để dừng chân một lúc. Nghe cũng được. Vậy là mình đứng dậy, rời khỏi bệnh viện. Bãi xe đầy những tấm kính chắn gió lấp loáng trong nắng chói. Trong sảnh lễ tân râm mát, mình thấy người ta đang hút thuốc, chờ đợi tin tức.
Bệnh viện, đúng là chỗ lạ lùng…
Holly Sykes và Chuyện quái đản, Phần 2. Vài tuần sau đó, mình bắt đầu nghĩ là hẳn mình đã nằm mơ thấy cô Constantin, vì cô không trở lại nữa. Nhưng mình không biết “xuất chúng” có nghĩa là gì… Mình tra từ điển rồi tự hỏi tại làm sao từ đó lọt vào đầu mình, nếu không phải là do cô Constantin nói. Cho đến bây giờ mình vẫn không có câu trả lời. Nhưng rồi một đêm tháng Chín, sau khai giảng, mình tròn tám tuổi, mình thức dậy và biết cô có ở đó, mình mừng hơn là sợ. Mình thích là cô bé “xuất chúng” mà. Mình hỏi cô Constantin cô có phải là thiên thần không. Cô bật cười, nói không phải, cô là người thường, giống mình vậy, nhưng cô học được cách thoát ra khỏi thân xác để đi thăm bạn bè. Mình hỏi vậy có phải cô là bạn mình không, cô hỏi lại, “Em có muốn vậy không?” rồi mình nói có chứ, mình muốn vậy lắm, rồi cô trả lời “Vậy em sẽ là bạn của ta.” Rồi mình hỏi cô Constantin cô từ đâu đến, cô nói là từ Thụy Sĩ. Để tỏ bộ thông minh, mình hỏi tiếp có phải Thụy Sĩ là nơi người ta phát minh ra sô cô la không, cô khen mình là một trong những em bé sáng dạ nhất mà cô từng biết. Kể từ khi đó đêm nào cô cũng ghé thăm mình, mỗi lần vài phút, rồi mình kể cô nghe chuyện ngày hôm đó, cô lắng nghe, an ủi mình, động viên mình. Lúc nào cô cũng đứng về phía mình, khác hẳn với má và Brendan. Mình cũng hỏi cô nhiều thứ. Đôi lúc cô trả lời thẳng, ví dụ khi mình hỏi tóc cô màu gì, cô nói là “màu vàng của crom”, nhưng thường cô tránh câu hỏi của mình, cô cứ nói là “Khoan tiết lộ bí mật đã, Holly nhé?”
Rồi một ngày, Susan Hillage, trùm bắt nạt ở trường đón đường ăn hiếp mình khi đi học về. Ba của Susan đi lính ở Belfast. Má mình là dân Ireland, vậy là nó túm đầu mình, không để mình đi, bắt mình phải nhận là nhà mình là đồ nhà quê, chuyên cất than trong bồn tắm và ủng hộ quân IRA. Mình không chịu nhận, vậy là nó vứt túi xách của mình vô gốc cây, rồi nói là nó sẽ bắt mình trả giá cho mấy người bạn của ba nó bị giết ở Belfast. Nó còn nói là nếu mình dám hé miệng với ai, cả trung đội của ba nó sẽ đốt quán nhà mình, cả nhà mình sẽ thành thịt nướng, tất cả là lỗi của mình hết. Mình không phải là đứa dễ bị bắt nạt, nhưng lúc đó mình nhỏ xíu, mà Susan Hillage dọa toàn những thứ khiến mình sợ. Mình không nói gì với ba má, nhưng mình sợ phải đi học ngày hôm sau, sợ sẽ có chuyện. Nhưng đêm đó khi mình thức dậy giữa nệm ấm và giọng cô Constantin cất lên thì mình không chỉ nghe thấy giọng cô trong đầu, mà thấy cô ngồi ngay đó, trên chiếc ghế tựa ở chân giường. Cô nói “Dậy thôi, bé con ngái ngủ.” Cô còn trẻ, tóc màu ánh vàng, môi cô chắc là đỏ như màu cánh hoa hồng, trong ánh sáng trăng đã chuyển thành màu tím đen. Cô mặc áo đầm dài. Cô thật xinh đẹp, như tranh vẽ. Cuối cùng mình mở miệng hỏi có phải mình đang mơ không. Cô trả lời: “Ta ở đây vì cô bé thông minh xuất chúng của ta tối nay có chuyện buồn, ta muốn biết tại sao.” Vậy là mình kể cô nghe chuyện Susan Hillage. Cô Constantin ngồi nghe mà không nói gì. Cuối cùng, cô nói là cô rất ghét mấy đứa bắt nạt rồi hỏi mình có muốn cô ra tay giải quyết không? Mình nói dạ có nhưng trước khi mình kịp hỏi thêm thì đã có tiếng chân của ba ngoài hành lang, rồi ba mở cửa, rồi ánh đèn ngoài đầu cầu thang rọi thẳng vào mắt mình, khiến mình bị chói. Làm sao mình giải thích chuyện cô Constantin đang ngồi trong phòng mình, lúc một giờ sáng đây? Nhưng ba làm như không có ai ở đó. Ba chỉ hỏi mình có sao không, vì ba nghe có tiếng nói. Mà đúng thế, cô Constantin không có ở trong phòng. Mình nói là hẳn mình đã ú ớ khi nằm mơ.
Mà mình cũng tin là vậy. Ảo thanh là một chuyện, nhưng còn cô mặc áo đầm ngồi đó? Sáng hôm sau mình đi học như thường, không thấy Susan Hillage đâu cả. Cũng không ai biết nó ở đâu. Thầy hiệu trưởng đến trễ, chạy vào hội trường thông báo rằng Susan Hillage đã bị xe tải tông khi đang đạp xe đến trường, bạn bị thương nặng, tất cả chúng ta nên cầu nguyện cho bạn bình phục. Nghe thầy nói, mình thấy lạnh cóng, tê cứng, máu như chạy khỏi đầu, hội trường như tan biến xung quanh rồi cuối cùng, mình còn không nhớ được đã ngã đập đầu xuống sàn ra sao.
Sông Thames hôm nay gờn gợn, xanh màu bùn. Mình cứ đi, đi nữa, đi khỏi Gravesend, đi về phía đầm lầy Kent. Chưa gì đã tới mười một giờ rưỡi, thị trấn chỉ còn là một mô hình nhỏ xíu nằm xa lắc sau lưng. Gió thổi tung những đám mây từ ống khói của nhà máy Blue Circle, phất phơ như những chiếc khăn mùi-soa rút ra từ trong túi của nhà ảo thuật. Bên tay phải, xa lộ A2 vắt qua các bãi đầm lầy văng vẳng tiếng xe cộ từ xa gầm gừ. Thầy Markey già có nói rằng xa lộ này được xây dựng chồng lên một con đường do người La Mã xây từ thời La Mã. Xa lộ A2 thẳng tới Dover, nơi đó có tàu đi châu Âu lục địa, thời La Mã người ta cũng đi đường đó. Hai hàng cột điện trên đường chạy mãi về xa. Giờ này ở quán chắc ba đang hút bụi ở quầy, trừ phi Sharon chịu làm để được ba bảng tiền tiêu vặt của mình. Trời vẫn oi bức, buổi sáng kéo dài lê thê, hệt như mỗi khi có ba tiết Toán cùng lúc, mặt trời khiến mình mỏi mắt. Mình để quên kính râm trong bếp nhà Vinny, ngay chỗ úp bát đĩa. Mười bốn bảng chín mươi chín xu, cặp kính đó. Mình mua hồi đi chung với Stella. Nó nói rằng nó thấy người ta bán kính y như vậy trên phố Carnaby, đắt gấp ba lần, vậy là mình tưởng mình mua được món hời. Rồi mình tưởng tượng ra cảnh mình bóp cổ Stella, cánh tay và bàn tay mình tự dưng căng cứng lên, y như mình đang làm vậy thật.
Khát nước quá. Giờ này hẳn má đã nói với ba về chuyện Holly nông nổi bỏ nhà đi, nhưng mình cá một triệu bảng, rằng kiểu gì má cũng thêm mắm dặm muối. Rồi ba sẽ kể lại chuyện “phụ nữ vùng lên” với cả ba ông khách quen là PJ, Nipper và Dex bự. Rồi cả ba sẽ nhe răng cười như ba ông kễnh ngố. PJ sẽ giả bộ đọc báo the Sun “Trong này nói nè, ‘Các nhà thiên văn tại Đại học Củ chuối đã tìm ra bằng chứng mới cho thấy, bọn choai choai đúng là cái rốn của vũ trụ.’” Cả đám sẽ cười khùng khục, rồi Dave Sykes khét tiếng – ông chủ quán yêu thích của mọi nhà, sẽ tham dự với cái cười sặc sụa, y kiểu trời-đất-anh-vui-tánh-quá-tui-cười-muốn-tè-ra-quần. Để xem, đến thứ Tư mình chưa về thì họ còn cười được nữa không. Xa xa phía trước có mấy người đàn ông đang câu cá.
Chuyện quái đản, Màn cuối. Khi đang được bế ra phòng y tế, mình nghe tiếng Người Trên Đài quay lại. Hàng trăm người, cùng thầm thì một lúc. Mình sợ, nhưng không sợ bằng ý nghĩ rằng mình đã giết Susan Hillage. Vậy là mình kể cho bà y tá nghe về Người Trên Đài và cô Constantin. Bà y tá tội nghiệp tưởng mình bị choáng, hay tệ hơn, đã hóa điên, vậy là bà gọi cho má, rồi má gọi ngay cho bác sĩ gia đình. Trong ngày hôm đó mình được đưa đến bác sĩ chuyên khoa tai ở Bệnh viện Đa khoa Gravesend. Bác sĩ không tìm ra bệnh gì nhưng nói rằng có quen một chuyên gia tâm thần nhi khoa ở bệnh viện Great Ormond Street ở London, chuyên trị những ca như mình. Má la lên “Con gái tui không bị tâm thần,” nhưng bác sĩ dọa má bằng hai chữ “khối u”. Sau cái đêm tồi tệ nhất trong đời mình cứ cầu Chúa đừng để cô Constantin quay lại, mình đặt Kinh Thánh dưới gối nhưng vẫn không thể chợp mắt, Người Trên Đài vẫn còn đó. Rồi bác sĩ chuyên khoa tai gọi đến, nói rằng ông bạn chuyên gia một tiếng đồng hồ nữa sẽ đến Gravesend, má chở mình tới ngay được không?
Bác sĩ Marinus là người Hoa đầu tiên mà mình gặp, trừ mấy người ở Nhà hàng Ngàn thu mà thỉnh thoảng mỗi khi má mệt không nấu nổi lại sai mình và Brendan tới mua cơm hộp. Bác sĩ Marinus nói thứ tiếng Anh hoàn hảo, rất sang, giọng hơi nhẹ nhàng, nên phải lắng tai mới nghe được hết. Bác sĩ thấp người, gầy gầy nhưng dường như làm bừng sáng cả căn phòng. Đầu tiên ông hỏi mình về trường lớp, gia đình này kia, rồi hỏi mình về giọng nói trong đầu. Má cứ khăng khăng, “Con gái tui không bị điên, ông đừng có ý đó – nó chỉ bị choáng thôi.” Bác sĩ Marinus nói rằng ông ấy đồng ý với má, mình rõ là không điên gì cả, nhưng đầu óc con người rất khó hiểu. Để ông ấy loại trừ khả năng có khối u, má phải cho mình tự trả lời câu hỏi. Vậy là mình kể cho bác sĩ nghe chuyện Người Trên Đài và Susan Hillage, rồi cả chuyện cô Constantin. Má lại nhảy chồm chồm lên nhưng bác sĩ Marinus động viên má rằng hiện tượng ảo thanh – ác mộng giữa ban ngày, thực ra không phải hiếm gặp ở bé gái tuổi mình. Ông nói rằng tai nạn của Susan Hillage là chỉ là một sự tình cờ, ai cũng gặp những sự tình cờ khó tin như vậy trên khắp thế giới, ngay lúc này đây; đơn giản là vừa rồi đến lượt mình gặp, thế thôi. Má hỏi vậy có thuốc gì để mình khỏi bị ác mộng ban ngày nữa không, mình nhớ bác sĩ Marinus nói rằng, trước khi bàn đến thuốc men, ông ấy muốn thử một cách đơn giản hơn, cũng là phương pháp truyền thống ở quê ông. Cách này giống như châm cứu, bác sĩ giải thích, nhưng không dùng kim. Bác sĩ nhờ má nặn một điểm trên ngón tay giữa của mình, rồi đánh dấu bằng bút bi, rồi ông ấy dùng ngón cái chạm lên trán mình, ngay ở giữa. Như họa sĩ quệt một vệt màu. Mình nhắm mắt lại…
… rồi Người Trên Đài đi mất. Không phải chỉ ngừng nói, mà là đi mất hẳn. Má nhìn mặt mình thì hiểu ngay, vừa sốc vừa thấy nhẹ nhõm như mình. Má cứ hỏi, “Có vậy thôi sao? Không dây nhợ, không thuốc men gì sao?” Bác sĩ Marinus đáp là chỉ cần có vậy thôi.
Mình hỏi cô Constantin cũng đi luôn rồi sao.
Bác sĩ nói, ừ, đúng rồi, ít nhất là trong tương lai gần.
Hết chuyện. Hai má con ra về, mình lớn lên, cả Người Trên Đài lẫn cô Constantin đều không bao giờ trở lại. Mình có xem một vài phim tài liệu nọ kia về ảo giác tâm trí. Giờ thì mình biết cô Constantin chỉ là bạn tưởng tượng của mình – giống như chú Thỏ Boing Boing bạn của Sharon vậy, nhưng mình tưởng tượng hơi quá. Tai nạn của Susan Hillage chỉ là một sự tình cờ khó tin, như bác sĩ Marinus nói. Nhỏ đó không chết nhưng gia đình chuyển đến Ramsgate, có người nói là thực ra giờ nó cũng sống dở chết dở. Bác sĩ Marinus có lẽ đã làm phép thôi miên cho mình, chắc kiểu vậy, giống như mấy cái băng cassette giúp người ta bỏ hút thuốc. Từ dạo đó má không bao giờ dùng chữ “Tàu Khựa” để chỉ người Hoa nữa, và sẵn sàng cho một bài nếu có người dám dùng chữ đó trước mặt má. “Phải nói là ‘người Hoa’, không được nói ‘Tàu Khựa’,” Má sẽ phản pháo ngay, rồi thêm vào, “Bác sĩ người Hoa giỏi nhứt xứ này.”
Mình nhìn đồng hồ. Một giờ. Phía xa sau lưng mình có bóng người li ti đang câu cá ở những bãi cạn gần Công sự Shornemead. Phía trước có một bãi khai thác sỏi, có núi sỏi hình nón thật lớn và băng chuyền chuyển sỏi ra sà lan. Mình thấy được cả Pháo đài Cliffe, với những ô cửa như hốc mắt trống không. Ông già Sharkey có kể rằng chỗ đó trong chiến tranh là nơi cất giữ súng pháo bắn máy bay. Hồi đó người ở Gravesend cứ nghe tiếng súng nổ to thì biết ngay là có tối đa sáu mươi giây để chui vào hầm tránh bom dưới cầu thang hoặc sau vườn. Mình ước gì ngay giờ bom rớt xuống một ngôi nhà trên phố Peacock. Chắc là cả hai đang nhồm nhoàm pizza bữa trưa – Vinny sống bằng pizza vì hắn lười không nấu nướng gì. Chắc là đang cười mình. Mình tự hỏi liệu tối qua Stella có ngủ lại đó không. Tình yêu mà, mình từng nghĩ, chỉ cần có tình yêu. Ngu. Quá ngu! Mình đưa chân đá vào một hòn đá nhưng hóa ra lại là một phiến đá khá to, làm ngón chân muốn bầm dập. Đau buốt cả óc. Và rồi mắt mình nóng ran, ướt nhẹp – nước mắt ở đâu ra vậy trời? Hôm nay thứ chất lỏng duy nhất mình đụng tới là nước đánh răng và sữa đổ lên ngũ cốc Weetabix. Lưỡi mình giờ như miếng xốp cắm hoa. Dây đeo túi thể thao cứ trầy trợt, đau cả một mảng vai. Trái tim mình giờ như chú cún con bị người ta đánh đập tơi tả. Mình chẳng có gì trong bụng, nhưng quá buồn nên chưa thấy đói. Dù sao mình cũng không đi về nhà. Không có chuyện đó đâu.
Đến ba giờ chiều, đầu mình nóng ran, miệng khô khốc. Mình chưa bao giờ đi bộ xa đến vậy. Không có quán xá nhà cửa nào để vào xin một ly nước. Rồi mình để ý, thấy có một bà nhỏ người đang câu cá ở đằng mũi cầu tàu, cứ như có ai đó đã nhanh tay vẽ thêm bà ấy vào góc quang cảnh. Bà đứng khá xa chỗ mình, nhưng mình thấy được bà đang đổ nước từ bi-đông ra tách. Thường mình không quen xin xỏ, nhưng khát quá. Vậy là mình đi xuống bờ sông, đi dọc theo cầu tàu ra chỗ bà đứng, cố khua chân lộc cộc để bà khỏi giật mình. “Xin lỗi, bà cho cháu một chút nước được không? Cháu xin bà.”
Bà còn không quay lại nhìn. “Uống trà lạnh được không?” Giọng bà lão khàn khàn, như giọng người từ một xứ nóng xa xôi nào đó.
“Hay quá, cảm ơn bà. Cháu uống gì cũng được.”
“Cứ tự nhiên vậy, nếu đúng là uống gì cũng được.”
Vậy là mình đổ trà ra tách, không thèm lo vi trùng nọ kia. Trà này không giống trà bình thường nhưng là thứ mát nhất mình từng uống, mình để nước trà tuồn óc ách trong miệng. Giờ mình mới nhìn bà được rõ. Đôi mắt như kiểu mắt voi, nằm giữa gương mặt già nhăn nheo. Tóc bạc cắt ngắn, áo sơ mi vải dày nhem nhuốc, đầu đội mũ da rộng vành, trông bà như cả trăm tuổi. “Uống được không?” bà lão hỏi.
“Dạ được,” mình đáp. “Ngon lắm. Như vị cỏ.”
“Trà xanh đó. May mà ngươi uống gì cũng được.”
Mình hỏi, “Làm sao trà mà xanh được?”
“Vì cây trà làm ra lá trà màu đó chứ sao.”
Có bóng cá nhảy. Mình thấy đó rồi không thấy đâu nữa. “Hôm nay bà câu được nhiều không?”
Im lặng. “Năm con rô. Một con hương. Một buổi chiều lê thê.”
Mình chẳng thấy xô đựng cá đâu. “Vậy đâu hết rồi?”
Một con ong đậu xuống vành mũ bà lão. “Ta thả hết.”
“Nếu bà không thích cá thì câu làm gì vậy?”
Thêm vài giây im lặng. “Để có người nói chuyện.”
Mình nhìn quanh: lối mòn, khoảng đồng um tùm bụi mâm xôi, khu rừng cây bụi, con đường rậm rạp. Hẳn bà lão nói chơi. “Đâu có ai ở đây.”
Con ong có vẻ thích chỗ đậu mới, ngay cả khi bà lão khẽ động đậy, kéo dây câu lên. Mình đứng qua một bên. Bà kiểm tra lưỡi câu, xem còn mồi không. Nước nhỏ long tong, bắn lên trên những tấm ván cầu tàu khô khốc. Dòng sông xì xạt, sóng liếm vào bờ, nước vỗ óc ách quanh những cây trụ gỗ. Bà lão vẫn ngồi đó, cổ tay hất một cú thiện nghệ, vứt hòn chì lượn mấy vòng xuống nước, dây câu phừng phừng như dây đàn tranh, rồi hòn chì đậu lên mặt nước, đúng ngay chỗ cũ. Nước tỏa vòng, tỏa vòng. Yên tĩnh tuyệt đối…
Rồi bà lão làm một việc vô cùng kỳ khôi. Bà rút từ trong túi ra một mẩu phấn, viết lên miếng ván dưới chân, TÊN. Trên miếng tiếp theo bà viết, DÀI. Rồi miếng sau đó là hai chữ CỦA TA. Xong, bà lão cất viên phấn đi, trở lại câu cá.
Mình đợi bà lão giải thích, nhưng bà chẳng nói gì cả. “Là cái gì vậy?”
“Cái gì kia?”
“Bà vừa viết đó.”
“Là lời chỉ dẫn.”
“Chỉ dẫn ai vậy?”
“Cho một người, nhiều năm sau.”
“Nhưng viết bằng phấn mà. Trôi liền.”
“Trôi khỏi cầu tàu, đúng thế. Nhưng không trôi khỏi trí nhớ của ngươi được.”
Hiểu rồi, chắc là dân “ở trển” mới xuống. Nhưng mình sẽ không nói thẳng ra, vì mình vẫn còn thèm món trà xanh đó.
“Uống hết trà đi, nếu ngươi muốn vậy,” bà lão nói. “Từ giờ đến lúc ngươi và thằng bé đến Allhallows-on-Sea, ngươi sẽ không gặp hàng quán gì đâu…”
“Cảm ơn bà nhiều.” Mình rót đầy tách. “Bà chắc không đó? Còn có chút này thôi.”
“Phước đi để mà phước lại.” Bà lão liếc mình, sắc như dao. “Biết đâu ta sẽ cần một nơi trú ngụ.”
Trú ngụ? Ở nhà thương điên chắc? “Ý bà là sao?”
“Một chốn nương thân. Một con đường thoát. Nếu Sứ Mệnh Thứ Nhất thất bại, mà ta e là vậy.”
Mấy người chập mạch đúng là khó chơi. “Cháu mười lăm tuổi. Cháu đâu có chốn nương thân… à…ờ… lối thoát gì. Xin lỗi bà.”
“Ngươi vô cùng lý tưởng. Không ai ngờ. Trà đổi lấy nơi trú ngụ. Đồng ý không?”
Ba nói cách tốt nhất để xử mấy tay say xỉn là cứ giả vờ chiều họ, rồi lơ đẹp, mấy người chập mạch chắc cũng giống như dân say xỉn mà không bao giờ tỉnh lại. “Được thôi.” Bà lão gật đầu rồi mình nâng tách uống tiếp, cho tới khi mặt trời chỉ còn là một quầng sáng nhạt chiếu qua đáy tách nhựa mỏng.
Bà lão chập mạch nhìn ra xa. “Cảm ơn nhé Holly.”
Mình cảm ơn, quay trở lên bờ. Rồi mình quay lại, bước về phía bà lão. “Làm sao bà biết tên cháu?”
Bà lão không quay lại. “Vậy tên cúng cơm của ta là gì?”
Trò ngớ ngẩn gì thế này. “Esther Little.”
“Vậy làm sao ngươi biết tên ta?”
“Bởi vì… Bà mới nói cho cháu biết còn gì.” Phải vậy không ta? Hẳn vậy. “À há, vậy thôi”. Và đó cũng là những lời cuối cùng của Esther Little.
• • •
Khoảng bốn giờ mình đến một bãi đầy sỏi, có kè gỗ thoải xuống sông. Mình cởi đôi giày Docs ra. Ngón chân cái bị giộp một miếng to tướng, nhìn như trái mâm xôi đã đạp bẹp. Ngon gớm. Mình lấy đĩa Fear of Music ra khỏi túi thể thao, xắn quần jeans, bẻ lai quần lận lên đầu gối. Dòng sông uốn lượn, nước mát như nước máy, ánh nắng vẫn còn chói, nhưng không gay gắt như khi mình rời chỗ bà điên câu cá. Rồi mình lấy sức quăng cái hộp đĩa, quăng thật xa, thật mạnh. Cũng không mạnh lắm, nó tung lên cao cho tới khi cái đĩa gói trong miếng lót bung ra, rơi xuống nước đánh tõm. Bìa đĩa màu đen là là đậu xuống sau như con chim bị trúng tên, trôi dập dềnh một lúc. Nước mắt tuôn ra, tuôn mãi từ hai mắt nhức nhối. Mình tưởng tượng mình lội nước đến chỗ cái đĩa, trượt xuống dốc lòng sông, đi giữa những đàn cá hương, cá rô, những chiếc xe đạp rỉ sét, rồi xương cốt của cướp biển bị chết đuối, rồi máy bay Đức rồi những chiếc nhẫn cưới bị vứt đi rồi những thứ hầm bà lằng có Chúa mới biết là món gì…
Nhưng mình quay trở lại bờ, nằm xuống trên một lớp sỏi ấm, cạnh đôi giày Docs. Giờ này chắc ba đang gác chân trên ghế sofa, lẩm bẩm “Hay để anh ghé qua chỗ cái tay Costello này xem sao, Kath à,”. Má sẽ dụi điếu thuốc vào chỗ cặn cà phê nguội trong tách. “Khoan đi đã Dave. Cứ để Tiểu thơ muốn gì được nấy. Cứ giả điếc một lúc đã, đừng nghe Tuyên Ngôn của Tiểu thơ, rồi nó mới biết thương cha mẹ lo cho mình…”
Nhưng chỉ tối mai thôi, má sẽ bắt đầu cuống lên lo chuyện sáng thứ Hai, vì một khi trường gọi đến hỏi mình ở đâu rồi, tại sao mình không đi thi, má sẽ không còn hí hửng mà mỉa Tuyên Ngôn của mình nữa. Má sẽ đi thẳng đến nhà Vinny, đằng đằng sát khí. Má sẽ xé xác hắn ra – cho đáng đời – nhưng má vẫn sẽ không biết mình ở đâu. Quyết vậy đi. mình sẽ đi hai đêm, rồi để xem sao. Nếu mình không mua thuốc lá, chỗ 13 bảng 85 xu đó đủ mua bánh mì kẹp khoai tây chiên, táo và bánh qui Rich Tea trong hai ngày. Nến đến được Rochester mình có thể rút thêm tiền từ tài khoản TSB, kéo dài kỳ nghỉ nho nhỏ này.
Một con tàu chở hàng cực lớn chạy xuôi dòng, hụ còi ầm vang. Trên thân tàu màu cam có chữ trắng Ngôi Sao Riga. mình tự hỏi Riga là nơi nào đó, hay là cái gì. Sharon và Jacko kiểu gì cũng biết. Mình ngáp một cái sái quai hàm, nằm lăn trên đám sỏi lạo xạo, ngắm sóng nước từ chiếc tàu liếm bãi sỏi.
Trời, buồn ngủ không chịu được…
“Sykes? Còn sống không? Ê… Sykes.” Buổi chiều hiện ra trước mắt, mình đang ở đâu? Rồi Tại sao mình đi chân không? Rồi Tự dưng Ed Brubeck sờ tay mình chi vậy? Mình giật tay ra, đứng dậy, líu ríu chạy vài bước. Lòng bàn chân nhoi nhói trên sỏi nóng, rồi mình đập đầu vào đoạn kè gỗ.
Ed Brubeck vẫn đứng yên đó. “Chắc là đau lắm.”
“Tui biết. Đầu tui mà.”
“Chỉ là muốn coi thử bồ còn sống không.”
Mình sờ lên đầu. “Nhìn tui giống chết lắm sao?”
“Ờ, giống thiệt, vài giây trước nhìn giống lắm.”
“Ờ, tui chưa chết, được chưa.” Xe đạp của Brubeck đặt nằm dưới đất, bánh xe còn quay vòng vòng. Cần câu cá vẫn cột vào ghi đông.
“Tui chỉ… chợp mắt chút.”
“Đừng nói bồ đi bộ từ thị trấn ra tới đây chứ Sykes?”
“Không, thực ra tui cưỡi trên bóng thú nhún đó, nhưng nó tự bỏ đi mất rồi.”
“Hở. Thiệt tình tui không nghĩ bồ là loại thích đi dã ngoại.”
“Còn tui không nghĩ bồ là loại thích cứu người.”
“À ha, giờ thì biết rồi đó.” Một con chim cất tiếng hót, véo va véo von như dở hơi, chắc cũng cách đó tới cả dặm. Ed Brubeck vuốt mái tóc đen xòa xuống mắt. Da hắn rám nắng, muốn nhận là dân Thổ hay sao đó cũng được. “Vậy bồ đi đâu đây?”
“Đi càng xa cái xứ thúi tha đó càng tốt.”
“Trời. Gravesend làm gì bồ mà bị ghét dữ vậy?”
Mình cột dây giày Docs. Chỗ giộp da tấy đau. “Còn bồ đi đâu?”
“Có ông cậu ở dưới kia.” Ed Brubeck đưa tay vẫy về phía bờ. “Kỳ này cậu yếu lắm, gần như lòa rồi nên hay ghé thăm. Đang đạp xe xuống Allhallows, tính câu cá chơi thì thấy bồ…”
“Bồ tưởng tui chết rồi. Tui chưa chết. Thôi bồ đi đi không trễ.” Hắn làm vẻ mặt thôi-kệ-bồ-vậy, rồi leo ngược lên bờ sông.
Mình gọi với theo, “Ê Brubeck, từ đây tới Allhallows bao xa?”
Hắn nhặt xe đạp lên. “Khoảng năm dặm. Quá giang không?”
Mình nghĩ tới Vinny, tới chiếc Norton, rồi lắc đầu. Hắn leo lên xe, ra vẻ ngầu, rồi biến mất. Mình bốc một nắm đầy sỏi, mạnh tay liệng xuống mặt nước, tự nhiên thấy tức điên.
Ed Brubeck giờ chỉ còn là một vệt nhỏ xíu, biến mất sau bụi cây chót vót xa tít đằng trước. Hắn không quay lại nhìn. Ước gì mình đã nhận lời đi quá giang. Đầu gối mình vẫn còn tê cứng, hai bàn chân mình đau ê ẩm còn mắt cá thì như bị khoan những mũi li ti. Năm dặm mà đi kiểu này thì còn lâu lắc. Nhưng Ed Brubeck là con trai, như Vinny vậy, đàn ông con trai chỉ nhằm nhè mỗi chuyện đó. Bụng mình đói cồn cào. Trà xanh lúc uống thì rất mát, nhưng khiến mình cứ đi đái tồ tồ như ngựa đua, miệng mình lờ lợ, như có con chuột chết vừa ị trong đó. Ed Brubeck là con trai, đúng vậy, nhưng hắn cũng không phải tệ hoàn hoàn. Tuần rồi hắn gây sự với cô Binkirk, giáo viên môn Tôn giáo, rồi bị đi gặp thầy Nixon vì tội dám gọi cô là “Mù quáng vô đối.” Chửi bới kiểu người lớn hẳn hoi. Đúng là tẩm ngẩm tầm ngầm, nhìn vậy mà không thể hiểu hết được. mình cố không nghĩ đến Vinny, nhưng chịu, rồi mình nhớ lại chỉ mới sáng nay thôi mình còn mơ mộng lập ban nhạc với hắn. Phía trước, từ sau hàng cây chót vót, Ed Brubeck chỉ là một vệt nhỏ xíu đang đạp xe về hướng mình. Chắc hắn thấy trễ quá không câu cá được nữa nên quay về Gravesend. Bóng hắn lớn dần, lớn dần, cho tới khi bằng người thật, rồi hắn bẻ ngoặt, rê bánh đầy khoe mẽ, khiến mình nhớ ra Ed vẫn còn trẻ con lắm. Hai mắt Ed sáng trắng trên gương mặt rám nắng. “Lên xe đi Sykes?” Hắn vỗ lên yên sau. “Allhalows xa lắc à. Trời sẽ tối trước khi bồ tới đó.”
Xe lọc cọc chạy trên đường, cũng khá nhanh. Mỗi khi qua ổ gà, Brubeck lại hỏi, “Bồ ô kê không?” rồi mình trả lời, “Ờ.” Gió biển và gió trên đường hất tay áo mình, vờn trên người mình như một thằng cha cà chớn, giở trò thọc lét. Áo thun của Brubeck đẫm mồ hôi, dán chặt lên lưng hắn. Mình cố không nghĩ đến mồ hôi của Vinny, của Stella… Tim mình lại nức nở, rỉ máu, rát buốt, như chỗ trầy xước bị đổ thuốc sát trùng lên. Mình giữ khung xe bằng cả hai tay, nhưng rồi đường mỗi lúc một xóc, vậy là mình cố bám vững, móc ngón tay cái vào đai thắt lưng trên quần jeans của Brubeck. Có khi hắn đang khoái chí “dựng lều” cũng nên, nhưng kệ hắn, mình không quan tâm.
Đàn cừu mũm mĩm gặm cỏ. Đám cừu cái lom lom nhìn hai đứa, như thể tụi mình đang bàn nhau làm thịt bọn cừu con để ăn với cải Brussel và khoai tây nghiền.
Xe đạp đánh động đám chim cà kheo có mỏ dài như muỗng xúc; mấy con chim lượn qua mặt nước. Mũi cánh chim chạm xuống, nước tỏa ra thành vòng.
Chỗ này sông Thames đổ ra biển. Essex rực vàng trong ánh hoàng hôn. Chút nhờ nhờ đằng xa là Đảo Canvey; xa nữa là Southend.
Eo biển Manche xanh như màu mực viết; bầu trời biêng biếc như màu viên phấn xoa gậy billiards. Xe lọc cọc qua cây cầu trên một con lạch đục bẩn, nửa đầm lầy, nửa bãi cát, nằm sâu trong đất liền: ĐẢO GRAIN CHÀO MỪNG QUÝ KHÁCH.
Thực ra chỗ này không phải là đảo. Có khi hồi xưa lắc mới là đảo.
Con chim véo va véo von dở hơi đó vẫn theo hai đứa. Chắc là nó chứ gì nữa.
Allhallows-on-Sea là một khu công viên cắm trại đổ ra bờ biển, phía sau có một cái làng buồn buồn. Xe moóc xếp thành hàng với những khoang hình hộp dựng trên cột thấp mà trong phim Mỹ người ta gọi là nhà di động. Con nít ở trần, mấy đứa bé loắt choắt trần truồng lê la quanh hàng quán, chơi bắn súng nước, chơi bóng cột Swingball, chạy quanh. Mấy bà mẹ uống ngà ngà say, trợn mắt nhìn các ông bố đang nướng xúc xích cháy trên lò. Mình cố hớp lấy khói nướng. “Không biết bồ sao,” Brubeck nói, “chứ tui đói muốn chết luôn.”
Mình đáp, hơi bị hăng hái, “Cũng hơi đói” Vậy là hắn dừng xe ở một hàng khoai tây chiên và cá tẩm bột, gần khu trò chơi Lazy Rolf’s Krazy Golf. Brubeck gọi cá tuyết và khoai tây, hai bảng một phần, mình chọn khoai tây chiên vì chỉ tốn năm mươi xu. Nhưng rồi Brubeck nói với thằng cha ở quầy “Cho hai phần cá tuyết và khoai,” và đưa tờ năm bảng. Thằng cha đó nhìn mình, rồi nhìn Brubeck, ra vẻ hàng-ngon-đó-con-trai, đúng kiểu đàn ông hay nhấm nháy nhau. Mình tức lắm, vì mình với Brubeck có phải bồ bịch gì, mình sẽ không bao giờ cặp với hắn, bao nhiêu phần cá tẩm bột cũng không ăn thua. Brubeck mua thêm hai lon Coca. Thấy mặt mình, hắn nói “Chỉ là cá với khoai thôi mà – không ràng buộc gì hết, đừng lo.”
“Chính xác, không ràng buộc gì hết” Tự dưng giọng mình hằn học quá mức. “Ừm… à cảm ơn.”
Tụi mình đi qua cabin cuối cùng, đi thêm chút nữa đến một nhà chờ bằng bê tông, ngay dưới chân đụn cát. Từ cửa sổ trên cao thoảng ra mùi khai nước đái, nhưng Brubeck leo thẳng lên mái nhà thấp. “Chỗ này là công sự đó,” hắn nói. “Hồi chiến tranh người ta cất súng máy ở đây, đề phòng quân Đức xâm lược. Giờ vẫn còn cả trăm cái như vậy, nếu bồ để ý kỹ. Thời bình đó, bồ nghĩ coi, ổ súng máy giờ thành chỗ dã ngoại.” Mình nhìn hắn: Ở trường đố mà dám nói chuyện sâu sắc vậy. Mình tự leo lên, nhìn quanh. Bên kia khúc cửa sông Thames rộng hơn một dặm là Southend, kia nữa là bến tàu Sheerness trên đảo Sheppey. Rồi tụi mình mở Coca, mình cẩn thận tháo khoen lon để khi uống xong sẽ bỏ lại vào lon. Chó mà đạp trúng cái khoen này thì đứt chân như chơi. Brubeck cầm lon đẩy về phía mình, vậy là mình cụng với hắn, như thể cụng ly rượu, nhưng mình không nhìn mắt hắn, để hắn khỏi tơ tưởng nọ kia. Rồi tụi mình uống coca. Ngụm đầu tiên như muốn vỡ tung trong miệng mình, bùm bùm, sôi sục sảng khoái. Khoai tây chiên còn ấm, thơm mùi giấm, bột chiên cá nóng hổi trong tay, hai đứa bóc từng thớ thịt cá tuyết béo ngậy. “Ngon quá,” mình nói. “Cảm ơn nha.”
“Không ngon bằng trên Manchester,” Brubeck đáp.
Một con diều lượn ngoằn nghèo, đuôi hồng viết lên trời xanh.
Mình rít một hơi Dunhill đầy phổi – thuốc của Brubeck. Thấy đỡ hẳn. Rồi mình nghĩ đến Stella Yearwood và Vinny hút Marlboro trên giường, vậy là mình phải giả bộ như đang bị con gì bay vào mắt. Để quên đi, mình hỏi Brubeck, “Ông cậu của bồ ra sao? Người mà bồ đi thăm lúc nãy đó.”
“Cậu Norm. Anh của mẹ tui. Hồi trước lái xe cần cẩu ở nhà máy ximăng Blue Circle nhưng nghỉ rồi. Mắt ổng sắp lòa hết.”
Mình rít thêm một hơi sâu. “Kinh khủng vậy. Tội nghiệp.”
“Ổng có nói ‘Thương hại cũng là một hình thức lạm dụng.’”
“Bị mù hẳn hay chỉ một phần, hay…”
“Mất khoảng ba phần tư thị lực, hai mắt luôn, sắp mù hẳn. Ổng ghét nhứt là không đọc được báo nữa. Nói là giờ nhìn đâu cũng như tìm chìa khóa trong tuyết dơ. Nên hầu như thứ Bảy nào tui cũng đạp xe tới đó, đọc cho ổng vài bài trên báo Guardian. Rồi ổng nói chuyện bà Thatcher với công đoàn, chuyện tại sao quân Nga có mặt ở Afghanistan, rồi tại sao CIA lật đổ các chính quyền dân chủ ở châu Mỹ Latin.”
“Nghe chán vậy, như giảng bài,” mình đáp.
Brubeck lắc đầu. “Hầu hết thầy cô của tụi mình chỉ chực bốn giờ ra về, sáu mươi tuổi nghỉ hưu. Nhưng cậu Norm thích nói chuyện, thích suy nghĩ, ổng muốn tui cũng như vậy. Ổng sắc sảo lắm. Rồi mợ thường nấu một bữa trưa tưng bừng, ăn xong ổng hay ngủ gật, tui đi câu cá, nếu trời đẹp. Trừ khi tui thấy có nhỏ bạn cùng lớp nằm chết trên bãi sông.” Hắn dụi đầu thuốc lên nền bê tông. “Vậy, chuyện của bồ là sao hả Sykes?”
“Ý bồ là sao, chuyện gì của tui kia?”
“Lúc tám giờ bốn mươi lăm phút tui thấy bồ đi dọc theo phố Queen, nấp vào…”
“Bồ thấy tui sao?”
“Ừa - bồ nấp vào vòm chợ, nhưng bảy tiếng đồng hồ sau, mục tiêu đã được phát hiện cách Gravesend mười dặm về phía đông, dọc theo dòng sông.”
“Trò gì vậy? Ed Brubeck, thám tử tư hả?”
Một con chó cụt đuôi chạy tới ngoáy mông tít mù. Brubeck vứt cho nó một mẩu khoai tây. “Nếu làm thám tử, tui đoán là chuyện bạn trai.”
Giọng mình đanh lại. “Không phải việc của bồ.”
“Đúng. Nhưng thằng đó không đáng đâu, có là thằng nào cũng không đáng vậy.”
Mình nhăn mặt, làm rớt mẩu khoai cho con chó. Nó ngấu nghiến ngoạm lấy, mình tự hỏi biết đâu nó cũng dạt nhà. Như mình vậy.
Brubeck gấp tờ giấy gói khoai thành cái phễu rồi đổ hết chỗ vụn bột chiên vào miệng. “Bồ tính tối nay đi về chứ?”
Mình cố nhịn tiếng rền rĩ. Gravesend giờ như một đám mây đen. Vinny, Stella và má đang ở đó. Ba người đó chính là Gravesend. Đồng hồ báo 18:19, hẳn giờ này trong quán Thuyền trưởng Marlow đang chộn rộn nói cười, khách quen bắt đầu kéo vào. Trên gác Jacko và Sharon hẳn đang ngồi trên ghế sofa xem The A-Team, vừa xem vừa ăn phô mai và bánh ga-tô sô-cô-la. mình cũng muốn ở đó, nhưng còn cái tát của má thì sao? “Không,” mình nói với Brubeck. “Tui không tính về.”
“Ba tiếng nữa trời sẽ tối. Bồ không có đủ thời gian mà tìm gánh xiếc rồi đi theo đâu.”
Cỏ trên đụn cát nghiêng ngả dập dìu. Trên cao mây từ nước Pháp bay về. “Thì biết đâu tui sẽ tìm được một cái công sự ấm cúng nào đó. Cái nào không có người tè vô. Hoặc một cái chuồng bò.”
Chim hải âu lượn tới như ăn cướp, la oang oác tranh giành khoai tây chiên. Brubeck đứng dậy, xua tay về phía đàn chim để tụi nó bay tản ra, cho bõ ghét. Trông như Hoàng tử Điên xứ Allhallows-on-Sea. “Có khi tui biết một chỗ tốt hơn.”
Lại đạp xe trên đường chính. Những cánh đồng bao la phẳng lì như bánh kếp, ở một chốn mông lung vô chừng, bóng đen dài đổ xuống. Brubeck cứ làm ra vẻ bí hiểm về chuyện đi đâu - “Hoặc là bồ tin tui, Sykes à, hoặc là không” - nhưng hắn nói chỗ này ấm, khô ráo và an toàn. Hắn đã ở đó năm sáu lần khi đi câu đêm, nên mình đồng ý đi theo, cứ vậy đã. Hắn nói hắn sẽ về Gravesend rồi về nhà. Bọn con trai là vậy: hay giả bộ giúp đỡ khi để ý ai. Nhưng không thể biết được động cơ thực sự của tụi nó mà không bị mất mặt, thường thì tới khi biết rồi cũng đã quá trễ. Ed Brubeck trông cũng không đến nỗi, còn dành chiều thứ Bảy đọc báo cho ông cậu mù lòa, nhưng sau vụ Vinny và Stella mình không chắc là mình biết nhìn người nữa. Nhưng đêm sắp xuống, mình cũng không có nhiều lựa chọn. Xe chạy qua một nhà máy lớn. Mình chưa kịp hỏi Brubeck nhà máy này làm gì thì hắn đã nói đó là Trạm Điện Grain, cung cấp điện cho Gravesend và một nửa phần đông nam của London.
“Ờ, biết rồi” mình nói dối.
Nhà thờ thâm thấp, có tòa tháp với khe bắn cung, rực vàng trong ánh chạng vạng. Khu rừng xào xạc không nghỉ như sóng vỗ, mấy con quạ lượn nhào, tựa bít tất đen trong máy sấy. Tấm bảng hiệu ghi dòng chữ “NHÀ THỜ GIÁO XỨ ST MARY HOO”, ở dưới có số điện thoại của cha xứ. Làng St Mary Hoo ở phía trước, nhưng cả khu làng chỉ có mỗi vài cái nhà cổ và một quán bia giữa hai con lộ. “Giường chiếu ở đây rất tối thiểu,” Brubeck nói khi tụi mình xuống xe, “nhưng có Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần lo phần an ninh, với mức giá zero bảng một đêm thì chỗ này rất cạnh tranh.”
Ý hắn là nhà thờ sao? “Bồ đang giỡn, đúng không?”
“Trả phòng đúng y bảy giờ sáng, không thì ban quản lý sẽ rất bực.” Đúng vậy, ý hắn là nhà thờ. Mình làm mặt ngờ vực.
Brubeck làm mặt Rồi sao, đi hay ở.
Mình phải ở lại thôi. Khu đầm lầy ở Kent đâu có mấy cái chuồng bò ấm cúng, đầy rơm khô như trong phim Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên. Mình mới chỉ thấy mỗi một cái cách đây vài dặm, lợp tôn, phía trước có hai con chó Doberman nhìn như bị dại. “Người ta không khóa cửa nhà thờ sao?”
Brubeck nói, “Ờ có”, tưng tửng như kiểu mình hay nói “Thì sao?” Sau khi nhìn quanh để chắc chắn là không có ai, hắn dắt xe đến khu nghĩa trang. Hắn giấu xe giữa mấy bụi cây tối om và bức tường, rồi dẫn mình tới chỗ cổng vòm. Bông giấy người ta tung trong đám cưới dồn thành từng mảng dơ dáy. “Coi chừng đằng cổng,” hắn dặn mình. Từ trong túi hắn rút ra một cái bóp da, bên trong có một chùm chìa khóa và một miếng kim loại mỏng hình chữ L. Ed quay nhìn ngoài đường lần cuối, rồi chọc một chiếc chìa vào ổ khóa, khẽ lắc lắc.
Mình sợ bị bắt quá chừng. “Bồ học đâu trò đột nhập vô nhà người ta vậy?”
“Ba tui đâu có dạy tui đá banh hay sửa xe.”
“Tụi mình sẽ bị phạt mất! Tội này gọi là… gọi là…”
“Đột nhập trái phép. Vì vậy mà tui mới nhờ bồ coi chừng.”
“Nhưng lỡ có người đi tới thì tui làm gì?”
“Giả bộ mắc cỡ, như tụi mình bị bắt quả tang đang mi nhau.”
“Ừm… không có chuyện đó đâu, Ed Brubeck à.”
Hắn nửa hứ há, nửa bật cười. “Giả bộ thôi mà. Bình tĩnh, cớm chỉ bắt bồ nếu chứng minh được bồ phá khóa. Nếu bồ không nói gì, nếu cẩn thận đừng làm hư ổ khóa…” hắn đút một cái chìa xương vào lỗ khóa “…thì ai dám không tin là bồ chỉ đi ngang qua, thấy cửa mở hé, bèn đi vào để tìm hiểu kiến trúc nhà thờ Saxon? Nói vậy để bồ nhớ, lỡ mà bị bắt.” Brubeck áp sát tai vào khóa, liên tục loay hoay. “Nhưng mà tui ở đây ba hôm thứ Bảy từ sau Lễ Phục sinh mà không có động tĩnh gì cả. Với lại có phải mình chôm chỉa gì đâu. Bồ lại là con gái, chỉ cần trổ tài mít ướt, ca bài ‘Làm ơn mà, thưa cha, con đang chạy trốn khỏi cha dượng vũ phu’ rồi kiểu gì cũng được mời ăn bánh uống trà và tiễn lên đường.” Brubeck đưa tay ra dấu im lặng: có tiếng kích nhẹ. “Được rồi.” Cánh cửa nhà thờ mở toang, bản lề kẽo kẹt đúng kiểu rùng rợn.
Bên trong nhà thờ St Mary Hoo có mùi như tiệm bán đồ từ thiện, kính cửa sổ màu sặc sỡ như món trái cây trộn. Tường dày như hầm tránh bom. Khi Brubeck đẩy cửa sau lưng, tiếng “thịch” vang vọng khắp, tựa trong ngục tối. Trần nhà thờ toàn thanh xà gỗ. Hai đứa đi trên lối ở giữa, qua khỏi cả tá dãy ghế dài. Bục giảng kinh bằng gỗ, bể rửa tội bằng đá, đại phong cầm trông như cây dương cầm hoành tráng có gắn thêm ống xả. Chi tiết trang trí chỗ bục giảng hẳn là vàng giả, nếu không bọn ăn trộm – ông già của Brubeck chẳng hạn, đã thó từ lâu. Hai đứa đến chỗ ban thờ, nhìn lên cửa sổ có tranh vẽ cảnh Chúa bị đóng đinh trên thập giá. Trên cửa sổ kính màu có hình con bồ câu ngang trời, vệt sáng tỏa quanh như căm xe đạp. Các bà Mary, hai tông đồ và một người La Mã ở dưới chân thập giá nom như đang nói chuyện thời tiết nắng mưa. Brubeck hỏi, “Bồ là dân Công giáo phải không?”
Mình ngạc nhiên là hắn nghĩ đến cả chuyện đó nữa. “Má tui là người Ireland.”
“Vậy bồ có tin vào Thiên đàng, Địa ngục với lại Chúa không?”
Năm ngoái mình bỏ không đi nhà thờ nữa: trừ vụ hồi sáng thì đó cũng là bất đồng lớn nhất giữa mình với má. “Hồi đó tự dưng tui dị ứng nhà thờ.”
“Cậu Norm nói là tôn giáo chỉ là một thứ thuốc giảm đau tinh thần, nhiều khi tui cũng mong là ổng nói đúng. Trừ khi Chúa cho người ta thay đổi tính cách khi đi chầu trời, nếu không, Thiên đàng có nghĩa đoàn tụ gia đình vĩnh viễn với những người như bác Trev. Thật chẳng có gì tệ hơn.”
“Vậy bác Trev không giống cậu Norm hay sao?”
“Một trời một vực. Bác Trev là anh của ba tui. Là ‘đầu não chỉ huy’, như ổng hay nói, cũng đúng thôi: ổng đủ khôn để sai khiến những người như ba tui. Vụ nào mà trót lọt thì bác Trev ôm hết, còn nếu bể thì bác chuồn đẹp, coi như không liên quan. Hồi ba tui đi tù ổng còn ve vãn mẹ tui nữa, cũng vì vậy mà nhà tui mới chuyển xuống miền nam.”
“Nghe như đồ cà chớn.”
“Ừ, đúng vậy.” Ánh sáng sặc sỡ từ cửa sổ phản chiếu trên gương mặt Brubeck nhạt đi, mặt trời dần lặn. “Nói vậy chứ, nếu đang hấp hối trong nhà an dưỡng, có được bao nhiêu thuốc giảm đau tinh thần tui cũng xực hết”
Mình đặt tay lên lan can quanh chỗ ban thờ. “Vậy nếu… vậy nếu Thiên đàng là có thật, nhưng chỉ trong khoảnh khắc thôi, thì sao? Ví dụ như ly nước mát trong một ngày nóng nực, khi ta sắp chết khát, hoặc khi có người tử tế với ta mà không cần lý do gì, hoặc…” Mình nghĩ đến bánh kếp phủ sốt sô cô la Toblerone má làm; nhớ ba chạy từ dưới quán lên gác chỉ để nói với mình, “Ngủ ngon nha cưng”; rồi Jacko và Sharon hát nhạc chế “vì chị ta là một cục kẹo dẻo,” thay vì hát đúng “vì chị ta là một người tử tế” mỗi lần sinh nhật mình. Hai đứa vừa hát vừa cười sặc sụa mặc dù chẳng có gì tức cười cả. Rồi Brendan tặng mình máy nghe đĩa cũ, thay vì đem cho bạn. Mình nói tiếp, “Giả sử Thiên đàng không phải là một bức tranh treo mãi một chỗ, mà là… Là bài hát hay nhất người ta từng viết, nhưng khi còn sống ta chỉ nghe được vài đoạn chớp nhoáng, giống như khi có người lái xe ngang qua, hay… từ cửa sổ tầng trên khi ta đi lạc…”
Brubeck nhìn mình, như thể hắn đang lắng nghe thật sự.
Rồi, khỉ thật, mình đỏ mặt. “Bồ nhìn gì vậy?”
Trước khi hắn kịp trả lời thì có tiếng chìa khóa rổn rảng ngoài cửa.
Từng giây lề mề trôi qua như đám người say xỉn cố xếp hàng rồng rắn, Brubeck và mình tự dưng tuy hai mà một, như cặp bài trùng Laurel và Hardy, như Starsky và Hutch, như hai nửa hình nộm con ngựa trong kịch panto. Hắn ôm mình, đẩy về phía cánh cửa gỗ đằng sau cây đại phong cầm mà lúc nãy mình không để ý. Rồi hai đứa lọt vào một căn phòng rất ngộ, trần cao, có thang bắt lên cửa sập. Chắc đây là phòng áo lễ, còn cái thang dẫn lên tháp chuông. Brubeck áp tai vào khe cửa: không có đường ra, chỉ có mỗi cái tủ trong góc. Có ít nhất hai giọng đàn ông đang tiến về chỗ hai đứa; mình nghe ra giọng thứ ba, một phụ nữ. Chết thật. Brubeck và mình nhìn nhau. Lựa chọn của tụi mình bây giờ là: 1. đứng yên đó rồi cố năn nỉ người ta; 2. trốn trong tủ; 3. trèo lên thang rồi hi vọng cửa sập mở ra, rồi tiếp tục hi vọng mấy người đó sẽ không đi theo lên. Chắc không đủ thời gian để leo lên thang. Đột nhiên Brubeck đẩy mình vào tủ, rồi hắn cũng chui vào, kéo cửa lại thật chặt. Tủ coi vậy mà nhỏ: chẳng khác gì trốn trong một nửa cái hòm dựng đứng – bị ép chặt vào một thằng con trai mình chẳng thiết tha gì. Brubeck kéo cửa đóng lại…
“Nhưng ông ta cứ tin mình là Fidel Castro tái thế!” Giọng nói đã vào đến phòng áo lễ. “Có yêu ghét gì Maggie Thatcher, mà cả hai phe ấy đều đông, thì cũng phải thừa nhận bà ấy đã thắng cử, trong khi Arthur Scargill thì không. Ông ta còn không trưng cầu ý kiến ở công đoàn nữa.”
“Nhưng chuyện đó thì liên quan gì,” Một giọng London cất lên. “Cuộc đình công lần này nhắm đến tương lai. Vì vậy mà chính phủ phải viện đến mọi thủ đoạn bẩn thỉu – nào là cài cắm tình báo MI5, nói dối trên truyền thông, không trợ cấp cho gia đình thợ mỏ… Nhưng mình nói cho nghe, nếu bên thợ mỏ thua, con cái anh sẽ phải làm việc quần quật như thời Victoria, lãnh lương cũng bằng thời đó luôn.”
Đầu gối Brubeck ấn vào đùi mình, khiến chân mình muốn tê dại.
Mình khẽ ngọ nguậy: hắn rên “ui ui ui”, lí nha lí nhí.
“Ta không thể cứ cứu những ngành công nghiệp đang chết mãi,” người nói giọng nhà quê cãi lại, “vấn đề ở chỗ đó. Nếu không cải cách thì đến giờ ta vẫn phải nuôi thợ xây lâu đài, thợ đào kênh hay thầy pháp. Scargill đang vận dụng thứ Kinh tế học Viễn tưởng và Chính trị học Vớ vẩn.”
Mình cảm nhận được lồng ngực của Brubeck, phập phồng áp vào lưng mình.
“Anh đã bao giờ đến một thị trấn có mỏ than chưa?” Người London hỏi. “Không cách gì vô nổi vì ồn ào quá. Nhưng nếu ở đó mà không có mỏ than, cả thị trấn sẽ chết theo. Xứ Wales và miền bắc không giống như miền nam, Yorkshire khác xa với Kent, năng lượng không chỉ là một ngành công nghiệp thuần túy. Năng lượng là an ninh. Dầu ở Biển Bắc rồi cũng sẽ hết, rồi sẽ ra sao đây?”
“Đúng là một cuộc tranh luận đỉnh cao, thưa quý ông,” người phụ nữ lên tiếng, “nhưng còn chuông thì sao?”
Có tiếng chân lục đục lên cầu thang gỗ: thật may là tụi mình đã không trốn lên tháp chuông. Một phút trôi qua. Không có động tĩnh gì từ phòng áo lễ. Mình đoán chắc cả ba đã đi lên trên. Mình nhích ra một chút, Brubeck hổn hển đau đớn. Mình thì thào, “Bồ có sao không?”
“Bị bồ ép muốn bể lựu đạn luôn, thiệt tình.”
“Lỡ bể thiệt bồ xin con nuôi cũng được mà.” Mình ráng nhường chỗ cho hắn, nhưng không có chỗ mà nhường. “Hay mình chạy lẹ ra ngoài?”
“Chắc đợi chút rồi lén ra, khi có tiếng…”
Chuông vang lên, dội khắp không gian tối om ngột ngạt. Brubeck mở cửa tủ – không khí tràn vào – hắn tập tễnh bước ra, rồi đỡ mình bò ra. Ở bên trên, hai ống chân mập mạp đã thò xuống cửa sập. Hai đứa rón rén đi ra cửa, như hai tên ngớ ngẩn trong Scooby Doo. Mình với Brubeck tiếp tục chạy dọc theo lối đi, như thể vừa trốn khỏi trại tù Colditz. Trong màn đêm xanh đen, tiếng chuông nghe xủng xoảng, chát chúa. Mình bị tê chân, vậy là cả hai phải dừng lại ở ghế đá ngay chỗ bảng tên làng. “Xui quá,” Brubeck nói. “Định khoe với bồ kỹ năng sống sót nơi hoang dã mà chưa gì đã bị mấy bác Hai Lúa ngán đường. Thèm thuốc quá. Còn bồ?”
“Ừ tui cũng thèm. Mấy người đó rung chuông lâu không?”
“Chắc còn lâu.” Brubeck đưa mình một điếu thuốc, xòe bật lửa ra: mình châm đầu thuốc xuống ngọn lửa. “Để tui dẫn bồ vô đó lại, đợi họ đi đã. Ổ khóa Yale dễ ợt, nhắm mắt cũng làm được.”
“Nhưng bồ còn phải đi về mà?”
“Tui sẽ ra buồng điện thoại chỗ quán bia, gọi cho mẹ nói là sẽ đi câu cá suốt đêm nay. Có sao đâu.”
Mình cần hắn giúp, nhưng mình cũng lo lắm, lẽ nào có chuyện giúp đỡ miễn phí.
“Đừng lo Sykes à. Tui không có ý gì đen tối đâu.”
Mình nghĩ tới Vinny Costello, thấy muốn đổi ý. “Được rồi.”
“Đâu phải thằng nào cũng chăm chăm lợi dụng đàn bà con gái, bồ biết không.”
Mình phà một hơi khói thuốc thẳng vô mặt Brubeck, hắn phải nhíu mắt lại, quay mặt đi. “Tui có anh trai đó,” mình tiếp. Tụi mình đứng cạnh một vườn trái cây um tùm, vậy là hút xong hai đứa nhảy vào, chôm vài trái táo. Phải trèo qua một bức tường gạch. Táo chua lè, nhưng khá ngon, nhất là sau khi ăn đồ chiên. Ánh đèn trên trạm điện hồi nãy nhấp nháy. “Đi theo hướng đó,” Brubeck ném lõi táo vu vơ, “qua khỏi đèn chớp nháy trên Đảo Sheppy là tới nông trại trồng trái cây của cha này, tên là Gabriel Harty. Năm ngoái tui làm ở đó, hái dâu một mùa, một ngày được hai mươi lăm bảng. Có chỗ ngủ lại cho thợ hái nữa, khi nào thi xong, tui sẽ trở lại đó. Tui đang để dành tiền làm một chuyến InterRail tháng Tám này.”
“InterRail là gì?”
“Không biết thiệt hả?”
“Thiệt.”
“Vé tàu dài ngày. Một trăm ba mươi bảng, có thể đi khắp châu Âu trong một tháng. Ghế hạng hai, nhưng cũng được. Từ Bồ Đào Nha tới Na Uy. Cả mấy nước phía đông nữa, Nam Tư này nọ. Bức tường Berlin. Istanbul. Ở Istanbul có một cây cầu, một bên là châu Âu, bên kia là châu Á. Tui sẽ đi trên cây cầu đó.”
Xa xa có tiếng chó sủa đơn độc, mà có khi là cáo.
Mình hỏi, “Tới mấy nước đó rồi bồ làm gì?”
“Ngó nghiêng. Đi loanh quanh. Kiếm chỗ trọ rẻ. Ăn đặc sản. Uống bia rẻ. Tránh bị rận cắn. Nói chuyện. Học dăm câu ngoại ngữ. Chỉ là để được ở đó thôi, bồ hiểu không? Nhiều khi,” Brubeck cắn một miếng táo, “nhiều khi tui muốn được ở khắp mọi nơi, cùng một lúc, tui thèm tới độ nhiều khi muốn…” Brubeck làm động tác bom bổ trong lồng ngực. “Có bao giờ bồ cảm thấy vậy không?”
Một con dơi đập cánh ngang qua, như thể đang đu dây trong mấy bộ phim ma cà rồng nhảm nhí.
“Không, nói thiệt. Trước giờ tui chỉ đi xa nhất là Ireland, thăm bà con nhà ngoại ở Cork.”
“Chỗ đó sao?”
“Khác ở đây. Không phải toàn là trạm kiểm soát với bom đạn như ở miền bắc, mặc dù vẫn còn dư âm Xung Đột, nhưng ở đó thì đừng có dại mà nói chuyện chính trị. Người ta căm bà Thatcher lắm, nhất là sau vụ Bobby Sands và mấy người tuyệt thực. Tui có một bà trẻ, là dì của mẹ tui, tên là Ellísh. Bà hay lắm. Bà nuôi gà, cất súng trong hầm than. Khi còn trẻ bà đạp xe tới Kathmandu. Thiệt đó. Chắc bà cũng có cái nỗi thèm được ở mọi nơi như bồ. Tui đã xem bộ sưu tập ảnh và bài báo cắt ra của bà. Bà ở mũi đất gần Bantry – bán đảo Đầu Cừu. Chỗ đó như ở rìa thế giới vậy. Không có gì cả, hàng quán cũng không, nhưng” - mình ít khi thừa nhận chuyện này với ai- “tui rất thích ở đó.” Trăng lên, sắc như dao.
Cả hai im lặng, nhưng thật tự nhiên. Rồi Brubeck nói, “Bồ có biết chuyện dây rốn thứ hai không hả Sykes?”
Mình không thể nhìn rõ mặt hắn. “Gì kia?”
“Em bé trong bụng mẹ, gắn với mẹ bằng sợi dây này…”
“Tui biết dây rốn có nghĩa là gì, cảm ơn. Nhưng mà ‘thứ hai’ là sao?”
“À, các nhà tâm lý nói rằng có một dây rốn thứ hai, vô hình, dây rốn tình cảm, nối kết con cái với cha mẹ suốt thời thơ ấu. Cho tới một ngày, con gái thì cãi mẹ, con trai thì cãi cha, dây rốn thứ hai sẽ bị đứt. Chỉ cho tới khi đó thì con cái mới sẵn sàng đi ra đời, sống tự lập trưởng thành. Giống như một cột mốc quan trọng trong đời vậy.”
“Tui cãi nhau với má, ngày nào cũng cãi. Má cứ coi tui như đứa con nít mười tuổi.”
Brubeck châm một điếu thuốc nữa, rít một hơi rồi đưa cho mình. “Ở đây là cãi lớn chuyện, đổ bể thiệt. Cãi kiểu đó xong là biết ngay. Biết mình không còn như xưa nữa.”
“Tự dưng nói chuyện đó với tui chi vậy?”
Hắn có vẻ cân nhắc cẩn thận trước khi trả lời. “Nếu bồ bỏ nhà đi vì ông già của bồ là tội phạm, đánh vợ, bị con cản thì xô nó xuống cầu thang, nếu đúng vậy thì bỏ đi là quyết định thông minh. Cứ đi. Tui sẽ cho bồ tiền tui để dành mua vé InterRail. Nhưng nếu tối nay bồ ngồi ở đây chỉ vì cái dây rốn thứ hai đó bị cắt đứt, thì ừ, đúng là đau đớn thiệt, nhưng là chuyện tất nhiên. Bồ nên rộng rãi chút với bà già. Ai rồi cũng phải lớn. Bồ đừng trừng phạt bà già vì chuyện đó.”
“Má tát tui đó.”
“Tui cá với bồ, giờ này bả đang rất dằn vặt.”
“Bồ biết gì về má tui!”
“Còn bồ thì biết rõ hả Sykes?”
“Ý bồ là sao?”
Brubeck bỏ lửng câu chuyện. Vậy là mình cũng không nói nữa.
Nhà thờ im ắng như nghĩa địa. Brubeck ngủ giữa đám gối tựa bụi bặm. Hai đứa ngồi trên chỗ ban công chạy dọc theo bức tường phía sau, nếu có tín đồ tà giáo nào nửa đêm vô đây hành lễ thì cũng không phát hiện ra tụi mình. Ống chân mình đau đớn, chỗ giộp da bỏng rát, còn tâm trí mình cứ quay lại cảnh Vinny và Stella. Không lẽ mình làm chuyện đó không giỏi sao? Hay mình mặc đồ không đẹp, nói chuyện không hay, gu nhạc của mình dở?
22:58, đồng hồ Timex trên tay báo. Cũng là lúc bận rộn nhất trong quán Thuyền trưởng Marlow: đợt gọi đồ uống cuối cùng trong đêm thứ Bảy. Má, ba và Glenda – Glenda chỉ làm việc vào cuối tuần, sẽ chạy bở hơi tai: dân nhậu ồn ào đặt những tờ năm bảng, mười bảng xuống bàn, giữa mù mịt khói thuốc, tiếng người cười nói, la hét, hô hố, chửi bới, tán tỉnh… Không ai quan tâm Holly đêm nay ở đâu. Máy hát sẽ bật bài “Daydream Believer” hay “Rockn’ All Over The World” hay “American Pie”, vang ầm ầm khắp nhà. Sharon chắc đã ngủ rồi, đèn pin giấu dưới chăn. Jacko cũng ngủ, vẫn bật radio đài nước ngoài. Trong phòng mình, giường vẫn còn lộn xộn, cặp treo trên ghế. Giỏ đồ sạch đặt ngay sau cửa, mỗi khi bực má vẫn đặt nó ở đó. Dạo này hầu như ngày nào cũng vậy. Từ Essex bên kia sông có ánh đèn màu cam, xuyên qua rèm cửa vẫn chưa kéo trong phòng mình, chiếu lên tấm poster Zenyattà và The Queen Is Dead mà mình xin được từ tiệm Magic Bus. Nhưng mình sẽ không bắt đầu nhớ căn phòng đó lúc này.
Không có chuyện đó đâu.