Tiếng ong ong inh tai, tiếng sột soạt, tiếng chim hót, hình thiên thần trên cửa sổ kính màu. Nhà thờ nhỏ trên đảo Grain, mình dần nhớ ra, ánh nắng đổ vào, bình minh ló dạng. Má. Lời qua tiếng lại. Stella và Vinny thức dậy trong tay nhau. Cổ họng mình nghẹn cứng. Nếu từng làm chuyện đó với ai nhiều lần, hẳn đâu dễ gì quên ngay được. Tình yêu vô cùng ngọt ngào khi êm đẹp, nhưng một khi đổ bể thì cứ như phải trả nợ cắt cổ. 6:03, theo như đồng hồ Timex. Chủ Nhật. Ed Brubeck: hắn đang nằm đó, gà gật trên đám gối tựa, miệng he hé, tóc tai lòa xòa. Mũ lưỡi trai của Ed đặt trên áo sơ mi kẻ ca rô mặc ngoài, đã được gấp lại gọn gàng. Mình dụi mắt cho tỉnh ngủ. Mình nằm mơ thấy Jacko và cô Constantin mở một tấm màn bằng không khí, rồi thấy những bậc thang bằng đá dẫn lên cao như trong phim Indiana Jones…
Nhưng có liên quan gì? Mình đã mất Vinny. Stella đã lấy mất Vinny.
Ed Brubeck ngáy như gấu. Brubeck hẳn không bao giờ phản bội bạn gái. Nếu hắn có bạn gái thật. Mấy đứa con trai khóa mình mỗi lần đi tiệc cứ giả bộ ấm ớ chuyện đã mất trinh ra sao, nhất là mấy thằng chưa có gì, vừa khoác lác vừa vân vê mấy cọng ria lơ thơ… Ed Brubeck không thèm làm trò mèo đó, cũng có nghĩa là hắn đã kinh qua rồi. Nếu là với ai ở trường thì hẳn mình đã nghe nói. Nhưng cũng chẳng biết được. Hắn rất kín tiếng.
Nhưng hôm qua hắn cũng nói với mình khá nhiều chuyện đó chứ.
Người cha, gia đình, tất tần tật. Tại sao lại đi nói với mình?
Ngắm gương mặt say ngủ, góc cạnh, nửa đàn ông nửa con trai của hắn. Rồi câu trả lời thật rõ ràng: “Vì hắn thích mày, đồ ngu!” Nếu hắn thích mình thật, tại sao lại không gợi ý gì cả?
Hắn thông minh mà, mình hiểu rồi. Đầu tiên hắn làm cho mình thấy biết ơn.
Đúng rồi. Đương nhiên. Đã đến lúc mình phải biến thôi.
Bồ công anh và cúc kế mọc dọc theo lối đi nứt nẻ, bờ giậu cao quá đầu mình. Ánh nắng buổi sớm gay gắt như tia laser. Không hiểu sao mình lại chôm mũ của Brubeck trước khi lẻn ra, nhưng mình không thấy áy náy gì, mà ngược lại. Hắn cũng sẽ chẳng để tâm mấy. Mình sẽ đi băng qua đồng, ra đến đường chính xuống Rochester, cỡ sáu bảy dặm gì đó. Chỗ giộp chân của mình sẽ không sao. Mà có sao cũng đành chịu: mình không gói theo bông băng trong túi thể thao. Bắt đầu thấy đói, nhưng giờ chịu thôi – đến Rochester mình sẽ kiếm gì ăn. Có lẽ mình nên chào tạm biệt và cảm ơn Brubeck, nhưng nếu hắn hồ hởi đáp lại “Có gì đâu Sykes, nhưng bồ không muốn đi quá giang về Gravesend sao?” thì biết đâu mình sẽ không kìm lòng được mà nhận lời.
Phía trước là con đường dẫn đến sân trại.
Mình trèo qua cổng, rồi chạy quanh một cánh đồng bắp cải.
Thêm một cánh cổng nữa. Trên trời có bóng diều hâu bé xíu.
Mình chỉ cần bỏ nhà đi sáu ngày. Cảnh sát chỉ quan tâm đến thiếu niên bỏ nhà đi sau một tuần. Sáu ngày để Má biết rằng mình có thể tự lập ngoài đời. Mình sẽ… gì nhỉ, có lợi thế thương lượng hơn. Và mình sẽ tự mà đi, không cần Brubeck đóng vai bồ bịch. Mình sẽ phải chi tiêu dè xẻn. Còn nhớ kinh nghiệm ăn cắp vặt lần đầu không?
Một ngày thứ Bảy năm ngoái, cả đám kéo nhau đến sân trượt Chathom Roller Disco dịp sinh nhật Ali Jessop. Nhưng chán bỏ bà, vậy là mình, Stella và Amanda Kidd lẻn ra phố. Amanda Kidd đầu têu: “Đi ‘câu’ không?” Mình đâu có muốn nhưng Stella nói ô kê, vậy là mình cũng làm mặt ngầu, cả đám đi thẳng vô trung tâm mua sắm Debenhams. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ mình chưa bao giờ trộm cắp, mình sợ muốn tè ra quần, nhưng mình cứ nhìn Stella. Nó hỏi nhân viên bán hàng một câu vu vơ rồi lỡ tay, mà thực ra là cố ý, hất đổ hai thỏi son từ trên giá mỹ phẩm. Nó cúi xuống nhặt, tranh thủ bỏ ngay một thỏi vào giày bốt. Mình bắt chước y như vậy, thó được mấy đôi bông tai mình thích. Khi bước ra mình còn hỏi nhân viên hôm nay mở cửa tới mấy giờ. Một khi cả bọn đã an toàn ở ngoài, mình thấy như thế giới đã khác đi, luật lệ đã thay đổi. Nếu có gan thì muốn gì cũng được. Amanda Kidd thó được một cặp kính râm phải đến mười bảng, Stella câu được son Estée Lauder còn đôi bông tai kim cương giả của mình lấp lánh như đồ thiệt. Tiếp theo cả bọn kéo vào hàng kẹo Sweet Factory. Mình và Amanda Kidd nhét kẹo vào áo quần trong khi Stella đứng cà kê với tay nhân viên phụ việc thứ Bảy, nó nói rằng tuần nào nó cũng thấy tay này ở đó, còn nằm mơ thấy anh ta nữa, hỏi tiếp anh ta có muốn đi dạo với nó sau giờ làm không? Rồi tụi mình đến cửa hàng tạp hóa Woolworths. Stella và mình tách ra, đến kệ đĩa đơn Top 40, ra vẻ ngây thơ, nhưng ngay sau đó người quản lý và một nhân viên xuất hiện, rồi nhân viên an ninh kéo Amanda Kidd đến – mặt nó trắng bệch, người run như cầy sấy. Ông này nói “Đây là hai đứa đi cùng con bé này lúc mới vào.” Người quản lý gọi cả đám lên văn phòng trên lầu. Mình bủn rủn cả chân tay, nhưng Stella bật ngay, “Ông là ai mà đòi nói chuyện với tui?” Giọng nó nghe rất chảnh và chanh chua.
Người quản lý chỉ nói, “Cưng bình tĩnh đi lên đây,” rồi cố đặt tay lên vai nó.
Stella hất tay ông ta ra, lớn tiếng gằn, “Bỏ tay gớm ghiếc của ông ra! Tui không biết tại sao ông dám nghĩ hai chị em tui dính tới cái đứa… ăn cắp vặt này,” nó lườm nguýt Amanda Kidd, con nhỏ vẫn còn đang lắc đầu lia lịa, nức nở, “nhưng ông phải nói chính xác tại sao tụi tui lại thèm đi ăn cắp mấy thứ rác rưởi ông bán ở đây…” rồi nó dốc ngược túi xách đổ ra quầy tính tiền, “… mà ông nói cho đúng đi, ông Quản lý à, nếu không ngay sáng Thứ Hai cha tui sẽ thưa ông ra tòa. Đừng giỡn với tui: tui biết luật đó.” Khách mua bắt đầu dồn về phía mình đứng, rồi tự dưng như có phép màu, ông quản lý đấu dịu, lầm bầm trong miệng rằng có lẽ người bảo vệ đã nhầm, mình và Stella được phép đi về. Stella bật tiếp, “Tui biết là tui có quyền đi về!”, rồi nó bỏ đồ vào túi, rồi hai đứa lập cập bước ra.
Hai đứa trở lại tiệc sinh nhật, không kể với ai về chuyện vừa xảy ra. Mẹ Amanda Kidd phải đến tận nơi đón nó về. Mình lo là nó sẽ khai ra cả bọn, nhưng nó không dám. Tuần đó Amanda Kidd ăn trưa với một đám con gái khác, rồi chẳng bao giờ nói chuyện với mình nữa. Giờ nó đã được chuyển lên lớp chọn, nên biết đâu vụ bị bắt hóa ra lại tốt cho nó. Cái chính là, khác với Stella, mình không phải là đứa ăn cắp hay nói dối bẩm sinh. Hôm đó ở Woolworths, Stella còn làm cho mình tin rằng mình với nó vô tội. Rồi xem, giờ đây nó đã chơi mình ra sao, khi tới lượt mình trở thành Amanda Kidd. Chẳng lẽ Stella không cần bạn bè sao? Hay với nó, bạn bè chỉ là để lợi dụng?
Bên tay trái mình là bờ kè dốc đứng, bên trên có xa lộ hai chiều, còn bên phải là cánh đồng đã bị san bằng, nhường chỗ cho một khu dân cư sắp xây. Chung quanh đầy xe đào, xe ủi, cabin văn phòng tạm, hàng rào dây thép cao, bảng hiệu “Bắt buộc đội mũ bảo hộ” đặt trên “Vô phận sự miễn vào”. Có ai đó đã lấy sơn xịt viết thêm dòng chữ “Cờ Anh không có màu đen”, còn thêm vài chữ thập ngoặc kiểu phát-xít cho đủ bộ. Vẫn còn sớm: 7 giờ 40 phút. Brubeck chắc đang đạp xe về nhà, nhưng ở quán ba má chắc vẫn còn ngủ. Phía trước là đường hầm chạy dưới xa lộ. Khi tới cách đó chừng một trăm mét, mình thấy một thằng bé đứng đó, mình dừng lại, thật kỳ lạ, nhưng mình thề…
Là Jacko. Nó cứ đứng đó, nhìn mình. Nhưng Jacko đang ở cách đây hơn hai mươi dặm, đang vẽ mê cung hay đọc sách cờ hay làm những thứ Jacko vẫn làm. Đứa nhỏ trước mặt mình cũng có mớ tóc nâu lòa xòa, có vóc dáng, có kiểu đứng y như Jacko, và cũng mặc áo đỏ của câu lạc bộ Liverpool. Mình biết Jacko mà, mình biết đó chính là nó, hoặc là một đứa em song sinh thất lạc nào. Mình cứ đi tiếp, không dám chớp mắt vì sợ nó biến mất. Khi đến cách năm mươi mét, mình vẫy tay. Thằng-bé-chắc-chắn-không-phải-là-em-mình vẫy lại. Rồi mình gọi tên nó. Nó không đáp trả, nhưng quay đi và bước vào hầm. Mình không hiểu gì cả, nhưng mình cứ chạy theo, sợ là Jacko đã bỏ nhà đi tìm mình, mặc dù mình biết làm sao có chuyện đó được, vì Jacko biết tìm mình ở đâu?
Mình cố hết sức chạy, cảm giác một chuyện kỳ lạ đang xảy ra, nhưng không biết đó là chuyện gì. Đường hầm này chỉ dành cho người đi bộ và xe đạp nên khá hẹp, dài chỉ bằng bề rộng xa lộ bên trên với bốn làn xe và con lươn trồng cỏ ở giữa. Phía trước đường hầm lõm xuống rồi lồi lên, lối ra trông như một hình vuông, qua đó nhìn thấy được đồng cỏ, bầu trời và mái nhà. Mình bước vài bước rồi mới để ý: thay vì tối dần khi đi về đoạn giữa, đường hầm lại sáng lên, thay vì tiếng vọng vang lớn hơn, âm thanh trong hầm như bị ù đi. Mình tự nhủ, chỉ là ảo ảnh thôi, đừng lo, nhưng thêm vài bước nữa, mình cảm giác chắc chắn: đường hầm đang thay đổi hình dạng. Nó trở nên rộng hơn, cao hơn, có bốn góc, một căn phòng hình thoi… Như thể ở một nơi khác. Mình không tin nổi vào mắt mình, mình sợ run. Mình biết mình còn thức nhưng mình cũng biết những gì mình đang nhìn thấy không thể có thật. Mình dừng lại hẳn: mình sợ đụng vô tường. Đây là đâu? Mình chưa bao giờ đến nơi này. Hay mình đang gặp ác mộng ban ngày? Hay bệnh cũ tái phát? Hai bên có cửa sổ hẹp, chỉ cách mình khoảng mười bước. Mình sẽ không nhìn qua đó – chắc là nhìn xa khỏi tường đường hầm – nhưng qua cửa sổ bên tay trái mình thấy có cồn cát, cát màu xám, cứ đổ lên cao, về phía một đỉnh núi. Cửa sổ bên tay phải tối hơn: những cồn cát đó thoải dần ra biển, nhưng biển có màu đen, đen kìn kịt, đen như thể đang ở trong cái hộp chôn dưới hang sâu một dặm dưới lòng đất. Một chiếc bàn dài hiện ra ngay giữa phòng, ngay chỗ mình đứng, rồi mình đi dọc bên trái bàn, rồi nhìn kìa, một người đàn bà đang giữ nhịp đi với mình ở bên phải. Người này trẻ đẹp theo kiểu lạnh lùng, như một nữ diễn viên có cái vẻ cao kỳ; tóc vàng sáng trắng, da trắng toát, đôi môi đỏ như hoa hồng, mặc đầm dạ hội màu xanh đen như bóng đêm, như bước ra từ một câu chuyện…
Chính là cô Constantin, người ngồi trên ghế tựa trong phòng khi mình tám tuổi. Tại sao tâm trí mình lại bày trò này ngay bây giờ? Cả hai tiến về một bức tranh treo trong góc hẹp, tranh vẽ một người trông như thánh thần từ thời xa xưa, nhưng gương mặt ông ta không có mắt. Mình đứng cách đó chỉ gang tấc. Trên trán của ông thánh có một chấm đen, chếch lên giữa hai chân mày. Chấm đen đó nở to ra. Chấm đen thành hình tròn. Rồi thành một con mắt. Rồi mình cảm thấy trên trán mình cũng có một con như vậy, cũng ở cùng vị trí, nhưng mình không chắc mình có còn là Holly Sykes nữa không, hình như không, nhưng nếu mình không còn là mình, thì mình là ai đây? Từ chấm giữa mắt mình một vật gì đó bay ra rồi lơ lửng. Nếu mình nhìn thẳng vào, nó biến mất, nhưng nếu mình nhìn ra xa một lúc, nó lại hiện lên, nho nhỏ, lung linh mờ ảo như một hành tinh. Rồi thêm một cái nữa, một cái nữa, lại một cái nữa. Bốn món lung linh mờ ảo. Trong miệng mình có vị trà xanh. Rồi như có bom nổ tứ tung, cô Constantin gào thét, bàn tay giơ ra như móng vuốt. Một luồng ánh sáng xanh lóe lên như roi quất, cô văng ra, ngã xuống dưới bàn. Miệng ông thánh già mở ra, đầy răng như thú dữ, rồi sắt thép rú rít và đất đá rền rĩ. Hình người nhập nhoạng hiện lên như màn rối bóng trong tâm trí của người điên. Một người đàn ông lớn tuổi nhảy lên bàn. Ông này có mắt dữ như mắt cá cọp, tóc xoăn lọn đen, mũi bành, mặc complet đen và phát ra một thứ ánh sáng màu chàm lạ lùng, như phóng xạ. Ông ta đỡ cô Constantin đứng dậy, rồi cô chỉ một ngón tay ánh bạc thẳng về phía mình. Những ngọn lửa đen bùng lên, một tiếng gầm rú như động cơ phản lực lấp đầy không gian, rồi mình không chạy được, không chống cự được, rồi không nhìn thấy được nữa. Vậy là mình chỉ còn biết đứng đó, lắng nghe những giọng nói vang lên, như thể tiếng gào thét của người bị đè dưới nhà sập, nhưng mình cũng nghe được một giọng rất rõ, Ta sẽ ở đây. Rồi lại rung lắc, một thứ ánh sáng chói hơn cả ánh mặt trời phát ra, mạnh dần lên mãi, cho tới khi mắt mình bị đun chảy…
… rồi màu xám len qua những kẽ nứt, tiếng chim hót, tiếng xe tải chạy bên trên, cảm giác nhói đau ở cổ chân bị trặc, rồi mình cúi người trên mặt đường bê tông của một đường hầm, chỉ cách lối ra có vài mét. Cơn gió thoảng mùi khói xe tạt qua mặt, rồi mọi thứ chấm dứt, cơn ác mộng ban ngày, thứ ảo ảnh, trò-quái-quỉ-gì-đó, chấm dứt. Không có ai ở đó để mình hỏi, Có thấy không? Chỉ có mỗi bốn từ đó, Ta sẽ ở đây. Mình lồm cồm bò ra ngoài sáng, một buổi sáng xanh khô, vẫn còn run rẩy sau trò quái gở đó, rồi mình ngồi lên bờ cỏ. Có lẽ ác mộng ban ngày cũng như bệnh ung thư, tưởng là khỏi rồi nhưng vẫn tái phát. Có lẽ chiêu trị bệnh của bác sĩ Marinus đã bắt đầu hết tác dụng. Có lẽ hôm qua mình bị căng thẳng, sau chuyện nhức đầu với má và Vinny, nên bệnh cũ mới trở lại, mình chịu không biết. Không thấy Jacko đâu cả, vậy chắc là mình đã tưởng tượng ra nó. Tốt. Mình mừng là nó vẫn an toàn ở quán Thuyền trưởng Marlow, cách đây đến hai mươi dặm, nhưng mình muốn gặp nó, muốn biết nó không sao, mặc dù mình biết nó vẫn ổn và chẳng có gì đáng lo cả.
Lần đầu tiên mình thấy Jacko, nó nằm trong lồng kính, một ca sinh rất non. Lần đó cũng ở Bệnh viện đa khoa Gravesend nhưng khoa sản ở một tòa nhà khác. Má khi đó vừa sinh mổ xong, mình chưa bao giờ thấy má vừa mệt mỏi vừa hạnh phúc như vậy. Má nói tụi mình đến chào Jack, em trai mới. Ba trực ở bệnh viện từ nguyên ngày hôm trước; người ngợm nhếch nhác bốc mùi như người ngủ hoang ngoài bãi xe cả tuần. Mình còn nhớ Sharon phụng phịu mãi vì từ đây đã mất ngôi Bé Khỏe Bé Đẹp ở Quán Thuyền Trưởng Marlow vào tay một đứa nhăn nheo như khỉ, đỏ như tôm luộc còn mặc tã và bị gắn đủ thứ dây nhợ kia. Brendan khi đó mười lăm tuổi, sợ xanh mặt trước những màn la hét, bú mớm, nôn trớ rồi ị ọt trong khoa sản. Mình gõ lên mặt kính, nói “Jacko ơi, chị đây,” rồi ngón tay thằng nhỏ cựa quậy, chỉ một chút thôi, như thể nó đang vẫy chào mình. Thề có Chúa: không ai thấy cả nhưng ngay lúc đó tim mình nhói lên, mình thấy nếu cần, vì nó, mình có thể đi giết người. Mình vẫn còn cảm giác đó, mỗi khi có đứa cà chớn nào dám mở miệng bỉ bôi bọn “quái dị”, “lạ đời” hay “cái đồ đẻ non”. Miệng lưỡi thiên hạ đúng là ác ôn. Một đứa bảy tuổi vẽ tàu vũ trụ thì không sao, nhưng vẽ mê cung hắc ám thì lại có vấn đề? Bỏ tiền chơi Space Invaders là bình thường, nhưng mua máy tính bỏ túi có nhiều ký hiệu thì lại bị trêu? Tại sao nghe chương trình Top 40 trên Radio thì được nhưng nghe đài nước ngoài thì lại không? Ba má thỉnh thoảng lại cho rằng Jacko phải đọc sách ít lại, phải chơi đá banh nhiều hơn. Rồi nó cũng đóng kịch, giả bộ như một đứa trẻ bảy tuổi bình thường, nhưng chỉ là đóng kịch thôi, cả nhà đều biết. Đôi khi nó mỉm cười với mình bằng đôi mắt đen, như người ngồi trên chuyến tàu đang chạy vụt qua. Những lúc đó mình gần như muốn đưa tay vẫy nó, mặc dù nó chỉ ngồi phía bên kia bàn, hay lúc hai chị em đụng nhau ở cầu thang.
Có bị ảo giác ảo giếc gì nữa thì mình cũng không thể ngồi đây cả ngày. mình cần thức ăn, cần một kế hoạch. Vậy là mình đi tiếp, sau vòng xoay đồng cỏ cũng tận, mình trở lại thế giới của hàng rào quanh vườn, bảng quảng cáo và vạch kẻ đường cho người đi bộ. Bầu trời hơi âm u, mình lại khát nước. Mình vẫn chưa được uống nước tử tế kể từ khi mình với Brubeck uống nước từ vòi ở nhà thờ. Mà ở đây là phố xá đàng hoàng, không thể gõ cửa nhà người ta mà xin nước như lúc ở nơi đồng không mông quạnh được. Giá mà gặp công viên có vòi nước uống, hay thậm chí là nhà vệ sinh công cộng, nhưng hai thứ đó chẳng thấy đâu. Mình cũng muốn đánh răng nữa, răng mình đóng bợn như cặn trong ấm đun nước. Mình ngửi thấy mùi thịt ba rọi muối bay ra từ cửa sổ, rồi một chiếc xe buýt ghi chữ “Gravesend” trờ tới. Chỉ cần lên xe mình sẽ về tới nhà sau bốn mươi lăm phút…
Được rồi, nhưng cứ hình dung gương mặt má khi ra mở cửa. Chiếc xe buýt chạy qua, mình lóc cóc đi tiếp dưới một cây cầu đường sắt. Đằng trước có hàng quán, tiệm bán báo, mình sẽ ghé mua lon nước và gói bánh qui. Mình đi qua tiệm bán sách đạo, tiệm bán len, hàng cá cược, một cửa tiệm chỉ chuyên bán máy bay mô hình Airfix nọ kia, rồi một tiệm bán thú cưng với mấy con chuột lang ghẻ bị nhốt trong lồng. Gần như chỗ nào cũng đóng cửa, đường xá buồn buồn. Vậy là mình đã tới Rochester. Giờ sao?
Một buồng điện thoại công cộng hiện ra, đỏ như màu trái dâu.
Trái dâu. À, cũng có lý.
Bà nhân viên tổng đài tìm được ngay Gabriel Harty và Nông trại Black Elm trên đảo Sheppey, hỏi mình có muốn nối máy luôn không. Mình nói có, rồi một lát sau mình nghe tiếng chuông đổ. Mình nhìn đồng hồ, 08:57. Ở nông trại thì giờ này cũng đâu còn sớm gì nữa, ngay cả vào ngày Chủ Nhật. Không ai nhấc máy. mình chẳng hiểu sao lại thấy hồi hộp đến vậy, nhưng mình run lắm. Nếu chuông đổ mười lần mà không ai nhấc máy, mình sẽ dập máy, chấp nhận hẳn đây là ý Trời.
Ngay hồi chuông thứ chín thì có người cầm máy. “Lô-ô?”
Mình nhét thêm mười xu vào điện thoại. “Alô, phải Nông trại Black Elm đó không?”
“Chậc, để coi thử, đúng rồi đó.”
“Tôi gọi hỏi xem ông còn thuê thợ hái không.”
“Mình còn thuê thợ hái không?” Có tiếng chó sủa nhặng xị và tiếng một người phụ nữ la lên, Boris câm mỏ lại. “Cò-òn.”
“Tôi có người bạn làm chỗ ông mấy mùa trước, nếu ông vẫn còn mướn, tôi muốn làm một thời gian được không?”
“Xưa giờ đã hái gì chưa?”
“Chưa hái trên nông trại, nhưng tôi quen làm việc nặng, và…” mình nghĩ đến bà trẻ Eilísh ở Ireland “Tôi từng giúp dì chăm vườn rau, vườn rộng lắm, tôi không ngại bẩn tay.”
“Vậy ra nông dân tụi này ăn ở nhớp nhúa lắm sao?”
“Tôi chỉ có ý là không ngại việc nặng, làm ngay hôm ngay cũng được.” Im lặng một lúc. Một lúc khá lâu. Hơi bị lâu. Mình lo sẽ phải bỏ xu vào máy tiếp. “Ông Harty? A lô?”
“Nghe đây. Chủ Nhật không hái gì hết. Trại Black Elm nghỉ. Nghỉ Chủ Nhật cho trái còn lớn. Sáng mai bắt đầu hái trở lại đúng y sáu giờ. Có ký túc xá cho thợ hái nhưng nói trước luôn tụi này không phải khách sạn Ritz. Không cơm bưng nước rót gì đâu.”
Tuyệt vời. “Không sao cả. Vậy… ông nhận tôi chứ?”
“Cứ một khay tính ba mươi lăm xu. Phải đầy hộp, không có trái hư, nếu không phải hái lại cả khay. Không được độn sỏi, bỏ vô là nghỉ luôn.”
“Tôi hiểu rồi. Chiều nay tôi tới được không?”
“Được. Có tên tuổi gì không?”
Mình mừng quá, vậy là buột miệng “Holly”, ngay cả khi mình biết nên khai tên giả thì tốt hơn. Cạnh cầu đường sắt có một tấm áp phích quảng cáo thuốc lá Rothmans, mình nói tiếp “Holly Rothmans,” rồi tiếc hùi hụi. Đáng ra mình nên chọn cái tên nào dễ quên, như Tracy Smith, nhưng đâm lao thì phải theo lao.
“Holly Bossman hả?”
“Holly Rothmans. Giống hiệu thuốc lá.”
“Thuốc lá sao? Đây là dân hút tẩu.”
“Tới chỗ ông đi đường nào?”
“Thợ hái chỗ này phải tự mò tới. Tụi này không phải taxi.”
“Tôi biết. Vậy nên tôi mới hỏi đường đi.”
“Dễ ợt à.”
Mình cũng chỉ mong có vậy, kiểu này khéo mà mình hết xu mất. “À ha.”
“Đầu tiên qua khỏi cây cầu tới Đảo Sheppey. Rồi hỏi đường tới Trại Black Elm.” Tới đó, Gabriel Harty dập máy.
Pháo đài Rochester nằm bên dòng sông Medway, như một mô hình khổng lồ, có con sư tử đá đen nằm cạnh cây cầu sắc. Khi ngang qua mình vỗ lên bàn chân nó một cái lấy hên. Rầm cầu rên rỉ mỗi khi có xe tải chạy qua, bàn chân mình nhức mỏi kinh khủng, nhưng mình vẫn thấy vui: chỉ hai mươi tư tiếng trước, mình còn bầm dập ỉ ôi, nhưng giờ đây mình đã qua cuộc phỏng vấn xin việc đầu tiên trong đời, tuần tới coi như khỏi phải lo nữa. Trại Black Elm sẽ là nơi mình trú ẩn, kiếm thêm ít tiền. Mình nghĩ đến Gravesend, đến những trái bom đang nổ liên tiếp. Ba sẽ ghé qua chỗ Vinny, mình biết mà, “Chào anh, nghe đâu anh ngủ với con gái vị thành niên của tui: Tui sẽ không đi đâu cho tới khi nói chuyện được với nó.” Ka-boom! Mặt Vinny xanh như đít nhái. Ka-boom! Ba sẽ chạy về nhà, nói với má mình không có ở đó. Ka-boom! Má sẽ nhớ lại cái tát, tua tới tua lui trong đầu. Rồi má sẽ đùng đùng qua nhà Vinny. Đĩa bay, chén bay, tất tần tật bay tứ tung. Để mặc Vinny tan xác giữa nhà, má sẽ chạy tiếp qua nhà Brendan và Ruth, xem mình có ở đó không. Brendan sẽ kể có gặp mình hôm qua, mình nói đang đi qua nhà Stella Yearwood, vậy là hai má con sẽ đùng đùng chạy tiếp qua đó. Stella sẽ lải nhải “Không có đâu, cô Sykes à. Holly không qua đây, lúc đó cháu ở ngoài, cháu không biết,” nhưng rõ là nó biết đã lớn chuyện rồi, sẽ sợ vãi ra quần. Thứ Hai trôi qua, đến thứ Ba, rồi thứ Tư trường sẽ gọi về nhà vì mình bỏ thi. Thầy Nixon sẽ nói với má, “Để tôi nói lại xem có hiểu đúng ý chị không nhé chị Sykes. Con gái chị đã bỏ nhà đi từ sáng thứ Bảy?” Má sẽ lí nhí rằng giữa hai má con có bất đồng nhỏ. Ba sẽ bắt đầu hỏi đầu đuôi cặn kẽ, má đã nói gì với mình, “tát một cái nhẹ” là sao. Nhẹ chừng nào? Ka-boom, ka-boom, ka-boom. Má sẽ mất bình tĩnh, sẽ quạt lại, “Tui nói hết rồi đó ông Dave à!” rồi má đi lên lầu, vào bếp, khi nhìn ra sông má sẽ nghĩ, con nhỏ chỉ mới mười lăm tuổi, chuyện gì cũng có thể xảy ra… Cho đáng đời má.
Đám mòng biển quang quác nhặng xị dưới sông.
Một chiếc thuyền cảnh sát chớp đèn dưới cầu. Mình đi tiếp. Phía trước có trạm xăng Texaco – vẫn còn mở cửa.
“Muốn đi quá giang tới Sheppey thì đón xe chỗ nào là tiện nhất?” mình hỏi thằng cha đứng sau quầy tính tiền khi hắn đưa tiền thối, hai lon nước Tizer, thỏi sô cô la Double Decker và một gói bánh Ritz. 13 bảng 85 xu giờ chỉ còn 12 bảng 17 xu.
“Đây chưa đi quá giang bao giờ,” hắn đáp, “cứ thử chỗ vòng xoay A2, ngay đầu đường Chatham Hill.”
“Vậy đi đường nào tới đó?”
Nhưng trước khi kịp trả lời, một chị tóc đỏ như trái mâm xôi bước vào, vậy là cặp mắt hắn nuốt lấy nuốt để chị này.
Mình phải nhắc hắn biết mình còn đứng đó. “Anh gì đó ơi, đi lối nào ra đầu đường Chatham Hill?”
“Sau khoảng sân trước rẽ trái, qua khỏi cột đèn giao thông đầu tiên, bỏ qua nhà trọ Star Inn, hướng lên đồi về phía tháp đồng hồ. Rẽ trái về Chatham, đi thẳng đoạn nữa, qua khỏi Bệnh viện St Bart. Cứ đi vậy cho tới chỗ bán xe hơi Austin Rover là đụng vòng xoay Chatham. Đứng đó mà đưa ngón cái ra rồi đợi hiệp sĩ đi con Jag láng o dừng lại.” Hắn ta cố ý nói thật nhanh để mình không nhớ hết. “May thì gặp liền, còn không phải đợi vài tiếng. Đi quá giang thì hên xui thôi. Nhớ là xin xuống ở ngả rẽ về Sheerness còn nếu tới Faversham thì đã đi quá xa.” Hắn ta đưa tay rị mọ dưới háng rồi quay nhìn người phụ nữ. “Rồi, giờ cưng cần gì?”
“Đầu tiên là đừng có mà ‘cưng’ với tôi.”
Mình phì cười, không thèm ý tứ. Thằng chả liếc mình muốn đứt mặt.
Mình đi chưa tới một trăm mét thì một chiếc xe tải mini Ford Escort cà tàng trờ tới, dừng lại. Chắc hồi trước xe có màu cam, cũng có khi chỉ là rỉ sét. Người trong xe kéo kính xuống. “Ê nhóc.” Mình đang nhồm nhoàm bánh Ritz, mặt như con ngố, nhưng mình nhận ra ai ngay. “Không phải con Jag láng o,” chị tóc màu trái mâm xôi vỗ vào cửa xe, vui vẻ, “còn Ian đây chắc chắn không phải là hiệp sĩ,” anh lái xe nghiêng về phía mình, vẫy tay, “nhưng nếu em muốn đi quá giang xuống Sheppey thì tụi này cũng đi gần tới chỗ cây cầu. Thề danh dự, tụi này không phải dân dao búa sát thủ gì đâu, chắc là phải đỡ hơn đứng trên đường nhỏ sáu tiếng đồng hồ đợi một người như cái thể loại đó…” chị ta hất đầu về phía trạm xăng Texaco “… đi ngang qua giở giọng cưng kiếc, đồng ý không?”
Chân mình đau kinh hồn, mà đi quá giang với một cặp thì an toàn hơn đi với chỉ một người đàn ông, chị ta nói đúng. “Hay quá, cảm ơn chị.”
Chị ta mở cửa sau của chiếc xe tải, dọn vài cái thùng để có chỗ cho mình. Mình chui vào, khắp xe có cửa sổ nên mình ngó nghiêng bên ngoài được. Ian khoảng chừng hai lăm tuổi, hơi hói, có cái mũi to như máy bay Concorde, hỏi mình, “Ngồi vậy không chật chội quá chứ?”
“Không hề,” mình đáp. “Thoải mái vô cùng.”
“Chỉ khoảng hai lăm phút thôi,” Ian nói, rồi xe chuyển bánh.
“Chị vừa nói với Ian đây,” chị ta quay xuống mình, “nếu tụi mình không cho em đi quá giang, thì cả ngày nay chị sẽ bứt rứt mãi. Chị là Heidi. Em tên gì?”
“Tracy,” mình đáp. “Tracy Corcoran.”
“Em biết không, xưa giờ chị chưa gặp ai tên Tracy mà lại không thích.”
“Để đó em tìm cho chị vài đứa,” mình đáp, rồi Ian và Heidi bật cười, như thể mình vừa nói gì đó rất dí dỏm, mà mình cũng nghĩ vậy. “Tên Heidi nghe cũng hay vậy.”
Ian làm bộ ậm ừ phản bác, Heidi đưa tay chọt ngang sườn anh ta. “Đừng có quấy nhiễu tài xế chứ,” anh ta đáp.
Xe đi qua một cái trường hẳn cũng đúc từ một khuôn như trường Phổ Thông Windmill Hill – cửa sổ lớn, mái bằng, sân bóng đá đầy bùn đất. Mình bắt đầu tin được chuyện mình đã bỏ học: giống như ông già Sharkey từng nói, “Ở liều gặp lành.”
Heidi hỏi, “Nhà em ở Sheppey sao Tracy?”
“Không. Em định tới đó làm ở trại trái cây.”
Ian hỏi, “Chỗ Gabriel Harty, phải không?”
“Đúng rồi. Anh biết ông này sao?”
“Không quen biết gì, nhưng cha này có tiếng là dốt toán khi cộng tiền công, nên em phải coi chừng. Nếu cộng sai thì kiểu gì cũng có lợi cho thằng chả.”
“Cảm ơn, em sẽ để ý. Nhưng chắc không sao. Bạn em hè năm rồi cũng làm đó.” Mình bắt đầu nói gấp gáp, để có vẻ thuyết phục hơn. “Em mới thi tốt nghiệp O Level xong, em mười sáu tuổi, đang để dành tiền tháng Tám này làm một chuyến InterRail.” Ặc, mình nói mà như cầm giấy đọc.
“InterRail nghe hay đó,” Heidi tiếp. “Tha hồ khám phá châu Âu. Vậy em quê ở đâu hả Tracy?”
Mình muốn quê ở đâu bây giờ? “London.”
Đèn giao thông chuyển màu đỏ. Một ông mù dắt chó bước qua.
“London, chốn đô thành,” Ian nói. “Mà ở khúc nào?”
Mình hơi hoảng. “Ở công viên Hyde.”
“Gì kia, ở trong công viên Hyde hả? Trên cây, chung với bọn sóc siếc?”
“Không. Nhà của em thực ra gần… à… gần khu Camden.”
Heidi và Ian không đáp ngay – mình vừa lỡ miệng chăng? Nhưng rồi Ian nói, “Anh hiểu rồi,” nên chắc không sao. Ông mù đã qua bên kia đường, Ian loay hoay với hộp số, mãi xe mới lăn bánh tiếp. “Hồi mới tới London anh cũng ở khu Camden,” anh nói, “ngủ trên sofa của bạn. Ở quảng trường Rowntree, gần sân bóng cricket, cạnh ga tàu điện. Biết chỗ đó không?”
“Biết chứ,” mình nói dối. “Ngày nào em chẳng đi ngang qua.”
Heidi hỏi tiếp, “Vậy em đi quá giang từ Camden lúc sáng nay sao?”
“Dạ. Em xin đi nhờ xe tải tới Gravesend, rồi có một khách du lịch người Đức chở tới cầu Rochester, rồi anh chị xuất hiện. Hên không?” mình tìm cách đổi đề tài. “Trong mấy cái hộp đó có gì vậy? Hai người chuyển nhà sao?”
“Không phải, là báo Socialist Worker[1] số tuần này,” Heidi trả lời.
“Ở phố Queen cũng có bán báo đó,” mình thêm, “dưới Camden ấy,”
“Tụi này làm với trụ sở trung tâm ở London,” Ian nói, “Anh và Heidi đây là sinh viên cao học ở trường LSE, nhưng cuối tuần thường về gần Faversham, vậy nên tụi anh nhận phân phát. Nên phải lỉnh kỉnh vậy.” Mình nhặt một tờ Socialist Worker lên. “Hay không?”
“Tất cả những tờ báo khác ở Anh quốc đều là công cụ tuyên truyền,” Ian đáp. “Tờ Guardian cũng vậy. Cứ lấy một tờ.”
Lúc này mà từ chối thì hơi dở, vậy là mình nói, “Cảm ơn,” rồi đọc trang nhất, với dòng tít “Công nhân hãy đoàn kết lại ngay!” bên trên tấm hình chụp thợ mỏ đình công. “Vậy anh chị đây,… về phe Nga sao?”
“Không hề,” Ian đáp.
Nhà bên đường trôi vèo qua cửa sổ, như tranh nền phim hoạt hình rẻ tiền.
Heidi hỏi, “Vậy bố mẹ em làm gì hả Tracy?”
“Làm quán bia. Là quán King’s Head. Gần Camden.”
“Những người bán quán,” Ian nói, “bị bọn công ty bia bóc lột tận xương tủy. Cũng chẳng hơn gì. Công nhân làm ra lợi nhuận còn chủ hãng thì hưởng hết. Chà chà, vụ gì thế này?”
Dòng xe cộ phía trước đứng sững lại khi xe đang lên đồi.
“Một cuộc chiến vô hình đang xảy ra,” Heidi nói, mình ngẩn tò te, cho tới khi nhận ra chị ấy đang nói chuyện khác hoàn toàn, không phải chuyện kẹt xe, “trong suốt lịch sử, chính là chiến tranh giai cấp. Giữa chủ nô và nô lệ, giữa quý tộc và tá điền, giữa các sếp béo mầm và nhân công, giữa người có và kẻ không. Giai cấp lao động bị đè nén, bằng cả vũ lực lẫn sự dối trá.”
Vậy là mình hỏi, “Dối trá sao?”
“Rằng hạnh phúc đồng nghĩa với mượn những đồng tiền không có để mua những thứ rác rưởi không cần,” Ian nói. “Dối trá rằng chúng ta đang sống ở một nước dân chủ. Và lời nói dối trắng trợn nhất là không có chiến tranh giai cấp. Đó là lý do tại sao nhà nước nắm quyền kiểm soát chương trình học ở trường phổ thông, nhất là môn lịch sử. Một khi người công nhân đã giác ngộ, cách mạng sẽ nổ ra. Và, như Gil Scot-Heron đã nói, sẽ không có chuyện chiếu trên tivi.”[2]
Mình chẳng hiểu mô tê cò vạc gì, nhưng làm sao hình dung được thầy Simms dạy lịch sử lại là chân rết trong một âm mưu khổng lồ nhằm đè nén người lao động. Mình tự hỏi có phải ba mình cũng là một ông sếp béo mầm, chuyên bóc lột nhân công, vì ba thuê Glenda. Mình hỏi, “Chứ không phải các cuộc nổi dậy thường làm mọi thứ còn tồi tệ hơn đó sao?”
“Có lý,” Heidi nói. “Vì vậy mới cần có tổ chức. Khi cách mạng Anh quốc nổ ra, tụi này sẽ ở đây, với cơ sở đã đâu vào đó, canh chừng bọn phát xít và cướp bóc.”
Dòng xe nhích từng tí một: máy xe Ian gầm gừ.
Mình hỏi, “Vậy chị nghĩ sẽ sớm có cách mạng sao?”
“Cuộc đình công của thợ mỏ có thể xem như que diêm châm vào thùng xăng,” Ian nói. “Khi công nhân thấy công đoàn bị tấn công… đầu tiên là bằng luật pháp, rồi bằng súng đạn… thì sẽ rõ rằng cuộc cách mạng giai cấp chẳng phải là một thứ bánh vẽ tả khuynh viển vông, mà đã thành vấn đề sống còn.”
“Karl Marx,” Heidi tiếp, “từng chứng minh rằng chủ nghĩa tư bản tự rán mình bằng mỡ của chính nó. Khi không thể nuôi nổi hàng triệu tín đồ đã bị bóc lột ấy thì không có sự dối trá hay vũ lực nào cứu được chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, Hoa Kỳ sẽ muốn nắm cổ ta, họ muốn giữ tiểu bang thứ năm mươi mốt mà, còn Moscow thì sẽ cố mà nắm cương, nhưng một khi những người lính cùng đứng vào hàng ngũ, như hồi năm 1917 ở Nga, thì lực lượng của ta sẽ như vũ bão.” Hai người này nói gì cũng chắc như đinh đóng cột, hệt như các tín đồ của giáo phái Nhân chứng Jehovah. Heidi nhoài người ra trước nhìn: “Cảnh sát.”
Ian lẩm bẩm gì đó về lũ lợn và chó săn của Thatcher, rồi xe chạy tới vòng xoay, nơi có xe tải lớn bị lật qua một bên. Những mảnh kính chắn gió vung vãi khắp trên mặt đường nhựa, một nữ cảnh sát đang dồn ba làn xe thành một. Trông cô này bình tĩnh, ở thế kiểm soát, không có vẻ gì là lợn chó của Thatcher hay đang đi tìm thiếu niên dạt nhà cả, ít ra là mình thấy vậy.
“Ngay cả khi Thatcher không châm ngòi cách mạng trong năm nay,” đến lượt Heidi nói, mấy cọng tóc đỏ màu trái mâm xôi bay bay trong gió, “thì sớm muộn cũng sẽ đến. Ngay trong thời chúng ta sống. Đâu cần đến chuyên gia thời tiết mới biết gió thổi hướng nào. Đến khi chúng ta già đi, xã hội sẽ được vận hành theo lối ‘làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu.’ Đương nhiên, bọn sếp, bọn tự do chủ nghĩa, bọn phát xít đều sẽ phải rên xiết, nhưng không đập vỡ trứng thì làm sao có món omelette. À nhân tiện nói chuyện trứng,” chị ta nhìn Ian đang gật gù, “em ăn sáng với tụi này không? Ian đây nấu bữa sáng kiểu Anh đúng chuẩn năm sao.”
Căn nhà một tầng của Heidi nằm giữa đồng cỏ, chẳng có gì giống với hình dung của mình về trụ sở cách mạng xã hội chủ nghĩa đóng ở Kent cả. Nhà có màn lưới, gối tựa, tượng sứ trang trí và các món đồ in hình Tiên Hoa mơ màng.[3] Nhà tắm cũng lót thảm. Heidi nói nhà này vốn là của bà chị ấy hồi trước khi bà mất, nhưng mẹ và bố dượng của Heidi ở tuốt bên Pháp nên cuối tuần hai anh chị thường đến đây để coi chừng, kẻo mà dân ở hoang dọn vào, rồi tiện thể đi phân phát báo luôn. Heidi chỉ cho mình cách khóa cửa phòng tắm từ bên trong rồi nói đùa một câu gì đó về Nhà trọ Norman Bates, mình giả bộ như hiểu được. Mình chưa bao giờ được tắm vòi sen – ở Thuyền Trưởng Marlow chỉ có bồn tắm thôi – vậy là mình suýt bị cóng rồi bị phỏng trước khi chỉnh được nước vừa đủ ấm. Heidi có nguyên một kệ đầy dầu gội, dầu xả, xà bông với nhãn tiếng nước ngoài, vậy là mình thử mỗi thứ mỗi ít, cho tới khi cả người mình có mùi như tầng trệt ở trung tâm mua sắm. Khi bước ra, mình thấy có dòng chữ mờ mờ viết trên lớp hơi nước từ lần trước: “AI XINH TRAI VẬY TA?” Heidi viết vậy cho Ian chăng? Ước gì khi nãy mình đừng nói dối tên tuổi, giờ tự dưng mình muốn làm bạn thật sự với Heidi. Mình đổ một ít kem dưỡng Woods of Windsor lên lớp da đã rám nắng, ngẫm nghĩ giả sử Heidi sinh ra trong một quán bia cà tàng ở Gravesend, còn mình mới là đứa thông minh, tự tin, học chính trị ở London, dùng dầu gội đầu Pháp, rồi có một anh bạn trai vừa chung thủy lại vừa chu đáo, vừa hài hước lại vừa tử tế, mà còn biết làm bữa sáng kiểu Anh đúng chuẩn năm sao. Đúng là Trời cho ai nấy hưởng.
“Ở Thổ Nhĩ Kỹ có cây cầu này,” mình ấn nĩa, ghim một cây xúc xích, nước thịt rỉ ra từ lỗ ghim, “châu Âu một bên còn châu Á một bên. Em sẽ đi tới đó. Tới cả tháp nghiêng Pisa nữa. Em rất mê Thụy Sĩ. À thì mê từ xa, vì trước giờ cùng lắm là chỉ mới được ăn kẹo sô cô la Toblerone thôi…”
“Chắc chắn em sẽ rất thích.” Heidi nuốt bánh mì nướng, lấy khăn chặm môi. “La Fontaine Saint-Agnès là một trong nơi chị thích nhất trên đời, nép gần núi Mont Blanc. Ông chồng thứ hai của mẹ chị có nhà nghỉ ở đó, vậy nên hầu như Giáng Sinh nào bọn chị cũng đi trượt tuyết. Mỗi tội ở Thụy Sĩ rất đắt đỏ.”
“Vậy thì em sẽ uống tuyết và ăn bánh Ritz trừ bữa. Một lần nữa cảm ơn anh đã mời ăn sáng, Ian à. Xúc xích ngon không tưởng.”
Ian nhún vai khiêm tốn. “Nhà anh ba đời hàng thịt ở Lincolnshire, vậy nên phải rành chứ. Vụ đi du lịch này là đi một mình sao hả Tracy, hay em đi với bạn?”
“Chuyện đời tư của cô bé này thì liên quan gì tới anh,” Heidi lên tiếng. “Cái đồ nhiều chuyện. Lơ anh ấy đi, Tracy à.”
“Không sao,” mình vừa nuốt vừa đáp. “Thực ra, bây giờ em không có bạn trai. Em… em… mới đây thì có, nhưng…” Cổ họng mình nghẹn cứng lại.
“Em có anh chị em gì không?” Heidi tìm cách đổi đề tài, mình có cảm giác chị ấy cũng vừa đá Ian một cú dưới bàn.
“Em gái tên Sharon và em trai tên Jacko.” mình hớp trà, không đả động gì đến Brendan. “Nhưng cả hai còn nhỏ, vậy nên em sẽ đi một mình. Còn anh chị thì sao? Có sắp đi đâu chơi không?”
“À, sắp tới bận lắm, tại có đại hội Đảng, rồi còn hỗ trợ thợ mỏ nữa,” Heidi nói, “nhưng tụi chị sẽ cố đi Bordeaux tháng Tám này. Thăm mẹ chị.”
“Trời, anh đếm từng ngày từng giờ,” Ian làm động tác treo cổ, “Giỡn chơi. Em thấy đó, anh là kẻ có tội dụ dỗ Heidi đi theo bọn cánh tả điên khùng mà.”
“Nhưng tức cười ở chỗ bố mẹ của Ian cũng chắc chắn rằng chị mới là người dụ dỗ,” Heidi nói. “Tụi chị nên làm một cái đám cưới ngược đời, rồi chia tay.” Heidi lại đưa khăn chặm môi. “Corcoran là tên Ireland phải không Tracy?”
Mình gật đầu, ghim nĩa xuống một trái cà chua. “Mẹ em người Tây Cork.”
“Vụ Xung Đột ở Ireland có đúng sai gì nữa,” Ian với tay lấy tương cà chua, “thì mọi cuộc cách mạng sau năm 1920 đều chịu ơn người Ireland. Người Anh cho rằng họ đã cao thượng mà trả lại Ireland, nhưng không phải: người Ireland đã tự giành lại được, bằng cách phát minh ra chiến tranh du kích.”
“Dì Roisín của em,” mình đáp, “có nói rằng người Anh không bao giờ nhớ còn người Ireland không bao giờ quên.”
Ian đập vào đít chai tương cà chua, nhưng chẳng có giọt nào chảy ra. “Nhân loại thật đáng thất vọng. Ta có thể gởi người lên Mặt Trăng, nhưng lại không thể phát minh ra cách xịt tương ra khỏi chai mà không…” Một bãi tương cà bự chảng phụt ra, phủ lên miếng thịt ba rọi muối trên đĩa của Ian.
Mình rửa bát đĩa. Ian và Heidi cứ liên tục “Không, không, em là khách kia mà,” nhưng mình cứ khăng khăng. Mình thầm mong lát nữa hai người sẽ tự động đề nghị chở mình tới Trại Black Elm, hay mời mình tới nhà Chủ Nhật tuần sau, nếu mình vẫn chưa về Gravesend. Heidi biết đâu sẽ cho mình xài ké thuốc nhuộm tóc. Mình tráng ly trước, rồi lau bằng khăn khô, như cách vẫn làm ở quán, để không có vệt nước. Bọt xà bông nhỏ thành dòng từ tấm thớt đá, nên mình để nó ráo, cạnh một con dao róc thịt sắc ghê tay. Máy cassette đang bật bài “As I Went Out One Morning” của Bob Dylan: Ian có nói mình thích nghe gì cứ tự nhiên, vậy là mình chọn băng John Wesley Harding. Thường mình không thích phần chơi kèn nhưng bài này hay thật: giọng Bob Dylan như gió thổi lệch trong một ngày lạ lùng. “Lựa chọn hay,” Heidi nói, đi chân không ngang qua bếp. “Lâu lắm rồi chị chưa nghe bài này.” Được khen, trong bụng mình sướng rơn. Chị ấy bước ra ngoài, cầm theo cuốn Inside the Whale của George Orwell: ở trường mình đã học cuốn Trại Súc Vật của ông này rồi, lát nữa mình sẽ ra “đàm đạo” với chị ấy. Heidi để mở cửa ra ngoài sân, mùi cỏ dạt vào nhà. Rồi Ian bước vào, đặt bình thủy tinh Pyrex đựng sữa vào lò vi sóng. Mình chưa bao giờ thấy lò vi sóng ở ngoài đời. Vặn núm, bấm nút, rồi bốn mươi giây sau ping một cái, sữa nóng bốc khói. Mình nói, “Giống như trong Star Trek.”
“Tương lai,” Ian nói, giọng như quảng cáo phim. “đang tiến về một Hiện tại gần ta.” Anh đặt bình sữa lên khay cùng với ba chiếc tách và một bình phê cà phê nhìn rất chảnh, có cả bàn ép giống cái xi lanh. “Khi nào rửa xong thì ra ngoài thưởng thức café au lait với bọn này.”
“Ô kê,” mình đáp, không biết café au lait là cái món gì.
Ian đem khay nước ra ngoài sân. Mình nhìn đồng hồ: mười giờ ba mươi. Má chắc đang đi nhà thờ, có lẽ là đi cùng Jacko, nó vẫn hay đi cùng chỉ để má vui. Ba sẽ dẫn con Newky đi dọc sông, chạy về hướng Ebbsfleet, về London. Hay ba má đang đi xuống phố Peacock không biết chừng? Còn mình ở đây, ngon lành, tiếp tục rửa bát đĩa, và Dylan chuyển sang bài “I Dreamed I saw St Augustine”. Bài này rên rỉ, lê thê kiểu chó-sói-tru-mặt-trăng, nhưng cuối cùng mình cũng hiểu vì sao người ta mê Dylan tới vậy. Qua cửa sổ khu vườn hiện ra, hoa mõm sói, hoa kèn đuốc đỏ rung rung trong gió. Bãi cỏ và bồn hoa trông xinh xắn như tranh vẽ trên hộp thiếc bánh qui, lúc nãy mình có hỏi Ian và Heidi, rằng bộ hai người vừa là sinh viên cao học, vừa là dân làm vườn sao. Heidi đáp có thuê một ông dưới Faversham, cứ hai tuần ghé qua làm vài tiếng, để mà “lập lại tôn ti trật tự”. Nghe chẳng có vẻ gì là xã hội chủ nghĩa cả, nhưng mình ngậm miệng vì mình không muốn ra vẻ khôn lỏi.
Nước rửa bát đĩa chảy xuống lỗ thoát, một cái muỗng nhỏ rơi loảng xoảng trong chậu rửa, Bob Dylan bị lên cơn đau tim giữa bài “All Along The Watchtover.” Ôi không! Băng bị rối mất rồi: khi mình bấm nút mở, một đoạn băng đổ ra, như búi sợi mì màu nâu. Nhưng mình sửa băng rối bằng keo trong rất xịn, vậy là mình đi ra ngoài sân, định hỏi xem Ian và Heidi cất cuộn băng keo ở đâu. Cả hai đang nằm trên ghế băng gỗ, đằng sau một bức tường đặt đầy chậu đất sét trồng rau thơm. Cuốn sách của Heidi rơi xuống đất, ngón tay cái vẫn kẹp giữa sách: chắc chị ấy ngủ gục rồi. Ian cũng đang ngủ, đầu ngoẹo về một bên, kính râm mang lệch. Khay cà phê đặt trên bức tường thấp. Chắc hai người mệt mỏi lắm. Mình sè sẹ gọi tên Heidi, nhưng chị chẳng động đậy gì cả. Mấy con ong lượn lờ trên bờ dậu đầy rau thơm, cừu be be, xa xa có tiếng máy kéo gầm gừ. Chỗ đất nhô lên cách nửa dặm ở phía trước là đảo Sheppey, còn thứ xương xẩu bé tí kia chính là cây cầu. Rồi mình để ý thấy ba, bốn, và nhiều nữa, những chấm đen đang bò lổn ngổn trên cánh tay của Heidi.
Mình nhìn cho kỹ, không lẽ lại là kiến…
Mà đúng vậy. “Heidi! Có kiến bò lên người chị này!”
Nhưng chị không phản ứng gì cả. Mình cố phủi lũ kiến, nhưng lỡ tay đập bẹp vài con. Hai người bị làm sao vậy Trời? “Heidi!” Mình lắc tay chị mạnh hơn, rồi người chị đổ về một bên ghế, như đang say rượu đùa giỡn, nhưng chuyện này chẳng có gì tức cười. Đầu chị ngả xuống, kính râm tuột ra rồi mình thấy cặp mắt – chỉ còn mỗi mống mắt, không có chấm đen ở giữa. Mình nhảy dựng ra sau, sợ điếng người, hét lên áaa!, sém chút nữa thì vấp ngã. Ian vẫn không động đậy, mình sợ kinh được, mình gọi tên anh, rồi thấy một con ruồi lông lá đang bò dọc theo cặp môi mẫm của Ian. Tay mình run run, mình nhấc cái mũ lưỡi trai khỏi mặt anh ấy. Con ruồi vo ve bay đi. Mắt của Ian cũng giống hệt mắt Heidi… như thể vừa chết vì dịch bệnh… rồi mình thả cái mũ xuống, điếng người hét lên lần nữa. Một con chim bay lên từ bụi hoa hồng phấn, lanh lảnh véo von, đầu mình quay cuồng, bấn loạn, mơ mơ màng màng, nhưng cũng kịp nghĩ ra một ý: Heidi và Ian bị ngộ độc thức ăn sau bữa sáng. Ngộ độc thức ăn sau bữa sáng. Nhưng chỉ mới có hai mươi phút? Cũng có thể, nhưng mình không có triệu chứng nào như vậy cả. Ba người ăn cùng một món mà. Rồi mình nghĩ tiếp, Đau tim, nhưng nghe chẳng ra làm sao. Chơi thuốc quá liều? Rồi mình nghĩ, Đừng suy nghĩ nữa, Sykes… gọi cho xe cấp cứu ngay…
• • •
…điện thoại đặt trên giá trong phòng khách, qua khỏi nhà bếp. Chạy ào vào, quay số 999, đợi người trực tổng đài. Cầm máy lên, nhanh lên, nhanh lên nào! Đường dây im ắng. Rồi mình để ý thấy có một người đàn ông trong gương, đang nhìn mình từ chiếc ghế tựa trong góc. Mình hoang mang tợn. Mình quay lại, ông ta ở ngay đó, nơi vòm cửa giữa bếp và phòng khác. Mình biết ông này. Cặp mắt cá cọp, tóc đen xoăn từng lọn, mũi bành… chính là người trong cơn ác mộng ban ngày của mình, lúc ở dưới đường hầm, trong căn phòng hình thoi đó. Ngực ông ta phập phồng như vừa chạy lên đồi. Ông ta sủa vào mặt mình, “Ngươi là ai?”
“Tôi… tôi… tôi là bạn của Ian và Heidi, tôi… tôi…”
“Esther Little hay Yu Leon Marinus?” Giọng của ông ta đầy căm ghét, lạnh lùng.
Cặp chân mày ông ta khẽ động đậy, như thể… lạ lùng quá trời đất. Chẳng lẽ ông này vừa nói ‘Marinus’ sao? Ai mà biết được? Ông này bước ra từ ác mộng, mặc dù thông thường mỗi khi sợ đến mức này thì người ta sẽ tỉnh giấc. Mình lùi lại, ngã xuống ghế sofa. “Hai người bạn tôi cần xe cấp cứu.”
“Khai tên ra, ta sẽ cho được chết sạch sẽ.”
Ông ta không dọa suông. Có là ai đi nữa ông ta cũng đã giết Heidi và Ian và sẽ giết mình mất, như bẻ gãy một cây diêm. “Tôi… tôi… tôi không hiểu, thưa ông,” mình sợ hãi, rúm ró cả người lại. “Tôi…”
Ông ta tiến một bước về phía mình. “Khai tên ra!”
“Tôi là Holly Sykes, tôi chỉ muốn đi khỏi đây… làm ơn, cho tôi…”
“Holly Sykes…”Ông ta hất đầu. “Đúng rồi, ta biết cái tên này. Một trong những đứa trốn thoát. Lấy thằng em làm mồi nhử, kể cũng khôn đó, nhưng nhìn lại ngươi thử xem hả Trắc Sĩ. Cố trốn trong một thứ đồng hồ xương đĩ con thế này. Xi Lo mà biết được hẳn phải rùng mình! Holokai chắc nôn ra mất! Ấy là đặt giả sử chúng nó còn sống, cũng có nghĩa là,” ông ta cười đểu, “chúng chẳng còn nữa, sau cuộc đột kích nửa đêm vô cùng thảm hại của các ngươi. Chẳng lẽ ngươi nghĩ rằng U Minh Phái chưa bao giờ nghe đến máy báo trộm? Chẳng lẽ ngươi không biết Nhà Nguyện chính là thầy Cathar và thầy Cathar cũng chính là Nhà Nguyện? Linh hồn của Holokai đã hóa ra tro. Linh hồn của Xi Lo chẳng là gì cả. Còn ngươi, là kẻ nào đi chăng nữa, thì cũng là thứ bỏ trốn. Bỏ trốn theo đúng như trong Kịch Bản của các ngươi, hẳn là vậy rồi. Bọn ta thích Kịch Bản của các ngươi lắm. Nhờ có Kịch Bản mà Trắc Thời Phái đã cáo chung. Hôm nay là ngày vui cho Thực Nhục Giới ở khắp nơi. Không có Xi Lo và Holokai, ngươi là gì? Một gánh xiếc làm trò, bói toán, uốn cong thìa. Vậy khai ra trước khi chết: ngươi là Marinus hay Esther Little?”
Mình run lẩy bẩy: “Thề có Chúa, tôi… tôi không phải là người ông tìm.”
Ông ta nhìn mình, nghi ngờ. “Để xem nào. Hai đứa nằm tắm nắng ngoài kia vẫn chưa chết hẳn. Dùng trò Dòng Sâu của ngươi, ngay bây giờ, có khi cứu được một đứa. Làm đi. Nghề của Trắc Sĩ mà.”
Xa xa chó nhà ai vẫn sủa, máy kéo vẫn gầm gừ văng vẳng…
… ông ta tới gần đến nỗi mình ngửi được cả hơi người. Giống mùi lò nướng cháy khét. Giọng mình chỉ còn lào khào yếu ớt. “Vậy tôi gọi bác sĩ được chứ?”
“Ngươi không thể chữa cho chúng sao?” Mình cố lắc đầu.
“Vậy thì chúng cần áo quan, chứ không cần xe cấp cứu. Nhưng ta cần bằng chứng rằng ngươi không phải là người của Trắc Thời Phái. Marinus là thỏ đế, nhưng là thỏ đế xảo quyệt. Chạy đi. Nào. Chạy đi. Để xem ngươi đi được bao xa.”
Mình không tin lời ông ta nổi, không tin cả tai mình. “Gì kia?”
“Cửa đó kìa… đi đi. Chạy đi, đồ chuột lắt.” Ông ta bước qua một bên, chừa ra một đường thoát. Mình nghĩ ông ta sắp giở trò gì đó, hoặc sắp rút dao ra, mình không biết nữa, nhưng ông ta tiến gần quá, mình thấy những vết trầy xước, vết cắt li ti trên mặt ông ta, rồi thấy cặp mắt đen to có viền xám quanh, rồi ông ta hét muốn bể phổi: “CHẠY ĐI TRƯỚC KHI TA ĐỔI Ý!”
Qua khóm hồng đầy gai, giữa những đám cây xô dạt, xuống bãi cỏ bụi bặm, mình chạy. Mình chạy như chưa bao giờ chạy. Mặt trời chiếu thẳng vào mặt, bức tường không còn xa. Nửa đường rồi, đến chỗ hàng rào mắt cáo, mình quay lại nhìn: ông ta không đuổi theo như mình đã sợ, mà chỉ đứng đó, cách Ian và Heidi vài bước chân, hai người vẫn nằm chết, vậy là ông ta để cho mình đi thiệt – ai cần quan tâm tại sao lại có người tâm thần quái gở đến vậy, chạy thôi, chạy chạy chạy, chạy, nhưng, chạy, nhưng… Nhưng mình đang chậm lại, chậm lại, làm sao thế này, tại sao, chuyện gì thế này, tim mình đập điên cuồng, nhưng như thể vừa đạp chân thắng và chân ga cùng một lúc, thứ đang chậm lại không phải ở trong người mình, không phải là thuốc độc, mà là thứ gì đó bên ngoài, cứ như thời gian chậm lại hay trọng lực kéo mạnh hơn, hay lúc không khí chuyển thành nước, hay cát, hay mật đen… mình từng nằm mơ như vậy – nhưng mình đang tỉnh, đang giữa ban ngày mà, mình biết mình đang tỉnh… Nhưng, thật vô lý, mình sững lại, như bức tượng người đang chạy, một chân đưa lên chuẩn bị cho bước tiếp theo chẳng bao giờ xảy ra. Điên khùng thật. Tâm thần dở hơi. Mình chợt nghĩ ra phải hét lên kêu cứu, người ta vẫn làm vậy đó sao, nhưng cổ họng mình chỉ phát ra được những âm thanh nghèn nghẹt, gừ gừ…
…rồi cả thế gian bắt đầu thu nhỏ lại, dồn về phía ngôi nhà một tầng, kéo theo mình, bất lực hoàn toàn. Trên mái vòm có dây trường xuân, mình nắm lấy nó, chân mình nhấc bổng khỏi mặt đất, như thể mình là nhân vật trong phim hoạt hình giữa trận bão, cố níu mạng sống, nhưng cổ tay đau nhói, mình phải buông ra, rồi mình rơi xuống đất đánh rầm một cái, trầy trụa hết, rồi mình bị kéo lê dưới mặt đất, khuỷu tay trượt đi, chỗ xương cụt nảy lên, rồi mình quay nằm ngửa lại, cố ghim gót chân xuống nhưng bãi cỏ quá cứng, không níu lại được, mình như bị trượt đứng người lên, đứng thẳng, rồi một cặp bươm bướm bồng bềnh lượn tới, bay thẳng lên, như thể thứ lực hút không cưỡng lại được đó chỉ có tác dụng với mình. Giờ đây mình trở lại chỗ khóm hoa hồng, người đàn ông mặt tái vẫn đứng ở bậc cửa bước ra sân, bàn tay và ngón tay của ông ta như đang kéo chỉ, như thể đang ra dấu một thứ ngôn ngữ ký hiệu của người ngoài hành tinh, ông ta như đang nhếch mép cười, rồi tiếp tục kéo mình trở lại qua khoảng sân, qua khỏi Heidi và Ian, vẫn còn là hai cái xác chết - đã chết bí ẩn dưới tay ông ta, rồi ông ta lùi vào bếp để chừa chỗ; một khi mình vào trong nhà mình sẽ không bao giờ ra khỏi được, vậy là mình cố nắm lấy khung cửa và nắm đấm cửa, nhưng rồi dường như có 20.000 volt chạy qua người mình, rồi mình bị vứt ngang phòng khách, như một con búp bê, mình rơi xuống ghế sofa, rồi nảy lên, rồi rơi xuống thảm, rồi kapow kapow kapow mắt mình như muốn nổ tung ra…
… cơn ác mộng ban ngày đó chấm dứt khi mặt thảm ngứa ngáy xát vào má mình. Hết rồi. Chắc mình vừa lên cơn động kinh sao đó. Một tấm ảnh chụp Heidi mặc đồng phục học sinh và người bà tóc bạc hiện ra rõ, chỉ cách có gang tấc, chắc là bị rơi xuống… có lẽ mình đánh đổ nó khi ngã xuống. Mình phải về nhà, phải đi bệnh viện. Phải chụp phim não. Heidi sẽ chở mình về Gravesend. Mình sẽ gọi cho má từ bệnh viện. Sẽ quên hết mọi thứ, quên sạch mọi thứ liên quan đến Vinny. Mình thấy tỉnh táo. Chỉ mới đây thôi mình còn định sửa cuộn băng Bob Dylan bằng kéo và keo dán, rồi thì… Kiến bò lên tay Heidi, người đàn ông trong cơn ác mộng ban ngày với cái mũi bành, rồi không khí kéo giãn phần phật. Chỗ điên khùng nào trong tâm trí mình vẽ ra ác mộng quái gở như vậy, lạy Chúa? Mình gượng đứng lên, lỡ Heidi và Ian thấy mình nằm đây, tưởng mình vừa lăn đùng ra chết ngay trong phòng khách của hai người sao.
“Ta tin ngươi, bé cưng à.” Ông ta ngồi trên chiếc ghế tựa bọc da, một bàn chân vắt vẻo lên đầu gối bên kia. “Ngươi chỉ là một thứ vô dụng vô duyên trong Cuộc Chiến của bọn ta. Nhưng tại sao hai kẻ vô thể đang chạy trốn, hấp hối kia lại mò đến ngươi, mà không phải ai khác, hả Holly Sykes? Vấn đề là chỗ đó. Ngươi thì có ích gì?”
Mình tê cứng người lại. Ông ta đang nói gì vậy? “Chẳng có gì cả, tôi thề, tôi chỉ muốn… muốn đi xa và…”
“Câm ngay. Ta đang suy nghĩ.” Ông ta cầm một trái táo Granny Smith từ chiếc bát trên tủ, cắn rồi nhai. Im ắng, tiếng nhai rau ráu nghe rõ mồn một. “Lần cuối cùng người gặp Marinus là khi nào?”
“Ông bác sĩ hồi trước? Là… là lúc ở Bệnh viện Đa khoa Gravesend. Nhiều năm trước, tôi…”
Ông ta đưa tay lên, ra ý dừng lại, như thể giọng mình thật chói tai. “Mà Xi Lo chưa bao giờ nói với ngươi rằng Jacko thực ra không phải là Jacko?”
Cho đến lúc này, nỗi sợ trong mình như tiếng rít the thé: nhưng khi tên Jacko bật ra, dường như có cả tiếng đệm thình thịch kinh hoàng. “Jacko thì có liên quan gì?”
Ông ta nhìn trái táo Granny Smith, ra vẻ gớm ghiếc. “Thứ táo chua nhất, nhạt nhất trên đời. Người ta chỉ mua làm đồ trang trí.” Ông ta quăng trái táo đi. “Không có tín hiệu trường Dòng Sâu ở đây, vậy ngôi nhà này không an toàn. Đây là đâu?”
Mình không dám lặp lại câu hỏi về Jacko, lỡ có chuyện tai vạ, tai vạ quỉ quái nào xảy đến với em mình. “Nhà của bà Heidi. Bà ấy ở Pháp, nhưng để Heidi và…” Họ chết rồi, mình sực nhớ.
“Vị trí kia, nhóc con! Hạt, thị trấn, làng. Động não đi. Nếu ngươi là Holly Sykes mà Marinus đã nhúng tay vào, hẳn đây phải là Anh quốc.”
Mình không nghĩ ông ta đùa. “Kent. Gần đảo Sheppey. Tôi… tôi không nghĩ chỗ này có… có tên cụ thể.”
Ông gõ ngón tay lên ghế da. Móng tay dài quá. “Esther Little. Ngươi biết ả chứ?”
“Biết. Mà cũng không hẳn. Biết sơ sơ.”
Ông ta thôi gõ ngón tay. “Ngươi có muốn ta nói ra sẽ làm gì với ngươi nếu ta nghĩ ngươi đang nói dối không, hả Holly Sykes?”
“Esther Little đứng ở bờ sông, hồi hôm qua, nhưng trước đó tôi chưa bao giờ gặp bà ấy. Bà ấy cho tôi trà. Trà xanh. Rồi bà ấy hỏi nhờ…”
Ông mặt tái nhìn mình chằm chằm, như muốn khoan thủng trán mình, như thể câu trả lời đã được viết trên đó. “Ả hỏi gì?”
“Hỏi xin nơi trú ngụ. Nếu mà…” mình cố nhớ lại chính xác lời của bà ấy “…kế hoạch của bà ấy tiêu tùng.”
Ông mặt tái hớn hở hẳn lên. “Vậy… Esther Little muốn lấy ngươi làm oubliette[4]. Một cái nhà tạm di động. Ta hiểu rồi. Chính ngươi! Một con tốt vớ vẩn, ả cứ nghĩ bọn ta đã quên ngươi rồi. Vậy thì,” ông ta đứng thẳng, chặn đường ra. “Nếu ngươi có ở đó, Esther, bọn ta đã tìm được ngươi rồi!”
“Nếu…” mình cố nói, lắp ba lắp bắp, “nếu chuyện này là tình báo MI5, vụ Ian và Heidi là cộng sản, thì tôi không có dính dáng gì cả. Họ chỉ cho tôi đi quá giang, và tôi… tôi…”
Ông ta tiến lại gần mình, đột ngột, chỉ để làm mình sợ. Vậy đúng rồi. “Thì sao?”
“Đừng lại gần tôi.” Giọng mình như rúm ró lại. “Tôi… tôi… tôi… sẽ đánh lại. Cảnh sát…”
“Sẽ sững sờ khi vào nhà bà của Heidi. Hai kẻ tình nhân trên ghế bố, xác của thiếu niên Holly Sykes. Pháp y sẽ phải vò đầu bứt tai khi tìm ra ngươi – nhất là sau khi kẻ giết ba mạng người đã để cửa hé, cho cáo, quạ, mèo hoang tha hồ vào… Một mớ hổ lốn! Ngươi sẽ nổi tiếng khắp cả nước. Vụ án kinh hoàng rùng rợn không phá được của thập niên tám mươi ở Anh quốc. Cuối cùng ngươi cũng được nổi tiếng.”
“Để tôi đi! Tôi… tôi… tôi sẽ đi ra nước ngoài, tôi sẽ… đi. Xin ông.”
“Chết rồi trông người sẽ rất đáng yêu.” Ông mặt tái nhìn ngón tay, vừa duỗi ngón, vừa nhếch mép cười. “Một gã không có nguyên tắc sẽ vui vẻ với ngươi trước, nhưng ta phản đối cư xử tàn nhẫn với thú vật ngu ngốc.”
Mình nghe có tiếng thở hắt, khô khốc. “Đừng… đừng mà… đừng… làm ơn, xin ông…”
“Suỵt…” Ngón tay ông ta làm động tác vặn vẹo, rồi môi mình, lưỡi mình, cổ họng mình đóng cứng lại. Sức lực bị hút cạn khỏi chân tay mình, như thể mình là con rối vừa bị cắt dây, bị đẩy vào trong góc. Ông mặt tái đang ở trên thảm với mình, ngồi xếp bằng, như một người kể chuyện, nhưng trông ông ta nhởn nhơ sung sướng, như Vinny khi hắn biết sắp được ngủ với mình. “Ngươi đang thấy sao, khi biết rằng người sẽ chết cứng như đá trong vòng sáu mươi giây nữa, hả Holly Sykes? Đầu óc sâu bọ của ngươi đang hiện lên hình ảnh gì sau cuối?”
Mắt ông ta không giống mắt người. Mắt mình mờ đi, như đêm đang xuống, phổi mình như đang chết đuối, không phải trong nước, mà giữa thinh không, rồi mình nhận ra mình ngừng thở đã một lúc lâu, vậy là mình cố thở nhưng không được, tiếng trống trong tai mình đã ngừng lại vì tim mình đã tắt. Giữa bóng tối đặc quánh ông mặt tái với tay ra, áp mặt sau ngón tay vuốt ngực mình, rồi nói, “Ngủ ngon, tim yêu,” rồi ý nghĩ cuối cùng của mình là, Ai đang lập cập ở đằng xa kia, như cách hàng dặm, ở cuối ghế bố…?
Ông mặt tái nhận ra, ngoái lại nhìn và nhảy dựng lên. Tim mình đập trở lại, phổi mình lại hít đầy oxy, nhanh đến nỗi mình nghẹn, ho sặc sụa. mình nhận ra Heidi. “Heidi! Gọi cảnh sát đi! Ông này giết người đó! Chạy đi!” Nhưng dường như Heidi bị ốm, hay bị đánh thuốc, hay bị thương, hay say rượu, đầu chị ấy ngả qua ngả lại như người bị bệnh đa xơ cứng. Giọng của chị ấy cũng không còn như cũ – nghe như giọng ông mình sau khi bị đột quỵ. Chị nhả từng tiếng khó nhọc: “Đừng lo, Holly.”
“Ngược lại, Holly,” ông mặt tái cười đểu, “nếu thứ này là chàng hiệp sĩ mặc giáp của ngươi, thì ngươi nên bắt đầu tuyệt vọng. Marinus, ta đoán. Ta ngửi được mùi ngon ngọt của ngươi, ngay cả trong cái xác thối kia.”
“Chỉ là nơi ở tạm,” Heidi đáp, đầu ngả về trước, về sau, rồi lại về trước. “Tại sao lại giết hai thanh niên đang tắm nắng? Tại sao? Thật là vô độ, Rhîmes.”
“Tại sao không? Các ngươi, các ngươi là thể loại cứ tại sao, tại sao, tại sao? Bởi vì ta thích vậy. Bởi vì Xi Lo giở trò phóng hỏa trong Nhà Nguyện. Bởi vì ta có thể làm thế. Bởi vì ngươi và Esther Little dẫn ta tới đây. Ả chết rồi, đúng không, trước khi ả kịp xin trú nhờ thứ này, một con cái của loài dơ bẩn? Ả bị đánh tơi tả khi trốn theo Thạch Đạo. Ta biết mà, chính ta ra tay chứ ai nữa. Nói chuyện đánh tơi tả, ta xin thành thật chia buồn về Xi Lo và Holokai tội nghiệp – cái hội tiên cứu người của nhà ngươi giờ như rắn mất đầu. Còn ngươi thì sao hả Marinus? Chẳng lẽ ngươi không chiến tới cùng sao? Ngươi là thầy thuốc, không phải là chiến binh, ta biết, nhưng ít ra cũng chống đỡ cho có lệ chứ, năn nỉ đấy.” Rhîmes lại máy mó ngón tay rồi… trừ khi mình đang bị ảo giác … cái thớt đá dựng lên từ trên quầy bếp, rồi bay về phía cả ba, như có người vô hình đang mang nó lại. “Miệng mồm đâu cả rồi hả Marinus?” ông mặt tái tên Rhîmes hỏi.
“Để cô bé đi,” Heidi đầu rũ nói.
Cái thớt bay ngang phòng khách, đập vào sau đầu Heidi. Mình nghe tiếng động như tiếng thìa đập võ trứng. Kiểu này thì Heidi phải ngã nhào về trước như con ki bowling, nhưng chị ấy được đỡ dậy, nhưng … nhưng chẳng có ai đỡ, trong khi đó Rhîmes tiếp tục đan tay, rồi làm động tác cắt phựt, rồi Heidi bị xoay vèo vèo, giật liên tục. Tanh tách, răng rắc, bôm bốp, xương sống của chị ấy gãy rụp, rồi hàm dưới rơi ra, máu rỉ rả từ lỗ trên trán, như thể có viên đạn đâm vào. Rhîmes phất mu bàn tay trong không khí, rồi cơ thể tơi tả của Heidi bật ngược vào bức tranh con chim sẻ đậu trên cán mai, rồi đập đầu ngã xuống đất, dồn thành một đống.
Giờ đây mình cảm giác như đang đeo tai nghe dính cứng vào tai, một bên đang phát inh tai bài “Những chuyện này không có thật” còn bên kia là bài “Tất tần tật đều đang xảy ra”, lặp đi lặp lại, vặn volume tối đa. Nhưng khi Rhîmes mở miệng, dù nói khẽ, mình nghe được từng từ rõ mồn một. “Có bao giờ ngươi mở mắt thấy mình còn sống, mừng quá…” ông ta quay sang mình “…chỉ muốn gào lên trước mặt trời? Giờ đây, ta tin là ta đang vắt sạch sự sống ra khỏi ngươi…” Ông ta đẩy không khí về phía mình bằng lòng bàn tay, rồi nhấc tay lên: mình bị dồn vào tường, bị đẩy lên, bằng một thứ áp lực vô hình cho tới khi đầu mình đập vào trần nhà. Rhîmes nhảy lên đứng trên tay ghế, như ông ta chuẩn bị hôn mình. Mình cố đánh lại nhưng cả hai tay mình đều bị ép lại, rồi một lần nữa phổi mình đóng cứng. Tròng trắng một bên mắt của Rhîmes bắt đầu tối đi, đỏ dần, như thể một mạch máu vừa vỡ ra: “Xi Lo thừa hưởng tình chị em của Jacko dành cho ngươi, khiến ta rất vui lòng. Giết ngươi thì cũng không mang được huynh đệ Ẩn Sĩ của ta trở về, nhưng giờ đây Trắc Thời phái đã mang nợ máu với bọn ta, nên giết càng nhiều càng tốt. Nói vậy để ngươi rõ.” Mắt mình mờ đi, não mình đau nhói, khiến mình không nghĩ được gì được, rồi…
Đầu mũi nhọn trượt khỏi miệng ông ta.
Nhuốm đỏ, tanh sắt, chỉ cách mũi mình có vài phân. Một con dao chăng?
Mắt Rhîmes trợn lên, rồi khi mí mắt ông ta khép lại, mình trượt xuống sàn nhà, còn ông ta ngã khỏi tay ghế sofa. Khi ông ta đập đầu xuống sàn, lưỡi dao đâm sâu vài phân nữa, lợn cợn trắng rỉ ra. Trước giờ mình chưa bao giờ thấy thứ gì gớm ghiếc như vậy, mà mình không thể hét lên nổi.
“May thật.” Ian lê vào, bám tay lên quầy bếp.
Anh ấy chỉ có thể đang nói chuyện với mình. Còn ai nữa đâu. Ian nhướng mày nhìn cái xác vặn vẹo của Heidi. “Hẹn gặp lại nhé, Marinus. Dù sao cũng đến lúc ngươi nên tìm một chỗ mới rồi.”
Gì kia? Đáng ra Ian phải nói “Ôi lạy Chúa!” hay “Heidi, không, Heidi, không, không không!” chứ? Ian nhìn xác Rhîmes, nói “Có nhiều hôm ta cũng tự hỏi, ‘Tại sao không lùi về ở ẩn, không đánh đấm nữa, mà sống đời chiêm nghiệm?’ Rồi lại thấy cảnh tượng như thế này, và nhớ ra tại sao.” Cuối cùng, Ian vặn cái đầu đã tơi tả về phía mình. “Xin lỗi đã để ngươi phải chứng kiến những thứ này.”
Mình thở chậm lại, chậm lại, rồi… “Anh là…” mình không nói được.
“Ngươi đâu chê trà xanh. Nhớ không?”
Bà già bên sông Thames. Esther Little? Làm sao Ian biết chuyện đó? Mình như ở đẩu đâu rớt xuống nhầm chỗ.
Trong lối sảnh đồng hồ cuckoo đổ chuông.
“Holly Sykes,” Ian, hay Esther Little, nếu đây đúng là Esther Little lên tiếng, nhưng làm sao lại thế được? “Ta muốn trú nhờ.”
Hai người chết đang nằm đây. Máu Rhîmes thấm dần vào thảm.
“Holly, thân xác này đang chết dần. Ta sẽ xóa sạch những gì ngươi vừa thấy, để ngươi bình tâm, rồi ta sẽ trốn sâu, sâu, sâu trong…” Nói rồi Ian- hay-Esther-Litte ngã gục xuống như một chồng sách đổ nhào. Chỉ còn mở một mắt, một nửa gương mặt ép lên gối ôm nhăn nhúm trên ghế sofa. Mắt Ian giống mắt Davenport khi bác sĩ thú ý tiêm thoát giải thoát cho nó. Davenport là con chó collie nhà mình nuôi trước con Newky. “Xin ngươi đấy.”
Ba tiếng đó như thần chú, đột nhiên, mình quỳ xuống cạnh Esther Little-trong-Ian, nếu đó chính là người này. “Tôi có thể làm gì được?” Tròng mắt Ian giật giật sau mí mắt đang khép lại. “Cho ta trú.”
Hôm qua mình chỉ xin thêm ít trà xanh, nhưng đã hứa thì phải giữa lời. Với lại, sau chuyện quái gở này, mình còn sống chỉ vì Rhîmes đã chết, mà Rhîmes chết là vì Ian hay Esther Little hay người-nào-nữa đã ra tay. “Được rồi… Esther. Tôi phải làm gì đây?”
“Ngón giữa.” Một hồn ma khát khô trong khuôn miệng đã chết. “Trán.”
Vậy là mình ấn ngón giữa lên trán của Ian. “Như thế này sao?”
Chân Ian khẽ giật, rồi ngừng lại. “Thấp hơn.”
Vậy là mình di ngón xuống thấp khoảng một inch. “Đây sao?”
Một nửa miệng còn động đậy của Ian giật lên. “Đó…”
Nắng chiếu trên cổ mình, gió mằn mặn gợn lên. Dưới đoạn kênh hẹp giữa Kent và đảo Sheppey, một chiếc tàu đánh cá đang hụ còi inh tai: mình thấy ông thuyền trưởng đang ngoáy mũi, nhìn quanh quất tìm chỗ quẹt tay. Cây cầu trông như đồ chơi, kiểu Thomas the Tank Engine – khúc ở giữa nhô lên giữa hai cột tháp ục ịch. Tàu đến đầu kênh, còi điện hú lên rồi chui dưới cây cầu. Jacko mà thấy cảnh này chắc thích lắm. Mình lục lọi túi thể thao tìm lon nước ngọt Tango rồi thấy có tờ báo – tờ Socialist Worker. Ở đâu ra vậy trời? Hay Ed Brubeck lén bỏ vào để chọc mình? Mình định quăng tờ báo qua thanh chắn, nhưng một ông đi xe đạp vừa trờ tới, vậy là mình mở lon Tango, ngồi ngó cây cầu. Ông đi xe đạp cỡ tuổi ba, nhưng gầy đét, hói gần trọc, còn ba hơi tròn trịa, râu ria tóc tai nhiều đến nỗi có biệt danh Người Sói. “Ổn chứ,” ông ta lên tiếng, lau mặt bằng khăn vải gấp lại.
Coi bộ không giống thứ dê xồm bệnh hoạn, nên mình trả lời. “Ổn à.”
Ông ta nhìn về phía cây cầu, như thể ông ta là người đã xây nên nó.
“Thời bây giờ người ta không làm cầu kiểu đó nữa.”
“Chắc vậy.”
“Cầu Kingsferry là một trong ba cây cầu nâng theo chiều đứng ở Anh quốc. Cái xưa nhất là một thiết kế thời Victoria xinh xinh bắc qua một con kênh ở Huddersfield, chỉ dùng cho người đi bộ. Cái này khánh thành năm 1960. Trên thế giới chỉ có hai cái như vậy thôi, dùng cho xe và tàu lửa.” Ông ta uống nước từ trong bình.
“Vậy ông là kỹ sư sao?”
“Không, không, chỉ có sở thích nghiên cứu mấy cây cầu hiếm thôi. Con trai tôi ngày trước mê lắm. À mà…” ông ta lấy ra một chiếc máy ảnh từ túi gắn với yên xe “…cô giúp tôi chụp một tấm với cây cầu được không?” Mình nói được thôi, rồi phải lom khom xuống mới lấy được hết cái đầu trọc của ông ta và phần nhấc lên của cây cầu. “Ba, hai, một…” Máy ảnh kêu rì rì, ông ta nhờ mình chụp tiếp một pô nữa, mình làm theo, rồi đưa trả máy ảnh. Ông ta cảm ơn, lọ mọ lục đồ. Mình hớp nước ngọt, tự hỏi vì sao mình không thấy đói, mặc dù đã gần trưa rồi mà từ khi rời chỗ Ed Brubeck nằm ngủ tới giờ thì mình chỉ ăn mỗi bánh qui Ritz. Còn ợ hơi mùi xúc xích nữa, chẳng hiểu tại sao. Một chiếc xe cắm trại VW trờ tới, dừng lại sau thanh chắn. Hai đứa con gái và bạn trai ngồi trong xe hút thuốc, nhìn mình, mặt kênh kênh, kiểu “Nhỏ này tuổi nào mà ngồi đây vậy?” mặc dù tụi nó đang bật một bài hát của REO Speedwagon. Để chứng tỏ rằng mình không phải loại dở-hơi-không-ai-thèm-chơi mình quay lại nói chuyện với ông đi xe đạp. “Đạp từ dưới xa lên sao?”
“Cũng không xa lắm, hôm nay thì không,” ông ta đáp. “Brighton qua đây.”
“Brighton? Cả trăm dặm chứ ít gì.”
Ông ta nhìn món đồ gắn trên ghi đông. “Bảy mươi mốt.”
“Vậy ông có sở thích chụp ảnh cầu sao?”
Ông ta nghĩ ngợi một lúc. “Thực ra là một thứ lễ nghi, hơn là sở thích.” Ông ta thấy mình không hiểu. “Sở thích thì chỉ làm vì vui, còn lễ nghi thì giúp mình sống tiếp. Con trai tôi mất rồi, cô thấy đó. Tôi chụp hình cho nó.”
“Ôi, tôi…” Mình cố không sốc ra mặt. “Tôi rất tiếc.”
Ông ta nhún vai, nhìn ra chỗ khác. “Năm năm rồi.”
“Bị…” - tại sao mình không ngậm miệng quách cho rồi - “tai nạn sao?”
“Ung thư máu. Nếu còn chắc nó cũng cỡ tuổi cô.”
Còi điện lại hụ tiếp, phần đường bộ trên cầu hạ dần xuống.
“Chắc là buồn lắm,” mình nói, nghe vô duyên quá trời đất. Một dải mây gầy gò, dài, đậu lơ lửng trên đảo Sheppy nhô lên, nửa hình chó săn, nửa nàng tiên cá, rồi mình chẳng biết phải nói gì nữa. Chiếc VW rồ máy, chạy đi khi thanh chắn kéo lên, để lại phía sau một vệt bụi đá trong không khí. Ông xe đạp ngồi lên xe. “Bảo trọng nhé,” ông ta nói, “đừng phí hoài cuộc đời.”
Ông ta đạp quanh rồi trở lại xa lộ A22.
Đạp xe xa vậy mà tới đây không thèm qua cầu.
Xe hơi, xe tải rầm rập chạy qua, giật đi mớ sợi hạt trên đám hoa bồ công anh, nhưng vẫn chẳng có ai để mình hỏi đường đến Trại Black Elm. Mấy cái hoa như vải ren nghiêng ngả trên cuống dài mỗi khi có xe tải chạy quá, bươm bướm màu xanh bị thổi bay ra. Còn bướm màu cam, như da hổ lại bám chặt hơn. Giờ này chắc Ed Brubeck đang làm việc ở cửa hàng bán cây cối, vừa mơ mộng đến con gái Ý vừa khiêng bao than chất lên xe khách hàng. Chắc hắn nghĩ mình là thứ bò cái ẩm ương. Cũng có thể hắn không nghĩ vậy. Chuyện Vinny bỏ mình đang dần trở nên bình thường. Hôm qua vẫn còn là vết đạn từ súng cưa nòng, hôm nay chỉ là một vết bầm tím do đạn súng hơi. Đúng là mình đã tin tưởng Vinny, đã yêu hắn, nhưng điều đó không có nghĩa mình là đứa ngu ngốc. Với cái thể loại như Vinny Costello, tình yêu là trò bịp chúng thì thầm vào tai ta, để được lên giường. Còn với con gái, ít ra với mình, lên giường là thứ phải làm từ trang một, để có được tình yêu ở đoạn sau. “Mình cóc thèm thằng chó đẻ dê xồm đó nữa,” mình nói với một con bò đang ngắm mình sau cánh cổng, và mặc dù vẫn còn đau lắm, mình nghĩ đến một ngày mình sẽ quên hết. Có lẽ mình phải cảm ơn Stella, nó đã xé mặt nạ của Vinny chỉ sau vài tuần. Vinny rồi cũng sẽ chán nó, chắc như đinh đóng cột, rồi khi nó thấy hắn ngủ với một đứa con gái khác, nó sẽ hết mơ mộng được Vinny chở trên xe, cũng như mình vậy. Rồi nó sẽ lê lết trở lại, mắt sưng đỏ như mắt mình hôm qua, xin mình tha thứ. Rồi có khi mình tha thật. Có khi không. Phía trước có một vòng xoay và một quán cà phê.
Và quán cà phê mở cửa. Đời bắt đầu tươi lên.
Quán tên là Smoky Joe’s Café, bắt chước kiểu quán ăn Mỹ trong phim bộ Happy Days, bàn ăn có vách cao ở ngoài nhìn vào không thấy được, nhưng bên trong vô cùng tồi tàn. Khách lác đác, hầu hết dán mắt vào trận bóng đá trên chiếc tivi cà tàng gắn trên tường. Một mụ mũi khoằm ngồi cạnh cửa, đọc báo News of the World, phả khói thuốc mờ mịt như đám mây bao quanh. Mắt mụ trô trố như hai cái nút áo, cặp môi nhăn nhúm như bị khâu vài mũi, tóc tua tủa, gương mặt ảo não sầu bi. Trên đầu mụ ta có một tấm poster đã sờn cũ, có hình một bể cá màu nâu với hai con mắt trố ra, ở dưới là dòng chú thích: “Con cá vàng của Jeff lại bị tiêu chảy nữa rồi.” Mụ ta ngó mình dò xét, rồi hất tay về phía dãy bàn ăn, ý là, ngồi đâu kệ mày. “Thực ra,” mình nói, “tôi chỉ muốn hỏi xem bà biết đường đến Trại Black Elm không.”
Mụ ta ngước lên, nhún vai, nhìn xuống rồi phả khói thuốc. “Trại ở ngay Sheppey đây. Tôi tới đó làm việc.” Mụ ta tiếp tục đọc báo, đưa tay khảy tàn thuốc.
Mình quyết định sẽ gọi điện cho ông Harty. “Ở đây có điện thoại công cộng không?”
Mụ bò cái lắc đầu, không thèm nhìn lên.
“Phiền bà cho tôi gọi một cuộc nội hạt, bằng máy của…”
Mụ ta lườm mình một cái, cứ như mình vừa hỏi mụ ta có bán ma túy không.
“Vậy thì… có ai ở đây biết Trại Black Elm không?” mình cứ nhìn chăm chăm vào mắt mụ ta, để mụ ta biết rằng muốn yên thân đọc báo thì phải giúp mình đã.
“Peggy!” mụ ta rống lên về phía bếp. “Trại Black Elm?”
Một giọng ồ ồ trả lời: “Chỗ Gabriel Harty. Mà sao?”
Cặp mắt nút áo liếc về chỗ mình. “Có đứa hỏi…”
Peggy xuất hiện: mũi đỏ, má phính như chuột lang, mắt như sĩ quan phát-xít. “Đi hái thuê vài bữa, phải không cưng? Thời tui thì gặt thuê, nhưng giờ máy móc làm hết. Cưng đi theo đường Leysdown… hướng đó đó…” bà ta chỉ ra khỏi cửa “…qua khỏi Eastchurch, rồi rẽ phải qua đường Old Ferry Lane. Đi bộ hả cưng?” Mình gật đầu. “Năm hay sáu dặm gì đó, nhưng thanh niên sức dài vai rộng…”
Có tiếng khay thiếc loảng xoảng điếc tai trong bếp, Peggy chạy vào. Mình phải tự thưởng một bao Rothmans, sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ hỏi đường, vậy là mình đi ra máy bán thuốc ở giữa quán: 1 bảng 20 xu một bao hai mươi điếu. Cắt cổ, nhưng sắp gặp nhiều người lạ ở nông trại, mình cần được lên tinh thần chút. Mình thảy đồng xu vào, trước khi kịp nghĩ lại, núm tròn quay một vòng, thuốc lá được thảy ra. Chỉ tới khi mình đứng dậy, bao Rothmans hai mươi điếu trong tay, mình mới nhận ra ai đang ngồi phía sau máy bán, ngay bên kia lối đi: Stella Yearwood và Vinny Costello.
Mình thụp người xuống, né hẳn, thấy buồn nôn. Tụi nó có thấy mình không? Không. Nếu có Stella đã đá đểu vài câu. Giữa máy bán và tivi có một khoảng trống. Stella đang đút kem cho Vinny ngồi đối diện. Vinny nhìn nó, đắm đuối như cún con. Nó vờn muỗng kem trước môi hắn, kem va-ni lẫn son chảy xuống. Hắn liếm sạch. “Cho anh trái dâu.”
“Phải nói cho đúng kìa” Stelle đáp.
Vinny mỉm cười, “Cho anh trái dâu, anh xin.”
Stella ghim trái dâu từ trên đĩa kem rồi đút vào mũi Vinny. Hắn đưa bàn tay chụp lấy cổ tay nó, bàn tay đẹp đẽ của hắn, rồi đẩy trái dâu vào miệng, rồi hai đứa nhìn nhau, rồi mình thấy ghen muốn sôi ruột, như vừa uống một ly thuốc tẩy Domestos. Thứ thần hộ mệnh điên khùng nào đã mang bọn nó đến quán Smoky Joe’s ngay đây, ngay lúc này? Mũ bảo hiểm. Vinny đã chở Stella đến đây trên chiếc Norton cưng của hắn. Con nhỏ móc ngón út vào ngón út của hắn, rồi kéo, vậy là cả cánh tay và người hắn chồm theo, cho tới khi hắn chồm qua hết cỡ, hôn nó. Mắt hắn nhắm lại, mắt nó thì không. Vinny chỉ thì thầm ba từ tiếp theo, ba từ mà hắn chưa bao giờ nói với mình. Hắn nói một lần nữa, mắt mở to, còn mặt mày Stella trông như đang mở một gói quà đắt tiền vừa được tặng.
Mình muốn điên lên, muốn vứt bát đĩa, rủa xả chúng bằng những từ gớm ghiếc nhất rồi mắt mũi đầm đìa đi quá giang về Gravesend trong xe cảnh sát, nhưng mình loạng choạng đi ra cánh cửa lớn, kéo thay vì đẩy cửa, rồi đẩy thay vì kéo, vì mắt mình đang mờ đi, mụ bò cái nhìn theo, ô vậy sao, đúng rồi, giờ trông mình hay ho hơn tờ News of the World chứ gì, cặp mắt nút áo chòng chọc…
Ra đến ngoài đường mặt mình đầm đìa nước mắt nước mũi, một chiếc Morris Maxi chạy chậm lại, cha lái xe già dịch tranh thủ nhìn mình cho đã, mình hét lên, “Nhìn cái quái gì?” rồi, lạy Chúa, đau quá, đau quá, đau quá đi, mình leo qua một cái cổng vào đồng lúa mì, khuất mắt khỏi vòng xoay, rồi giờ đây mình khóc và khóc và khóc và khóc và khóc và khóc, rồi đá chân xuống mặt đất rồi đá tiếp rồi khóc nữa, khóc nữa, khóc hoài… Xong, mình nghĩ, giờ mình không còn nước mắt nữa, rồi mình nhớ lại lúc Vinny thì thầm, “Anh yêu em,” trong đôi mắt nâu tuyệt đẹp của hắn phản chiếu Stella Yearwood và mình lại khóc. Cứ như bị nôn sau khi ăn một cái trứng Scot bọc xúc xích rán – mỗi khi tưởng đã nôn hết rồi, mình lại nôn tiếp. Khi bình tĩnh đủ để hút thuốc, mình nhận ra mình đã đánh rơi gói thuốc ở máy bán trong quán Smoky Joe’s. Chán mớ đời. Giờ mình thà ăn bánh mì trét cứt mèo còn hơn là phải mò lại vô chỗ đó. Rồi, như thể trêu ngươi, mình nghe ra tiếng máy con Norton của Vinny. Mình rón rén ra chỗ cổng. Hai đứa đang ở đó, ngồi sau quán, hút thuốc, mình cá là thuốc của mình, chính bao thuốc mình vừa phải trả 1 bảng 40 xu đó. Stella hẳn đã thấy ngay bao thuốc dưới máy bán hàng, vẫn còn bọc ni lông, hẳn nó đã nhanh tay lượm lên. Ban đầu thì chôm bạn trai của mình, rồi giờ chôm luôn thuốc lá của mình. Rồi nó leo lên con xe Norton, vòng tay ôm eo Vinny, dụi mặt vào áo da của hắn. Xe chạy đi, xuống con đường dẫn ra cầu Kingsferry, về phía dải chân trời màu xanh xa xa, để lại mình ở đây, khổ sở, lẩn trốn như con bụi đời, đám quạ trên cây như đang ré lên Hay quá ta… Vui quá ta…
Gió vuốt ve, khuấy động cây lúa mì.
Chim bạc bụng hót ríu ríu rột rột ríu ríu.
Mình sẽ chẳng bao giờ quên được Vinny. Chẳng bao giờ. Mình biết mà.
Hai tiếng đồng hồ sau khi rời chỗ vòng xoay mình đến một ngôi làng đúng kiểu thâm sơn cùng cốc, có tên là Eastchurch. Biển báo ghi “ROCHERSTER 23”. Hai mươi ba dặm? Hèn gì chân mình giộp to như khối đá Ayers. Kỳ cục là, sau khi mình rời khỏi trạm xăng Texaco ở Rochester mình chỉ nhớ mang máng cho tới khi đứng ở cầu Kingsferry về Sheppey. Thực ra là mình chẳng nhớ gì cả. Như một đoạn bài hát đã bị thu chồng lên. Chẳng lẽ mình đã mộng du? Làng Eastchurch cũng như đang chìm trong cơn mê. Có một siêu thị Spar loại nhỏ, nhưng mà đóng cửa vì hôm nay Chủ Nhật, tiệm bán báo gần đó cũng đóng cửa luôn, nhưng người chủ đang đi đi lại lại bên trong, vậy là mình cứ gõ cửa cho tới khi ông ta chịu mở rồi mua một gói bánh qui dễ tiêu và một hũ bơ đậu phụng, thêm bao Rothmans và hộp diêm. Ông chủ tiệm hỏi có đúng là mình mười sáu tuổi không, mình nhìn thẳng vào mắt ông ta rồi nói tháng Ba vừa rồi mình tròn mười bảy tuổi, được chưa, vậy là khỏi hỏi han lôi thôi gì nữa. Ngày mai mình sẽ có thêm tiền, miễn là lão Harty đó không giở trò ăn quịt, nhưng mình cũng không biết vụ đi làm này sẽ kéo dài bao lâu. Nếu Vinny và Stella đi ra ngoài khi má hay ba tới nhà hắn thì ba má vẫn chưa biết là mình không ở đó, chưa biết là mình đã rời Gravesend.
Cạnh trạm xe buýt có một buồng điện thoại.
Nếu mình gọi về nhà bây giờ, má sẽ tha hồ mỉa mai, đúng kiểu má, nhưng nếu mình gọi cho Brendan thì biết đâu Ruth sẽ cầm máy, rồi mình sẽ nhờ nhắn lại với ba, đừng nói với má, chỉ nhắn ba thôi là mình ổn, nhưng mình bỏ học rồi, mình sẽ đi một thời gian. Để mà sau này má sẽ không nhằng nhẵng biết-đâu-hồi-đó-bị-bắt-cóc-thì-sao. Nhưng khi mở cửa buồng điện thoại, mình thấy ống nghe đã bị bứt khỏi dây, nên thôi.
Có khi đến nông trại mình sẽ gọi. Có khi vậy.
Gần bốn giờ chiều, mình rẽ xuống đường Old Ferry Lane, rồi rẽ qua một lối mòn nhỏ dẫn tới Trại Black Elm. Máy tưới từng hồi trên đồng phun ra những đám mây mát mẻ, mình hớp hơi nước, như thể nước đã được kéo thành kẹo bông mỏng dính, rồi ngắm những dải cầu vồng nhỏ hiện lên. Khu nhà trại gồm một gian xây gạch thấp lè tè, đã sờn cũ, được cơi nới thêm một gian mới xây sau này, rồi tới nhà kho rộng bằng thép, rồi thêm vài gian nữa xây bê tông, cộng với một hàng cây thưa chắn gió. Một con chó đen thật bự chạy ra, trông như hải cẩu mập ú, chân đi lặc lè, nó sủa inh ỏi, ngoáy tít mình mẩy. Chỉ sau năm giây, mình với nó đã thành bạn thân. Tự dưng nhớ con Newky quá, mình vỗ đầu con chó.
“Quen Sheba rồi ha.” Một đứa con gái mặc quần yếm đi xuống từ chỗ gian nhà cũ; chắc khoảng mười chín tuổi. “Thợ hái mới sao?” Giọng ngộ quá, chắc là dân xứ Wales.
“Ờ. À. Vậy tôi… nhận phòng ở đâu?”
Nó thấy tức cười khi mình nói “nhận phòng”, làm mình sôi ruột, vì làm sao mình biết phải nói từ gì cho đúng? Nó đưa ngón tay cái chỉ về phía cửa – cả hai cổ tay đều đeo băng cổ tay, bắt chước dân tennis, nhưng mình thấy như cái đồ dở hơi ăn cám hấp – rồi nó bước lại chỗ nhà kho gạch, chắc để kể với mấy đứa khác là con nhỏ mới tới cứ tưởng đây là khách sạn chăng.
“Ba giờ ngày mai có hai chục kiện ở đây, hiểu không,” một giọng đàn ông vang lên từ văn phòng dọc lối sảnh, “nếu xe mày không có đây lúc ba giờ một phút, thì cả đám đó sẽ đi xuống kho của bọn Fine Fare dưới Aylesford.” Ông ta dập máy, rồi lẩm bẩm, “Cái đồ ba xạo cà chớn.” Tới lúc này mình đã nhận ra ông Harty đã gặp trên điện thoại hồi sáng. Cánh cửa sau lưng mình mở tung ra, một bà sồn sồn mặc đồ bảo hộ lấm lem, mang ủng xanh lá, cột khăn quàng cổ chấm bi bước ra, xua mình đi. “Lẹ giùm cho, tiểu thơ, bác sĩ ra giờ. Úi cha. Thợ hái mới sao? Đúng rồi còn gì nữa.” Rồi bà ta lùa mình ra trước, vào một cái văn phòng tồi tàn, có mùi ngai ngái như khoai cất trong bị lâu ngày. Bên trong có bàn giấy, máy đánh chữ, điện thoại, tủ đựng giấy tờ, một tấm poster ghi chữ “RHODESIA HUY HOÀNG” rồi mấy tấm hình động vật hoang dã, cửa sổ nhìn ra sân trại, nơi có một cái xác máy kéo. Gabriel Harty chừng sáu mấy tuổi, mặt mày chảy xệ, lông mũi, lông tai thập thò. Ông ta lơ mình, quay sang nói với bà kia, “Tay Bill Dean vừa a lô. Muốn báo ‘trục trặc nho nhỏ về vận chuyển.’”
“Để tui đoán,” bà ta đáp. “Tài xế của thằng chả bị dịch hạch hết cả đám, nên ngày mai nhờ mình chở dâu tới Canterbury.”
“Đúng dồi. Biết nói sao không? ‘Tui ước chi dân đất đai như anh chịu giúp tụi tui một tay.’ Dân đất đai kia đó. Đất của ngân hàng, mình chạy theo đất thì có. Dân đất đai là vậy đó. Thằng chả mới là người dư tiền dẫn cả nhà đi nghỉ ở Seychelles các thứ.” Ông Harty châm lại tẩu, rồi nhìn trân trân ra cửa sổ. “Ai đây?”
Mình nhìn theo ông ta tới chỗ cái xác máy kéo, cho tới khi nhận ra ông ta đang hỏi mình. “Tôi là thợ hái mới.”
“Thợ hái mới sao? Không chắc tụi này cần thêm người nữa.”
“Hồi sáng có nói trên điện thoại mà, ông Harty.”
“Hồi sáng lâu lắm rồi. Ai nhớ.”
“Nhưng…” Nếu không có việc làm, mình sẽ ra sao?
Bà vợ đứng chỗ tủ đựng giấy tờ, ngó qua. “Gabriel.”
“Nhưng tụi này đã nhận… cái cô Holly Benson-Hedges[5] gì đó đang trên đường tới đây. Sáng nay cổ gọi mà.”
“Là tôi đó,” mình nói, “nhưng tên tôi là Holly Rothmans, và…” Khoan đã, ông ta chọc mình sao? Ông này có kiểu mặt rất khó đọc. “Là tôi mà.”
“Vậy sao?” tẩu thuốc của Harty phát ra tiếng kêu rọt rẹt. “Vậy thì hay quá. Hẹn gặp sáng mai lúc sáu giờ, đúng y. Không phải sáu giờ hai phút. Không có đâu. Không ai ngủ nướng hết, tụi này không phải là công viên cắm trại. Xong chuyện. Giờ tui phải gọi điện tiếp.”
• • •
“Chủ Nhật chỗ này vắng lắm,” bà Harty nói, khi dẫn mình qua sân trại. Bà này coi bộ sang hơn ông chồng, mình tự hỏi hai người quen nhau kiểu gì. “Mấy đứa ở Kent thì Chủ Nhật hay về nhà, để thoải mái chút, còn đám sinh viên thì tản ra ngoài biển dưới Leysdown. Tối tụi nó mới về đây, trừ khi xỉn quắc cần câu ở quán Shurland Arms. À, nhà tắm đằng kia, nhà vệ sinh dưới đó, có phòng giặt đồ. Khi nãy cô nói ở đâu tới vậy?”
“À… ở…” Con Sheba nhảy xổ tới, chạy vòng vòng quanh hai người, khiến mình chật vật mãi mới nói cho ra hồn “… Southend. Tôi thi O level tháng rồi. Cha mẹ còn đi làm, tôi muốn để dành chút đỉnh, có người quen làm đây vài năm trước, vậy là ông già nói ô kê, mười sáu tuổi rồi, vậy nên…”
“Vậy nên tới đây. Coi như sayonara với trường lớp luôn sao?” Sheba đánh hơi, lần ra chỗ có một đống lốp xe.
“Vậy cô có về lại trường mà học tiếp A level không, Holly?”
“À… ờ. Để coi kết quả thi sao nữa.”
Thỏa mãn, và cũng không quan tâm mấy, bà Harty dẫn mình ra kho xây gạch, qua cánh cửa cổ mở rộng. “Mấy đứa con trai ngủ đây.” Khoảng hai chục giường sắt xếp thành hai hàng, như bệnh viện, nhưng tường là tường nhà kho, sàn đá và không có cửa sổ. Mình nghĩ tới chuyện phải ngủ giữa một đống con trai ngủ ngáy, đánh rắm, quay tay gớm ghiếc. Thấy vẻ mặt mình, bà Harty nói, “Đừng lo – đầu năm tụi tôi có lắp thêm ván,” bà chỉ tay về phía cuối, “để mấy cô được chút riêng tư.” Một phần ba nhà kho ở khúc cuối đã được ngăn vách ván ép cao bằng hai người. Vách có khoét cửa, gắn một tấm lợp lên trên. Ai đó đã lấy phấn viết chữ “HẬU CUNG” ngay trên cửa, có người vẽ mũi tên chỉ xuống dòng chữ “YẾU ĐỪNG RA GIÓ NHA GARY”. Sau tấm lợp căn phòng hơi tối, giống như phòng thay đồ ở hiệu áo quần, có thêm ba vách ngăn ở mỗi bên, mỗi khoang lại trổ cửa riêng, trong mỗi khoang có hai cái giường và một cái bóng đèn trơ trọi treo trên trần nhà. Nếu ba mà có ở đây thì sẽ tha hồ nhăn nhó, lẩm bẩm về chuyện an toàn vệ sinh này kia, nhưng chỗ này cũng đủ ấm áp, khô ráo, an toàn. Với lại có thêm một cánh cửa trổ vào tường nhà kho, chốt bên trong, nếu có hỏa hoạn thì vẫn chạy ra kịp. Chỉ có điều hết thảy giường hình như đã có chủ, có túi ngủ, ba lô để sẵn, cho tới khi đến khoang cuối cùng, cũng là khoang duy nhất có bật đèn. Bà Harty gõ lên khung cửa, rồi nói, “Cốc cốc, Gwyn ơi.”
Một giọng bên trong trả lời, “Bà Harty?”
“Có bạn cùng phòng nè.”
Bên trong khoang, đứa con gái xứ Wales mặc quần yếm mặt mày vênh váo đang ngồi xếp bằng trên giường, hình như đang viết nhật ký hay sao đó. Hơi nước bốc lên từ bình thủy đặt trên sàn nhà, khói thuốc bay ra từ điếu thuốc đặt chênh vênh trên một cái chai. Gwyn nhìn mình, rồi chỉ tay về phía giường, kiểu, của mày hết đó. “Mời vô tệ xá của tui. Mà giờ là tệ xá của hai ta.”
“Vậy thôi để hai cô nghỉ,” bà Harty nói rồi đi ra, Gwyn tiếp tục viết nhật ký. Trời, dễ thương quá ha. Cái đồ kênh kiệu, không lẽ nói vài câu xã giao cũng không được sao. Ngòi viết bi chạy sột soạt rột roạt trên giấy. Chắc là viết về mình, chắc là viết bằng tiếng Wales, để mình khỏi đọc. Ừ nếu nó không chuyện với mình, mình cũng cóc thèm nói chuyện với nó. Mình thả cái túi thể thao xuống giường, cố không nghĩ đến một giọng Stella Yearwood trong đầu, nhạo rằng Holly Sykes bỏ nhà ra đi tìm tự do, cuối cùng lại lọt vô cái chỗ thúi tha này. Mình nằm xuống cạnh túi thể thao vì chẳng biết làm gì nữa, mà cũng hết sức rồi. Hai bàn chân mình rã rời ê ẩm. Tới túi ngủ còn không có.
Thủ môn của mình đá bi thẳng qua bàn rồi, rầm!, vào thẳng cầu môn của đội Gary, mấy đứa đứng xem trố mắt trầm trồ. Brendan hay gọi cú sút kiểu đó là chiêu Peter Shilton của mình, hồi trước còn hay rên rỉ là trên bàn bi lắc, thủ môn của mình thuận tay trái nên có lợi thế rành rành. Tỉ số năm không nghiêng về mình, trận thắng thứ năm liên tiếp, đang chơi kiểu loại trực tiếp. “Nhỏ này ăn thịt mình không thương tiếc, nói gì nữa?” Gary lên tiếng, mặt hắn ta đỏ bừng, giọng nói lè nhè sau vài lon Heineken. “Holly, cưng đúng là thiên tai, á lộn, thiên tài, đúng vậy, thiên tài bi lắc chính hiệu – chẳng nhục nhã gì khi thua một… cao thủ như vậy.” Gary làm bộ màu mè, cúi đầu chào, đưa lon Heineken qua bàn, khiến mình phải cụng với hắn ta. “Sao bồ chơi xịn quá vậy?” một con nhỏ hỏi, nhỏ này rất dễ nhớ, tên là Debby quê ở Derby. Mình chỉ nhún vai rồi nói do hồi trước hay chơi ở nhà anh họ. Nhưng mình tự dưng nhớ lúc Brendan nói, “Không thể tin là vừa thua một đứa con gái,” đến giờ mình mới nhận ra anh hai nói vậy để làm mình vui.
Chơi bi lắc chán, mình bỏ ra ngoài hút thuốc. Phòng sinh hoạt chung là khu chuồng ngựa cũ, vẫn còn thoang thoảng mùi cứt ngựa, nhưng đông vui hơn quán Thuyền Trưởng Marlow tối Chủ Nhật. Dễ chừng tới hai mươi lăm thợ hái ngồi quanh bàn, cười nói, ăn vặt, hút thuốc, uống bia, tán tỉnh và chơi bài, và mặc dù không có tivi, ai đó đã mang ra một cái máy hát cà tàng gớm ghiếc, lem luốc sơn, đang mở băng của Siouxsie and the Banshees. Bên ngoài, những khoảng đồng của Trại Black Elm thoải xuống biển, đèn lốm đốm sáng dọc theo bờ biển, qua khỏi Faversham, khỏi Whitstable và xa hơn nữa. Nhìn cảnh này ai mà tin được có những chuyện giết chóc, cướp bóc, hay con cái bị mẹ đuổi ra khỏi nhà.
Chín giờ tối: má sẽ nói, “Tắt đèn, ngủ ngon, Chúa phù hộ” với Jacko và Sharon, rồi rót một ly rượu vang, ngồi xem Bergerac trên tivi. Hoặc, như tối nay, biết đâu má sẽ đi xuống nhà dưới, ca thán về mình với thiên hạ, với một đứa tai mắt nào đó của má: “Không biết tui dạy nó sai chỗ nào, lạy Chúa cứu con, thực tình tui chịu.” Ba sẽ nói với Nipper thợ sửa ống nước, TJ vui tính và ông già Sharkey, “Rồi đâu cũng về đó,” hoặc một câu kiểu vậy, nghe thì có vẻ sâu sắc nhưng chẳng có nghĩa lý gì cả.
Mình lấy bao thuốc Rothmans ra khỏi túi áo – hết tám điếu, còn mười hai, nhưng trước khi mình kịp châm lửa thì Gary xuất hiện, mặc áo thun ghi chữ “HIỆN THỰC CHỈ LÀ ẢO ẢNH DO THIẾU RƯỢU” và mời mình một điếu Silk Cut, nói thêm, “Cái này anh mời, Holly à.” Mình cảm ơn rồi hắn tiếp, “Cưng chơi hay quá, thắng thẳng tay,” rồi mắt hắn liếc lên liếc xuống ngực mình, như kiểu Vinny hay liếc. Đã từng liếc. Gary vừa định nói gì nữa thì có bạn gọi, vậy là hắn tiếp, “Gặp cưng sau,” rồi biến. Không dám, nếu thấy ông trước tui sẽ lơ đẹp, mình nghĩ thầm. Mình quá ngán đàn ông con trai rồi.
Ba phần tư thợ hái là sinh viên cao đẳng, đại học, hoặc chuẩn bị tháng Chín này nhập học, mình là đứa nhỏ nhất, thua cả bọn cũng phải đến hai năm, ngay cả khi tính tuổi mình là mười sáu thay vì mười lăm. Mình cố không tỏ ra ngượng ngùng gì, để không bị lộ tuổi thật, nhưng đám này mai mốt đâu phải thành thợ ống nước, thợ uốn tóc hay công nhân vệ sinh: toàn là kỹ sư máy tính, giáo viên, luật sư tương lai hết, nhìn là biết. Kiểu cách nói chuyện nữa. Toàn dùng từ ngữ dứt dạc, như tự mình nghĩ ra vậy, giống kiểu Jacko, và khác hẳn với đám trên trường mình. Hai năm nữa Ed Brubeck cũng nhập hội đó. Mình nhìn ra chỗ Gary, ngay lúc đó, hắn cảm thấy mình, vậy là nhìn mình kiểu lại-gặp-cưng-ở-đây-rồi, mình nhanh chóng nhìn ra chỗ khác trước khi hắn hiểu lầm.
Đám thợ hái không phải sinh viên khá dễ nhận ra. Gwyn là một. Giờ tay đó đang chơi cờ đam với Marion và Linda, khi mình bước vào thì “Ê” một tiếng, cười vờ vịt rồi lơ mình luôn. Thấy ghét. Marion hơi tồ tồ, được chị Linda chăm như mẹ chăm con, em nói chưa hết câu thì chị đã đỡ lời. Hai chị em nhà này đi hái ở Trại Black Elm hàng năm như người ta đi nghỉ mát. Rồi cặp Stuart và Gina, dựng lều riêng ở chỗ đất trũng. Hai người chừng hai mấy gần ba mươi, trông như ca sĩ hát nhạc đồng quê, đeo bông tai, cột tóc đuôi ngựa. Mà thực ra hai người cũng có đi hát rong ở các chợ. Gina sẽ chở mình với Debby đi mua đồ ăn ở siêu thị Spar dưới Eastchurch sau khi mình đã có tiền công. Hai người này cũng là trung gian giữa thợ hái với lão Harty, Debby có kể. Cuối cùng là một đứa tên Alan Wall, ngủ ngoài xe moóc đậu ở rìa trại. Khi đi xem quanh trại, mình thấy nó đang phơi áo quần. Cùng lắm cũng chỉ lớn hơn mình một hai tuổi gì đó, nhưng thân hình gân guốc, rắn rỏi, da rám nắng như màu nước trà. Debby kể nó là dân gypsy, à, mà bây giờ phải gọi là di dân mới không bị mang tiếng kỳ thị, kể thêm lão Harty năm nào cũng thuê người nhà thằng nhóc này, không biết là vì thói quen, hay do gán nợ, hay mê tín gì gì nữa.
Đi vệ sinh trở vào, mình thấy có dáng ai lom lom chặn giữa nhà trại và kho. Vẻ như đang đứng đợi. Một que diêm đánh lửa. “Lại gặp cưng ở đây rồi,” Gary lên tiếng. “Làm điếu nữa không?”
Ừ, Gary trông cũng được, nhưng kiểu này chí ít cũng ngà ngà say rồi, và mình mới biết hắn ta có hai tiếng đồng hồ. “Tôi muốn trở lại phòng sinh hoạt chung, cảm ơn anh.”
“Khoan, làm điếu với anh đã. Thôi mà, Hol, ai rồi cũng chết.” Hắn đã đưa sẵn bao Silk Cut ra trước mặt mình, một điếu đã rút sẵn, để mình ghé môi hút. Mình không thể từ chối mà không lôi thôi, vậy là mình dùng ngón tay rút thuốc, rồi nói. “Cảm ơn.”
“Lửa đây… À, kể nghe coi. Bạn trai cưng dưới Southend chắc đang nhớ cưng dữ lắm.”
Mình nghĩ đến Vinny, rồi thở hắt ra, “Lạy Chúa, không có,” nghĩ ngay, Sykes ơi mày ngu lắm, rồi tiếp ngay, “Ờ, đúng rồi, ảnh nhớ tôi lắm.”
“Coi như xong vụ đó.” Trong ánh sáng từ đầu thuốc, Gary đang nhe răng cười đểu giả. “Đi bộ ngắm sao chơi. Kể anh nghe vụ anh bạn trai Lạy-chúa-không-có-ờ-đúng-rồi này thử.”
Mình không muốn Gary thọc tay vào áo ngực mình, hay chỗ nào khác nữa, nhưng làm sao đuổi hắn đi mà không làm hắn tự ái bây giờ?”
“Mắc cỡ cũng dễ thương đó,” Gary tiếp, “nhưng mà mất thì giờ lắm. Thôi mà, anh có rượu, nicotine… cưng cần gì có hết.”
Lạy Chúa, nếu chỉ đổi chỗ một đêm, con trai thành con gái, thì mấy câu tán tỉnh rẻ tiền kiểu này chắc không có đất. “Nghe này, anh Gary, giờ không tiện.” Mình cố đi vòng quanh hắn để trở vào sân trại.
“Cưng để ý anh từ hồi nào giờ.” Hắn hạ cánh tay xuống như thanh chắn ngang trong bãi đậu xe, ép vào bụng mình. Mình ngửi thấy mùi thuốc cạo râu của hắn, mùi bia, rồi cả mùi hứng hớn. “Được rồi. Giờ anh cho cưng một cơ hội.”
Nếu mình nói hắn đi chết đi, chắc hắn sẽ đi nói xấu mình với đám thợ hái. Nếu mình làm dữ, gọi người tới giúp, thì kiểu gì hắn cũng chối, đổ cho mình là cái thứ Ma-Mới-Động-Rồ, rồi nhỏ-này-bao-nhiêu-tuổi-vậy, mà cha mẹ nó có biết nó ở đâu không?
“Tập lại chiêu đi, Bạch Tuộc,” một giọng xứ Wales cất lên. Mình và Gary giật nảy người. Là Gwyn. “Tán gái kiểu gì như trấn lột.”
“Tụi này… tụi này… tụi này chỉ nói chuyện thôi mà,” Gary đã bắt đầu co chân lui vào phòng sinh hoạt chung. “Có vậy thôi.”
“Khó chịu nhưng vô hại,” Gwyn nhìn theo hắn. “Như vết lở miệng vậy. Trừ con Sheba ra, hắn gạ gẫm chị em trên trại không chừa ai.”
Được cứu kiểu này thật nhục nhã, vậy là mình cáu kỉnh buột miệng
“Tui tự lo được.”
Gwyn tiếp, vẻ quá chân thành, “Ờ thì, có ai nói gì đâu.”
Đang trêu mình chăng? “Tui tự lo được.”
“Thực tình, cưng làm tui nhớ lại tui hồi trước quá, Holly à.”
Trả lời sao giờ? Bài “Up The Junction” của Squeeze đang bật ầm ầm từ chiếc máy ghẻ. Gwyn cúi xuống, “Coi nè, thằng Bạch Tuộc đánh rơi thuốc lá.” Rồi Gwyn hất về phía mình, mình chụp lấy bao thuốc. “Trả lại hoặc cứ giữ đó, coi như bồi thường vụ làm phiền. Tùy cưng.”
Mình tưởng tượng ra cảnh Gary kể lại câu chuyện, đương nhiên là theo ý hắn. “Chắc hắn sẽ rất ghét tui.”
“Hắn sẽ sợ xanh mặt nếu cưng đi nói với mọi người hắn đã làm trò khỉ gì. Bị gái đuổi là cái thể loại như Gary sun hết cả vòi, hết dám ngo ngoe. À, tui ra đây nói cưng biết là tui mượn được một cái túi ngủ của bà Harty cho cưng. Chúa mới biết qua tay bao nhiêu đứa rồi, nhưng đã giặt sạch, mấy chỗ dơ cũng không còn dính dấp nữa, trong nhà kho buổi tối cũng lạnh à. Tui đi về đây, nếu tui ngủ trước khi cưng về, thì chúc cưng ngủ ngon. Năm rưỡi sáng có còi báo thức.”