Tôi tìm lại được trong lịch làm việc của mình dấu vết cuộc hẹn đầu tiên này. Bên cạnh tên của L., tôi đã ghi lại số điện thoại của cô và địa chỉ quán cà phê. Hồi đó, và một thời gian sau, tôi vẫn có thể cầm bút và cuộc sống của tôi nằm cả trong cuốn lịch làm việc màu đen Quo Vadis , vẫn mẫu ấy từ mười lăm năm nay, được thay ruột mỗi khi mùa thu đến. Nhờ những trang này, tôi cố gắng tưởng tượng trạng thái tinh thần của mình khi gặp lại L., tái dựng lại bối cảnh. Trong cùng tuần ấy, có vẻ như tôi đã tham gia một buổi gặp mặt trong một hiệu sách ở Paris, gặp lại tại khách sạn Lutetia một nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia đang nghiên cứu về đề tài truyền thông hóa các nhà văn, tôi đã đến số 12 phố Edouard-Lockroy (địa chỉ được tô bằng bút đánh dấu màu xanh lá cây mà không kèm theo ghi chú gì thêm), tôi đã ngồi một lúc ở quán Pachyderme với Serge người tôi gặp một hoặc hai lần mỗi năm để tổng kết các tác phẩm và cuộc đời chúng tôi (hôm đó chúng tôi nói đến việc tìm chiếc ghế lý tưởng, Serge kể tôi nghe một câu chuyện vui về sự phấn khích thoáng qua của anh trước chiếc ghế này hoặc chiếc ghế kia và lượng ghế bị bỏ đi chất đống trên thềm nghỉ nhà anh). Thêm vào đó là khoảng chục cuộc hẹn mà tôi chỉ có một ký ức mơ hồ. Tôi kết luận rằng thời kỳ đó thật bận rộn, tôi hẳn căng thẳng đôi chút, như tôi vẫn thế khi cuộc sống vượt lên trước tôi, phóng nhanh hơn tôi. Hơn nữa, tôi nhận thấy mình bắt đầu học tiếng Anh với Simon. Vả lại, vừa kết thúc một buổi học thì tôi gặp lại L. tại Express Bar.
Tôi không biết nhiều về cô, vì buổi tối hôm chúng tôi gặp nhau, chúng tôi chủ yếu nói về tôi. Khi trở về nhà, nhận thấy điều này, tôi có cảm giác không thoải mái, vì thế, vừa ngồi xuống tôi đã bắt đầu hỏi cô nhiều câu mà không cho cô thời gian chuyển hướng cuộc trò chuyện. Tôi không phải không nhận ra rằng cô có thói quen dẫn dắt câu chuyện.
L. mỉm cười, chơi hay đấy.
Đầu tiên cô giải thích với tôi rằng cô viết cho người khác. Đó là nghề của cô. Cô viết ra những lời bộc bạch của họ, tâm trạng của họ, cuộc đời đặc biệt chỉ cần được kể ra của họ, và hiếm khi hơn là những chặng đường gồ ghề của họ cần phải chuyển thành sử thi. Vài năm trước, sau khi làm nhà báo, cô đã lấy việc viết lách này làm nghề. L. hay được các nhà xuất bản mời chào và thậm chí còn cho phép mình từ chối các đề xuất. Theo thời gian, cô gần như chuyên viết tự truyện cho nữ; các nữ diễn viên, ca sĩ, chính trị gia giành giật cô. L. kể tôi nghe thị trường hoạt động như thế nào: ba hoặc bốn ngòi bút chia nhau hầu hết các phi vụ lớn. Thường thì cô cạnh tranh với hai tác giả nổi tiếng khác, những người này, ngoài công việc của chính họ, thường viết trong bóng tối. Những tác giả viết thuê hạng sao , cô nói thêm, một giống loài văn chương vô hình, mà cô nghĩ mình cũng dự phần. Bởi vì cả tên họ lẫn tên cô đều không được nêu trên trang bìa, nhiều nhất thì cũng chỉ xuất hiện trên trang đầu tiên, dưới danh nghĩa hợp tác . Nhưng thực ra, thường thì không có gì bên trong hoặc bên ngoài cuốn sách khiến người ta đoán ra được rằng tác giả giả định đôi khi không viết một từ nào. Cô kể cho tôi tên những tác phẩm mới nhất của cô, trong số đó có hồi ký của một siêu mẫu quốc tế và chuyện về tình cảnh tù hãm của một phụ nữ trẻ bị giam giữ nhiều năm. Sau đó, L. kể tôi nghe về hàng giờ phỏng vấn những người này để thu thập chất liệu, về thời gian cần thiết để thuần hóa họ, về mối quan hệ được dệt nên dần dần này, ban đầu thì bấp bênh, sau đó ngày càng thêm sâu sắc và tin tưởng. Cô coi họ như bệnh nhân của mình, dĩ nhiên là từ này không được dùng theo nghĩa hẹp, nhưng nó cũng không được chọn một cách ngẫu nhiên, bởi vì suy cho cùng, cô lắng nghe những dằn vặt, mâu thuẫn, những suy nghĩ thầm kín nhất của họ, thậm chí một số còn cảm thấy nhu cầu thoát khỏi ánh mắt cô hoặc nằm dài ra. Thường thì cô đến nhà họ, cô lấy máy ghi âm và điện thoại của mình ra (một lần, cô đã mất cả một buổi làm việc, máy thu đã tắt trong khi phỏng vấn mà cô không nhận ra, từ đó cô ghi âm bằng hai máy cho chắc), để cho lời nói, những kỷ niệm tự đến. Cô đã trải qua mùa hè trước ở Ibiza, trong ngôi nhà của một người dẫn chương trình truyền hình nổi tiếng, người mà cô đã sống cùng trong nhiều tuần. Cô chấp nhận theo nhịp sống của nhân vật, gặp gỡ bạn bè người đó, cô hòa mình vào bối cảnh. Dần dần, những lời tâm sự đã đến, bên lề một bữa sáng, một cuộc đi dạo đêm, sau ngày tiệc tùng trong ngôi nhà vắng vẻ. L. đã ghi lại tất cả, giữa những giờ trao đổi vô thưởng vô phạt đôi khi nảy ra một điều tiết lộ. Sau vài tháng làm việc, cô vừa hoàn thành cuốn sách. L. thích gợi nhắc đến thứ chất liệu này, thứ chất liệu cô được ban tặng, một thứ chất liệu thô mộc, sống động, một cái gì đó ở tận cùng tiết lộ Sự thật, cô đã nói từ này nhiều lần, bởi vì suy đến tận cùng chỉ có Sự thật mới đáng kể. Và tất cả những điều đó đến từ một cuộc gặp gỡ, từ mối quan hệ đặc biệt được dệt nên dần dần giữa cô và họ. Vả lại, thật khó với cô khi phải hoàn thành một cuốn sách để bắt đầu một cuốn khác, mỗi lần như vậy cô lại cảm thấy tội lỗi, tội lỗi vì bỏ rơi, như một người tình hay thay đổi, không quyết đoán, đoạn tuyệt trước khi chán.
Sau đó trong buổi tối ấy, L. nói với tôi rằng cô sống một mình, chồng cô đã chết từ lâu. Tôi không hỏi vì sao, tôi thấy dường như thông tin này chứa đựng phần phụ thêm của nỗi đau mà L. chưa sẵn sàng đề cập. Cô tâm sự với tôi rằng cô không có con, đó không phải là một điều hối tiếc, hay đúng hơn đó là một điều hối tiếc mà cô không thể chấp nhận, một hối tiếc mà cô đẩy ra xa khỏi mình như một chất độc. Cần phải có những lý do hoặc những lời biện minh chăng, điều đó đã không xảy ra, vậy thôi. Vào lúc đó, tôi nhận ra mình không thể đoán tuổi của cô, L. có thể ba mươi lăm tuổi hoặc cũng có thể bốn mươi lăm, cô thuộc loại những cô gái có vẻ phụ nữ trước những cô khác, và những phụ nữ mãi là những cô gái trẻ vĩnh cửu. L. hỏi tôi có sống với François không (cô gọi anh bằng tên, tôi còn nhớ), tôi đã giải thích cho cô lý do tại sao chúng tôi chọn cách ai ở nhà nấy, chừng nào bọn trẻ sống cùng chúng tôi. Vâng, dĩ nhiên là tôi sợ thói quen, sự hao mòn, sự tức tối, sự thỏa hiệp, tất cả những điều hết sức tầm thường vốn vẫn xảy ra với những người yêu nhau sau vài năm chung sống, nhưng trên hết tôi sợ sẽ làm nguy hại đến vấn đề về sự cân bằng. Vả lại, ở độ tuổi của chúng tôi, mỗi người đều kéo theo mình những thất bại và những vỡ mộng, dường như với tôi khi sống như thế, chúng tôi cho đi và nhận lại những điều tốt nhất của chính mình.
Tôi thích việc có thể dễ dàng trao đổi mà ta cảm thấy với một số người, thích cái cách ngay lập tức đi thẳng vào vấn đề như thế. Tôi thích nói về những điều cốt yếu, liên quan đến cảm xúc, ngay cả với những người bạn mà tôi chỉ gặp một hoặc hai lần mỗi năm. Tôi thích khả năng khơi gợi điều thầm kín mà không vì thế trở nên trơ trẽn này ở Người khác (và thường là ở phụ nữ).
Chúng tôi cứ ngồi như thế, mặt đối mặt trong quán cà phê, L. không còn ở tư thế quyến rũ mà tôi đã thấy nơi cô trong bữa tiệc, cái tư thế hơi có vẻ tấn công, có gì đó trong cô dường như dịu dàng hơn. Chúng tôi là hai người phụ nữ làm quen với nhau, chia sẻ một số mối quan tâm nhất định và ngay lập tức nhận ra những mối tương đồng nào liên kết chúng. Với tôi, điều đó dường như luôn vừa tầm thường vừa kỳ diệu. Cuộc trò chuyện lại trở nên nhẹ nhàng hơn. Tôi nhớ rằng L. đã khá nhanh chóng khiến tôi nói về những người bạn gái của mình. Họ là ai, họ đến từ đâu, tôi có thường xuyên liên lạc với họ hay không? Đây là một chủ đề mà tôi thích và có thể nói hàng giờ. Tôi quen các bạn của mình ở trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, lớp dự bị, bất cứ nơi nào tôi qua. Tôi gặp bạn bè của mình ở các công ty khác nhau nơi tôi từng làm việc và hai người trong số họ tại các festival hay các salon văn chương. Tôi là một người gắn bó, đó là điều không thể phủ nhận, và là người gắn bó một cách bền bỉ. Một số bạn bè của tôi đã rời Paris cách đây rất lâu, một số khác đã quay lại. Tôi đã gặp những người mới. Tôi ngưỡng mộ họ, tất cả, vì những lý do khác nhau, tôi cần biết họ đã ra sao, họ trải qua những gì, điều gì khiến họ cảm động, mặc dù chúng tôi đều có cuộc sống rất bận rộn. Tôi cũng thích bạn bè của mình gặp nhau, một số người đã phát triển tình bạn giữa họ mà ngày nay không còn liên quan gì đến tôi nữa.
Tôi đang cố gắng giải thích cho L. điều đó, và mỗi người độc nhất, độc đáo, có giá trị như thế nào đối với tôi, thì cô hỏi tôi:
– Nhưng không ai gọi cho cậu mỗi ngày? Không ai chia sẻ cuộc sống hằng ngày với cậu sao?
Không, không ai hiện hữu thường xuyên như vậy. Với tôi điều đó dường như nằm trong trật tự của mọi thứ. Theo thời gian, quan hệ của chúng tôi tiến triển. Cho dù có thưa hơn, nhưng không vì thế mà kém phần mãnh liệt. Chúng tôi có cuộc sống riêng của mình. Và rồi chúng tôi luôn có thể gặp lại nhau một cách dễ dàng, luôn là như thế với mỗi người trong số các bạn gái của tôi, từ những người đã là bạn lâu năm đến những người chỉ mới kết giao. Hơn nữa, cái khả năng ấy, cái khả năng ngay lập tức trở nên thân mật của chúng tôi, sau nhiều tuần hoặc nhiều tháng không gặp nhau, chưa bao giờ thôi làm tôi thán phục. Những tình bạn keo sơn của tôi đã chuyển thành một mối quan hệ thoáng hơn, ít độc quyền hơn, hòa tan trong một cuộc sống bao gồm nhiều mối quan hệ khác.
L. có vẻ ngạc nhiên. Theo cô, ở tuổi trưởng thành, không thể có nhiều bạn bè. Nhiều bạn đích thực . Cô không nói về những cô bạn thân, mà về người mà ta có thể chia sẻ mọi thứ. Duy nhất. Người có thể nghe thấy mọi thứ, hiểu mọi thứ, người không phán xét. Tôi nói rằng đối với tôi thì có nhiều. Mỗi mối quan hệ như vậy lại có màu sắc riêng, nhịp điệu và tần suất riêng, các chủ đề yêu thích và cấm kỵ riêng. Bạn bè của tôi khác nhau và tôi chia sẻ với họ những điều khác nhau. Người nào cũng quan trọng với tôi, theo cách độc nhất vô nhị. L. muốn biết nhiều hơn. Những cô bạn ấy tên là gì, họ làm nghề gì, họ sống một mình hay cặp đôi với ai, họ có con không?
Giờ đây, khi cố tái hiện cuộc trò chuyện ấy, tôi muốn nghĩ rằng L. đang thăm dò, đánh giá cơ hội chinh phục của mình. Nhưng thực tế, tôi không chắc mọi thứ rõ ràng như thế. Ở L. có một sự tò mò đích thực, một sự quan tâm sâu sắc và luôn đổi mới, mà tôi không có lý do gì để đề phòng cả.
Hiếm người đặt ra được đúng câu hỏi, những câu hỏi quan trọng.
Bóng tối buông xuống, cô phục vụ đã thắp nến trên mỗi bàn. Tôi gửi tin nhắn cho các con tôi để báo rằng tôi sẽ về muộn một chút và chúng không phải đợi tôi ăn tối.
Mọi thứ đều đơn giản.
Sau đó, khi tôi lấy bút trong túi ra để viết gì đó lên một tờ giấy, chắc là một địa chỉ, hoặc tên một cửa hàng, L. mỉm cười với tôi.
– Tớ cũng thuận tay trái. Cậu có biết rằng những người thuận tay trái nhận ra nhau không?
Hôm đó, L. không nói với tôi về cuốn sách hay công việc tương lai của tôi.
L. đang nhẹ nhàng tiến lên, cô có nhiều thời gian.
Hồi gặp L., tôi có ý tưởng viết một cuốn tiểu thuyết có bối cảnh, hoặc điểm khởi đầu, là một chương trình truyền hình thực tế. Tôi quan tâm đến hiện tượng này từ lâu và đã thu thập được nhiều tài liệu trong mười năm qua. Vào năm 2001, vài tháng trước khi Loft Story đình đám xuất hiện trên màn hình, tôi đã theo dõi một chương trình phát sóng trên kênh TF6, nguyên tắc của nó khiến tôi mê mẩn (có vẻ rất nhạt nhẽo so với những gì tồn tại ngày nay): ba đội khác nhau, gồm những người rất trẻ, bị nhốt trong ba căn hộ riêng biệt và hoàn toàn trống rỗng. Những người tham gia phải vượt qua một số thử thách, tùy theo tính chất của từng thử thách, người ta tính thời gian họ được kết nối Internet để trang bị đồ đạc và thực phẩm. Lần đầu tiên ở Pháp, người ta được ghi hình hai tư trên hai tư giờ bởi nhiều máy quay. Theo tôi biết, Phiêu lưu trên mạng là chương trình truyền hình thực tế đầu tiên được phát sóng ở Pháp. Do một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà tôi đã quên – anh ta là bạn của con trai một người bạn, hay đại loại như thế – tôi đã gặp được một trong những người tham gia trò chơi này. Anh ta đã kể cho tôi, sau khi ra khỏi căn hộ, trải nghiệm của mình. Tôi quan tâm đến cách mà những thanh niên này, sau vài tuần bị nhốt, trở lại cuộc sống thực. Tôi thấy dường như chúng ta đang ở ngưỡng cửa của một cuộc cách mạng truyền hình, tuy nhiên còn lâu tôi mới có thể tưởng tượng được quy mô của nó. Và sau đó, Loft đã có màn ra mắt ồn ào trong giới nghe nhìn và suốt vài tháng chúng tôi chỉ nói về nó. Tôi tin rằng mình đã không bỏ lỡ bất kỳ số nào được phát sóng vào giờ vàng trong mùa đầu tiên, và sự chăm chỉ này cuối cùng đã khiến tôi muốn viết.
Vài năm sau, khi truyền hình thực tế không ngừng đẩy lùi các giới hạn của sự trống rỗng và thói nhìn trộm, niềm say mê tôi từng cảm thấy bèn chuyển hướng. Vượt xa khỏi các ứng cử viên và sự chuyển biến tâm lý nơi họ, tôi quan tâm đến cách thức các chương trình có thể khắc họa tính cách nhân vật, khiến họ trải nghiệm các mối quan hệ hoặc các tình huống ít nhiều được lên kịch bản (hoặc tái tạo chúng khi dựng phim) mà vẫn tạo cho người xem ảo tưởng về thực tế. Làm thế nào mà những sự kết hợp này, những căng thẳng này, những xung đột này – được chế ra và dàn dựng bởi những đấng sáng thế vô hình – lại có thể khoác lên mình dáng vẻ của Sự thật?
Thông qua một người bạn, tôi vừa liên hệ được với một nhà sản xuất từng làm việc nhiều mùa liên tiếp cho một trong những chương trình hàng đầu thuộc thể loại này. Cô đã rời hãng sản xuất từng thuê cô và tôi hy vọng cô sẽ cảm thấy tự do khi kể cho tôi những giai thoại. Qua điện thoại, tôi thấy cô có vẻ khá sẵn lòng và cô trả lời tôi không do dự:
– Tất nhiên chúng tôi dựng lên các nhân vật! Nhưng điều giỏi nhất, đó là chúng tôi dựng lên các nhân vật mà bản thân những người thể hiện vai diễn ấy lại không hề hay biết.
Hồi gặp L., tôi đã ghi chép được một thời gian vào những cuốn sổ tay để chuẩn bị cho một dự án tiểu thuyết xoay quanh vấn đề này hoặc lấy vấn đề này làm gốc. Tôi tìm kiếm chất liệu. Tôi hầu như luôn làm theo cách như vậy: trước tiên là tìm kiếm, sau đó là viết (tất nhiên, đó là tìm kiếm theo cách khác). Với tôi đó là giai đoạn hòa mình, thẩm thấu, thu thập đạn dược. Trong các giai đoạn tập hợp tài liệu này, tôi tìm kiếm trước tiên là động lực: thứ sẽ mang đến cho tôi ham muốn phát minh, sáng tác, thứ sẽ đưa tôi mỗi sáng đến trước một tệp tài liệu Word mà việc sao lưu sẽ sớm trở thành nỗi ám ảnh.
Tất cả chỉ là chuyện tia lửa lóe sáng, cú kích khởi động. Rồi đến việc viết lách, những tháng ngày cô đơn đối diện với máy tính, cuộc chiến bằng tay không, nơi chỉ sự dai sức mới có thể chiến thắng.
Tôi có vài tuần trước khi tìm lại được thời gian và không gian tinh thần cần thiết để bắt đầu làm việc. Cả Louise và Paul đều đang thi tốt nghiệp trung học, tôi muốn ở bên chúng, toàn tâm toàn ý cho chúng. Tôi đã lên kế hoạch bắt đầu cuốn sách mới sau hè, khi mọi người đều trở lại làm việc vào đầu thu.
Tất nhiên, tôi linh cảm thấy điều này sẽ không đơn giản. Tôi cần phải tìm lại luống cày của mình, những cọc đánh dấu không thể nhận ra trong quỹ đạo của tôi, sợi dây vô hình được dệt nên từ văn bản này sang văn bản khác, ta tưởng đã nắm được nhưng vẫn không ngừng tuột khỏi tay ta. Cần phải bỏ qua tất cả những gì tôi đã nghe thấy và nhận được, những gì đã được nói hoặc viết, những nghi ngờ và e ngại. Tôi biết tất cả điều đó. Và tất cả những điều này, kể từ bây giờ, là một dạng phương trình có nhiều ẩn số mà tôi phải giải và tôi biết ít nhất là dòng đầu tiên của lời giải: cần phải tái tạo sự im lặng, tách ra, dựng lại bong bóng của mình.
Tôi có vài tuần trước mắt, tôi không còn quá bận rộn hay quá mệt mỏi, tôi dành thời gian ở nhà, với các con tôi, tôi đi gặp François ngay khi có thể, hoặc anh đến tìm tôi. Mọi việc theo dòng chảy của chúng. Tôi thấy dường như mình đang ở giữa dòng; một trong những vùng chuyển tiếp này, những vùng kỳ vọng mơ hồ, đánh dấu sự kết thúc của một giai đoạn để nhường chỗ cho một giai đoạn khác. Một trong những khoảnh khắc người ta phải để ý, vì sợ chập mạch, sao cho các sự kiện không chồng chéo lên nhau, không va vào nhau và điều cần hoàn thành phải được hoàn thành.
Tôi nóng lòng chờ đợi đến lúc được im lặng.
Trong giai đoạn này, nếu chiếu theo lịch làm việc của tôi thì tôi đã gặp L. nhiều lần. Tôi không nhớ chính xác làm thế nào chúng tôi liên lạc lại với nhau. Tôi đoán là sau buổi tối ở Express Bar, một trong hai chúng tôi đã gọi cho người kia. Tôi thấy dường như L. đã gửi qua mail cho tôi một hoặc hai địa chỉ mà chúng tôi đã nói đến. Cô mời tôi đi xem cùng một vở kịch mà từ nhiều tuần luôn hết vé và tôi không thể nào mua được. Một lần khác, tôi nhớ rằng chúng tôi đã uống cà phê trong một quán bar ở phố Servan, cô đã gọi cho tôi khi ở dưới chân nhà tôi, cô vừa kết thúc một cuộc hẹn trong khu phố tôi ở. Qua những sự quan tâm khác nhau, L. đã cho tôi thấy cô mong muốn quan hệ của chúng tôi đi xa hơn những lần đi chơi đầu tiên này.
Đầu tháng Năm, L. rủ tôi đi xem phim. Trước đó ít lâu, tôi đã nói với cô rằng tôi thích xem phim vào giữa buổi chiều như thế nào, thú vui sinh viên mà tôi tìm lại được kể từ khi rời công ty và cảm giác vi phạm mà tôi cảm thấy khi ngồi trong bóng tối suốt hai giờ, cách xa bàn làm việc của mình. Tôi thích đi xem phim với những người khác và nói về bộ phim ngay sau khi xem, vào khoảng thời gian vẫn còn hơi bập bềnh, đôi khi xúc động, sau suất chiếu ấy, nhưng tôi cũng thích đến đó một mình, để không gì làm phai nhạt những cảm giác đầu tiên này, để không gì làm xáo trộn khả năng để cho cơ thể mình cộng hưởng, khi đèn vừa bật sáng trở lại và danh sách đoàn làm phim chạy trên màn hình, chỉ có một mình để khoảnh khắc này giãn ra, kéo dài, ngồi trong bầu không khí của bộ phim, hấp thụ hết tâm trạng của phim. Cuộc trò chuyện này đã diễn ra vào một trong những lần đầu tiên cả hai chúng tôi đi chơi, L. thú nhận với tôi rằng cô không thể đi xem phim một mình: cô tin chắc rằng mọi người đều nhìn cô. Vả lại, đó là lý do tại sao cô đề nghị tôi cùng cô đi xem 17 cô gái , phim dài đầu tiên của Delphine và Muriel Coulin. Bộ phim ra rạp ngay trước Giáng sinh, cô đã không thể xem vì cô phải trả một bài viết gấp, may mà phim vẫn được tiếp tục chiếu vài ngày nữa trong một rạp ở khu phố Latin. Tôi biết công việc viết văn của Delphine Coulin và tôi đã đọc ở đâu đó rằng cô viết và đạo diễn bộ phim này cùng chị gái mình. Tôi thích ý tưởng anh chị em cùng sáng tạo, nó cám dỗ tôi.
Tôi không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào của cuộc hẹn này trong lịch của mình, có lẽ nó đã được ứng biến ngay trong ngày hôm đó, điều này giải thích tại sao tôi không ghi lại. Chúng tôi gặp lại nhau trước rạp chiếu phim, L. đã đến trước và mua vé.
Bộ phim kể về câu chuyện của mười bảy cô gái học cùng trường trung học quyết định mang thai cùng một lúc. Phim lấy cảm hứng từ một tin vặt diễn ra năm 2008 tại Gloucester, Hoa Kỳ. Chị em nhà Coulin đã dời địa điểm trong kịch bản đến một thị trấn nhỏ ở Bretagne. Bộ phim rất đẹp, tràn ngập vẻ uể oải mà ta vẫn mong chờ, một kiểu buồn chán không tên, ước muốn về một nơi khác dường như không bao giờ tìm ra được cách thể hiện. Những cảnh các cô gái, bất động trong phòng ngủ của riêng họ, là những hình ảnh u sầu tạo nhịp cho bộ phim giống như đếm ngược. Chỉ riêng chúng thôi cũng nói lên được cái khoảnh khắc không còn thuộc về tuổi thơ mà cũng chưa phải là tuổi trưởng thành ấy, cái khoảng giữa mập mờ, không chắc chắn ấy. Đối với những cô gái này, mang thai là một hành động tự do, lời hứa về một cuộc sống khác. Vượt ra ngoài những lần mang thai không ngừng nhân lên này, bộ phim còn kể một câu chuyện về tầm ảnh hưởng. Bởi vì Camille, người mang thai đầu tiên, là ngôi sao của trường. Cô là một trong những người mà người ta đi theo một cách mù quáng, mà người ta muốn được giống bằng mọi cách. Một trong những thần tượng tuổi teen mà chúng ta đều biết, những người cuối cùng cũng biến mất mà ta không biết họ đã trở nên thế nào. Khi đèn bật sáng trở lại, tôi quay sang L., tôi thấy dường như cô hơi căng thẳng. Tôi ngay lập tức nhận thấy cách hàm cô siết lại, một xung động nhẹ nâng má cô lên, khi thì tạo thành một hốc, khi thì tạo thành một cục u nhỏ, ngay dưới tai, trong khi phần còn lại của khuôn mặt cô vẫn bất động. Khi chúng tôi ra ngoài, cô đề nghị đưa tôi về. Chẳng mấy khi cô đi xe, cô không có thói quen sử dụng xe ở Paris nhưng cô trở về từ một cuộc hẹn ở ngoại ô và không có thời gian để đưa xe vào bãi đậu. Tôi đồng ý.
L. đã tìm thấy chỗ đậu xe gần rạp chiếu phim, chúng tôi bước đi trong im lặng, bên nhau.
Sau khi ngồi vào chỗ của mình và thắt dây an toàn, L. hạ cửa kính phía cô. Đầu tiên cô để kính dừng lại giữa chừng rồi sau đó để nó trượt hẳn xuống. Không khí lùa vào khoang lái. Cô cứ ngồi như vậy vài giây, nhìn thẳng phía trước, tôi thấy áo sơ mi của cô phồng lên theo nhịp cô thở. Một lát sau, cuối cùng cô cũng nói:
– Xin lỗi, tớ không thể nổ máy.
Hai tay đặt trên vô lăng, cô cố hít sâu, nhưng hơi thở cô gấp gáp, bị chặn lại.
– Do bộ phim à?
– Phải, do bộ phim, nhưng cậu đừng lo lắng, sẽ ổn thôi.
Chúng tôi chờ đợi. L. nhìn chằm chằm vào con đường như thể xe của cô đang phóng trên cao tốc với tốc độ một trăm năm mươi cây số một giờ.
Tôi cố gắng làm giảm căng thẳng. Cả tôi nữa, tôi cũng dễ trở thành nạn nhân của thứ hậu quả gián tiếp thế này. Những bộ phim nổ chậm, vào lúc chiếu danh sách đoàn làm phim. Tôi biết cảm giác này, nó đã xảy ra với tôi nhiều lần, đến mức tôi ngồi mà không thể nhúc nhích bên vỉa hè ( Con bù nhìn , của Jerry Schatzberg) hoặc không thể cất lời ( Sự ra đời của những con bạch tuộc , của Céline Sciamma). Tôi hiểu rất rõ. Đôi khi, một bộ phim tìm thấy trong chúng ta một sự cộng hưởng sâu thẳm. Để giải khuây cho L., tôi kể cô nghe ngày đầu tiên tôi xem phim The Hours , chuyển thể từ tiểu thuyết của Michael Cunningham. Dù không hề rơi một giọt nước mắt nào suốt buổi chiếu, tôi đã sụp xuống khi bộ phim kết thúc. Điều đó đã xảy ra như thế, không có dấu hiệu báo trước, tôi bắt đầu tuôn ra những giọt nước mắt nóng hổi, không thể rời khỏi phòng chiếu, thậm chí không thể giải thích bất cứ điều gì với bố của các con tôi khi tôi gục vào vòng tay anh.
Một cái gì đó trong hệ thống bảo vệ nội bộ của tôi rõ ràng đã nhường bước.
Tôi gắng thêm vào một chút tự giễu, với hy vọng giải khuây cho cô được chút ít. L. chăm chú nghe tôi, nhưng tôi thấy rõ rằng cô không thể cười hay gật đầu, toàn thân cô dường như được huy động bởi một nỗ lực lấy lại kiểm soát.
Nhiều phút nữa trôi qua trong im lặng trước khi cô bắt đầu mở khóa, và nhiều phút nữa trước khi cô khởi động động cơ.
Chúng tôi không nói thêm bất cứ điều gì trong suốt chặng trở về, tôi điểm lại những cảnh trong phim đã khiến mình xúc động, tìm kiếm manh mối về những gì đã có thể làm cô bị xáo động đến thế. Tôi không biết về L. đủ để hiểu đâu là điểm gây tác động. Tuy nhiên, tôi nhớ mình đã nghĩ về nhân vật Florence, cô gái tóc đỏ không mấy ưa nhìn, xuất hiện ở đầu phim, bị các cô gái khác xa lánh. Cô là người bị chế giễu, hơi vụng về, hơi lố bịch, mà không ai thực sự biết tại sao, cũng không biết nốt nhạc lạc điệu lẽ ra phải bỏ đi này được chơi ở nơi nào. Chính Florence là người đầu tiên kể cho Camille nghe rằng cô cũng đang mang thai. Việc mang thai mở ra cho cô những cánh cửa của nhóm mà cô bị loại trừ và Florence đã vô tình khởi xướng phong trào. Những cô gái khác có thai, rồi thêm những cô khác nữa. Sau này, trong một cảnh tàn khốc, các cô gái phát hiện ra rằng việc Florence mang thai chỉ là trò lừa đảo, mọi thứ chỉ là dối trá để được thuộc về cái nhóm sau đó lại dồn cô ra khỏi biên giới của nó, mà không cần một dạng quy trình nào khác.
L. dừng lại dưới chân nhà tôi. Cô mỉm cười và cảm ơn tôi. Chắc chắn chỉ đơn giản là bằng câu “cảm ơn cậu vì đã đi cùng tớ”, nhưng được phát ra như thể tôi vừa cùng cô trải qua một màn khám bệnh đau đớn ở bệnh viện hoặc tới nghe thông báo về một trọng bệnh.
Tôi cảm thấy như có một lực hút về phía cô, ước muốn được ôm cô trong vòng tay mình.
Nhờ có một trực giác kỳ lạ, tôi nhớ mình đã tự nhủ rằng L. không phải lúc nào cũng là người phụ nữ đẹp và sành điệu mà tôi từng thấy. Điều gì đó trong cô, điều gì đó bị chôn vùi, chỉ thoáng nhận thấy được, chỉ ra rằng L. đang trở về từ xa, từ một vùng đất tối tăm và lầy lội, và rằng cô là đối tượng của một sự biến hóa phi thường.
Kể từ hôm đó, chúng tôi gặp nhau ngày một thường xuyên hơn.
L. ở rất gần nhà tôi. Cô làm việc tại nhà, quyết định thời gian biểu cho mình và việc sử dụng thời gian của mình. L. gọi cho tôi vì cô đang đi ngang qua cửa sổ nhà tôi, vì cô đã đọc một cuốn sách mà cô muốn nói chuyện với tôi về nó, vì cô vừa khám phá ra một nơi yên tĩnh để uống trà. Cô tan chảy vào cuộc sống của tôi bởi vì cô được tự do đi và đến, bởi vì cô tự cho phép bản thân làm điều bất ngờ và ngẫu hứng, bởi vì cô thấy dường như là bình thường khi nói tôi đang ở dưới nhà, như thể chúng tôi mười lăm tuổi, tôi chờ cô ở ngã tư, hẹn nhau trước tiệm bánh, ở siêu thị Monoprix, bến tàu điện ngầm Réaumur-Sébastopol, chiều nay tôi phải mua cho mình một chiếc áo veste, cô hãy đến giúp tôi chọn đèn cho văn phòng của tôi. L. thích quyết định mọi thứ vào phút chót, thay đổi kế hoạch, hủy một cuộc hẹn để kéo dài thú vui hẹn hò, ăn tráng miệng hoặc đơn giản là không làm gián đoạn cuộc trò chuyện khiến cô quan tâm. L. nuôi dưỡng một kiểu tình trạng sẵn sàng ngay lập tức khiến cô trở nên đặc biệt đối với tôi, người vốn từ lâu đã cố gắng xoa dịu nỗi lo lắng của mình bằng một nỗi lo xa ít nhiều hiệu quả.
Tôi ngưỡng mộ L. vì khả năng từ chối sự ràng buộc, chỉ trù tính tương lai ngay trước mắt. Đối với cô, có khoảnh khắc hiện tại và khoảnh khắc ngay sau đó, ngoài ra không có gì quan trọng hơn hoặc cấp bách hơn. L. không đeo đồng hồ và không bao giờ nhìn vào điện thoại của mình để xem giờ. Cô ở đó, trọn vẹn, và cư xử như vậy trong mọi hoàn cảnh. Đó là một lựa chọn, một cách sống ở đời, từ chối bất kỳ hình thức đánh lạc hướng hay phân tán nào. Tôi từng dành trọn nhiều buổi chiều để nói chuyện với cô mà không một lần nào thấy cô lo lắng về giờ giấc, và tôi tin rằng, trong hai năm đó, tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng điện thoại cầm tay của cô đổ chuông.
L. không trì hoãn bất kỳ cuộc gặp nào: mọi thứ xảy ra vào đúng thời điểm hoặc không diễn ra. L. sống với hiện tại , như thể mọi thứ có thể dừng lại ngay hôm ấy. L. không bao giờ nói “chúng ta sẽ gọi lại để ấn định cuộc hẹn” hay “cố gắng gặp nhau trước cuối tháng nhé”. L. sẵn sàng ngay lập tức, không chờ đợi thêm. Những gì đã làm thì không cần làm nữa.
Tôi ngưỡng mộ quyết tâm của cô, và tôi nghĩ mình chưa thấy ai khác có thể có mặt ngay lập tức được như vậy. Từ lâu L. đã biết điều gì là quan trọng với cô, điều gì cô cần và điều gì cô cần tự vệ chống lại. Cô đã thực hiện một kiểu chọn lọc cho phép cô khẳng định rõ ràng rành mạch những ưu tiên của mình là gì, và đâu là các yếu tố gây nhiễu mà cô đã loại trừ vĩnh viễn khỏi phạm vi của mình.
Cách sống của cô – theo những gì tôi có thể cảm nhận được – đối với tôi dường như là biểu hiện của một sức mạnh nội tại mà ít người có được.
Một hôm, L. gọi cho tôi lúc 7 giờ sáng vì cô vừa nhận thấy máy thu âm kỹ thuật số của mình bị hỏng. Cô có hẹn lúc 8h30 với một nữ chính trị gia, cô vừa bắt đầu làm việc cho người này. Cô không tìm thấy cửa hàng nào mở cửa và muốn biết liệu tôi có thể cho cô mượn không. Chúng tôi gặp nhau nửa giờ sau tại quầy một quán bia. Tôi nhìn cô băng qua đường, tôi quan sát bước đi rất ổn định, rất tự tin của cô, bất chấp đôi giày cao gót cô mang, mái tóc vàng kẹp cao làm lộ rõ cái cổ dài và dáng ngẩng đầu thanh lịch của cô, cô dường như đắm mình trong dòng suy nghĩ. Cách bước đi rõ ràng là điều cô ít quan tâm. (Điều này đôi khi lại là một mối bận tâm lớn đối với tôi.) Khi cô bước vào, những cái đầu quay về phía cô, cô có dáng vẻ khiến người ta không thể bỏ qua. Tôi nhớ rất rõ khoảnh khắc đó bởi vì tôi đã nghĩ về nó: lúc đó là 7h30 sáng và mọi thứ ở cô đều rất vừa vặn. Không có gì nhàu nhĩ hoặc nhăn nhúm, mỗi yếu tố của con người cô hoàn toàn ở vào đúng vị trí, và vì vậy L. không có vẻ gì là cứng nhắc hoặc giả tạo. Má cô ửng hồng vì lạnh, hoặc nhờ phấn màu tự nhiên, lông mi cô được trang điểm bằng một lớp mascara nhẹ. Cô mỉm cười với tôi. Từ cô toát ra một sự gợi cảm thực sự, một cái gì đó gần với sự thoải mái, dễ dàng. Trong mắt tôi, L. là hiện thân của sự pha trộn bí ẩn giữa chuyển động và vẻ lộng lẫy.
Tôi từ lâu đã chấp nhận ý tưởng rằng mình không phải là một trong số những phụ nữ hoàn hảo, không thể chối từ như tôi hằng mơ ước. Ở tôi luôn có một cái gì đó vượt quá, vểnh lên, hoặc sụp xuống. Tôi có mái tóc kỳ lạ vừa cứng vừa xoăn, tôi không thể giữ son môi hơn một tiếng, và luôn có một thời điểm, vào đêm khuya, khi dụi mắt, tôi quên đi thuốc chuốt mi trên mí mắt. Trừ khi hết sức để ý, nếu không thể nào tôi cũng va vào đồ đạc, tôi lỡ bước, hụt bậc, nhầm tầng khi về nhà. Tôi đã thích nghi với điều đó và phần còn lại. Và tốt hơn hết là nên cười vào điều đó.
Tuy nhiên, sáng hôm đó, khi trông thấy cô đi đến, tôi đã nghĩ rằng mình cần học rất nhiều từ L. Nếu dành thời gian quan sát cô, có lẽ tôi có thể bắt được thứ gì đó luôn vuột thoát khỏi mình. Khi ở gần cô, tôi sẽ hiểu làm thế nào cô có thể có được tất cả những điều này cùng một lúc, sự duyên dáng, tự tin và nữ tính.
Tôi đã phải mất mười năm để giữ thẳng lưng, và gần như bằng ấy thời gian để đi được giày cao gót, sau tất cả, có lẽ tôi có thể, một ngày nào đó, trở thành kiểu phụ nữ ấy.
Sáng hôm đó, L. ngồi trên ghế đẩu gần ghế của tôi. Cô mặc váy suông, ôm khá sát cơ thể, tôi có thể thấy cơ đùi cô hiện ra dưới lớp vải. Tất quần của cô màu tối và hơi bóng. Cô ngồi thẳng, tôi chiêm ngưỡng tư thế cô, nó làm nổi bật dáng ngực tròn trịa, mà tôi đoán được dưới lớp áo sơ mi cô mặc, cách mở vai này, vừa phải, để làm cho nó có vẻ tự nhiên, gần như uể oải. Tôi đã nghĩ mình cần học cách giữ cơ thể như thế, rồi chân cũng vậy, chân nọ vắt lên chân kia cho dù váy chật, thân hình của L. cân bằng trên chiếc ghế đẩu quầy bar, đó là một vũ đạo bất động không cần âm nhạc và thu hút ánh nhìn. Nếu không có bẩm chất thuận lợi, liệu ta có thể bắt chước tư thế này không?
Lúc đó là 7h30 sáng, tôi vừa mới tắm xong và mặc quần jean, áo len và đi giày cao đến mắt cá chân, tôi lùa tay vào tóc để chải đầu. L. nhìn tôi, cô lại mỉm cười.
– Tớ biết cậu đang nghĩ gì. Và cậu đã nhầm. Có một sự khác biệt lớn giữa những gì cậu cảm thấy, cách cậu nhìn nhận bản thân và hình ảnh mà cậu tạo ra về chính mình. Tất cả chúng ta đều mang dấu vết của ánh mắt từng đặt lên chúng ta khi chúng ta còn nhỏ hoặc thiếu niên. Chúng ta mang nó trên người, phải, giống như một vết bẩn mà chỉ một số người có thể thấy. Khi tớ nhìn cậu, tớ thấy trên da cậu có xăm dấu ấn của sự nhạo báng và mỉa mai. Tớ thấy ánh mắt nào đã đặt lên cậu. Hận thù và ngờ vực. Sắc nhọn và không khoan dung. Một ánh mắt mà với nó người ta khó lòng tự gầy dựng bản thân. Vâng, tớ có thấy nó và tớ biết nó từ đâu đến. Nhưng, hãy tin tớ đi, ít người nhận ra điều đó. Ít người có thể đoán được điều đó. Bởi vì cậu che giấu điều đó rất giỏi, Delphine ạ, giỏi hơn nhiều so với cậu nghĩ.
Thường thì L. bắn trúng hồng tâm. Ngay cả khi qua miệng cô mọi thứ thường có vẻ kịch tính hơn so với thực tế, ngay cả khi cô có xu hướng trộn lẫn mọi thứ, thì vẫn luôn có nền tảng của sự thật.
L. dường như biết mọi thứ về tôi, dù tôi chưa nói gì.
Khi tôi cố gắng giải thích làm thế nào tôi trở nên gắn bó với L., xác định các giai đoạn của sự gắn bó này, một khoảnh khắc khác chợt trở lại trong tâm trí tôi, ít nhiều cùng thời kỳ đó.
Hôm ấy chúng tôi đi xem một cuộc triển lãm, một tối mở cửa đến tận đêm, rồi sau đó chúng tôi gọi một chiếc bánh kẹp pho mát giăm bông trắng tại một quán cà phê gần bảo tàng. Trời mưa dày hạt, chúng tôi đợi mưa tạnh. Khi chúng tôi lên tàu điện ngầm trở về thì cũng đã khá muộn. Chúng tôi ngồi sát bên nhau, gần cửa, trên ghế phụ. Toa tàu đầy người, nhưng chưa đến mức buộc chúng tôi phải đứng dậy. Một người đàn ông và một người phụ nữ lên tàu. Ngay lập tức, người phụ nữ níu lấy thanh cột ở giữa, ngay trước mặt chúng tôi. Níu lấy, đó là từ đã đến với tôi khi tôi nhìn thấy cô, dường như khó lắm cô mới đứng được. Người đàn ông lớn tuổi hơn cô. Hắn nhanh chóng tiếp tục cuộc độc thoại mà chắc hẳn hắn đã khơi mào khi còn ở trên bến, hắn nói to, phần lớn toa tàu có thể nghe thấy. Người phụ nữ cúi đầu, đôi vai hơi còng. Tôi khó nhìn rõ mặt cô, nhưng dường như, dưới đợt tấn công bằng lời nói, tôi lại có thể thấy rõ cơ thể cô còng xuống. Người đàn ông trách móc cô vì thái độ của cô trong bữa tối mà họ vừa dùng xong. Bực tức, bĩu môi ghê tởm, hắn dằn những câu nói của mình như thể đó là một diễn văn chính trị, cô ngồi như một con bé khốn khổ, cô ăn như một con bé khốn khổ, cô nói như một con bé khốn khổ, cô làm tôi xấu hổ (tôi chép lại gần như từng từ một, tôi cho rằng mình không quên từ nào bởi lẽ tôi đã choáng váng trước sự hung bạo của người đàn ông này và màn sỉ nhục công khai mà hắn bắt người phụ nữ phải chịu). Mọi người tránh ra xa, một số đổi chỗ. Thay vì dịu xuống, gã đàn ông tiếp tục.
– Cô là người duy nhất không nhận thấy điều đó, Magali ạ, mọi người đều rụng rời, đúng vậy, và mọi người đều tự nhủ: anh ta làm gì với một con bé như vậy? Từ cô toát ra sự khốn khổ, cô muốn tôi phải nói gì với cô đây, nó khiến người ta phát sợ. Đấy là tôi còn chưa nói với cô về cái lúc cô bắt đầu nói về công việc của mình, không hiểu cô nghĩ gì nữa, cô tưởng người ta quan tâm đến cuộc sống của một giáo viên mẫu giáo tội nghiệp sao, nhưng người ta cóc thèm quan tâm, chẳng ai quan tâm đâu, cô tưởng người ta quan tâm đến điều đó à?
L. nhìn gã đàn ông, không phải theo cách kín đáo, lén lút, như tất cả mọi người. L. nhìn chằm chằm vào gã đàn ông, trừng trừng, mặt ngước lên nhìn hắn như ở rạp hát. Hàm cô nghiến lại, mạch đập lại xuất hiện, thỉnh thoảng làm má cô khẽ hõm xuống.
– Không, nhưng cô hãy xem lại bộ dạng của mình đi, thật không thể tin nổi, trông cô như một con mụ gù lưng ấy. À đúng rồi, tôi quên mất, chính cô là người mang nỗi khốn cùng của thế giới, Magali ạ, thứ lỗi cho tôi, ha ha ha, hay thật đấy, nhưng đúng vậy, Quý bà gánh những bất hạnh của cả trái đất và Chúa mới biết trong đó có gì: những đứa trẻ có cha mẹ nhập cư bất hợp pháp, những đứa trẻ có cha mẹ mất việc làm, những đứa trẻ có cha mẹ điên rồ, và còn nhiều loại khác nữa, nhưng hãy chú ý, Quý bà hôm nào cũng được thanh thản vào lúc 16h30 sau một bữa ăn nhẹ ngon lành! Không, nhưng cô có thấy chính mình không, Magali, chỉ còn thiếu một chiếc áo cánh của hãng Les Trois Suisses nữa là trông cô giống một bà giúp việc đấy.
Chúng tôi vừa dừng ở bến Arts et Métiers. L. đứng dậy, cô rất bình tĩnh, từng cử động của cô dường như đã được tính toán trước và chính xác đến từng mi li mét, cô đứng trước mặt gã đàn ông, ngay trước mặt, cô nhìn thẳng vào mắt hắn, không một lời. Gã đàn ông ngừng lời, những tiếng xì xào quanh chúng tôi im bặt. Không khí im lặng kỳ lạ xâm chiếm toa tàu. L. đứng đối diện gã đàn ông, không rời mắt khỏi hắn, trong khi một vài hành khách lên xuống tàu. Gã đàn ông nói “con ngốc này sao vậy”, tín hiệu đóng cửa toa vang lên.
Rồi với một cử chỉ chắc nịch, tốc độ đáng kinh ngạc, L. đẩy gã đàn ông lên bến tàu. Hắn ngã ngửa ra sau, giơ tay ra đỡ, cánh cửa đóng lại trước khi hắn kịp hiểu ra. Qua cửa kính, chúng tôi thấy khuôn mặt hắn bàng hoàng, hoài nghi. Hắn hét lên đồ con điếm bẩn thỉu và rồi bóng dáng hắn biến mất.
Sau đó, L. quay sang người phụ nữ trẻ, nói với cô câu này mà tôi không bao giờ quên:
– Chị không phải chịu đựng điều đó, không ai phải chịu đựng điều đó.
Đó không phải là một lời cầu xin, cũng không phải một lời an ủi. Đó là một mệnh lệnh. Người phụ nữ ngồi xuống xa hơn một chút, cô có vẻ nhẹ nhõm hẳn. Vài phút sau, tôi thấy cô mỉm cười, chìm trong dòng suy nghĩ, rồi cô khẽ cất tiếng cười, ngắn, khô, gần như có lỗi. Tôi thấy dường như thân mình cô hơi thẳng lên một chút.
Đến tận bây giờ tôi vẫn khó có thể giải thích nổi làm thế nào mối quan hệ của chúng tôi lại phát triển nhanh chóng như vậy, và bằng cách nào, L. có thể, trong khoảng vài tháng, chiếm một vị trí như vậy trong cuộc đời tôi.
L. làm tôi say mê thực sự.
L. làm tôi ngạc nhiên, thích thú, tò mò. Làm tôi trở nên rụt rè.
L. có một kiểu mỉm cười, nói năng, đi đứng rất riêng. L. dường như không tìm cách lấy lòng tôi, dường như không chơi bất kỳ trò chơi nào. Trái lại, cô gây ấn tượng với tôi bằng khả năng là chính mình (khi viết những dòng này, tôi nhận thức được sự ngây ngô của chúng, làm sao tôi có thể biết L. là ai, sau một thời gian ngắn như vậy?) Ở cô, mọi thứ có vẻ đơn giản, như thể cô chỉ cần vỗ tay là có thể hiện ra như thế, một cách tự nhiên và hoàn toàn phù hợp. Khi tôi chia tay L., sau một lúc ở bên cô, hoặc sau một cuộc trò chuyện kéo dài qua điện thoại, tôi thường vẫn chịu ảnh hưởng của cuộc trao đổi ấy. L. chi phối tôi một cách nhẹ nhàng, một sự chi phối sâu kín và gây bối rối, mà tôi không biết cả nguyên nhân lẫn tầm ảnh hưởng.
Vài tuần sau cuộc gặp gỡ của chúng tôi, L. đã thiết lập giữa chúng tôi một tần suất liên lạc mà tôi chưa từng có với bất kỳ người bạn nào của mình. Ít nhất một lần mỗi ngày, dưới hình thức này hay hình thức khác, cô đều gửi đến tôi một tín hiệu. Một tin nhắn ngắn vào buổi sáng, một ý nghĩ vào buổi tối, một câu chuyện siêu ngắn viết riêng cho tôi (L. có cái tài kể một giai thoại đã xảy ra với cô hoặc dựng lên chân dung một người cô vừa gặp chỉ bằng một vài từ). L. gửi cho tôi những bức ảnh được chụp đây đó, những cái nháy mắt khác thường và lạ lùng, ít nhiều liên quan đến những cuộc trò chuyện giữa chúng tôi hoặc những tình huống chúng tôi đã cùng trải qua: một người đàn ông trên tàu dán mũi vào cuốn sách mới nhất của tôi được dịch sang tiếng Trung Quốc, áp phích một buổi hòa nhạc của La Grande Sophie, nữ ca sĩ có những ca khúc mà tôi từng nói với cô rằng tôi thích, một quảng cáo cho thanh sô cô la đen mới của nhãn hiệu tôi thích nhất. L. bày tỏ không vòng vo ước muốn được giữ liên lạc với tôi. Trở thành bạn tôi.
Dù bản thân không nhận ra nhưng tôi bắt đầu chờ đợi những tín hiệu ấy. Và cả những cuộc gọi. Tôi điện cho cô thường xuyên hơn để kể cô nghe những điều tầm phào. Chúng tôi bắt đầu viết email cho nhau.
Tôi đã không nhận ra ngay lập tức cách L. khơi lại hoài niệm về những năm tháng sau thời niên thiếu của tôi, thời điểm khi tôi bước vào tuổi trưởng thành, khi tôi nhận thức được nhiệt tình sống của mình. L. đã khơi lại sự toàn năng của tuổi mười bảy ấy trong tôi, nguồn năng lượng lạ thường đã nâng bước tôi trong vài tháng, trước khi tôi bị nỗi sợ hãi, lo lắng và mặc cảm tội lỗi chiếm lấy. L. đã khơi lại chính xác khoảnh khắc ấy của đời tôi, chuyến trở lại Paris của tôi sau bốn năm ở nhà bố, những cuộc trò chuyện thời sinh viên đầu tiên của tôi trong các quán cà phê phố Rome, các buổi chiếu phim ở khu phố Latin, cuộc gặp gỡ của tôi với Coline, những trò đùa của chúng tôi trên tàu điện ngầm, thứ ngôn ngữ có âm hưởng Xlavơ mà chúng tôi đã phát minh ra, những cuộc trò chuyện im lặng được truyền từ người này sang người kia trong giờ học, được viết từ phải sang trái để tưởng nhớ Abel Tiffauges, có thể đọc thấy khi giơ lên ánh sáng hoặc qua gương. Một sợi dây liên tục, không thể ngăn được, duy trì mối liên lạc. Một cách để chia sẻ mọi thứ: nỗi sợ và ham muốn.
L. đã khơi lại điều ấy: cái cách giữ quan hệ với người khác một cách độc quyền và hống hách, mà người ta có thể có ở tuổi mười bảy.
Vì vậy, phương thức quan hệ được thiết lập giữa L. và tôi, mãnh liệt và đều đặn, lại khá phù hợp với các tham biến người lớn trong sự tồn tại của tôi. Ví dụ, dù ít hỏi tôi về François nhưng cô lại lĩnh hội được hoàn hảo cách chúng tôi sống và nhịp độ các cuộc gặp giữa chúng tôi. Cô biết thời gian biểu của tôi, biết rằng một số ngày được dành riêng cho cô. Ngoài ra, L. rất nhanh chóng quan tâm đến các con tôi. Hẳn cô nhận ra rằng thái độ đó sẽ mang lại cho cô một lối đi được ưu tiên vào cuộc sống riêng của tôi, thậm chí đó là điều kiện cần thiết để làm cho mối quan hệ của chúng tôi thêm sâu sắc. L. thường hỏi tôi về Louise và Paul, đề nghị tôi mô tả tính cách chúng hoặc kể cho cô nghe những kỷ niệm tuổi thơ của chúng. Tôi từng nghĩ rằng L. muốn bù đắp thời gian đã mất, thời gian mà cô không được trải nghiệm. Nhưng L. vẫn luôn quan tâm nhiều như vậy đến thời kỳ chúng đã trải qua: chúng có tự tin không, khi kỳ thi trung học phổ thông đến gần, chúng có theo đuổi những mong muốn hướng nghiệp của mình không?
L. cho tôi biết một hoặc hai tài liệu liên quan đến nghề mà Paul quan tâm, và gửi qua mail một hồ sơ về Trường Hàng không Dân dụng Quốc gia, mà con gái tôi đang dự định chuẩn bị cho kỳ thi tuyển sinh. Sau đó, cô gửi cho tôi qua mail một tài liệu rất đầy đủ về thủ công và các nghề thủ công, cũng như một bảng xếp hạng các chương trình dự bị khoa học.
Tôi phải thừa nhận rằng sự tò mò mà L. nhanh chóng bày tỏ về các con tôi lúc đầu làm tôi ngạc nhiên. Sau đó, tôi nhận ra rằng sự bối rối này là do một định kiến ngu ngốc: tại sao một người phụ nữ không có con lại không được quan tâm đến con của những người khác? Cần phải thừa nhận rằng khả năng lắng nghe của L. là vô song khi liên quan đến những bận tâm làm mẹ của tôi. Tình trạng sinh đôi của Louise và Paul, sự e ngại mà chúng cảm thấy khi nghĩ đến việc phải tách nhau ra, việc cần để chúng cảm thấy chắc chắn phải qua giai đoạn đó, sự lựa chọn riêng của chúng, các thủ tục hành chính, các hồ sơ phải lập, các bức thư đề nghị, việc nắm bắt các mong muốn hướng nghiệp trên ứng dụng tin học bí ẩn sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông dành cho học sinh, và sau đó là chờ đợi... biết bao giai đoạn mà L. chia sẻ với tôi như thể điều đó liên quan hết mực đến cô.
L. đặt ra các câu hỏi, hỏi thăm tin tức, đôi khi đưa ra ý kiến của mình.
Giờ đây hẳn tôi có thể muốn nói rằng L. không quan tâm đến Louise và Paul mà cô quan tâm đến không gian chúng chiếm giữ trong cuộc sống của tôi: ảnh hưởng rõ rệt của chúng đến tâm trạng của tôi, giấc ngủ của tôi, khả năng sẵn lòng của tôi. Giờ đây hẳn tôi thấy dễ viết ra rằng L. chỉ quan tâm đến tôi với tư cách là một người mẹ chỉ bởi vì cô quan tâm đến tôi với tư cách là một nhà văn. L. không mất nhiều thời gian để hiểu ra rằng hai khía cạnh này trong tính cách của tôi không tách rời nhau. Louise và Paul có thể ký sinh, gây rối, ngăn cản, hoặc ngược lại, có thể tạo điều kiện cho tôi viết đến mức nào, đây chắc chắn là điều mà L. muốn đo lường. Ngoài ra, chương trình học mà cả hai chọn đã khiến chúng phải rời Paris, một đứa về tỉnh, một đứa ra nước ngoài. Giờ đây hẳn thật dễ nghĩ rằng L. rất vui vì chúng dự định đi sau mùa hè. Nhưng tôi biết rằng điều đó không đúng, rằng không đơn giản đến vậy. Nói thật, với L., không có gì lại đơn giản đến vậy. Nhìn lại, dường như đối với tôi, mối quan tâm mà L. dành cho các con tôi vừa sâu sắc vừa phức tạp hơn tất cả những thứ đó. L. có một niềm đam mê thực sự đối với các bà mẹ nói chung và đối với tôi nói riêng. L. thích nghe tôi nói về các con tôi, tôi chắc chắn như vậy, kỷ niệm về những năm đầu đời của chúng, cách chúng lớn lên và những mối quan tâm khi chúng ở vào tuổi thiếu niên. L. yêu cầu các chi tiết, thích thú với thần thoại gia đình nhỏ của chúng tôi. Tôi phải nói rằng L. hiểu các con tôi một cách đáng kinh ngạc dù là từ xa. Tôi đã nhiều lần nói với cô về một nỗi lo lắng, một cuộc tranh cãi, một sự hiểu lầm giữa chúng hoặc giữa chúng với tôi, và cô ngay lập tức nhận ra vấn đề, qua đó giúp tôi giải quyết. Tuy nhiên, L. không bao giờ bày tỏ nhu cầu gặp chúng. Thậm chí tôi có thể nói rằng cô tránh tất cả các tình huống có thể dẫn đến cuộc gặp này. Cô không đến gặp tôi ở rạp chiếu phim khi tôi đi cùng chúng và khi tôi đề nghị cô gặp tôi ở đâu đó, cô lại hỏi tôi có đi một mình không. Tương tự như vậy, cô không bao giờ đến nhà tôi khi biết rằng các con tôi ở đó, và, nếu có nghi ngờ, cô không muốn mạo hiểm.
Phải mất một ít thời gian tôi mới nhận ra điều đó.
Cuối cùng tôi đi đến chỗ nghĩ rằng với cô, đó là vì e thẹn, hoặc là một cách để bảo vệ mình trước một cảm xúc mà cô sợ mình không thể đương đầu. Cuối cùng tôi đi đến chỗ nghĩ rằng chuyện làm mẹ với cô còn đau đớn hơn những gì cô muốn thừa nhận.
Trong khoảng vài tháng, tôi tin rằng L. đã có thể có một cái nhìn tổng quan khá chính xác về cách sống của tôi: những gì tôi ưu tiên, thời gian tôi dành cho mỗi người, sự mong manh trong giấc ngủ của tôi.
Nghĩ lại thì L. đã rất nhanh chóng ở vào vị trí của một người là chỗ trông cậy: một người đáng tin cậy, hiếm ai sẵn sàng như vậy, người mà tôi có thể tin cậy. Một người quan tâm đến tôi, dâng tặng thời gian của mình không giống bất kỳ người lớn nào tôi từng biết.
L. là một phụ nữ hào phóng, vui tính và đặc biệt, người mà em đã gặp trong một bữa tiệc, đó là những từ mà tôi dùng để nói về cô với François vào lần đầu tiên.
François biết tôi cảm thấy khó khăn thế nào khi để mọi người ra đi, bằng lòng với việc chỉ thoáng qua nhau một lần trong đời, nhu cầu sau đó muốn biết họ ra sao, chối từ việc mất họ hoàn toàn. Vì vậy, anh đã nhẹ nhàng chế nhạo tôi:
– Như thể em không có bạn bè mấy…
Một buổi tối tháng Sáu, L. gửi cho tôi tấm ảnh chụp một bức graffiti khổng lồ, đỏ và đen, mà cô đã thấy trên một bức tường bẩn thỉu ở quận mười ba. Ở ngang tầm mắt, ai đó đã viết: WRITE YOURSELF, YOU WILL SURVIVE.