Điển hình của một xã hội "độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân" mà Montesquieu mô tả là xã hội phong kiến hay chính xác hơn là xã hội theo chế độ "quân chủ" hay "vua chủ". Hãy thử so sánh một xã hội phong kiến với một xã hội dân chủ và văn minh để hiểu rõ hơn sự khác biệt của người làm dân trong hai xã hội trên.
CHỦ THỂ
“VUA CHỦ”
“DÂN CHỦ”
Ai là "ông chủ” (sở hữu đất nước)?
Vua
Nhân dân
Ai tạo ra Hiến pháp (Lập hiến)?
Vua (hoặc không cần Hiến pháp)
Nhân dân
(Vì bộ máy nhà nước được hình thành theo Hiến pháp và cả lãnh đạo nhà nước cũng được bầu chọn theo Hiến pháp, nên nhân dân sẽ dùng quyền lập hiến để tạo ra Hiến pháp và dùng Hiến pháp này để tạo ra nhà nước và kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm buộc nhà nước phải phục vụ mình và bảo vệ các quyền và lợi ích hiển nhiên của mình).
Nếu nhân dân không trực tiếp phúc quyết Hiến pháp thì nhân dân sẽ bầu ra quốc hội lập hiến để soạn thảo Hiến pháp và toàn dân phê chuẩn; và khi sửa đổi Hiến pháp thì phải được toàn dân phúc quyết. Quốc hội lập hiến này chỉ có chức năng duy nhất là lập hiến, sau khi lập hiến xong là giải tán. Quốc hội lập hiến không phải là một cơ quan của bộ máy nhà nước, nên sẽ không kiêm nhiệm chức năng lập pháp, và ngược lại, quốc hội lập pháp (một cơ quan của bộ máy nhà nước) sẽ không được kiêm nhiệm chức năng lập hiến.
Nếu quốc hội lập pháp kiêm nhiệm chức năng lập hiến thì Hiến pháp đó sẽ không có mấy giá trị. Vì Hiến pháp là công cụ của nhân dân để kiểm soát nhà nước (chứ không phải công cụ của nhà nước để quản lý nhân dân).
Ai tạo ra luật (lập pháp)
Vua
Nghị viện/ Quốc hội (một cơ quan của bộ máy nhà nước) được nhân dân trao quyền lập pháp (trao quyền thông qua Hiến pháp).
Ai thực thi luật (hành pháp)
Vua
Chính phủ/ Tổng thống/ Thủ tướng (một cơ quan của bộ máy nhà nước) được nhân dân trao quyền hành pháp (trao quyền thông qua Hiến pháp).
Ai chế tài luật (Tư pháp)
Vua
Tòa án (một cơ quan của bộ máy nhà nước) được nhân dân trao quyền tư pháp (trao quyền thông qua Hiến pháp)
Trong xã hội phong kiến, theo chế độ quân chủ, đất nước là của vua và điều đó được thừa nhận như một lẽ tự nhiên, là "trời định sẵn" (thiên định), là hiển nhiên và mặc nhiên, không có gì phải suy nghĩ, không có gì phải bàn cãi.
Điều này hiển nhiên đến mức như cựu hoàng Bảo Đại từng mô tả quang cảnh lúc ông đọc tuyên ngôn thoái vị trong hồi ký của mình như sau: "Tất cả các vẻ mặt đều tỏ vẻ ngạc nhiên cùng cực. Nam và nữ đều ngẩn ngơ. Bản tuyên ngôn thoái vị của tôi như tiếng sét đánh xuống ngang đầu. Họ lặng người đi". Có lẽ trong thời đại ấy, không mấy người dân thắc mắc chuyện tại sao lại có một cá nhân, một nhóm người mặc nhiên được trao quyền định đoạt số phận của mình; mà chuyện một ông vua bỗng dưng từ bỏ giang sơn của mình mới thực sự là chuyện phi lý! Chính vì vậy nên ai cũng mặc định rằng trung với vua chính là trung với nước, chết vì vua cũng là chết vì nước. ("Trung thần bất sự nhị quân; quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung" - "Bầy tôi trung không thờ hai vua; vua khiến bầy tôi chết, bầy tôi không chết là bất trung").
Trong những xã hội dân chủ và văn minh, tư tưởng "trung quân ái quốc" kiểu ấy đã không còn được chấp nhận và phải nhường chỗ cho một tư tưởng tự do, bình đẳng và bác ái hơn: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. (Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và cũng là lời mở đầu Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa).
Dưới triều đại phong kiến, người làm ra luật là vua, người thực thi luật là vua và người chế tài luật cũng là vua. Tất nhiên là vẫn có triều đình và các cơ quan giúp việc cho vua, nhưng về gốc rễ thì những quyền này đều từ vua mà ra và do vua ban cho, chứ không phải là quyền mặc định hay quyền tự nhiên của triều đình và các cơ quan giúp việc cho vua. Vậy nên trong các bộ phim cổ trang thường có cảnh rất chi... kịch tính là khi ông quan tuyên án tử hình một bị cáo và đầu sắp rơi thì “Thánh chỉ tới”, xóa tội, thế là... thôi và ai về nhà nấy. Do đó, trong xã hội này, vua là người duy nhất đứng trên pháp luật và đứng ngoài pháp luật. Thứ duy nhất chi phối vua là đạo đức của ông hay khát vọng của ông. Và khi vua làm sai, người ta cũng chỉ có thế trông chờ ở sự phán xét của "tòa án lương tâm" hay "tòa án tâm linh", ở khả năng tự phê bình, tự kiểm điểm" của ông. Những khái niệm hay ý niệm như "tam quyền phân lập" hay "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" hoàn toàn không hiện diện ở những xã hội này.
Nhưng có lẽ cũng thông cảm cho vua. Vì ông là "thiên tử", tức "con của trời", thay trời sở hữu đất nước và cai trị đất nước nên chuyện ông đặt mình đứng trên và đứng ngoài pháp luật âu cũng là chuyện thường tình và rất hợp lý.
Nhưng, nếu trong một xã hội tự xưng là "dân chủ" mà lại có một người hay một nhóm người có cách hành xử theo kiểu "vua chủ" thì sẽ cần phải xem lại đó có phải là "dân chủ thực sự" không, hay chỉ là "dân chủ giả hiệu", tức là khoác cái áo dân chủ bên ngoài nhưng bản chất bên trong thực chất là một chế độ phong kiến trá hình. Chẳng hạn, dù trong xã hội đó có dùng pháp luật để cai trị thiên hạ, nhưng lại được ngầm hiểu rằng, có một người hay một nhóm người có quyền đứng trên và đứng ngoài pháp luật, có quyền ban sống, ban chết, ban có tội hay ban vô tội cho muôn dân.
Trong suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm kể từ khi khái niệm "quốc gia" được hình thành, có khá nhiều công trình nghiên cứu và đúc kết về các mô hình quản trị quốc gia. Nhưng tôi thường hay nói vui là có thể tạm chia chúng ra thành ba mô hình chính: Một là mô hình "vua chủ" (xã hội phong kiến), hai là mô hình "dân chủ" (xã hội văn minh) và ba là mô hình "nhóm chủ" (về hình thức "dân chủ", nhưng thực chất là "phong kiến").
Trong ba mô hình phổ biến nhất này (dân chủ, quân chủ và nhóm chủ) thì mô hình dân chủ được xem là mô hình văn minh và tiến bộ nhất cho đến nay. Còn mô hình "nhóm chủ" (một nhóm nắm quyền làm chủ đất nước, có quyền đứng trên và đứng ngoài pháp luật, muốn làm gì thì làm) thường là mô hình "nói dzậy mà không phải dzậy". Lý do là trong mô hình này có sự trái nghịch về hình thức và bản chất, cụ thể hơn là có sự trộn lẫn giữa hình thức và bản chất của "triều đình phong kiến", "giáo hội tôn giáo" và "nhà nước dân chủ". Mô hình này thường làm cho người ta rất khó hiểu, thậm chí đôi khi không thể hiểu nổi, vì tốt - xấu, hay - dở, thực - hư lẫn lộn. Bởi lẽ họ thường khoác "cái áo" của một tổng thống (hình hài kiểu dân chủ), nhưng lại có cái đầu của một quân vương (cai trị kiểu phong kiến) và có trái tim của một giáo chủ (giáo dục kiểu tôn giáo). Nên một trong những đặc điểm nổi bật ở những xã hội này là: nhà nước thường nghĩ một đằng, nói một nẻo, và làm thì một kiểu! Đối với những quốc gia có nhà nước kiểu này thì lãnh đạo vẫn có thể "phát ra" những điều hay ho, thậm chí có những diễn văn kiểu "áng thiên cổ hùng văn" nhưng chỉ để lừa mị dân chúng, chứ thực ra bản thân họ chẳng bao giờ sống với những nội dung hay lý tưởng chứa đựng trong đó, thậm chí có khi còn không bận tâm hay không hiểu những gì mình nói.