Bàn về vai trò của kinh doanh, gần 100 năm trước, Lương Văn Can - một nhà yêu nước, một trí thức lớn và cũng là nhà kinh doanh - đã khẳng định trên tờ Thực nghiệp Dân báo: "Đương buổi thế giới cạnh tranh này, các nước phú cường không đâu là chẳng đua tài thi sức ở trong trường thương chiến, văn minh càng tiến bộ buôn bán càng thịnh đạt, buôn bán thịnh thời trong nước giàu mạnh không biết đến đâu là cùng; buôn bán suy thời trong nước nghèo yếu không biết đâu mà kể, cứ xem cái trình độ buôn bán một nước nào cao hay thấp, rộng hay hẹp thời xét được dân nước ấy giàu hay nghèo, văn hay dã. Việc buôn bán thịnh suy có quan hệ đến quốc dân thịnh suy như thế, ta há nên coi thường, xem khinh được sao"
Thế nhưng mãi đến những thập niên gần đây, vai trò của người làm kinh doanh mới được bắt đầu được công nhận bằng hai chữ "doanh nhân" (thay cho tên gọi "con buôn" có phần mang màu... rẻ rúng trước kia). Chỉ ít lâu sau đó, doanh nhân thoắt trở thành một nghề "thời thượng". Hình ảnh doanh nhân được tôn vinh khắp các mặt báo, và có hẳn cả một ngày dành riêng cho doanh giới. Trong những năm phát triển nóng của nền kinh thương Việt Nam sau gia nhập WTO, có người còn nói vui là: "Đếm doanh nhân... mỏi tay!".
Nhưng rồi ngay chính giữa những ồn ào đó, người ta bắt đầu đặt câu hỏi: Phải chăng cứ làm nghề kiếm tiền thì được gọi là doanh nhân, cứ kiếm thật nhiều tiền thì là doanh nhân giỏi? Những cái chép miệng "bọn trọc phú ấy mà!", những tiếng tặc lưỡi: "ôi dào, chung quy lại cũng chỉ là phường con buôn!" bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều, cùng với những vụ làm ăn bê bối bị vỡ lở, những cú vung tay cho những thú vui xa hoa... Nhưng khách quan mà nói, xã hội Việt Nam (và nhiều xã hội khác cũng vậy) vẫn còn định kiến với đồng tiền, với sự giàu có. Vậy thì làm thế nào để phân biệt một doanh nhân đúng nghĩa với trọc phú và con buôn một cách khách quan nhất?
Người ta thường nói, "giàu có gắn liền với tội lỗi", điều đó là không đúng. Đồng tiền không có lỗi gì hết, đồng tiền chỉ là vật trung tính, bản thân nó không tốt cũng chẳng xấu gì cả. Tốt hay xấu chính là cách người ta kiếm tiền và cách người ta xài tiền. Đó cũng là lý do vì sao mà người ta thường nói, đằng sau một gia tài khổng lồ có thể là một cống hiến lớn, cũng có thể là một tội ác lớn, cũng có thể là cả hai. Nếu một người rất giàu nhưng lại không làm rõ được nguồn gốc của sự giàu có đó có hợp pháp và hợp đạo không thì chắc hẳn là ai cũng có thể hình dung được cách kiếm tiền của họ là cách gì. Do vậy, tùy theo cách kiếm tiền mà ta có thể phân biệt các nhóm người trong giới làm ăn.
Có ba cách kiếm tiền:
- Kiếm bằng cách mang (mang lại một giá trị cho người khác).
- Kiếm bằng cách gây (gây hại cho người khác).
- Kiếm bằng cách vừa mang, vừa gây (vừa mang lại giá trị cho người này, lại vừa gây hại cho người kia).
Và đó cũng chính là điều làm nên sự khác biệt giữa ba nhóm người: doanh nhân, trọc phú và con buôn.
Trọc phú và con buôn đều giống nhau ở chỗ kiếm được tiền bằng cách lừa ai đó hoặc hại ai đó, chỉ khác nhau về quy mô (con buôn thì quy mô nhỏ, còn trọc phú thì quy mô lớn). Còn doanh nhân thì không lừa ai, không hại ai, mà kiếm tiền bằng cách dùng sản phẩm hay dịch vụ của mình để đáp ứng một nhu cầu của khách hàng hay giải quyết một vấn đề của xã hội, và họ luôn xem sứ mệnh của mình là không ngừng nâng cao đời sống con người và thúc đẩy xã hội phát triển bằng những sản phẩm dịch vụ tốt nhất. Chẳng hạn, vấn đề mà một công ty bán sữa tham gia giải quyết là góp phần "cải tạo giống nòi", vấn đề mà một công ty phân bón tham gia giải quyết là "dinh dưỡng cho cây trồng".
Để đánh giá một người có phải là doanh nhân hay không, người ta cũng không nhìn vào quy mô mà nhìn vào bản chất cách kiếm tiền của họ. Doanh nhân phải là những người làm nghề kinh doanh đúng nghĩa, và kinh doanh là kiếm tiền bằng cách phụng sự xã hội và không làm hại đến cộng đồng.
"Phụng sự xã hội" ở đây có nghĩa đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay giải quyết vấn đề của xã hội thông qua các sản phẩm hay dịch vụ của mình. Còn "xã hội" ở đây có thể là một đối tượng nào đó, một ngôi làng, một thành phố, một quốc gia hay toàn cầu. Nếu như xã hội của bà tạp hóa là khu phố của mình, thì xã hội của Wal-Mart là toàn cầu. "Làm hại" có thể được hiểu như làm hàng giả, hàng nhái, hàng độc hại, gây ô nhiễm môi trường, quảng cáo sai sự thật, đối xử không tốt với người lao động và các chủ thể có liên quan... Cơ sở để xác định có "làm hại" hay không chính là pháp lý và đạo lý. Nếu một hành vi mà hoặc trái luật hoặc trái đạo thì sẽ bị xem là sai, là làm hại.
Khi kinh doanh mà không lừa ai, không hại ai, mà đưa ra được những sản phẩm, dịch vụ giúp kiến tạo xã hội hay đáp ứng các nhu cầu hợp pháp như vậy, lợi nhuận, thương hiệu, tiếng tăm... sẽ đến như một hệ quả tất yếu. Nói ngắn gọn, doanh nhân là những người "kiếm" bằng cách "mang" và không "gây".
Chẳng hạn, bà bán trái cây dạo cũng có thể là doanh nhân (nếu bán trái cây tử tế, không có thuốc trừ sâu, không phun hóa chất để bảo quản trái cây...), Cũng có thể là con buôn (nếu trái cây của bà ấy mua từ những nguồn độc hại, và được bảo quản bằng hóa chất...). Một bà bán tạp hóa cũng có thể là doanh nhân nếu cửa hiệu nhỏ của bà giải quyết được những vấn đề của khách hàng mà chợ và siêu thị không làm được như sự thân thiện, thuận tiện (gần nhà, mua giờ nào cũng được, bất kể sớm khuya...)/ luôn bán những sản phẩm đáng tin cậy với mức giá rẻ nhất hay có thể được thiếu nợ (mua về dùng trước, trả tiền sau).
Như vậy, một doanh nhân, một người làm nghề kinh doanh sẽ thật sự hạnh phúc khi nào? Có ba cấp độ hạnh phúc trong công việc của một doanh nhân như sau:
Cấp độ 1: Hạnh phúc khi kiếm được tiền (vì tiền là mục đích của kinh doanh).
Cấp độ 2: Hạnh phúc khi kiếm được tiền, có uy tín và được mọi người quý trọng (có uy tín và được quý trọng vì những cống hiến mà mình đã mang lại cho mọi người).
Cấp độ 3: Hạnh phúc khi kiếm được tiền, có uy tín và được mọi người quý trọng, và đồng thời được sống đúng với "đạo sống" của mình, sống đúng với đam mê và tình yêu của mình trong công việc.
(Vì khi một doanh nhân thực sự làm việc vì niềm tin, vì giá trị và vì đam mê của mình, anh ta chắc chắn sẽ gìn giữ và xác lập được nhân cách của mình trong kinh doanh và đồng thời có nhiều cống hiến cho mọi người. Và khi đó, tiền bạc và sự quý trọng của mọi người sẽ đến với anh ta như là hệ quả tất yếu).
Như vậy, một doanh nhân sẽ hạnh phúc trọn vẹn nhất, viên mãn nhất khi mà tiền bạc, uy tín, quý trọng, giá trị và đam mê đều thống nhất và hòa quyện với nhau trong công việc kinh doanh của mình, đó cũng là hạnh phúc của một con người tự do, con người tự trị khi chọn kinh doanh làm sự nghiệp của mình.
Chúng ta có thể hiểu sâu sắc hơn về hạnh phúc cấp độ 3 của một doanh nhân qua câu chuyện của một doanh nhân Nhật Bản sau đây:
Sukiyabashi Jiro và món ăn sushi
Ít ai có thể ngờ được một nhà hàng chỉ với 10 chỗ ngồi lại là nơi sở hữu món sushi ngon nhất thế giới.
Nhắc đến đẳng cấp Michelin, người ta thường nghĩ tới những nhà hàng sang trọng với không gian lung linh từ ánh đèn và muỗng nĩa sáng choang. Thế nhưng trên thực tế, nhiều nhà hàng nằm ngoài chuẩn mực cao cấp này vẫn được công nhận và trao tặng sao Michelin, dựa trên những tiêu chuẩn sáng tạo và khác thường của mình. Sukiyabashi Jiro chính là một trong số đó.
Sukiyabashi Jiro - viên ngọc trong đá
Nhận được một sao vàng đã là niềm mơ ước và mục tiêu to lớn của bất kỳ nhà hàng nào, và chỉ cần một sao thôi cũng đã đủ đưa nhà hàng đó lên tầm cao mới trong con mắt giới chuyên môn ẩm thực và khách hàng. Thế nhưng với Sukiyabashi Jiro, dù được trao tặng tới ba sao Michelin, nhà hàng vẫn khá khiêm tốn về mặt bằng lẫn phong cách.
Giữ nguyên thiết kế cổ điển của nhà hàng sushi truyền thống, với bàn ghế gỗ vỏn vẹn 10 chỗ ngồi, nằm khiêm tốn trong tầng hầm một tòa nhà tại khu Ginza, Tokyo, ít ai ngờ rằng đây lại là nơi làm nên món sushi khiến đầu bếp Pháp lừng danh Joel Rabuchon phải thốt lên: "Sukiyabashi Jiro đã cho tôi thấy thế nào là nghệ thuật sushi thực thụ!".
Đứng đầu bởi ông Jiro Ono đã 90 tuổi, nhà hàng sushi hàng đầu thế giới này đã tồn tại hàng chục năm lâu dài, trước khi những đầu bếp và nhà phê bình ẩm thực nổi tiếng đến thử món ăn tại đây. Họ đều bị sửng sốt và thuyết phục bởi chất lượng ẩm thực tuyệt hảo trong không gian quá sức giản dị. Danh tiếng của Sukiyabashi Jiro được đẩy cao hơn nữa vào năm 2011, khi bộ phim tài liệu "Jiro: Dreams of sushi" được phát hành.
Bộ phim mở ra bí mật về sự kỳ công, nhiệt huyết và kỹ thuật nấu nướng có một không hai bên trong nhà hàng sushi nhỏ bé này, bộ phim đã đóng vai trò quan trọng trong việc đưa nhà hàng sushi của Jiro ra thế giới - nơi thật sự xứng đáng với tầm cỡ của nó.
Nhà hàng hạng nhất của đầu bếp hàng đầu
"Liệu người ta có thể nào yêu một lát cá sống hơn cả yêu ai đó không?" - câu hỏi hài hước ấy của người dẫn chuyện trong bộ phim "Jiro: Dreams of sushi” lại là sự miêu tả chính xác nhất về ông chủ nhà hàng - Jiro Ono. Nhỏ bé và trầm tĩnh, Jiro gây ấn tượng với người khác bởi thái độ dửng dưng với mọi lời ca tụng lẫn giải thưởng danh giá người ta trao tặng cho ông. Trái lại, xuyên suốt cả bộ phim tài liệu, phỏng vấn, Jiro chỉ tập trung nói về tình yêu của mình với nghệ thuật sushi.
Không những thế, có lẽ chỉ riêng với Jiro, sushi mới thăng hoa thành một loại hình nghệ thuật bay bổng như vậy: "Ý tưởng về việc làm sushi đến với tôi vào mỗi giấc ngủ. Trong mơ, việc sáng tạo sushi của tôi được thành hình".
Mối lương duyên với sushi của Jiro đã sớm nảy nở từ thời niên thiếu. Sinh ra trong một gia đình nghèo khó với người bố nát rượu, từ năm 9 tuổi, Jiro đã phải rời khỏi nhà để tự kiếm sống. "Không có nhà để nghĩ đến chuyện trở về" - với tâm thế đó - Jiro đã khởi nghiệp bằng công việc phụ giúp cho một cửa hàng sushi truyền thống rồi tiếp tục làm công việc này suốt 79 năm.
Với kinh nghiệm làm việc gần tám thập kỷ trong lĩnh vực sushi, Jiro khiến các đầu bếp khác phải nể phục bởi kinh nghiệm cũng như khả năng giữ gìn nét đẹp sushi truyền thống trong các món ăn của mình. Tự tay ra chợ lựa chọn nguyên liệu vào mỗi sáng sớm, sẵn sàng bỏ cả phần cá chỉ vì ngâm muối thiếu một vài phút, trở thành từ điển sống về hương vị và cách sử dụng hàng chục nguyên liệu sushi khác nhau,... ông chính là bảo tàng lưu giữ những kiến thức, kỹ năng, và phẩm chất quý giá của nghệ thuật sushi.
Sukiyabashi Jiro và những nguyên tắc có một không hai
Lâu đời trong nghề, Jiro Ono đặc biệt trân trọng những tiêu chuẩn truyền thống của sushi. Điều này cũng ảnh hưởng đến phong cách ở Sukiyabashi Jiro khi nhà hàng luôn trung thành với những quan niệm cổ điển về nấu nướng lẫn ăn uống. Jiro Ono không bận tâm đến việc mở rộng nhà hàng, đầu tư cho quảng cáo hay những dịch vụ đi kèm để lôi kéo khách hàng.
Nằm ngoài vòng xoay của thời đại nấu ăn - kinh doanh kết hợp ấy, Jiro vẫn tin tưởng vào vẻ đẹp dung dị của quán sushi mười chỗ ngồi, nơi lôi kéo thực khách bằng hương vị và chỉ bằng hương vị món ăn mà thôi.
Ở Sukiyabashi Jiro, bạn sẽ được phục vụ theo kiểu "một kèm một". Thực khách ngồi trên ghế đối diện với bàn chế biến của đầu bếp, làm xong món sushi nào thì đầu bếp sẽ trao cho thực khách thưởng thức luôn. Do đó bạn đừng bất ngờ, khi nhà hàng ba sao Michelin tiếng tăm này lại chỉ có vỏn vẹn năm nhân viên, bao gồm ông chủ Jiro cùng con trai và các học trò. Cũng đừng bất ngờ, khi muốn trải nghiệm ẩm thực tại Sukiyabashi Jiro, bạn phải đặt chỗ... một, hai năm mới có suất.
Lý do đầu tiên là bởi có quá nhiều người muốn tới đây, nhưng số ghế nhà hàng chỉ có vỏn vẹn mười theo đúng mô hình quán sushi truyền thống. Thêm nữa, Jiro cần có thời gian chuẩn bị nguyên liệu và lên thực đơn để đảm bảo sự hoàn hảo của bữa ăn.
Một nguyên tắc bất ngờ khác của Sukiyabashi Jiro là bạn sẽ... không được gọi món. Tùy vào thời điểm bạn tới nhà hàng là mùa gì và có thức gì ngon, thì đầu bếp sẽ chuẩn bị cho bạn theo nguyên liệu đó. Sự tươi mới của thực phẩm và nét độc đáo của những đặc sản theo mùa là kết quả của việc luôn tuân thủ nguyên tắc này.
Việc thưởng thức sushi cũng không thể tùy tiện. Chính Jiro là người sẽ quyết định cho bao nhiêu wasabi vào miếng sushi của bạn bởi theo quan niệm truyền thống, không có ai hiểu rõ món sushi ấy hơn chính người đầu bếp. Nếu bạn có tiền bạc và thời gian chưa chắc bạn đã được thưởng thức sushi của Jiro. Điều quan trọng trong cả chế biến lẫn tận hưởng sushi là thái độ trân trọng, cẩn thận và nâng niu từng nét đặc trưng của món ăn. Đấy chính là tinh thần mà Jiro muốn truyền tải thông qua nhà hàng của mình. (Theo Tsubaki)
Qua câu chuyện này ta có thể thấy, có thể việc kiếm được tiền cũng làm cho Jiro vui, khi được mọi người quý mến cũng có thể làm cho Jiro hạnh phúc. Nhưng chắc hẳn điều làm cho Jiro hạnh phúc nhất chính là việc ông được sống với niềm tin của mình, sống đúng với những giá trị, tình yêu và niềm đam mê trong công việc.
Với món suhi hảo hạng nhất thế giới của mình, có lẽ, trong công việc, Jiro cũng là một trong những người hạnh phúc nhất thế giới.
Ngoài ra, không chỉ chuyện kiếm tiền, mà cách tiêu tiền của một người cũng quyết định họ là doanh nhân, trọc phú hay con buôn. Có vô lý quá không, bởi "tiền của tôi thì tôi có quyền tiêu, miễn tôi kiếm tiền "sạch sẽ" là được". Đúng vậy, khi đồng tiền là của mình thì mình có quyền được dùng nó. Nhưng có khi cách ta dùng tiền dù không trái luật, nhưng lại có thể trái đạo. Chẳng hạn, tôi hoàn toàn có quyền được sống xa hoa giữa một ngôi làng nghèo đói, về mặt pháp lý tôi không sai nhưng nếu nói về đạo lý hay đạo sống thì liệu tôi có thể thấy hạnh phúc, vui sướng không khi quanh nhà mình, ngay trước mặt mình đều là những cảnh đời khốn khó. vấn đề xã hội đang nói đến khi bàn về cách tiêu tiền này không phải là pháp lý, mà là đạo lý, đạo sống. Không phải là chuyện đúng hay không đúng mà là chuyện nên hay không nên. Một người có văn hóa, có lòng trắc ẩn thì khó có thể thản nhiên hưởng thụ xa hoa ngay trước những nỗi khổ của đồng loại quanh mình như thế được!
Nếu như việc kiếm tiền của doanh nhân là rất khó, thì việc tiêu tiền lại càng khó hơn. Khi kiếm tiền vượt qua ngưỡng của những nhu cầu tiêu dùng cho bản thân, gia đình và cộng đồng nhỏ xung quanh mình, thì việc ứng xử với một "núi" tiền lại là một thách thức không nhỏ đối với những người giàu và những người rất giàu.
Một câu chuyện điển hình là cách đây không lâu, khi hai trong số những người giàu nhất thế giới là Bill Gates và Warren Buffet khởi xướng chiến dịch "Giving Pledge'' (tạm dịch là "Cam kết cho đi") nhằm kêu gọi các tỷ phú Mỹ dành phần lớn số tài sản của mình để góp phần thay đổi xã hội thông qua con đường từ thiện; họ đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình từ những "đồng nghiệp" tỷ phú.
Đến nay, đã có hơn 70 tỷ phú Mỹ tham gia chiến dịch "cho đi" này. Những món tiền trị giá hơn một nửa hoặc gần như trọn vẹn tài sản của những doanh nhân vĩ đại lần lượt được hiến tặng vì mục đích tiến bộ xã hội. Thế nhưng, khi bước chân sang Trung Quốc - quốc gia đông dân nhất thế giới với hàng loạt hiện tượng "siêu giàu" đang nổi lên, công cuộc thuyết phục của hai người đàn ông huyền thoại này lại không được dễ dàng như thế. Bởi không phải tỷ phú Trung Quốc nào được mời tham dự “buổi tiệc lớn" của hai ông cũng sẵn sàng hay tỏ ra hào hứng với lời mời. "Sợ bị xin tiền" - đó là bình luận phổ biến nhất trên báo chí khi tường thuật lại cuộc thuyết phục chưa thành của Bill Gates và Warren Buffet tại Trung Quốc.
Ở các nước phát triển, các hoạt động văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế, môi sinh, dân sinh... chỉ dùng một phần từ ngân sách quốc gia. Một phần không nhỏ họ dùng nguồn quỹ vận động từ các doanh nhân hiến tặng. Vua thép Andrevv Carnegie đã gây xôn xao thế giới khi tuyên bố: "Cái chết trong sự giàu có là một cái chết đáng hổ thẹn" và để minh chứng cho việc này, ông đã hiến 90% tài sản của mình. Điều này cùng với truyền thống làm từ thiện lâu nay của các tỷ phú Mỹ, đã làm thay đổi cái nhìn về cách xài tiền, định nghĩa lại sự giàu có và góp phần hình thành nền văn hóa người giàu của nước Mỹ nói riêng và thế giới văn minh nói chung.
Do đó, "doanh nhân" là một từ cao quý và rất đẹp. Một người không thể được gọi là doanh nhân nếu không có văn hóa và làm ăn không có văn hóa. Phải có văn hóa mới phân biệt được một doanh nhân với "trọc phú" hay "con buôn". (Cũng như những người có học hàm, học vị cũng chưa chắc là đã có giáo dục, nhiều người không có học hàm, học vị gì cả nhưng lại rất có giáo dục). Văn hóa ở đây được hiểu như là "hệ điều hành" của con người, nó chi phối toàn bộ suy nghĩ và hành động của con người, của doanh nghiệp, của cả nền kinh thương.
Một doanh nhân văn hóa trước hết phải là một con người có văn hóa: Có một cái đầu đã được khai phóng để có khả năng minh định được ai là ai, cái gì là cái gì, mình là ai...., biết sống ở trên đời này vì cái gì...; có một trái tim giàu lòng trắc ẩn, biết rung động trước cái đẹp (nhất cái đẹp vô hình, cái đẹp không nhìn thấy và không sờ thấy), biết thổn thức trước nỗi đau của đồng loại, biết phẫn nộ trước cái sai, cái xấu và cái ác. Một trong biểu hiện của con người văn hóa là hành xử tín thực, tức là, nói những gì mà mình thực sự nghĩ và thực sự làm những gì mình nói ; đó là, luôn biết là mình biết cái gì và đặc biệt là biết rõ cái mà mình không biết để tránh đặt mình vào tình trạng ấu trĩ, vô minh mà mình lại không hề biết. Một doanh nhân có văn hóa hay không sẽ biểu hiện rõ nhất ở cách họ kiếm tiền và dùng tiền, như đã bàn ở trên.
Nhiều doanh nhân than thở rằng: trước một bối cảnh xã hội còn ngổn ngang và trong một nền kinh thương còn nhiều khó khăn và đầy bất trắc, nếu làm ăn nghiêm túc, có văn hóa thì khó có thể tồn tại được. Nhưng một câu hỏi đặt ra: Doanh nhân muốn làm ra xã hội hay muốn xã hội làm ra mình? Bởi những người làm doanh nhân là những người làm lãnh đạo, chịu trách nhiệm dẫn dắt cả một cộng đồng, một nền kinh thương sau lưng mình. Và khi làm lãnh đạo thì họ sẽ phải chọn giữa một trong hai con đường: Một là: Hãy để xã hội nhào nặn họ, tạo ra họ, xã hội ra sao thì họ sẽ như vậy, xã hội xuống cấp họ cũng xuống cấp theo.... Hai là: Họ phải góp phần tạo ra xã hội này và làm cho nó tốt đẹp lên, tất nhiên là bằng sản phẩm, dịch vụ của mình, và xa hơn là bằng việc "làm người" của mình trong công việc quản lý và kinh doanh hàng ngày.
Điều này rõ ràng là khó, nhưng nếu "ai cũng chọn việc nhẹ nhàng" thì "gian khổ biết nhường phần ai". Để xã hội tốt lên, mỗi người sẽ tự gánh vác cái phần trách nhiệm của mình, khi ai cũng làm vậy cả thì xã hội sẽ tốt lên. Tất cả những xã hội văn minh, những nền kinh thương văn minh, những con người văn minh và những doanh nhân văn minh đều hiểu và làm như vậy cả.
Những doanh nhân có tài năng, có bản lĩnh, có văn hóa thì sẽ biết cách giữ được mình. Họ không những không bị xã hội cuốn đi, mà còn góp phần phát triển, cải tạo xã hội thông qua công việc làm ăn, làm người, cũng như cuộc sống hàng ngày của họ. Trong dòng chảy cuồn cuộn và khắc nghiệt của nền kinh thương, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy chân dung của những doanh nhân thành công, thậm chí là thành công lớn - bằng những cách đàng hoàng và tử tế, bằng việc không ngừng phụng sự xã hội.
--- ebooks by JarvisBooks.org