Đúng Việc

Lượt đọc: 571 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sử gia hay sử nô?

Trong số tất cả những người được xem là có hiểu biết , sử gia thường là người mà sự hiểu biết của họ được xã hội quan tâm đặc biệt. Vì lịch sử được ghi lại ra sao, được truyền lại cho đời sau thế nào, tất cả đều phụ thuộc vào góc nhìn và ngòi bút của họ. Thành ra, việc một người chép sử hay người nghiên cứu lịch sử (có thể gọi chung ở đây là sử gia) có thực sự làm đúng việc của họ hay không cũng thường được người đời đem ra "mổ xẻ".

"Sử gia" khác "sử nô" ra sao? Câu chuyện "Thôi Trữ giết vua" sau đây có lẽ sẽ là câu trả lời dễ hiểu nhất cho thắc mắc đó:

Thời Xuân Thu, tướng quốc nước Tề tên là Thôi Trữ. Thôi Trữ sau khi giết vua Tề là Tề Trang Công để đoạt quyền lực về tay mình đã cho gọi quan chép sử khi đó là Thái sử Bá đến và ra lệnh: "Nhà ngươi phải viết rằng tiên vương chết vì bệnh nặng".

Thái sử Bá lẳng lặng đưa cho Thôi Trữ bản sử mà ông đã viết xong. Thôi Trữ mở ra, thấy trong đó viết: "Tháng năm mùa hạ, Thôi Trữ giết vua", bèn đùng đùng nổi giận: "Ông phải viết khác đi, nếu không tôi sẽ giết ông!" Thái sử Bá lắc đầu: "Bổn phận của Thái sử là viết đúng sự thật". Thôi Trữ liền chém đầu Thái sử Bá.

Thái sử Trọng là em trai Thái sử Bá, sau khi anh bị giết, được bổ nhiệm thay chức vụ của anh. Thôi Trữ kinh ngạc vì thấy Trọng vẫn viết đúng như anh trai mình, liền rít lên:

Ông không biết Thái sử Bá đã bị chém hay sao?

Trọng đáp:

Thái sử chỉ sợ viết không trung thực chứ không sợ chết.

Thôi Trữ lại chém Thái sử Trọng.

Thái sử Thúc, em trai Thái sử Bá và Thái sử Trọng được vào thay. Ông cũng chép đúng như hai anh của mình và lại bị chém. Thái sử Quý, em út của ba Thái sử trên vào thay, vẫn viết: "Thôi Trữ giết vua". Viết xong, ông nói với Thôi Trữ:

Ông càng giết người thì càng chứng tỏ sự tàn bạo. Nếu tôi không viết thì người khác sẽ viết và thiên hạ cũng biết. Ông có thể giết chết Thái sử nhưng không thể giết chết được sự thật.

Thôi Trữ nghe xong lắc đầu, thở dài, không dám giết tiếp.

Thứ phân biệt "sử gia" với "sử nô", chính là sự thật. Lịch sử là sự thật của quá khứ. Sự thật có phải là thứ mà họ yêu quý nhất, coi trọng nhất trong việc làm nghề của mình không? Họ có khát khao đi tìm sự thật không, hay vì khát khao những thứ khác mà sẵn sàng bẻ cong ngòi bút, phản bội lại lý tưởng của nghề (đạo nghề), của mình (đạo sống).

Nhưng ngay cả khi họ có khát khao đó, thì việc xác định đâu là sự thật cũng không hề dễ. Vì có một thực tế là người chiến thắng hay người nắm quyền lực thường là người xác lập quyền viết sử và chọn những người viết sử theo ý họ. Làm sao để tránh khỏi những thiên kiến về “bên thắng - bên thua", không bị chi phối bởi quyền lực, bởi tiền bạc và bởi những yếu tố cảm tính khác? Làm sao để trong lịch sử không có "địch" và "ta", làm sao để ta không đứng về bên nào (mà chỉ đứng về phía sự thật) khi viết sử, nghiên cứu sử, dạy sử và học sử? Làm sao để thực sự là người đưa xã hội đến gần với sự thật nhất chứ không phải là một ông "tuyên huấn lịch sử", hay một ông "thợ nhào nặn lịch sử"? Bên cạnh một "trái tim nóng" (cái dũng, niềm khát khao), người viết sử, nghiên cứu lịch sử sẽ còn phải cần đến một "cái đầu sáng" (năng lực minh định) để có thể làm đúng việc của mình.

Sử ký Tư Mã Thiên - kiệt tác lịch sử được người Trung Quốc xem như báu vật của mình đã trở thành một trong những quyển sử có tiếng nhất và có giá trị của nhân loại cũng bởi nhờ tính khách quan, trung thực mà nó mang trong mình. Tác giả của nó - Tư Mã Thiên, đã luôn giữ được một thái độ khách quan, trung thực cần thiết. Ông đã dám phê phán cả vị vua đương thời của mình, bênh vực lẽ phải cho kẻ đối địch, phần nào mà có nghi vấn, chưa chắc chắn thì ghi rõ là có nghi vấn, phần nào có nhiều giả thiết khác nhau thì đưa vào tất cả những giả thiết ấy. Tất cả những trang viết ấy đều có thể khiến Tư Mã Thiên phải trả giá bằng mạng sống của mình, nhưng ông vẫn đặt nó nhẹ hơn lý tưởng theo đuổi chân lý và sự thật của mình. Ở góc độ nào đó, ông cũng là con người tự do khi làm công việc viết sử, khi làm nghề sử gia của mình.

Nhưng có lần tôi trộm nghĩ: "Người như Tư Mã Thiên không hiếm. Ông vua như vua của Tư Mã Thiên mới hiếm kìa. Nếu ông vua ấy đem Tư Mã Thiên ra giết phắt đi hay là đốt hết sách của ông ấy thì liệu ngày nay có ai biết đến cuốn Sử ký ấy không?"

Dẫu trộm nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn tin rằng cũng như trong câu chuyện "Thôi Trữ giết vua", Tư Mã Thiên này chết đi thì sẽ tiếp tục có những Tư Mã Thiên khác. Vì đi tìm sự thật vẫn luôn là khát khao ngàn đời nay của nhân loại. Không gì có thể giết chết được sự thật. Không ai có thể thay đổi được sự thật, người ta chỉ có thể bóp méo nó thôi.

Không phải chỉ có những người làm nghề phản ánh quá khứ như sử gia mới cần đến sự tín thực. Với những người mà công việc của họ thiên về chuyện phản ánh hiện tại và dự đoán, sáng tạo tương lai như những nhà nghiên cứu khoa học, câu chuyện trung thành với sự thật cũng là câu chuyện chưa bao giờ cũ.

Trong lời mở đầu của ấn phẩm Bàn về nhà nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ có đoạn: "Tổ chức nghiên cứu khoa học, cũng giống như các lĩnh vực hoạt động khác, cần phải được xây dựng trên nền tảng của lòng tin. Các nhà khoa học tin rằng những kết quả nghiên cứu của những người khác là đáng tin cậy. Còn xã hội tin rằng kết quả của những nhà khoa học là sự phản ánh nỗ lực trung thực của họ để mô tả thế giới một cách chính xác và không thiên kiến".

Cũng như các sử gia, công việc của các nhà nghiên cứu khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học ứng dụng...) là mô tả lại thế giới cho xã hội. Trong bối cảnh thế giới ngày càng trở nên hỗn loạn, thông tin (data) thì rất nhiều nhưng những góc nhìn (insights) thực sự hữu ích thì lại hiếm hoi, sự trung thực, tính khách quan của các nhà nghiên cứu trong công việc lại càng trở nên quan trọng. Chưa kể là kết quả khám phá của một nghiên cứu này lại có thể là thông tin đầu vào của một nghiên cứu khác. Do đó, nếu một nhà nghiên cứu lạc lối, anh ta có thể dẫn cả cộng đồng nghiên cứu lạc lối theo, và hệ lụy xa hơn là những gì xã hội nhận được chỉ là những góc nhìn lệch lạc.

Sự lạc lối đó sẽ xảy ra khi cán cân lợi ích cá nhân và động lực xã hội của nhà nghiên cứu bị mất thăng bằng. Động lực xã hội, như đã đề cập ở trên, là niềm hạnh phúc khi khám phá ra một tri thức mới, làm tăng thêm sự hiểu biết của xã hội về một vấn đề. Còn động lực cá nhân cũng muôn hình vạn trạng, có thể là danh tiếng của bản thân, là những lợi ích về tài chính, địa vị... mà nhà nghiên cứu sẽ nhận được nếu chịu lèo lái góc nhìn của mình theo một sự sai khiến nào đó.

Chẳng hạn, cũng trong tác phẩm Bàn về nhà nghiên cứu khoa học nêu trên, phần về "xung đột lợi ích" có đoạn: "Đôi khi các lợi ích của nhà nghiên cứu xung đột với nhau. Chẳng hạn như một nhà nghiên cứu có lợi ích tài chính ở một công ty thì những kết quả nghiên cứu nào của anh ta có ảnh hưởng đến tương lai của công ty đó sẽ bị ảnh hưởng (ví dụ anh ta được giao nhiệm vụ thẩm định hiệu quả của một sản phẩm mới được phát triển bởi một công ty nhưng đồng thời có cổ phần trong chính công ty đó). Hay anh ta nhận được một bản thảo, một lời đề nghị đánh giá một vấn đề theo những gì mà người ta đã soạn sẵn cho anh ta. Đó đều là những tình huống khó khăn đòi hỏi sự đánh đổi và những lựa chọn cứng rắn".

Do đó, để làm đúng việc của mình, nhà nghiên cứu cần có cả hai thứ: tự do học thuật và nghĩa vụ học thuật. Anh ta được quyền tự do lựa chọn lĩnh vực nghiên cứu, đề tài nghiên cứu của mình, tự do kết nối với những nguồn thông tin cần thiết cho nghiên cứu của mình, tự do công bố kết quả nghiên cứu của mình. Và ngược lại, anh ta phải thực hiện nghĩa vụ học thuật của mình là nói lên sự thật (hay ít nhất là thứ sự thật mà anh ta đã nỗ lực hết sức để tìm hiểu, để trình bày nó một cách khách quan nhất có thể). Khi đó, nhà nghiên cứu sẽ thực sự là những người theo đuổi chân lý và sự thật, chứ không phải là người "múa minh họa", người "nhào nặn kết quả" sao cho "vừa vặn" với thiên kiến của bản thân hay một chính sách, một lập luận, một động cơ đã được bày sẵn. Nói cách khác, chỉ khi liên tục "phản tư bản thân", nhà nghiên cứu mới có thể thực hiện được nghĩa vụ "phản tỉnh xã hội" của một người hiểu biết. Đó là hai mệnh đề luôn đi cùng nhau, không tách rời nhau trong công việc của họ.

Nhưng một khi đã là "một thành viên của một cộng đồng được xây dựng trên những lý tưởng về tín thực và tự do, nơi mà sự chăm chỉ và thành tựu công việc là những điều được trân trọng nhất", đó không chỉ là thách thức, là nghĩa vụ. Đó còn là niềm hạnh phúc riêng của những người hiểu biết trên hành trình khám phá chân lý của mình.

« Lùi
Tiến »