Cuộc đời đâu có tặng quà.
*Jacques BREL
Chú Thích
(1929-1978): nhạc sĩ, nhà thơ, đạo diễn người Bỉ sáng tác bằng tiếng Pháp.
1.
Đầu ong ong. Tim đập thình thịch và co thắt. Giấc ngủ không yên bỗng nhiên tan nát.
Tiếng cửa ra vào đóng sập lại khiến Gaspard giật mình và bứt anh ra khỏi cơn gà gật. Anh mất nhiều giây mới trồi lên được. Thoạt tiên, anh không biết mình đang ở đâu, rồi anh nhận ra thực tại đáng buồn: anh đã ngủ thiếp đi trên chiếc ghế bành Eames cũ kỹ của Sean Lorenz trong tư thế nằm nghiêng co ro. Chiếc áo phông anh mặc ướt sũng mồ hôi và dính chặt vào lớp da bọc ghế còn mặt anh tì vào tay vịn ghế. Anh khó nhọc đứng lên, dụi mắt, xoa xoa gáy và hai mạng sườn. Cảm giác đầu đau họng rát đang vô cùng tàn bạo: đầu đau như búa bổ, miệng đắng ngắt như vừa nếm xi măng, cảm giác nôn nao, các khớp xương cùn nhụt. Tình huống quen thuộc mà lần nào sau đó anh cũng thề sống thề chết sẽ không đụng đến một giọt rượu nào nữa. Nhưng anh biết quyết định này không được dứt khoát và ngay buổi trưa chắc anh sẽ muốn uống một ly.
Liếc nhìn đồng hồ đeo tay: 8 giờ sáng; liếc nhìn qua khung cửa kính rộng: bầu trời nhợt nhạt, nhưng không có mưa. Anh đoán Madeline vừa ra ngoài và hơi ngượng vì cô đã nhìn thấy anh trong tình trạng này. Anh lê lết tới tận phòng tắm, đứng dưới vòi sen mười lăm phút, uống chừng nửa lít nước âm ấm chảy trực tiếp từ vòi. Anh vớ lấy một chiếc khăn tắm quấn quanh hông rồi vừa bước ra khỏi khoang tắm vừa day day hai thái dương.
Con đau nửa đầu đang nặng thêm, ngoan cố cào cấu xương sọ anh. Anh cần gấp hai viên ibuprofen. Anh lục lọi trong túi du lịch, nhưng không tìm thấy thứ gì ít nhiều giống với một loại thuốc. Sau giây lát ngập ngừng, anh leo lên gác nơi Madeline ở, tia thấy túi đựng đồ cá nhân của cô rồi bắt tay vào tìm kiếm thứ anh cần. Thật may là một số người được sắp đặt dành cho những người khác.
Sau khi uống hai viên giảm đau Advil, anh về phòng mình và xỏ vào người bộ quần áo hôm qua trước khi quay ra bếp tìm một gói cà phê đen. Quả là có một bình pha cà phê nhưng lại chẳng có gì để tiếp liệu cho nó. Anh đã mở tất cả các ngăn tủ bếp nhưng vô ích, chẳng có gói cà phê nào chờ sẵn anh cả, nên rốt cuộc anh đành cam chịu chuẩn bị một bát xúp gà rồi ra sân hiên ngồi ăn. Thoạt tiên, không khí mát lành khiến anh cảm thấy dễ chịu trước khi buộc anh phải rút lui vào phòng khách cho ấm áp. Ở đó anh đã lục trong kệ đĩa hát để tìm lại những đĩa nhạc mà Pauline đã nói với anh ngày hôm qua. Những đĩa nhạc Sean Lorenz nghe đi nghe lại suốt nhiều ngày trước khi ông qua đời.
Chiếc đĩa than đầu tiên là một tuyển tập mà bất cứ kệ đĩa hát cổ điển nào cũng ắt phải có: Bản Giao hưởng số 5 của Beethoven, chỉ huy dàn nhạc Carlos Kleiber. Trên mặt sau của vỏ đĩa, một nhà nghiên cứu âm nhạc nhắc lại ý chí đã khích lệ nhà soạn nhạc suốt cả cuộc đời “nắm bắt số phận nơi cuống họng”. Thực ra, Bản giao hưởng số 5 hoàn toàn được xoay chuyển theo hướng sự đối mặt của con người với số phận của mình. “Số phận đang gõ cửa như thế”, Beethoven thường nói để tượng trưng hóa hiệu quả của bốn nốt nhạc mở đầu bản giao hưởng của mình.
Bản ghi âm thứ hai đậm chất thập niên 1980: một hộp đựng hai chiếc đĩa than hiệu Máy hát Đức của Bản giao hưởng số 2 của Gustav Mahler, chỉ huy dàn nhạc Leonard Bernstein. Với các ngôi sao khách mời Barbara Hendricks và Christa Ludwig. Bản giao hưởng thứ hai mang tên “Phục sinh” của nhà soạn nhạc người Áo đối với Gaspard không mấy quen thuộc. Nhờ đọc tập giới thiệu nhỏ mà anh hiểu rằng đây là một tác phẩm tôn giáo, bấy giờ Mahler vừa mới cải đạo Cơ Đốc. Tác phẩm này ca ngợi những chủ đề về cuộc sống vĩnh hằng và sự hồi sinh của những xác chết. Những chú thích của tập giới thiệu kia khép lại bằng lời của Leonard Bernstein: “Âm nhạc của Mahler gợi lên quá đỗi chân thực những hoang mang của chúng ta liên quan tới sự sống và cái chết. Thứ âm nhạc này quá đỗi chân thực, nó nói lên những điều thật đáng sợ khi phải nghe.”
Những điều thật đáng sợ khi phải nghe…
Gaspard gãi đầu. Tại sao Lorenz, người cực kỳ hâm mộ thể loại jazz và âm nhạc tối giản, lúc cuối đời lại đam mê hai bản giao hưởng đồ sộ này nhỉ?
Anh đổ phần còn lại của thứ nước dùng âm ấm kia vào bồn rửa rồi ngồi vào bàn phòng khách với quyển sổ gáy xoắn và cây bút để suy nghĩ về việc viết vở kịch của mình. Anh khó lòng tập trung nổi. Anh đã trải qua một đêm kỳ lạ, hầu như lơ lửng, bồng bềnh trôi nổi trong những giấc mơ giữa những cảnh sắc tựa ảo giác được xăm trên cơ thể bị trói chặt của cô hàng xóm xinh đẹp. Một hình ảnh không bạo lực, nhưng khiến người ta phát lo.
Trong khoảng hai chục phút, anh khiến được bản thân tin rằng mình sắp làm việc, nhưng ảo tưởng này không kéo dài bao lâu. Anh vẫn luôn có cảm giác là bức chân dung khổ lớn của Lorenz đang nhìn anh, vẫy gọi anh, phán xét anh.
Sau một hồi, không chịu nổi nữa, Gaspard đứng dậy rồi ra đứng trước bức tường có treo ảnh. Lúc này anh đã hiểu ra rằng thứ khiến anh thấy phiền không phải là bức ảnh chụp họa sĩ. Mà là những bức ảnh chụp cậu nhóc.
Cậu nhóc đã qua đời… thế mà lại đầy ắp niềm vui và sức sống trên những bức ảnh tráng bạc.
Khỉ thật! Chính cô nàng Madeline Greene kia khi chia sẻ với anh về tình trạng bất ổn của mình đã khiến nó lây cả sang anh!
Anh thở dài, đoạn buông mình xuống sofa. Trong cái chai để trên mặt bàn thấp trước mặt anh, ánh phản chiếu sắc hổ phách của rượu whisky đã nháy mắt hòng quyến rũ anh, nhưng anh cưỡng lại cám dỗ. Anh chăm chú quan sát suốt nhiều phút liền một bức ảnh chụp lấy ngay trong đó người ta nhìn thấy cậu nhóc Julian đang cưỡi lên một con ngựa gỗ kiểu cổ, oai vệ nắm lấy thanh ngang. Đối diện với vòng đua ngựa gỗ, người ta nhận thấy bóng dáng ân cần của Sean Lorenz, đôi mắt dõi nhìn con trai mình. Gaspard lục túi quần jean để rút từ trong đó ra chiếc ví. Trong ngăn nhỏ của phần nắp lật, anh tìm thấy một bức ảnh cũ đã phai màu mà anh đã không còn nhìn ngắm từ nhiều năm qua: anh lúc ba tuổi, cùng với cha anh, trên một trong những con vật của vòng quay Garnier ở vườn Luxembourg. Bức ảnh được chụp năm 1977. Giữa hai bức ảnh này có ngót bốn chục năm chia cách. Tuy không cùng một thời điểm, nhưng vẫn là vòng quay ngựa gỗ đó, vẫn là thứ ánh sáng đó lấp lánh trong mắt những cậu bé và vẫn niềm hãnh diện đó nhuốm trong ánh mắt những người cha.
2.
Madeline đỗ chiếc xe tay ga ở góc đại lộ Montparnasse giao phố Sèvres. Còn chưa đến 9 giờ sáng, thế mà bầu không khí đã tràn ngập một dạng hơi ẩm dính dáp. Khi cởi găng tay và khăn quàng ra, cô mới nhận thấy mình đang mướt mồ hôi.
Cứ nói ta đang ở giữa mùa đông đi…
Nhưng buổi sáng nay có điều gì đó còn đáng lo ngại hơn là sự nóng lên của khí hậu: không tài nào nhận ra khu phố nữa. Cuộc biểu tình hôm qua đã tàn phá và hủy hoại mọi thứ, những nhà chờ xe buýt, những quầy kính cửa hàng, những biển báo giao thông. Trên vỉa hè và lòng đường là vô số mảnh kính vỡ, gạch lát, những mảng nhựa đường bị bửa ra. Một quang cảnh chiến tranh, siêu thực, mà cô không bao giờ nghĩ lại trông thấy tại Paris. Và, khắp nơi, hàng trăm lời lẽ thể hiện cơn thịnh nộ khiến mọi thứ biến dạng: Mọi người đều ghét cảnh sát/ Tao tư duy nên tao đập vỡ/ Từ tro tàn, mọi thứ trở nên khả dĩ/ Tư bản giãy chết/ Chiến thắng nhờ hỗn loạn/ Bọn tao ỉa vào luật lệ của tụi bay.
Thái độ của những người qua đường khiến cô chưng hửng. Một vài người cũng giống như cô, sững sờ như bị thôi miên, những người khác thì dửng dưng, những người khác nữa thì mỉm cười giễu cợt, dừng chân để chụp những bức ảnh tự sướng. Ngay đến bức tường cổng chính của Viện Thanh niên Khiếm thị Quốc gia cũng bị hư hại và viết bậy những câu hằn học. Cảnh tượng tan hoang này khiến cô muốn khóc. Trong đất nước này đang xảy ra điều gì đó mà cô không còn hiểu nổi nữa.
Khi tới trước trung tâm y tế nơi cô có cuộc hẹn, Madeline phát hiện ra rằng những ô cửa kính của nó cũng đã bị vỡ tan tành. Một nam công nhân đang thu dọn một tấm gỗ kê hàng trước đó vốn được dùng làm đạn phóng nhằm phá phách mặt tiền nhà. Trong khi Madeline đang lưỡng lự muốn thoái lui, người đàn ông đã hiểu ra sự bối rối của cô nên chỉ cho cô thấy một tấm biển chỉ dẫn tạm thời ghi rõ rằng cơ sở vẫn mở cửa bất chấp những sự cố vừa qua.
Cô bước vào đại sảnh rồi xưng tên mình ở quầy lễ tân. Vì đến sớm để lấy máu, thậm chí cô đã tránh được phòng chờ và chỉ mất ba phút việc lấy máu đã xong xuôi: kim tiêm, ống nghiệm chuyển sang màu đỏ, một mảnh bông băng ở hõm cánh tay. Rồi người ta đề nghị cô đi thang máy lên tầng ba chuyên khoa Siêu âm và chẩn đoán hình ảnh.
Trong khi người ta chụp chiếu cho Madeline, cô nhớ tới cuộc trò chuyện sôi nổi tối qua cùng Coutances. Tuy nhà soạn kịch đã ghi nhận đúng, nhưng anh ta đã nhầm khi nhẫn nhục cam chịu và theo đuổi hư vô chủ nghĩa. Bởi sẽ luôn có những người phản kháng, chiến đấu chống lại bạo lực xã hội và không cam chịu những thảm họa đã được báo trước. Và con cô sẽ là một trong số đó.
Rốt cuộc, nói như thế là hơi vội, vì cô còn chưa cấn thai.
Nhưng bốn tháng trước, trong đợt đi nghỉ ở Tây Ban Nha, cô đã mạnh dạn vượt qua chính mình và tìm tới một bệnh viện tư chuyên điều trị hiếm muộn tại Madrid. Chẳng bao lâu nữa cô sẽ bước sang tuổi bốn mươi mà tìm mỏi mắt vẫn không thấy bóng dáng mối quan hệ nghiêm túc nào hết. Ngay cả khi những tổn thất còn có thể tệ hại hơn, không thể chối cãi là cơ thể cô đang già đi. Và nhất là, trái tim cô chẳng còn sức lực để yêu nữa.
Nếu một ngày nào đó Madeline muốn sinh con, cô chỉ còn một quân bài duy nhất để chơi. Vậy nên cô đã điền một bộ hồ sơ, gặp một bác sĩ, thực hiện những phân tích để tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm. Cụ thể mà nói, điều này có nghĩa là người ta sẽ chiết trứng của cô rồi thụ tinh cho chúng bằng tinh trùng của một người hiến vô danh. Dĩ nhiên đây không phải điều mà cô hằng mơ ước, nhưng cô đã trung thành với kế hoạch này bằng toàn bộ sức lực và niềm hào hứng. Để có một đứa con, cô sẽ chịu đựng một khổ hình thường nhật. Trước tiên là một đợt điều trị hoóc môn bắt buộc: mỗi tối, cô tự tiêm vào bụng dưới mình một liều hoóc môn nhằm kích thích nang trứng. Rồi cứ hai ngày một lần, cô đi lấy máu và siêu âm để kiểm tra sự tiến triển về số lượng và kích thước các nang. Rồi cô phải tự mình thông báo kết quả cho người của bệnh viện bên Tây Ban Nha qua điện thoại.
Đợt điều trị này khiến cô kiệt sức. Bụng cô trướng lên, ngực căng, hai chân nặng đến cả tấn và cơn đau nửa đầu cùng tình trạng dễ nổi cáu không mấy khi cho phép cô nghỉ ngơi.
Căn phòng tối om. Trong khi bác sĩ di chuyển đầu dò siêu âm trong phần bụng dưới của cô, Madeline nhắm mắt lại. Cô tự thuyết phục bản thân rằng mình đã quyết định đúng. Cô sắp có một đứa con để neo đậu lại cuộc đời này. Suốt một thời gian quá dài, trong quá trình làm nghề, cô đã điều tra về những cái chết, nhưng những người quá cố luôn kéo bạn vào bóng tối của họ. Rồi cô đã dâng hiến mọi thứ vì tình yêu của một người đàn ông. Nhưng tình yêu của con người vốn nhiều biến động, mong manh và dễ đổi thay. Để tự tiếp thêm can đảm cho mình, cô nhớ lại những lời vĩnh biệt của một người khá quan trọng với cô: Danny Doyle, mối tình đầu của cô thời trung học, sau đó trở thành một trong những ông trùm đạo tặc của Manchester, đã đi theo một quỹ đạo đối lập với quỹ đạo của cô. Danny Doyle mà cô đã đương đầu, sau khi trở thành cảnh sát, nhưng cũng là người không bao giờ ngừng dõi theo cô từ xa.
Tôi biết nỗi sợ đã hình thành trong em. Tôi biết hằng đêm em đều ngủ không yên giấc, chiêm bao đầy những bóng ma, xác chết và quỷ dữ. Tôi biết quyết tâm của em, nhưng cũng biết phần bóng tối và phần tự hủy hoại bản thân mà em mang trong mình. Em đã sẵn có nó khi chúng ta gặp nhau ở trường trung học và diễn biến mọi việc chỉ làm khuếch đại nó lên. Em đang bước đi bên cạnh cuộc đời mình, Maddie. Em cần phải ra khỏi vòng xoáy trôn ốc này trước khi ngã xuống một vực thẳm nơi em sẽ không còn trở lên được nữa. Tôi không muốn em sống cuộc sống như thế này. Tôi không muốn em đi theo con đường nơi tôi đã lạc lối: con đường tiến sâu vào bóng tối, bạo lực, đau khổ và chết chóc…
Cuộc đời không ban tặng nhiều cơ hội. Những cơ hội mất đi rồi sẽ mãi mãi mất đi. Cuộc đời đâu có tặng quà. Cuộc đời là một trục lăn, một bạo chúa cai trị vương quốc của riêng mình bằng cách cho nỗi khiếp sợ ngự trị ở đó nhờ vào cánh tay thép: Thời gian. Và cuối cùng Thời gian luôn chiến thắng. Thời gian là kẻ hủy diệt vĩ đại nhất trong lịch sử. Kẻ hủy diệt mà không cảnh sát nào có thể giam nhốt lại.
3.
Gaspard đứng dậy khỏi sofa. Một chiếc điện thoại di động – dĩ nhiên là do Madeline để quên – vừa bắt đầu rung lên trên quầy bếp. Vì luôn từ chối sở hữu một trong những cái máy tương tự thế này, anh nhìn nó trong giây lát với vẻ hồ nghi, nhưng dẫu sao anh vẫn quyết định cầm chiếc điện thoại lên. Là Madeline. Anh đã lên tiếng để trả lời cô, nhưng lại sơ ý làm gián đoạn cuộc trò chuyện vì sượt qua màn hình nhầm chỗ.
Anh buột ra một câu chửi thề rồi nhét điện thoại vào túi quần.
Anh thở dài. Cơn đau nửa đầu của anh đã dịu bớt nhưng tâm trí anh vẫn còn xáo trộn. Thêm cả nỗi đau khổ khi phải trì hoãn nữa: anh cần cà phê! Và không chỉ một tách.
Anh vớ lấy một trong những chai vang thượng thặng đã mua hôm qua rồi rời khỏi nhà để đi gặp cô hàng xóm dễ ưa.
Lần này, Pauline Delatour trả lời ngay từ hồi chuông đầu tiên. Như thể bấy giờ đang là mùa xuân, cô lại mặc một bộ đồ mỏng nhẹ: quần soóc jean tua rua và áo sơ mi kiểu lính chất liệu kaki phanh cúc để lộ áo ba lỗ mặc trong.
– Một chai Pinot Noir đổi lấy một ly đúp expresso nhé? anh đề xuất đoạn giơ cái chai lên lắc lắc.
Cô mỉm cười và khoát tay mời anh vào.
4.
Sau khi thăm khám, Madeline đã tìm ra nơi nương náu tại phố Faubourg-Saint-Honoré trong không gian tiện nghi khiến người ta yên lòng của nhà hàng Caravella, nhà hàng Ý mà Bernard Benedick đã giới thiệu cho cô. Lấy máu thì cần nhịn ăn nên từ hôm qua tới giờ cô vẫn chưa có gì bỏ bụng và đầu cô bắt đầu quay quay. Cô gọi một tách cà phê sữa cùng vài chiếc bánh quy rồi toan gọi cho bệnh viện chuyên điều trị hiếm muộn thì bỗng nhận ra là mình đã bỏ quên điện thoại ở phố Cherche-Midi.
Chỉ còn thiếu mỗi nước đó thôi! cô cáu kỉnh đập tay xuống bàn.
– Cô đang lo lắng chuyện gì chăng? người phục vụ hỏi trong lúc mang bữa sáng ra cho cô.
Cô nhận ra Grégory, anh chàng chủ quán trẻ tuổi mà hôm qua ông chủ phòng tranh đã giới thiệu với cô.
– Tôi để quên điện thoại di động mà lại đang cần gọi một cuộc quan trọng.
– Cô dùng tạm điện thoại của tôi nhé? anh chàng đề nghị rồi rút từ túi quần ra một chiếc điện thoại có phần ốp lưng in hình cờ của đội AC Milan.
– Cảm ơn, anh thật tử tế!
Cô gọi cho bệnh viện tại Madrid rồi yêu cầu được nói chuyện với Louisa. Ở bộ phận điều phối của bệnh viện, cô đã ăn ý với nữ y tá có anh trai cũng làm cảnh sát này. Cô đã thuộc giờ giấc làm việc của Louisa, và nếu cần thì có thể gọi trực tiếp vào điện thoại di động của cô ấy để tránh việc một nửa xứ Castille biết về kích thước buồng trứng của cô. Louisa ghi lại kết quả rồi chuyển tới một bác sĩ, vị này sẽ đánh giá phản ứng của buồng trứng và nếu cần sẽ thay đổi liều lượng hoóc môn cần tiêm. Dĩ nhiên, còn lâu mới được như bác sĩ gia đình. Chúng ta đang trong một nền y khoa 2.0, được toàn cầu hóa, Uber hóa, giá hơi thấp và có phần buồn tẻ. Nhưng nếu cần phải vượt qua ngưỡng đó để có một đứa con thì cô vẫn sẵn lòng.
Madeline tranh thủ mượn luôn điện thoại của Grégory để gọi vào số của mình. May sao Coutances đã bắt máy:
– Gaspard à, anh đang ở đâu vậy? Anh có thể mang điện thoại đến cho tôi được không?
Anh chàng kịch tác gia lẩm bẩm vài câu không thể hiểu nổi rồi bỗng dưng đường truyền bị ngắt. Hiểu rằng cô có tiếp tục gọi cũng chẳng ích gì, Madeline đành nhắn một tin SMS: Anh có thể mang điện thoại đến cho tôi được không? Nếu được, hẹn anh trưa nay tại nhà hàng Le Grand Café trên phố Delambre. Cảm ơn anh. Maddie.
Vì tách cà phê của cô đã nguội, Madeline gọi một tách khác rồi uống liền một hơi cạn sạch. Đêm qua cô ngủ rất chập chờn. Những bức tranh đẹp mê hồn của Lorenz đã giăng kín trong giấc ngủ của cô. Cả đêm, cô du hành trong cõi mộng với những chân trời rực rỡ sắc màu, những khu rừng nhục cảm với những dây leo sống động, những vách đá khiến người ta chóng mặt, những thành phố được quét qua bởi một làn gió nóng ran. Khi thức giấc, cô không thể nói liệu chuyến lang thang dài ấy giống với giấc mơ đẹp hay cơn ác mộng. Nhưng cô bắt đầu hiểu rằng mấu chốt tác phẩm của Sean Lorenz nằm chính trong tính hai mặt này.
Cô nhìn thấy Bernard Benedick đang mở cánh cửa nhôm cuốn ở vỉa hè đối diện. Cô gõ vào cửa kính quán cà phê để báo hiệu cho ông biết sự hiện diện của mình, và đúng như cô hy vọng, ông chủ phòng tranh liền lập tức tới gặp cô.
– Tôi chắc chắn sẽ gặp lại cô mà! ông đắc chí thốt lên, đoạn ngồi xuống ghế đối diện cô. Người ta không cưỡng nổi hội họa của Sean Lorenz, phải không nào?
Madeline đáp lại bằng một lời trách cứ:
– Thế mà ông chẳng nói cho tôi biết là con trai của Lorenz đã bị sát hại.
– Đúng thế, ông thừa nhận bằng giọng đều đều không cảm xúc, nhưng đó là bởi tôi ghét phải nhắc tới chuyện ấy. Julian là con trai đỡ đầu của tôi mà. Thảm kịch ấy đã hủy hoại tất cả chúng tôi.
– Chính xác thì đã xảy ra chuyện gì vậy?
– Mọi chuyện đều đã được viết ra trên các mặt báo hết rồi, ông nói khẽ.
– Vừa hay. Những gì được viết ra trên các mặt báo thường hiếm khi là sự thật.
Benedick tán thưởng lý lẽ này bằng một cái gật đầu.
– Để hiểu rõ sự việc hơn, ông thở dài, cần phải ngược dòng thời gian lâu thật lâu. Thậm chí là cực kỳ lâu đấy…
Ông giơ cao cánh tay để tới lượt mình cũng gọi một tách cà phê và tự tiếp thêm can đảm.
– Tôi đã giải thích với cô rồi: ngay sau khi gặp gỡ Sean, tôi đã huy động toàn bộ mạng lưới của riêng mình để giới thiệu và hé lộ tác phẩm của ông ấy với công chúng. Sean vốn có nhiều tham vọng và khao khát được gặp gỡ. Tôi đã giúp anh ấy liên hệ với những nhân vật hết sức khác biệt tại London, Berlin, Hong Kong… Nhưng có một nơi anh ấy không bao giờ muốn đặt chân tới: New York.
– Tôi không hiểu.
– Mỗi lần tôi đề nghị Sean gặp gỡ các nhà sưu tầm tại Manhattan, anh ấy đều lẩn tránh, Benedick giải thích. Điều này nghe thì có vẻ khó tin, nhưng từ năm 1992 đến cái năm 2014 bi thảm đó, Sean Lorenz chưa từng quay trở lại thành phố quê hương mình.
– Vẫn còn gia đình ông ấy ở đó chứ?
– Chỉ có mẹ anh ấy thôi, nhưng anh ấy đã đưa bà cụ tới Paris từ cuối thập niên 1990. Hồi đó bà cụ đã rất ốm yếu và ít lâu sau thì bà cụ mất.
Benedick nhúng một lát bánh *crostini vào tách cà phê của mình.
Chú Thích
Bánh mì dùng kèm phô mai và rau tùy chọn.
– Sau một thời gian, vì bị tôi gặng hỏi suốt, Sean đã không còn cách nào khác là hé lộ cho tôi biết vài mẩu sự thật.
– Chuyện này bắt nguồn từ những hoàn cảnh khiến ông ấy ra đi chăng? Madeline hỏi.
Ông chủ phòng tranh gật đầu xác nhận.
– Mùa thu năm 1992, sau “mùa hè tình yêu” của anh ấy với Pénélope, Sean còn lại một mình ở New York. Anh ấy suy sụp và không có mục đích nào khác ngoài việc tìm đường sang Paris để gặp lại cô gái kia. Điểm mấu chốt, đó là trong túi anh ấy không có lấy một xu. Để kiếm tiền mua vé máy bay, anh ấy bắt đầu phạm những vụ ăn cắp vặt với sự đồng lõa của LadyBird.
– Nhân tố nữ của nhóm “Thợ pháo hoa”, Madeline nhớ lại.
– Tên thật là Beatriz Muñoz. Đó là con gái một cặp vợ chồng dân nhập cư gốc Chile lao động cực nhọc trong các nhà máy khu Bắc Bronx. Một người đàn bà kỳ lạ, khép kín, hoang dại, gần như tự kỷ, bị giam trong hình thể một đô vật. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, cô ta yêu Sean và sẵn sàng gieo mình qua cửa sổ nếu anh ấy bảo cô ta làm vậy.
– Ông nghĩ là ông ấy đã lợi dụng điều này chăng?
– Thành thực mà nói, tôi không rõ. Sean là một thiên tài, vậy nên theo định nghĩa cũng là một kẻ rầy rà, một gã sống phức tạp, nhưng không thể nào là một gã tồi được. Anh ấy manh động, nóng nảy, ám ảnh nhiều thứ, nhưng tôi chưa từng thấy anh ấy khinh bỉ những kẻ yếu ớt nhất. Tôi nghĩ là, trong suốt những năm tháng ấy, vì không muốn Beatriz phải buồn lòng, Sean đã không cự tuyệt cô ta.
– Nhưng Pénélope đã khiến mọi chuyện đảo lộn.
– Chắc chắn rồi. Muñoz hẳn đã tuyệt vọng khi biết được kế hoạch tới Pháp của Sean, nhưng dẫu sao cô ta vẫn giúp anh ấy kiếm tiền bằng cách cướp các cửa hàng tạp hóa.
Con người cảnh sát trong Madeline lại thắng thế.
– Thế mà ông gọi là những “vụ ăn cắp vặt” ư? Với tôi đó là cướp có vũ trang đấy.
– Cô thôi đi! Vũ khí duy nhất của họ, đó là những khẩu súng phun nước và mặt nạ cao su hình Mario và Luigi!
Madeline không buông tha:
– Vũ khí có là đồ giả hay không thì một vụ cướp vũ trang vẫn cứ là một vụ cướp vũ trang, và kinh nghiệm cá nhân của tôi cho thấy mấy vụ này thường hiếm khi kết thúc có hậu.
– Bản thân tôi còn nghĩ rằng “chuyện này đã không kết thúc có hậu cho lắm” chỉ là một lối nói uyển ngữ, Benedick thừa nhận. Một buổi tối, tại Chinatown, một chủ tiệm tạp hóa đã không đang tâm để mình bị cướp. Ông ta đã rút từ sau quầy ra một khẩu súng rồi nã đạn. Trong khi Sean chạy thoát với số tiền cướp được, Beatriz bị trúng một phát đạn vào lưng rồi ngã gục trong cửa tiệm.
Madeline ngồi thụt sâu vào trong lòng ghế. Benedick tiếp tục bằng giọng cam chịu:
– Khi cảnh sát bắt giữ người phụ nữ Chile, họ liền có ngay một hồ sơ dày cả tấc để chống lại cô ta.
– Các video giám sát về những vụ cướp có vũ khí trước đó, cựu điều tra viên phỏng đoán.
– Đúng thế. Đó là cửa hàng thứ tư họ tấn công nội trong tháng đó. Những chiếc mặt nạ hình thợ sửa ống nước để ria mép của họ bị nhận diện trên mọi cuốn băng. Đó là thứ đã phản thùng họ thay vì bảo vệ danh tính cho họ. Rủi thay cho Beatriz Muñoz là cô ta từng bị bắt nhiều lần vì vụ vẽ graffiti. Cô ta có nhiều tiền án tiền sự. Đối với cảnh sát và ngài biện lý, đó là giải xổ số, và họ vui vẻ trao giải cho nhau thôi. Hệ thống tư pháp Mỹ là vậy đó: mạnh với những kẻ yếu, yếu với những kẻ mạnh.
– Bà ta đã không khai tên Sean trong các cuộc hỏi cung ư?
– Không đời nào. Người đàn bà bất hạnh đã bị tuyên án tám năm tù giam và chịu thêm bốn năm nữa vì mưu toan vượt ngục và những vụ bạo lực liên tiếp với các bạn tù.
– Sean chưa từng tự thú sao?
Benedick nở nụ cười bồn chồn.
– Beatriz bị bắt ngày hôm trước thì hôm sau ông ấy đã đáp một chuyến bay để tới Paris gặp Pénélope rồi. Quan điểm của Sean rất đơn giản: anh ấy không cảm thấy mình phải chịu ơn Beatriz, bởi lẽ anh ấy chưa từng đòi hỏi cô ta điều gì. Cô ta bao che cho anh ấy, nhưng đó là lựa chọn của bản thân cô ta.
– Vậy là ông ấy đã cắt đứt mọi liên hệ với bạn bè thuở nhỏ sao?
– Hoàn toàn.
– Và ông nghĩ rằng chính vì nguyên do này mà ông ấy không bao giờ muốn quay trở lại New York?
– Chuyện này có vẻ hiển nhiên mà, không phải sao? Anh ấy lờ mờ cảm thấy thành phố này đại diện cho một mối nguy hiểm. Và anh ấy đã đúng. Năm 2004, khi Beatriz Muñoz ra tù, cô ta đã trở thành một người kiệt quệ. Cả thể chất lẫn tinh thần. Cô ta đã làm hết việc vặt này đến việc vặt nọ và đã thử bắt đầu vẽ lại, nhưng cô ta không có mạng lưới, không có chủ phòng tranh, không có thị giá. Nói thật với cô, tuy không cho Sean biết chuyện này đâu, nhưng tôi đã mua một vài bức tranh của cô ta thông qua trung gian là một trung tâm bảo trợ xã hội của Harlem. Nếu cô muốn, tôi sẽ cho cô xem những bức tranh cô ta vẽ. Hội họa của cô ta thời kỳ sau khi ở tù ra tựa như xác ướp, mất hết sinh khí, thật đáng sợ.
– Bà ta biết Sean đã trở nên như thế nào rồi chứ?
Benedick nhún vai.
– Làm sao cô muốn sự thể khác đi được? Thời buổi bây giờ, chỉ cần gõ một cái tên trên công cụ tìm kiếm là đủ để khám phá ra phần lớn cuộc đời anh ấy. Beatriz biết phiên bản “giấy láng” của Lorenz: người họa sĩ thành công trở thành triệu phú, kết hôn với một người mẫu và là cha của một cậu nhóc đáng yêu. Và hình ảnh đó khiến cô ta phát điên.
– Chính xác thì đã xảy ra chuyện gì?
– Năm 2013, bên Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại MoMA đã liên hệ với Sean. Họ muốn năm sau đó sẽ tổ chức cuộc triển lãm lớn đầu tiên về sự nghiệp của anh ấy ở Mỹ. Sean có không muốn quay trở lại New York cũng vô ích, người ta đâu có từ chối MoMA bao giờ. Vậy nên tháng Mười hai năm 2014, anh ấy cùng vợ con bay sang New York để khai mạc triển lãm và trả lời vài cuộc phỏng vấn. Anh ấy dự định chỉ ở lại đó một tuần, nhưng thảm kịch đã diễn ra trong đúng khoảng thời gian ấy.
5.
Chỉ riêng mỗi Pauline Delatour cũng đã làm nên cả một buổi diễn chừng nào cô nỗ lực thể hiện vẻ gợi cảm trong từng động tác cử chỉ của bản thân: vén một lọn tóc ra sau tai, một động tác vắt chân, một cái đá lưỡi thật nhanh để liếm một giọt cà phê còn vương nơi khóe môi. Nhưng không điều gì ở cô lẳng lơ hay khêu gợi một cách thẳng thừng. Giống như một cô lính biên phòng thanh nhã, cô có một cách thức vui tươi để đánh thúc dục vọng gắn liền với một dạng ngợi ca sự sống và tuổi thanh xuân hoan hỉ của mình. Gaspard đã không buộc mình phải đáp lại sự bông lơn của cô, nhưng sau hai tách cà phê, anh đã lại hướng cuộc trò chuyện về điều duy nhất thực sự khiến anh quan tâm: Sean Lorenz. Và anh càng khó lòng kìm nén sự tò mò của mình hơn khi Pauline vừa thú nhận với anh rằng cô chính là người trông trẻ cho gia đình Lorenz trong chuyến đi của họ tới New York vào mùa đông năm 2014.
– Tôi đã trải nghiệm thảm kịch đó với tư cách người trong cuộc và hai năm sau, tôi vẫn còn gặp ác mộng về chuyện đó, cô tuyên bố. Quãng thời gian ấy, tôi thường trông nom Julian gần như suốt cả ngày. Sean bận từ sáng tới tối cho cuộc triển lãm ở MoMA. Pénélope thì vẫn duy trì nếp sống dễ chịu quen thuộc: shopping, làm móng, xông hơi…
– Họ đã ở đâu?
– Trong phòng khách sạn dạng căn hộ hạng sang tại Bridge Club, một khách sạn sang trọng thuộc khu TriBeCa.
Pauline mở cửa sổ bếp rồi ngồi lên bậu cửa trước khi châm một điếu thuốc.
– Cái ngày mọi chuyện diễn ra, Pénélope đã định đi mua sắm ở tiệm Dean et Deluca rồi ăn trưa tại ABC Kitchen, một nhà hàng gần Union Square. Đáng lẽ bà ta dẫn con trai theo cùng để mua quần áo cho cậu nhóc nhưng vào phút chót, bà ta lại hỏi xem tôi có thể trông Julian không.
Pauline rít một hơi thuốc. Trong vài giây, niềm vui sống của cô nhường chỗ cho một sự căng thẳng mà cô không tìm cách che giấu.
– Đó là ngày nghỉ của tôi. Vì đã có kế hoạch riêng nên tôi từ chối lời đề nghị. Bà ta đã trả lời tôi rằng không sao hết và bà ta sẽ dẫn Julian đi cùng. Nhưng sự thực, đó là bà ta chưa từng tới Greenwich Village hay Union Square. Bà ta đã đi gặp người tình ở đầu kia thành phố, mạn Bắc khu phía Thượng Manhattan, trong một khách sạn nằm trên đại lộ Amsterdam.
– Người tình đó là ai vậy?
– Philippe Careya, một nhà đầu tư bất động sản người Nice thường thực hiện các thương vụ giữa Côte d’Azur và Miami. Một gã có phần ngựa chứng từng là mối tình đầu của Pénélope thời trung học.
– Gã ta làm cái quái gì ở New York vậy?
– Pénélope đã thuyết phục gã đi theo mình. Hồi đó bà ta cảm thấy mình bị Sean bỏ rơi.
– Lorenz biết mình bị vợ cắm sừng chứ?
Pauline thở dài.
– Thực lòng mà nói, tôi không rõ. Vợ chồng họ hơi có phần giống với Ca khúc của những người tình cũ, anh thấy đấy. Kiểu quan hệ cần phải có xung đột và nóng bỏng thì mới nở rộ được. Tôi chưa bao giờ thực sự hiểu được bản chất của mối liên hệ đã kết nối họ với nhau. Ai lấn lướt ai, ai chi phối ai, ai bị ai cầm tù…
– Có với nhau một đứa con không giúp họ nguôi ngoai ư?
Cô nhún vai.
– Một đứa trẻ hiếm khi giảng hòa cho các cặp đôi lắm.
– Còn Sean, ông ấy có lừa dối vợ không?
– Tôi không biết.
Gaspard hỏi rõ hơn:
– Sean có lừa dối vợ bằng cách ngoại tình với cô không?
Pauline đẩy lại anh vào thế khó:
– Gã đàn ông thịt luôn cô giữ trẻ, đó là một kịch bản phim cấp ba dở tệ, không phải vậy sao?
Một thoáng im lặng. Rồi trái ngược với mọi mong đợi, Pauline chơi bài ngửa:
– Thực lòng mà nói, có thử làm vậy thì cũng không sai, nhưng chẳng hề có chuyện đó đâu.
Gaspard đứng dậy, và được sự cho phép của chủ nhà, anh tự rót cho mình một tách cà phê nữa.
– Thế thì vào cái ngày hôm đó, ở New York đã xảy ra chuyện gì vậy?
– Đầu giờ tối, khi thấy Pénélope không về và cũng không liên lạc gì, Sean đã bắt đầu lo lắng, nhưng ông ấy không báo cảnh sát ngay. Vợ ông ấy không thể liên lạc được vì lý do chính đáng là bà ta đã để quên điện thoại di động ở khách sạn. Nhiều giờ trôi qua và nỗi lo lắng tăng lên một bậc. Tới 11 giờ đêm, Sean quyết định liên hệ với ban an ninh khách sạn, họ đã trực tiếp gọi tới Sở Cảnh sát New York. Ngay lập tức họ coi sự việc là nghiêm trọng vì đứa trẻ đã mất tích và vì tiếng tăm của Sean. Cả đêm họ đã thông báo dấu hiệu nhận dạng tới các đội cảnh sát tuần tra khác nhau và bắt đầu xem lại các đoạn băng của camera giám sát ở những nơi Pénélope được cho là đã tới. Dĩ nhiên là họ chẳng tìm thấy gì hết.
Pauline dụi điếu thuốc vào chiếc đĩa lót tách cà phê. Gương mặt cô tái mét.
– Đến 7 giờ sáng, một nhân viên giao vận đã giao tới khách sạn một chiếc hộp các tông trong đó có một ngón tay trẻ con nhỏ xíu kèm theo đó là yêu cầu nộp tiền chuộc vấy máu. Thật kinh khủng. Đến đây thì FBI vào cuộc. Họ mở rộng phạm vi tìm kiếm, tung ra cảnh báo bắt cóc, hối thúc toàn bộ lực lượng cảnh sát khoa học… Cuối cùng, một camera giám sát ở đại lộ Amsterdam đã ghi hình được vụ bắt cóc Pénélope và con trai.
Pauline dụi mắt, thở dài:
– Hồi đó, tôi có thể thoáng nhìn thấy những hình ảnh. Lần này, chúng ta không còn ở trong bối cảnh một bộ phim khiêu dâm nữa rồi, mà đúng ra là một bộ phim kinh dị. Người ta thấy ở đó một con quỷ dữ với sức mạnh bò mộng đang đẩy Pénélope và Julian vào khoang sau một chiếc xe thùng cũ nát.
– Một con quỷ dữ nghĩa là sao?
– Một người da đỏ lưng gù, với đôi vai to bè và hai cánh tay lực lưỡng.
Gaspard bĩu môi nghi hoặc. Pauline kể tiếp:
– Những dấu vân tay thu được từ chiếc hộp các tông kia đã được tìm thấy trong hồ sơ lưu. Chúng thuộc về Beatriz Muñoz, một cựu nữ tù, cũng được biết đến với biệt danh LadyBird, từng giao du với Sean thời trẻ.
Khi nhắc đến biệt danh “nữ nhân điểu”, Gaspard nhớ lại những bức ảnh anh nhìn thấy hôm trước trong cuốn chuyên khảo về họa sĩ: những bức ảnh chụp nhóm “Thợ pháo hoa” trẻ tuổi đang xịt sơn vẽ lên các toa tàu điện ngầm hồi đầu thập niên 1990: Sean và chiếc áo khoác dáng ngắn rộng thùng thình, NightShift, gã người Mỹ Latinh kiêu căng với đôi tai vểnh, và LadyBird, cô gái người da đỏ không có thân hình nhẹ nhõm cho lắm, bất chấp biệt danh của mình, mái tóc đen nhánh tựa gỗ mun được bao quanh bằng một dải băng đô kiểu *Geronimo.
Chú Thích
(1829-1909): vị thủ lĩnh thổ dân Apache Chiricahua chống lại quân đội Hoa Kỳ và Mexico để đòi quyền tự trị.
– Ngay khi FBI tiếp nhận vụ việc, mọi chuyện được đẩy nhanh hơn. Trước 12 giờ trưa, họ đã định vị được khu đất lấn chiếm trái phép mà Beatriz Muñoz đã dẫn các nạn nhân của mình tới. Một nhà kho của một khu công nghiệp cũ thuộc địa phận quận Queens. Nhưng khi họ tấn công thì đã quá muộn: Julian đã thiệt mạng.
6.
Khoản tiền chuộc này mang ý nghĩa gì vậy? Madeline hỏi.
Bernard Benedick nheo mắt.
– Ý cô muốn nói đến tổng số tiền chuộc 4.290.000 đô?
– Vâng.
– Đó là cái giá của sự chịu đựng: số ngày Beatriz Muñoz đã trải qua trong tù, nhân lên một nghìn lần. Mười một năm và chín tháng địa ngục: 4.290 ngày.
Khoản tiền có vẻ gần như chẳng bõ bèn gì một khi được giới thiệu như thế.
– Lorenz đã cố gom đủ số tiền này, tôi hình dung là vậy.
– Dĩ nhiên, nhưng Muñoz đời nào muốn nhận tiền.
– Vậy thì bà ta muốn cái gì đây? Báo thù sao?
– Đúng thế, cái “công lý man dã” mà Francis Bacon thường nhắc đến. Cô ta muốn phá tan nát cuộc đời của Sean, bắt anh ấy phải chịu cùng nỗi đau khổ tàn bạo mà bản thân cô ta đã cảm nhận.
– Tuy nhiên bà ta lại tha mạng cho vợ của Lorenz ư?
– Cũng không hẳn như thế đâu. FBI đã tìm thấy Pénélope bị trói bằng dây thép gai vào một chiếc ghế tựa. Đến nay cô ta vẫn còn mang trên mình những vết sẹo. Nhưng điều kinh khủng nhất, đó là Beatriz đã đâm Julian bằng dao găm ngay trước mắt mẹ thằng bé.
Máu của Madeline đông đặc lại. Cô nhớ tới câu nói của anh bạn Danny: con đường của bóng tối, của đau đớn và chết chóc. Dù cô đi đâu chăng nữa, dù cô làm gì chăng nữa, mọi con đường đều dẫn cô tới ngã tư này và tới đoàn rước xác chết của cô.
– Beatriz Muñoz hiện đang ở tù sao?
– Không, cô ta đã rời khỏi hang ổ của mình trước cuộc vây bắt. Cô ta đã lao mình vào đoàn tàu đang chạy tại Harlem-Phố 125, một nhà ga nơi cô ta cùng Sean từng hay lui tới vẽ lên các toa tàu.
Benedick buột ra một tiếng thở dài buồn bã, như một người theo thuyết định mệnh.
Madeline tìm trong túi áo khoác ngắn của mình một thứ thuốc chống lại cảm giác nóng rực ở dạ dày.
– Có một câu hỏi tôi đã tự đặt ra cho mình từ hôm qua, cô nói tiếp sau khi đã nuốt chửng viên thuốc. Thời điểm Sean Lorenz qua đời cách đây một năm, khi đó ông ấy đang ở New York, phải không?
– Chính xác, anh ấy chết vì một cơn nhồi máu cơ tim ngay trên đường phố.
– Ông ấy quay lại đó để làm gì nhỉ? Tại sao lại quay lại thành phố chất chứa quá nhiều ký ức tang thương đến thế?
– Đúng ra thì anh ấy có hẹn với một bác sĩ chuyên khoa tim mạch. Dẫu sao đó cũng là điều anh ấy giải thích với tôi qua điện thoại, và tôi có những lý do chính đáng để tin rằng đó là sự thật.
– Những lý do nào thế?
Benedick mở chiếc cặp da hiệu Venezia mà ông đã đặt lên chiếc ghế tựa ngay cạnh mình.
– Vì biết thể nào cô cũng quay lại gặp nên tôi đã mang cái này theo, ông khẳng định rồi lấy từ trong cặp ra một cuốn sổ màu nâu sáng, đoạn chìa ra cho Madeline.
Cô xem xét nó vẻ chăm chú. Thực ra đó là một cuốn sổ lịch nhỏ hiệu Smythson bằng da in.
– Khi biết tin Sean qua đời, tôi đang ở Paris. Tôi đã đáp máy bay sang New York để lo liệu việc đưa thi thể anh ấy về nước. Tự tay tôi đã thu dọn đồ đạc cá nhân của Sean tại phòng khách sạn nơi anh ấy ở. Chỉ có một chiếc va li nhỏ đựng vài bộ quần áo cùng với cuốn sổ này.
Madeline lật qua cuốn sổ. Một điều chắc chắn: thời gian biểu của Sean Lorenz trong năm trước khi ông qua đời chỉ gói gọn trong những cuộc hẹn khám bệnh. Vào ngày ông qua đời, tức 23 tháng Mười hai năm 2015, họa sĩ đã viết: Hẹn Bs Stockhausen 10 giờ.
– Chính xác thì ông ấy bị bệnh gì vậy?
– Nhồi máu cơ tim tái phát nhiều lần. Nội trong năm cuối đời mình, Sean đã phải hết nong mạch vành lại đến phẫu thuật cầu nối chủ-vành. Cô còn nhớ ca khúc của Ferré không: “Trái tim, khi nó đập mạnh hơn, khỏi cần mất công đi tìm xa hơn nữa…”
– Tôi có thể giữ cuốn sổ này không?
Benedick thoáng do dự, nhưng vẫn gật đầu ra hiệu đồng ý.
– Ba bức tranh cuối cùng ấy, ông thực sự nghĩ chúng tồn tại chứ?
– Tôi chắc chắn như vậy, ông chủ phòng tranh vừa đáp vừa nhìn cô đau đáu. Cũng như tôi dám chắc cô sẽ tìm ra chúng.
Madeline đóng vai thận trọng.
– Để tìm ra chúng, tôi cần ông nói cho tôi biết là phải tìm ở đâu. Tôi có thể tới gặp những ai.
Benedick dành thời gian ngẫm nghĩ.
– Hãy ghé qua chỗ Diane Raphaël. Đó là một bác sĩ tâm thần giỏi và vô cùng dễ mến. Một trong những người hiếm hoi mà Sean trân trọng. Bà ấy đã gặp Sean vài tháng sau khi anh ấy tới Pháp, thời còn dự án Bệnh viện dã chiến. Thời đó, Diane đang điều hành một cơ sở lưu động quy mô nhỏ chuyên giúp đỡ những người nghiện ma túy. Bà ấy quan tâm đến những hình thức nghệ thuật mới mẻ và từng là một trong những người đầu tiên mua hai trong số những bức tranh của anh ấy. Sean vẫn luôn coi bà ấy phần nào như thiên thần hộ mệnh của mình.
Madeline thầm ghi nhớ những thông tin này, cùng lúc nhớ ra rằng Gaspard từng nhắc đến cái tên này trước mặt cô vào buổi tối qua.
– Còn ai khác không?
– Có lẽ là Jean-Michel Fayol, một người bán màu vẽ. Anh ta có một cửa hàng nhỏ trông ra kè. Sean thường tham khảo ý kiến của anh ta mỗi khi vẽ tranh.
– Pénélope Lorenz vẫn đang sống ở Paris chứ?
Benedick gật đầu mà không trả lời thẳng.
– Ông có thể cho tôi địa chỉ của bà ta không?
Ông chủ phòng tranh rút trong túi ra một cây bút rồi xé một trang trong cuốn sổ lịch.
– Tôi sẽ ghi cho cô địa chỉ liên lạc của cô ta, nhưng cô sẽ không moi được gì từ cô ta đâu. Gặp Pénélope cùng lúc là vận may lớn và đại họa của Sean. Tia sáng đã phát lộ thiên tài của Sean để rồi sau đó thổi bùng lên vụ hỏa hoạn tàn phá cuộc đời anh ấy.
Ông chìa tờ giấy đã gấp lại cho Madeline rồi, mắt nhìn về phía xa xăm vô định, tự hỏi thành tiếng:
– Thực ra, còn gì buồn hơn khi phải chứng kiến tâm hồn đồng điệu với Sean trở thành tâm hồn đày đọa anh ấy chứ?
6
Một khoản hủy diệt
Mỗi bức tranh là một khoản hóa đơn tính tiền.
Ở tôi, mỗi bức tranh là một khoản hủy diệt.
Pablo PICASSO
1.
Đại lộ Saint-Germain chạy dài dưới vầng dương nhợt nhạt. Những cây tiêu huyền trụi lá, những tòa nhà bằng đá chạm trổ, những quán cà phê được bảo tàng hóa, những cửa hàng bán đồ xa xỉ tĩnh mịch.
Madeline vượt qua một chiếc ô tô điện rồi bật xi nhan để rẽ sang phố Saint-Guillaume. Sau chừng hai chục mét, cô dựng chiếc xe ga của mình vuông góc giữa một chiếc Smart méo mó và một chiếc SUV bóng lộn. Địa chỉ mà Bernard Benedick đưa cho cô là địa chỉ một trong những tòa nhà đẹp đẽ của con phố với mặt tiền rộng có những mặt đá nổi vừa được trát lại. Cô bấm chuông điện thoại nội bộ ở một cổng xe hoành tráng bằng gỗ đánh véc ni.
– Vâng? một giọng rít lên.
– Bà Lorenz phải không?
Không có lời đáp. Madeline chơi bài úp mở nước đôi:
– Chào bà, tôi là sĩ quan cảnh sát. Tôi đang điều tra về việc những bức tranh cuối cùng do chồng cũ của bà vẽ đã biến mất. Bà có thể cho tôi vài phút để…
– Xéo đi, con phóng viên khốn kiếp!
Madeline lùi lại một bước, kinh ngạc vì câu rủa xả cay nghiệt. Cố nài cũng vô ích. Nếu Pénélope Lorenz đang ở trong trạng thái như thế này, cô sẽ không thể làm được gì.
Cô lại ngồi lên chiếc Vespa với một ý tưởng khác trong đầu. Phố Đại học, phố Bac, đại lộ Raspail tới tận Montparnasse. Madeline tìm ra quán cà phê Internet mà cô đang kiếm trong phố Odessa, kẹt cứng giữa một tiệm bánh xèo và một tiệm đồ người lớn. Vừa đẩy cánh cửa, cô vừa thề sẽ không rời khỏi nơi này chừng nào chưa đạt được mục đích.
2.
Gaspard đến nhà hàng trước. Nằm cạnh một quầy bán cá, Grand Café là một quán rượu của khu phố với lối trang trí có phần cổ lỗ nhưng ấm cúng: gỗ ốp tường, ghế tựa Baumann bằng gỗ uốn cong, những bàn rượu nhỏ, gương lớn, sàn lát gạch vuông họa tiết bàn cờ. Nét điểm xuyết Địa Trung Hải hoàn thiện bức tranh bằng một cây nho giả gắn trên trần nhà tựa như bên dưới một giàn vòm.
Thời điểm 12 rưỡi trưa, quán trống đến ba phần tư số bàn, nhưng bắt đầu đông khách dần. Gaspard hỏi một bàn cho hai người rồi không vội ngồi xuống mà đặt lên đó chiếc điện thoại đang khiến túi áo vest phồng to trước khi khoác tấm áo lên lưng ghế. Rồi anh tiến về phía quầy, gọi một ly quincy và hỏi liệu anh có thể gọi điện thoại được không. Người bồi bàn nhìn anh vẻ ngạc nhiên, thậm chí còn ngờ vực, rồi chỉ chiếc điện thoại được bỏ lại trên bàn:
– Nó bị hỏng sao?
Gaspard thậm chí không ngoái nhìn.
– Không, mà vì tôi không biết cách sử dụng. Vậy tôi có thể sử dụng điện thoại của anh được không?
Nhân viên phục vụ bàn gật đầu rồi chìa cho anh một ống nghe kiểu cổ. Gaspard đeo kính để đọc số điện thoại Pauline ghi cho.
Một may mắn: Diane Raphaël nhấc máy sau hồi chuông thứ ba, xin lỗi ngay vì chất lượng cuộc gọi không được tốt. Nữ bác sĩ chuyên khoa tâm thần hiện không ở Paris, mà đang có mặt trên một chuyến tàu siêu tốc TGV tới Marseille, bà phải tới gặp một bệnh nhân tại bệnh viện Sainte-Marguerite. Gaspard tự giới thiệu và nói rõ rằng anh gọi cho bà sau khi được Pauline Delatour cho số điện thoại. Diane Raphaël, vốn sống phần nhiều thời gian ở New York, đảm bảo đã từng xem vở Nhà thương điên tại đó, một trong những vở kịch u ám nhất của anh, một lời phê phán về những sự chệch hướng của phân tâm học. Với vở kịch này, Gaspard không chỉ kết được bạn trong giới chuyên gia tâm lý mà còn gây thù, nhưng Diane không phải dạng người thù dai và cam đoan với anh “đã nhiều phen bật cười thành tiếng”.
Vì vốn không biết nói dối, Gaspard bèn chơi bài ngửa. Anh giải thích rằng mình đang thuê căn nhà trước đây vốn thuộc về Sean Lorenz và muốn giúp một cô bạn làm nghề cảnh sát, người hạ quyết tâm tìm lại ba bức tranh cuối cùng của họa sĩ.
– Nếu chúng tồn tại, tôi rất nóng lòng muốn được chiêm ngưỡng chúng!
– Pauline đã nói với tôi rằng bà chăm lo cho Sean rất nhiều vào năm cuối đời của ông ấy.
– Ý cậu là hai thập niên cuối đời chứ gì! Tôi là bạn kiêm bác sĩ tâm thần của ông ấy suốt hơn hai chục năm mà!
– Tôi nghĩ làm sao kiêm được hai việc đó cùng lúc?
– Tôi không thích những câu giáo điều đâu. Tôi đã cố gắng giúp đỡ ông ấy hết khả năng, nhưng cần phải tin rằng có một lời nguyền dành cho các thiên tài.
– Ý bà muốn nói gì?
– Nguyên tắc cũ mèm của sự phá hủy mang tính sáng tạo. Để xây dựng một tác phẩm như tác phẩm của ông ấy, có lẽ không thể tránh khỏi chuyện Sean tự hủy hoại mình và hủy hoại những người khác.
Bất chấp chất lượng cuộc gọi kém, Gaspard vẫn bị giọng nói của Diane Raphaël quyến rũ: du dương, thâm trầm, với những âm điệu thân thiện.
– Theo Pauline, Lorenz đã bị chệch hướng sau khi con trai ông ấy qua đời…
– Ai cũng biết chuyện đó mà, nữ bác sĩ chuyên khoa tâm thần ngắt lời anh. Sean hầu như đã chết theo Julian. Chẳng còn gì để bám víu, thậm chí ông ấy còn không buồn vờ như đang sống. Vả lại, ông ấy đã bị hủy hoại về thể chất. Những tháng cuối đời, ông ấy đã trải qua hai cuộc phẫu thuật lớn. Ông ấy chết đi sống lại nhiều lần. Nhưng ông ấy vẫn chịu đựng nỗi đau này như một hình phạt sám hối.
– Hội họa không cứu rỗi được ông ấy chút nào sao?
– Hội họa không thể làm gì nổi trước cái chết của một đứa con.
Gaspard nhắm mắt lại một thoáng rồi nuốt ngụm vang trắng cuối cùng trong ly, ngay sau đó ra hiệu cho nhân viên quầy bar để người ta rót thêm cho anh.
– Đâu phải bậc cha mẹ nào mất đi một đứa con cũng đi đến chỗ tự tử, anh nhận xét.
– Anh nói đúng, bà công nhận. Mỗi cá nhân phản ứng theo cách của riêng mình. Tôi sẽ không bàn với anh về hồ sơ bệnh án của Sean, nhưng ở ông ấy mọi thứ đều bị khuếch đại. Ông ấy luôn có một phương diện mắc chứng tâm lý chu kỳ ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo riêng.
– Ông ấy bị lưỡng cực sao?
– Cứ cho là giống như ở nhiều nghệ sĩ, các phản ứng và tâm trạng của ông ấy bị kịch phát. Nếu vào thời kỳ hưng phấn ông ấy là bằng chứng của cơn khao khát sống đến khó tin thì khi đắm chìm trong những suy nghĩ u ám, ông ấy có thể tụt xuống rất thấp.
Gaspard cởi một cúc áo sơ mi. Tại sao ngay giữa tháng Mười hai trời lại nóng phát điên thế này chứ?
– Lorenz nghiện ma túy ư?
Lần đầu tiên Diane nổi cáu:
– Anh đặt ra quá nhiều câu hỏi rồi đấy, anh Coutances.
– Tôi công nhận, anh xin lỗi.
Ở đầu dây bên kia, anh thoáng nghe thấy thông báo từ hãng Đường sắt quốc gia cảnh báo rằng đoàn tàu sắp tiến vào ga Saint-Charles.
– Tất cả những gì Sean muốn, đó là tự đánh thuốc mê và lãng quên, nữ bác sĩ chuyên khoa tâm thần nói tiếp. Ông ấy có một nỗi đau vô bờ bến, tỷ lệ thuận với tình yêu thương dành cho con trai, và ông ấy không muốn được cứu chữa hay thuyết phục. Vậy nên, mọi phương cách đều tốt: thuốc ngủ, thuốc an thần cùng những thuốc đi kèm. Chính tôi đã kê đơn những loại thuốc đó cho ông ấy, bởi tôi biết kiểu gì thì ông ấy cũng sẽ dùng đến chúng. Ít ra thì việc kê đơn này cũng cho phép tôi để mắt đến những thứ ông ấy nốc vào.
Tín hiệu điện thoại ngày càng tệ. Dẫu sao Gaspard vẫn thử liều hỏi một câu cuối cùng:
– Bà có tin vào giả thuyết về những bức tranh bị giấu nhẹm kia không?
Thật không may, câu trả lời của nữ bác sĩ chuyên khoa tâm thần đã lẫn vào tiếng ồn ào khi tàu vào ga.
Anh gác máy rồi lại nốc cạn ly rượu. Khi quay lại, anh nhìn thấy Madeline vừa bước vào nhà hàng.
3.
Hai vị dùng rượu khai vị chứ? người bồi bàn đề xuất sau khi đặt xuống cạnh bàn họ tấm bảng lớn liệt kê những món ăn trong ngày.
Madeline gọi một chai nước khoáng có ga còn Gaspard gọi ly vang thứ ba.
Rồi, nở một nụ cười, nhà soạn kịch đẩy về phía Madeline chiếc điện thoại mà lúc ra khỏi nhà cô đã để quên.
– Cảm ơn vì đã mang tới cho tôi, cô nói rồi nhận lại chiếc điện thoại.
Gaspard nghĩ đã đến lúc thích hợp để nói lời xin lỗi:
– Thứ lỗi cho tôi chuyện tối qua nhé. Tôi nóng nảy quá.
– Được rồi, cho qua đi.
– Tôi không biết là cô đang cố gắng sinh con.
Madeline đỏ lựng mặt.
– Sao anh nói vậy?
– Tôi… tôi suy ra thế thôi, anh lắp bắp khi nhận ra sự vụng về của mình. Sáng nay cô có tin nhắn từ một bệnh viện ở Madrid thông báo đã nhận được kết quả…
– Đi mà lo chuyện riêng của anh đi, khỉ thật! Anh nghĩ tôi muốn nói đến chuyện đó bên bàn ăn với anh sao?
– Tôi xin lỗi, tôi không cố tình đọc tin nhắn đó đâu.
– Không cố tình ư? cô nạt nộ.
Họ không nói với nhau lời nào, cũng không nhìn nhau lấy một lần nào nữa cho đến khi phục vụ mang ra những món họ đã gọi và chủ nhà hàng tới chỗ họ để lắng nghe phản hồi. Madeline tranh thủ sự hiện diện của ông ta để lôi ra bao diêm có logo của nhà hàng mà Benedick đã đưa cho cô.
– Sean Lorenz là khách hàng thường xuyên ghé quán ông, phải vậy không?
– Còn hơn cả một khách hàng ấy chứ, đó là một người bạn của quán chúng tôi! chủ nhà hàng trả lời với vẻ tự hào.
Đó là một người đàn ông thấp bé mồm mép liến thoắng, đầu cạo nhẵn thín, mặc một bộ com lê rộng thùng thình và đeo một chiếc cà vạt trắng điểm những chấm bi to màu đen. Những điệu bộ biểu cảm trên khuôn mặt khiến ông trông hao hao *Louis de Funès.
Chú Thích
(1914-1983): diễn viên hài nổi tiếng người Pháp với vai diễn cảnh sát.
– Suốt hàng năm trời, gần như trưa nào ông Lorenz cũng tới dùng bữa tại nhà hàng chúng tôi.
Đôi mắt sáng long lanh của ông chủ nhà hàng bỗng nhòa đi.
– Dĩ nhiên, chúng tôi ít gặp ông ấy hơn sau khi con trai ông ấy qua đời. Một buổi tối, sau khi đóng cửa nhà hàng ra về, thậm chí tôi còn gặp ông ấy say bí tỉ nằm rũ trên một băng ghế. Tôi đã đưa ông ấy về tận ngôi nhà trên phố Cherche-Midi. Chuyện này thực sự khiến tôi thấy đau lòng.
Như thể không muốn dừng lại ở ký ức buồn bã này, người đàn ông tặc lưỡi rồi vội vàng nói thêm:
– Vài ba tháng cuối đời, ông ấy có khá hơn. Ông ấy đã nhiều lần quay trở lại nhà hàng và…
– Ông nghĩ là ông ấy đã lại bắt đầu vẽ tranh sao? Gaspard ngắt lời chủ nhà hàng.
– Nhất định rồi! Ông ấy lại vừa dùng bữa trưa vừa vẽ kín các trang trong cuốn sổ ký họa. Một dấu hiệu không lẫn vào đâu được!
– Ông có biết ông ấy vẽ gì không?
De Funès nở một nụ cười ra điều thông thạo.
– Vì cũng tò mò muốn biết nên khi mang các món ra cho ông ấy, tôi lúc nào cũng tranh thủ liếc nhìn qua vai ông ấy. Ông ấy vẽ những mê cung.
– Những mê cung ư?
– Đúng thế, những mê cung ngột ngạt như trong tiểu thuyết của Kafka, không lối vào cũng chẳng lối ra. Những mê cung với các đường nhánh vô tận nhìn đến chóng mặt.
Madeline và Gaspard nhìn nhau vẻ hồ nghi, nhưng người đối thoại với họ đã giữ lại một thông tin mấu chốt.
– Vài ngày trước khi qua đời, ông Lorenz đã tặng cho chúng tôi một món quà tu-y-ệt vơ-ời: ông ấy đã để lại một bức tranh ghép mảnh trong nhà hàng.
– Ở đây sao? Gaspard kinh ngạc.
– Chính xác, ông hãnh diện khẳng định, ở góc trong cùng căn phòng thứ hai. Đó là một trong những bức tranh ghép mảnh hiếm hoi của Sean Lorenz và dẫu sao chăng nữa cũng là bức tranh ghép mảnh lớn nhất ông ấy từng sáng tác. Những người ái mộ nghệ thuật thường viếng thăm nơi này để chiêm ngưỡng hoặc chụp ảnh nó. Nhất là dân châu Á.
Ông chủ nhà hàng không đợi hai thực khách phải khẩn nài đã dẫn họ vào tận góc trong cùng căn phòng nơi một bức tranh tường đa sắc giăng trên mặt tường.
– Ông Lorenz muốn minh họa cho truyện Cá sấu khổng lồ của *Roald Dahl. Đó là câu chuyện con trai ông ấy vô cùng yêu thích. Câu chuyện cậu nhóc đòi ông ấy kể cho nghe mỗi tối trước khi đi ngủ. Một sự tưởng nhớ đẹp đẽ, không phải sao?
Chú Thích
(1916-1990): nhà văn, nhà biên kịch nổi tiếng người Anh với các tác phẩm như Charlie và nhà máy sô cô la, Cô bé Matilda…
Bức tranh được tạo nên từ hàng trăm hình vuông nhỏ xíu bóng loáng phần nào gợi nhắc đến những pixel to đùng của trò chơi video thập niên 1980. Nheo mắt lại, Madeline nhận ra những nhân vật trong câu chuyện thời thơ ấu của cô: một con cá sấu, một con khỉ, một con voi, một con ngựa vằn đang khịt mũi trên trảng cỏ.
Xét trong thể loại của nó, tác phẩm này vừa đẹp nguy nga vừa lạ lùng, ngay cả khi nó vẫn đậm tính giai thoại. Madeline xin phép được chụp ảnh bức tranh, rồi cô cùng Gaspard quay trở về bàn.
4.
Cô nàng Pauline có vẻ được lòng anh quá đấy.
Giống như hôm trước, họ lại trao đổi những thông tin mỗi người thu thập được.
– Cô ấy dễ sống và không hay cãi.
– Anh nói thế là nhằm vào tôi chứ gì?
Gaspard ngoảnh mặt nhìn đi chỗ khác để tránh ánh mắt của Madeline.
– Nếu cô muốn, chúng ta nói sang chuyện khác đi.
Cô đề nghị phân chia nhiệm vụ:
– Chiều nay, tôi định đi hỏi chuyện Jean-Michel Fayol, người bán màu vẽ cho Sean. Trong lúc đó, tôi muốn anh ghé qua gặp Pénélope Lorenz.
Gaspard gãi gãi râu vẻ hồ nghi.
– Tại sao tôi cứ phải thực hiện nhiệm vụ khó nhằn thế nhỉ? Cô vừa giải thích với tôi là bà ta đóng sập cửa trước mặt cô không chút nể nang còn gì.
– Với anh thì mọi chuyện sẽ khác.
– Sao cô nghĩ vậy?
– Trước hết bởi vì anh là đàn ông. Sau nữa là bởi tôi đã nảy ra một ý tưởng thiên tài.
Nở nụ cười mãn nguyện, cô giải thích cho anh biết kế hoạch vừa lóe lên trong đầu mình nhằm tiếp cận vợ của Sean.
Cô đã tạo một tài khoản thư điện tử lấy tên Gaspard tại một quán cà phê Internet và dùng tài khoản đó để gửi cho Pénélope một đề nghị mượn tạm – hay đúng hơn là thuê – Naked, một bức tranh của người chồng cũ hiện vẫn đang thuộc quyền sở hữu của bà ta.
– Chẳng hiểu gì cả, Gaspard càu nhàu. Tại sao tôi lại muốn thuê một bức tranh kia chứ? Chuyện này thật vô nghĩa.
Madeline đẩy đĩa ăn của cô ra xa rồi mở ra trên mặt bàn bức ảnh chụp một bài báo của tờ Daily Telegraph thông báo về ba mươi suất diễn vở Lời thề Hippocrate vào mùa xuân năm tới tại London, một vở kịch được ký tên… Gaspard Coutances.
– Anh sẽ thuê bức tranh này để nó trở thành một phần trong cảnh bài trí tại buổi công chiếu lần đầu vở kịch của anh.
– Phi lý.
Madeline nói tiếp không chút bối rối:
– Trong thư tôi đã đề xuất với Pénélope giá thuê lên tới hai mươi nghìn euro. Benedick đã cam đoan với tôi rằng bà ta đang cần tiền mặt và đã tới lúc bà ta mong muốn bán đấu giá bức tranh này rồi. Nếu có cơ hội để truyền thông cho bức tranh trước khi rao bán nó, anh có thể chắc chắn rằng bà ta sẽ không bỏ qua cơ hội đó đâu.
Gaspard nhíu mày tức giận.
– Cô đã chiếm đoạt danh tính của tôi!
– Anh thư giãn đi nào, vì lý do chính đáng thôi mà.
– Những nguyên tắc cơ bản luôn dành cho người khác, là thế chứ gì? Tôi ghét kiểu người như cô.
– Kiểu người như tôi hả? Nghĩa là sao?
– Tôi tự hiểu mình nói gì mà.
– Anh đúng là người duy nhất hiểu đó.
Anh bực bội nhún vai.
– Dẫu sao chăng nữa, mợ Lorenz kia sẽ không đời nào tin vào những điều ngu ngốc như vậy đâu.
– Anh nhầm rồi, Madeline vặc lại vẻ đắc thắng. Hãy hình dung xem bà ta đã hồi âm cho tôi và đang chờ anh tới nhà bà ta trong nửa giờ nữa để bàn về việc này.
Gaspard há miệng toan phản đối, nhưng rồi đành buột ra một tiếng thở dài cam chịu. Madeline tranh thủ ưu thế của mình:
– Sau khi gặp Fayol, tôi có cuộc hẹn với một cô bạn cũ đang dừng quá cảnh tại Paris. Khi nào anh gặp Pénélope xong, hãy tới Sémaphore gặp tôi để làm rõ mọi chuyện nhé.
– Quésaco le SémaphoreSémaphore là cái quái gì vậy?
– Đó là một quán cà phê nhỏ nằm ở góc phố Jacob giao với phố Seine.
Trời nóng đến độ nhà hàng đã mở toang những ô cửa kính rộng. Vì Madeline muốn hút thuốc, họ bèn ra sân hiên ngồi uống cà phê. Vẻ tư lự, Madeline lặng lẽ vê một điếu thuốc trong khi Gaspard, mải miết suy nghĩ, nung bỏng họng mình bằng ly Armagnac được ông chủ nhà hàng tặng riêng.
Dù họ không dám nói ra, nhưng phải thừa nhận rằng họ hiện đang tạo thành một bộ đôi điều tra viên bất khả thi.
Tác phẩm mang sức hấp dẫn huyền diệu của Lorenz đã lan truyền sang họ. Nó đang thao túng họ. Tất cả những gì, dù gần dù xa, liên quan đến họa sĩ – ý nghĩa hội họa của ông, những vùng tối trong cuộc đời ông – đối với họ đều khoác lên một quầng sáng bí ẩn và lời hứa phi lý rằng, một khi được hé lộ, những bí ẩn về Lorenz sẽ trở thành bí mật của họ. Không thú nhận điều này nhưng cả Madeline lẫn Gaspard đều bấu víu vào niềm tin điên khùng rằng những bí ẩn ấy sẽ tiết lộ với họ một sự thật, bởi lẽ, trong khi tìm kiếm những bức tranh này, họ cũng đang vây dồn một phần con người của chính mình.
7
Những gì nó thiêu cháy…
Nghệ thuật giống như một trận hỏa hoạn, nó sinh ra từ những gì nó thiêu cháy…
*Jean-Luc GODARD
Chú Thích
(sinh 1930): đạo diễn, biên kịch người Pháp-Thụy Sĩ. Tên tuổi của ông gắn liền với phong trào điện ảnh Pháp thập niên 1960 Làn Sóng Mới.
1.
Tòa dinh thự cũ nơi Pénélope Lorenz sinh sống mang tính phi thời và vẻ thanh nhã sâm nghiêm của những tòa nhà đẹp trong khu phố bao quanh nhà thờ Saint-Thomas-d’Aquin: mặt tiền sáng sủa và giản dị bằng đá chạm trổ, những bậc cầu thang bằng cẩm thạch láng bóng, trần nhà cao vút, sàn ván hình sọc chữ chi kêu răng rắc.
Tuy nhiên, nội thất bên trong căn hộ lại đối lập với vẻ khổ hạnh của tòa nhà. Thậm chí còn là nơi sự lòe loẹt thống trị. Như thể một cấp dưới của *Philippe Starck đã giám sát khâu trang trí trong lúc mắt gắn chặt vào check-list của khiếu thẩm mỹ tệ hại vậy. Những chiếc ghế bành nhồi nệm khâu chần màu kẹo hồng, giăng kín những chiếc gối dựa giả lông thú, gần kề một chiếc bàn lớn bằng kính, một bộ đèn chùm phong cách ba rốc quá khổ, một mớ hỗn độn các đồ mỹ nghệ và đèn điện kiểu dáng phá cách.
Chú Thích
(sinh 1949): một trong mười nhà thiết kế nội thất nổi tiếng nhất trên thế giới, đồng thời là một kiến trúc sư tài hoa.
Vẻ đầy ngờ vực, người đàn ông mở cửa cho Gaspard miễn cưỡng tự giới thiệu mình là Philippe Careya. Gaspard nhớ ra Pauline từng nhắc đến người này như mối tình đầu của Pénélope. Vậy là bà ta vẫn gắn bó với ông ta. Nhà đầu tư bất động sản người Nice là một người đàn ông thấp bé bụng phệ khác xa người tình của Pénélope trong hình dung của kịch tác gia cả nghìn dặm: đỉnh đầu hói trụi thùi lụi, bộ râu quai nón tỉa tót kỹ càng, hai mắt thâm quầng, sơ mi phanh ra để lộ đám lông hoa râm và một chiếc nanh cá mập gắn vào sợi dây chuyền vàng. Khó mà hiểu được ở ông ta có gì khả dĩ quyến rũ được người phụ nữ trẻ đang độ đỉnh cao xuân sắc là bà ta thời bấy giờ. Biết đâu thời ấy ông ta trông khác chăng? Biết đâu ông ta còn có những quân át chủ bài khác. Hoặc biết đâu sức hấp dẫn giữa hai con người luôn vượt khỏi mọi sự hợp lý, điều này thì chắc chắn hơn rồi.
Tay người Nice dẫn anh vào một phòng khách nhỏ trông ra khoảng sân trong rồi quay lại tra cứu những quảng cáo bất động sản trên chiếc Mac-Book mạ vàng. Gaspard đã kiên nhẫn chờ như thế chừng mười phút trước khi được nữ chủ nhân căn hộ ra tiếp. Khi cựu người mẫu bước vào phòng, anh khó khăn lắm mới giấu nổi sự kinh ngạc.
Khó lòng nhận ra được Pénélope Lorenz. Bị phẫu thuật thẩm mỹ khiến cho biến dạng, bà ta chỉ còn là một bức biếm họa dị dạng của người phụ nữ vốn là bà ta khi xưa. Khuôn mặt cứng đờ, trơn láng như tượng sáp, có vẻ đang tan chảy. Cái miệng méo mó của bà ta gợi nhắc một màng ruột già sắp nổ tung đến nơi. Hai mí mắt phồng rộp và hai gò má cao quá mức đã khiến đôi mắt hẹp lại. Sưng húp và bị tàn phá, khuôn mặt bà ta đối lập với vóc dáng gần như gầy nhom, ngoại trừ bộ ngực căng phồng như bóng bơm khí heli.
– Xin chào, anh Coutances, cảm ơn vì đã ghé thăm, bà ta vừa chào đón anh bằng giọng mũi vì thở như hụt hơi vừa tới ngồi đối diện anh.
Ánh mắt bà ta là ánh mắt của một con vật bị vây dồn, ý thức về hình thể của bản thân và hiệu ứng mà nó tạo ra trong mắt người khác.
Làm thế nào con người ta lại đến mức đó? Làm cách nào giải thích một sự biến đổi hoàn toàn như vậy? Gaspard vẫn nhớ những bức ảnh chụp siêu mẫu này cái thời bà ta xuất hiện trên các trang bìa tạp chí. Kiêu kỳ, thanh mảnh, săn chắc, rạng ngời. Tại sao bà ta lại bắt bản thân phải chịu đựng quá nhiều chất làm đầy và những mũi tiêm Botox kia chứ? Vị bác sĩ phẫu thuật nào đã đóng vai họa sĩ nghiệp dư và phá phách những đường nét đẹp đẽ trên khuôn mặt bà ta? Anh tìm kiếm điều gì đó ở Pénélope, một dấu tích về vẻ đẹp đã mất của bà ta, và tìm thấy nó trong đôi mắt. Vậy nên anh tập trung vào hai con ngươi trong mắt, màu xanh lục như nước, điểm những đường sọc trầm tích màu nâu ánh vàng. Thứ bụi than cháy dở nóng sáng hẳn đã thiêu đốt trái tim Sean mùa hè năm 1992.
Gaspard chào bà ta, nhưng vào đúng lúc mở miệng, anh lại từ bỏ kế hoạch đã lập nên cùng Madeline. Chẳng có gì để làm cả. Anh sẽ chẳng bao giờ được thoải mái với lời nói dối đó. Thoạt tiên là vì những lý do đạo đức, nhưng trên hết bởi anh tự biết mình là một diễn viên tồi, không có khả năng duy trì việc giấu giếm sự thật. Thế nên anh quyết định không vòng vo quanh co gì hết.
– Tôi sẽ nói thẳng nói thật nhé, bà Lorenz, tôi đến đây không phải vì lý do như bà đang nghĩ. Tôi đúng là Gaspard Coutances, và đúng là tôi đã viết một vở kịch sẽ được trình diễn tại London vào mùa xuân tới, nhưng cái hợp đồng liên quan đến việc thuê bức tranh của bà chỉ là mưu chước do một nữ đồng nghiệp của tôi nghĩ ra hòng được gặp bà mà thôi.
– Nữ đồng nghiệp nào kia?
– Người mà bà đã đuổi khéo sáng nay.
Không khí căng như dây đàn. Gaspard cảm thấy Pénélope đang chuẩn bị gọi Careya tới chi viện. Bằng một động tác tay khiến người ta an lòng, anh cố gắng ngăn bà ta kêu toáng lên.
– Hãy cho tôi ba phút để giải thích cho bà hiểu tình huống. Sau đó, nếu bà quyết định không trả lời những câu hỏi của tôi, tôi sẽ ra đi mà không gây sự gì hết, và sẽ không bao giờ quấy rầy bà nữa.
Vì bà ta vẫn ngồi im bất động, anh nói tiếp như được khích lệ:
– Chúng tôi đang tìm kiếm ba bức tranh được Sean Lorenz vẽ trong những tuần lễ ngay trước khi ông ấy qua đời. Đó là…
Pénélope ngắt lời anh:
– Trước khi qua đời, đã hàng năm trời Sean không còn động đến cọ vẽ nữa rồi.
– Thế mà chúng tôi có những lý do thích đáng để nghĩ rằng những bức tranh ấy có tồn tại.
Bà ta nhún vai.
– Kể cả nếu đúng là như vậy thì chúng cũng được vẽ sau khi chúng tôi ly hôn, điều này có nghĩa là tôi chẳng có chút quyền lợi nào trong đó cả. Vậy thì chuyện này có gì liên quan tới tôi đâu nhỉ?
Hiểu rằng người đàn bà này, lúc nào cũng ngoa ngoắt như thế, sẽ không buông tha bất cứ thứ gì, Gaspard bèn ứng biến:
– Bởi vì tôi có mặt ở đây là để đề xuất với bà một giao kèo.
– Giao kèo gì kia?
– Nếu bà trả lời những câu hỏi của tôi và nếu như nhờ có bà mà chúng tôi tìm lại được những bức tranh ấy, một bức trong số đó sẽ dành cho bà.
– Anh biến đi! Nếu anh nghĩ là những bức tranh của Sean còn chưa đủ làm hỏng đời tôi thì…
Lúc này, nỗi sợ hãi của bà ta đã biến thành cơn giận dữ. Bà ta đứng bật dậy khỏi trường kỷ để tiến về phía một chiếc tủ lạnh nhỏ lồng khít vào giá sách theo kiểu quầy bar mini trong các khách sạn. Bà ta vớ lấy hai chai vodka nhỏ xíu rồi dốc thẳng chai thứ nhất vào họng. Gaspard nghĩ tới câu nói của *Bukowski: “Find what you love and let it kill youHãy tìm thứ gì đó bạn yêu thích rồi để nó giết chết bạn.” Chất độc của Pénélope có tên là Grey Goose. Bà ta rót chai dẹt thứ hai vào một tumbler bằng pha lê rồi đặt nó lên chiếc bàn tròn bằng thủy tinh và sắt rèn, vừa tầm tay.
Chú Thích
Charles Bukowski (1920-1994): nhà thơ, nhà văn người Đức-Mỹ.
– Sean Lorenz sẽ không tồn tại nếu không có tôi, anh biết chứ? Chính tôi đã giải tỏa năng lực sáng tạo và mở van cho tài năng của ông ấy. Trước tôi, đó là một tay vẽ graffiti thảm hại ở Harlem đang qua ngày đoạn tháng bằng cách rong chơi và hút cần. Và trong suốt hơn mười năm, suốt toàn bộ những năm tháng khi ông ấy không thể bán nổi bức tranh nào, dù nhỏ nhất, chính tôi đã phải gánh vác thu nhập chính trong gia đình. Chính nhờ nhan sắc của tôi, những bức ảnh tôi làm mẫu, những mẩu quảng cáo tôi đóng, những bìa tạp chí tôi chụp hình mà ông ấy có thể trở thành một họa sĩ được thừa nhận.
Nghe bài độc thoại của bà ta, Gaspard nghĩ tới nhân vật nữ diễn viên thất thế do Gloria Swanson thủ vai trong Đại lộ Hoàng hôn. Cũng sự tôn thờ dành cho người phụ nữ vốn là mình trong quá khứ đó, cũng lời biện minh thống thiết đó.
– Ròng rã nhiều năm trời, tôi đã là ngọn lửa tiếp liệu cho sức sáng tạo của ông ấy. *Kryptonite Girl của ông ấy. Chính Sean đã gọi tôi như thế bởi lẽ ông ấy tin chắc rằng mình không thể vẽ được gì thần tình nếu không có sự hiện diện của tôi bên cạnh.
Chú Thích
Loại đá màu xanh lục có khả năng tước đoạt năng lực siêu phàm của các superman.
– Ông ấy không nhầm đâu, Gaspard công nhận. Những bức chân dung ông ấy vẽ bà đều tuyệt đẹp.
– Anh đang nhắc đến bộ tranh “21 Pénélope” chứ gì? Để tôi nói anh nghe: ban đầu thì đúng thế thật, tôi có hãnh diện về những bức tranh này. Rồi nó đã trở thành gánh nặng.
– Vì sao vậy?
– Vì ánh mắt của những người khác: nguồn cơn gây ra phần lớn những nỗi bất hạnh của chúng ta. Tôi thấy rõ mọi người nhìn chòng chọc vào mặt tôi như thế nào, và nhất là, dường như tôi nghe thấy suy nghĩ của họ. Họ bàn tán với nhau rằng tôi xinh đẹp, nhưng không quyến rũ mê hồn bằng người đàn bà trong tranh. Anh biết điều bí ẩn trong những bức tranh của Sean Lorenz chứ, anh Coutances?
– Bà nói cho tôi biết đi.
2.
Thật kích thích khi làm việc cùng Sean Lorenz, bởi vì đó là một bậc thầy về màu sắc.
Có Chúa mới biết tại sao, khi Bernard Benedick kể với cô về Jean-Michel Fayol, Madeline đã hình dung ra một ông già mặc áo bờ lu xám, mái tóc bạc phơ, đã qua cái tuổi nghỉ hưu từ lâu. Trên thực tế, người đàn ông đón tiếp cô trong cửa hàng riêng trên kè Voltaire là một anh chàng da đen trẻ hơn cô, to như ông tịnh, với kiểu đầu tết châu Phi và những chiếc nhẫn bạc đeo ở mỗi ngón tay tạo nên một đàn thú lạ lùng quỷ quái: rắn, nhện, đầu lâu họa tiết thổ dân Mexico, đầu dê. Anh ta đi đôi giày thể thao cũ sờn, mặc quần jean dáng côn và áo phao không tay mở phanh để lộ áo phông ôm sát. Bằng thái độ bắt chuyện bộc trực và niềm nở, Fayol mời cô một tách cà phê và những chiếc bánh quy mà anh ta đặt lên mặt quầy làm từ gỗ sồi mộc lốm đốm vết bẩn. Xung quanh họ, với những viên đá ốp bên ngoài, những vòm cuốn và trần nhà lún xuống, cửa hàng giống như một túp lều bán hàng thời Trung cổ. Ấn tượng này càng được củng cố bởi những tầng giá bằng gỗ nhẵn thín chạy từ sàn lên trần, chất đầy những lọ màu.
Say sưa với chủ đề Madeline đưa ra, Fayol có vẻ sẵn sàng trả lời những câu hỏi của cô mà thậm chí chẳng cần biết cô thực sự là ai.
– Tôi vốn giao du với nhiều họa sĩ, anh nói tiếp. Phần lớn đều là những gã ích kỷ và khoái khoa trương thường ảo tưởng rằng họ là Picasso hoặc *Basquiat tái thế chỉ bởi vì họ nguệch ngoạc ra một bức tranh, rồi họ tìm thấy những chủ phòng tranh chỉ vì hám của tham tiền nên mới đem chúng ra trưng bày triển lãm và một công chúng vì chiều lòng người khác nên mới tán thưởng những thứ cặn bã bỏ đi của họ.
Chú Thích
Jean-Michel Basquiat (1960-1988): nghệ sĩ người Mỹ, họa sĩ gốc Phi đầu tiên trở thành ngôi sao nghệ thuật mang tầm quốc tế. Tác phẩm cao giá nhất được đấu giá sau khi ông mất lên đến 110,5 triệu đô la Mỹ (Caruri).
Anh tìm một chiếc bánh quy Petit Écolier trong hộp sắt.
– Tuy đã thành công nhưng Sean không như vậy. Thậm chí đúng ra ông ấy còn khiêm nhường và mặc dù bị ám ảnh bởi hội họa của bản thân, chuyện đó cũng không ngăn ông ấy quan tâm tới mọi người.
Anh ngoạm miếng bánh bích quy rồi nhai nó hồi lâu như để thong thả giải khát bằng nguồn ký ức của riêng mình.
– Thí dụ nhé, khi ông ấy biết tôi đang phải làm lụng vất vả để trả tiền nhà dưỡng lão cho mẹ tôi, ông ấy đã ký cho tôi một tấm séc mà không bao giờ đòi tôi hoàn trả.
– Vậy thì, đó là một người bạn thì đúng hơn là một khách hàng thông thường, Madeline bình luận.
Fayol nhìn cô như thể cô vừa khẳng định rằng trái đất này phẳng.
– Những nghệ sĩ đích thực thường không có bạn, anh tuyên bố. Cũng chính vì vậy mà họ trở thành nghệ sĩ. Tôi giúp Sean hết lòng bằng cách cố gắng tìm ra cho ông ấy những màu sắc ông ấy tìm kiếm. Tôi cũng báo đáp cho ông ấy vài việc nữa. Nhất là tôi phụ trách cả việc đóng khung cho những bức tranh ông ấy vẽ. Ông ấy vô cùng khó tính về vấn đề này: ông ấy chỉ muốn những bộ khung kiểu Mỹ được sản xuất bằng gỗ hồ đào sáng màu rất hiếm mà chúng ta chỉ tìm thấy ở Iran.
– Tại sao anh lại nói đó là một bậc thầy về màu sắc?
– Bởi vì ông ấy là thế chứ sao! Bất chấp xuất phát điểm khá muộn màng. Bất chấp việc ông ấy đã trải qua tuổi thanh xuân để vẽ lên các tường rào và toa tàu bằng bình sơn xịt, Sean đã biến đổi triệt để vào đầu những năm 2000. Ông ấy khao khát học hỏi và đã trở thành một chuyên gia đích thực về các chất màu. Đặc biệt là một kẻ thuần túy chủ nghĩa đích thực. Thật khôi hài khi chứng kiến một người trước kia chuyên vẽ graffiti lại từ chối sử dụng màu tổng hợp!
Madeline bạo gan hỏi một câu:
– Về cơ bản, đâu là sự khác biệt giữa màu sơn tổng hợp và các chất màu tự nhiên?
Lại một cái liếc xéo từ anh chàng tóc tết châu Phi.
– Cũng như sự khác biệt giữa hôn và làm tình, giữa âm thanh một tệp mp3 với âm thanh của đĩa than, giữa một chai vang California và một chai Bourgogne… You got itCô hiểu chứ?
– Ý anh là những chất màu tự nhiên chân thực hơn chăng?
– Chúng đem lại những màu sắc sâu hơn, mãnh liệt hơn, và trên hết, chúng là duy nhất, bởi lẽ chúng chuyển tải một câu chuyện thường là có từ hàng nghìn năm trước.
Bằng một bước nhảy, Fayol bật dậy khỏi ghế dựa để bước về phía gian sau cửa tiệm.
– Những chất màu này nằm trong số những chất màu hiếm nhất và quý nhất thế giới, anh kích động khi chỉ những lọ nhỏ bằng thủy tinh chứa bột màu để trên một trong các tầng giá.
Với kích cỡ và hình dạng không đồng đều, những lọ nhỏ xíu trong suốt tạo thành một bảng màu ấn tượng đi từ những sắc độ sáng và phấn đến những sắc độ tối hơn nhiều.
Thoạt nhìn, Madeline không thể nhận ra sự khác biệt giữa chúng với những lọ màu khác vây quanh họ, nhưng cô hết sức tránh chia sẻ sự bối rối của mình. Jean-Michel Fayol vớ lấy một mẫu màu rồi khua nó trước mặt cô.
– Thí dụ đây là đá da trời, cũng được biết đến với cái tên đá lam thẫm: màu xanh bí ẩn từng được Fra Angelico, Leonardo da Vinci và Michelangelo sử dụng. Được chiết xuất từ một tảng đá nhập khẩu từ Afghanistan, chất màu này hiếm đến nỗi vào thời Phục hưng giá của nó còn đắt hơn cả vàng.
Madeline nhớ ra đã từng đọc trong cuốn tiểu thuyết Thiếu nữ đeo khuyên tai ngọc trai rằng Vermeer đã dùng chất màu này để vẽ nên chiếc khăn vấn đầu của nhân vật trong bức tranh nổi tiếng của ông.
Fayol cất chiếc lọ vào chỗ rồi chộp luôn một chất màu khác: thứ bột phấn màu tím đang lấp lánh một ánh sắc mãnh liệt.
– Sắc tía xứ Tyr, màu áo choàng của các hoàng đế La Mã. Nên nhớ rằng để thu được một gram duy nhất, cần phải chiết xuất dịch lấy từ mười nghìn con động vật thân mềm, ốc gai. Tôi để cô tự hình dung ra cuộc tàn sát…
Bị cuốn theo đà, anh nói luôn:
– Màu vàng Ấn Độ này có được nhờ chưng cất nước tiểu bò được chuyên nuôi bằng lá xoài. Dĩ nhiên ngày nay việc sản xuất ra nó đã bị cấm chỉ.
Anh chàng tóc tết lúc lắc những lọn tóc tết dài của mình rồi chuyển sang một mẫu thử khác màu đỏ son.
– Huyết rồng, được biết đến từ thời cổ đại. Truyền thuyết kể rằng sắc đỏ của nó được sinh ra từ sự pha trộn máu của một con rồng với máu của một con voi sau một trận chiến kỳ lạ trong đó cả hai sinh vật này đều thiệt mạng.
Fayol đang thao thao bất tuyệt. Như bị ám ảnh bởi những màu sắc kia, anh tiếp tục bài giảng bậc thầy của mình cho cô học trò mới:
– Có lẽ đây là màu sắc tôi thích nhất! anh thông báo trong lúc vớ lấy một lọ khác chứa một chất màu được tán mịn có sắc đất son hơi ngả về màu rượu cognac. Dẫu sao chăng nữa, đây cũng là màu thơ mộng nhất.
Madeline nghiêng người sang để đọc mẩu nhãn:
– Mummy brown ư?
– Đúng thế, màu nâu Ai Cập. Một chất màu mà ta có được nhờ xay nhuyễn những xác ướp để thu được thứ nhựa xuất hiện trên những dải băng dùng để ướp xác. Tốt hơn hết là không nghĩ đến số lượng những địa điểm khảo cổ hẳn đã bị cướp phá để sản xuất ra chất màu quỷ quái này! Vả chăng…
Madeline cắt ngang đà của anh chàng tóc tết để buộc anh ta phải quay trở lại với điều khiến cô có mặt tại đây:
– Những lần cuối cùng anh gặp Sean Lorenz, ông ấy tìm kiếm loại màu nào vậy?
3.
Mỗi lần Sean vẽ anh, ông ấy đều đánh cắp của anh thứ gì đó rồi chẳng bao giờ trả lại, Pénélope khẳng định đoạn uống một ngụm vodka nữa.
Ngồi đối diện với bà ta, Gaspard vẫn giữ thái độ thận trọng.
– Ông ấy lấy đi vẻ đẹp của anh để đưa nó vào những bức tranh, bà ta nhấn mạnh. Anh còn nhớ câu chuyện về bức Chân dung Dorian Gray không?
– Bức chân dung già đi thay vì người làm mẫu cho nó.
– Thì đó, với Sean là điều trái ngược. Hội họa của ông ấy ăn thịt người. Nó tự nuôi dưỡng bản thân bằng cuộc sống của anh và vẻ rạng rỡ của anh. Nó giết anh để có thể sinh tồn.
Pénélope tiếp tục khai triển ý tưởng này một thôi một hồi với vẻ hung hăng nhất định. Gaspard không còn lắng nghe bà ta nữa. Anh đang nghĩ đến câu trích dẫn nổi tiếng của Serge Gainsbourg: “Vẻ xấu xí có điểm vượt trội hơn vẻ đẹp đẽ, đó là nó không biến mất theo thời gian.” Lại là câu hỏi này: vì cơn cớ nào mà người phụ nữ kia lại ra nông nỗi này? Madeline đã nói với anh rằng Sean đã gặp Pénélope tại Manhattan vào năm 1992 và bấy giờ bà ta mới chỉ mười tám tuổi. Anh nhẩm tính nhanh. Lúc này người đang tiếp chuyện anh đã bốn mươi hai. Bằng tuổi anh. Tuy ở phố Cherche-Midi chỉ có ít ảnh chụp Pénélope nhưng Gaspard vẫn nhớ chính xác một bức được chụp vào thời điểm Julian chào đời. Khi ngắm bức ảnh đó, anh đã thấy Pénélope thật rạng rỡ. Vậy là những tác hại của việc phẫu thuật thẩm mỹ chỉ vừa mới xảy ra thôi.
– Sau vài năm, dẫu sao chăng nữa Sean cũng hiểu ra rằng thiên tài của ông ấy không phụ thuộc vào con người bé mọn của tôi. Vậy nên tôi đã sợ mất ông ấy, dĩ nhiên rồi. Sự nghiệp của riêng tôi đang sa sút. Để trốn chạy nỗi chán đời của mình, tôi bắt đầu xài quá liều rượu mạnh và các chất gây nghiện: cần sa, cocain, heroin, thuốc viên… Một cách để buộc Sean phải chăm lo đến tôi. Ông ấy đã dẫn tôi đến trại cai nghiện cả chục lần. Phải khẳng định với anh rằng Sean có một nhược điểm. Thực chất là một điểm yếu: đó là một người tốt.
– Tôi không thấy đó là một điểm yếu ở chỗ nào.
– Thế mà đó lại là một điểm yếu đấy, nhưng đó lại là chuyện khác. Tóm lại, ông ấy chưa bao giờ đủ dũng khí để bỏ rơi tôi. Bởi lẽ ông ấy nghĩ bản thân nợ tôi món nợ muôn kiếp. Sean có phần ngờ nghệch. Hay nói đúng hơn, ông ấy có logic của riêng mình.
Đôi mắt Gaspard đã rời khỏi khuôn mặt Pénélope để nấn ná trên một vết sẹo hình ngôi sao cào trên mé phải cổ bà ta. Rồi anh nhận ra bà ta còn có vết sẹo dài thứ hai, gần như đối xứng, dưới tai trái. Và rồi thêm một vết sẹo thứ ba, ở ngực. Trong một giây, anh hiểu ra: những vết sẹo này không phải dấu vết do phẫu thuật thẩm mỹ để lại, mà là di chứng của vụ tấn công bằng dây kẽm gai mà Pénélope phải hứng chịu trong lúc bị bắt cóc. Ngay lúc đó, một niềm tin hình thành trong tâm trí anh. Chính là sau cái chết của con trai, Pénélope đã bước vào cái vòng luẩn quẩn của phẫu thuật thẩm mỹ. Thoạt tiên, có lẽ là để phục hồi những thương tổn do vụ tấn công gây ra, rồi sau đó chắc chắn là giống như một dạng hình phạt sám hối. Sean không phải người duy nhất đi theo con đường thập giá. Vợ ông đã đồng hành cùng ông trên con đường tự hủy hoại bản thân. Bà ta đã muốn chịu đựng tổn thất ở chính thứ tội lỗi mình phạm phải: nhan sắc.
– Đứa con trai ra đời không giúp hai người xích lại gần nhau ư?
– Đứa trẻ ấy là một phép mầu. Lời hứa hẹn về một xuất phát điểm mới. Ban đầu, tôi đã muốn tin vào điều ấy, nhưng đó chỉ là một ảo tưởng.
– Tại sao vậy?
– Đích thị rồi, bởi lẽ trong mắt Sean không còn tồn tại điều gì khác nữa. Hội họa cũng không mà tôi cũng không. Chỉ duy có Julian là đáng kể…
Khi nhắc đến con trai mình, Pénélope dường như chìm đắm vào một giấc ngủ lịm do bị thôi miên. Gaspard cố gắng ngăn bà ta lại:
– Nếu bà cho phép tôi hỏi một câu cuối cùng thì…
– Anh xéo đi.
– Thưa bà, chỉ đúng một…
– Cút! bà ta gào lên như thể vừa giật mình thức giấc.
– Lần cuối cùng bà nói chuyện với chồng mình là khi nào?
Bà ta thở dài. Ánh mắt bà ta lại mải miết lần nữa, lục tìm trong ký ức.
– Lần cuối cùng, đó là… hôm ông ấy mất. Chỉ vài phút trước khi ông ấy mất. Bấy giờ Sean đang ở New York. Ông ấy gọi cho tôi từ một buồng điện thoại công cộng ở khu Tây Thượng Manhattan. Ông ấy nói những câu rời rạc. Vì chênh lệch múi giờ nên ông ấy đã đánh thức tôi dậy lúc nửa đêm.
– Tại sao ông ấy lại gọi điện cho bà?
– Tôi không còn nhớ nữa.
Gương mặt mệt mỏi, bà ta òa khóc.
Anh gặng hỏi:
– Bà làm ơn cố gắng đi mà! Ông ấy đã nói gì với bà vậy?
– ĐỂ TÔI YÊN.
Tiếng thét khiến bà ta rơi trở lại màn sương mù. Bất động, bơ phờ trên chiếc trường kỷ màu trắng, bà ta đã ngắt kết nối với thực tại. Ánh mắt gườm gườm. Như sửng sốt.
Ý thức được tình huống, Gaspard bị hút xuống vực sâu hổ thẹn. Anh đang làm gì ở đây, để tra tấn người phụ nữ này trong khi chuyện chẳng liên quan gì tới anh? Ý nghĩa cuộc tìm kiếm của anh nằm ở đâu vậy?
Anh lẳng lặng ra về.
Trong thang máy, anh tự nhủ rằng Godard có lý: “Nghệ thuật giống như một trận hỏa hoạn, nó sinh ra từ những gì nó thiêu đốt.” Câu chuyện bi thảm của gia đình Lorenz được đánh dấu bằng những xác chết, những hồn ma, những xác sống. Những số phận bị đánh cắp, bị thiêu cháy, đốt thành than bởi ngọn lửa của đam mê và sáng tạo.
Nghệ thuật là một trận hỏa hoạn sinh ra từ những gì nó thiêu đốt.
4.
Jean-Michel Fayol không phải lục tìm lâu trong ký ức.
– Sau một thời gian dài vắng mặt, Sean thường xuyên quay trở lại cửa hàng trong hai tháng cuối đời. Chuyện đó cách đây đã hơn một năm rồi. Vào tháng Mười một và tháng Mười hai năm 2015. Bấy giờ ông ấy đang trong cuộc săn lùng.
– Ông ấy săn lùng cái gì vậy? Madeline hỏi, có phần tuyệt vọng.
– Các màu sắc, dĩ nhiên rồi.
– Vậy thì theo cậu, ông ấy đã vẽ trở lại sao?
Fayol cười khẩy.
– Đó là lẽ hiển nhiên mà! Và tôi sẵn sàng trả giá cao để được biết bấy giờ ông ấy đang nghĩ gì.
– Vì lẽ gì vậy?
– Trước nhất, bởi lẽ ông ấy bị màu trắng ám ảnh.
– Màu trắng ư?
Anh chàng tóc tết gật đầu rồi như biến thành nhà thơ trữ tình:
– Vâng, màu của những bóng ma và những hồn ma. Màu của ánh sáng nguyên thủy và sự lóa mắt. Của sự thuần khiết của tuyết, của sự ngây thơ trong trắng, của trinh tiết. Màu sắc trọn vẹn vì chỉ mình nó thôi cũng đủ tượng trưng cho cả sự sống lẫn cái chết.
– Ông ấy tìm kiếm kiểu màu trắng nào vậy?
– Đúng ra mà nói, ban đầu ông ấy dò dẫm và những yêu cầu của ông ấy rất mâu thuẫn: khi thì mờ xỉn, khi thì sáng bóng. Khi thì trơn nhẵn, lúc lại sần sùi. Khi thì gần giống phấn, rồi những ánh phản chiếu sắc kim loại. Chẳng biết thế nào mà lần.
– Ông ấy phê ma túy hay là có những ý tưởng rõ ràng?
Anh chàng buôn màu vẽ nhíu mày.
– Tôi sẽ nói rằng ông ấy hứng khởi thì đúng hơn. Như thể ông ấy bị điều gì đó làm cho xáo trộn.
Họ đã quay trở lại ngồi bên quầy. Vài giọt mưa đang gõ lên cửa kính.
– Sean thường nói với tôi về những chất màu trắng khoáng, nhưng chúng có nhược điểm là úa vàng và trở nên trong suốt ngay khi người ta hòa chúng với một chất gắn kết. Tôi tiếc vì không thể giúp ông ấy. Cuối cùng, tôi đã đề nghị ông ấy bắt đầu với Gotun Shirayuki.
– Một màu trắng của Nhật Bản ư? cô đoán liều.
– Đúng thế, một chất màu trắng ánh xà cừ, màu ngọc trai, được tạo nên từ các vỏ hàu. Sean đã thử vẽ bằng màu này, nhưng ít lâu sau ông ấy quay lại, bảo tôi rằng đó không phải thứ ông ấy tìm kiếm. Và màu sắc này sẽ không giúp ông ấy “miêu tả” được thứ đang có trong đầu. Suy cho cùng, cách diễn đạt này cũng khiến tôi ngạc nhiên.
– Tại sao vậy?
– Những họa sĩ như Sean không tìm cách diễn tả, mà họ thể hiện. Họ không miêu tả, mà họ vẽ, để lấy lại cảm giác Nguôi Khuây. Tuy nhiên, lúc bấy giờ, tôi có cảm giác Sean đang nung nấu trong đầu thứ gì đó cụ thể, nhưng thứ này đơn giản là không tồn tại trong hiện thực.
– Ông ấy không nói với anh đó là thứ gì sao?
Fayol nhăn mặt phác cử chỉ ra điều mù tịt. Madeline vẫn bám riết lấy anh:
– Và cuối cùng, anh đã tìm được cho ông ấy một màu sắc chứ?
– Dĩ nhiên, anh chàng vừa đáp vừa cười ngoác miệng: tôi đã hí hoáy chế cho ông ấy một chất màu chiết từ thạch cao không điển hình mà người ta chỉ tìm thấy ở một nơi duy nhất.
– Ở đâu thế?
Vô cùng hãnh diện, Fayol ra vẻ bí hiểm.
– White Sands, cái tên này có gợi cho cô nhớ ra điều gì không?
Madeline suy nghĩ vài giây cho tới khi một hình ảnh lướt qua tâm trí cô: những cồn cát trắng, lấp lánh ánh bạc trải dài đến hút tầm mắt. Một trong những công viên quốc gia đẹp nhất nước Mỹ.
– Sa mạc ở New Mexico chăng?
Anh chàng tóc tết gật đầu xác nhận.
– Nơi đó mọc lên một căn cứ quân sự để quân đội thử nghiệm những loại vũ khí và công nghệ bí mật. Chính trên vùng đất đó xuất hiện một công trường thạch cao rất hiếm. Một thứ quặng biến tính từ đó người ta có thể chiết xuất một chất màu khá bền: một dạng trắng-xám với những ánh phản chiếu sắc hồng.
– Nếu loại đá ấy xuất hiện ngay trong căn cứ quân sự thì anh làm cách nào để vào được trong đó?
– Cái đó là bí mật nho nhỏ của tôi.
– Anh có mẫu thử của chất màu đó chứ?
Fayol ngoái nhìn về phía các tầng giá của mình rồi với lấy một lọ nhỏ bằng thủy tinh thổi. Madeline quan sát thứ đựng bên trong thoạt tiên với vẻ phấn khích, sau đó là với đôi chút thất vọng. Những chất màu này trông giống như những vỏ bào phấn đơn giản.
– Cụ thể là, người ta sẽ hòa cái đó với dầu để vẽ ư?
– Dầu hoặc bất kỳ chất gắn kết nào, đúng thế.
Madeline bối rối lấy lại chiếc mũ bảo hiểm của mình để trên quầy rồi cảm ơn Fayol vì đã giúp đỡ.
Trong khi tiến lên trước để mở cửa cho cô, anh chàng tóc tết dừng lại một chút, có vẻ như sực nhớ ra điều gì đó.
– Sean cũng đã yêu cầu tôi tìm cho ông ấy những chất màu dạ quang loại hảo hạng. Chuyện này khiến tôi ngạc nhiên, bởi lẽ những thứ đó có phần mới lạ.
– Chính xác là thứ gì vậy? Những chất màu tích giữ ánh sáng chăng?
– Đúng thế, để khôi phục ánh sáng bằng cách lấp lánh trong bóng tối. Ngày xưa, các nhà công nghiệp thường sử dụng radium để sản xuất ra những nước sơn mà chúng ta đặc biệt hay thấy xuất hiện trên những bảng điều khiển máy bay.
– Xin chào phóng xạ!
Fayol gật đầu xác nhận.
– Sau này, người ta đã sử dụng kẽm sulfur, nhưng thứ này vẫn không mấy hiệu quả và nhanh chóng bị hư hỏng.
– Còn ngày nay thì sao?
– Giờ thì người ta sử dụng các tinh thể aluminat stronti không mang tính phóng xạ và cũng chẳng độc hại.
– Chính là thứ mà lúc bấy giờ Lorenz tìm kiếm.
– Đúng thế, nhưng lúc đó cũng vậy, Sean vẫn gạt đi tất cả những chất màu của tôi. Vì không rõ Sean muốn gì nên tôi đã giúp ông ấy liên hệ với một nhà máy ở Thụy Sĩ đang chế tạo một thứ bột dạ quang được sử dụng trong công nghệ cao cấp dành riêng cho đồng hồ lặn. Những gã này phản ứng mau lẹ, nhưng tôi không biết liệu Sean có nhất trí được với họ không.
Madeline ghi lại hú họa tên công ty Thụy Sĩ kia rồi cảm ơn “thợ màu” lần nữa.
Khi cô rời khỏi kè Voltaire, màn đêm đã gần buông. Cơn mưa không còn giả đò vờ vĩnh nữa và những đám mây dày đặc như đám khói đen kịt tan trên sông Seine đang mùa nước lũ và điện Louvre. Những cơn lốc bụi bốc tung lên bởi nỗi cuốn theo hàng đống đất đắp thù nghịch.
Ngồi trên chiếc Vespa, cô lại lên đường nhằm hướng cầu Hoàng Gia để tới Saint-Germain và tái ngộ cô bạn mình. Tiếng sấm ầm ì khiến cô giật nẩy mình. Trên bầu trời vằn vện ánh chớp, cô dường như thoáng thấy gương mặt góc cạnh của Sean Lorenz. Một gương mặt sầu não, gần giống Chúa Kitô, tràn trề một thứ ánh sáng màu trắng.
Gaspard
Saint-Germain-des-Prés
Bầu trời màu kẽm. Những tòa nhà bị bôi đen bằng ruột chì than. Những bóng dáng đậm chất khoáng của rặng tiêu huyền. Cảm giác bước đi trong khoảng không. Bị nuốt chửng, bị cán mỏng bởi chuyển động, ô nhiễm và tiếng la ó ầm ì của đại lộ.
Hình ảnh Pénélope Lorenz không rời bỏ tôi. Vẻ đẹp bị tàn phá của bà ta, giọng nói khàn khàn của bà ta, ký ức về vẻ tươi tắn đã mất của bà ta đưa tôi trở lại với sự bấy bớt của chính mình, sự chán nản của chính mình, sự sụp đổ của chính mình.
Tôi cần không khí trong lành tinh khiết, bầu trời trong sáng, một làn gió cứu thế, ánh nắng của hòn đảo Hy Lạp hoặc sự tinh khiết đóng băng của những đỉnh núi tuyết phủ ở Montana. Thiếu thứ không khí trong lành của núi non hùng vĩ, tôi xông vào quán bar đầu tiên gặp trên đường, một quán cà phê nằm ở góc phố Saint-Germain giao với phố Saints-Pères.
Nơi này gìn giữ hình ảnh một thủ đô cổ kính khiến những người nước ngoài thích thú, nhưng đã từ lâu rồi chẳng còn tồn tại: những băng ghế bọc vải giả da, những bóng đèn tuýp, những chiếc bàn phoóc mi ca, những chiếc gạt tàn hiệu Ricard chất liệu opalex, những máy chiếu phim Scopitone Cameca kiểu cổ. Dưới cửa kính ghép màu, du khách và sinh viên các trường đại học ngay gần đó đang ăn nốt chiếc bánh mì phết bơ kẹp giăm bông hoặc bánh mì kẹp nướng giòn. Tôi rẽ cho mình một lối tới tận quầy bằng kẽm. Cố không tỏ vẻ gì, tôi gọi hai ly cocktail old fashioned rồi uống cạn sạch trước khi nhanh chóng trở ra.
Thứ rượu mạnh uống vào bữa trưa đúng là đã khiến tâm trí tôi đờ đẫn và tôi biết rằng whisky sẽ còn khiến tình trạng này kéo dài. Tôi muốn uống thêm. Trong quán rượu tiếp theo, quán này thì rất sang trọng, tôi tặng cho mình hai ly scotch nữa. Rồi tôi quay lại phía Saint-Germain.
Trời đang mưa. Xung quanh tôi, mọi thứ trở nên mơ hồ. Những màu sắc đã biến mất khỏi phong cảnh. Chỉ còn lại những hình dạng xám xịt úa vàng đằng sau cặp mắt kính đang bị mưa châm chích. Tôi lê bước tới tận phố Bonaparte. Mỗi bước đi tôi đều phải trả giá như thể mình là một con voi rạp xiếc, buộc phải bước đi thăng bằng trên một sợi thừng căng cứng. Giữa hai tai tôi, ai đó vừa tăng âm lượng, khuếch đại thứ âm thanh nhức nhối của thành phố.
Những hồi trống ngực, những cơn run rẩy, cảm giác mót tiểu. Lồng ngực tôi thở phì phò hổn hển. Tôi chao đảo, run lập cập và nghẹt thở. Mưa thấm vào cổ tôi, trộn lẫn với mồ hôi. Thân trên ngứa ran, hai cánh tay nhức nhối, tôi những muốn rứt phăng da thịt mình. Thậm chí tôi không tìm cách hiểu nguyên do cảm giác mệt mỏi của bản thân. Tôi biết những thủ đoạn thâm hiểm của nó. Tôi biết cơ thể tôi là chỗ trú của một hang ổ quỷ dữ không bao giờ ngủ đông quá lâu. Tôi cũng biết cơn thèm rượu sẽ chiếm hữu tôi với một sự tàn bạo hiếm thấy.
Phố Abbaye, tôi phát hiện ra một nhà hàng, có khả năng là một quán bar nữa. Mặt tiền bằng gốm, những tấm rèm mỏng vải ca rô đỏ. Ướt sũng như một con chó, tôi lảo đảo bước vào quán rượu. Giờ phục vụ bữa trưa đã kết thúc, đám bồi bàn đang dọn dẹp phòng ốc và đã sửa soạn sẵn bàn ăn để chuẩn bị phục vụ bữa tối. Người nhỏ giọt tong tong, tôi hỏi liệu mình có thể “uống một chầu” được không, nhưng sau khi săm soi tôi từ đầu đến chân, họ từ chối phục vụ. Tôi chửi rủa họ rồi phe phẩy tiền trước mặt họ như thể tiền có thể mua được mọi thứ. Nhìn ra bản chất nghiện ngập của tôi, họ liền đuổi tôi ra ngoài.
Trong khi cơn mưa đã thêm nặng hạt, tôi nhận ra những bước chân đã dẫn tôi tới phố Furstenberg. Vẫn là một bức ảnh chụp Paris muôn đời. Một quảng trường nhỏ với những cây hông khổng lồ và cột đèn đường năm bóng hình cầu.
Dĩ nhiên là tôi biết nơi này, nhưng đã lâu lắm rồi tôi không còn đặt chân tới nữa. Dưới tác dụng của rượu, cảnh vật vặn xoắn, giãn nở trong khi cơ thể tôi dường như trương lên và tách làm đôi. Một âm thanh chát chúa như xé rách màng nhĩ. Tôi áp hai bàn tay lên thái dương. Im lặng. Rồi bỗng nhiên, một giọng nói:
– Bố đấy ạ?
Tôi ngoảnh lại nhìn.
Ai gọi tôi thế nhỉ?
– Con sợ, bố ơi.
Người được gọi không phải tôi. Chính là tôi đang nói. Bỗng nhiên tôi chỉ mới lên sáu. Tôi đang ngồi trên quảng trường này cùng bố tôi. Quảng trường này, dĩ nhiên là tôi biết. Quảng trường này phần nào đó giống như “nhà của chúng tôi”. Bố tôi vẫn mặc bộ quần áo giống trên bức ảnh không bao giờ rời khỏi ví của tôi: quần âu vải sáng màu, sơ mi trắng, chiếc vest bảo hộ vải bông và đi đôi giày bóng loáng. Trong túi áo khoác ngắn của tôi đang có chiếc ô tô nhỏ Majorette và cây bút bốn màu. Tôi đeo trên lưng chiếc cặp xách hiệu Tann’s với tên tôi được viết tay trên mảnh nhãn lồng vỏ plastic.
Thời đó, tôi đang học lớp một ở trường tiểu học phố Saint-Benoît. Những ngày phải tới trường, cứ cách nhật bố lại tới đón tôi vào buổi chiều. Hôm nay là chiều thứ Tư. Hai bố con ra khỏi rạp chiếu phim phố Christine nơi chúng tôi vừa xem Đức vua và con chim. Tôi đang buồn và nguyên do không phải ở bộ phim. Sau một hồi, vì không thể kìm nén được nỗi đau khổ nên tôi trào nước mắt. Bố tôi rút từ túi áo ra một chiếc khăn mùi soa, thứ mà lúc nào ông cũng mang theo người. Ông lau mắt cho tôi, bảo tôi xì mũi, đảm bảo rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi. Rằng ông sẽ tìm ra giải pháp. Ông vẫn luôn giữ lời hứa, nhưng tôi lờ mờ cảm thấy rằng lần này, tình huống có vẻ phức tạp hơn.
Cơn mưa rào đưa tôi về với thực tại. Cặp kính của tôi đã sũng nước. Tôi không còn nhìn thấy gì nữa và hai màng nhĩ chỉ chực nổ tung. Tôi không muốn nghĩ đến chuyện đó nữa. Tại sao tôi phạm phải sai lầm là quay trở lại nơi đây? Làm sao tôi có thể mất cảnh giác đến mức này? Sự dại dột chăng? Nỗi chán nản cực độ ư? Vô thức cần một sự đối chất chăng? Nhưng với ai kia chứ?
Với mày ấy, thằng ngu.
– Con sợ, bố ơi! tôi lặp lại.
– Đừng sợ, anh chàng lớn đùng của bố. Bố con mình sẽ không bao giờ chia cách lâu đâu, bố hứa với con như thế.
Lời hứa ấy, ngay từ hồi đó tôi đã không hề tin rồi. Và tương lai chứng tỏ rằng tôi đã đúng.
Lúc này, tôi đang khóc, như một anh chàng to xác vô dụng mít ướt. Vẫn những giọt nước mắt như ngày còn thơ dại.
Tôi loạng choạng. Tôi muốn ngồi xuống, nhưng những băng ghế công cộng ngày xưa đã bị bỏ đi. Thời đại này là thế: nó không bao dung cho những cơn mệt nhọc và không cho những kẻ bị tổn thương chỗ trú thân nữa. Tôi nhắm mắt với cảm giác sẽ không bao giờ còn mở mắt ra nữa. Trong giây lát, tôi nghĩ mình sắp bất tỉnh nhân sự, nhưng tôi vẫn đứng sững ra đó, ướt sũng nước mưa. Thời gian phế bỏ.
Bao lâu đã trôi qua trước khi tôi lại mở choàng mắt nhỉ? Năm phút, mười phút, nửa giờ? Khi tôi trồi lên, mưa đã tạnh. Tôi lạnh đờ người. Tôi lau kính rồi, trong giây lát, thậm chí tôi còn nghĩ rằng cơn khủng hoảng đã qua và nước trời đã thanh lọc tôi. Gần như đã quyết định quên giai đoạn đó đi, tôi lại lên đường, về phố Jacob rồi đi tiếp vào phố Seine.
Nhưng bỗng nhiên, tôi sững ra như pho tượng. Trong cửa kính một gallery điêu khắc, tôi vừa nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình. Nó khiến tôi khựng lại. Một lẽ hiển nhiên: tôi không thể tiếp tục cuộc đời mình như vậy. Thậm chí không phải là tôi đi bất cứ đâu. Nhất là khi nơi duy nhất tôi khát khao muốn đến, là “bất cứ đâu ngoài thế giới này”.
Hình ảnh phản chiếu thô kệch và tiều tụy của tôi trên cửa kính. Không thể chịu nổi. Tôi cảm thấy mất thăng bằng, bị cuốn đi bởi ước mong sao cho mọi chuyện dừng lại. Bây giờ.
Tôi siết chặt nắm tay rồi bùng nổ. Những cú đấm dội vào cửa kính với một cơn thịnh nộ điên cuồng. Đấm thẳng, móc hàm, đấm móc. Tôi thỏa thuê. Những người qua đường thất kinh nên đi vòng hướng khác. Đấm thẳng, móc hàm, đấm móc. Những mảnh vỡ thủy tinh. Hai nắm tay tôi be bét máu. Trái tim mong manh, thể xác ngã bổ chửng. Tôi đấm không ngừng nghỉ cho tới khi mất thăng bằng. Cho tới khi tôi khuỵu xuống vỉa hè.
Và một khuôn mặt viền quanh bởi những lọn tóc vàng cúi xuống mặt tôi.
Madeline.
8
Dối trá và sự thật
Nghệ thuật là lời nói dối khiến chúng ta hiểu được sự thật.
Pablo PICASSO
1.
Anh còn nợ tôi một lời giải thích!
– Tôi chẳng nợ gì cô hết.
Màn đêm đã buông. Trên sân trước bệnh viện Pompidou, Madeline và Gaspard đang chờ chiếc taxi mà họ vừa gọi. Hai bóng người tối thẫm và bồn chồn nổi bật trước con tàu chở khách ốp kính neo đậu trên sông Seine. Vẻ mặt Gaspard nghiêm trọng và mệt mỏi. Một bàn tay băng kín, bàn tay kia bó nẹp.
– Tôi báo để anh biết chính là nhờ có tôi mà ông chủ tiệm mới không đâm đơn kiện anh đấy nhé! Madeline bực bội nói tiếp.
– Đúng ra là nhờ tấm séc đắt lòi mà tôi đã ký cho ông ta, anh chối.
– Nhưng mà, khỉ thật, điều gì xui khiến anh tấn công cái cửa kính vốn chẳng làm gì anh thế?
Câu đùa chẳng khiến Gaspard tươi hơn.
Xe taxi, một chiếc Mercedes màu trắng, đang nháy đèn xi nhan rồi dừng lại trước mặt họ. Trông thấy một trong hai hành khách đang bị thương, tài xế bèn xuống mở cửa xe cho họ.
Chiếc xe khởi hành, men dọc kè Grenelle rồi chạy xuyên quận 15 theo phố Convention. Trong khi họ dừng trước một đèn đỏ, Gaspard tỏ ra bớt kiệm lời hơn. Mũi dán vào cửa kính xe, anh thổ lộ một lời tâm sự kỳ lạ:
– Tôi sinh ra cách đây ba con phố, cô biết đấy. Tại bệnh viện phụ sản Sainte-Félicité, năm 1974.
Madeline thú nhận sự ngạc nhiên của mình:
– Thế mà tôi cứ nghĩ anh là người Mỹ cơ đấy.
– Mẹ tôi là người Mỹ, anh nói rõ trong khi chiếc Mercedes lại lên đường. Thời đó, sau khi tốt nghiệp đại học Yale, bà đã tìm được một công việc tại Paris, hãng Coleman & Wexler, một văn phòng luật sư lớn của New York vừa mở văn phòng đại diện tại thủ đô nước Pháp.
– Còn bố anh?
– Ông tên là Jacques Coutances, người gốc Calvados. Có chứng chỉ nghề chuyên ngành xây dựng, ông “lên” Paris để làm quản đốc công trường trong một công ty chuyên thi công các công trình công cộng.
– Một cuộc hôn phối hỗn tạp…
– Đó là một cách nói uyển ngữ. Bố mẹ tôi hoàn toàn không có điểm gì chung. Thẳng thắn mà nói, thậm chí tôi còn khó lòng hình dung mình được thụ thai như thế nào. Chắc chắn mẹ tôi đã cảm thấy hồi hộp khi giao du với một người đàn ông thuộc tầng lớp bình dân. Tóm lại, mối quan hệ giữa họ giống như thời tiết vậy: vài ngày trong mùa hè năm 1973.
– Chính mẹ anh là người nuôi dạy anh hả?
– Ngay khi tôi chào đời, bà đã tìm cách hất cẳng bố tôi, thậm chí đến mức đề nghị trả ông tiền để ông từ bỏ tôi, nhưng ông không chấp nhận. Sau này, bà đã nghĩ ra đủ mọi mưu chước và những lời dối trá có thể để giảm thiểu quyền thăm con của ông xuống mức mà bà cho là thích hợp. Về cơ bản, tôi được phép gặp ông hai giờ mỗi tuần, vào chiều thứ Bảy.
– Chuyện này khá bỉ ổi.
– Quả nhiên, tôi nghĩ ta có thể nói thế đấy. Thật may, phần lớn thời gian, tôi được một vú em tuyệt vời trông nom. Một phụ nữ người Algérie tên là Djamila đã xúc động với cảnh khốn quẫn của bố tôi.
Chiếc taxi hơi chệch hướng và tài xế buông lời thóa mạ hai du khách đang đạp xe giữa lòng đường – rõ ràng họ đã bị lạc đường.
– Vì mẹ tôi hiếm khi ở nhà, Gaspard nói tiếp, Djamila để bố tôi lén gặp tôi vào buổi tối sau khi tan trường và chiều thứ Tư. Đó là những khoảnh khắc của riêng chúng tôi. Chúng tôi sẽ chơi đá bóng ở công viên, tới rạp xem phim. Thậm chí ông còn giúp tôi ôn bài trong các quán cà phê hoặc trên ghế băng ở quảng trường Furstenberg.
– Nhưng làm cách nào mẹ anh lại có thể không biết chuyện ấy được?
– Bởi vì bố tôi và Djamila hết sức thận trọng. Tôi thì còn bé, nhưng tôi vẫn giữ được bí mật cho tới khi…
Giọng Coutances tỏ ra kém chắc chắn. Chiếc xe chở họ chạy chậm lại rồi theo những chỉ dẫn của một nhân viên mặc đồng phục đang điều tiết giao thông trước sở cảnh sát trung tâm của quận 15 nơi nhiều chiếc xe cảnh sát đang dừng hàng đôi và kiên nhẫn chờ đợi, động cơ vẫn để nổ, đèn hiệu vẫn nhấp nháy.
– Đó là Chủ nhật ngay sau sinh nhật sáu tuổi của tôi, anh nói tiếp. Trước giờ luôn phản đối, vậy mà mẹ tôi bỗng quay ngoắt thái độ và nhượng bộ một yêu cầu mà tôi đã trình bày ba tuần trước đó: đi xem Đế chế phản công ở rạp Grand Rex. Con đã xem phim đấy cùng bố rồi! Câu nói đó buột ra khỏi miệng tôi như một tiếng lòng. Tôi đã nói chữa lại ngay, nhưng việc dở đã lỡ xảy ra rồi. Trong vòng ba giây, tôi đã ký án tử cho bố tôi.
– Án tử ư, sao lại thế được?
– Mẹ tôi đã tiến hành điều tra và dồn ép Djamila khiến cô ấy buộc phải thú nhận sự thật. Khi biết được sự thật rồi, bà nổi cơn giận dữ kinh hoàng, đuổi việc cô trông trẻ và đâm đơn kiện bố tôi tội bắt cóc trẻ em. Một nữ thẩm phán đã buộc bố tôi phải thi hành lệnh cách ly, cấm hoàn toàn việc tiếp xúc với tôi. Vì không chịu nổi sự bất công này, ông đã nảy ra một ý tưởng ngây thơ là tìm tới nhà nữ thẩm phán kia để cố gắng biện hộ cho việc làm của mình.
– Một ý tưởng tồi, Madeline thì thầm.
– Bố tôi đã lầm khi tin vào công lý. Nữ thẩm phán không tặng cho ông món quà nào. Thay vì lắng nghe ông, bà đã trình báo cảnh sát, mạo xưng là đã nhận được những lời đe dọa và cảm thấy không an toàn. Bố tôi bị bắt giam. Ngay đêm đó, ông đã treo cổ trong buồng giam.
Madeline nhìn anh, rụng rời. Cự tuyệt lòng trắc ẩn, Gaspard không để nỗi im lặng hình thành.
– Dĩ nhiên người ta giấu tôi chuyện đó. Nhiều năm sau tôi mới biết chuyện hồi ấy. Lúc đó, tôi đã mười ba và đang học nội trú ở Boston. Từ ngày hôm đó, tôi không nói chuyện với mẹ tôi nữa.
Hiện tại anh cảm thấy bình yên một cách đáng ngạc nhiên. Gần như nhẹ nhõm. Khuây khỏa vì đã tâm sự được phần nào câu chuyện của mình. Tâm sự với một người xa lạ cũng có những cái hay: lời lẽ tự do hơn, thoát khỏi những rào chắn và phán xét.
– Ban nãy cửa kính không phải là thứ anh muốn đấm đá phải không?
Anh nở một nụ cười buồn bã.
– Không, dĩ nhiên rồi, là tôi đấy chứ.
Trong khi họ tới góc đại lộ Montparnasse giao phố Cherche-Midi, anh trông thấy một chén thuốc của nữ thần sức khỏe Hygeia, màu nước bạc hà nhấp nháy trên bề mặt như đang nhiễm điện cho màn đêm. Anh bảo tài xế taxi cho anh xuống ở hiệu thuốc để mua loại thuốc giảm đau mà bệnh viện vừa kê đơn.
Madeline xuống xe cùng anh. Trong lúc xếp hàng chờ mua thuốc, cô tìm cách làm sao để bầu không khí bớt nặng nề và rốt cuộc đã nói đùa:
– Vết thương này tệ đấy. Thành thử anh không làm bếp được nữa rồi.
Anh nhìn cô vẻ không khoái đùa kiểu này lắm. Cô nói tiếp:
– Tiếc thật đấy, vì tôi thì đang đói ngấu đây. Tôi muốn ăn thêm một bữa risotto do anh nấu.
– Nếu cô muốn, tôi mời cô ăn nhà hàng. Tôi thừa nhận mình đang nợ cô chuyện này.
– Nhất trí.
– Cô muốn đi đâu nào?
– Hay là chúng ta quay lại quán Grand Café nhé?
2.
Một lần nữa, họ có được một bữa tối vừa dễ chịu vừa bất ngờ ngoài sức mong đợi. Vô cùng mừng rỡ khi gặp lại họ, chủ nhà hàng ưu tiên để họ tự chọn bàn, bàn góc trong cùng nhà hàng đối diện với bức tranh tường ghép mảnh của Sean Lorenz.
Gaspard đã tươi tỉnh trở lại. Anh thuật lại chuyến thăm gây chấn thương tinh thần tại nhà Pénélope Lorenz và cơn hoang tưởng đã cuốn phăng anh khi ra về. Madeline kể chi tiết cuộc gặp gỡ lý thú với Jean-Michel Fayol, người đã phác ra cuộc tìm kiếm đến mức ám ảnh của Lorenz hòng tìm ra những màu sắc phù hợp với những yêu cầu về hình ảnh tưởng tượng của ông, với rất nhiều giai thoại. Sean muốn vẽ “thứ gì đó không tồn tại trong hiện thực”: lời nói này của anh chàng buôn màu khiến cô lưu tâm. Cô mài giũa tính tò mò của mình. Người họa sĩ đã tìm cách thể hiện điều gì trong khi sáng tác những bức họa cuối cùng của mình? Thứ gì đó ông ấy từng trông thấy? Một giấc mơ chăng? Một sản phẩm của trí tưởng tượng cá nhân chăng?
Louis de Funès bước vào căn phòng nơi họ đang dùng bữa, phiên bản phim Grand Restaurant:
– Bánh ngàn lớp nhân chim câu, “*Septime” thông báo đoạn để xuống trước mặt họ hai chiếc đĩa nóng hổi.
Chú Thích
Nhân vật chủ nhà hàng trong phim Grand Restaurant.
Vì hai bàn tay Gaspard đều đang băng bó, Madeline sang ngồi cạnh để xắt thịt cho anh. Nhà soạn kịch vui lòng để mặc cô thao tác và Madeline thầm biết ơn anh về phẩm chất này, không phải lúc nào cũng tìm cách đóng vai nam nhi đại trượng phu. Vì đã phải mong chờ chuyện đó, họ dành phần lớn thời gian bữa ăn để ngắm bức tranh tường của Lorenz. Madeline đã đặt lên bàn, cạnh cốc nước của cô, hộp diêm của nhà hàng có ghi câu trích dẫn Apollinaire, di vật cuối cùng Lorenz để lại cho Bernard Benedick. Và lời chế giễu sau cùng: “Đã tới lúc thắp lại những vì sao.” Người họa sĩ đã cố gửi đến bạn mình thông điệp nào vậy? Ý nghĩa của nó có nằm trong bức tranh ghép mảnh này không? Họ muốn tin vào điều đó, nhưng họ càng ngắm bức tranh tường, bức tranh càng kiệm lời với họ. Madeline nghĩ rằng nó giống như một vài bức phong cảnh rừng già của Nhân viên thuế quan *Rousseau. Gaspard thì vẫn còn nhớ rất rõ cuốn sách của Roald Dahl, được Quentin Blake minh họa, mà Djamila thường đọc cho anh nghe ngày anh còn nhỏ. Madeline cũng có những ký ức khá rõ nét về Cá sấu khổng lồ. Nhượng bộ nỗi niềm hoài nhớ, họ bắt đầu nhớ lại trong đầu tên của những nhân vật khác nhau. Khỉ Jojo Tinh Nghịch, chim Dodu Lông Vũ và hà mã Mông Kép lập tức quay trở về với họ.
Chú Thích
Henri Rousseau (1844-1910): họa sĩ trường phái hậu ấn tượng người Pháp theo phong cách ngây thơ và nguyên thủy, ông được đặt biệt danh Nhân viên thuế quan vì đây mới là nghề chính của ông.
– Còn voi…
– … dễ ợt: Kèn Vòi, Gaspard khẳng định. Còn ngựa vằn?
– Ngựa vằn, tôi không rõ nữa.
– Ngựa vằn sao?
– Không, tôi không biết gì vụ đó cả. Thậm chí tôi còn không nhớ vai trò của nó trong câu chuyện kia.
Sau vài phút tranh luận, Madeline cầm điện thoại lên để tìm trên Internet chú ngựa vằn đang khiến họ không tài nào nhớ ra. Cô đang gõ mổ cò thì Gaspard bỗng đứng phắt dậy rồi hét lên với cô, vẻ tự tin:
– Bỏ qua đi. Trong truyện Cá sấu khổng lồ làm gì có ngựa vằn.
Đến lượt Madeline đứng phắt dậy như điện giật. Nếu là vậy, tại sao Lorenz – người biết rõ câu chuyện bởi tối nào ông cũng đọc nó cho con trai nghe – lại vẽ một con ngựa vằn nhỉ? Đó chưa hẳn là một eurêka! nhưng cuối cùng họ đã duy trì được một hướng điều tra đầy kích thích. Họ dịch chuyển một cái bàn và hai cái ghế để quan sát con ngựa vằn kỹ lưỡng hơn.
Vả chăng đó là con vật kém cạnh nhất trong cảnh trí này. Con vật thuộc loài có vú đứng bất động, bị chộp lấy trong tư thế chênh chếch, nom chẳng duyên dáng chút nào. Một khối những hình vuông đen trắng cạnh dài chừng hai xăng ti mét. Gaspard đếm những hình vuông, hình dung những khả năng khác nhau của sự mã hóa này: mã Morse, những nốt nhạc, những ô chữ như anh thường làm trong đội hướng đạo sinh…
– Quên chuyện đó đi, Madeline bảo anh, chúng ta đâu phải đang trong Mật mã Da Vinci.
Phật ý, cô ra ngoài vỉa hè hút một điếu thuốc. Anh ra chỗ cô dưới mái hiên che mặt tiền nhà hàng. Mưa lại tiếp tục rơi. Vẫn mau hơn. Không xót thương. Và từ giờ trở đi trong mưa có thêm cả gió.
Gaspard che chắn cho Madeline khỏi bị gió thốc để cô quẹt diêm.
– Cô gặp bạn có vui không? Tôi hy vọng cô không phải rút ngắn cuộc hẹn đó vì tôi.
– Anh hãy hình dung là tôi đang trên đường đi gặp cô ấy thì trông thấy anh miệt mài tung những cú đấm vào ô cửa kính đáng thương kia.
Hơi xấu hổ, Gaspard cúi gằm mặt.
– Cô nên dành buổi tối này cho cô ấy mới phải.
– Jul’ chỉ quá cảnh chút thời gian ở Paris thôi. Cô ấy phải tiếp tục lên máy bay tới Marrakech đón Giáng sinh cùng người yêu. Có những người thật may mắn, phải không?
– Tôi thực lòng xin lỗi.
Cô không tìm cách áp chế anh.
– Anh đừng tự trách mình, chỉ là tạm hoãn thôi mà. Jul’ là bạn thân nhất và cũng là cô bạn duy nhất của tôi. Cô ấy đã hai lần cứu sống tôi.
Ánh mắt khó lòng hiểu cho đúng, Madeline rít một hơi thuốc dài. Cô lưỡng lự chưa nói tiếp, rồi rốt cuộc:
– Lần cuối cùng là cách đây tám tháng. Theo một cách nào đó, tôi đã gặp chuyện giống như anh gặp phải ngày hôm nay.
Trợn tròn mắt, Gaspard nhìn Madeline mà không hiểu ý cô muốn nói gì.
– Hôm đó là một sáng thứ Bảy, cô kể tiếp. Tôi đang đi dạo trong một trung tâm thương mại ở London thì bỗng nhìn thấy một cậu bé tươi cười. Một thiên thần nhỏ, tóc vàng xinh xẻo, với cặp kính mắt tròn sặc sỡ. Cậu nhóc mỉm cười với tôi khiến tôi thấy rất quen. Cảm giác kỳ lạ là đã quen biết cậu nhóc, anh hiểu không?
– Ừm.
– Khi cậu nhóc ùa vào vòng tay bố, tôi đã hiểu ra nguyên do mình có cảm giác ấy. Cậu nhóc đó chính là con trai của người đàn ông mà tôi từng yêu vài năm về trước. Một người đàn ông đã rời bỏ tôi để quay lại với vợ anh ta rồi sinh thêm một đứa con nữa.
– Một gã điên ư?
– Không hẳn, một gã tử tế, chính điều này mới đáng buồn. Một mối quan hệ nghiêm túc mà tôi đã tin tưởng rất nhiều. Anh ấy tên là Jonathan Lempereur. Có lẽ anh đã từng nghe nhắc tên anh ấy rồi. Đó là một trong những đầu bếp người Pháp nổi tiếng nhất thế giới.
Gaspard phát ra một tiếng càu nhàu thật khó để diễn giải.
– Tôi không biết tại sao anh ấy lại bỏ tôi. Tôi không biết ở tôi có điều gì khập khiễng. Tôi không biết mình đã làm chưa tốt điều gì. Tóm lại, buổi sáng hôm đó, tôi đã bối rối rồi suy sụp. Về được đến nhà mình cũng là lúc tôi ở dưới đáy vực, nhưng thay vì đấm liên hồi vào một ô cửa kính thì tôi lại tự cắt mạch máu trong bồn tắm. Anh thấy không, so với tôi thì anh chỉ là một tay chơi xoàng!
– Và chính bạn cô đã tìm ra cô hả?
Cô gật đầu xác nhận trong lúc rít một hơi thuốc cuối cùng.
– Hôm đó tôi có hẹn với cô ấy. Vì không thấy tôi tới chỗ hẹn, cũng không thấy tôi trả lời điện thoại, cô ấy đã có linh cảm xấu nên quyết định tới tận nhà tôi. Nếu bà gác cổng không có chùm chìa khóa dự phòng, tôi nghĩ mình đã chết rồi. Thực sự là chỉ thiếu chút nữa thôi. Tôi phải nhập viện điều trị suốt một tuần, rồi tôi xin đi nghỉ hai tháng tại một trong những cơ sở y tế dễ thương mà người ta gọi là HP. Để làm sáng rõ những suy nghĩ của bản thân, tiếp tục cuộc sống và lại tìm ra ý nghĩa của những điều ưu tiên. Phần tiếp theo thì anh biết rồi đấy…
Gaspard muốn đặt một câu hỏi, nhưng Madeline không để anh có thời gian:
– Đi nào, mời tôi một món tráng miệng đi. Tôi đã tia được món bánh mứt táo hảo hạng của nhà hàng rồi: nó có vẻ là một món “giết người hàng loạt”, như ở đây họ thường nói.
3.
Gaspard quay vào phía bên trong ồn ào nhưng ấm cúng của nhà hàng Grand Café. Trước khi đi theo anh, Madeline ném đầu mẩu thuốc rồi dùng mũi bốt di nát. Điện thoại di động đang rung bần bật trong túi áo khoác ngắn của cô. Vì đã lờ đi nhiều cuộc gọi suốt những giờ qua, cô liếc mắt vào màn hình điện thoại. Đó là một tin nhắn của bệnh viện Tây Ban Nha:
Chào Madeline,
Việc kiểm soát nang rất hoàn hảo! Đã đến lúc tới bệnh viện rồi! Ngày mai chúng tôi đợi cô tại Madrid. Chúc cô buổi tối tốt lành.
Sofia
Nữ y tá đã gửi kèm ảnh scan một đơn thuốc để Madeline mua CP kháng sinh và CP hoóc môn kích thích rụng trứng.
Madeline mất một lúc mới thực sự ý thức được ý nghĩa của điều này.
Cô vào bên trong gặp Gaspard rồi sau một lát ngập ngừng, cô cho anh biết tin.
– Tôi mừng cho cô.
– Anh thứ lỗi nhé, nhưng tôi cần mua vé máy bay, cô nói đoạn lấy thẻ tín dụng ra rồi dùng điện thoại thông minh của mình kết nối với trang web của Air France.
– Dĩ nhiên rồi.
Anh vừa nhăn mặt vừa lắc lắc bàn tay phải. Cơn đau đã thức dậy và lúc này các vết thương khiến anh đau nhức dữ dội. Anh vớ lấy mớ thuốc giảm đau trong túi rồi nuốt chửng luôn ba viên. Để được yên tâm, dẫu sao anh cũng liếc mắt lên hộp thuốc để kiểm tra liều lượng.
– Cái gì thế này? anh bỗng kêu toáng lên, gần như kích động cao độ.
Madeline rời mắt khỏi màn hình điện thoại để nhìn thứ đang khiến Gaspard phấn khích: mã vạch hai chiều in trên hộp thuốc.
Đến lượt cô hiểu ra:
– Con ngựa vằn chính là một mã QR!
Cô lập tức rời trình duyệt web rồi kết nối với kho ứng dụng trong điện thoại để bắt đầu tải miễn phí một phần mềm có khả năng đọc flashcode.
– Chính xác thì mã QR là cái gì vậy? Gaspard hỏi, hoàn toàn xa lạ với tất cả những công nghệ mới này.
– Như anh đã đoán ra đấy: một hình ảnh được tạo nên từ những ô vuông đen trắng, sau khi ta scan nó, nó sẽ gửi lại một tin nhắn, một địa chỉ Internet hoặc những tọa độ địa lý.
Gaspard gật đầu. Như vậy, Lorenz đã nảy ra ý tưởng tái tạo một mã QR bằng tranh ghép mảnh và lồng nó vào hình ảnh thể hiện một con ngựa vằn. Không hề ngốc.
– Tôi biết anh sống bên ngoài thế giới, Madeline chế giễu anh, nhưng ngày nay thứ này vô cùng thông dụng. Ta thấy chúng ở khắp mọi nơi: trên bao bì đóng gói, trong bảo tàng, trên bản đồ hoặc vé tàu xe…
Quá trình tải xuống đã hoàn thành, cô mở ứng dụng rồi rời khỏi bàn ăn để lại gần bức tranh tường. Cô dùng máy ảnh trên điện thoại để scan con ngựa vằn. Một tin nhắn lập tức hiển thị trên màn hình:
We are all in the gutter but some of us are looking at the stars.
“Tất cả chúng ta đều ở trong cống rãnh, nhưng vài người trong chúng ta đang nhìn ngắm những vì sao.” Câu nói nổi tiếng của Oscar Wilde khiến họ hơi thất vọng. Cả hai người họ đã hy vọng điều gì đó bí hiểm hơn: một vị trí GPS, một video…
– Không thể nói là chúng ta có tiến triển được, Gaspard ca cẩm.
Madeline vẫn lặng thinh. Cần phải đặt thông điệp này vào cảnh huống của nó. Rõ ràng nó được gửi đến Bernard Benedick để bổ trợ cho câu trích dẫn Apollinaire: “Đã tới lúc thắp lại những vì sao.” Điểm chung của hai câu trích dẫn này khá rõ, thậm chí có lẽ là hơi quá rõ: đều dẫn tới các vì sao.
– Ngôi sao, đó là biểu tượng mông lung nhất, Gaspard gạt phăng. Chúng ta thường thấy sự hiện diện của nó trong phần lớn những tôn giáo và tín ngưỡng bí truyền. Nó có thể biểu đạt cả tá thứ: trật tự vũ trụ, ánh sáng bầu trời, dấu mốc để đi theo cho khỏi lạc đường…
Madeline tán thành. Để đi tới tận cùng những thắc mắc của mình, cô gọi cho Benedick. Mặc dù giờ này đã muộn, ông chủ phòng tranh vẫn nhấc máy ngay ở hồi chuông thứ hai. Không đặt nặng khám phá của họ, cô hỏi ông liệu cụm từ “những vì sao” có ý nghĩa đặc biệt nào với Sean hay không.
– Theo tôi biết thì không, sao vậy? Cô đã tìm ra điều gì đó chăng?
– Lorenz có từng vẽ những vì sao không?
– Tôi không nghĩ vậy. Nói sao chăng nữa thì mười năm gần đây cũng không. Ngôi sao sẽ là một biểu tượng hơi quá “ý nghĩa” đối với anh ấy.
– Cảm ơn.
Cô vội vã dập máy để ngăn ông đặt thêm câu hỏi. Lúc này, toàn bộ nỗi hưng phấn đã xẹp xuống. Trong hai phút dài, mỗi người rút vào dòng suy tư của riêng mình. Cho đến khi điện thoại di động của cô gái rung bần bật trên mặt bàn. Lại là Benedick. Sau một hồi ngờ vực, cô nhấc máy rồi bật loa ngoài:
– Một ý tưởng thoáng qua nhé, ông chủ phòng tranh nói. Có lẽ chuyện này không có gì liên quan, nhưng Julian, con trai Sean, từng học ở trường Ngôi Sao tại Montparnasse.
Gaspard hiểu ra ngay. Anh lùi sâu vào ghế dựa rồi dùng hai bàn tay băng bó của mình diễn tả điệu bộ hồi lâu để ra hiệu cho Madeline tạm dừng cuộc trò chuyện. Khi cô dập máy rồi, anh kể với cô về hai bức ảnh treo ở nhà trong đó là cảnh Lorenz vẽ cùng lũ trẻ, rồi nhắc lại điều Pauline đã kể với anh: ngay cả sau khi Julian qua đời, Sean vẫn tiếp tục hướng dẫn một xưởng vẽ trong ngôi trường nơi con trai ông theo học.
Madeline vẫn cầm điện thoại trên tay. Trang trình duyệt. Google Map. Trường Ngôi Sao là một ngôi trường tư thục áp dụng phương pháp giáo dục tiên tiến tuyển sinh trẻ em từ hai tuổi rưỡi trở lên. Một cấu trúc luân phiên – xu hướng Montessori và Freinet – như càng lúc càng trở nên phổ biến ở nước Pháp vào năm 2016.
Madeline nghiên cứu bản đồ. Ngôi trường cách chỗ họ đang ngồi không xa. Hợp lý thôi: gia đình Lorenz cho con mình nhập học gần nhà.
– Chúng ta tới đó thôi! cô nói đoạn vừa vớ lấy áo khoác vừa để ba tờ tiền xuống mặt bàn.
Trong khi chạy thục mạng theo cô gái rời khỏi nhà hàng, Gaspard suýt thì xô ngã Septime đang bước tới cùng với những chiếc bánh mứt táo dành cho họ.
9
Một phương cách để chiến thắng cái chết
Nghệ thuật với tôi có lẽ là một phương cách để chiến thắng cái chết.
*Hans HARTUNG
Chú Thích
(1904-1989): họa sĩ, nghệ sĩ tạo hình người Pháp gốc Đức, một trong những đại diện tiêu biểu của nghệ thuật trừu tượng và là người khai sinh ra hội họa mảng.
1.
Trời mưa.
Cơn mưa rào kéo dài, dai dẳng, dày hạt, âm u. Madeline băng xuyên màn đêm, Gaspard bám sát. Lại tràn đầy năng lượng, cô có cảm giác rốt cuộc họ cũng chạm tới đích. Trường Ngôi Sao đúng là chỉ cách hai bước chân. Từ phố Huyghens, họ đã ra tới đại lộ, đối diện nghĩa trang Montparnasse. Nơi này gần như vắng tanh ngoại trừ vài người vô gia cư đang trú dưới những căn lều tạm. Kế hoạch chống khủng bố Vigipirate buộc người ta phải dựng những rào chắn trước cổng trường để ngăn xe cộ đỗ lại, tuy nhiên không có sự bảo vệ đặc biệt nào khác. Lối vào trường là một cổng xe với bức tường bê tông cao gần ba mét bao quanh.
– Làm thang cho tôi đi, Coutances.
– Bằng thứ gì đây? Tôi chẳng còn hai tay nữa rồi! anh ca thán, chỉ cho cô thấy những vết thương của mình.
– Nếu vậy thì anh ngồi thụp xuống đi! cô yêu cầu.
Anh tình nguyện ngồi xổm trên vỉa hè.
Một bàn chân giẫm lên đùi Gaspard, bàn chân kia đặt lên vai anh: chỉ bằng một động tác nhanh nhẹn khó nắm bắt, Madeline đã rướn người, tìm ra một chỗ bám trên tường, phóng lên cao, lấy lại thăng bằng rồi buông mình sang phía bên kia.
– Ổn không? Cô không sao chứ?
Cô gái không đáp. Lo lắng và mất tự nhiên, Gaspard chờ hơn năm phút trước khi rốt cuộc cánh cổng cũng hé mở kèm theo tiếng sắt cũ kèn kẹt.
– Mau tới đây nào, cô thì thào.
– Khỉ thật, cô đã ở đâu thế?
– Thôi đừng càu nhàu đi! Ngay cả khi đã lọt vào bên trong rồi thì cũng không thể mở cổng được nếu không có chìa khóa. Anh hãy lấy làm mừng là tôi đã tìm ra chìa khóa nhanh đến thế.
– Nó được giấu ở đâu vậy?
– Trong tủ sắt bảng điện, bên trong phòng chứa thùng rác.
Anh cố gắng khép cánh cổng lại sao cho càng tạo ra ít tiếng động càng tốt, nhưng anh thấy dường như tiếng lạch xạch của tôn đang vang rền trong không gian tĩnh lặng. Ngôi trường đã chìm trong màn đêm đen. Bất chấp bóng tối, người ta vẫn nhìn thấy một mảnh sân nhỏ lát đá được bao quanh bởi những khối xây thập cẩm đủ loại. Madeline bật đèn pin trên điện thoại, Gaspard vẫn nhón chân dò xét từng tòa nhà. Phần xây cũ – nơi hiện giờ đang bố trí phòng hành chính tổ chức và phòng tin học, nếu dựa vào các tấm biển chỉ dẫn – đã được ghép thêm các phòng học theo kết cấu mô đun. Các cấu kiện đúc sẵn được cải tiến đang trụ vững nhờ các khung cốt kim loại có màu sắc rực rỡ. Họ băng qua sân chơi, vượt qua căng tin để men theo cầu thang bộ nhỏ bên ngoài dẫn lên các phòng học trên gác.
2.
Madeline hành động khá thoải mái. Sắc bén, nhanh nhẹn, có khả năng ra quyết định đúng chỉ cần dựa vào bản năng. Mười năm trải nghiệm thực địa đã để lại cho cô những phản xạ được phục hồi nhanh chóng.
Sau một dạng lối đi lộ thiên thông giữa nhiều phòng, một cánh cửa chất liệu nhựa PVC chắn lối vào các phòng học. Không chút ngần ngại, cô quấn chiếc vest jean quanh cánh tay rồi huých khuỷu tay để đập vỡ ô cửa kính gần nhất. Có lẽ vẫn tồn tại một loại chuông báo động rẻ tiền, nhưng chắc hẳn chỉ để bảo vệ những tòa nhà bên dưới, nơi có bố trí máy tính, và tất cả những gì ít nhiều có thể thu hút những tên trộm tiềm tàng.
Ngạc nhiên, gần như hốt hoảng, Gaspard giật nẩy mình rồi lùi lại một bước.
– Cô thực sự nghĩ là…
– Im miệng đi, Coutances, cô bảo anh trong lúc luồn tay qua những mảnh thủy tinh vỡ để mở cánh cửa.
Vừa bước vào bên trong căn phòng cô vừa chĩa đèn pin rọi sáng. Bất chấp việc ngôi trường có tiếng là theo đuổi khuynh hướng tiến bộ, đây vẫn là một phòng học khối 4-5 phiên bản “kỵ mã đen” với những bàn học sinh bằng gỗ mộc, một tấm bản đồ nước Pháp ép plastic và một tấm màn phông cũ theo xu hướng “người Gaulois tổ tiên chúng ta”.
Cuối phòng học là một cánh cửa khác thông sang hành lang dẫn tới phòng học của các khối khác: lớp 2-3, lớp 1. Căn phòng cuối cùng, căn phòng rộng nhất, là phòng gộp các lớp mẫu giáo. Căn phòng mà có lẽ cậu nhóc Julian thường xuyên lui tới.
Luồng sáng của đèn pin quét qua màn đêm tối đen như mực cho đến khi gặp cầu dao điện. Bỏ qua mọi sự cẩn trọng, Madeline hất cần gạt của cầu dao lên để đèn đóm bật sáng.
– Cô vô ý quá đấy! Gaspard lo lắng lao vào phòng.
Madeline chĩa ngón tay chỉ cho anh thấy ba bức tranh treo trên tường.
Thoạt nhìn, đó là ba bức vẽ trẻ con khá tầm thường: những ông lão chống gậy, những pháo đài không viễn cảnh, những hoàng tử và công chúa to quá khổ vận động trong những cảnh trí với màu sắc rực rỡ đang nhỏ giọt từ bức tranh. Nhưng Madeline đã nhận ra những khung tranh màu đen vuông vắn có khía rãnh bằng gỗ hồ đào mà Fayol đã nhắc đến với cô.
Họ nhìn nhau, ai nấy đều hiểu ra rằng họ đã tìm thấy thứ hằng tìm kiếm. Madeline lập tức nghĩ tới *pentimenti mà chỉ những tia hồng ngoại mới cho phép hiện ra. Cô còn nhớ bản thân từng đọc được rằng một lượng lớn những bức tranh của Van Gogh bị giấu bên dưới những lớp chất màu của các tác phẩm khác, được họa sĩ bậc thầy người Hà Lan vẽ trước đó. Gaspard thì nghĩ tới Cội nguồn trần thế, bức tranh nổi tiếng của Courbet đã được che giấu suốt hàng thập kỷ bằng một tấm bảng gỗ xoay thể hiện một cảnh tuyết rơi tầm thường, để giới tư sản khỏi cảm thấy sốc.
Chú Thích
Sự xuất hiện lại của một hình vẽ đã bị vẽ trùm lên trong bức tranh.
Anh tìm thấy một con dao rọc giấy trong ngăn kéo kim loại của bàn “cô giáo”. Tim đập thình thịch, anh rạch một đường rộng trên viền ngoài của một trong các bức tranh, làm lộ ra một màng nhựa dày tựa một tấm vải dầu. Một dạng vải bạt bảo vệ một bức tranh khác. Bức tranh đích thực.
Madeline làm tương tự bằng mũi kéo.
Họ mất đến mười phút để “dỡ” những bức tranh được ngụy trang ra. Khi đã xong việc, họ lùi lại nhiều bước rồi ngồi cạnh nhau trên một mặt bàn học sinh dốc nghiêng, chiêm ngưỡng đối tượng trong cuộc tìm kiếm của mình.
3.
Ba bức tranh cuối cùng được Sean Lorenz vẽ còn tuyệt vời, mê hồn và bí hiểm hơn tất cả những gì Madeline và Gaspard có thể hình dung.
Bất chấp bóng đèn vàng vọt duy nhất của căn phòng, chúng dường như đang phát ra ánh sáng của riêng mình.
Bức tranh đầu tiên thể hiện một mê cung màu đen trên nền than. Nó gợi nhắc những sự Nguôi Khuây nào đó. Tuy nhiên từ một màu đen thâm trầm, bức tranh dường như mờ dần để ánh sáng lóe ra. Bằng một thuật giả kim thần bí, bề mặt màu đen phản chiếu sự soi sáng xanh xao của căn phòng để biến nó thành những ánh phản chiếu bàng bạc, thành những ánh sắc có sức hấp dẫn huyền hoặc và quyến rũ mê hồn.
Trên bức tranh thứ hai, màu đen nhường chỗ cho những màu sắc nhẹ nhàng: một sắc trắng chì với những ánh phản chiếu màu hồng xám càng gần trung tâm bức tranh càng dần trở nên sâu đậm và sáng rõ hơn. Sự chơi đùa với ánh sáng có vẻ như đang vẽ nên một lối đi, một đường hầm, một dòng chảy sáng loáng và chói lọi xuyên qua một cánh rừng toàn những cái bóng màu trắng.
Bức tranh thứ ba là bức đẹp nhất, diệu kỳ nhất, bất ngờ nhất. Một tấm toan gần như để mộc gây cảm tưởng đang ở thể lỏng hoặc tắm đẫm trong thủy ngân. Một tấm toan khiến người ta bối rối, gần như một bức tranh đơn sắc trắng để ngỏ mọi cách diễn giải. Gaspard nhìn thấy những tia nắng của một vầng mặt trời vĩ đại mùa đông phản chiếu lên phong cảnh tuyết trắng trải dài hút tầm mắt. Một thiên nhiên được thanh lọc, vĩnh cửu, được gột bỏ căn bệnh ung thư của loài người, trong đó bầu trời và mặt đất không còn biên giới nữa.
Madeline nghĩ đến một đường xoắn ốc màu trắng vĩ đại, một cánh đồng chói lọi khiến bạn chóng mặt, ngoạm lấy bạn, hấp thu bạn, thâm nhập vào những chiều sâu ngầm ẩn của con người bạn.
Họ ngồi đó bất động nhiều phút, sững sờ như hóa đá. Hai chú thỏ bị ánh sáng đèn pha chộp được. Một thứ ánh sáng đang gây ấn tượng mê đắm như bị thôi miên và tạo cảm giác rốt cuộc nó sẽ nhận chìm mọi thứ.
Tiếng còi hụ của xe cảnh sát vang lên từ dưới phố làm gián đoạn cuộc giao tiếp với các linh hồn của họ.
Lo lắng, Gaspard vội vàng dập cầu dao điện. Anh đứng im rồi thận trọng liếc mắt qua cửa sổ. Bên dưới kia, chiếc xe cảnh sát lao vụt qua rồi biến mất ở góc đại lộ Raspail.
– Báo động giả thôi, anh nói trong lúc ngoái nhìn về phía Madeline.
Cô gái không nhúc nhích. Cô vẫn đối diện với bức tranh thứ ba đang bắt đầu sáng lấp lánh trong đêm. Từ giờ trở đi họ đã biết Lorenz dành những chất màu dạ quang mà Fayol nhắc đến vào việc gì. Trong bóng tối, bức tranh mang một kích thước khác hẳn. Bức tranh đơn sắc trắng này thực chất là một tác phẩm thư pháp tỉ mẩn. Hàng trăm chữ cái phát quang nổi bật trong bóng tối. Madeline lại gần bức tranh. Khi Gaspard tới chỗ cô, anh hiểu ra rằng những chữ cái đang tạo thành một thông điệp lặp đi lặp lại đến vô cùng tận.
JULIAN CÒN SỐNG JULIAN CÒN SỐNG JULIAN CÒN SỐNG JULIAN CÒN SỐNG JULIAN CÒN SỐNG JULIAN CÒN SỐNG JULIAN CÒN SỐNG…