Dưới một mái nhà ở Paris

Lượt đọc: 1123 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TIẾNG GỌI CỦA ÁNH SÁNG
thứ năm ngày 22 tháng mười hai 10 phía sau ánh sáng

Đen không phải một màu.

*Georges CLEMENCEAU

Chú Thích

(1841-1929): chính trị gia, nhà vật lý, nhà báo người Pháp, ông từng giữ chức Thủ tướng Pháp trong các giai đoạn 1906-1909 và 1917-1920, đồng thời là người đã đưa nước Pháp đến thắng lợi trong Chiến tranh thế giới thứ nhất.

1.

Tôi đang trên đường. Tôi sẽ gặp cô trong mười phút nữa.

Diane Raphaël.

Madeline đọc được tin nhắn từ bác sĩ chuyên khoa tâm thần của Lorenz trong lúc tới trước hai mũi tên của thánh đường Sainte-Clotilde. Bấy giờ là 8 giờ 30 sáng. Không khí mát mẻ hơn và khô hơn ngày hôm trước. Vì vẫn chưa qua phố Seine lấy lại chiếc xe tay ga, cô đã chạy bước nhỏ từ phố Cherche-Midi tới đây. Một cuốc chạy bộ bổ ích nhằm đánh thức cơ thể.

Cô đã ngủ thiếp đi lúc 3 giờ rồi thức dậy lúc 6 giờ. Những giờ đồng hồ trước đó thật là gian khổ. Trước tiên là về thể chất, bởi lẽ họ đã phải lén lút đưa những bức tranh kia từ trường học về tận nhà. Sau đó là về mặt trí tuệ và cảm xúc. Với một câu hỏi ngay lúc này chưa tìm ra bất cứ câu trả lời nào dù là nhỏ nhất: tại sao chỉ vài ngày trước khi qua đời, Sean Lorenz lại tin chắc rằng con trai mình vẫn còn sống?

Hai bàn tay chống trên đầu gối, Madeline nghĩ đến Gaspard trong lúc điều hòa lại hơi thở. Từ khi họ tìm ra thông điệp của người họa sĩ, được viết bằng những chữ cái phát quang, nhà soạn kịch không thể ngồi yên một chỗ. Anh, người vốn dĩ không biết gì về Internet, đã dành một quãng thời gian buổi đêm để đọc lướt trang web của các hãng truyền thông lớn của Mỹ. Anh sửng sốt với khám phá của bản thân: quả nhiên, nhiều bài báo được đăng tải trong những ngày tiếp theo sau khi thảm kịch xảy ra đã chỉ ra rằng không tìm thấy xác của cậu nhóc Julian trong nhà kho nơi Pénélope bị giam cầm.

Trong lúc dựng lại quá trình trượt dốc để rồi trở thành kẻ sát nhân của Beatriz Muñoz, các nhà điều tra đã kết luận rằng ả đàn bà người Chile đã vứt xác đứa trẻ xuống hải khẩu Newtown Creek, phía Nam quận Queens. Cảnh sát đã thu được con thú bông dính máu cậu bé bên mép nước. Người ta đã cử tới đó vài thợ lặn, nhưng địa điểm này – một trong những nơi ô nhiễm nhất New York – rất khó tiếp cận, và bấy giờ nước sông đang dâng cao, dòng chảy quá xiết nên không hy vọng gì tìm lại được một cái xác nhỏ bé đến thế.

Mặc dù vậy, phiên bản do Pénélope Lorenz kể – người một mực khẳng định rằng con trai bị đâm bằng dao ngay trước mắt bà ta – đã không bao giờ bị nghi ngờ. Và, khách quan mà nói, Madeline không có bất kỳ lý do gì để nghi ngờ chuyện đó. Theo những bài báo cô đã tra cứu, tất cả đều khiến người ta nghĩ rằng Muñoz đã hành động mà không có bất cứ đồng phạm nào. Cái chết của cậu bé không gây nên bất cứ nghi ngờ gì. Máu của cậu được tìm thấy khắp mọi nơi: trong chiếc xe tải nhỏ dùng vào việc bắt cóc, trong nhà kho ở quận Queens, bên mép nước ở Newtown Creek.

Madeline quyết định đợi nữ bác sĩ chuyên khoa tâm thần trên khoảng sân hiên ấm áp của quán cà phê trông ra khu vườn của thánh đường. Một tiếng trước cô đã xin được gặp Diane Raphaël tại phòng làm việc bằng cách gửi cho bà qua tin nhắn nhiều tấm ảnh chụp những bức tranh của Sean Lorenz. Cô ngồi bên dưới một tán ô rồi gọi một ly expresso đúp. Trên màn hình điện thoại, một bức thư điện tử từ Air France nhắc nhở cô phải làm thủ tục cho chuyến bay sang Madrid. Khỏi hành 11 giờ 30 từ Charles-de-Gaulle, hai tiếng sau sẽ tới thủ đô Tây Ban Nha. Cô làm thủ tục trực tuyến, nuốt thứ cà phê pha quá vội mà người ta vừa mang ra cho cô rồi gọi luôn ly thứ hai để rồi vừa nếm náp vừa nhớ lại cuộc thám hiểm của họ hồi đêm qua.

Trái ngược với Gaspard, điều khiến cô bối rối nhất không phải thông điệp với những chữ cái phát quang – cô chỉ thấy nó kỳ cục –, mà là… toàn bộ phần còn lại. Đặc biệt là chuyến đi gần như về mặt tinh thần được Sean Lorenz miêu tả thông qua tác phẩm tranh bộ ba của ông. Một chuyến đi mà cô biết rõ bởi lẽ bản thân cô đã thực hiện nó vài tháng trước.

Khi tự dùng dao lam rạch cổ tay trong bồn tắm, Madeline đã trôi dạt trước khi bất tỉnh. Cô đã chậm rãi rút bỏ một phần máu mình, chóng mặt bởi hơi nước nóng bỏng. Cô đã chìm đắm, dò dẫm đi trong một khung cảnh sương mù dày đặc. Và cô chắc chắn rằng thứ mà Sean Lorenz đã cố thể hiện trong những bức tranh cuối cùng của ông chính là sự trôi dạt này.

Trước tiên là màu ĐEN. Chiếc cầu dao điện xoay chiều và ngắt kết nối giữa bạn với thế giới, trong thoáng chốc đã quẳng bạn trở lại với những đau đớn day dứt của mình. Mê cung của nỗi khổ đau riêng bạn. Ngục tối mà cuộc đời bạn đã trở thành.

Rồi chuyến đi qua một đường hầm dài tăm tối kết thúc bằng việc ùa vào một thứ ánh sáng ấm nóng, dịu dàng, lan tỏa. Cảm giác tuyệt vời được nổi trôi bềnh bồng trong một lớp kem đánh dậy ánh xà cừ. Được vượt qua một mảnh đất không bóng người mềm mịn tựa bông gòn. Được để mặc cho mình bị cuốn đi bởi làn gió hiu hiu của một đêm hè, được dẫn lối bởi hàng nghìn ngọn đèn ngủ với độ sáng của ngọc trai.

Sau đó, Madeline có cảm giác lạ kỳ là rời khỏi thân xác mình, cho đến khi có thể quan sát những nhân viên cấp cứu đang cúi xuống cô và thử hồi sinh cô trước khi đưa cô lên một chiếc xe cứu thương. Cô đã ở lại với họ và với Jul’ một lúc trên quãng đường tới bệnh viện.

Rồi cô đã lại tìm ra ánh sáng. Một vòng xoáy ốc sáng quắc nuốt chửng Madeline, phóng cô vào một dòng thác ánh sữa dữ dội nơi đầu óc cô quay cuồng 360 độ trước bộ phim cuộc đời mình. Cô đã nhận ra hình dáng và gương mặt cha cô, chị gái Sarah, chú Andrew. Cô những muốn dừng lại để chuyện trò cùng họ, nhưng lại không thể ngăn dòng chảy đang cuốn cô theo.

Một dòng chảy ấm nóng, bao bọc và dịu dàng. Mạnh hơn tất thảy. Bên tai cô, một tiếng thì thào vô cùng êm dịu giống như những khúc hát thiên giới tước đi của bạn toàn bộ mong muốn quay trở lại.

Tuy nhiên, Madeline đã không đi đến cuối đường hầm. Cô đã gần như chạm ngón tay vào đường biên giới. Đường biên giới chỉ để người ta vượt qua theo một chiều duy nhất. Nhưng điều gì đó đã nhắc cô trở về. Linh tính rằng câu chuyện đời cô có lẽ xứng đáng với một kết cuộc khác.

Khi mở mắt ra, cô đang trong bệnh viện. Bị đặt ống thở, bao quanh là những ống tiêm truyền và băng cứu thương.

Madeline thừa biết bản thân kinh nghiệm đó của cô chẳng có gì đặc biệt. Đã có hàng chục nghìn câu chuyện thuật lại giống với câu chuyện của cô. Những “kinh nghiệm cận tử” được miêu tả trong văn hóa đại chúng thông qua vô số các tiểu thuyết và phim ảnh. Dĩ nhiên, cô đã thoát khỏi hành trình ấy với tâm thế hoàn toàn biến đổi. Không nhất thiết thiên về hướng tin vào sự sống sau cái chết, nhưng với khao khát sống trọn vẹn quãng thời gian còn lại của cuộc đời. Trút bỏ gánh nặng từ tất cả những gì không quan trọng. Mang lại cho cuộc đời mình một ý nghĩa khác. Và bởi vậy, cô sẽ sinh một đứa con.

Ký ức về Kinh nghiệm Cận tử này vẫn khắc sâu trọn vẹn trong trí nhớ của cô. Như thể cô vừa trải nghiệm nó ngày hôm qua. Chẳng điều gì mờ nhạt hết. Trái lại, thậm chí những cảm giác còn trở nên chín muồi, những hình ảnh còn trở nên chính xác. Vẻ êm đềm của “chuyến hành trình”, lời kêu gọi đến nhức đầu của ánh sáng. Và Lorenz đã thành công trong việc họa nên thứ ánh sáng này. Trong tất cả các sắc thái của nó, trong toàn bộ cường độ của nó. Thứ ánh sáng khốn kiếp này, theo cách khó bề lý giải, tỏa rạng như những tia nắng man trá của một tình yêu ngời sáng.

– Cô là Madeline Greene phải không?

Câu hỏi kéo cô ra khỏi cơn mơ màng. Một người phụ nữ tươi cười niềm nở đang đứng dưới tán ô ở sân hiên. Tuổi trạc tứ tuần, mặc một chiếc áo khoác da khóa kéo màu be và đeo một cặp kính râm màu mật ong.

– Tôi là Diane Raphaël, bà tự giới thiệu rồi chìa tay cho cô bắt.

2.

Lần này, Coutances không phải nài nỉ lâu mới được Pénélope tiếp đón. Anh đã có mặt tại phố Saint-Guillaume, ngay từ sáng sớm, tay cầm một bức tranh nặng trịch. Khi anh xưng danh qua điện thoại nội bộ, vợ cũ của Lorenz đã mở cửa cho anh mà thậm chí không cần biết anh muốn gì.

Gaspard bước ra khỏi thang máy, thở dốc. Philippe Careya không có mặt trong ban tiếp đón, hẳn là ông ta còn chưa dậy. Cánh cửa đã mở khóa, Gaspard vừa bước vào phòng ngoài vừa đẩy cho khung tranh bằng gỗ hồ đào mà anh đã dùng một tấm chăn bọc lại trượt trên mặt sàn.

Pénélope đang ngồi chờ anh trên trường kỷ phòng khách trong thứ ánh sáng lạnh lẽo của buổi sáng. Thứ ánh sáng tự nhiên, phơn phớt xanh, lạnh tựa đá, đã nhân đôi công trạng khi nhấm chìm cảnh bài trí lòe loẹt trong khung cảnh mờ tối và biến bà góa Lorenz thành một hình sấp bóng, giúp tôn lợi thế của bà ta hơn là một thứ ánh sáng quá chói gắt.

– Đã hứa là làm, anh thông báo đoạn đặt bức tranh vẫn được bảo vệ bằng tấm chăn choàng len dày xuống trường kỷ chất liệu da sần.

– Cà phê nhé? bà ta vừa đề xuất vừa mời anh ngồi lên một chiếc ghế Ottoman.

Mặc quần jean xám bạc màu và áo phông thể thao hiệu Poivre Blanc đã cũ, Pénélope dường như vẫn kẹt lại trong thập niên 1990. Lần thứ hai gặp gỡ, Gaspard thấy bà ta đỡ kinh khủng hơn. Khuôn mặt như được ép dẻo của bà ta có vẻ đỡ cứng đờ hơn lần gặp trước. Cái miệng như mỏ vịt của bà ta không còn gây cảm tưởng sắp rách toạc mỗi lần chủ nhân của nó nói câu gì đó.

Con người ta quen dần với mọi thứ, anh nghĩ bụng trong lúc cầm lấy một bình cà phê moka để trên mặt bàn thấp.

– Vậy là hai người đã tìm ra thứ vẫn hằng kiếm, bà ta ghi nhận đồng thời chỉ cái khung tranh.

Trái lại, giọng bà ta không thay đổi: khàn đục, chua loét, khản đặc, như thế một lứa mèo đã làm ổ trong họng bà ta.

– Chúng tôi đã tìm ra các bức tranh và trong đó có một bức mà bà nên xem.

Bà ta thở dài.

– Ít nhất thì đó cũng không phải một bức vẽ chân dung Julian chứ?

– Không hẳn.

– Tôi sẽ không chịu đựng nổi chuyện đó đâu.

Gaspard đứng dậy và không khua môi múa mép thêm lời nào, nhấc lớp vỏ bọc lên để cho Pénélope thấy bức tranh cuối cùng do chồng cũ của bà ta vẽ.

Được đặt gần hai khung cửa sổ cao, bức tranh hiện ra trong toàn bộ vẻ rực rỡ huy hoàng của nó. Thậm chí Gaspard còn có cảm giác vừa tái khám phá nó. Một thứ ánh sáng quyến rũ mê hồn dường như đang tỏa ra từ đó và nhảy múa đằng trước bức tranh.

– Đặc quyền của người nghệ sĩ là tiếp tục sống thông qua các tác phẩm của họ, Pénélope ghi nhận.

Gaspard chậm rãi kéo kín bốn tấm rèm để căn phòng chìm trong bóng tối.

– Anh đang làm gì vậy? bà ta lo lắng.

Rồi bà ta nhìn thấy những chữ cái phát quang và thông điệp bí ẩn của chúng:

JULIAN CÒN SỐNG.

– Đủ rồi đấy! Mở những tấm rèm kia ra! bà ta ra lệnh.

Một cơn thịnh nộ đúng nghĩa chụp lấy Pénélope khiến khuôn mặt bà ta đỏ tía lên và biến dạng, càng làm nổi bật thêm đôi lông mày quá cao, sống mũi quá thẳng và đôi gò má quá tròn của bà ta.

– Tại sao Sean lại tin chắc con trai ông ấy còn sống chứ? Gaspard hỏi, không chút xót thương.

– Tôi hoàn toàn không biết gì về chuyện đó đâu! Pénélope kêu lên, bà ta đã nhảy khỏi trường kỷ, quay lưng về phía bức tranh.

Bà ta mất hơn một phút mới trấn tĩnh được và lại đối diện với bức tranh.

– Hôm qua khi anh hỏi chuyện, tôi đã khẳng định không còn nhớ điều mà Sean nói với tôi khi ông ấy gọi điện từ New York vài phút trước khi ông ấy qua đời.

– Tại sao vậy?

– Bởi vì tôi không muốn nói ra những lời này, nhưng…

– Vâng?

– Ông ấy nói với tôi chính xác như thế này: “Con trai chúng ta vẫn còn sống, Pénélope ạ!”

– Bà đã phản ứng thế nào?

– Tôi đã rủa xả ông ấy rồi dập máy. Không ai lại đùa cợt với cái chết của con cái cả!

– Bà không tìm hiểu điều ông ấy…

– Nhưng tìm hiểu chuyện gì kia? Tôi đã chứng kiến con trai tôi lãnh những cú dao đâm. Tôi đã chứng kiến nó bị con quỷ đội lốt người đó giết chết, anh hiểu không? Tôi đã chứng kiến chuyện đó. Tôi đã CHỨNG KIẾN chuyện đó! TÔI ĐÃ CHỨNG KIẾN CHUYỆN ĐÓ!

Và Gaspard đọc thấy trong mắt Pénélope rằng bà ta đang nói với anh sự thật.

Pénélope nấc lên, nhưng không chịu để lộ mình trước mặt người khác. Bà ta vội vàng nuốt ngược nước mắt vào trong và muốn nói cho rõ:

– Không có lối thoát cho mối quan hệ giữa tôi và Sean. Ông ấy không ngừng trách móc tôi phải chịu trách nhiệm về cái chết của Julian.

– Bởi vì bà đã nói dối nơi mình đến vào cái ngày cậu nhóc bị bắt cóc chăng?

Bà ta gật đầu xác nhận.

– Nếu cảnh sát bắt đầu tìm kiếm từ khu vực đó, biết đâu họ sẽ tới kịp để cứu sống thằng bé. Dẫu sao chăng nữa Sean cũng đã nghĩ như vậy, và tôi đã mang nặng cảm giác tội lỗi này rất lâu. Nhưng nếu chúng ta đi đến tận cùng logic thì chính Sean mới là người có lỗi trước.

Gaspard hiểu Pénélope đang chơi lại một trận đấu mà bà ta hẳn phải trải nghiệm lại hàng nghìn lần suốt từ hai năm qua.

– Nếu ông ấy không xúi giục Muñoz đi cùng mình trong những vụ cướp có vũ trang thì bà ta đã không nuôi oán hận và gây ra tội ác kia!

– Ông ấy không thừa nhận sao?

– Không! Bởi vì ông ấy khẳng định mình làm như thế là vì tôi. Để kiếm tiền sang Paris gặp tôi. Tôi đã bảo với anh rồi: chuyện này không có lối thoát. Mọi chuyện là lỗi do tôi.

Đến lượt Gaspard cảm thấy muộn phiền kỳ lạ. Anh đứng dậy từ biệt Pénélope.

– Tôi đã ngay lập tức cảm thấy anh là người chính trực, anh Coutances ạ.

– Tại sao bà lại nói điều này?

– Bởi vì anh đã không đeo mặt nạ mà tiến hành mọi chuyện.

Hơi không liên quan đến câu nói vừa rồi, Pénélope nói thêm:

– Trong cuộc sống, có những người đàn ông tốt và những gã khác. Đường ranh giới rất rõ ràng. Anh là một chàng trai tốt. Giống như Sean vậy.

Gaspard tận dụng khe hở. Đã đặt bàn tay lên nắm đấm cửa, anh bỗng quay ngoắt lại rồi bước về phía Pénélope.

– Tôi biết là vô cùng khó khăn đối với bà khi phải nhắc đến chuyện này, nhưng tôi vẫn muốn biết chuyện gì đã thực sự xảy ra vào hôm Julian bị bắt cóc.

Bà ta thở dài chán nản.

– Chuyện này đã được miêu tả trong hàng chục bài báo rồi còn gì.

– Tôi biết, nhưng tôi muốn nghe từ chính miệng bà.

3.

Phòng làm việc của Diane Raphaël là một căn phòng rộng rãi chạy dài theo chiều dọc, mang lại những góc nhìn hiếm thấy về Paris. Một mặt là giáo đường Sainte-Clotilde, mặt kia là nhà thờ Saint-Sulpice, mái vòm của điện Panthéon và đồi Montmartre.

– Ở đây, tôi có cảm tưởng như đang trong chòi gác của một con tàu cướp biển: tầm bao quát xa đến mức ta nhìn thấy những cơn dông, cơn bão và những vùng áp thấp đang đến. Chuyện này thuận tiện cho một bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Nữ bác sĩ mỉm cười với phép ẩn dụ của riêng mình như thể bà vừa sáng tạo ra nó vào đúng thời điểm đó. Cũng như trong chuyến viếng thăm Fayol, Madeline tự nhủ mình đã hoàn toàn sai lầm. Cô đã hình dung ra một bà giáo già đeo kính với mái tóc hoa râm búi gọn. Trên thực tế, Diane Raphaël là một phụ nữ vóc dáng nhỏ nhắn với ánh mắt tinh nghịch, mái tóc ngắn với những lọn xoăn. Với áo khoác da ngắn màu vàng hung, quần jean ôm sát và đôi giày thể thao hiệu Gazelle sạch tinh tươm, bà gây ấn tượng đang mơ mộng mình vẫn còn là cô sinh viên phóng khoáng.

Bà đã để gần cửa ra vào một chiếc va li gắn bánh xe được bảo vệ bằng một lớp vỏ màu bạc ánh kim.

– Bà sắp đi nghỉ lễ sao? Madeline hỏi.

– Tới New York, bác sĩ tâm thần đáp. Tôi thường dành phân nửa thời gian của mình ở đó.

Bà chỉ nhiều bức ảnh treo trên các mặt tường. Những bức ảnh bảng lảng tựa không khí chụp một tòa nhà ốp kính nằm giữa rừng và đại dương.

– Đó là Lorenz Children Center, trung tâm y tế dành cho trẻ em mà tôi đã thành lập nên nhờ có Sean. Nó nằm ở Larchmont, phía Bắc New York, trong hạt Westchester.

– Chính Lorenz đã trực tiếp tài trợ cho bệnh viện này sao?

– Trực tiếp và gián tiếp, Diane nói rõ. Quỹ được hình thành một phần từ số tiền thu được khi bán hai bức tranh khổ lớn mà tôi đã mua của ông ấy với giá rẻ mạt hồi năm 1993 rồi bán lại khi thị giá của ông ấy lên cao chót vót. Sau đó, Sean nghe phong thanh về kế hoạch của tôi nên ông ấy giao cho tôi ba bức tranh khác và cho phép tôi bán đấu giá chúng. Ông ấy vô cùng hãnh diện vì hội họa của mình phục vụ được điều gì đó cụ thể: chăm sóc trẻ em không nơi nương tựa.

Madeline ghi lại thông tin đâu đó trong đầu cô trong khi nữ bác sĩ tâm lý ngồi vào vị trí sau bàn làm việc. Diane đổi chủ đề:

– Vậy ra cô đã tìm thấy ba bức tranh cuối cùng của Sean. Chúc mừng. Và cảm ơn vì những bức ảnh cô chụp. Những bức tranh có vẻ rất tuyệt. Tinh hoa của Lorenz! bà khẳng định, đoạn mời Madeline ngồi xuống một chiếc ghế tựa hiệu Wassily đối diện mình.

Toàn bộ căn phòng được bài trí theo phong cách Bauhaus: những chiếc ghế làm từ ống thép uốn cong, ghế bành Cube, ghế sưởi Barcelona, giường thư giãn nhồi nệm chần, bàn thấp bằng gỗ ép mạ crôm.

– Bà có biết những bức tranh này miêu tả điều gì không? Madeline vừa hỏi vừa ngồi cho vững trên ghế.

– Hội họa của Sean không miêu tả, nó…

– … nó thể hiện, tôi biết chứ, người ta đã sử dụng công thức đó với tôi. Nhưng ngoại trừ điều đó ra thì sao?

Nữ bác sĩ chuyên khoa tâm thần trở nên kích động. Mếch lòng, rồi bà đầu hàng vẻ thích thú:

– Thông qua những bức tranh của mình, Sean muốn giải thích hai EMI: hai kinh nghiệm cận tử của bản thân.

– Vậy là bà biết chuyện rồi sao?

– Về những bức tranh này thì không, nhưng tôi chẳng hề ngạc nhiên. Sean là bệnh nhân của tôi đã hai chục năm nay rồi mà! Như tôi đã nói rõ với anh Coutances, hồi 2015, Sean đã chịu đựng hai cơn tai biến tim mạch hết sức nghiêm trọng cách nhau chỉ vài tháng. Hai cơn nhồi máu cơ tim đã nhấn chìm ông ấy trong hôn mê trước khi ông ấy được hồi sinh. Cơn ngừng tim thứ hai còn nặng thêm vì bị sốc nhiễm khuẩn…

– Một ca nhiễm trùng máu sao?

– Đúng vậy, một ca nhiễm khuẩn hết sức nghiêm trọng suýt thì cướp đi sinh mạng của ông ấy. Thậm chí ông ấy đã bị tuyên bố chết lâm sàng trước khi thoát được một cách kỳ diệu.

– Chính là sau hai vụ tai biến đó mà ông ấy bắt đầu vẽ những gì mình từng trải qua ư?

– Tôi nghĩ vậy. Ông ấy đã hết sức kích động với kinh nghiệm đó. Lối đi từ những cảnh tối tăm tới ánh sáng này để lại dấu ấn sâu đậm trong ông ấy. Ông ấy luận giải về nó như một sự sáng lòa, một sự phục sinh. Từ đó nảy sinh ý chí muốn tìm lại cảm giác này thông qua những bức tranh mình vẽ.

– Chuyện này có khiến bà ngạc nhiên không?

Bà bác sĩ nhún vai.

– Tôi từng làm việc tại bệnh viện suốt mười lăm năm trời. Những bệnh nhân được hồi sinh đều khẳng định đã băng qua một đường hầm ánh sáng sau cơn hôn mê, chuyện đó là bình thường, cô biết đấy. Những kinh nghiệm cận tử là một hiện tượng có từ thời Cổ đại.

– Sean vẫn phải chịu những di chứng về thể chất sau hai cuộc phẫu thuật đó phải không?

– Dĩ nhiên rồi: những vấn đề về trí nhớ, cảm giác mệt mỏi tột độ, những khó khăn trong việc phối hợp cử động…

Diane dừng lại giữa câu. Mắt bà lấp lánh sự tinh nghịch và thông tuệ.

– Cô vẫn chưa nói hết mọi chuyện với tôi, phải không?

Madeline vẫn lạnh như tiền, chờ cho nữ bác sĩ tâm thần nói tiếp.

– Nếu cô khẩn khoản muốn gặp tôi đến thế, đó là bởi cô đã tìm ra một thứ khác… Có lẽ là một bức tranh khác chăng?

Madeline rút điện thoại ra rồi chỉ cho Diane xem ảnh chụp bức tranh cuối cùng trong bóng tối với thông điệp bằng những chữ cái phát quang khẳng định: JULIAN CÒN SỐNG.

– Vậy ra là chuyện này…

– Chuyện này có vẻ không khiến bà ngạc nhiên.

Diane tì khuỷu tay lên mặt bàn rồi chắp tay lại như thể bà chuẩn bị cầu nguyện.

– Cô biết tại sao Sean lại bị xáo trộn bởi hai chuyến đi của ông ấy tới ranh giới cái chết không? Trước tiên là bởi, trong đường hầm ánh sáng trứ danh đó, ông ấy đã trông thấy tất cả những người đáng kể trong cuộc sống của mình và đã qua đời: mẹ ông ấy, bạn bè của ông ấy ở Harlem hồi thập niên 1990 vốn đã chết vì dùng ma túy quá liều hoặc trong cuộc thanh trừng giữa các băng nhóm. Thậm chí ông ấy còn trông thấy cả Beatriz Muñoz.

– Đó là một điều hết sức bình thường trong những kinh nghiệm cận tử mà, Madeline lưu ý. Bà thấy lại cuộc đời mình và gặp lại tất cả những người quá cố quan trọng đối với bà.

– Cứ như thể cô đang nói về chuyện này bằng kinh nghiệm của bản thân ấy nhỉ.

– Nếu bà muốn, chúng ta cứ dừng lại ở kinh nghiệm của bản thân Lorenz thôi nhé. Tôi đâu phải bệnh nhân của bà.

Nữ bác sĩ chuyên khoa tâm thần không gặng hỏi.

– Có một người mà Sean không gặp trong đường hầm…, bà tuyên bố.

Rốt cuộc Madeline cũng hiểu ra và máu trong người cô đông đặc lại.

– Con trai ông ấy.

Diane gật đầu.

– Quả thật, mọi chuyện xuất phát từ đó. Sean bắt đầu phát triển một lý thuyết hoang tưởng như thế, nếu ông ấy không gặp Julian thì đó là vì cậu bé vẫn còn sống.

– Và bà không tin vào chuyện này ư?

– Tôi tin vào những lời giải thích dựa trên lý tính về hiện tượng. Bất kỳ sự tiếp thêm ôxy cho bộ não nào, dù là nhỏ nhất, cũng thường gây rối loạn phần vỏ não điều khiển thị giác, hậu quả của những loại thuốc ảnh hưởng xấu đến ý thức. Trong trường hợp của Sean, chuyện đó là hiển nhiên: để khoanh vùng bệnh nhiễm trùng máu của Sean, người ta đã tiêm cho ông ấy những liều lớn dopamine, một chất thúc đẩy ảo giác.

– Bà không thử thuyết phục ông ấy sao?

Bà bác sĩ phác một cử chỉ bất lực.

– Điếc lác nhất vẫn cứ là người không muốn lắng nghe. Sean có nhu cầu tin rằng con trai vẫn còn sống. Cô không thể làm gì chống lại một ai đó không sẵn lòng lắng nghe cô nói.

– Và ông ấy đã rút ra kết luận gì về việc đó?

– Tôi nghĩ ông ấy những muốn mở lại cuộc điều tra về vụ bắt cóc Julian, nhưng cái chết đã ngăn ông ấy làm việc đó.

– Còn bà lại thấy không có bất cứ cơ may nào là cậu nhóc còn sống ư?

– Không, thật không may là Julian đã chết. Tôi chẳng ưa gì Pénélope, nhưng chẳng có bất kỳ lý do nào để bà ta không kể đúng sự thật. Toàn bộ phần còn lại, đó là những lời mê sảng của một người đàn ông vốn là bạn tôi, nhưng cũng là người đang mang nặng nỗi đau và bị thuốc men làm cho u mê mụ mẫm.

4.

“Chúng tôi bắt đầu nhận hành khách lên chuyến bay AP118 tới Madrid tại cửa số 14. Các gia đình có trẻ nhỏ đi cùng cũng như hành khách ngồi hàng ghế từ 20 đến 34 được ưu tiên xuất trình trước.”

Madeline kiểm tra số ghế của mình trên tấm vé mà cô vừa in ra tại một bốt giao dịch Air France. Chỉ còn hai ngày nữa là tới Giáng sinh. Tình trạng chậm trễ hỗn độn đang diễn ra và sảnh E của sân bay Charles-de-Gaulle đông nghịt người.

– Cảm ơn vì đã đi tiễn tôi, Gaspard. Tôi biết anh không khoái các sân bay mà…

Anh lờ cái câu châm chọc nhỏ nhen ấy đi.

– Vậy là cô cứ như thế mà lên đường sao?

Cô nhìn anh mà không hiểu anh muốn dẫn dắt tới đâu.

– Anh còn muốn tôi làm gì khác nào?

– Cô coi như mình đã xong việc chỉ vì đã tìm lại được các bức tranh sao?

– Đúng thế.

– Còn phần tiếp theo của cuộc điều tra thì sao đây?

– Cuộc điều tra nào kia?

– Cuộc điều tra về cái chết của Julian.

Cô lắc đầu.

– Cả anh lẫn tôi, chúng ta nào phải cảnh sát đâu, Coutances. Và cuộc điều tra đã kết thúc từ lâu rồi.

Cô cố gắng quay vào khu vực lên máy bay, nhưng anh ngăn lại.

– Đừng nói với tôi như thể tôi là gã ngốc thế chứ.

– Ồ được thôi!

– Còn lâu mới tháo gỡ được hết các vùng tối.

– Anh đang nghĩ đến cái gì thế?

– Chỉ một chi tiết thôi, anh dùng giọng mỉa mai. Người ta chưa bao giờ tìm được xác cậu nhóc.

– Chuyện bình thường thôi mà, nó đã trôi theo dòng sông Đông rồi. Thành thực mà nói, phải chăng anh đang có chút hồ nghi nào đó về cái chết của cậu bé?

Vì anh không trả lời, cô gặng hỏi:

– Anh nghĩ Pénélope Lorenz đã nói dối anh hả?

– Không, anh thừa nhận.

– Nếu đã vậy thì anh đừng nghĩ gì thêm cho mệt xác. Cậu bé đã chết được hai năm rồi. Đó là một thảm kịch, nhưng nó đâu có liên quan tới chúng ta. Hãy quay trở lại với những vở kịch của anh đi, đó mới là việc anh nên làm nhất.

Không trả lời Madeline, anh đi cùng cô tới tận cổng kiểm soát an ninh. Madeline cởi thắt lưng ra rồi đặt vào một cái khay to, tiếp đến là chiếc áo khoác ngắn và điện thoại di động của cô.

– Thôi nào, tạm biệt nhé, Gaspard. Anh có được ngôi nhà cho riêng mình rồi đó. Tôi chẳng còn ở đó quấy rầy anh nữa. Anh sắp có thể yên tĩnh mà sáng tác rồi!

Anh nghĩ đến khái niệm này trong tiếng Hy Lạp, kairos: thời điểm mấu chốt. Và đến nghệ thuật nắm bắt thời điểm. Khả năng không để sổng cơ hội của bản thân mỗi khi nó xuất hiện, và nó có thể làm đảo lộn cuộc sống theo chiều hướng này hoặc chiều hướng khác. Kiểu bước ngoặt mà anh chưa bao giờ biết nắm bắt trong cuộc đời mình. Và cả lần này nữa, Gaspard tìm cách nói điều gì đó để ngăn Madeline đừng đi, rồi anh bỏ cuộc. Lấy quyền gì? Để làm gì? Cô có cuộc sống riêng, một kế hoạch nung nấu bấy lâu mà cô hằng đấu tranh vì nó. Thậm chí anh còn tự trách mình vì đã nảy ra ý tưởng này, anh liền chúc cô may mắn.

– Can đảm lên nhé, Madeline. Cô sẽ cho tôi biết tin tức chứ?

– Làm sao tôi có thể làm chuyện đó đây, Gaspard? Anh làm gì có điện thoại.

Anh nghĩ bụng, suốt hàng thế kỷ, con người đã trao đổi thư từ với nhau mà chẳng cần đến điện thoại đấy thôi, nhưng anh giữ ý không nói nhận xét ấy ra.

– Để lại cho tôi số điện thoại của cô đi, tôi sẽ gọi cho cô.

Trong đầu anh hiểu rằng cô không đặc biệt thiết tha gì với chuyện này, nhưng rốt cuộc cô cũng nhượng bộ và anh chìa cho cô cái cổ tay băng bó của mình để cô viết số điện thoại lên đó, vội vã, như thể anh mới mười bốn tuổi.

Rồi cô bước qua cổng kiểm soát an ninh, gửi tới anh một cái vẫy tay từ biệt cuối cùng và đi khỏi mà không ngoái lại. Anh dõi theo cho đến khi cô khuất dạng. Thật kỳ lạ khi từ biệt cô như thế. Thật kỳ lạ khi tự nhủ rằng mọi chuyện đã kết thúc và anh sẽ không gặp lại cô nữa. Họ mới chỉ trải qua hai ngày cùng nhau, nhưng anh có cảm tưởng đã quen biết cô từ rất lâu rồi.

Khi cô khuất dạng rồi, anh vẫn đứng đó nhiều phút liền, bất động, như gã trai gàn dở. Anh sẽ làm gì bây giờ? Tranh thủ đang có mặt tại sân bay để tới một quầy Air France mua một tấm vé đi Athens, ý tưởng này thật hấp dẫn. Trong vài giây, anh đùa giỡn với ý nghĩ chuồn khỏi địa ngục Paris, khỏi nền văn minh mà anh căm ghét này và nó cũng chẳng ưa gì anh. Nếu đáp một chuyến bay nội trong hôm nay, thì ngay tối nay anh sẽ gặp lại hòn đảo Hy Lạp của mình. Một cuộc sống cô độc cách xa mọi thứ gây tổn thương: đàn bà, đàn ông, công nghệ, ô nhiễm, tình cảm, hy vọng. Anh ngập ngừng hồi lâu, nhưng rốt cuộc cũng từ bỏ kế hoạch này. Điều gì đó giữ anh lại Paris, tuy anh còn chưa biết đó là gì.

Anh ra khỏi sảnh sân bay, rồi đứng vào hàng người đang chờ taxi. Quãng thời gian chờ đợi không lâu như anh e sợ. Anh bảo tài xế chở mình về quận 6. Rồi anh nghe thấy mình nói một câu mà anh không bao giờ nghĩ mình sẽ nói ra:

– Anh có thể thả tôi xuống trước một cửa hiệu Orange được không? Tôi cần mua một chiếc điện thoại di động.

Trong suốt hành trình, anh mải miết suy nghĩ rồi hồi tưởng trong tâm trí câu chuyện khủng khiếp Pénélope Lorenz đã kể anh nghe mà lòng trĩu nặng.

Một câu chuyện phủ đầy xác chết, máu và nước mắt.

Pénélope

1.

Julian! Con làm ơn nhanh lên nào!

Khu Tây Thượng Manhattan. Ngày 12 tháng Mười hai năm 2014. 10 giờ sáng.

Tôi là Pénélope Kurkowski, vợ của Lorenz. Nếu là phụ nữ, chắc hẳn bạn đã nhận ra, cách đây vài năm, trên bìa tạp chí Vogue, Elle hoặc Harper’s Bazaar. Và bạn đã căm ghét tôi. Bởi vì tôi cao ráo hơn, mảnh mai hơn, trẻ trung hơn bạn. Bởi vì tôi đẳng cấp hơn, nhiều tiền hơn, dáng đẹp hơn. Nếu là đàn ông, có lẽ bạn từng gặp tôi trên phố và đã ngoái nhìn theo tôi. Và dù trình độ học vấn hay sự tôn trọng mà trên lý thuyết bạn khẳng định sẽ dành cho phụ nữ có là thế nào, thì trong sâu kín trí não đàn ông bẩn thỉu của mình, hẳn bạn vẫn nghĩ đến điều gì đó đại loại từ “Cô ta quá ngon” cho đến “Con điếm, mình sẽ chén nó ngon lành”.

– Julian, đi nào!

Taxi thả chúng tôi xuống góc phố Tây Công viên Trung tâm giao với phố 71. Chỉ còn chưa đầy hai trăm mét nữa là tới khách sạn nơi Philippe đang chờ tôi, nhưng thằng con trai quẩn chân tôi vẫn đứng im như phỗng.

Tôi ngoái nhìn. Julian mặc chiếc áo khoác dày sụ ngồi trên bậc thềm đá của một trong những ngôi nhà bằng đá sa thạch đỏ đẹp đẽ bao quanh con phố. Vẻ mơ mộng viển vông, thằng bé đang tròn xoe mắt ngạc nhiên với làn hơi nước ngưng đọng trong không khí giá lạnh, ngay khi nó mở miệng. Thằng bé có nụ cười ngây ngô để lộ hàm răng thưa và như thường lệ, mang theo con chó bông hôi hám chỉ chực rách vụn ra.

– Giờ thì đủ rồi đấy!

Tôi quay bước kéo tay thằng bé để buộc nó đứng dậy. Thằng bé trào nước mắt ngay khi tôi động đến nó. Vẫn màn kịch đó, vẫn những lời than vãn ai oán đó.

– Con thôi ngay đi!

Đứa trẻ này khiến tôi phát bực! Mọi người đều ngây ngất trước nó và dường như chẳng ai nhận ra cuộc sống hằng ngày của tôi với thằng bé là như thế nào. Ích kỷ một cách vô phép. Không bao giờ biết ơn về những gì người ta làm cho nó.

Tôi toan dọa lấy mất con chó bông của thằng bé thì một chiếc xe tải nhỏ màu trắng chờm lên vỉa hè rồi dừng lại ngay phía sau chúng tôi. Tài xế lao vọt ra khỏi xe rồi mọi chuyện nối tiếp nhau với tốc độ nhanh tới mức tôi không kịp có cả thời gian lẫn sự nhanh trí để kháng cự chút nào. Một bóng đen chồm lên tôi, thoi một cú đấm vào giữa mặt tôi, một cú khác vào bụng, cú thứ ba vào mạng sườn trước khi đẩy tôi vào khoang sau chiếc xe thùng. Tôi thở không ra hơi. Người gập làm đôi, tôi đau tới mức thậm chí không kêu nổi. Vừa ngóc đầu lên, mặt tôi đã phải hứng toàn bộ sức nặng cơ thể của con trai tôi, thằng bé vừa bị người ta quẳng vào thùng xe. Phần xương sọ phía sau của thằng bé làm sống mũi tôi vỡ toác. Một suối máu tuôn ra trên mặt tôi. Mắt tôi bỏng rát và hai mí mắt tôi khép lại.

2.

Khi tỉnh lại, tôi đang ở trong một khung cảnh tranh tối tranh sáng, bị nhốt trong một nhà tù với những chấn song sắt hoen gỉ. Một cái chuồng dành cho súc vật đúng nghĩa, chật chội, bẩn thỉu, nhơ nhớp. Julian đang nằm vắt lên người tôi. Nước mắt nước mũi tùm lum và máu me bê bết. Tôi ôm chặt thằng bé vào lòng và hiểu ra rằng máu trên mặt thằng bé chính là máu của mình. Tôi ủ ấm cho thằng bé, cam đoan với thằng bé rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi, bố sẽ tới giải cứu mẹ con mình. Tôi ôm hôn thằng bé, tôi ôm hôn thằng bé, tôi ôm hôn thằng bé. Trong một giây, tôi hối hận về toàn bộ sự hằn học cay nghiệt thường xuyên trút lên thằng bé. Và tôi linh cảm rằng chuyện đang xảy ra với chúng tôi có lẽ là hậu quả từ những lầm đường lạc lối của tôi.

Tôi nheo mắt lại rồi chăm chú quan sát cảnh tăm tối đang bao quanh chúng tôi. Hai chiếc đèn công trường treo trên những thanh xà kim loại đang tỏa ra một thứ ánh sáng yếu ớt cho phép suy đoán rằng chúng tôi đang ở trong một dạng nhà kho nơi chứa tạm những đồ dùng thiết bị liên quan đến vườn thú, rạp xiếc hoặc thảo cầm viên. Tôi nhác thấy những cái chuồng khác, những cuộn lưới sắt đan sợi, một chồng ghế sắt cũ, những núi đá giả, những khay gỗ mục mủn, những cây nhỏ bằng nhựa.

– Con tè dầm rồi mẹ ơi, Julian khóc.

– Không sao đâu, con yêu.

Tôi quỳ gối bên cạnh thằng bé, trên nền bê tông cứng đanh và lạnh băng. Không khí nồng nặc mùi ẩm mốc, mùi hăng hắc và ôi khét của nỗi sợ hãi. Tôi nhặt con chó bông đang lăn lóc dưới đất và sử dụng nó như một con rối.

– Nhìn thú bông này, nó muốn được hôn!

Trong vài phút, tôi cố gắng chơi đùa với thằng bé, cùng lúc thử tạo ra một bong bóng âu yếm dịu dàng bảo vệ thằng bé khỏi cơn điên loạn này. Liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Thậm chí còn chưa đến 11 giờ 30. Chúng tôi ở trên xe không lâu, vậy là chúng tôi đang cách Manhattan chẳng bao xa. Có lẽ đang ở New Jersey, Bronx hay Queens gì đó… Tôi tin chắc kẻ bắt cóc hai mẹ con tôi không hành động theo kiểu hú họa. Kẻ đó đã cực kỳ liều mạng khi tấn công chúng tôi giữa trung tâm thành phố. Vậy thì, đối tượng kẻ đó tìm kiếm chính là chúng tôi. Kẻ đó muốn nhắm tới chính chúng tôi: gia đình Lorenz. Nhưng vì lý do gì nhỉ? Một món tiền chuộc chăng?

Tôi bấu víu vào ý nghĩ này bởi lẽ nó khiến tôi yên tâm. Sean sẽ trả bất cứ giá nào để đưa chúng tôi ra khỏi đây. Rốt cuộc, có lẽ không phải vì tôi, mà là vì con trai ông ấy, đó là điều chắc chắn. Dù số tiền chuộc có là bao nhiêu chăng nữa, ông ấy cũng sẽ nộp đủ. Sean có cỗ máy in tiền của riêng mình: ba nhát cọ trên một tấm toan và ông ấy sẽ tìm ra một bầy cừu sẵn sàng chi tiền triệu. Những kẻ đầu cơ, những thương gia, những triệu triệu phú, những *hedge funders, những tài phiệt Nga, đám nhà giàu mới nổi Trung Quốc: tất cả bọn họ đều muốn có một bức Lorenz trong bộ sưu tập riêng. Một bức Lorenz! Một bức Lorenz! Một bức Lorenz còn giá trị hơn vàng ròng! Giá trị hơn cả nghìn dây ma túy. Giá trị hơn một chiếc máy bay riêng hay một căn biệt thự tại Bahamas.

Chú Thích

Những nhà đầu tư chuyên nghiệp và am hiểu thị trường thường tham gia vào loại quỹ đầu tư ít phổ biến với công chúng và không bị quản chế quá chặt.

– Đồ đĩ non!

Bị bất ngờ, tôi hét lên một tiếng khiến Julian òa khóc.

Một mụ đàn bà đang lại gần cái chuồng mà tôi không hề hay biết.

Phì nộn, lưng gù, chân tập tễnh. Tôi đoán mụ ta mắc chứng lão hóa sớm: mái tóc dài, xam xám và cứng quèo như rễ tre, sống mũi khoằm như mũi diều hâu, đôi mắt chất chứa nộ khí. Khuôn mặt đầy nếp nhăn đáng sợ của mụ ta phủ kín các hình xăm: sọc chữ chi, thánh giá, hình tam giác, hình tròn, tia chớp, giống như những hình vẽ trên mặt thổ dân da đỏ Mỹ.

– Bà… là ai?

– Câm miệng, đồ đĩ non! Mày không được phép nói!

– Tại sao bà làm vậy?

– CÂM MIỆNG! mụ ta thộp lấy họng tôi.

Với sức mạnh của một con bò mộng, mụ ta kéo tôi về phía trước rồi dộng mặt tôi nhiều lần vào những thanh sắt gỉ. Con trai tôi rú lên. Mũi tôi lại bắt đầu chảy máu. Tôi chịu đựng những cú dộng này không chút kháng cự, nhưng tôi hiểu ra mụ ta chẳng hề cân nhắc thể lực của mình.

Cuối cùng mụ ta cũng buông tôi ra. Khuôn mặt đầm đìa máu, tôi ngã quỵ xuống sàn. Trong khi Julian lao tới ôm cổ tôi, tôi nhận ra mụ da đỏ đang lục lọi trong một hộp dụng cụ cũ mòn hoen gỉ.

– Tới đây! mụ ta hét lên.

Tôi chùi bớt máu đang nhỏ giọt vào mắt rồi ra hiệu cho Julian tránh xa về phía góc trong cùng của cái chuồng.

Chớ làm mụ ta phật lòng.

Mụ ta tiếp tục tìm bới, lấy ra lần lượt một cây kìm cắt bu loong, một cái bào, một cái kẹp ván, một cái kìm sắc.

– Cầm lấy cái này, mụ ta thét bảo trong lúc đưa cho tôi một cái kìm cắt.

Vì tôi vẫn không nhúc nhích, mụ ta bực lên và rút từ cái bao mụ ta đeo ở thắt lưng ra một con dao khía đi rừng dài ba chục phân.

Mụ ta túm lấy cánh tay tôi rồi bằng một động tác nhanh gọn, cắt đứt dây đồng hồ đeo tay của tôi. Mụ ta huơ huơ cái đồng hồ trước mặt tôi rồi chỉ kim giây.

– Nghe tao cho kỹ đây, con đĩ. Mày có đúng một phút để mang cho tao một trong những ngón tay của con trai mày. Nếu mày từ chối, tao sẽ vào trong chuồng cắt cổ nó rồi sau đó tao sẽ giết mày.

Tôi khiếp đảm. Thậm chí não tôi còn nghiêm cấm việc mường tượng ra điều mụ ta đang yêu cầu tôi.

– Rốt cuộc, bà không…

– Làm đi! mụ ta hét lên rồi quẳng cái kìm vào mặt tôi.

Tôi sẽ ngất ra đó mất.

– MÀY CÒN BỐN MƯƠI GIÂY NHÉ! MÀY KHÔNG TIN TAO HẢ? NHÌN CHO RÕ ĐÂY!

Mụ ta bước vào chuồng rồi chụp lấy Julian đang nấc lên vì kinh sợ. Mụ ta dắt thằng bé ra trước, con dao khía của mụ ta gí vào cổ họng con trai tôi.

– HAI MƯƠI GIÂY.

Bụng tôi quặn lên. Tôi rên rỉ:

– Tôi sẽ không bao giờ làm vậy được đâu.

– MÀY TỰ XOAY XỞ ĐI!

Tôi hiểu là mụ ta sẽ chuyển từ đe dọa sang hành động và tôi chẳng còn lựa chọn nào khác.

Tôi nhặt lấy cây kìm cắt rồi tiến về phía mụ ta và về phía Julian đang bắt đầu gào lên.

– Không, mẹ ơi! Không, mẹ ơi! Đừng làm vậy! ĐỪNG LÀM VẬY!

Trong lúc bước về phía con trai tôi, tay cầm một thứ vũ khí, tôi hiểu ra hai điều.

Chỗ này là địa ngục.

Địa ngục sẽ còn kéo dài.

3.

Và địa ngục này còn tệ hại hơn cơn ác mộng tệ hại nhất của bạn.

Sau khi bắt tôi làm điều gớm ghiếc kia, con quỷ đó đã mang con trai tôi đi. Để chống lại cơn thịnh nộ điên cuồng của tôi, mụ da đỏ đã đấm đá tôi đến ngất ra đó. Vào bụng, vào họng, vào ngực. Khi tôi tỉnh lại, mụ đã cho tôi ngồi vào một chiếc ghế tựa bằng kim loại và đang quấn quanh nửa thân trên của tôi bằng dây thép gai, trói tôi thật chặt.

Nhiều giờ đã trôi qua mà tôi không thể nói là bao lâu. Tôi căng tai ra nhưng không nghe thấy Julian nữa. Chỉ hít thở nhẹ thôi cũng khiến tôi đau.

Những mấu nhọn của dây thép gai cào xé da thịt tôi.

Tôi ngất đi, tôi tỉnh lại, tôi đã mất khái niệm về thời gian. Tôi chảy máu ròng ròng. Tôi ngâm trong cứt đái của tôi, nước mắt của tôi, nỗi sợ hãi của tôi.

– Nhìn đi, đồ đĩ non!

Tôi giật mình ra khỏi cơn mê lịm.

Mụ da đỏ xuất hiện trong ánh sáng. Mụ đang bế Julian bằng một cánh tay. Bàn tay kia, mụ đang cầm con dao đi rừng. Thậm chí tôi không kịp kêu lên. Lưỡi dao vung lên, ánh lên một tia sáng bồn chồn trước khi bổ nhào xuống con trai tôi. Một lần, hai lần, mười lần. Máu phọt ra. Tôi nấc lên. Tôi rống lên. Những mấu sắt nhọn khoét thủng da thịt tôi, toàn thân. Tôi phát uất. Tôi nghẹn thở. Tôi muốn chết.

– ĐỒ ĐĨ NON!

11

Cursum Perficio

Bản ngã không phải chủ nhân trong ngôi nhà của riêng nó.

Sigmund FREUD

1.

Khi quay về phố Cherche-Midi, Gaspard tình cờ chạm trán Sean Lorenz.

Bức chân dung khổ lớn của họa sĩ – bức ảnh đen trắng được nữ nhiếp ảnh gia người Anh Jane Bown chụp – áp đặt sự hiện diện nghiêm trang của ông, làm đông đặc phòng khách trong bầu không khí yên lặng sắc lạnh và tạo cảm giác không rời mắt khỏi bạn.

Thoạt đầu, Gaspard chọn cách lờ nó đi rồi chuồn vào bếp cắm bình pha cà phê mà anh đã mua khi rời khỏi cửa hàng bán điện thoại. Để tự làm mình tỉnh táo, anh pha một tách ristretto kiểu Ý và uống một hơi cạn sạch, rồi đến một tách lungo chắc sẽ kéo dài lạc thú.

Tách cà phê trên tay, anh quay ra phòng khách và lại đụng phải ánh mắt của người họa sĩ. Lần đầu tiên trông thấy bức ảnh này, anh có cảm giác gương mặt Sean đang nói với mình Biến mẹ mày đi. Còn lúc này, anh càng có cảm giác là đôi mắt ông, lấp lánh và xuyên thấu, đang nói một ngôn ngữ khác và cầu xin anh: Hãy giúp tôi.

Anh cưỡng lại vài giây trước lời kêu gọi rồi bỗng động lòng trắc ẩn:

– Ông muốn tôi giúp ông thế nào đây? Con trai ông chết rồi, ông thừa biết như thế mà.

Anh ý thức được rằng mình thật ngu ngốc khi nói chuyện với một bức ảnh, nhưng nhu cầu phân trần đang giày vò anh. Cũng có cả nhu cầu tập hợp những suy nghĩ của bản thân và điểm lại tình hình.

– OK: người ta không tìm thấy xác cậu nhóc, anh nói tiếp, nhưng điều này không có nghĩa là cậu nhóc còn sống. Câu chuyện về kinh nghiệm cận tử của ông không hề logic, hãy thừa nhận điều ấy.

Gương mặt nghiêm trang tiếp tục lặng lẽ nhìn anh chăm chú. Gaspard bịa ra cho nó một câu trả lời: Nếu chính con trai anh chết, anh tin là…

– Tôi nào có con trai, anh bác bẻ.

Hãy giúp tôi.

– Ông đang làm phiền tôi đấy.

Một câu trong bài phỏng vấn của Lorenz với Jacques Chancel trở lại vang vọng trong tâm trí anh. Ở cuối cuộc trò chuyện, nhà báo đã hỏi họa sĩ về mục đích tối hậu của mọi nghệ sĩ. Trở nên bất tử, Sean đã trả lời không chút ngập ngừng. Điều có thể bị coi là sự dí dỏm mang tính hoang tưởng tự đại này đã mang một ý nghĩa hoàn toàn khác khi Lorenz nói rõ chủ định của mình: “Bất tử tặng bạn cơ hội chăm lo lâu nhất có thể cho những người thân yêu của bạn.”

Vì cứ thách thức bức chân dung, Gaspard cảm thấy hơi chóng mặt và bị ảo giác: gương mặt người họa sĩ chồng chéo lên các đường nét của bố anh và nhắc đi nhắc lại lời thỉnh cầu của ông: Hãy giúp tôi. Nhà soạn kịch chớp chớp mắt để làm tiêu tan cơn khó ở của mình. Triệu chứng rối loạn thị lực giảm dần rồi biến mất.

Được giải thoát khỏi sự chi phối của hai người đàn ông, anh quay về hang ổ của mình ở tầng trệt, cởi đồ, tháo lớp bông băng rồi đi tắm vòi sen. Anh hiếm khi tắm gội vào giữa buổi chiều, nhưng sự sôi sục và biến động gắn với những sự kiện đêm hôm trước đã khiến anh mất ngủ. Nếu cơn mệt mỏi lên đến đỉnh điểm đánh úp Gaspard ngay khi anh về nhà, thì nước lạnh lại giúp gột rửa đôi chút cảm giác kiệt quệ trong anh. Trong khi Gaspard cẩn thận lau khô cái nẹp tay, hình ảnh phản chiếu trong tấm gương lấm chấm những vệt đen khiến anh mếch lòng: râu tóc lông lá xồm xoàm, bệu mỡ.

Gaspard tìm thấy trong ngăn kéo tủ ở phòng tắm một chổi cạo râu, một bàn cạo và kem bọt kiểu cũ. Bất chấp hai bàn tay đang băng bó, anh bắt đầu dùng kéo loại bỏ quầng râu quai nón dày rậm của mình, cạo râu thật nhẵn và cắt phăng những món tóc. Việc vệ sinh cơ thể cho anh cảm giác dễ thở hơn. Nó cũng trút bỏ khỏi anh toàn bộ mong muốn mặc lại chiếc áo sơ mi kẻ ca rô và quần nhung túi hộp.

Mặc quần đùi và áo may ô ôm sát, anh bước vào phòng thay đồ sát cạnh phòng ngủ lớn nhất của ngôi nhà. Giống như Steve Jobs hay Mark Zuckerberg, Sean Lorenz là tín đồ của capsule wardrobe – tủ quần áo bất biến. Trong trường hợp này là khoảng một tá vest Smalto từ đen tới xám sáng và hàng loạt sơ mi màu trắng vải popeline bông cổ cồn với cúc ánh xà cừ. Mặc dù trông Gaspard có hơi béo tốt nhưng vóc dáng anh không khác lắm so với họa sĩ. Anh mặc một chiếc áo sơ mi rồi một bộ com lê và lập tức cảm thấy thoải mái lạ lùng, như thể vừa nhẹ đi được nhiều kí lô.

Trong một ngăn kéo tủ, anh phát hiện ra vài lọ nước hoa để cạnh những chiếc thắt lưng da cuộn lại. Năm hộp giấy đã hơi ngả vàng in nhãn hiệu Pour un homme của Caron, một vài trong số đó vẫn còn nguyên giấy bóng kính. Anh còn nhớ một giai thoại mà Pauline đã kể cho anh nghe để minh họa cho tính cách cuồng ám của Lorenz. Loại nước hoa này là món quà đầu tiên Pénélope tặng cho chồng tương lai khi mối quan hệ của họ bắt đầu. Sean đã không bao giờ thôi xức nó, nhưng vì tin chắc công thức pha chế đã bị thay đổi trong quá trình sản xuất, ông liền săn lùng trên eBay loại nước hoa này và mua bằng sạch tất cả những chai được sản xuất năm 1992 mà ông tìm thấy.

Gaspard mở một chai ra rồi xịt. Mùi oải hương và vani mang nét chân phương và phi thời không hề khiến anh chán ghét. Đúng lúc rời khỏi phòng thay đồ, anh thoáng thấy hình ảnh phản chiếu của mình trên tấm gương soi có chân và bỗng có cảm giác đang ngắm nhìn một người khác. Một phiên bản Lorenz tròn xoay hơn và ít nóng nảy hơn. Để hoàn thiện hiệu ứng này, anh cất cặp kính đang đeo vào ngăn kéo đựng nước hoa. Hoàn toàn tự nhiên, anh không khỏi nghĩ đến một trong những bộ phim mình yêu thích – Chóng mặt – và cuộc tìm kiếm điên rồ của nhân vật Scottie do James Stewart thủ vai. Một người đàn ông cố gắng biến đổi vị hôn thê mới của mình để khiến cô giống với tình yêu vĩ đại đã mất của anh ta. Việc tìm cách chiếm chỗ những người quá cố có thể hết sức nguy hiểm, Hitchcock đã cảnh báo chúng ta thông qua phần kết cuộc. Nhưng vào khoảnh khắc này, Gaspard không bận lòng đến chuyện ấy. Anh vuốt phẳng những nếp li của chiếc áo vest đang mặc trên người rồi nhún vai rời khỏi phòng.

2.

Ngay ngày đầu tiên, có điều gì đó đã khiến Gaspard sửng sốt: tại sao Bernard Benedick, người thừa kế kiêm thực hiện di chúc của Sean, lại chọn cách cho thuê ngôi nhà trong khi vẫn để lại đó chừng ấy đồ dùng cá nhân của người họa sĩ như vậy? Ngày hôm nay, câu hỏi ấy xuất hiện trở lại trong khi anh thơ thẩn ở phòng ngủ xưa kia vốn thuộc về Lorenz và Pénélope. Hành động này gây ra một cảm giác mâu thuẫn. Vừa dễ chịu khi được ở trong một nơi chốn quen thuộc; vừa bồn chồn nôn nao hơn khi thấy mình giống như một kẻ rình mò nhìn trộm. Gaspard chọn cách không bận lòng với những ngại ngùng đó và chấp nhận mang tiếng kẻ xâm phạm đời tư – mình có lý do chính đáng kia mà, anh tự biện minh như vậy. Anh tiến hành lục soát triệt để căn phòng, mở tất cả tủ tường, ngăn kéo, thăm dò khắp mặt tường, thậm chí còn kiểm tra các thanh ván lát sàn bất chấp sự vụng về nhất định vì vết thương ở hai bàn tay. Những gì anh thu hoạch được vô cùng ít ỏi. Dẫu sao anh cũng tìm ra một tủ con nhiều ngăn kéo gắn bánh xe chứa đầy giấy tờ và phong bì bên dưới bàn làm việc bằng gỗ cẩm lai.

Anh kiểm tra kỹ bên trong, phát hiện ra những bài báo trích từ các trang web tin tức của báo chí chính thống có liên quan xa gần tới cái chết của Julian. Vẫn những bài báo trên tờ New York Times, Daily News, Post hoặc Village Voice mà Gaspard đã đọc ngày hôm trước trên máy tính của Madeline. Không có gì quá mới mẻ, ngoại trừ lời khẳng định rằng trước khi qua đời, Lorenz đã lại vùi đầu vào cuộc điều tra về cái chết của con trai ông. Ngạc nhiên hơn, cái tủ này còn chứa đựng thư từ mà họa sĩ tiếp tục nhận được sau khi chết. Những hóa đơn truyền thống của Điện lực Quốc gia và nhà mạng Orange, hàng núi thư quảng cáo, những thư từ của Ngân hàng Nhà nước đeo đẳng bạn muôn đời…

Tiếp giáp với phòng ngủ khép kín của bố mẹ là cửa phòng ngủ của Julian. Gaspard ngập ngừng một hồi nơi ngưỡng cửa trước khi chấp nhận thử thách.

Hãy giúp tôi.

Anh cố gắng gạt cảm xúc của mình sang bên rồi tiến vào căn phòng. Được bố trí ở tầng trệt ngay sát vườn, đó là một căn phòng vuông vắn, xinh xắn và sáng sủa, với sàn gỗ được mài sạch và đồ đạc sơn theo các gam màu phấn. Trong không gian tĩnh lặng tựa nhà thờ, những tia nắng đổ vào qua các ô cửa sổ soi sáng bừng một chiếc giường trẻ em phủ chăn màu be, làm ánh hạt bụi trên bề mặt đánh xi của một giá sách dùng làm nơi cất giữ những cuốn sách tranh và những chiếc ô tô sưu tập nhỏ xíu. Một bức tranh gốc của *Norman Rockwell.

Chú Thích

(1894-1978): họa sĩ minh họa người Mỹ, gắn liền với những trang bìa tạp chí Saturday Evening Post trong suốt giai đoạn 1916-1960.

Không hy vọng tìm thấy gì trong căn phòng này, Gaspard vẫn đứng đó hồi lâu, bất động, như tại một nơi hành hương bí mật. Nơi này chẳng có gì nguy hại. Trái lại, căn phòng dường như đang chờ cậu nhóc quay về. Chẳng bao lâu nữa, cậu nhóc sẽ đi học về, sẽ mở các ngăn tủ hốc tường để lấy ra những bộ Lego, tấm bảng thần kỳ, những mô hình khủng long nho nhỏ… Cảm giác này dai dẳng trong tâm trí Gaspard cho tới khi anh nhìn thấy một con chó bông lấm tấm vết máu đặt trên gối.

Gaspard đứng sững lại. Đây có phải món đồ chơi Julian mang theo khi bị bắt cóc không? Nếu đúng là vậy thì tại sao con thú bông – một vật chứng – lại vẫn còn ở đây?

Anh cầm lấy con vật bằng cả hai bàn tay bị thương. Con chó có một khuôn mặt vừa buồn cười vừa hiền lành không mấy hợp với vệt máu khô dính trên mõm nó. Gaspard đưa con thú bông lại sát mặt mình và bỗng nhận ra rằng đó không phải máu, mà chắc chắn là sô cô la. Bấy giờ anh đã hiểu ra sự nhầm lẫn của mình: mánh kinh điển của các bậc cha mẹ khéo xoay xở để có một con thú bông thay thế. Trên mõm con chó, chẳng có dấu vết nào về mùi hăng hắc của nỗi sợ hãi. Ở đó chỉ có mùi của thời thơ ấu, ngọt ngào và ấm áp, và chắc hẳn đó là lý do Lorenz giữ nó lại như một thánh tích: hương thơm của món bánh bích quy vừa ra lò vốn gợi ra những hình ảnh yên bình trong cuốn sách tập đọc, một bông lúa mì chín, lớp vỏ màu nâu gai góc của những hạt dẻ, những chiếc lá tiêu huyền bay xập xòe trong làn gió ấm. Những khoảnh khắc chớp nhoáng mang tới cho Gaspard một niềm tin chắc tuyệt đối: một con đường đang mở ra phía trước anh và anh sẽ đi tới cùng hành trình này, bất chấp hậu quả có như thế nào chăng nữa.

3.

“Chín tháng mùa đông, ba tháng địa ngục.” Câu ngạn ngữ cổ của Tây Ban Nha là điều bất công thường gặp nhất: trời chỉ thực sự mưa có mười ngày trong năm tại Madrid. Rủi thay, ngày 22 tháng Mười hai năm 2016 này lại là một ngày trong số đó và khi hạ cánh xuống thủ đô Tây Ban Nha, Madeline đã chứng kiến một thứ thời tiết còn chẳng được ôn hòa bằng Paris.

Sau một chuyến bay lận đận – ở Charles-de-Gaulle, trong khi máy bay của cô sắp sửa cất cánh, nó lại mất lượt xuất phát vì một hành khách bị đau cần phải cho xuống –, Madeline đã hạ cánh xuống Madrid-Barajas trễ gần hai tiếng để rồi dính vào cả loạt những trò vui vốn có của dạng hành trình này. Kiểu những rắc rối vẫn khiến Gaspard mất kiểm soát: sân bay đông nghịt, những khách đi nghỉ bực bội, cảnh chờ đợi liên miên, cảm giác ê chề vì bị biến thành gia súc-người. Sau khi đã chịu đựng chuyến xe buýt chật chội lúc vừa xuống máy bay, cô lại gặp ngay phải chiếc taxi cũ mèm nồng nặc mùi thuốc lá và mồ hôi. Một chiếc xe cà khổ với các cửa kính đọng hơi nước bởi không khí ô nhiễm mà cô đã chịu đựng suốt gần một giờ đồng hồ cùng với những vụ tắc đường của tuần lễ mua sắm cuối cùng trước Giáng sinh và chuỗi lải nhải không dứt những ca khúc tạp vần Tây Ban Nha mà chiếc radio gắn trên xe được kết nối với kênh FM Thân thương của địa phương đang tuôn ra. Top 50 phiên bản Movida: Mecano, Los Elegantes, Alaska y Dinarama…

Coutances đã lây nhiễm cho mình! cô bực tức khi đến Calle Fuencarral, tâm chấn của Chueca, thành trì của cộng đồng gay Madrid. Cô cảm thấy mối nguy hiểm. Nhất là, không được nhượng bộ trước cách nhìn nhận thế giới đầy bi quan này. Nếu bắt đầu e sợ cuộc đời thông qua lăng kính màu đen của Gaspard Coutances, cô chỉ còn phải tự cầm súng bắn vào mình nữa thôi.

Vậy nên cô gắng gượng tuân theo một thái độ tích cực. Người tài xế taxi thật đáng ghét, nhưng cô vẫn để lại cho anh ta một khoản boa. Đến khách sạn thì chẳng ai giúp Madeline xách hành lý, nhưng cô tự nhủ mình cũng chẳng cần giúp. Căn phòng khách sạn được cô đặt trong lúc gấp gáp thì ngột ngạt, với tầm nhìn ra một công trường và một cần cẩu đang hoen gỉ tại chỗ, nhưng tuy thế cô vẫn thấy nó có vẻ duyên dáng nhất định. Ngoài ra, sau khi làm thủ thuật cô sẽ được nghỉ ngơi và tha hồ tìm một chỗ đẹp hơn.

Đối diện. Không nhầm lẫn. Quên đi cơn hỗn loạn vốn là cuộc đời cô cho tới thời điểm hiện tại, quên đi cơn mê muội về Sean Lorenz, thảm kịch của con trai ông ấy, cuộc chạy trốn trước Coutances. Tập trung vun đắp tương lai mà cô đã tự chọn cho mình.

4.

Lúc 16 giờ, Gaspard đứng ăn lót dạ trong bếp bằng một hộp cá mòi và vài lát bánh mì. Một bữa xế ăn vội chiêu bằng Perrier vị chanh.

Sau đó, Gaspard chọn một đĩa than nhạc jazz trong bộ sưu tập của Sean Lorenz rồi đặt lên mâm đĩa, vì giờ anh đã hình thành thói quen này. Tiếp theo anh di chuyển cái tủ con chứa thư từ của họa sĩ sang phòng khách rồi bắt đầu xem kỹ những tài liệu lưu trữ lạ lùng này.

Anh ngồi xếp bằng trên sàn tiến hành công việc đó được hơn một giờ thì bỗng tìm ra một số của tạp chí Art in America vẫn còn nguyên lớp bóng kính bên ngoài. Gaspard xé lớp bóng kính. Ấn bản ra hồi tháng Một năm 2015. Tấm danh thiếp ghim trên bìa tạp chí cho thấy đích thân tổng biên tập đã gửi tờ tạp chí cho Sean kèm theo lời cảm ơn và lời chia buồn.

Bên trong có khoảng chục trang nói về dạ tiệc khai mạc triển lãm Sean Lorenz. A life in painting diễn ra tại MoMA vào ngày 3 tháng Mười hai năm 2014, vài ngày trước khi Julian bị bắt cóc. Trong lúc lật qua cuốn tạp chí, Gaspard hiểu ra rằng buổi tiệc tối đó đúng ra là một sự kiện của giới thượng lưu hơn là một buổi lễ mang tính nghệ thuật. Được một nhãn hiệu xa xỉ tài trợ, buổi khiêu vũ thân mật quy mô nhỏ đã thu hút rất đông khách mời nổi tiếng. Trên những bức ảnh của tạp chí, Gaspard nhận ra Michael Bloomberg, cựu thị trưởng thành phố, cũng như Andrew Cuomo, đương kim thị trưởng New York. Trên những bức ảnh khác, người ta nhìn thấy các lái buôn nghệ thuật Charles Saatchi và Larry Gagosian. Trong trang phục hết sức trễ nải, Pénélope Lorenz, vẫn đang thời cực thịnh của nhan sắc, chuyện trò rôm rả cùng Sarah Jessica Parker và Julian Schnabel. Những lời thuyết minh cho các bức ảnh cũng nêu tên một loạt người mẫu và những nhân vật trẻ trung thuộc tầng lớp tinh hoa của xã hội mà Gaspard chưa từng nghe nói tới.

Trên những bức ảnh này, Sean Lorenz gây cảm tưởng đang lơ đễnh và có phần mất tự nhiên. Gaspard đoán ông đang lấn bấn với sự phù phiếm và huy hoàng của buổi tiệc. Đời sống khổ hạnh và sự thuần khiết của những bức tranh cuối cùng ông vẽ đối lập với dạng tiệc chiêu đãi này nơi người ta tới chỉ để được nhìn thấy. Gương mặt ông bị đông cứng lại bởi một tấm mặt nạ bồn chồn, như thể ông ý thức được rằng chân trời sự nghiệp rộng mở của mình dĩ nhiên cũng là phòng chờ dẫn đến sự sụp đổ. Như thể ông đã nhìn thấy, đằng sau đền Capitole, cái bóng của núi đá Tarpeia. Như thể cái chết của Julian đã được ghi sẵn trong sự suy tàn êm dịu của buổi tiệc tối ngày hôm đó.

Thành thực mà nói, dẫu sao Sean cũng đã nở nụ cười trong một bức ảnh. Một bức ảnh chụp chung với một cảnh sát mặc trang phục đúng quy cách của cảnh sát New York: bộ đồng phục màu xanh thẫm và mũ lưỡi trai tám góc. Một dòng chữ đóng khung nói rõ rằng viên sĩ quan này, một tay Adriano Sotomayor nào đó, vốn là bạn thời thơ ấu của Sean Lorenz và hai người đàn ông đã không gặp nhau từ hai mươi hai năm nay. Nhìn kỹ bức ảnh, Gaspard đã nhận ra anh chàng Mỹ Latinh có phần tự phụ một cách lố bịch thường dương dương tự đắc trong những bức ảnh thời trai trẻ mà anh đã nhìn thấy trong tập chuyên khảo. Anh đứng dậy xác minh thông tin trong cuốn sách tóm tắt để trong thư viện. Không còn nghi ngờ gì nữa: Sotomayor đúng là thành viên thứ ba của nhóm “Thợ pháo hoa”. Người ký tên những bức graffiti của mình bằng nghệ danh NightShift. Theo năm tháng, khuôn mặt ông ta đã béo ra, vẻ ngạo nghễ khi xưa nhường chỗ cho vẻ hiền từ, nhưng các đường nét vẫn giữ nguyên tính chất “góc cạnh như được tạc” khiến ông ta trông hao hao diễn viên Benicio del Toro.

Gaspard lưu thông tin vào một góc tâm trí rồi khép cuốn tạp chí lại. Khi anh đứng dậy để pha một tách cà phê mới thì cơn thèm rượu đã buông tha anh từ hơn hai mươi tư giờ qua bỗng chộp lấy anh nhanh như chớp. Bằng kinh nghiệm, anh biết mình nên phản ứng thật mau lẹ nếu muốn có một cơ hội chặn đứng con quỷ trong mình. Đó là kinh nghiệm được anh áp dụng trong lúc dốc sạch vào bồn rửa ba chai rượu vang thượng hạng và chút rượu sót nơi đáy chai whisky còn lại trong nhà. Trong một khoảnh khắc phân vân do dự, anh đã phải chịu đựng nhiều cơn co thắt ngắn. Trán Gaspard toát mồ hôi đầm đìa rồi anh cảm thấy cơn lo lắng lại dâng trào và anh đã thành công trong việc dập tắt đám cháy trước khi nó lan rộng. Thay cho phần thưởng, anh châm một điếu thuốc đã quấn sẵn trong bao thuốc lá vàng mà Madeline để quên trên quầy bếp. Một thứ thuốc độc này đổi lấy một thứ thuốc độc khác, “hệ số nghịch cảnh của vạn vật” trứ danh của Sartre, hàm súc đến mức con người cần tới “hàng năm kiên trì để đạt được kết quả nhỏ nhất”. Người ta giành được thắng lợi theo khả năng.

Miệng phì phèo điếu thuốc, Gaspard đặt mặt B của chiếc đĩa than 33 vòng lên mâm – một đĩa nhạc cũ của *Joe Mooney với chất lượng âm thanh tuyệt hảo –, rồi vùi đầu vào công việc, đọc lại vài bài báo trên chiếc điện thoại thông minh mới của mình trước khi tấn công đám thư từ còn chưa động đến.

Chú Thích

(1911-1975): ca sĩ, nhạc công accordeon thể loại pop và jazz người Mỹ.

Giữa những hóa đơn, anh nán lại trên danh mục chi tiết những cuộc gọi đến và đi. Lorenz ít gọi điện, nhưng những tài liệu này đóng vai bản kê chi tiết đúng nghĩa cho phép xác định phạm vi thời gian biểu của họa sĩ trong những ngày trước khi qua đời. Một vài số điện thoại ở Pháp, những số khác là ở Mỹ. Gaspard tiến hành theo cách căn bản, gọi tất cả những người có trong danh sách này theo thứ tự thời gian. Anh lần lượt gặp được thư ký của khoa tim bệnh viện Bichat, phòng khám của bác sĩ Fitoussi, một chuyên gia tim mạch ở quận 7, rồi một hiệu thuốc trên đại lộ Raspail. Trong những số điện thoại bên kia bờ Đại Tây Dương, có một số đặc biệt thu hút sự quan tâm của anh, bởi Lorenz đã tìm cách liên lạc với số đó hai lần nhưng không được. Ông đã cố liên lạc lại vào ngày tiếp theo và lần này, ông đã được kết nối. Gaspard gặp được hộp thư thoại của một người nào đó tên là Cliff Eastman, mà tin nhắn vô nhân xưng được thể hiện bằng chất giọng khàn đặc nhưng vui vẻ hồn nhiên của một tay nghiện thuốc lá hoặc nghiện rượu whisky (hay đúng ra là pha trộn cả hai thứ, những thói hư tật xấu thường thích song hành cho có đôi có cặp).

Gaspard đánh liều để lại một tin nhắn đề nghị người ta gọi lại cho mình rồi tiếp tục bóc tách những tài liệu lưu trữ của Sean, quan sát chăm chú giá sách, mở tất cả các cuốn sách, cắt ra vài bài báo và vài bức ảnh trong cuốn chuyên khảo để dán chúng vào cuốn vở gáy xoắn khổ to anh đã dự định dùng để viết vở kịch của mình. Giữa một cuốn sách đẹp đẽ của Salgado và cuốn Chuột của Spiegelman, anh tìm thấy một tấm bản đồ New York cũ và sử dụng nó nhằm nắm bắt rõ hơn những khoảng cách và những sự chuyển dịch, đánh những dấu nhân với các màu sắc khác nhau để cụ thể hóa những nơi chốn liên quan tới cuộc điều tra: địa điểm nơi Julian bị bắt cóc, địa điểm cậu nhóc bị giam cầm cùng mẹ, cây cầu nơi Beatriz Muñoz khẳng định là đã quẳng cậu nhóc xuống sông, bến tàu điện ngầm nơi bà ta tự tử…

Bị cuốn theo đà, Gaspard không nhận thấy thời gian trôi. Khi anh ngẩng đầu lên thì bóng tối đã buông. Joe Mooney đã ngừng hát từ lâu. Anh nhìn đồng hồ đeo tay và bỗng nhớ ra mình có một cuộc hẹn.

12

Hố đen

Người ta chỉ tự do khi có một mình.

Arthur SCHOPENHAUER

1.

Hãng của Karen Lieberman đặt trụ sở tại phố Coutellerie, trong quận 1, không xa tòa thị chính và Trung tâm Pompidou lắm.

Gaspard mới chỉ tới đây có một lần duy nhất, mười hai năm trước, vào buổi ban đầu anh hợp tác với Karen. Phần thời gian còn lại, chính đại diện của anh mới là người di chuyển. Và Gaspard hối hận vì lần này đã không yêu cầu cô làm vậy: quãng đường từ phố Cherche-Midi đã lại dìm ngập anh trong khung cảnh hung hăng khiêu khích và sầu thảm của Paris xam xám này. Việc thần kinh anh đang dễ kích động, cảm tưởng đang ở trên mảnh đất thù địch, và cảm giác thiếu khuyết chẳng thu xếp được ổn thỏa chuyện gì.

Nơi này vẫn như anh còn nhớ: một cổng xe cũ kỹ – được phủ kín bằng nhiều tấm biển đề các nghề nghiệp tự do – dẫn vào một khoảnh sân con bình dị nơi mọc lên tòa nhà thứ hai, kém sang trọng hơn nhiều so với tòa nhà trông ra phố. Với kích cỡ của một cỗ quan tài, thang máy di chuyển chậm rãi đến thảm thiết. Nhất là nó còn tạo cảm giác có thể ngoẻo bất cứ lúc nào. Sau giây lát ngập ngừng, Gaspard quyết định leo bộ sáu tầng gác.

Đến được trước tiền phòng thì hụt hơi, anh bấm chuông rồi chờ người ta mở cửa trước khi vào khu văn phòng đặt ở tầng áp mái. Anh hài lòng ghi nhận rằng tiền phòng – nơi kê sẵn vài chiếc ghế tựa để sử dụng như phòng chờ – đang vắng tanh. Vì Karen đã ký hợp đồng đại diện với khoảng hai chục nhà văn, nhà soạn kịch và nhà biên kịch, Gaspard đã e sẽ phải gặp ở đó một trong những đồng nghiệp chuyên dùng bút danh và phải bỏ ra năm phút để chào hỏi và chuyện trò xã giao. “Sự cô độc có hai lợi ích: trước tiên là được ở với bản thân, sau đó là không phải ở cùng người khác.” Một ngày nọ Schopenhauer đã nói một câu đại loại như vậy, anh nghĩ trong lúc tiến về phía phòng trợ lý của Karen.

Đó là một chàng thanh niên ngỡ rằng bản thân có phong cách – râu *hipster, các hình xăm nổi loạn một cách giả tạo, kiểu tóc undercut, đôi bốt Chukka và áo sơ mi bò ôm sát – trong khi anh chàng chỉ là bản sao của tất cả lũ bạn tìm cách tái tạo khu phố *Williamsburg và Kreuzberg gần kênh đào Saint-Martin. Tình tiết tăng nặng, đó là anh chàng đang ngó lom lom vào Gaspard trước khi hỏi tên anh với vẻ đầy ngờ vực. Một cách cư xử quá đáng trong khi một mình anh đảm bảo ba phần tư doanh số cho hãng!

Chú Thích

Một từ lóng xuất hiện vào thập niên 40 của thế kỷ trước, chỉ những người trẻ da trắng thuộc tầng lớp trung lưu cổ vũ cho lối sống của những nghệ sĩ jazz da màu mà họ thần tượng, với phong cách thời trang độc đáo, chủ yếu dùng đồ vintage, đeo kính, đội mũ phớt, giày nhà binh…

Chú Thích

Hai khu phố, một thuộc New York, một thuộc Berlin, vốn là “thánh địa” của dân hipster.

– Chính tôi đang trả lương cho cậu đấy, đồ tồi! anh phát cáu trong lúc tiến về phía cánh cửa phòng làm việc của Karen với vẻ quyền uy trước ánh mắt sững sờ của anh chàng trợ lý.

– Gaspard? nữ đại diện của anh chào đón.

Nghe loáng thoáng được đoạn hội thoại từ bên ngoài vọng vào, cô đã đi vòng qua bàn làm việc để tới gặp anh. Thân hình mảnh dẻ, mái tóc vàng hoe cắt ngắn, Karen Lieberman đã xấp xỉ bốn mươi lăm mùa xuân nhưng vẫn ăn vận theo cùng một kiểu từ thời học trường *Janson-de-Sailly: quần jean 501, sơ mi trắng, áo len chui đầu cổ chữ V và giày lười màu rượu vang Saint-Émilion.

Chú Thích

Trường trung học có khu ký túc xá lớn nhất ở Pháp với gần 4.000 học sinh theo học.

Đây là người đại diện của Gaspard, nhưng đồng thời cũng là luật sư, kế toán, trợ lý của anh, đại diện truyền thông, cố vấn thuế và đại lý bất động sản của anh. Đổi lấy 20% thu nhập của anh, Karen là giao diện của anh với thế giới bên ngoài. Tấm lá chắn cho phép anh mặc sức sống thế nào tùy thích và chúc cả thế giới may mắn. Điều mà anh không hề kiêng dè.

– Kẻ hoang dã nhất trong số các tác giả của tôi sao rồi?

Anh xẵng giọng ngắt lời cô:

– Tôi đâu phải tác giả của cô. Chính cô mới là nhân viên của tôi, chuyện này hoàn toàn khác đấy.

– Gaspard Coutances trong toàn bộ vẻ lộng lẫy huy hoàng của ngài! cô độp lại. Đểu cáng, hay càu nhàu, đầy ngờ vực…

Cô mời anh ngồi xuống.

– Chẳng phải chúng ta đã hẹn nhau ở nhà hàng sao?

– Trước đó, tôi cần cô in cho tôi một số tài liệu quan trọng, anh giải thích trong lúc móc điện thoại từ túi áo ra. Những bài báo tôi tìm thấy trên Internet.

– Hãy chuyển chúng cho Florent, cậu ta…

– Chuyện này quan trọng đấy, tôi đã nói với cô rồi! Tôi muốn đích thân làm kia, chứ không phải anh chàng trai bao của cô.

– Anh muốn sao cũng được thôi. À! Tôi đã gặp Bernard Benedick qua điện thoại. Ông ấy cam đoan với tôi là mọi chuyện liên quan đến ngôi nhà đã được giải quyết ổn thỏa. Có vẻ như cô gái đã đi rồi. Anh có thể tận hưởng ngôi nhà. Một mình.

Anh lắc đầu.

– Cứ làm như tôi chưa biết gì ấy! Dẫu sao chăng nữa, tôi cũng sẽ không ở lại đó đâu.

– Dĩ nhiên, chuyện này quá đơn giản mà, Karen thở dài. Tôi rót cho anh một ly whisky nhé?

– Không, cảm ơn. Tôi quyết định cai rượu rồi.

Cô tròn mắt nhìn anh.

– Mọi chuyện ổn chứ, Gaspard?

Anh thông báo ngắn gọn:

– Năm nay tôi sẽ không viết kịch đâu.

Anh gần như có thể thấy diễu qua tới tấp trong tâm trí Karen cả loạt những hệ quả mà quyết định của anh gây ra: hủy bỏ các hợp đồng, từ bỏ các khán phòng, hủy bỏ các chuyến đi… Tuy nhiên, chưa đầy hai giây sau người đại diện của anh đặt ra câu hỏi bằng một giọng đều đều vô cảm:

– Thật ư? Tại sao?

Anh nhún vai rồi lắc đầu.

– Thêm hay bớt một vở kịch của Coutances, tôi nghĩ chuyện đó sẽ chẳng thay đổi gì nhiều lịch sử ngành sân khấu…

Vì Karen vẫn lặng thinh, anh đóng sâu thêm cây đinh:

– Chúng ta hãy thành thực với nhau nhé, tôi đã cân nhắc mọi nhẽ rồi. Những năm gần đây, tôi có phần lặp lại chính mình, phải không?

Lần này thì cô phản ứng:

– Với chủ đề “thế giới xấu hoắc, nhân loại ngu đần” thì có lẽ là vậy. Nhưng anh có thể thử viết về đề tài khác mà.

Gaspard nhăn mặt.

– Tôi không rõ là về cái gì đây.

Anh đứng dậy rút lấy một điếu trong bao thuốc để trên bàn rồi ra ban công hút thuốc.

– Anh yêu rồi chứ gì? Karen kêu lên trong lúc đi tới chỗ anh.

– Không. Cô đang huyên thuyên gì thế?

– Tôi đã ngờ ngợ là một ngày nào đó chuyện này sẽ đến với anh mà, cô than vãn.

Anh biện bạch:

– Chỉ vì tôi không muốn viết mà cô kết luận rằng tôi đang yêu sao? Lý lẽ thật là gàn dở.

– Anh đã mua điện thoại di động. Chính anh đấy! Anh không uống rượu nữa, anh đã cạo râu, anh không còn đeo kính, anh mặc com lê và sực nức mùi oải hương! Vậy thì đúng đó, tôi thực sự nghĩ anh đang yêu.

Vẻ lơ đễnh, Gaspard rít thuốc. Âm thanh của thành phố rì rầm trong màn đêm êm dịu và ẩm ướt. Dựa vào lan can, anh chăm chú nhìn tháp Saint-Jacques, chơ vơ và dang dở, đang lấp lánh cách sông Seine vài bước chân.

– Tại sao cô bỏ lại tôi trong cái hố này? anh bỗng hỏi.

– Cái hố nào kia?

– Cái hố nơi tôi vẫn sống lay lắt bấy nhiêu năm nay ấy.

Đến lượt mình, cô châm một điếu thuốc.

– Tôi thấy có vẻ như chính anh đã tự nhốt mình trong cái hố ấy đấy chứ, Gaspard. Thậm chí anh đã tỉ mẩn tổ chức toàn bộ sự vận hành của cuộc đời mình để chắc chắn không thoát ra khỏi đó kia mà.

– Tôi biết thế, nhưng dẫu sao, chúng ta cũng là bạn, cô…

– Anh là một kịch tác gia, Gaspard ạ, những người bạn duy nhất của anh là các nhân vật trong những vở kịch anh viết.

Anh tiếp tục:

– Cô có thể thử mà, cố gắng làm gì đó…

Cô suy nghĩ một hồi, rồi:

– Anh muốn nghe sự thật không? Tôi đã để anh lại trong cái hố này bởi đó là nơi anh có thể viết ra những vở kịch hay nhất của mình. Trong cô đơn, trong bất mãn, trong muộn phiền.

– Tôi không thấy có gì liên quan.

– Trái lại, anh thấy rất rõ sự liên quan. Và hãy tin vào kinh nghiệm của tôi: trải nghiệm hạnh phúc thì rất dễ chịu, nhưng đối với sự sáng tạo thì việc ấy lại không tốt cho lắm. Anh có biết nghệ sĩ nào được vui vẻ hạnh phúc không?

Lúc này khi đã trót phun ra rồi, Karen bèn say sưa phát triển suy nghĩ của mình, lưng dựa vào khuôn cửa sổ:

– Ngay khi một trong các tác giả của tôi bảo với tôi rằng họ hạnh phúc, tôi bắt đầu lo lắng. Hãy nhớ điều mà *Truffaut lúc nào cũng nhắc đi nhắc lại: “Nghệ thuật quan trọng hơn cuộc sống.” Và điều này đúng, bởi lẽ cho đến nay, anh không thích thứ gì đáng kể trong cuộc sống, Gaspard ạ. Anh không ưa mọi người, anh không ưa nhân loại, anh không ưa trẻ con, anh…

Chú Thích

François Truffaut (1932-1984): một trong những nhà làm phim tiên phong tạo nên phong trào Phim Mới của Pháp. Bộ phim đầu tay có nhan đề Bốn trăm cú của đạo diễn này từng đoạt giải Cành cọ vàng tại Liên hoan phim Cannes.

Anh vừa giơ tay lên để ngắt lời cô thì bỗng điện thoại đổ chuông. Anh nhìn màn hình: một cuộc gọi đến từ Mỹ.

– Thứ lỗi cho tôi nhé?

2.

Madrid. 17 giờ và trời đã gần tối.

Trước khi rời khỏi khách sạn, Madeline hỏi mượn một chiếc ô, nhưng chỉ nhận được một lời từ chối lịch sự từ gã trực quầy lễ tân. NevermindĐừng bận tâm. Cô bước ra ngoài dưới màn mưa, quyết định lờ đi thời tiết xấu cũng như mọi điều không như ý. Chỉ sau đôi ba bước chân, cô tìm ra một farmacia và xuất trình đơn thuốc của mình tại đó: thuốc kháng sinh để tránh nhiễm trùng khi làm thủ thuật và một liều hoóc môn mới để kích thích phóng noãn. Một phương pháp điều trị mới mẻ cho phép rút ngắn hai mươi tư giờ thời hạn thông thường giữa việc tiêm hoóc môn và trích noãn. Lựa chọn sai lầm: cô đã phải lòng vòng ba hiệu khác mới có được thứ mình tìm. 18 giờ, cô thử chơi trò du khách và rong ruổi giữa Chueca và Malasaña. Về lý thuyết, đó là một khu phố đầy sáng tạo và náo nhiệt. Dịp cuối hè vừa rồi, Madeline đã thích thú tản bộ trên những đường phố rực rỡ của nó, những cửa hàng bán quần áo cũ và những quán cà phê với bầu không khí lễ hội. Hôm nay lại là chuyện khác. Chìm dưới màn mưa như trút nước, Madrid dường như đang trải qua những giờ phút cuối cùng trước tận thế. Từ đầu giờ chiều, mưa như trút cùng với cuồng phong đã tạo nên một bộ đôi quỷ quái quét qua từng ngóc ngách xó xỉnh của thành phố, gieo rắc hỗn loạn, gây nên những chỗ ngập lụt và tắc đường.

Vì đói bụng nên cô nung nấu ý định quay lại nhà hàng nhỏ nơi cô từng ăn trưa trong kỳ nghỉ lần trước, nhưng không tài nào tìm ra đường đi. Bầu trời thì sầm sập đến mức chỉ chực bong tróc xuống những mái vòm nhô cao trên hoàng cung. Dưới màn mưa như trút và màn đêm đang buông, mọi con phố và đại lộ đều giống hệt nhau, và tấm bản đồ lấy tại quầy lễ tân khách sạn đang mủn ra trên tay cô. Calle de Hortaleza, calle de Mejía Lequerica, calle Argensola: những cái tên và những âm vang hòa vào nhau, mắt cô mờ đi. Hoàn toàn lạc lối, cuối cùng cô mắc cạn trong một nhà hàng cũ kỹ. Món cá tráp rưới xốt cải cay mà cô gọi ngập trong xốt mayonnaise và bánh mứt táo mới chỉ rã đông được một nửa.

Được báo trước bằng một tiếng sấm dài, một tia chớp to rạch ngang bầu trời đen như mực, hắt ánh phản chiếu âm bản của cô lên ô cửa kính bị mưa tạt trong khoảnh khắc ngắn ngủi. Nhìn thấy hình ảnh của mình, Madeline tự dưng cảm thấy chán đời. Nỗi cô đơn và vẻ hỗn loạn của bản thân cô hiển hiện trước mắt với toàn bộ vẻ thô mộc của nó. Cô lại nghĩ tới Coutances. Tới năng lượng và sự hóm hỉnh của anh, tới trí tuệ sắc bén của anh. Kẻ ghét người ấy là một thần *Janus kỳ khôi. Một nhân vật không thể xếp hạng, hấp dẫn, mâu thuẫn. Vốn bị gò bó trong một bản đồ tư duy, bất chấp bản tính bi quan, ở anh vẫn toát ra một sức mạnh thanh tĩnh và khiến người ta yên lòng. Vào thời điểm này, lẽ cô rất cần đến sức mạnh của anh, nhiệt tình của anh và thậm chí cả những ác ý của anh nữa. Nếu có hai người thì ít ra họ đã có thể cùng nhau than vãn về cảnh khổ cực của mình.

Chú Thích

Trong tôn giáo và thần thoại La Mã cổ xưa, Janus là vị thần của sự khởi đầu và quá trình chuyển đổi, nghĩa là các cổng, cửa, ô cửa, lối đi và các kết cuộc.

Madeline nuốt những viên thuốc kháng sinh cùng một thứ cà phê tách cafein dở tệ rồi quay trở lại khách sạn. Tiêm hoóc môn, tắm nước nóng, nửa chai rioja tìm thấy trong tủ lạnh nhỏ, nó khiến cô gần như tức khắc thoát khỏi cơn đau nửa đầu.

Thậm chí chưa đến 22 giờ cô đã trùm chăn nằm co ro trên giường.

Ngày mai sẽ là một ngày quan trọng trong cuộc đời cô. Có lẽ là khởi đầu một cuộc sống mới. Để ngủ thiếp đi với suy nghĩ lạc quan, cô thử hình dung đứa con mà cô hằng mong muốn có thể trông như thế nào. Nhưng trong đầu cô không hình thành bất cứ hình ảnh nào, như thể kế hoạch này không có chút tính thực tế xác thực nào và bị kết án ở lại trạng thái ảo tưởng. Trong khi cô cố gắng đẩy lui cơn chán nản này và tìm kiếm giấc ngủ, một hình ảnh rõ ràng và đầy uy lực lướt ngang tâm trí cô. Gương mặt xinh xắn của Julian Lorenz; đôi mắt tươi cười, cái mũi hếch, những lọn tóc vàng, nụ cười khôn cưỡng của cậu nhóc.

Bên ngoài, trời vẫn đang mưa như trút.

3.

Gaspard lập tức nhận ra chất giọng trúc trắc ở đầu dây bên kia: Cliff Eastman, người đàn ông mà Sean đã gọi ba lần vài ngày trước khi qua đời.

– Chào ông Eastman, vô cùng cảm ơn vì đã gọi lại cho tôi.

Qua dăm ba câu trao đổi, Gaspard biết được rằng người đang nói chuyện với anh vốn là một cựu thủ thư bình thường đang bình yên nghỉ hưu tại vùng đô thị Miami. Nhưng chỉ còn ba ngày nữa là tới Giáng sinh mà ông vẫn đang mắc kẹt ở nhà con dâu tít tận bang Washington.

– Tuyết dày đến tám mươi phân! ông thốt lên. Giao thông tê liệt, đường sá tắc nghẽn, ngay cả sóng wifi cũng chập chờn. Hậu quả: tôi đang chán như con gián đây.

– Hãy đọc một cuốn sách hay, Gaspard đánh liều phát biểu để duy trì cuộc trò chuyện.

– Tôi chẳng có gì sẵn và con dâu tôi toàn đọc những thứ ngớ ngẩn: mông đít, mông đít và lại mông đít! Nhưng tôi không hiểu anh là ai cho lắm. Một gã ở quỹ hưu trí Key Biscayne phải không?

– Không hẳn, nhà soạn kịch trả lời. Ông có biết người nào tên Sean Lorenz không?

– Chưa từng nghe nhắc, ai thế?

Cứ hết mỗi câu ông già lại tặc lưỡi thành tiếng.

– Một họa sĩ nổi tiếng. Cách đây ngót một năm, ông ấy đã tìm cách gặp ông.

– Có lẽ là vậy, nhưng ở tuổi này tôi không còn nhớ được bao nhiêu nữa rồi. Picasso của anh muốn gì ở tôi thế?

– Đó chính xác là điều tôi muốn biết.

Lại những âm thanh nghe như tiếng nhai.

– Biết đâu người ông ta tìm gặp không phải là tôi.

– Tôi không hiểu.

– Sau khi nhận lại số điện thoại này, suốt nhiều tháng trời tôi đã nhận được cuộc gọi từ những người muốn nói chuyện với người vốn là chủ nhân của nó.

Gaspard thoáng hồi hộp. Có lẽ anh đang nắm bắt được điều gì đó.

– Thật sao? Người đó tên là gì vậy?

Anh dường như nghe thấy Eastman đang gãi đầu gãi tai phía đầu dây bên kia.

– Tôi không rõ nữa, toàn bộ chuyện đó đã lâu lắc rồi mà. Người đó cùng tên với một vận động viên, tôi nghĩ vậy.

– Một vận động viên, như thế mơ hồ quá.

Dòng ký ức của ông cụ rất mỏng manh. Không nên làm đứt hay làm căng nó.

– Làm ơn hãy cố gắng.

– Tôi sắp bật được ra rồi đây. Một vận động viên điền kinh, tôi nghĩ vậy. Đúng rồi, một vận động viên nhảy cao từng tham gia Thế vận hội.

Gaspard khó nhọc tập hợp những ký ức của bản thân. Thể thao không hẳn là gu của anh. Lần cuối cùng anh xem Thế vận hội trên ti vi, hẳn là thời Mitterrand và Reagan vẫn đang tại nhiệm, Platini sút những cú tung lưới ở Juventus và *Frankie Goes to Hollywoodchiếm ngôi đầu bảng trên Top 50. Anh cân nhắc vài cái tên chiếu lệ.

Chú Thích

Nhóm nhạc Anh được thành lập ở Liverpool vào năm 1980, chuyên thể loại pop, dance-rock, pop điện tử…

– Serguei Bubka, Thierry Vigneron…

– Không, có phải vận động viên nhảy sào đâu. Một vận động viên nhảy cao.

– Dick Fosbury?

Người kia rốt cuộc cũng thích thú nhập cuộc:

– Không, một tay Mỹ Latinh, một người Cuba.

Một ánh chớp lóe sáng.

– Javier Sotomayor!

– Chính thế, là thế: Sotomayor.

Adriano Sotomayor. Vài ngày trước khi chết, trong khi tin chắc là con trai mình vẫn còn sống, Sean đã nhờ vả sự giúp đỡ từ người bạn cũ cùng nhóm “Thợ pháo hoa” nay đã trở thành cảnh sát.

Vậy là ở New York có ai đó có thể giúp anh. Có lẽ là ai đó đã tiếp tục cuộc điều tra về cái chết của Julian. Có lẽ có người đang nắm giữ những thông tin chưa từng được công bố.

Trong khi Gaspard gọi điện, Karen Lieberman quan sát anh qua cửa kính phòng làm việc. Khi nhìn thấy một con chó bông kỳ quặc thòi ra khỏi túi áo của anh, cô hiểu rằng Gaspard Coutances mà cô từng quen biết đã không còn tồn tại nữa.

Thứ Sáu ngày 23 tháng Mười hai

13

Madrid

Quỷ dữ theo tôi cả ngày lẫn đêm bởi lẽ nó sợ phải ở một mình.

*Francis PICABIA

Chú Thích

(1879-1953): họa sĩ người Pháp với trường phái lập thể.

1.

Madrid. 8 giờ.

Madeline thức giấc bởi tiếng chuông báo thức hẹn giờ trên điện thoại. Cô gắng gượng đứng dậy. Đêm chết tiệt. Thêm một đêm nữa. Không thể nhắm mắt cho tới tận 5 giờ sáng trước khi một cơn sóng ngầm nhấn chìm cô trong biển sâu thăm thẳm mà việc ngoi từ dưới đó lên hết sức khó khăn và hà khốc.

Cô kéo rèm để rồi nhẹ nhõm nhận ra rằng con dông đã ngớt. Cô bước ra ngoài ban công hớp lấy một ngụm không khí lớn. Bầu trời vẫn xám xịt, nhưng dưới ánh sáng ban ngày, Chueca đã tìm lại được vẻ vui tươi nhất định. Cô dụi mắt, cô nén một cái ngáp. Cô thèm một ly đúp expresso, nhưng việc chọc hút nang lại yêu cầu nhịn ăn nhịn uống. Cô tắm rửa hồi lâu dưới vòi hoa sen bằng xà phòng sát khuẩn trong lúc cố gắng nghĩ đến mọi thứ ngoại trừ chuyện gây mê. Cô ăn vận đơn giản – quần tất mỏng, sơ mi jean boyfriend, váy len chui đầu, bốt da bóng. Chỉ thị rất rõ ràng: không nước hoa, không trang điểm và tuyệt đối đúng giờ bệnh viện đã hẹn.

Vừa bước xuống cầu thang bộ nhằm hướng đại sảnh khách sạn, cô vừa đeo một cặp tai nghe rồi bật một danh sách nhạc thích hợp. Giai điệu Hungary của Schubert, Concerto dành cho sáo và đàn hạc của Mozart, Sonate số 28 dành cho dương cầm của Beethoven. Một bản nhạc phim hấp dẫn và thư thái cho cô cảm giác nhẹ nhàng trong lúc đi bộ. Bệnh viện không xa khách sạn và quãng đường đã được đánh dấu từng quãng: đến quảng trường Alonzo-Martinez, đi già một cây số trên đường Fernando el Santo rồi băng qua những vườn hoa nhỏ dọc đại lộ “Castellana”. Bệnh viện chuyên ngành hiếm muộn – một cơ sở khám chữa quy mô nhỏ nhưng hiện đại được bao quanh bởi những ô kính mờ – nằm trong một con phố vuông góc.

Trên đường đi, Madeline gửi cho Louisa một tin nhắn để báo trước là cô sắp đến nơi. Cô y tá trẻ liền ra đón cô trong đại sảnh. Bày tỏ tình cảm dạt dào, trao đổi thông tin và vỗ về trấn an. Louisa giới thiệu cô với bác sĩ gây mê rồi với bác sĩ chính, người dành thời gian giải thích với cô một lần nữa trình tự tế nhị của việc trích noãn. Nó được thực hiện với sự trợ giúp của một cái xi lanh rất dài mà người ta đưa vào tận buồng trứng để có thể chọc vào các trứng và trích lấy các noãn bào trong đó.

– Nhưng hoàn toàn không đau đớn gì hết, ông khẳng định. Cô sẽ ngủ thiếp đi trong suốt thời gian tiến hành.

Đã yên tâm được phân nửa, Madeline để người ta dẫn mình vào một căn phòng được trang bị một giường bệnh có gắn bánh xe để vận chuyển bệnh nhân trước khi làm thủ thuật. Trong khi nữ y tá rời đi, Madeline cất túi xách và điện thoại của mình vào chiếc két nhỏ có mã khóa. Rồi cô cởi quần áo và mặc vào bộ đồ hợp quy cách dành cho bệnh nhân sắp phẫu thuật: áo blu, mũ trùm, giày nhẹ. Ở trần bên trong chiếc áo choàng giấy, cô bỗng cảm thấy mình dễ tổn thương và nỗi lo lắng trong cô tăng thêm một bậc.

Miễn sao cho xong…

Rốt cuộc, cánh cửa cũng bật mở, nhưng khuôn mặt xuất hiện nơi khung cửa không phải Louisa hay vị bác sĩ nào. Mà là khuôn mặt của anh chàng quỷ sứ Gaspard Coutances!

– Nhưng anh đang làm cái quái gì ở đây thế? Làm cách nào anh vào được đây?

Anh trả lời bằng tiếng Tây Ban Nha:

Porque tengo buena cara. Y he dicho que yo era su maridoBởi vì tôi có gương mặt điển trai. Và vì tôi mạo xưng rằng tôi là chồng cô.

– Tôi cứ nghĩ anh không biết nói dối cơ đấy…

– Tôi đã học được kha khá khi tiếp xúc với cô đấy.

– Biến khỏi đây ngay! cô nói trong lúc ngồi xuống ghế nằm. Hoặc chính tôi sẽ sút anh ra ngoài!

– Cô bình tĩnh nào. Tôi có tin mới đây, và chính là để báo cho cô biết tin này mà tôi đã đáp chuyến bay đầu tiên sáng nay.

– Tin mới về chuyện gì?

– Cô thừa biết rồi còn gì.

– Xéo đi!

Như thể không nghe thấy gì, anh ngồi xuống chiếc ghế bành cạnh cô, dọn những chai nước ra khỏi một chiếc bàn đẩy gắn bánh xe rồi dùng nó như một chiếc bàn làm việc để đặt đồ dùng cá nhân của mình lên đó.

– Cô còn nhớ Stockhausen chứ? anh bắt đầu.

– Không. Anh biến khỏi đây đi. Tôi không muốn nói chuyện với anh. Hơn nữa, anh đang sực nức mùi oải hương. Mà anh đã làm gì với cặp kính của mình rồi?

– Kệ xác chuyện đó đi. Stockhausen, đó là tên của người mà chúng ta cho là bác sĩ tim mạch người Mỹ của Sean. Chúng ta thấy tên ông ta được nhắc đến trong cuốn sổ lịch mà Benedick giao lại cho cô.

Madeline phải mất vài giây mới xâu chuỗi được mạch chuyện.

– Vị bác sĩ mà Sean có cuộc hẹn vào hôm ông ấy qua đời ư?

– Chính thế, Gaspard khẳng định. Thế mà này, người đó không hề tồn tại. Hay đúng hơn, ở New York chẳng có bác sĩ tim mạch nào tên là Stockhausen cả.

Để củng cố những lời mình nói, anh lôi từ trong ba lô ra một xấp giấy in tương ứng với những truy vấn trên website Những trang vàng của Mỹ.

– Tôi đã mở rộng tìm kiếm ra toàn bang: chẳng có gì hết. Vả chăng, về mặt y khoa, chuyện này không hợp lý: Lorenz vốn được chăm sóc tại bệnh viện Bichat bởi một trong những ê kíp chuyên khoa tim giỏi nhất châu Âu. Vậy thì ông ấy được lợi lộc gì khi tìm tới một bác sĩ New York?

– Còn anh, anh được lợi lộc gì khi tới tận đây quấy rầy tôi?

Anh giơ bàn tay lên ra hiệu xoa dịu.

– Làm ơn nghe anh đi, Madeline.

– Giờ chúng ta lại xưng hô thân mật sao?

– Anh đã lục soát toàn bộ ngôi nhà và tìm thấy trong phòng làm việc của Sean hàng chục bài báo được ông ấy in ra. Phần lớn là những bài liên quan đến cuộc điều tra về cái chết của con trai ông ấy, nhưng giữa những bài báo ấy còn có cả thứ này nữa.

Anh chìa cho cô một xấp giấy được ghim lại. Đó là một hồ sơ dài mà tạp chí New York Times chuyên dành cho những vụ cold caseán tồn nhiều năm chưa được giải quyết nổi tiếng: cái chết của Natalie Wood, Bộ Năm ở Công viên Trung tâm, vụ Chandra Levy, vụ các tù nhân của Cleveland, vân vân. Madeline giở tới trang được đánh dấu bằng một tờ giấy nhắn thì khám phá ra tại đó… một bức ảnh của chính cô. Cô dụi mắt. Cô gần như đã quên bài báo viết về vụ Alice Dixon này. Cô nhóc được cô tìm ra trong những hoàn cảnh không thể tin nổi ba năm sau khi mất tích. Cuộc điều tra khó khăn nhất, cay đắng nhất của cô, cuộc điều tra đã suýt kết liễu đời cô, nhưng cũng là cuộc điều tra có được kết cuộc mỹ mãn nhất. Một trong những khoảnh khắc hạnh phúc của đời cô. Hôm nay nó có vẻ như đã xa xôi kinh khủng.

– Lorenz đã giữ bài báo này ở nhà mình sao?

– Như em thấy đó. Thậm chí ông ấy còn tô đậm một số đoạn.

Cô lặng lẽ đọc những mẩu câu được đánh dấu bằng bút nhớ dòng:

[…] đó là chưa kể đến Madeline Greene, một nữ cảnh sát ngoan cường của Đội Hình sự Manchester […] không bao giờ chùn bước […] mà những nỗ lực rốt cuộc cũng được đền đáp […] cô gái người Anh hiện đang làm việc giữa khu Đông Thượng Manhattan và Harlem, trong văn phòng của Đội Án Tồn thuộc Sở Cảnh sát New York nằm gần bệnh viện Mount Sinai.

Sự hiện diện của bài báo này tại nhà Lorenz khiến Madeline kinh ngạc, nhưng cô trả nó cho Gaspard mà không bình luận một lời.

– Đó là toàn bộ phản ứng của em về chuyện này hả?

– Anh trông đợi điều gì thế?

– Nhưng rốt cuộc, chuyện này hiển nhiên quá mà: Lorenz có mặt tại New York không phải để gặp một bác sĩ. Ông ấy có mặt tại Manhattan là để gặp em, chính EM!

Cô nổi cáu.

– Chỉ vì ông ấy giữ tại nhà riêng một bài báo cũ viết về tôi ư? Anh đang đốt cháy giai đoạn rồi đấy, Coutances. Anh nghe này, vậy là đủ rồi, tôi muốn tập trung vào cuộc sống riêng của mình, vậy đó.

Nhưng Gaspard không muốn bỏ cuộc. Anh mở trên máy tính bảng bản đồ Manhattan mà anh đã ghi chú hôm qua rồi dùng bút chỉ vào một dấu nhân.

– Sean Lorenz đã chết tại đây, ngay giữa phố, ở ngã tư đường số 103 giao với đường Madison.

– Rồi sao?

– Hồi đó khu văn phòng nơi em làm việc nằm ở đâu ấy nhỉ?

Cô nhìn chằm chằm vào bản đồ, không đáp.

– Ở đây! anh chỉ. Chỉ cách một khối nhà nữa thôi! Chuyện này không thể là một sự tình cờ được.

Mắt nheo lại, ánh nhìn tập trung vào bản đồ, Madeline vẫn lặng thinh. Coutances hạ quân bài cuối cùng trong lúc một y tá nam bước vào phòng.

– Cô Greene phải không?

– Đây là hóa đơn điện thoại cuối cùng của Sean, Gaspard khẳng định mà dường như không để ý đến sự hiện diện của anh ta, vừa nói vừa huơ huơ hai tờ giấy được ghim vào nhau. Trong này có bản kê chi tiết những cuộc gọi của Lorenz. Em có muốn biết số điện thoại cuối cùng mà ông ấy đã gọi trước khi rời Pháp không?

– Cô Greene à, chúng ta có thể đi tới đó được rồi, nam y tá nhấn mạnh trong lúc dựng hai thanh chống của chiếc giường có gắn bánh xe lên.

Madeline gật đầu đồng ý trong lúc giả bộ lờ Coutances đi.

– Đó là số 212-452-0660. Số điện thoại này không nhắc em nhớ tới điều gì sao, Madeline? Anh sẽ nhắc để em nhớ lại nhé, anh kêu lên trong khi nam y tá đẩy chiếc giường ra khỏi phòng. Đây là số điện thoại của Đội Án Tồn thuộc Sở Cảnh sát New York. Đó là nơi làm việc của em lúc bấy giờ.

Cô gái đã rời khỏi phòng nhưng Gaspard vẫn tiếp tục:

– Dù em có muốn hay không thì một giờ trước khi chết, Sean đã ở New York để tiết lộ với em điều gì đó. Với em. VỚI EM!

2.

Kim tiêm chọc vào tĩnh mạch Madeline, cùng lúc giải phóng thứ thuốc gây mê dạng lỏng. Nằm dài trên bàn làm thủ thuật, cô gái thoáng có cảm giác bị một cơn lạnh giá xâm chiếm. Rồi cảm giác khó chịu tan biến. Hai mí mắt cô nặng trĩu; giọng nói của bác sĩ nhẹ dần đi. Cô hít một hơi dài rồi chấp nhận buông xuôi. Ngay trước khi chìm vào giấc ngủ, cô ngỡ nhìn thấy khuôn mặt một người đàn ông. Vẻ nghiêm trang, các đường nét bệ rạc, đôi mắt mệt mỏi. Gương mặt Sean Lorenz. Ánh mắt bồn chồn của ông dường như đang khẩn nài cô. “Hãy giúp tôi.”

3.

11 giờ. Quầy bar chuyên phục vụ đồ ăn nhẹ vừa mở cửa. Gaspard tới ngồi ở quầy, đặt túi xách lên chiếc ghế đẩu bên cạnh rồi gọi một tách cappuccino. Điều cấp bách thứ nhất: uống hai viên Prontalgine để làm dịu cơn đau đang tra tấn những ngón tay và hai bàn tay anh. Sáng kiến thứ hai: gửi tin nhắn cho Madeline để đề nghị được gặp lại cô khi nào ca can thiệp kết thúc.

– Cà phê của anh đây.

– Cảm ơn.

Chủ quầy bar chẳng có vẻ gì là gầy gò bé nhỏ. Đó là một ông gấu đầu cạo nhẵn thín và râu ria rậm rì. Cái bụng bia của ông ta bị bó sát trong chiếc áo phông sặc sỡ in áp phích của Hãy cột chặt em!, một bộ phim cũ của *Almodóvar với hai diễn viên chính là Antonio Banderas và Victoria Abril. Báo trước biết bao điều.

Chú Thích

Pedro Almodóvar (sinh 1949): đạo diễn, biên kịch, nhà sản xuất kiêm diễn viên nổi tiếng người Tây Ban Nha.

– Ông làm ơn giúp tôi được chứ?

– Tôi có thể hữu ích cho anh trong việc gì nào? ông gấu hỏi.

Hơi ngại ngần, Gaspard lấy điện thoại của mình ra rồi giải thích rằng anh chưa quen với những công nghệ mới.

– Tôi không thể nào kết nối Internet được nữa kể từ khi sang tới Tây Ban Nha.

Ông gấu gãi gãi túm lông bên dưới lớp áo phông rồi tuôn ra một câu trả lời bao gồm những từ “gói dịch vụ, nhà mạng, thuê bao, dữ liệu di động ở nước ngoài”.

Gaspard gật đầu mà không hiểu gì hết, nhưng ông gấu rất tử tế. Ông nhận ra vẻ bối rối của anh nên đề nghị sẽ tự tay kết nối điện thoại của anh với mạng wifi của quán. Nhẹ cả người, Gaspard chìa cho ông chiếc điện thoại di động rồi ba mươi giây sau nhận lại nó.

Sau đó, anh bày lên quầy quyển sổ và đống tư liệu của mình, rồi đọc lại toàn bộ những ghi chép mà anh đã tiến hành hồi sáng trên máy bay. Theo dòng chữ được đóng khung trong bài báo trên Art in America, Adriano Sotomayor được bổ nhiệm vào Khu 25, Sở Cảnh sát Bắc Harlem. Gaspard tìm số điện thoại của đơn vị này trên Google. Liếc nhìn đồng hồ đeo tay: ở New York lúc này đang là 5 giờ sáng. Gọi điện giờ này có hơi sớm. Dẫu vậy, sở cảnh sát vẫn thường trực hai tư trên hai tư giờ kia mà. Anh bèn thử vận may, chịu đựng tiếng tút tút triền miên không dứt, đặc trưng của phần lớn các tổng đài điện thoại, trước khi gặp được một nữ nhân viên trực tổng đài tìm cách tống khứ Gaspard bằng cách đề nghị anh gọi lại vào giờ hành chính. Gaspard vẫn ra sức năn nỉ đến mức cô ta chuyển anh sang một đường dây nội bộ khác.

– Tôi muốn biết liệu sĩ quan Sotomayor còn làm việc ở đây không, anh hỏi người tiếp chuyện mình.

Kết cuộc mới của màn miễn-tiếp-khách được diễn đạt bằng giọng của một thầy giáo đang mắng học trò:

– Đây không phải dạng thông tin mà chúng tôi có thể cung cấp qua điện thoại.

Gaspard bịa ra một câu chuyện, giải thích rằng anh sống ở châu Âu, anh chỉ ghé qua New York vài ngày và anh muốn biết liệu mình có thể ghé qua chào hỏi sĩ quan Sotomayor mà anh quen từ hồi tiểu học không và…

– Đây là sở cảnh sát, thưa anh, không phải hội ái hữu các cựu học sinh của trường Bradley.

– Tôi hiểu rõ chứ, nhưng…

Gaspard buột một câu rủa khi nhận ra người ta vừa dập máy không chút nể nang, nhưng anh gọi lại ngay, vẫn âm thanh của tổng đài đó. Vẫn nhân viên trực tổng đài đó, vẫn cuộc bàn cãi dài dòng đó để nói chuyện với thượng cấp của cô ta. Lần này, thoạt tiên gã kia thiếu chút nữa đã thóa mạ anh, nhưng Gaspard không tham gia vào trò chơi của hắn. Vì anh đã để lại tên và địa chỉ, người ta dọa sẽ tiến hành truy tố nếu anh còn tiếp tục độc chiếm đường dây, nhưng rồi quá nản và để tống khứ anh cho rảnh nợ, gã trực ban rốt cuộc cũng lộ ra cho anh biết rằng quả thật sĩ quan Sotomayor đang làm việc tại Khu 25 và đúng là tuần này ông ấy có đi làm.

Gaspard gác máy với nụ cười trên môi. Để ăn mừng chiến thắng nho nhỏ này, anh gọi thêm một tách cappuccino.

4.

Khi Madeline mở mắt, nửa giờ đồng hồ đã trôi qua. Tuy nhiên, cô có cảm giác đã ngủ cả thế kỷ.

– Xong rồi đấy, một giọng nói thông báo.

Cô dần dần tỉnh lại. Xung quanh cô, những màu sắc trở nên rõ ràng, những hình dạng trở nên rõ nét hơn, những khuôn mặt bớt mờ ảo hơn.

– Mọi chuyện diễn ra rất suôn sẻ, Louisa bảo đảm.

Bác sĩ đã đi khỏi từ khi nào, nhưng gương mặt hiền hậu của nữ y tá đang mỉm cười với cô.

– Bọn em đã trích ra được gần mười tám noãn bào, Louisa cam đoan trong lúc lau trán cho cô.

– Tiếp theo sẽ là gì? Madeline cố gắng ngồi dậy.

– Chị cứ nằm đi, Louisa yêu cầu.

Louisa cùng một đồng nghiệp nam đẩy chiếc giường gắn bánh xe rời khỏi phòng làm thủ thuật và đưa nữ bệnh nhân của mình về phòng lưu bệnh nhân.

– Chị biết phần tiếp theo rồi đấy: bọn em sẽ sàng lọc các noãn bào rồi thụ tinh cho các noãn bào trưởng thành nhất. Và ba ngày sau, bọn em sẽ cấy cho chị hai mầm phôi. Trong lúc chờ đợi, chị hãy ngoan ngoãn nằm yên ở đây với bọn em tới trưa.

– Rồi sau đó?

– Trong lúc chờ cấy, chị cứ ở yên trong khách sạn với một cuốn sách hay hoặc phần mới nhất của Trò chơi vương quyền. Nhưng chị nên bỏ qua những gói khoai tây chiên trong tủ lạnh khách sạn, hiểu chứ?

– Nghĩa là sao?

– Chị sẽ thận trọng trong việc ăn uống: không dùng muối, không quá nhiều chất béo. Tóm lại, chị quên toàn bộ những đồ ăn vặt đi. Nhưng nhất là, chị phải nghỉ ngơi!

Madeline thở dài như một thiếu niên mới lớn. Louisa đưa cô về căn phòng nơi ban nãy cô đã để lại đồ dùng cá nhân.

– Chị đau quá, cô than vãn, tay chỉ vào bụng mình.

Louisa nhăn mặt vẻ cảm thông.

– Em biết chứ, chị thân yêu, chuyện bình thường thôi, nhưng Tramadol sẽ phát huy tác dụng ngay thôi.

– Chị mặc lại quần áo được chưa?

– Dĩ nhiên. Chị còn nhớ mã két sắt chứ?

Nữ y tá mang quần áo, túi xách và điện thoại tới cho cô, cô để chúng lên một chiếc ghế tựa cạnh giường. Trong khi Madeline cởi chiếc mũ trùm và áo phẫu thuật ra, Louisa dặn dò cô lần nữa là phải nghỉ ngơi.

– Lát nữa em sẽ mang bữa ăn nhẹ đến cho chị, trong lúc chờ đợi, chị hãy ngủ đi nhé!

Nửa giờ sau, khi cô y tá người Tây Ban Nha quay trở lại, hai tay bưng một khay đồ ăn, nữ bệnh nhân của cô đã biến mất.

5.

Thực ra, anh không bao giờ dừng lại, Coutances ạ! Anh giống như chú thỏ Duracell ấy: anh gõ như một gã điếc lên chiếc trống của mình mà không nhận ra rằng mình đang phá hoại cuộc sống của những người khác!

Madeline vừa có mặt tại quán bar chuyên đồ ăn vặt trên đường Ayala, bộ dạng xanh xao.

– Ca can thiệp của cô ổn cả chứ? vì thận trọng, Gaspard thử quay trở lại với cách xưng hô khách sáo.

– Làm sao anh lại muốn nó ổn được kia chứ! Anh tới tận Madrid để vây dồn tôi trong lúc tôi đang làm việc riêng tư, anh quấy rầy tôi,…

Mới chỉ ở đoạn mở đầu của bản trường ca chua chát mà cô dự kiến sẽ dành cho anh thì bỗng Madeline cảm thấy trán mình túa mồ hôi ròng ròng, hai chân nhủn ra. Cô phải ăn thứ gì đó không thì sẽ ngất ra đây mất.

Thậm chí cô không còn sức leo lên một trong những chiếc ghế quầy bar. Cô gọi một tách trà rồi tới lánh mình ở phía cuối quán, trên một chiếc ghế bành kê gần khung cửa sổ trông ra phố.

Gaspard tới chỗ cô với một chiếc hộp bằng gỗ sơn mài. Một hộp cơm bento rưới xốt kiểu Tây Ban Nha: bánh mì ngô Tây Ban Nha, mực ướp, pata negrađùi lợn muối hun khói, croquetasbánh khoai tây giòn, calamaresmực rán, cá cơm trộn giấm…

– Tôi mạn phép nhận xét là trông cô có vẻ không được khỏe cho lắm. Vậy nên cô hãy ăn gì đó đi.

– Tôi không thèm ăn đồ của anh!

Anh chịu đựng thái độ hắt hủi của Madeline rồi ngồi xuống đối diện với cô.

– Dẫu sao chăng nữa, tôi vẫn hài lòng khi thấy cô đã đổi ý về chuyện Lorenz.

– Tôi chẳng đổi ý về chuyện gì cả, cô xẵng giọng đáp. Trong toàn bộ những gì anh nói với tôi không có bất kỳ yếu tố nào thực sự mới mẻ.

– Cô đùa chăng?

Cô nhắc lại từng điểm một.

– Lorenz đã tìm kiếm thông tin về tôi, vậy thì sao chứ? Dĩ nhiên là ông ấy mong muốn tôi giúp ông ấy tìm lại con trai, vậy thì sao chứ? Biết đâu thậm chí ông ấy đã tới tận New York để gặp tôi, vậy thì sao chứ?

– “Vậy thì sao chứ?” ư? Gaspard sửng sốt nhắc lại.

– Ý tôi là: về cơ bản thì điều này thay đổi được gì chứ? Bấy giờ Lorenz đang bệnh tật, bị nỗi buồn sầu đè nặng, bị tiêm dopamine. Ông ấy sẵn sàng bám víu vào bất cứ điều gì và lo lắng quá đà với câu chuyện không đầu không cuối về kinh nghiệm cận tử này. Rốt cuộc, Coutances ạ, anh thừa biết rồi đấy!

– Không, cô đừng có nói thế nữa đi! Tôi chán ngấy việc người ta nhầm lẫn trong việc quy kết bản chất con người Lorenz rồi. Đó không phải một con nghiện, cũng chẳng phải một kẻ cuồng tưởng, đó là một người đàn ông thông minh yêu thương con trai mình và…

Cô nhìn anh vẻ coi thường.

– Anh bạn đáng thương của tôi ơi, anh không thấy anh đang tự biến mình thành Lorenz ư? Anh ăn mặc như ông ấy, anh xức nước hoa như ông ấy, anh ăn nói như ông ấy rồi.

– Chưa bao giờ có ai gọi tôi là anh bạn đáng thương.

– Cần phải tin là chuyện gì cũng có lần đầu. Dẫu sao chăng nữa, hãy thừa nhận rằng anh đã để mặc cơn điên rồ này cuốn phăng anh đi.

Coutances chối:

– Tôi chỉ muốn tiếp tục cuộc điều tra của ông ấy và tìm lại con trai ông ấy thôi.

Madeline gần như thộp lấy cổ anh:

– Nhưng con trai ông ấy CHẾT Rồi, khỉ thật! Bị giết hại ngay trước mắt bà mẹ! Pénélope đã thề với anh như vậy!

– Đúng thế, anh thừa nhận. Bà ta đã kể cho tôi nghe sự thật của bà ta.

– Sự thật của bà ta, sự thật chung, điểm khác biệt nằm ở đâu vậy?

Một lần nữa, anh lại mở túi xách lấy ra cuốn sổ, những ghi chép và những “tài liệu lưu trữ” của mình.

– Trong số ra tháng Tư 2015, tờ Vanity Fair đã đăng một bài báo khá chi tiết về cuộc điều tra tiếp sau vụ bắt cóc Julian.

Anh chìa bản phô tô bài báo cho Madeline: bài báo tập trung vào những điểm giống nhau giữa vụ bắt cóc con trai Sean và vụ bắt cóc con trai *Charles Lindbergh năm 1934.

Chú Thích

(1902-1974): phi công, nhà văn, nhà phát minh và nhà thám hiểm người Mỹ. Năm 1954, tác phẩm The Spirit of St. Louis của ông đã đoạt giải Pulitzer dành cho thể loại tiểu sử và tự truyện.

– Tôi chán ngấy vụ điểm báo của anh rồi, Coutances ạ.

– Ấy vậy mà nếu bỏ công sức ra đọc bài báo này, cô sẽ thấy là ở cuối bài, nữ biên tập viên đã liệt kê những đồ vật mà các nhà điều tra đã tìm thấy tại hang ổ của Beatriz Muñoz.

Madeline miễn cưỡng liếc mắt vào đoạn được đánh dấu: một hộp dụng cụ, hai con dao săn, một cuộn băng dính điện, dây thép gai, một đầu búp bê em bé hiệu Harzelle […].

– Thứ gì khiến anh băn khoăn vậy? Món đồ chơi của cậu bé ư?

– Chính xác, đó không phải đồ chơi của Julian. Pénélope chỉ kể với tôi về mỗi con chó bông tương tự như con này.

Như bất chợt, anh rút từ trong túi xách ra con thú bông với vệt ca cao dài của nó.

Madeline ngồi nép vào ghế.

– Biết đâu cậu bé đã mang theo hai món đồ chơi.

– Thường thì các bậc cha mẹ không cho phép con cái họ tha lôi tới hai món đồ chơi khi đi dạo.

– Có lẽ vậy, nhưng chuyện này thay đổi được gì chứ?

– Tôi đã tiến hành tìm kiếm, anh nói trong lúc rút từ đống tài liệu của mình ra một đoạn trích từ cuốn catalogue đồ chơi được anh in màu.

– Đối với một người mù tịt đến cả sự tồn tại của Internet, có thể nói rằng anh đã có những tiến bộ vượt bậc đấy…

– Các búp bê em bé mang nhãn hiệu Harzelle có một đặc điểm: một vài trong số chúng rất to và rất giống với những đứa trẻ thật.

Madeline xem những bức ảnh trong catalogue và thấy chúng khá nguy hại: quả thật, những con búp bê bằng cao su gây ấn tượng mạnh bởi kích cỡ và độ chính xác trong từng đường nét trên khuôn mặt chúng. Xa rồi những con búp bê bằng celluloid trong thời thơ ấu của cô.

– Tại sao anh lại cho tôi xem cái này? Anh còn luận điểm chết tiệt nào nữa đây?

– Julian không bị Beatriz Muñoz dùng dao đâm. Đó chỉ là một con búp bê được cho mặc quần áo của cậu nhóc mà thôi.

6.

Madeline nhìn anh vẻ rụng rời.

– Anh đang mê sảng rồi, Coutances ạ.

Bình tĩnh và tự tin, Gaspard lập luận:

– Muñoz chưa từng có ý định giết Julian. Bà ta chỉ muốn hại vợ chồng Lorenz. Nỗi hận của người tình bị phản bội nhằm vào Sean và Pénélope, chứ không nhằm vào một đứa trẻ ngây thơ vô tội. Bà ta làm biến dạng Pénélope để bắt tình địch phải trả giá bằng sắc đẹp ngạo đời của mình. Bà ta bắt cóc Julian để khủng bố tinh thần Sean, bà ta cho cắt ngón tay của cậu nhóc để khiến cõi lòng Pénélope tan nát, nhưng tôi không mấy chắc chắn bà ta đã giết chết cậu nhóc.

– Vậy thì, đối với anh, bà ta bằng lòng với vụ dàn cảnh kinh khủng này: dùng dao đâm lia lịa một con búp bê trước mắt mẹ cậu bé sao?

– Đúng thế, vũ khí của bà ta chính là sự tàn ác về tinh thần.

– Chuyện này thật vô lý. Pénélope hẳn phải biết phân biệt giữa con trai mình với một hình nộm chứ.

– Không hẳn. Cô nên nhớ bà ta đã phải chịu nhiều bạo lực. Nhiều trận đòn cực kỳ tàn bạo. Một khuôn mặt bị tàn phá, xương sườn gãy, mũi gãy, ngực thủng… Mắt rướm máu và tràn lệ. Cô tỉnh táo sao được sau những thứ đó? Cô sáng suốt sao được sau khi bị trói gô suốt hàng giờ và bị những mấu kim loại xuyên thủng da thịt? Sau khi ngâm mình trong cứt đái của bản thân và mất máu thì khả năng suy xét của cô sẽ thế nào? Và tệ hơn tất thảy, người ta lại còn buộc cô phải dùng kìm cắt đứt ngón tay của con trai cô?

Madeline chấp nhận lý lẽ bác bẻ này một cách chiếu lệ.

– Cứ cho là thế, trong mười giây, rằng Pénélope không tỉnh táo và rằng bà ta có thể phóng chiếu nỗi sợ hãi sâu kín nhất của mình nên tin vào cảnh dàn dựng chết chóc ấy. Thế tại sao đứa trẻ lại không còn trong hang ổ của mụ đàn bà Chile kia khi cảnh sát tấn công vào đó? Và nhất là tại sao người ta lại thu được con thú bông dính máu của cậu bé trên bờ sông Newtown Creek?

– Về vụ máu me thì quá dễ. Tôi nhắc để cô nhớ người ta đã cắt một ngón tay của cậu nhóc. Phần còn lại…

Gaspard quay trở lại với bài báo nêu lên những báo cáo của phía cảnh sát.

– Nếu tôi tin vào những gì được viết ra ở đây, một camera giám sát đã lần ra dấu vết của Muñoz lúc 15 giờ 26 tại nhà ga Harlem-Phố 125, ngay trước khi bà ta lao mình vào đoàn tàu hỏa đang chạy tới. Từ 12 giờ 30 – lần cuối cùng Pénélope nhìn thấy con trai mình còn sống – đến 15 giờ 26, Muñoz có thể làm bất cứ điều gì với cậu nhóc. Nhốt nó ở nơi khác, gửi nó cho ai đó. Và chính vì vậy, chúng ta cần phải tìm ra nó.

Madeline lặng thinh nhìn Coutances không rời mắt. Nhà soạn kịch khiến cô kiệt sức với những giả thuyết hoang đường của anh. Cô dụi mắt rồi dùng dĩa xiên một miếng chả giăm bông trong hộp cơm.

Không chút bối rối, Gaspard tiếp tục lập luận:

– Cô không phải cảnh sát duy nhất Lorenz muốn gặp. Những ngày cuối đời, Sean còn gặp lại một người bạn cũ, Adriano Sotomayor.

Gaspard lật trang cuốn sổ của mình đến khi tìm được bức ảnh chụp gã người Mỹ Latinh trong bộ đồ sĩ quan Cảnh sát New York, anh đã cắt bức ảnh từ tờ American Art rồi dán đối diện với một bức ảnh thời trẻ của “Thợ pháo hoa” thứ ba.

Bực bội, Madeline giễu cợt anh:

– Anh đang nghĩ gì thế? Rằng cảnh sát họ tiến hành điều tra như thế này chắc? Bằng cách lặng lẽ đọc báo rồi cắt ra dán vào u? Trông như sổ ghi chép của một cô nhóc học sinh cấp hai vậy!

Không chút mếch lòng, Gaspard chớp luôn cơ hội:

– Tôi đâu phải cảnh sát, đúng thế và dĩ nhiên tôi không biết điều tra. Chính vì thế tôi muốn cô giúp tôi.

– Nhưng tất cả những gì anh vừa nêu đều là tưởng tượng!

– Không đâu, Madeline, không phải thế, và cô biết điều đó. Hãy thôi cái kiểu ác ý của cô đi. Lorenz có lẽ đã bị nỗi đau nhấn chìm, nhưng ông ấy không điên. Nếu Lorenz quyết định tới New York gặp cô, thì chính là vì ông ấy đã phát hiện ra hướng điều tra mới, nói gì chăng nữa cũng là một điều gì đó cụ thể.

Im lặng. Rồi thở dài.

– Tại sao tôi lại gặp phải anh nhỉ, Coutances? Tại sao anh lại tới tận đây quấy rầy tôi thế? Giờ thực sự không phải lúc đâu, khỉ thật…

– Hãy cùng tôi tới New York đi. Ở đó mới có những câu trả lời! Chúng ta hãy nhờ Sotomayor giúp đỡ và tiếp tục cuộc điều tra ngay tại hiện trường. Tôi muốn biết Sean Lorenz đã phát hiện ra điều gì. Tôi muốn biết tại sao ông ấy lại muốn nói chuyện với cô.

Cô tránh né:

– Hãy tới đó một mình đi, anh không cần tới tôi đâu.

– Mới cách đây có hai phút thôi, cô còn nói điều ngược lại! Cô là một cảnh sát dày dạn kinh nghiệm, cô thông thạo thành phố, dĩ nhiên cô vẫn giữ liên hệ với Sở Cảnh sát New York hoặc FBI.

Đang nhấp một ngụm trà, Madeline bỗng nhận ra mình vẫn đeo trên cổ tay cái vòng nhựa dùng cho bệnh nhân trong bệnh viện. Cô bèn tháo nó ra rồi khua nó trước mặt Coutances để cố thuyết phục anh.

– Gaspard à, anh thấy rõ là cuộc đời tôi đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác rồi mà. Tôi vừa bước ra khỏi một ca can thiệp, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ phải trải qua một ca can thiệp nữa, tôi đang định xây dựng một gia đình…

Nhà soạn kịch để điện thoại của anh xuống bàn. Trên màn hình, một thư điện tử của Karen Lieberman khẳng định đã đặt chỗ hai người trên chuyến bay của hãng Iberia ngay ngày hôm nay. Khởi hành từ Madrid lúc 12 giờ 45, tới sân bay JFK lúc 15 giờ 15.

– Nếu đi luôn bây giờ, chúng ta có thể kịp chuyến bay. Cô sẽ quay lại đây trước ngày 26 tháng Mười hai, vừa kịp thời gian cho ca can thiệp thứ hai.

Madeline lắc đầu. Gaspard cố nài:

– Chẳng có gì ngăn cản cô đi cùng tôi cả. Cô có hai ngày để giết thời gian mà. Thậm chí ở Madrid, người ta còn chẳng làm can thiệp hay thủ thuật gì vào Giáng sinh đâu.

– Tôi phải nghỉ ngơi.

– Nhưng khỉ thật, cô chỉ nghĩ đến bản thân mình thôi!

Đây là giọt nước làm tràn ly. Madeline hất cả khay bento vào mặt anh. Gaspard chỉ kịp lùi xa ra để tránh vật thể bay, nó vỡ tan trên những ô gạch men vuông phía sau anh.

– Đối với anh, toàn bộ chuyện này là trò chơi chắc! cô bùng nổ. Chuyện điều tra này nọ khiến anh phấn khích. Nó góp vui cho cuộc sống tầm thường của anh, nó cho anh cảm giác được là người hùng trong một bộ phim. Còn tôi thì trong suốt mười năm trời, tôi đã tiếp xúc với nhiều vụ việc kiểu này rồi. Thậm chí đó còn là toàn bộ cuộc sống của tôi ấy chứ. Và tôi sẽ nói với anh thế này: đó là cánh cửa dẫn tới vực thẳm. Sau mỗi cuộc điều tra anh sẽ bỏ lại thêm một chút sức khỏe của anh, niềm vui sống của anh, sự vô tư lự của anh. Cho đến khi anh chẳng còn lại gì hết. Anh nghe tôi nói không? Chẳng còn gì hết. Một sáng thức dậy và anh bị phá hủy. Tôi đã từng nếm mùi điều ấy. Tôi không muốn trải qua thêm nữa.

Gaspard để cô nói xong rồi thu dọn đồ dùng của mình.

– Đồng ý, tôi đã hiểu rõ quan điểm của cô. Tôi sẽ không làm phiền cô nữa.

Ông gấu làu bàu rời khỏi hang. Gaspard chìa cho ông hai tờ tiền để ngăn ông xòe móng vuốt. Rồi anh tiến về phía cửa. Madeline nhìn anh. Cô biết chỉ cần chờ thêm mười giây nữa là khổ hình của mình kết thúc. Tuy nhiên, cô không thể ngăn mình hét to:

– Nhưng tại sao anh làm vậy chứ, khỉ thật? Anh vốn là kẻ vẫn luôn thây kệ mọi chuyện, chẳng ưa gì mọi người, chẳng ưa gì cuộc đời, anh có CÁI QUÁI GÌ để làm với chuyện này nhỉ?

Coutances quay bước rồi đặt một tấm ảnh lên bàn. Một bức ảnh chụp Julian trên cầu trượt được chụp vào một buổi sáng mùa đông tại công viên nhỏ của Hội truyền giáo hải ngoại. Đó chỉ là một đứa trẻ, quàng khăn to sụ, ánh mắt lấp lánh và mơ mộng, nụ cười trên môi. Xinh xắn tựa tia nắng, tự do như làn gió.

Madeline không chịu nhìn lâu vào bức ảnh.

– Đừng có tưởng anh khiến tôi cảm thấy tội lỗi với cái bẫy thô thiển anh giăng ra.

Tuy thế, một giọt nước mắt đang lăn dài trên má cô. Cơn thiếu ngủ, cảm giác kiệt sức, cảm giác thần kinh căng thẳng đến cùng cực.

Gaspard khẽ nắm lấy cánh tay cô. Lời anh nói chứa đựng nguồn khích lệ không kém gì lời thỉnh cầu:

– Tôi biết cô đang nghĩ gì. Tôi biết cô chắc chắn về cái chết của Julian, nhưng hãy giúp tôi để thuyết phục tôi tin vào điều ấy. Tôi xin cô dành ra hai ngày cho cuộc điều tra này. Không hơn một phút nào. Và tôi thề là cô sẽ kịp quay lại Madrid để làm thủ thuật lần hai.

Madeline xoa mặt rồi nhìn qua cửa kính. Thời tiết lại lần nữa âm u nhiều mây và mưa lại rơi. Nỗi buồn lại lần nữa lây lan ra mọi thứ: bầu trời, tâm can cô, tâm trí cô. Tự đáy lòng mình, cô không hề muốn ở lại một mình trong đêm thánh lễ và dịp fucking Christmas này khi cùng lúc cần phải vui vẻ, yêu thương và sum họp gia đình. Ít nhất thì Coutances cũng có lợi thế khi vừa là tai họa vừa là phương thuốc của cô.

– Tôi sẽ đi cùng anh tới New York, Coutances ạ, rốt cuộc cô cũng nhượng bộ, nhưng dù cho kết cuộc của vụ việc này có thế nào, thì sau hai ngày này, tôi cũng KHÔNG BAO GIỜ muốn gặp lại anh trên đường đời nữa.

– Tôi hứa với cô chuyện đó, anh đáp đoạn nở một nụ cười.

14

Nueva York

Tôi ra khỏi taxi và đây có lẽ là thành phố duy nhất tuyệt hơn những gì trên bưu ảnh.

*Milos FORMAN

Chú Thích

(sinh 1932): đạo diễn, biên kịch, diễn viên, giáo sư người Mỹ gốc Séc.

1.

Gaspard hít thở lần nữa.

Bị đông cứng trong cái lạnh không khác gì địa cực, New York rực rỡ dưới một bầu trời tươi sáng, vẻ âm u của Paris và ảm đạm của Madrid dường như đã ở rất xa. Ngay khi taxi chở họ vượt qua cầu Triborough – công trình kiến trúc khổng lồ bằng thép nối liền các quận Queens, Bronx và Manhattan –, Gaspard liền có cảm giác ở một nơi thân thuộc. Anh, con người của núi rừng, kẻ thù tuyệt đối của các đô thị, tuy thế vẫn cảm thấy thoải mái tại đây. Rừng già thành thị, rừng cao ốc chọc trời, những vực sâu bằng kính và thép: phép ẩn dụ thất bại thảm hại mang bản chất sự thật. New York là một hệ sinh thái. Ở đây có những ngọn đồi, những hồ nước, những đồng cỏ, hàng trăm ngàn cây to. Ở đây có những con đại bàng đầu trắng, những con chim cắt lớn, những con ngỗng tuyết và những con hươu lớn, dành riêng cho những người hằng mong mỏi được trông thấy chúng. Những đỉnh núi, những bộ lạc, những thửa đất bỏ hoang, những tổ ong và những bầy gấu mèo Mỹ. Ở đây có những dòng sông đóng băng vào mùa đông, còn vào mùa thu, ánh sáng chói lóa khiến những tán lá đỏ rực lên. Ở đây, người ta cảm thấy rất rõ rằng, bên dưới lớp vỏ văn minh, thế giới hoang dã chưa bao giờ ở quá xa. New York…

Sự thỏa mãn của Gaspard đối lập với tâm trạng rầu rĩ của Madeline. Cô đã ngủ một giấc chập chờn và khổ ải trong suốt chuyến bay, và từ khi họ hạ cánh, cô chỉ trả lời Gaspard bằng những từ tượng thanh mơ hồ. Gương mặt khép kín, quai hàm bạnh ra, ánh nhìn khó hiểu, cô nghiền ngẫm và vẫn đang tự hỏi sao cô có thể để mình bị lôi kéo vào chuyến đi này.

Nhờ phép mầu của những múi giờ, lúc này còn chưa đến 16 giờ 30. Chiếc taxi chuyển làn ra khỏi điểm nút giao thông trên xa lộ Triboro Plaza để rẽ sang đường Lexington. Sau khi xuôi xuống con phố khoảng năm trăm mét, họ tới trước trụ sở Cảnh sát Đông Harlem, một hầm boong ke nhỏ bé, cũ kỹ, nhếch nhác bằng gạch vàng, được xây dựng trên Phố 119 cạnh đường tàu điện trên không và một bãi đỗ xe lộ thiên. Vì đã từ sân bay tới thẳng đó, nên Gaspard và Madeline nhổ rễ khỏi chiếc taxi yellow cab rồi người nào cầm lấy túi xách du lịch của người đó.

Bên trong Khu 25 cũng hệt như mặt tiền của nó: vô hồn, sầu thảm và rệu rã. Vì không có cửa sổ nên tòa nhà trông càng âm u hơn. Sau cú điện thoại kỳ lạ ngày hôm trước, Gaspard đã chuẩn bị đón nhận điều tệ hại nhất: chịu đựng một hàng dài người chờ đợi và nhiều cửa hành chính trước khi có cơ hội nói chuyện với Adriano Sotomayor. Thế nhưng, trong khi chưa đầy hai ngày nữa là tới Giáng sinh, nơi này vẫn vắng hoe, như thể cái lạnh đang tấn công thành phố đã làm nản lòng bọn tội phạm, giam chân chúng trong nhà. Ngồi sau chiếc bàn kim loại màu đen, một nữ cảnh sát mặc sắc phục được giao nhiệm vụ tiếp đón khách. Một núi mỡ đúng nghĩa rụt cổ trong bộ sắc phục, viên cảnh sát trực ban có thân hình của một con sên, hai cánh tay bé tí và khuôn mặt cóc: mặt to bự hình tam giác, miệng rộng quá cỡ, da dày và rỗ. Có lẽ người ta bổ nhiệm cô ta vào vị trí này để khiến lũ trẻ sợ phát khiếp và ngăn chúng không lầm đường lạc lối.

Gaspard áp mạn tấn công tàu địch:

– Xin chào, chúng tôi muốn được nói chuyện với sĩ quan Sotomayor.

Hết sức chậm rãi, động vật lưỡng cư chìa cho họ một mẫu khai in sẵn rồi cất giọng ồm ộp để họ hiểu rằng cô ta cần có thẻ căn cước của họ.

Madeline đã quen với các sở cảnh sát. Cô không cam lòng lãng phí thời gian nên đã xô Gaspard ra để trực tiếp lo liệu mọi chuyện.

– Tôi là đại úy Greene, cô thông báo rồi chìa hộ chiếu ra. Tôi từng làm việc tại Đội Án Tồn thuộc Sở Cảnh sát New York tại Phố 103. Tôi chỉ ghé qua thăm một đồng nghiệp thôi. Không cần phải giấy tờ lằng nhằng vì việc đó đâu!

Viên cảnh sát trực nhìn cô chằm chằm một lúc mà không phản ứng gì. Cô ta vẫn không mở miệng và gây cảm tưởng đang hô hấp qua làn da mềm nhẽo, ẩm ướt và phập phồng kia.

– Chờ một lát, rốt cuộc cô ta cũng rít lên trong lúc nhấc ống nghe điện thoại.

Cô ta hất đầu chỉ cho họ một loạt băng ghế gỗ kê gần lối vào. Madeline và Gaspard ngồi xuống đó, nhưng nơi này sặc mùi Javel và lại ở đúng hướng gió thốc. Bực mình, Madeline tìm chỗ lánh mình cạnh một máy bán đồ uống tự động. Cô thoáng có ý định lấy một cốc cà phê, nhưng chợt nhận ra rằng mình chưa kịp đổi euro sang đô la tại sân bay.

Chết tiệt!

Bực dọc và kích động, cô siết tay lại thành nắm đấm rồi nhằm thẳng vào chiếc máy. Gaspard ngăn cử chỉ của cô lại vừa kịp lúc.

– Cô điên rồi! Cô trấn tĩnh lại đi hoặc…

– Xin chào, tôi có thể giúp gì cho hai vị?

2.

Họ quay về hướng giọng nói đang gọi. Chính giữa luồng sáng mờ xỉn ở sở cảnh sát, một nữ cảnh sát gốc Latinh trẻ trung mặc sắc phục mang gương mặt rạng rỡ, mái tóc đen nhánh búi gọn. Sức trẻ, những đường nét thanh tú, lớp trang điểm kín đáo, nụ cười duyên dáng của cô là hiện thân của vẻ yêu kiều và trái ngược hoàn toàn với nữ nhân viên trực ban. Như thể để thỏa mãn một trật tự bất công của vạn vật, sự hoàn hảo của một số người phải trả giá bằng vẻ xấu xí của những người khác.

Madeline tự giới thiệu và không nhắc đến chức vị của mình trước đây.

– Chúng tôi muốn nói chuyện với sĩ quan Sotomayor, cô khẳng định.

Nữ cảnh sát gật đầu.

– Là tôi đây: tôi là Lucia Sotomayor.

Gaspard nhướng mày. Trước vẻ ngạc nhiên của anh, cô nàng cảnh sát dường như hiểu ra sự nhầm lẫn.

– Ra thế! Hẳn là các vị đang nhắc tới Adriano?

– Quả vậy.

– Chúng tôi trùng họ. Đây không phải lần đầu tiên xảy ra nhầm lẫn. Thậm chí hồi ông ấy còn làm việc ở đây, đôi khi mọi người vẫn nghĩ ông ấy là anh ruột hoặc anh họ của tôi kia.

Madeline nhìn chòng chọc vào mặt Coutances bằng ánh mắt giận dữ: Thậm chí anh còn không đủ khả năng xác minh chuyện này! Anh khoát tay ra hiệu bất lực. Trên điện thoại, dĩ nhiên anh đã nói tiếng Anh, dùng cách gọi chung chung (sĩ quan Sotomayor) và do đó, chẳng ai phải giải thích rằng anh đã lầm.

– Adriano hiện đang công tác ở đâu vậy? anh hỏi luôn để gỡ lại sai lầm của mình.

Cô cảnh sát làm nhanh một dấu thánh giá.

– Thật không may là chẳng ở đâu hết. Ông ấy mất rồi.

Lại trao đổi ánh mắt. Thở dài. Hoài nghi. Rối bời.

– Thế ông ấy mất khi nào?

– Cách đây gần hai năm. Tôi còn nhớ vì đó là ngày Valentine.

Lucia nhìn đồng hồ đeo tay rồi nhét hai đồng 25 xu vào máy bán đồ uống tự động để mua một cốc trà.

– Tôi mời hai vị thứ gì đó nhé?

Nữ cảnh sát trẻ tuổi duyên dáng và dễ thương đúng như ngoại hình của mình. Madeline nhận một cốc cà phê.

– Cái chết của Adriano là một cú sốc thực sự, cô nói tiếp đoạn chìa cho nàng cựu đồng nghiệp một chiếc cốc giấy. Ở đây mọi người đều quý mến ông ấy. Ông ấy có lộ trình phát triển mẫu mực mà Sở rất muốn đúc rút.

– Nghĩa là sao? Gaspard hỏi.

Cô thổi cốc trà của mình.

– Có thể nói là một quỹ đạo trọng dụng nhân tài. Thời thơ ấu, Adriano từng bị chuyển qua nhiều gia đình nhận nuôi. Thậm chí ông ấy còn có thời phạm tội trước khi sửa sai và gia nhập ngành cảnh sát.

– Ông ấy mất trong khi làm nhiệm vụ sao? Madeline hỏi.

– Không hẳn. Ông ấy đã lãnh một nhát dao trí mạng, ngay gần nhà riêng, vì muốn can ngăn hai thanh niên đang đánh lộn trước một cửa hàng bán rượu mạnh.

– Ông ấy sống ở đâu vậy?

Cô phác một động tác tay để chỉ ra phía cửa.

– Không xa đây lắm, trên phố Bilberry.

– Kẻ giết ông ấy đã bị bắt giữ chứ?

– Không, và điều này đã khiến tất cả mọi người trong ngành phẫn nộ. Biết kẻ sát nhân đã cắt cổ một cảnh sát vẫn được tự do, điều này khiến chúng tôi phát bệnh.

– Ít ra người ta cũng nhận diện được hắn chứ?

– Theo tôi biết thì không! Đó thực sự là một thảm kịch tạo nên vết nhơ. Nhất là trong khu chúng tôi! Chính *Bratton đã giận điên lên. Cách cư xử bạo lực kiểu đó đã hoàn toàn lỗi thời, bởi ngày nay, khu vực này của Harlem hết sức safe.

Chú Thích

Bill Bratton, ông sếp lịch sử của Sở Cảnh sát New York từ 1994-1996 và 2014-2016.

Lucia uống nốt cốc trà như thể cô đang uống một ly nhỏ vodka.

– Tôi phải quay trở lại làm việc đây. Rất tiếc vì phải thông báo một tin buồn đến thế.

Cô quẳng cái cốc giấy vào thùng rác rồi nói thêm:

– Thậm chí tôi còn chưa hỏi tại sao hai người lại muốn gặp Adriano.

– Liên quan đến một cuộc điều tra cũ ấy mà, Madeline đáp. Vụ bắt cóc và giết hại con trai của họa sĩ Sean Lorenz, cô có nhớ vụ đó không?

– Mang máng, nhưng tôi nghĩ vụ đó không thuộc khu vực chúng tôi phụ trách.

Gaspard tiếp sức:

– Adriano Sotomayor là bạn của Lorenz. Ông ấy chưa từng nhắc với cô về vụ việc này sao?

– Không, nhưng vì chúng tôi không làm chung một đội nên chuyện này cũng không đáng ngạc nhiên cho lắm.

Lucia quay sang Madeline rồi nói thêm:

– Và trong những vụ bắt cóc trẻ em, như cô biết đấy, thường là FBI sẽ vào cuộc.

3.

Cái lạnh và cơn gió rét căm khiến tứ chi tê cóng, cào xé những khuôn mặt, nung đốt gần như tức khắc mỗi xăng ti mét vuông da thịt không được bảo vệ. Trên vỉa hè đối diện sở cảnh sát, Madeline kéo kín khóa của chiếc áo phao cô đã mua ngay phút chót trong một cửa hàng ở sân bay Madrid. Kem dưỡng bôi tay, son dưỡng bôi môi, khăn quàng đến hai vòng. Trong tâm trạng cực kỳ cáu bẳn, cô chẳng chờ lâu mà đã tấn công không hề báo trước:

– Anh đúng là một tên ngốc, Coutances ạ!

Hai tay đút túi áo, Gaspard thở dài.

– Còn cô, vẫn luôn nhã nhặn như thế.

Cô đội sụp lên đầu cái mũ viền lông liền áo.

– Chúng ta vừa vượt sáu nghìn cây số để rồi chẳng được cái cóc khô gì!

Anh tìm cách phủ nhận điều hiển nhiên:

– Đâu phải vậy.

– Vậy thì hẳn là chúng ta không xem cùng một bộ phim rồi.

Anh trình bày một giả thuyết:

– Nhỡ đâu Sotomayor đã bị giết vì ông ấy quan tâm quá sâu đến vụ bắt cóc Julian thì sao?

Cô nhìn anh, rụng rời.

– Vô lý. Tôi về khách sạn đây.

– Đã về đó rồi sao?

– Anh làm tôi kiệt sức, cô thở dài. Tôi chán ngấy những giả thuyết ngu ngốc của anh rồi! Tôi đi ngủ đây, đưa tôi ba mươi đô đi!

Cô bước phăm phăm trên vỉa hè để thử vẫy taxi. Gaspard mở ví rút ra hai tờ tiền, miệng vẫn nằn nì:

– Cô không thử đào bới theo hướng này được sao?

– Tôi không biết làm thế nào ấy chứ.

– Thôi nào! Hẳn là cô vẫn giữ các mối liên lạc.

Cô nhìn anh chằm chằm bằng đôi mắt long lanh pha trộn giữa giận dữ và chán nản cực độ.

– Tôi đã giải thích với anh chuyện này rồi mà, Coutances: tôi từng chỉ huy các vụ án ở Anh. Còn ở New York này, tôi không có bất cứ vai trò thực chất nào trên thực địa. Hồi đó tôi là một cảnh sát văn phòng.

Răng cô va lập cập. Toàn bộ xương cốt cô đang run rẩy, cô co hết chân này đến chân kia để cố gắng tự sưởi ấm. Cái lạnh tái sinh Gaspard lại tạo cảm giác đang tra tấn cô.

Một chiếc Ford Escape với những đường nét sắc nhọn dừng khựng trước mặt họ. Madeline ngồi vào taxi mà thậm chí không thèm liếc mắt đến anh chàng đồng đảng rồi vội đưa cho tài xế địa chỉ khách sạn. Hai tay khoanh lại, cô thu mình co ro, nhưng sau vài mét, cô đã phải eo sèo với driver, một anh chàng người Ấn vẫn nhất định muốn chạy xe với cửa kính xe mở toang bất chấp giá lạnh. Anh chàng tín đồ đạo Sikh không để người ta sai khiến và xổ ra một tràng suốt năm phút liền trước khi quyết định nâng cửa kính lên. Madeline nhắm mắt lại. Cô không thể chịu đựng thêm nữa, mệt nhoài, cạn kiệt nhựa sống. Nhất là, bụng cô lại đau nhói lần nữa. Cảm giác trướng bụng, những cơn co thắt dạ dày, những cơn buồn nôn và, bất chấp cái lạnh, những cơn bốc hỏa không thoải mái chút nào.

Khi cô mở mắt trở lại, chiếc taxi đang chạy trên đường cao tốc West Side, đại lộ lớn chạy dọc sông Hudson tới tận phía Nam Manhattan. Cô lục trong túi áo phao để lấy điện thoại. Cô tìm trong danh bạ một số điện thoại đã lâu cô không liên lạc.

Từ thời cô làm việc tại New York, Dominic Wu là đầu mối liên lạc của cô tại FBI. Anh chịu trách nhiệm làm liên lạc giữa bộ phận của Sở Cảnh sát New York đang thuê Madeline và Cục Cảnh sát liên bang. Cụ thể hơn, đó là “Ngài KHÔNG”, người luôn trả lời phủ định đối với mọi yêu cầu của cô. Phần lớn là do ngân sách hạn chế, nhưng cũng để tránh cho cơ quan cảnh sát thành phố bàn cãi về công việc của Cục.

Anh chàng không hề khó chịu. Bản chất khó nắm bắt, về cơ bản Dominic Wu là kẻ đục nước béo cò, nhưng đôi khi cũng có khả năng ra những quyết định bất ngờ. Cuộc sống riêng của anh khá khác người: sau khi có hai đứa con với một nữ luật sư của City Hall, anh công khai mình là người đồng tính. Lần cuối cùng Madeline gặp Wu thì anh đang cặp với một phóng viên nam phụ trách mảng văn hóa của tờ Village Voice.

– Chào Dominic, Madeline Greene đây.

– Hello Madeline! Ngạc nhiên quá! Em đang quay trở lại với gia đình hả?

– Chỉ một thời gian ngắn thôi. Còn anh?

– Anh đang nghỉ lễ, nhưng là nghỉ lễ tại New York cùng hai cô nhóc nhà anh.

Cô day day mí mắt. Nói thành lời dù chỉ một từ cũng khiến cô khổ sở.

– Anh biết em rồi đấy, Dominic, em luôn gặp khó khăn với những thói tục thông thường nên…

Cô nghe thấy anh cười thành tiếng ở đầu dây bên kia.

– Hãy bỏ qua những màn chào hỏi xã giao đi. Anh có thể giúp được gì cho em nào?

– Em cần anh giúp em một việc.

Một khoảng im lặng thận trọng, rồi:

– Anh nói với em rồi đấy, anh đang không ở văn phòng.

Tuy nhiên cô vẫn không buông tha:

– Anh có thể hỏi thăm giúp em về hoàn cảnh vụ giết hại cảnh sát Adriano Sotomayor ở Khu 25 được không? Ông ấy bị giết ngay gần nhà mình, tại Harlem, cách đây gần hai năm.

– Chính xác thì em muốn tìm gì vậy?

– Tất cả những gì anh có thể tìm ra.

Wu liền dè dặt trở lại.

– Em đâu còn làm việc cùng tụi anh nữa, Madeline.

– Em đâu có hỏi anh những thông tin mật.

– Nếu anh tìm hiểu, chuyện này sẽ để lại dấu vết và…

Anh chàng bắt đầu khiến cô phát bực.

– Anh nghiêm túc đấy chứ? Chuyện đó khiến anh sợ đến thế sao?

– Ngày nay, với tin học, người ta…

– OK, bỏ qua đi và hãy đặt mua cho mình hai hòn cà nhân dịp Giáng sinh. Thời điểm này hẳn là ở Bloomingdale’s đang có đợt giảm giá đấy.

Cô phũ phàng dập máy rồi lại chìm vào cơn ngủ lịm. Mười phút sau, cô tới khách sạn, một khối nhà xây bằng gạch nâu điển hình của khu TriBeCa. Gaspard đã đẩy cơn bệnh lên cao đến độ đặt phòng tại Bridge Club, khách sạn nơi Lorenz trải qua những ngày cuối cùng trong đời. Tại quầy lễ tân, người ta thông báo với cô rằng khách sạn đã kín phòng, nhưng đúng là có hai phòng được đặt trước với tên Coutances: một phòng căn góc hạng sang và một phòng nhỏ ở tầng trên cùng. Cô tự chiếm cho mình phòng căn góc không chút lưỡng lự, lấy hộ chiếu ra rồi điền vào phiếu thông tin trong vòng ba phút.

Vừa vào đến trong phòng, thậm chí không buồn nhìn quang cảnh bên ngoài, cô đã kéo kín rèm, treo biển Miễn Làm Phiền rồi uống một mớ hỗn hợp lexo-kháng sinh-paracetamol.

Quặn người lại vì đau, Madeline tắt đèn rồi nằm ngủ. Những đêm gần đây, số giờ ngủ của cô ít ỏi đến thảm hại. Cô đang ở trong trạng thái mà thể xác bầm dập và kiệt quệ của cô ngăn cản toàn bộ suy luận. Không thể suy nghĩ, tư duy, vận hành ý tưởng nào dù là nhỏ nhất.

Thể xác cô vừa giành phần thắng.

15

Trở lại phố Bilberry

Những người đàn ông khác sẽ có các khiếm khuyết của tôi, nhưng chẳng một ai có được các phẩm chất của tôi.

Pablo PICASSO

1.

Gaspard đang hồi sinh.

Như cái cây được người ta tưới tắm sau nhiều ngày khô hạn.

Mạch đập của Manhattan, nhịp độ của nó, cái lạnh buốt và khô, sắc xanh kim loại của bầu trời, vầng mặt trời mùa đông phóng ra những tia nắng cuối cùng. Mọi thứ vang dậy trong anh theo cách tích cực. Đây không phải lần đầu tiên anh nhận ra tâm lý mình có tính thẩm thấu môi trường. Đặc biệt là thời tiết luôn ảnh hưởng tới anh, khuôn anh theo, khuếch đại tâm trạng của anh. Mưa, độ ẩm và trạng thái xâm xấp mồ hôi có thể khiến anh chìm đắm một cách nguy hiểm. Và một cơn bốc hỏa sẽ hạ nốc ao anh. Sự bất ổn này khiến cuộc sống của anh thành ra phức tạp, nhưng theo thời gian, anh đã quyết định sống chung với những lúc lên bổng xuống trầm của nó. Hôm nay là một ngày hoàn hảo. Một trong những ngày đáng giá bằng đôi ba ngày bình thường. Anh cần tranh thủ nó để có tiến triển trong cuộc điều tra của mình.

Anh định hướng nhờ tấm bản đồ cũ tìm thấy trong tủ sách nhà Lorenz. Anh rẽ phải sang đại lộ Madison trước khi đi vòng qua một không gian xanh rộng rãi – công viên Marcus Garvey – rồi ra tới đại lộ Lenox, đổi thành đại lộ Malcolm X ở khu vực này của Harlem. Anh mua cho mình một chiếc bánh mì kẹp xúc xích và một cốc cà phê của người bán hàng rong nơi góc phố rồi lại tiếp tục dạo bước về phía Bắc.

Phố Bilberry nơi Adriano Sotomayor bị sát hại là một đường phố hẹp hai bên có những ngôi nhà gạch đỏ và hàng cây dẻ, kẹp giữa Phố 131 và Phố 132. Nơi này nhắc nhớ một chút đến những công trình ở khu phía Nam cũ kỹ với những bậc tam cấp khá cao và một sự thừa thãi các lan can cùng mái hiên bằng gỗ được sơn lại bằng những màu sắc rực rỡ.

Gaspard đi thơ thẩn chừng mười phút trong con phố vắng tanh, lòng tự hỏi làm cách nào anh có thể tìm ra ngôi nhà cũ của viên cảnh sát. Anh nhặt nhạnh những cái họ đề trên các hộp thư – Faraday, Tompkins, Langlois, Fabianski, Moore… –, nhưng chúng chẳng giúp được gì cho anh.

– Cẩn thận nhé, Théo!

– Vâng ạ, thưa bố.

Gaspard quay về phía một nhóm nhỏ vừa bước tới vỉa hè đối diện. Giống như trong một bộ phim của Capra, một ông bố cùng con trai đang kéo lê một cây thông Giáng sinh to đùng. Bước đằng sau họ là một phụ nữ lai xinh xắn có phần kiêu kỳ và một phụ nữ da đen nhiều tuổi hơn mặc áo khoác đi mưa trong suốt, đi đôi bốt cao bằng da màu vàng hung và đội mũ nồi họa tiết da báo.

– Xin chào, anh cất tiếng trong lúc băng qua đường. Tôi tìm ngôi nhà trước kia của ông Sotomayor. Các vị có biết nó ở đâu không?

Ông bố của gia đình lịch sự và duyên dáng, sẵn sàng giúp đỡ anh, nhưng có vẻ mới sống ở đây chưa lâu. Anh ta quay sang người phụ nữ hẳn là vợ mình.

– Sotomayor, em nghe có thấy quen không, em yêu?

Người phụ nữ lai nheo mắt, dường như đang triệu hồi những ký ức xa xăm.

– Em nghĩ là đằng kia, cô nói đoạn chỉ về phía một ngôi nhà nhỏ mái dốc.

Cô hỏi người phụ nữ đứng bên cạnh:

– Dì Angela?

Người đàn bà dân Mỹ gốc Phi nhìn Gaspard vẻ ngờ vực.

– Thế tại sao tôi lại phải trả lời cho cái đồ trẻ trâu này?

Người phụ nữ lai chụp lấy vai bà ta trong một cử chỉ đầy trìu mến.

– Thôi mà, dì Angela, đến khi nào dì mới thôi tỏ ra ghê gớm hơn con người thực của dì chứ?

– OK, OK, bà ta đầu hàng trong lúc chỉnh lại cặp kính râm ngoại cỡ. Đó là nhà số 12, nhà Langlois.

– Langlois ư? Nghe cái họ có vẻ đậm chất Pháp quá nhỉ, Gaspard ghi nhận.

Giờ đây khi đã thốt ra câu trả lời, dì Angela không hà tiện lời giải thích nữa:

– Sau khi viên cảnh sát kia qua đời, vả chăng đó là một người thực sự tốt bụng, không có nhiều người như vậy đâu, anh có thể tin tôi, chính cô em họ anh ta, Isabella, đã thừa hưởng ngôi nhà. Cô ấy kết hôn với André Langlois, một kỹ sư người Paris đang làm việc tại Chelsea, trong tòa nhà của Google. Kể ra cũng là tay được nuôi dạy khá tử tế đối với một người Pháp: cậu ta đã nhiều lần giúp tôi cắt tỉa hàng rào và những khi trổ tài vào bếp, thi thoảng cậu ta mang sang cho tôi một phần món thỏ xốt mù tạt.

Gaspard cảm ơn cả gia đình rồi ngược lên đầu phố chừng năm mươi mét để bấm chuông ngôi nhà người ta vừa chỉ cho anh. Một ngôi nhà đá đỏ nhỏ nhắn có cửa ra vào được trang trí bằng một vòng tròn to kết từ những cành thông và nhựa ruồi.

Một phụ nữ mở cửa cho anh – cô gái Latinh với mái tóc dày và ánh mắt calientenóng bỏng – đang đeo một chiếc tạp dề làm bếp họa tiết ca rô vải vi si và bế trên tay một đứa trẻ. Eva Mendes phiên bản Những bà nội trợ kiểu Mỹ.

– Chào chị, xin lỗi vì làm phiền chị. Tôi đang tìm nhà cũ của Adriano Sotomayor. Người ta bảo tôi chính là nhà này.

– Có vẻ thế, chị ta đáp, có chút ngờ vực. Anh muốn gì?

Phương pháp Coutances là thế này: sửa đổi bổ sung sự thật, dẫn dụ bằng dối trá mà không bao giờ chìm nghỉm hẳn trong đó.

– Tôi là Gaspard Coutances. Tôi đang viết một cuốn tiểu sử về họa sĩ Sean Lorenz. Dĩ nhiên là chị không quen biết ông ấy đâu, nhưng…

– Tôi mà không quen biết Sean ấy hả? nữ chủ nhân ngôi nhà ngắt lời anh. Giá như anh biết số lần ông ấy cố gắng sờ mông tôi!

2.

Eva Mendes thực ra tên là Isabella Rodrigues. Bản tính ân cần niềm nở, chị không chờ lâu đã mời ngay Gaspard vào sưởi ấm trong phòng bếp. Thậm chí chị còn nài nỉ rót cho anh một cốc *eggnog không cồn. Cùng loại sữa lòng đỏ trứng mà lũ con của chị uống thỏa thích trong lúc dùng một bữa chiều hơi muộn.

Chú Thích

Món đồ uống ngọt được làm từ sữa, kem tươi, trứng sống, phổ biến trong các ngày lễ Giáng sinh và năm mới.

– Adriano là anh họ bên đằng ngoại nhà tôi, chị giải thích trong lúc mang từ phòng khách ra một cuốn album ảnh cũ bìa bọc vải vẽ.

Chị lật trang, lật nhanh những bức ảnh thời thơ ấu, rồi trình bày chi tiết cây phả hệ:

– Mẹ tôi, Maricella, là em gái Ernesto Sotomayor, bố của Adriano. Chúng tôi đã trải qua thời thơ ấu tại Tibberton, một ngôi làng thuộc Massachusetts, gần Gloucester.

Trên những bức ảnh, Gaspard nhận thấy những cảnh vật nhắc anh nhớ đến một vài góc ở Bretagne: một truông biển, một bến cảng nhỏ, những con thuyền thô sơ đậu xen kẽ các tàu kéo lưới rê và du thuyền, những túp lều của dân chài và nhà của các chủ tàu buôn với các dứng gỗ.

– Adriano là một người tốt, cô em họ nói rõ. Một người thực sự tuyệt vời. Tuy nhiên, ta không thể nói rằng cuộc sống nương tay với anh ấy.

Cô chỉ cho Gaspard xem những bức ảnh cũ khác. Những cảnh tượng thời thơ ấu: hai anh em họ làm mặt nhăn nhó, vầy nước quanh một bể bơi bơm hơi, ngồi cạnh nhau dưới một thanh xà sắt cũ để chơi xích đu, biến hình một quả bí ngô thành đèn bí ngô Jack-o’-lantern dịp Halloween. Nhưng Isabella vội vàng làm tiêu tan ảo tưởng về bức tranh điền viên này.

– Bất chấp niềm vui hiển hiện trên những bức ảnh này, Adriano đã không có được tuổi thơ bình yên. Bố Adriano, bác Ernesto của tôi, là một người đàn ông hung bạo và ghen tuông vô lối quen thói trút giận lên vợ và con trai. Để nói theo cách khác, bác Ernesto dữ đòn và thường xuyên động thủ.

Giọng Isabella vỡ rạn. Để gạt bỏ những ký ức không vui, chị nhìn sang lũ con mình với ánh mắt chan chứa yêu thương. Ngồi quanh bàn bếp, hai trong số bọn trẻ đang cười rúc rích, tai nghe ốp đầu, mắt không rời chiếc máy tính bảng, về phần mình, đứa bé nhất đang mải miết chơi một bộ xếp hình cỡ lớn: Las MeninasCô bé, bức tranh nổi tiếng nhất của Velázquez.

Trong thâm tâm, Gaspard nghĩ đến bố anh. Tử tế là thế, ân cần chăm chút là thế, thương người là thế. Tại sao có những người lại làm hỏng những sinh linh họ đã cho chào đời chứ? Tại sao có những người khác lại yêu thương chúng đến mức có thể hy sinh tính mạng mình vì chúng?

Anh để ngỏ câu hỏi này rồi nhớ ra điều mà nữ cảnh sát của Khu 25 vừa khẳng định với anh nửa giờ trước.

– Người ta nói với tôi là Adriano từng được giao cho một gia đình nhận nuôi…

– Đúng thế, nhờ cô giáo tiểu học của chúng tôi, cô Boninsegna. Chính cô ấy đã trình báo những hành động bạo lực của bác Ernesto tới các tổ chức xã hội của hạt.

– Mẹ Adriano để người ta làm vậy sao?

– Bác Bianca ấy hả? Bác ấy bỏ đi khỏi ngôi nhà chung của hai vợ chồng từ vài năm trước đó rồi.

– Anh họ của chị bao nhiêu tuổi khi tới New York?

– Tôi nghĩ là khoảng tám tuổi. Thoạt tiên anh ấy lay lắt trong đôi ba gia đình rồi lưu lại đây, ở Harlem, nhà ông bà Wallis, một gia đình nhận nuôi thực sự tuyệt vời, họ coi anh ấy như con đẻ của mình.

Chị khép cuốn album ảnh lại rồi nói thêm, vẻ trầm ngâm:

– Tuy nhiên, theo thời gian, Adriano và bố anh ấy rốt cuộc cũng đoàn tụ…

– Thật sao?

– Đến cuối đời, bác Ernesto mắc chứng ung thư vòm họng. Con trai bác ấy đã đón bác ấy về nhà để chăm sóc lâu nhất có thể. Sự độ lượng này chính là tính cách điển hình của anh họ tôi.

Gaspard tập trung trở lại vào cuộc thảo luận:

– Còn Sean Lorenz trong toàn bộ chuyện này?

3.

Ánh mắt Isabella bắt đầu long lanh.

– Tôi biết Sean năm mười tám tuổi! Ngay khi đủ tuổi thành niên, năm nào tôi cũng tới New York nghỉ hè. Đôi khi tôi tới ngủ ở nhà một cô bạn, nhưng phần lớn thời gian, tôi ở luôn nhà gia đình Wallis.

Chị để mặc những ký ức về quãng thời gian xa xưa tươi đẹp ùa về.

– Sean sống ở nơi cao hơn, trong tòa Polo Grounds Towers, chị nhớ lại, nhưng ông ấy và Adriano vẫn luôn dính lấy nhau, bất chấp việc họ hơn kém nhau bốn tuổi. Tôi thì dĩ nhiên là lần theo dấu vết họ và cố gắng theo sát những cuộc lẩn trốn của họ. Sean hơi thích tôi và tôi cũng chẳng có gì phản đối. Thậm chí có thể nói rằng bọn tôi từng có một mối quan hệ không liền mạch.

Chị nhấp một ngụm sữa lòng đỏ trứng rồi mất nhiều giây mới tập hợp lại được những ký ức của mình.

– Đó là một thời đại khác. Một New York khác. Tự do hơn và cũng nguy hiểm hơn. Trong những năm tháng đó, khu phố này thực sự khiến người ta e sợ. Bạo lực xảy ra khắp nơi và ma túy hủy hoại mọi thứ.

Chị bỗng ý thức được rằng lũ trẻ đang ở ngay gần, liền hạ giọng:

– Dĩ nhiên là chúng tôi đã làm những điều ngu ngốc: chúng tôi hút cỏ vô độ, chúng tôi ăn trộm xe hơi, chúng tôi vẽ graffiti lên tường. Nhưng chúng tôi cũng đến viện bảo tàng! Tôi còn nhớ Sean đã kéo cả lũ chúng tôi tới MoMA mỗi khi có triển lãm mới. Chính ông ấy đã giúp tôi khám phá Matisse, Pollock, Cézanne, Toulouse-Lautrec, Kiefer… Ông ấy như kiểu bị một cơn cuồng dại ám ảnh: vẽ và sơn mọi lúc và trên mọi loại bề mặt.

Isabella để trôi qua vài giây rồi không thể cưỡng lại cám dỗ:

– Tôi sẽ cho anh xem thứ này, chị thông báo một cách bí hiểm.

Chị biến mất một phút rồi quay trở lại với một túi vải to, đặt nó lên mặt bàn thấp. Mở nó với thái độ cẩn trọng, chị lấy từ đó ra một bức vẽ bằng chì than được thực hiện trên lớp vỏ giấy của một hộp ngũ cốc khô. Một bức chân dung vẽ chị ký tên Sean, 1988. Khuôn mặt cô gái được cách điệu hóa nhiều: ánh mắt tinh nghịch, mái tóc hoang dại, vai trần. Gaspard nghĩ tới một vài bức họa Françoise Gilot của Picasso. Cùng tài năng đó, cùng thiên tài đó. Chỉ bằng vài nét, Sean đã nắm bắt được mọi thứ: sự mãnh liệt của tuổi trẻ, vẻ duyên dáng của Isabella, nhưng cũng là vẻ nghiêm trang nhất định báo trước người phụ nữ sau này chị trở thành.

– Tôi giữ gìn nó cẩn thận như con ngươi trong mắt mình vậy, chị tâm sự với anh đoạn cất bản ký họa vào hộp các tông đựng nó. Dĩ nhiên, cách đây hai năm, khi có cuộc triển lãm về sự nghiệp của Sean tại MoMA, chuyện đó khiến tôi phát rồ và nó nhắc tôi nhớ lại thật nhiều kỷ niệm…

Đó chính xác là nơi Gaspard đang mong dẫn đến:

– Chị có quen Beatriz Muñoz chứ?

Một bóng đen lo ngại dập tắt toàn bộ ánh sáng trên gương mặt Isabella. Chị cân nhắc từng câu từng chữ để trả lời:

– Đúng thế, tôi có quen bà ta. Bất chấp tất cả những gì bà ta đã làm, Beatriz không phải… người xấu. Ít ra thì cũng không vào thời tôi còn giao du với bà ta. Giống như Adriano và nhiều thanh niên khác trong khu phố, Beatriz chỉ là nạn nhân. Một đứa con gái bị cuộc đời thiêu đốt. Một người vô cùng buồn rầu và băn khoăn day dứt không yêu thương bản thân cho lắm.

Isabella vẫn giữ nguyên lối ẩn dụ nghệ thuật:

– Đôi khi người ta nói một bức tranh chỉ tồn tại trong mắt người ngắm nó. Với Beatriz cũng phần nào như thế. Bà ta chỉ lanh lợi khi Sean để mắt đến bà ta. Bây giờ nói thế thật dễ, nhưng nhìn lại quá khứ, tôi tiếc vì đã không giúp đỡ Beatriz khi bà ta ra tù. Biết đâu làm vậy sẽ tránh được tội ác mà bà ta gây nên. Dĩ nhiên, tôi đã không trình bày chuyện này thẳng thừng đến thế trước mặt Sean, nhưng…

Gaspard không tin vào tai mình.

– Chị đã gặp lại Sean sau khi con trai ông ấy qua đời ư?

Isabella buột ra một thông tin chấn động:

– Ông ấy đã tới bấm chuông nhà tôi vào tháng Mười hai năm ngoái. Cách đây đúng một năm. Tôi vẫn còn nhớ ngày tháng bởi vì sau đó tôi biết tin ngay hôm sau thì ông ấy qua đời.

– Và ông ấy trong tình trạng thế nào? Coutances hỏi.

Isabella thở dài.

– Lần này, tôi có thể nói với anh rằng ông ấy chẳng còn nghĩ đến chuyện rờ mông tôi nữa.

4.

Sean có vẻ mệt mỏi, tóc tai bết bẩn, mặt mày ủ rũ, râu ria tua tủa. Nhìn Sean người ta dễ tưởng ông ấy già hơn thực tế đến mười tuổi. Tôi đã không nói chuyện với ông ấy ít nhất cũng phải hai mươi năm, nhưng tôi có thấy vài bức ảnh chụp ông ấy trên Internet. Còn đây, như không phải cùng một người nữa. Nhất là đôi mắt ông ấy, chúng khiến người ta thấy sợ. Như thể mười ngày qua ông ấy không ngủ hoặc ông ấy vừa làm một choác heroin vậy.

Gaspard và Isabelle đã di chuyển ra hàng hiên được chiếu sáng bởi ba chiếc đèn lồng bằng đồng thau. Trước đó hai phút, Isabella đã chộp lấy một bao thuốc cũ mà chị giấu trong bếp đằng sau những xoong chảo bằng đồng và một cái rây bột tráng men. Chị ra ngoài châm một điếu thuốc trong cái lạnh địa cực, có lẽ với hy vọng những cuộn khói sẽ bao bọc ký ức của mình bằng một lớp dầu dưỡng và sẽ giúp chúng bớt phần đau đớn.

– Không phải ma túy khiến cho Sean rơi vào trạng thái như vậy đâu, mà là nỗi buồn sầu, dĩ nhiên rồi. Nỗi buồn sầu nặng nề nhất. Nỗi buồn sầu gặm nhấm anh và giết chết anh bởi lẽ người ta đã bứt thịt da khỏi thân xác anh.

Chị rít mạnh điếu thuốc.

– Khi tôi gặp lại Sean, việc sửa nhà còn chưa bắt đầu. Tôi và André, chồng tôi, chỉ vừa mới đứng tên sở hữu nhà và quyết định dùng những dịp cuối tuần cuối cùng trong năm để dọn sạch nó.

– Hai người là những người thừa kế duy nhất của Adriano sao?

Isabella gật đầu xác nhận.

– Cha mẹ anh ấy đều đã khuất núi và anh ấy cũng chẳng có anh chị em ruột nào. Nhưng vì thủ tục nhận thừa kế mất nhiều thời gian, ngôi nhà vẫn còn chứa toàn bộ đồ đạc của anh ấy khi chúng tôi tiếp quản. Và chính điều đó lại khiến Sean quan tâm.

Gaspard cảm thấy nỗi phấn khích xâm chiếm mình. Anh chắc chắn đang tiếp cận được điều gì đó quan trọng.

– Sean đã không lúng túng dài dòng, Isabella thổ lộ. Ông ấy cho tôi xem những bức ảnh chụp cậu nhóc Julian, giải thích với tôi rằng ông ấy không tin vào kết luận chính thức liên quan đến cái chết của con trai mình.

– Ông ấy có nói cho chị biết nguyên do không?

– Ông ấy chỉ khẳng định với tôi rằng về phần mình Adriano đã tiếp tục cuộc điều tra, theo cách kín đáo.

Màn đêm dần buông. Trong một vài khu vườn, những tràng đèn thắp sáng các cây thông, bụi cây, hàng rào.

– Cụ thể thì Sean tìm thứ gì khi đến gặp chị?

– Ông ấy muốn xem qua đồ đạc cá nhân của Adriano. Xem liệu trước khi chết anh ấy có để lại manh mối nào liên quan đến những cuộc điều tra của anh ấy không.

– Chị có tin lời ông ấy không?

Chị đáp bằng một giọng nhuốm vẻ buồn bã:

– Không tin cho lắm. Tôi đã nói với anh rồi: Sean bị ảo giác, điên khùng đến mức người ta có cảm giác ông ấy mê sảng hoặc đang nói một mình. Nói thẳng ra thì thậm chí ông ấy còn khiến tôi hơi sợ.

– Tuy nhiên, chị đã để ông ấy vào nhà, anh đoán.

– Đúng thế, nhưng trong lúc ông ấy lục lọi căn nhà, tôi đã dẫn bọn trẻ đi dạo một vòng trong *East River Plaza. Chồng tôi mới là người để mắt trông chừng ông ấy.

Chú Thích

Trung tâm thương mại lớn của Harlem.

– Chị có biết liệu Sean có tìm ra thứ gì đó không?

Chị nở nụ cười ngán ngẩm.

– Dẫu sao chăng nữa, ông ấy cũng để lại một đống hỗn độn ra trò! Ông ấy mở tung các ngăn kéo, ngăn tủ tường, lục lọi khắp nhà. Theo André, ông ấy đi khỏi với lời khẳng định là mình đã tìm thấy thứ cần tìm.

Gaspard thấy cảm giác nóng bừng dâng lên trong anh.

– Và đó là thứ gì vậy?

– Những tài liệu, tôi nghĩ vậy.

– Những tài liệu gì?

– Tôi không rõ. André kể với tôi đó là một hồ sơ đóng bìa cứng mà Sean đã cất vào cái túi da của ông ấy.

Anh gặng hỏi:

– Chị không biết bên trong tài liệu đó có gì sao?

– Không, và tôi cóc cần biết. Dù người ta có làm gì chăng nữa, thì nó cũng sẽ không khiến người chết quay về được, không phải vậy sao?

Gaspard lẩn tránh câu hỏi và đến lượt anh hỏi:

– Chị vẫn còn giữ đồ đạc cá nhân của anh họ chị chứ?

Isabella lắc đầu.

– Chúng tôi đã vứt bỏ hết từ lâu rồi. Thực ra mà nói, ngoại trừ xe ô tô và một chiếc tủ lạnh đẹp của Mỹ, Adriano không sở hữu gì nhiều nhặn.

Gaspard thất vọng hiểu ra rằng mình đã phấn khởi quá sớm và anh sẽ không biết được gì thêm từ cô em họ của Sotomayor.

– Chị có thể hỏi chồng chị giúp tôi, xem liệu anh ấy còn nhớ được điều gì khác không?

Siết chặt chiếc áo phao quanh người, Isabella gật đầu đồng ý. Gaspard ghi lại số di động của anh lên bao thuốc.

– Chuyện này vô cùng quan trọng, anh dằn từng tiếng.

– Khơi lại toàn bộ chuyện này phỏng có ích gì? Cậu nhóc đó đúng là đã chết rồi mà, phải không?

Sans doute, anh trả lời bằng tiếng Pháp trước khi cảm ơn chị vì đã giúp đỡ.

Isabella vừa nhìn vị khách lạ đi xa dần vừa dụi tắt điếu thuốc của mình vào một chậu hoa bằng đất nung. Anh ta đã nói sans doute. Isabella có kiến thức khá vững về tiếng Pháp, nhưng chị chưa bao giờ thực sự hiểu logic của cụm từ này. Mỗi lần nghe thấy nó, chị lại tự hỏi tại sao sans doute lại có nghĩa là peut-êtrecó lẽ mà không phải là sans aucun doutechắc chắn.

Chị phải nhớ hỏi chồng mình chuyện này mới được.

Pénélope

“Sau Picasso, chỉ có Chúa Trời.”

Em thường xuyên giễu cợt câu nói này của *Dora Maar, nhưng hôm nay, những lời mà nàng thơ trước đây của thiên tài xứ Catalunya thổ lộ hiện ra trong em với toàn bộ bi kịch của chúng. Bởi lẽ đó là điều em cảm thấy một cách sâu sắc, em cũng thế. Sau Sean Lorenz, chỉ có Chúa Trời. Và vì em chẳng tin ở Chúa Trời, nên sau Sean Lorenz, chẳng có gì hết.

Chú Thích

(1907-1997): nữ nhiếp ảnh gia trường phái siêu thực, họa sĩ, nhà thơ người Pháp, tình nhân nổi tiếng nhất, tài hoa nhất và được mệnh danh là “nàng thơ muôn thuở” của danh họa Picasso.

Vì cứ mãi trốn tránh bóng ma của anh, em gần như đã quên mình nhạy cảm thế nào đối với hội họa của anh, Sean ạ. Nhưng từ khi cái gã Gaspard Coutances ấy cho em xem bức tranh cuối cùng anh vẽ, nó đã không ngừng ám ảnh em. Phải chăng cái chết thực sự là thế? Trắng xóa, êm dịu, khiến người ta an yên, sáng suốt? Có phải hôm nay anh đang ở chính xứ sở ấy nơi nỗi sợ hãi dường như không còn tồn tại, đúng không Sean? Và con trai chúng ta đang ở cùng anh?

Từ hôm qua, em vẫn bấu víu lấy ý nghĩ này.

Đêm qua, em ngủ rất ngon bởi thấy nhẹ lòng vì đã ra quyết định. Em đã trải qua cả buổi sáng tươi cười để mạng lại chiếc váy hoa của em. Chiếc váy em đã mặc lần đầu tiên khi anh trông thấy em tại New York, cái ngày mùng 3 tháng Sáu năm 1992. Và anh biết sao không? Nó vẫn tạo hiệu ứng riêng! Em cũng tìm lại được chiếc áo khoác da dáng ngắn cũ kỹ của mình, nhưng đôi giày Doc Martens mà em đi hôm ấy thì không còn. Em đã thay chúng bằng đôi bốt da cao cổ màu gỉ đồng mà anh rất thích này, rồi em bước ra phố. Em đã đi tàu điện ngầm tới tận cửa ô Montreuil, rồi em dạo bước hồi lâu, mặc đồ mỏng và ngắn, bất chấp cái lạnh tháng Mười hai.

Đằng sau phố Adolphe-Sax, em tìm thấy bến tàu điện ngầm được cải dụng của tuyến đường Thắt Lưng Nhỏ cũ. Chẳng có gì thay đổi kể từ cái ngày anh đưa em tới đó để cắm trại qua đêm.

Tòa nhà đã đổ nát, bao quanh là những bụi rậm. Những cánh cửa, những khung cửa sổ bị xây bịt lại, nhưng em còn nhớ người ta có thể vào bên trong các bến bằng một cầu thang bộ xuất phát từ phòng kỹ thuật. Đèn pin trên điện thoại bật sáng, em xuống các đường ray. Thoạt tiên, em nhầm hướng rồi em quay trở lại phía sau và tìm ra đường hầm dẫn đến nhà kho cũ kia.

Anh sẽ không tin em đâu: toa tàu cũ vẫn nằm ở đó. Công ty quản lý giao thông công cộng Paris đã có một kho báu trị giá nhiều triệu euro cất giấu trong một nhà ga đổ nát mà không bao giờ có ai biết được!

Chẳng có vết hoen gỉ hay bụi bặm nào xóa được những màu sắc nóng sáng của anh. Và hình ảnh em tiếp tục sáng ngời trên nền tôn thô nhám và bẩn thỉu của toa tàu điện ngầm. Tuổi thanh xuân hoan hỉ của em mạnh hơn thời gian và đêm tối. Mái tóc hoang dại của em ôm ấp thân hình công chúa của em, vấn vít quanh cặp chân đôi mươi của em, vầng ngực em, bụng dưới em. Hình ảnh này chính là thứ em muốn mang theo bên mình.

Em bước vào bên trong toa tàu. Mọi thứ đều bẩn thỉu, đen đúa, phủ một lớp bụi dày, nhưng em không sợ. Em ngồi xuống một trong những chiếc ghế phụ gấp lại rồi mở túi xách ra. Chiếc túi Bulgari đẹp tuyệt bằng da tết hai màu trắng xanh anh đã tặng em mùa xuân trước khi Julian chào đời. Bên trong, em tìm thấy một khẩu Mathurin 73 đã nạp đạn. Đây là một món quà của bố em: vũ khí quân dụng cũ của ông. Để em luôn có thể tự bảo vệ mình. Nhưng hôm nay, tự bảo vệ mình, chính là tự sát.

Nòng súng trong miệng em.

Em nhớ anh, Sean à.

Giá như anh biết em nhẹ nhõm xiết bao khi tới gặp anh. Anh và con trai nhỏ bé của chúng ta.

Chính lúc này đây, một giây trước khi bóp cò, em chỉ tự hỏi tại sao mình đã chờ đợi từng ấy thời gian mới tới gặp hai người.

« Lùi
Tiến »