Có thứ gì đó trong không khí New York khiến cho giấc ngủ trở nên vô dụng.
Simone de BEAUVOIR
1.
Bốn giờ sáng và Madeline đã khỏe khoắn tỉnh táo.
Cô đã ngủ mười tiếng liên tục một giấc ngủ bồi sức nhất: nặng, sâu, được thanh lọc khỏi mọi cơn ác mộng và những bóng ma. Cơn đau ở bụng cô không biến mất, nhưng đã bớt dữ dội. Thậm chí là có thể chịu đựng được. Madeline đứng dậy, mở rèm ra để thấy phố Greenwich đã nhộn nhịp, rồi xa hơn, giữa hai tòa nhà, là dòng chảy âm u mờ mịt và băng giá của sông Hudson.
Cô liếc nhìn điện thoại di động: ba cuộc gọi nhỡ của Bernard Benedick. Ông chủ phòng tranh muốn gì ở cô nhỉ? Dẫu sao chăng nữa, ông ấy cũng phải đợi thôi, vì ngay lúc này cô đang đói ngấu.
Quần jean, áo phông, áo nỉ liền mũ, áo khoác ngắn. Khi rời khỏi phòng khách sạn, cô thấy trên thềm nghỉ chiếc phong bì có dấu niêm phong. Cô mở nó ra trong thang máy: Coutances đã cất công thảo cho cô một bản báo cáo viết tay dài ba trang giấy về cuộc viếng thăm của anh tới nhà Isabella, em họ của Adriano Sotomayor. Và đề nghị cô gọi cho anh ngay khi có thể để thống nhất địa điểm gặp gỡ. Đã quyết tâm không làm gì chừng nào chưa ăn xong bữa sáng, cô gấp các trang thư lại rồi nhét chúng vào túi áo để sau mới đọc.
Khách sạn mới chỉ đang trong cơn gà gật. Vào buổi sáng ngày 24 tháng Mười hai này, các khách lưu trú vốn chỉ quá cảnh tại New York đã xuất phát rồi. Ở quầy lễ tân, hai nhân viên phụ trách hành lý trẻ măng đang bận rộn chất các hòm xiểng lên nhiều xe cộ, một số xe xuất phát ra sân bay, các xe khác tới một khu trượt tuyết trên dãy Appalachia.
Madeline rời tiền sảnh tới phòng khách ở tầng trệt nơi một ngọn lửa đang cháy tí tách trong lò sưởi. Được soi chiếu bởi một thứ ánh sáng khuếch tán, sảnh khách sạn Bridge Club giống với một câu lạc bộ kiểu cổ của Anh: những chiếc trường kỷ Chesterfield và ghế bành nhồi nệm khâu chần, giá sách bằng gỗ gụ, các mặt nạ châu Phi, các đầu động vật hoang dã được nhồi kiểu tự nhiên. Cô ngồi vào một globe chair: một chiếc ghế bành hình cầu mà các đường nét mang đậm chất thập niên 1960 lạc lõng với phần còn lại trong cách bài trí. Một dạng nhân viên phục vụ mặc chế phục màu trắng đột ngột xuất hiện đằng sau cây thông Giáng sinh hoành tráng tọa lạc sừng sững ngay giữa phòng. Madeline liếc qua thực đơn rồi gọi một tách trà đen và phô mai tươi từ sữa dê cùng crostini. Nói cho cùng, ở Paris và ở Madrid lúc này đã hơn 10 giờ sáng. Bất chấp ngọn lửa đang nổ lét đét trong lò sưởi cách mình chưa đầy một mét, cô vẫn thấy lạnh. Cô vớ lấy một chiếc chăn bằng len thô rồi khoác lên người làm khăn choàng.
Một bà lão ngồi sưởi ấm, mình đã trở nên như thế đấy, cô thở dài nghĩ bụng. Rõ ràng là cô không còn bất kỳ grinta nào nữa, không còn bất kỳ ngọn lửa thiêng nào nữa. Cô nhớ lại bài viết trên tạp chí New York Times mà Coutances đã cho cô xem ở Madrid. Người phụ nữ trẻ kiên định, ngùn ngụt tinh thần chiến đấu kiêm nữ chiến binh không kiệm sức và chẳng bao giờ vụn vỡ đã biến đi đâu mất rồi? Cô thầm nhớ lại trong đầu bức ảnh minh họa bài báo: gương mặt linh hoạt hơn, những đường nét kiên định, ánh mắt luôn phục kích. Cô nàng Madeline đó đã bốc hơi mất rồi.
Cô nhớ lại những cuộc điều tra đáng chú ý nhất, tới cảm giác điên rồ đó, cảm giác ngất ngây xâm chiếm khi bạn cứu mạng được ai đó. Cảm giác khoan khoái ngắn ngủi chụp lấy bạn và gây cho bạn ấn tượng, trong khoảnh khắc, rằng một mình bạn có thể cứu chuộc tất cả thói hư tật xấu của loài người. Đời cô chưa từng biết đến điều gì mạnh mẽ hơn. Cô nghĩ đến cô bé Alice Dixon mà cô tìm thấy còn sống sau hàng năm điều tra ròng rã, nhưng kể từ đó cô còn chưa gặp lại. Trước cô nhóc đó, từng có một đứa trẻ khác, Matthew Pears, được cô giành giật khỏi nanh vuốt của một động vật săn mồi. Cũng biệt tăm. Ngay cả khi các cuộc điều tra kết thúc tốt đẹp, cảm giác hưng phấn kia vẫn nhanh chóng nhường chỗ cho một sự vỡ mộng. Một sự nhận thức đột ngột rằng, mặc dù chúng nợ cô mạng sống thì những đứa trẻ kia cũng không phải con cô. Một sự sa sút nhanh chóng khiến cô có nhu cầu tiến hành một cuộc điều tra khác. Một mũi tiêm adrenalin mới giống như thuốc chống trầm cảm. Một vòng luẩn quẩn không hồi kết.
2.
Nhân viên phục vụ lại xuất hiện với cái khay đựng bữa sáng rồi đặt nó xuống mặt bàn thấp trước mặt Madeline. Cô ăn bánh mứt và uống trà trước ánh mắt trống rỗng của một bức tượng thời tiền Christophe Colomb đang đứng gác trên một chiếc kệ đối diện cô. Bản sao vật thờ trong *Bức tượng tai vỡ…
Chú Thích
Tập 6 trong loạt truyện tranh Những chuyến phiêu lưu của Tintin.
Madeline vẫn không thể tin được những điều Coutances kể cho cô. Hay đúng hơn là cô không muốn chấp nhận hệ lụy của điều đó. Tuy thế những sự việc không hề mơ hồ chút nào: trong lúc tin chắc rằng con trai mình vẫn còn sống, Sean Lorenz đã đọc được bài báo nhắc đến một vài cuộc điều tra trước đây của cô. Thế nên ông tin chắc rằng Madeline có thể giúp mình. Ông đã gọi điện đến Đội Án Tồn thuộc Sở Cảnh sát New York mà không được, rồi ông tranh thủ chuyến đi cuối cùng của mình đến New York để tới gặp cô bằng xương bằng thịt. Ở đây, ông đã bị quật ngã bởi một cơn trụy tim rồi quỵ xuống ngay giữa Phố 103. Cách văn phòng cô chỉ vài chục mét.
Chỉ trừ có điều Madeline chẳng biết gì về toàn bộ chuyện này. Cách đây một năm, vào đúng thời điểm ấy, cô đã không còn làm việc cho Sở Cảnh sát New York nữa rồi. Những triệu chứng trầm cảm ở cô khởi phát vào giữa mùa thu. Cuối tháng Mười một, cô xin thôi việc rồi quay về Anh. Tua lại bộ phim này phỏng có ích gì? Ngay cả khi hồi đó cô gặp được Lorenz, thì chuyện đó cũng hoàn toàn không thay đổi được gì. Cô sẽ chẳng tin lời nào trong những lời khẳng định của ông, không hơn gì ngày hôm nay. Cô sẽ chẳng thể giúp ông, không hơn gì ngày hôm nay. Cô không phụ trách vụ án này và không có bất kỳ phương cách nào để điều tra.
Trong khi đang ăn nốt món phô mai tươi, cô bỗng đưa tay ôm bụng. Khỉ thật. Cơn đau đã trỗi dậy. Bụng cô trướng lên như thể cô vừa tăng năm cân trong vòng hai phút. Cô kín đáo nới thắt lưng rộng ra một nấc rồi móc lấy một viên Paracetamol trong túi áo khoác.
Những suy nghĩ của cô lại quay trở về với Gaspard. Ngay cả khi trước mặt anh cô khẳng định điều ngược lại thì Coutances đã dụ được cô. Cô hoàn toàn không đồng tình với những kết luận của anh, nhưng cô phải công nhận ở anh có một sự ngoan cố nhất định và một trí thông minh thực thụ. Chỉ với chút ít tư liệu, anh đã nêu những câu hỏi xác đáng và bước đầu tìm ra những manh mối mà rõ ràng các nhà điều tra dày dạn kinh nghiệm hơn đã để vuột mất.
Cô lấy từ túi áo ra bản báo cáo triệt để và có tìm tòi mà anh đã thảo riêng cho cô. Ba tờ giấy được viết kín hai mặt với sự chuyên cần của học trò và bằng nét chữ nắn nót gần như của phụ nữ – tròn trịa, với những đường vòng to cộ rộng lượng – không mấy khớp với cá tính của nhà soạn kịch. Đọc xong một lượt, Madeline tự hỏi liệu có nên tin vào lời khẳng định theo đó Sean đã rời khỏi nhà Isabella cùng các tài liệu vốn thuộc về Sotomayor hay không. Nếu chuyện này là đúng, không ai tìm lại được chúng sao? Gần xác Lorenz hay trong phòng khách sạn của ông? Sau một giây ngẫm nghĩ, cô bấm số điện thoại của Bernard Benedick.
Ông chủ phòng tranh không đợi điện thoại đổ chuông lâu đã nhấc máy. Và ông đang giận dữ.
– Cô Greene đấy hả? Cô nói lời mà chẳng giữ lấy lời gì cả.
– Ông đang nói về chuyện gì thế?
– Cô thừa biết rồi còn gì: về bức tranh thứ ba! Bức tranh mà cô đã giữ cho riêng mình! Đúng là cô đã lừa bịp tôi với…
– Tôi chẳng hiểu ông đang nói gì cả, cô ngắt lời ông. Tôi đã nhờ anh Coutances trả lại cho ông cả ba bức tranh rồi mà.
– Anh ta chỉ cho người giao tới tôi hai bức thôi!
Cô thở dài. Coutances đã ngậm tăm không báo cho cô biết!
– Tôi sẽ xem anh ta đã gặp phải chuyện gì, cô hứa. Trong lúc chờ đợi, ông hãy làm rõ giúp tôi việc này. Ông từng nói với tôi rằng khi Lorenz qua đời ông đã thu dọn đồ đạc tư trang của ông ấy tại khách sạn, có đúng không nhỉ?
– Chính xác, quần áo và cuốn sổ lịch.
– Tại khách sạn Bridge Club ở khu TriBeCa phải không?
– Đúng thế, thậm chí tôi đã nài nỉ để được tự mình đi lục tìm trong phòng khách sạn của anh ấy.
– Ông không còn nhớ số phòng nữa đâu nhỉ?
– Cô đùa hay sao? Chuyện cách đây đã một năm rồi!
Một ý tưởng khác thoáng qua đầu cô.
– Khi những nhân viên cứu thương cố gắng hồi tỉnh Lorenz trên Phố 103, ông có biết liệu họ đã tìm thấy đồ đạc cá nhân gì trên người ông ấy không?
Benedick cả quyết:
– Anh ấy chẳng mang theo gì ngoài chiếc ví.
– Ông chưa từng nghe nói đến một chiếc cặp xách hay túi đeo bằng da sao?
Im lặng hồi lâu.
– Đúng là Sean có một chiếc túi đeo chéo không bao giờ rời anh ấy. Một mẫu Berluti cũ mà vợ anh ấy tặng cho. Tôi không hề biết cái túi ấy đã biến đi đâu. Tại sao cô lại hỏi như thế? Cô vẫn đang tiếp tục điều tra sao? Chính là vì bài báo trên tờ Parisien chăng?
– Bài báo nào kia?
– Cô tự xem nhé. Trong lúc chờ đợi, tôi yêu cầu hai người hoàn trả ngay cho tôi bức tranh cuối cùng trong bộ ba!
– Tôi nghĩ ông không thể yêu cầu bất cứ điều gì đâu, Madeline bực dọc dập máy không nói thêm lời nào.
Cô day day hai mí mắt trong lúc cố gắng lần lại lý trí của mình. Nếu câu chuyện Isabella kể cho Coutances nghe là thật, kể từ thời điểm Sean lấy lại tài liệu tại nhà Sotomayor cho đến lúc ông qua đời chưa đầy hai mươi tư giờ. Nhưng thế là đủ để họa sĩ có thời gian chuyển chúng lại cho ai đó. Hoặc giả, đơn giản là ông đã giấu chiếc túi đeo chéo của mình đi. Hành vi này khá tương ứng với hình dung của cô về những ngày cuối đời của Lorenz: một con người cuồng tưởng, biến loạn, hoang tưởng. Nhưng giấu ở đâu kia chứ? Sean không còn điểm mốc nào tại New York nữa; chẳng còn gia đình; chẳng còn bè bạn; chẳng còn nhà cửa. Còn lại một giải pháp. Giải pháp đơn giản nhất: Sean đã giấu những tài liệu đó trong phòng khách sạn.
Thử làm điều gì đó. Ngay lúc này.
Madeline đứng dậy tiến về phía tiền sảnh. Đằng sau quầy gỗ bề thế là Lauren Ashford – như bảng tên cô ghi rõ – đang đứng sừng sững, cô gái cao lớn quá mức và xinh đẹp quá mức dường như đang một mình là hiện thân cho tiện nghi và sự tinh tế của Bridge Club.
– Chào chị.
– Chào cô. Tôi là Greene ở phòng 31, Madeline tự giới thiệu.
– Tôi có thể giúp gì được cho chị?
Giọng Lauren lịch sự, nhưng không mặn mà. Cô ta mặc chiếc váy màu xanh thẫm kỳ dị nên xuất hiện trên bục diễn của Tuần lễ Thời trang hơn là trong tiền sảnh khách sạn. Madeline nghĩ tới trang phục của Nữ hoàng Bóng đêm trong buổi trình diễn vở Cây sáo thần mà cô từng xem tại Covent Garden.
– Cách đây một năm, tuần từ 19 tháng Mười hai, họa sĩ Sean Lorenz đã lưu lại khách sạn của các vị…
– Có thể như vậy lắm, cô ta nói mà không thèm ngẩng đầu lên khỏi màn hình máy tính.
– Tôi muốn biết bấy giờ ông ấy ở phòng nào.
– Thưa chị, tôi không thể tiết lộ dạng thông tin này được.
Lauren nói dằn từng âm tiết. Nhìn gần, kiểu tóc của cô ta có vẻ màu mè đến khó tin, vô số những bím và những dải tết được ghim lại bằng đủ loại cặp và kẹp có đính những hạt đá lấp lánh.
– Tôi hiểu, Madeline thừa nhận.
Thực tế, cô chẳng hiểu gì hết. Thậm chí cô còn cảm thấy một cơn hung hăng đang trào dâng: nắm tóc Nữ hoàng Bóng đêm rồi dộng thật mạnh cho cô ta vỡ sọ trên màn hình máy tính kia.
Cô rút lui rồi ra vỉa hè hút một điếu thuốc. Trong khi một nhân viên phụ trách hành lý mở cánh cửa lớn, cái lạnh bất đồ chụp lấy cô. Cái giá phải trả, cô nghĩ trong lúc tìm bật lửa khắp các túi quần túi áo. Trong màn đêm địa cực, cô cảm thấy điện thoại của mình đang rung lên: hai hồi chuông báo hai tin nhắn đến liên tiếp.
Đầu tiên là một tin nhắn dài ngoằng từ Louisa, nữ y tá người Tây Ban Nha của bệnh viện chuyên ngành hiếm muộn, nó báo cho cô biết là mười sáu noãn bào mà người ta trích của cô đều có thể sử dụng được. Theo Louisa, chuyên viên sinh học của bệnh viện đề xuất thụ tinh phân nửa số đó với tinh trùng của một người hiến vô danh và cho đông lạnh nửa còn lại.
Madeline đồng ý và tranh thủ đề cập đến những cơn đau đang quấy nhiễu cô. Nữ y tá hồi âm tức khắc:
Đó có thể là do chị bị nhiễm trùng hoặc kích thích quá mức. Hãy qua bệnh viện gặp bọn em.
Chị không thể, Madeline viết, chị đang không ở Madrid.
Chị đang ở đâu? Louisa hỏi.
Madeline thà không trả lời. Tin nhắn thứ hai có vẻ là một tin tốt lành. Nó đến từ Dominic Wu.
Chào Madeline. Nếu em vẫn đang ở quanh đây, tầm 8 giờ hãy qua Hoboken Park gặp anh nhé.
Cô chộp ngay lấy cơ hội: Chào Dominic. Đã dậy rồi ư?
Anh đang trên đường tới phòng gym, nhân viên FBI trả lời.
Madeline ngước mắt nhìn trời vẻ ngán ngẩm. Cô đã đọc được ở đâu đó rằng, ngay từ 5 giờ sáng, New York đã tiêu thụ điện rất mạnh, hẳn là phần nào liên quan đến hoạt động của các phòng gym nơi mọi người chăm chỉ tới luyện tập càng lúc càng sớm hơn.
Anh có thông tin cho em hả?
Không nói qua điện thoại nhé, Madeline.
Hiểu rằng mình sẽ không moi được gì thêm, cô kết thúc cuộc trò chuyện: OK, hẹn anh lát nữa.
Điếu thuốc trên môi, cô đành thừa nhận mình đã đánh mất bật lửa. Cô đang định quay vào bên trong thì một ngọn lửa dài phụt lên trước mắt cô, trong khoảnh khắc ngắn ngủi đã chọc thủng cái lạnh giá buốt của buổi sớm mai.
– Tôi nhặt được nó trong phòng khách. Chị đã để rơi nó trên ghế bành, nhân viên phụ trách hành lý trẻ tuổi nói đoạn đưa ngọn lửa sát vào mặt cô.
Madeline châm thuốc rồi gật đầu ra hiệu cảm ơn cậu ta.
Chàng trai chưa đến hai mươi. Trước đó ít lâu cô đã để ý đến anh chàng: ánh mắt sáng, mớ tóc bất trị, nụ cười lém lỉnh kiểu trai lơ hẳn sẽ khiến các cô gái phát điên.
– Sean Lorenz đã ở phòng 41, anh chàng thông báo trong lúc trả lại cô chiếc Zippo.
3.
Thoạt tiên Madeline ngỡ mình nghe nhầm và đề nghị anh chàng nhắc lại.
– Ông họa sĩ đó ở phòng 41, anh chàng nhân viên phụ trách hành lý tuyên bố. Một căn góc tương tự với căn phòng chị đang ở, nhưng nằm ở tầng trên.
– Làm cách nào cậu biết được chuyện này?
– Tôi chỉ căng tai ra thôi. Tối hôm qua, ở quầy lễ tân, anh Coutances hỏi Lauren cùng câu này và đó là câu trả lời của chị ấy.
Madeline không thể tin được điều này: Coutances đã thành công trong việc bắt bà cô bộ tịch ở quầy lễ tân kia mở miệng! Mẹ kiếp! Cô hình dung rõ ràng cảnh tượng: với chiếc vest Smalto, ánh mắt giống chó Cocker và mùi oải hương, Coutances hẳn đã phải trình diễn một màn quyến rũ thống thiết với cô nàng trẻ măng đó. Nửa ông già khoan dung thích chơi trống bỏi nửa tay nhào lộn đường phố đã luống tuổi. Và trò này đã phát huy tác dụng.
– Anh ta còn hỏi cô ta chuyện gì khác không?
– Anh ta muốn tham quan căn phòng đó, nhưng Lauren không đồng ý.
Madeline không khỏi cảm thấy một sự thỏa mãn nhỏ nhen: sức hấp dẫn của Coutances đâu phải là không giới hạn.
– Cậu tên gì?
– Kyle, anh chàng nhân viên phụ trách hành lý đáp.
– Cậu làm việc ở đây được bao lâu rồi?
– Được một năm rưỡi, nhưng chỉ vào dịp cuối tuần và trong kỳ nghỉ thôi.
– Thời gian còn lại, cậu ở trường đại học hả?
– Vâng, ở Đại học New York.
Ánh mắt anh chàng mang sắc xanh lục thủy như xuyên thấu bạn và nụ cười lanh lợi kiểu quỷ quyệt hơn là nhân từ.
– Mùa hè năm ngoái, một phần tầng năm đã bị ngập lụt, cậu chàng kể lại như thể Madeline đã đặt cho cậu ta một câu hỏi. Thực sự là ngập nặng.
Bất chấp vẻ chưa trưởng thành của cậu ta, Kyle vẫn khiến cô lúng túng. Một trí tuệ sắc bén lấp lánh trong đôi mắt màu khoáng olivin nhưng trong đó cũng phảng phất nét đe dọa.
– Rốt cuộc, là do điều hòa bị hỏng, cậu ta kể tiếp. Một đường ống thoát nước bị tắc. Đã phải làm lại trần của nhiều phòng trong đó có phòng 41.
– Tại sao cậu lại kể cho tôi nghe chuyện này?
– Công việc sửa chữa kéo dài ba tuần. Đúng là may: tôi có mặt ở đó khi đám thợ xây tìm thấy thứ gì đấy trong lớp trần giả. Một chiếc túi đeo chéo bằng da. Vậy nên tôi đã xung phong xin mang nó xuống quầy lễ tân.
– Nhưng cậu đã giữ lại chiếc túi đó cho riêng mình, Madeline đoán.
– Đúng thế.
Không được để đứt mạch. Một phần khác vừa bắt đầu. Hiện tại, đằng sau vẻ quyến rũ ngây thơ của chàng thanh niên này, cô đoán ra thứ khác: sự toan tính, sự đồi bại, điều gì đó lạnh lùng.
– Đó thực sự là một chiếc túi xách rất đẹp, ngay cả khi nó cũ rích và chi chít những vệt màu vẽ. Nhưng đó chính là thứ ngày nay mọi người đều muốn, chị có để ý không? Chẳng ai muốn cái túi mới tinh nữa cả. Như thể tương lai chính là quá khứ vậy.
Cậu ta để câu nói của mình phát huy tác dụng.
– Tôi đã kiếm được 900 đô trên eBay. Chiếc túi đã ra đi tức khắc. Tôi biết chiếc túi thuộc về ai vì tên của chủ nhân được thêu bên trong, như thể ông ấy được người ta tặng nó vậy.
– Cậu đã mở chiếc túi ra chứ?
– Tôi đã nghe nhắc tới Sean Lorenz, nhưng thành thực mà nói, tôi không biết những bức tranh của ông ấy. Vậy nên tôi đã tới xem vài bức tranh của ông ấy ở Bảo tàng Whitney và tôi đã hết sức kinh ngạc. Chúng khiến chúng ta cảm thấy bất ổn bởi chúng…
– Cậu đừng nghĩ là buộc phải tụng thuộc lòng cho tôi nghe những gì cậu đọc được trên Wikipedia, cô ngắt lời cậu ta. Cứ nói cho tôi biết cậu tìm thấy gì trong cái túi đó là được rồi.
Nếu Kyle phật lòng, cậu ta cũng không để lộ ra ngoài. Cậu ta trả lời cô bằng giọng giả bộ ngây thơ:
– Những thứ kỳ lạ. Rùng mình đến nỗi tôi biết sớm muộn gì cũng có ngày ai đó quan tâm đến chúng. Vậy nên hôm qua, khi nghe thấy câu chuyện của anh Coutances, tôi bỗng nhiên hiểu ra, cho nên tôi đã quay về nhà để lấy thứ này.
Giống như một người thích khoe thân hay một người bán đồng hồ rong, cậu ta mở phanh chiếc áo Barbour có lớp lót chần ra để lộ một cái túi nhỏ dày dặn bằng giấy bồi.
– Đưa cho tôi thứ này đi, Kyle. Tôi đang điều tra cùng Coutances. Anh ta hay tôi cũng vậy thôi mà.
– Đúng thế, cũng vậy thôi mà. Vậy thì 1.000 đô nhé. Đó là cái giá mà tôi tính đòi anh ta.
– Tôi là cảnh sát, cô nói.
Nhưng để gây ấn tượng với Kyle thì cần nhiều hơn thế.
– Bố tôi cũng là cảnh sát đây.
Cô ngập ngừng giây lát. Một trong những lựa chọn là túm cổ cậu ta và dùng vũ lực đoạt lấy hồ sơ từ cậu ta. Về thể chất, cô cảm thấy mình làm được việc ấy, nhưng điều gì đó ở Kyle thực sự khiến cô thấy sợ. Quỷ dữ ẩn náu trong một vài con người, bà cô thường nói vậy. Nếu đúng là thế, Kyle thuộc típ người đó và tất cả những gì cô đang mưu toan chống lại cậu ta đều sẽ quay ra chống lại cô.
– Tôi không có sẵn 1.000 đô ở đây.
– Cách đây chưa đầy ba mươi mét có máy rút tiền đó, cậu ta lưu ý, vẫn tươi cười chỉ về phía ánh đèn của *Duane Reade, bên kia con phố.
Chú Thích
Hệ thống cửa hàng tạp hóa thường mở cửa 24/24 giờ (TG).
Madeline dùng đầu mẩu điếu thuốc sắp hết châm một điếu khác rồi đầu hàng. Cậu nhóc này không phải đứa trẻ bình thường. Đó là một công cụ của cái xấu.
– OK, ở đây chờ tôi nhé.
Cô băng qua phố Greenwich rồi đi bộ tới tận máy rút tiền nằm trong hành lang của cửa hàng tạp hóa. Trước máy rút tiền, cô tự hỏi liệu thẻ tín dụng có cho phép cô rút chừng ấy tiền mặt không. Thật may, khi cô bấm mã số thẻ, những tờ tiền mệnh giá 50 đô tuôn ra mà không rục rịch phản đối gì. Đã về đến trước khách sạn, cô bỗng tự nhủ rốt cuộc toàn bộ chuyện này hơi quá dễ dàng. Cô không tin vào những món quà từ trên trời rơi xuống. Cô đang băng qua phố thì điện thoại của cô rung lên. Benedick. Một tin nhắn không chứa đựng gì ngoài liên kết siêu văn bản dẫn tới một bài viết trên tờ Parisien. Trên chiếc iPhone của cô, thậm chí không cần mở liên kết, lời mào đầu của bài báo vẫn xuất hiện:
Cái chết bi thảm của Pénélope Kurkowski, người mẫu ngôi sao thập niên 1990 kiêm nàng thơ của họa sĩ Sean Lorenz.
Chết tiệt…
Trong khi vô số thông tin đang chen chúc lồng ghép vào nhau trong đầu Madeline, Kyle vẫn hối thúc cô.
– Chị có tiền chưa?
Cậu nhóc đã hết ca làm và đang cưỡi trên chiếc xe đạp đua. Cậu ta cầm lấy mớ tiền nhét vào túi áo trước khi chìa cho cô cái túi nhỏ bằng giấy bồi. Chỉ vài cú nhấn pêđan, cậu ta đã mất hút vào đêm tối.
Trong giây lát, Madeline nghĩ cậu ta đã lừa cô, và cô vừa mắc lỡm như một con ngốc.
Nhưng không phải vậy. Cô mở chiếc túi nhỏ và bắt đầu đọc những thứ có trong đó dưới ánh sáng đèn đường.
Và cô đã gặp Vua Cây Trăn như thế đó.
17
Vua Cây Trăn
Bố ơi, bố ơi, nó giữ chặt con đây này!
Vua Cây Trăn làm con đau.
Johann Wolfgang von GOETHE
1.
Ngồi xuống một chiếc ghế bành trong phòng khách của khách sạn Bridge Club, Madeline có thể nghe thấy máu mình rần rật trong tĩnh mạch cảnh.
Rải rác trên mặt bàn thấp phía trước cô là những tờ giấy trong hồ sơ chết chóc mà cô đã dành một giờ để tham khảo. Những tài liệu lưu trữ gớm ghiếc, chắc hẳn được Adriano Sotomayor lập thành, tập hợp hàng chục bài báo – một vài bài được trực tiếp cắt ra từ báo giấy, những bài khác được tải xuống từ Internet –, nhưng cũng có cả những đoạn ghi âm được chép ra, những báo cáo khám nghiệm tử thi hay những bản phô tô trích đoạn các tác phẩm về những kẻ sát nhân hàng loạt.
Tất cả những tài liệu này đều liên quan đến một loạt vụ bắt cóc và giết hại trẻ em xảy ra từ đầu năm 2012 đến mùa hè 2014 tại các bang New York, Connecticut và Massachusetts. Bốn vụ án mạng vừa kinh khủng vừa kỳ lạ liên quan đến nhau bởi có chung một cách thức tiến hành khiến người ta phải bối rối.
Loạt vụ việc này bắt đầu từ tháng Hai năm 2012 với cậu bé Mason Melvil, hai tuổi, bị bắt cóc trong một công viên tại Shelton thuộc hạt Fairfield. Mười hai tuần sau xác cậu bé mới được tìm thấy gần một cái ao ở Waterbury, một thành phố khác thuộc bang Connecticut.
Tháng Mười một năm 2012, Caleb Coffin, bốn tuổi, mất tích khi đang chơi trong vườn nhà tại Waltham, Massachusetts. Ba tháng sau xác cậu bé được những người dạo bộ phát hiện trong một vùng đất ẩm ướt trên Núi Trắng.
Tháng Bảy năm 2013, vụ bắt cóc khiến người ta kích động: Thomas Sturm, bị bắt cóc giữa đêm tại Long Island ngay trong nhà bố cậu bé là Matthias Sturm, một kiến trúc sư người Đức kết hôn với một người dẫn chương trình ngôi sao của kênh ZDF. Vụ việc đã được truyền thông Đức đăng tải rất nhiều. Suốt một thời gian, người cha bị tình nghi vì bấy giờ cặp đôi đang ly thân và thủ tục ly dị của họ đang căng thẳng. Báo chí lá cải của Đức liền nổi trận lôi đình – BildHình ảnh hàng đầu – và đả phá Sturm bằng những tiết lộ nhơ nhớp về cuộc sống riêng của anh. Thậm chí nói ngắn gọn là vị kiến trúc sư đó đã bị bỏ tù, nhưng đến đầu mùa thu, xác Thomas đã được nhận dạng gần hồ Seneca thuộc bang New York. Đến lúc này, chính tờ Spiegel đã lần đầu tiên gán cho con thú săn mồi bí ẩn biệt danh Erlkönig, Vua Cây Trăn, dựa trên bài thơ của Goethe.
Sự việc tương tự diễn ra vào tháng Ba năm 2014 khi cậu bé Daniel Russell bị bắt cóc trong một công viên tại Chicopee thuộc bang Massachusetts, trong một khoảnh khắc lơ là của cô trông trẻ. Vài tuần sau, xác cậu bé được tìm thấy, lần này là trong khu vực đầm lầy duyên hải Old Saybrook, một địa điểm nghỉ dưỡng ven biển thuộc bang Connecticut.
Và rồi… chẳng còn vụ nào nữa. Bắt đầu từ mùa hè 2014, Vua Cây Trăn đã biến mất khỏi các ra đa.
2.
Madeline nhấp một ngụm Phổ Nhĩ, thứ trà đen hương sen mà cô uống từ khi thức giấc. Bây giờ là 6 giờ sáng. Phòng khách của khách sạn Bridge Club bắt đầu nhộn nhịp. Lò sưởi lớn đóng vai trò như một cục nam châm, hút vào quanh nó những khách lưu trú dậy sớm nhất ngồi uống cà phê trước vũ điệu của những ngọn lửa.
Cô day day hai thái dương rồi cố gắng triệu hồi các ký ức. Trong những năm tháng sống tại New York, cô đã từng nghe nhắc tới Vua Cây Trăn qua các kênh truyền thông, nhưng chỉ còn lưu giữ những hồi ức mơ hồ: tên sát nhân hoành hành trong vòng hai năm, mối liên hệ giữa những vụ giết người khác nhau đã không được thiết lập ngay tức khắc, bấy giờ cô đang không làm việc trong phòng ban nào liên quan đến vụ án, vân vân.
Tuy nhiên, ở thời điểm đó một sự việc cũng đã khiến cô lưu tâm bởi nó tỏ ra lạc lõng trong dạng tội ác này: trong bốn đứa trẻ đó không một cái xác nào phải chịu ngược đãi. Không bị xâm hại, cũng không có dấu vết của ngược đãi, cũng không có dàn cảnh gì đặc biệt. Các báo cáo khám nghiệm tử thi mà lúc này đang ở ngay trước mắt cô khẳng định rằng, trong lúc bị giam giữ, các tù nhân được nuôi dưỡng đầy đủ. Xác chúng sạch sẽ, được xức nước hoa, được bôi kem; tóc chúng được cắt, quần áo được giặt sạch. Cái chết của chúng có lẽ không đau đớn vì nguyên nhân là do dùng thuốc quá liều. Ghi nhận này không giúp hành vi của tên sát nhân bớt phần đốn mạt, mà nó khiến cho sự diễn giải những hành động của hắn trở nên phức tạp hơn.
Khi đọc hồ sơ này, Madeline đoán rằng toàn bộ các nhà tội phạm học, bác sĩ tâm lý hay chuyên gia phân tích hồ sơ được FBI nhờ cậy hẳn phải chịu thất bại trong việc cố gắng xác định danh tính và bắt giữ kẻ bệnh hoạn này. Nhưng nếu Vua Cây Trăn không còn ra tay kể từ hai năm nay, thì đó cũng chẳng phải nhờ chút công lao nào của cảnh sát.
Một ngụm trà nữa trong lúc ngọ ngoạy trên ghế bành để giảm bớt những cơn đau thắt nơi bụng cô. Không có tới ba mươi sáu lý do để giải thích cho việc một tên giết người hàng loạt ru ngủ bản năng của hắn. Lý do thường gặp nhất, hoặc hắn đã chết, hoặc hắn đã bị bỏ tù vì một nguyên do khác. Ở đây chúng ta có rơi vào một trong những mô típ này không nhỉ?
Nhất là, một câu hỏi khác đang giày vò cô. Vụ án Vua Cây Trăn với vụ bắt cóc Julian Lorenz có liên quan gì tới nhau? Nếu Sean chỉ lấy lại duy nhất hồ sơ này, ông ấy hẳn phải nghĩ Adriano Sotomayor đã đinh ninh rằng Vua Cây Trăn chính là kẻ đã bắt cóc con trai ông. Chỉ trừ có điều nội dung các tài liệu không xác nhận gì cho kết luận này. Không một bài báo nào, dù xa dù gần, nhắc đến cậu bé Julian.
Đành rằng các mốc ngày tháng có thể khớp nhau, nhưng viên cảnh sát đã lập luận thế nào để đi tới kết luận rằng Julian có thể là nạn nhân thứ năm của tên sát nhân này? Và tại sao người ta vẫn chưa tìm ra xác cậu bé?
Những câu hỏi tích tụ lại mà không có bước đầu giải thích dù nhỏ nhất. Trong tâm trí Madeline, toàn bộ những câu hỏi của cô tạo thành một mớ bòng bong, một mê cung nơi Madeline tìm kiếm vô vọng *cuộn chỉ của Ariadne. Nhưng chắc chắn chẳng có gì để tìm hiểu. Bấy giờ Lorenz đã không còn tỉnh táo; còn Sotomayor vốn chỉ là một nhà điều tra tầm thường, tầm cỡ không bao giờ vượt quá cấp bậc trung úy. Ồng đã lo lắng quá mức với câu chuyện này, dễ dãi tặng cho mình cảm giác hồi hộp của cuộc vây bắt trên giấy tên sát nhân hàng loạt mà ông đã vô vọng tìm cách kết nối với vụ bắt cóc Lorenz Con.
Chú Thích
Theo truyền thuyết Hy Lạp, hoàng tử Theseus đã nhờ vào cuộn chỉ do công chúa Ariadne trao cho mới có thể thâm nhập vào mê cung vốn là sào huyệt của quái vật đầu người mình bò Minotaur để tiêu diệt hắn rồi trở ra ngoài, bình an vô sự.
Cô để tâm trí mình phiêu bạt và dựng lên những giả thiết điên rồ nhất. Thế nếu Beatriz Muñoz chính là Vua Cây Trăn thì sao? Xét theo lối tiên nghiệm, chuyện này không hề vô lý. Ngày tháng của những vụ giết hại dĩ nhiên có thể trùng khớp, nhưng Madeline sẽ không bao giờ có thể kiểm chứng được điều này. Chuyển từ suy nghĩ này sang suy nghĩ khác, cô nhớ lại một trong những giả thuyết của Coutances và lọc kỹ nó qua những phát hiện mới đây của mình: phải chăng Sotomayor đã bị chính Vua Cây Trăn sát hại? Không, cô đang suy nghĩ vớ vẩn rồi. Hay đúng hơn, cô đang tìm cách giải một phương trình có quá nhiều ẩn số. Tuy thế cô vẫn không chịu bỏ cuộc mà quyết định đào sâu thêm.
3.
Madeline vớ lấy điện thoại rồi tìm lại trên Internet bài báo gốc của tờ Spiegel chính là chỗ đầu tiên đặt cho kẻ sát nhân biệt danh “Erlkönig”. Cô nhờ cậy Google Dịch và vốn tiếng Đức cũ mèm từ thời trung học của bản thân để dịch bài báo gói gọn ở một bài phỏng vấn rất ngắn với Karl Doepler, một cựu cảnh sát của BPolcảnh sát liên bang Đức tại Munich. Cái gã – rõ ràng là một “khách hàng ngon nghẻ” – vốn là cố vấn cho nhiều kênh thông tin đại chúng.
Trong lúc xem lướt qua những website thông tin khác, Madeline tìm thấy một bài báo đầy đủ và thú vị hơn nhiều trong tờ nhật báo Die Welt, một bài phỏng vấn xen kẽ giữa Doepler và một giáo sư văn hóa người Đức. Một cuộc trao đổi ở tầm cao trong đó hai người đàn ông diễn giải sự đối chiếu giữa cách thức tiến hành của tên sát nhân người Mỹ với bộ mặt của Erlkönig trong văn hóa dân gian Đức.
Mặc dù Goethe không phải người sáng tạo ra thuật ngữ này, nhưng chính là bài thơ dài của ông, được viết vào cuối thế kỷ 18, đã khiến cho nhân vật Vua Cây Trăn trở nên nổi tiếng. Tờ nhật báo đã đăng lại vài câu thơ trong tác phẩm này, hùng tráng và nồng nhiệt, tái hiện chuyến cưỡi ngựa của một người cha cùng đứa con trai còn nhỏ băng qua một khu rừng rậm rạp và âm u. Một vùng đất đầy hăm dọa, với bộ dạng một sinh vật nguy hiểm và khiến người ta e sợ.
Văn bản của Goethe xoay quanh hai cuộc đối thoại. Trước hết là cuộc đối thoại giữa một cậu nhóc đang khiếp sợ con quái vật với cha cậu, người đang tìm cách trấn an con trai mà không được. Rồi cuộc đối thoại thứ hai, náo loạn hơn, trong đó Vua Cây Trăn trực tiếp chất vấn đứa trẻ để kéo nó vào lưới. Đậm dấu ấn dụ dỗ nguy hại ngay từ đầu, lời lẽ của con quái vật nhanh chóng nhường chỗ cho sự hung ác, đe dọa và bạo lực:
Ta yêu ngươi, khuôn mặt xinh xẻo của ngươi khiến ta mê say,
Và nếu ngươi không muốn, ta sẽ dùng vũ lực.
Nhìn thấy con trai sợ đến thất kinh, người cha cố gắng giúp cậu bé thoát thân, thúc ngựa phi nước đại đến rã dây cương để chạy khỏi khu rừng.
Nhưng đoạn cuối bài thơ vẫn đóng dấu số phận bi thảm của đứa trẻ:
Người cha ôm trong tay đúa trẻ đang rên xiết,
Khó nhọc lắm ông mới đến được nơi nghỉ của mình;
Trong vòng tay ông đứa trẻ đã chết.
Bản văn đã gợi cảm hứng cho những nghệ sĩ khác – Schubert từ đó viết nên một bản Lied nổi tiếng –, nhưng nhất là, với những chủ đề liên quan đến sự tấn công và bắt cóc, nó đã được sử dụng làm nền cho cả một hướng phân tích tâm lý và tâm thần học, ở thế kỷ 20. Đối với một số người, bài thơ là phép ẩn dụ rõ ràng về một vụ xâm hại. Những người khác lại thấy ở đó sự gợi nhắc về tính hai mặt của người cha, lúc thì được giới thiệu như một người bảo hộ, khi thì khoác trang phục của một kẻ tra tấn.
Madeline tiếp tục đọc. Trong phần tiếp theo của bài báo, hai tác giả nhấn mạnh về việc mỗi nạn nhân của Erlkönig đều được tìm thấy gần một địa điểm có nước, gần nơi cây trăn mọc. Vậy là tuân theo một lời giải thích có liên quan chặt chẽ đến thực vật học hơn là đến điều tra của cảnh sát.
Cây trăn, bài báo nhắc lại, là loài cây thân gỗ lớn mọc trên nền đất ẩm ướt: đầm lầy, bãi lầy, những bờ bãi ven dòng nước, những tầng rừng thấp mà ánh mặt trời không bao giờ chiếu sáng. Nhất là sức kháng cự mạnh mẽ với độ ẩm đã biến nó thành một loại gỗ được ưu tiên cho việc xây dựng những ngôi nhà sàn, những bến nổi, một vài loại đồ gỗ nội thất và các nhạc cụ. Vượt lên những chất lượng vật lý, nó còn được gắn cho cả một huyền thoại. Ở Hy Lạp, cây trăn là loài cây tượng trưng cho cuộc sống sau cái chết. Trong văn hóa Celtic, các đạo sĩ biến nó thành biểu tượng của sự phục sinh. Dân Scandinavia sử dụng cây trăn để sản xuất những cây đũa thần và khói của nó hỗ trợ việc thực hiện những phép thuật. Ở một số vùng lãnh thổ khác, cây trăn – với thứ nhựa đỏ au tựa máu – là một loài cây thiêng không ai được chặt.
Từ toàn bộ chuyện này có thể rút ra ghi nhận cụ thể nào đây? Làm thế nào để kết nối hệ biểu tượng phong phú này với động cơ của tên sát nhân? Bài báo hết sức thận trọng trong việc đưa ra bất cứ kết luận nào dù là nhỏ nhất. Khi ngắt kết nối mạng, Madeline có cảm tưởng đã vượt qua được một vòng nữa trong một vùng đất không bóng người mịt mờ và thù nghịch. Lãnh thổ của Vua Cây Trăn không để người ta dễ dàng xâm nhập.
18
Thành phố sương giá
Tôi biết cuộc đời mình là chuyến đi triền miên trên một mặt biển mịt mờ.
*Nicolas de STAEL
Chú Thích
(1914-1955): họa sĩ người Pháp gốc Nga, một trong những danh họa của thế kỷ 20.
1.
Ngay lúc 7 giờ sáng, Madeline đã đứng đợi trước hãng FastCar nằm ở ngã tư phố Gansevoort giao cắt phố Greenwich.
Cô tự nhủ thủ tục thuê một chiếc ô tô ở Mỹ sẽ đơn giản thôi, nhưng vì không đặt trước qua mạng nên cô phải chịu đựng những bước tiến hành bất tận và đứng điền những mẫu khai in sẵn mở rộng trong một căn phòng lạnh ngắt trước ánh mắt một nam nhân viên đáng ghét – một gã Mike gì đó nghĩ thà chát chít với lũ bạn qua điện thoại di động còn hơn là tìm ra giải pháp cho vấn đề của cô. Ngay cả tại New York, thời đại khách hàng là thượng đế dường như cũng đã qua rồi.
Lựa chọn xe giới hạn ở một chiếc Spark bảo vệ môi trường nhỏ bé, một chiếc SUV Subaru và một chiếc xe bán tải Chevrolet Silverado.
– Tôi sẽ lấy chiếc Spark, Madeline chỉ rõ.
Nhất định không làm vướng víu bản thân với một chiếc xe to đùng ngã ngửa.
– Thực ra chỉ còn chiếc xe bán tải thôi, Mike đáp trong lúc tra trên máy tính.
– Cậu vừa nói với tôi điều ngược lại cơ mà!
– Đúng vậy, tôi đã nhìn nhầm, cậu ta biến báo trong lúc gặm gặm cây bút. Những xe khác đã được đặt trước cả rồi.
Cô cam chịu chìa cho cậu ta thẻ tín dụng. Dù gì chăng nữa, kể cả đó là một đầu kéo xe moóc thì cô cũng sẽ chấp nhận.
Nhận lấy chùm chìa khóa chiếc xe bán tải, chỉ sau vài khối nhà, cô đã quen với việc lái chiếc xe khổng lồ rồi tiến vào đường quốc lộ, đoạn cắt ngang TriBeCa, nối liền Manhattan với New Jersey.
Đối với một thứ Bảy ngày 24 tháng Mười hai, giao thông đúng ra là khá thông thoáng. Chưa đầy mười lăm phút, cô đã sang tới bờ bên kia và tìm ra một chỗ trong bãi đỗ xe của bến phà.
Madeline chưa từng tới Hoboken. Khi rời khỏi bãi đỗ xe, cô sững sờ trước vẻ đẹp của cảnh vật. Hai bờ sông Hudson mang lại một tầm nhìn toàn cảnh đáng kinh ngạc về Manhattan. Ánh nắng phản chiếu trên những tòa cao ốc chọc trời đem lại cho đường chân trời một vẻ không thực, điểm nét hào nhoáng cho các tòa nhà, làm nổi bật từng chi tiết nhỏ xíu theo cách những bức tranh siêu thực của Richard Estes thường đóng băng thực tại trong sự tràn trề những ánh phản chiếu màu nâu ánh vàng.
Cô bước chừng trăm mét trên lối đi dạo bằng gỗ, điểm xuyết những không gian xanh, đối diện với công viên trên cao High Line và Greenwich Village. Quang cảnh khiến người ta ngây ngất. Chỉ cần quay đầu về phía Nam là có thể nhìn thấy một vạt lịch sử nước Mỹ: bóng dáng xanh xám của nữ thần Tự Do soi sáng thế giới, hòn đảo nhỏ xíu nơi tổ tiên của một trăm triệu người dân nước Mỹ từng quá cảnh. Nơi này thường đông nghịt người đạp xe và chạy thể dục, nhưng sáng nay, cái lạnh địa cực đã ngăn cản phần lớn họ.
Madeline ngồi xuống một băng ghế bên lối đi dạo ven sông, đội chiếc mũ liền áo phao lên để tự bảo vệ mình trước làn gió lạnh băng thốc lên từ sông Hudson rồi thọc hai tay vào túi áo. Cái lạnh buốt giá đến mức hai mắt cô cay sè. Thậm chí một giọt nước mắt nóng hổi còn chảy trên má cô, nhưng nó không hề biểu lộ nỗi buồn hay sự mệt mỏi buồn rầu. Ngược lại thì có.
Nói ra thì thật khủng khiếp, nhưng viễn cảnh điều tra về Vua Cây Trăn đã khiến cô tươi tỉnh trở lại. Đây là tia sáng mà cô chờ đợi ngay từ lúc ban đầu. Điều đã đánh thức bản năng thợ săn trong cô. Ngay cả khi chuyện này khiến cô rụng rời thì bản năng thợ săn đó vẫn cứ là bản chất sâu thẳm trong cô. Madeline vẫn luôn biết điều này.
Người ta khó lòng thoát khỏi bản chất thật của mình. Thí dụ, ẩn đằng sau những gì thể hiện bên ngoài, Gaspard Coutances vẫn là một gã dễ xúc động. Một gã ghét người khẳng định mình ghét cả nhân loại, nhưng thật ra lại yêu thương mọi người và chẳng mấy chốc đã cảm thấy xáo trộn bởi câu chuyện về một người cha suy sụp vì cái chết của đứa con trai. Cô, Madeline, thì không giống thế. Cô không phải người đa cảm. Cô là một kẻ chuyên vây dồn những con mồi cỡ bự. Chảy trong huyết quản cô là dòng máu đen. Một dòng thác dung nham nóng chảy cuồn cuộn không ngừng trong đầu óc cô. Một thứ mắc ma không thể nguội đi hay được giải tỏa.
Điều cô kể với Coutances không hề là lời nói dối. Việc vây bắt những kẻ sát nhân sẽ tàn phá cuộc sống của bạn, nhưng không phải vì những nguyên do người ta thường nêu. Việc vây bắt những kẻ sát nhân tàn phá bạn, bởi chuyện này khiến bạn ý thức được rằng bản thân bạn cũng là một kẻ sát nhân. Và rằng bạn khoái điều này. Đó chính là điều thực sự gây rối loạn. “Người chiến đấu với quỷ dữ phải cảnh giác với nguy cơ bản thân biến thành một con quỷ.” Câu châm ngôn của Nietzsche có vẻ đã cũ. Tuy thế sự chiêm nghiệm nhàm tai của nó là chính xác. Chừng nào cuộc vây dồn còn tiếp tục, bạn không khác lắm với thứ bạn đang truy đuổi. Và kết luận này mang đến cho mọi chiến thắng một vị cay đắng. Ngay cả khi bạn nghĩ đã đánh bại được nó, cái ác vẫn còn mầm mống. Trong bạn. Nỗi u sầu sau ân ái.
Cô hớp lấy một ngụm không khí lạnh băng để trấn tĩnh lại. Cô cần phải trở xuống nhiều nấc nữa. Hãy thực tế, cô em thân mến. Cô sẽ không tự mình giải quyết được một vụ án đã làm hao tổn thần kinh của tất cả các chuyên gia phân tích hồ sơ trên đất nước này đâu.
Nhưng dẫu sao chăng nữa… Madeline không thể ngăn mình nghĩ rằng người ta đang dâng sẵn cho cô một vụ án độc nhất vô nhị. Vụ án mà mọi cảnh sát trên thế giới đều mơ ước được thừa hưởng một lần trong đời. Thêm vào đó, không gì tồn tại nữa: cả ca thụ tinh nhân tạo lẫn viễn cảnh về một cuộc sống êm ả giữa bình sữa và tã lót.
Chỉ có vị của máu là đáng kể.
Cơn cuồng săn.
– Chào Madeline.
Một bàn tay đặt lên vai Madeline khiến cô giật thót mình.
Mải suy nghĩ, cô không nghe thấy tiếng chân Dominic Wu đi tới.
2.
Gaspard bị kéo ra khỏi giấc ngủ bởi tiếng chuông điện thoại di động. Một nhịp điệu samba nghe mà phát bực khiến anh có cảm giác tồi tệ là thức giấc giữa lễ hội hóa trang ở Rio. Thời gian anh mở mắt và vớ lấy điện thoại, hộp thư thoại đã được kích hoạt. Anh mở rèm và gọi lại luôn mà không nghe tin nhắn: đó là Isabella Rodrigues, cô em họ dễ mến của Adriano Sotomayor.
– Tôi đang muộn giờ làm rồi đây, chị thông báo luôn.
Gaspard nghe thấy âm thanh nền là tiếng ầm ì đô thị made in New York: tiếng ù ù của xe cộ qua lại, sự náo nhiệt, tiếng còi hụ của xe cảnh sát…
– Hôm nay không phải ngày dành cho lũ trẻ ư? anh hỏi.
– Mai mới là Giáng sinh mà, mỹ nhân La tinh đáp.
– Chị làm việc ở đâu vậy?
– Tôi quản lý tiệm Adele’s Cupcakes trên phố Bleecker. Và hôm nay là một trong những ngày đông vui nhất năm.
Isabella đã giữ lời. Chị đã hỏi dò những ký ức của chồng mình về chuyến viếng thăm của Sean Lorenz tới nhà họ.
– Có lẽ André có vài điều muốn kể cho anh nghe đấy, chị thổ lộ. Nếu anh muốn thì cứ qua gặp anh ấy, nhưng trước 10 giờ nhé vì anh ấy còn phải đưa bọn trẻ qua nhà bà ngoại chúng. Và nhất là, giúp tôi đừng để họ trễ giờ!
Gaspard muốn biết thêm, nhưng Isabella đã ngắt cuộc trò chuyện. Khi dập máy, anh phát hiện một tin nhắn từ Madeline trên màn hình điện thoại: Về phần mình, tôi phải xác minh vài ba việc đã. Hẹn trưa nay gặp nhau ở khách sạn. M.
Thoạt tiên, sự rút lui này khiến Gaspard phật ý, rồi anh tự nhủ chính xác thì mình đang hy vọng cô sẽ có những chủ động kiểu này kia mà. Và anh không còn thời gian để than vãn nữa nếu muốn kịp gặp chồng của Isabella trước khi anh ta xuất phát. Liếc nhìn đồng hồ đeo tay, vào tắm vòi sen rồi đi ra, một nhát lược và một nhát xịt Pour un homme sản xuất năm 1992.
Xuống phố rồi, anh cuốc bộ tới tận phố Franklin, mua vé tàu điện ngầm rồi đi theo tuyến 1 tới tận Columbus Circle, phía Tây Nam Công viên Trung tâm. Đến đó, anh chuyển tuyến và đi tiếp khoảng mười bến nữa tới tận bến tàu điện ngầm to nhất khu Harlem. Bến nằm trên Phố 125, nơi “Thợ pháo hoa” đã từng vẽ trên hàng chục toa tàu điện ngầm trong thập niên 1990. Cũng chính là nơi Beatriz Muñoz đã chọn để kết thúc cuộc đời.
Gaspard mất chưa đến mười lăm phút đã tới phố Bilberry, con phố này khiến anh thích thú. Im lìm trong cái lạnh nhưng lại ngập tràn ánh nắng, nó thấm đẫm mùi hương phi thời của một New York được lý tưởng hóa và hoài nhớ. Trước số nhà 12 – nhà Isabella –, thợ sửa cây đang tỉa cành cho một cây dẻ của con phố, bóng râm cành lá rung rinh trên vỉa hè.
– Anh vào đi và cứ tự nhiên như ở nhà mình nhé, André Langlois chào đón anh khi ra mở cửa.
Gaspard gặp lại ba đứa trẻ mà hôm qua anh thấy ngồi quây quần quanh chính chiếc bàn thân thuộc ấy. Nhưng lần này, chúng đang ngồi trước một bữa sáng thịnh soạn: ngũ cốc Granola, phô mai Cottage, dứa Victoria, kiwi vàng. Phần thưởng thêm là những tiếng cười vang, niềm vui, sự nhiệt tình. Âm thanh nền là một chiếc iPad kết nối đài WQXR đang phát “Điệu valse của những đóa hoa” trong vở Kẹp hạt dẻ. Ở gia đình Langlois, mọi thứ đều là cái cớ để tập cho lũ trẻ quen với nền văn hóa.
– Ra là vậy, vợ tôi đã pha sữa lòng đỏ trứng cho anh trong khi tôi nai lưng làm việc tại văn phòng! André đùa trong lúc rót cho Gaspard một tách cà phê.
Đầu cạo nhẵn, cơ bắp cuồn cuộn, làn da nâu và răng thưa, André Langlois gây thiện cảm tức khắc. Trẻ hơn vợ mình, anh đang mặc quần thể thao và chiếc áo phông ủng hộ chiến dịch tranh cử tổng thống của Tad Copeland.
Để cho liền mạch, Gaspard nhắc lại những gì hôm qua anh đã kể cho Isabella nghe rồi tự giới thiệu mình như một nhà văn, trong quá trình biên soạn tiểu sử của Sean Lorenz, đã tự vấn về những vùng tối bao quanh cái chết của con trai ông.
Vừa lắng nghe anh, André vừa bắt đầu gọt một quả cam cho đứa bé nhất trong đám trẻ đang ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế cao của nó.
– Tôi chỉ gặp Lorenz một lần duy nhất đó thôi, nhưng tôi nghĩ anh biết điều này rồi.
Gaspard gật đầu mời anh nói tiếp.
– Thực lòng mà nói, vợ tôi đã kể với tôi chuyện này. Tôi biết họ đã từng có một cuộc phiêu lưu tình ái từ rất lâu trước khi chúng tôi làm đám cưới, vậy nên dĩ nhiên, tôi có đôi chút dè chừng.
– Nhưng sự dè chừng này lập tức biến mất khi anh nhìn thấy ông ấy…
Langlois đồng ý.
– Tôi thực sự thương hại Sean khi ông ấy bắt đầu kể với chúng tôi về con trai mình. Ông ấy hoàn toàn lạc lối, thống khổ, với một tia điên dại trong đôi mắt. Về thể chất, ông ấy giống một kẻ vô gia cư hơn là một gã Don Juan quyến rũ.
André chìa những miếng cam bổ tư cho con trai mình rồi ra một loạt quân lệnh cho hai cậu con trai lớn, từ việc đánh răng cho tới chuẩn bị packed lunchbữa trưa đóng hộp mà chúng phải mang sang nhà bà ngoại.
– Ngay lúc đó, tôi chưa hiểu ra câu chuyện Sean kể cho chúng tôi về mối liên hệ giữa bản thân ông ấy với Adriano, nhưng Isabella vẫn đồng ý để ông ấy lục lọi căn nhà.
André bắt đầu dọn chiếc bàn bày bữa sáng và theo phản xạ, Gaspard giúp anh cho bát đĩa vào bồn rửa.
– Tôi thì chẳng có gì phản đối, André Langlois cam đoan. Nói cho cùng, đó là món thừa kế của vợ tôi, và thủ tục thừa kế kéo dài hơn dự kiến, nhưng tôi đã khuyên Isabella mang lũ trẻ tránh đi còn chính tôi đã ở lại cùng Lorenz để canh chừng ông ấy.
– Chị nhà đã nói với tôi là khi ra về ông ấy có mang theo một số tài liệu.
Giống như hôm qua, Gaspard ngỡ mình sắp biết thêm gì đó về chuyện này, nhưng Langlois không để anh hy vọng lâu:
– Chính xác, anh công nhận trong lúc lôi từ thùng rác mạ crôm ra một túi ni lông đựng đầy rác. Nhưng tôi không biết phải nói sao với anh. Phòng ngủ của Adriano ngập giấy tờ và hồ sơ đủ loại.
Anh buộc túi rác lại rồi mở cửa ra vào để đi vứt nó vào thùng đựng rác bên ngoài.
– Nhưng đó không phải thứ duy nhất mà Sean Lorenz mang theo, anh nói trong lúc bước xuống mấy bậc thềm.
Gaspard theo anh ra vườn.
– Sean Lorenz đã hỏi tôi liệu ông ấy có thể xem qua xe của Adriano được không, một chiếc Dodge Charger vẫn đỗ trong ngõ suốt hơn một năm trước đó.
Anh hất cằm chỉ một lối đi kiểu ngõ cụt vuông góc với đường phố.
– Mùa hè năm ngoái tôi đã bán lại chiếc xe, nhưng quả xế hộp ấy chẳng được ai bảo dưỡng từ khi chủ nhân của nó qua đời. Khi Sean tới, ắc quy đã cạn sạch. Ông ấy đã quan sát chiếc Dodge rất tỉ mỉ. Tôi nghĩ là bản thân ông ấy thực sự không biết thứ mình tìm kiếm là gì đâu. Rồi, như bất chợt nảy ra một ý, ông ấy tới cửa hàng tạp hóa trên Phố 131. Năm phút sau ông ấy lại có mặt tại nhà chúng tôi cùng một cuộn túi rác khổ lớn. Ông ấy mở cốp sau chiếc Dodge rồi giật lấy cái thảm, bỏ vào một trong những túi ni lông đó. Rồi ông ấy bỏ đi mà thậm chí không thèm nói với tôi lời nào.
– Bố ơi! Bố! Anh Sydney đánh con! một cậu nhóc vừa kêu toáng lên vừa lao ra khỏi nhà để ùa vào vòng tay bố nó.
– Anh để mặc Sean làm vậy mà không hỏi gì ông ấy ư? Gaspard ngạc nhiên.
– Chẳng đời nào phản đối nổi ông ấy đâu, André vừa nói vừa dỗ dành con trai. Lorenz giống như bị ma ám vậy. Như thể ông ấy đang sống trên một hành tinh khác cách hành tinh chúng ta nhiều năm ánh sáng. Trên gương mặt ông ấy hiển hiện nỗi đau đớn thực sự.
Cậu nhóc đã ráo nước mắt và nóng lòng muốn vào với anh trai.
André vò rối tóc cậu nhóc.
– Không ai nên mất đi một đứa con bao giờ, anh thì thầm như nói với chính mình.
3.
Dominic Wu lẽ ra phải được mời diễn một vai trong một bộ phim của Vương Gia Vệ.
Công khai đồng tính, anh chàng nhân viên FBI vẫn mặc những bộ đồ được cắt may không chê vào đâu được, thắt những chiếc cà vạt dệt và cài khăn lụa ở túi ngực. Sáng nay, anh giấu ánh mắt đằng sau cặp kính râm và phô trương dáng dấp thanh lịch của mình trước dãy cao ốc chọc trời có gu thẩm mỹ tốt cũng đang trưng ra cùng những sắc xanh kim loại như chiếc áo trench-coat vải cashmere của anh.
– Cảm ơn vì đã đến, Dominic.
– Anh không có nhiều thời gian đâu, Madeline. Hans đang chờ anh trên xe cùng với hai đứa nhóc. Hôm nay, đến cả cát ở vườn trẻ cũng cứng như đá rồi.
Anh ngồi xuống cạnh cô trên băng ghế, giữ một khoảng cách nhất định. Tay anh đeo đôi găng màu đen bằng da mịn. Anh thận trọng rút từ túi trong áo khoác ra một tờ giấy gập làm tư.
– Anh đã tiến hành tìm kiếm như em yêu cầu. Không có gì mờ ám trong vụ sát hại Adriano Sotomayor hết.
– Nghĩa là sao?
– Gã ngốc đó định giở trò khôn lỏi khi chen ngang một vụ ẩu đả giữa hai thằng bán lẻ ma túy trong khi bản thân không mang theo vũ khí. Vừa cao giọng ông ta đã lãnh ngay một nhát dao vào họng. Hết chuyện.
– Tên bán lẻ ma túy đó là ai vậy?
– Nestor Mendoza, hai mươi hai tuổi. Một tên vô lại hèn hạ ở khu El Barrio. Nóng tính và bốc đồng, bấy giờ hắn vừa ra tù sau ba năm thụ án tại Rikers.
– Tại sao người ta không bỏ tù được hắn?
Anh chàng người Á nhún vai.
– Bởi vì hắn đã thoát được, chứ em nghĩ sao nào! Hắn có gia đình tại San Antonio, nhưng người ta không bao giờ tìm ra dấu vết của hắn.
– Thường thì, đối với những kẻ ra tay sát hại cảnh sát, người ta sẽ tỏ ra bền bỉ hơn một chút chứ, không phải sao?
– Một ngày nào đó người ta sẽ tóm cổ được hắn trong một cuộc kiểm tra đường bộ, hoặc sẽ tìm thấy xác hắn sau một cuộc ẩu đả trên đường phố Little Havana. Giờ em hãy nói anh biết tại sao em quan tâm đến cái chết của Sotomayor như vậy thì hơn.
Wu là một nhân viên lõi đời. Madeline thừa biết nếu anh chấp nhận tuồn cho cô vài thông tin, thì cũng chỉ là bởi bản chất thực dụng. Vì cô là một cảnh sát giỏi nên anh nghĩ, nếu cô đã đánh hơi thấy một hướng điều tra nhiều hứa hẹn thì bản thân anh chắc sẽ là người đầu tiên hưởng lợi trong chuyện này.
– Em nghĩ cái chết của Sotomayor có liên quan đến một vụ án khác, cô thổ lộ.
– Vụ nào?
– Anh mới là người nói em biết điều đó chứ, cô đáp.
Wu không bao giờ mất công di chuyển nếu không có được thông tin gì mới.
– Em đang nghĩ đến em trai ông ta, đúng không?
Em trai ông ta ư? Em trai nào nhỉ? Madeline cảm thấy adrenalin đang dâng lên trong cô.
– Anh biết gì thì mau nói cho em đi, cô bực bội.
Nhân viên điều tra liên bang chỉnh lại cặp kính tráng bạc của mình. Mỗi người có những hành vi, những sự chuyển dịch của riêng mình, dường như tuân theo một vũ đạo bí ẩn mà người ta có cảm giác là nó đã lặp đi lặp lại từ trước.
– Anh đã phát hiện ra một điều kỳ lạ khi đào bới về Sotomayor. Lão ta có một người em trai, Reuben, một giáo sư sử học ở UFĐại học Florida.
– Vậy ý anh là em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha phải không?
– Anh biết đâu được. Sự thể là vào năm 2011 Reuben Sotomayor đã bị sát hại và được tìm thấy trong một công viên tại Gainesville nơi anh ta thường tới chạy thể dục.
– Theo phương cách nào vậy?
– Phiên bản hoang dã: bị đánh chết, thảm sát bằng gậy bóng chày.
Wu mở tờ giấy đang cầm bằng cả hai tay ra.
– Người ta đã bắt giữ một kẻ vô gia cư đôi khi ngủ lại trong công viên, Yiannis Perahia. Gã này đã chống chế yếu ớt. Gã vốn bị loạn tâm thần và nhập viện như cơm bữa từ nhiều năm trước đó. Perahia đã ít nhiều thú nhận và sau đó bị kết án ba mươi năm tù. Tóm lại, một vụ bẩn thỉu, nhưng nhanh chóng khép lại. Cho tới năm ngoái, Dự án Minh bạch quyết định đến bới thối ra.
– Tổ chức chuyên đấu tranh chống lại những vụ xét xử oan sai ư?
– Phải rồi. Thêm một lần nữa, họ đã cố gắng phá thối trình tự tố tụng của bọn anh bằng cách tìm ra một nữ thẩm phán chấp nhận ra phán quyết tiến hành lại những xét nghiệm ADN chính xác hơn.
– Với lý do gì?
– Vẫn là bài diễn văn đó thôi: có lẽ người ta đã ép buộc một người yếu ớt phải nhận tội và rằng những tiến bộ khoa học cho phép nhận diện một mảnh ADN mà trước kia bọn anh có lẽ đã bỏ sót.
Madeline lắc đầu.
– Những tiến bộ khoa học nào vậy? Trong vòng bốn năm ư?
– Toàn những điều ngu ngốc, anh đồng ý. Rốt cuộc, dẫu sao cũng không hẳn là ngu ngốc đâu. Với những kỹ thuật mới liên quan tới việc khuếch đại ADN, người ta có thể…
– Em biết tất cả những chuyện đó rồi, cô ngắt lời anh.
– Tóm lại, người ta đã tiến hành những thử nghiệm mới giúp chứng minh gã vô gia cư kia vô tội.
Madeline hiểu rằng Wu đang sắp xếp phút chờ đợi hồi hộp của anh.
– Vô tội vì lý do gì? cô hỏi.
– Bởi vì người ta đã tìm thấy trên bộ đồ thể thao của Reuben một mẫu ADN mà trước đây không thu được.
– Và mẫu ADN đó đã có trong hồ sơ lưu, không phải vậy chứ?
– Phải đó. Thậm chí đó còn là mẫu ADN của một cảnh sát: Adriano Sotomayor.
Madeline mất vài giây mới thâu nhận được điều tiết lộ này.
– Từ đó người ta đã kết luận thế nào? Rằng Sotomayor đã giết em trai mình sao?
– Có lẽ vậy, nhưng cũng có lẽ không. Đây cũng hoàn toàn có thể là những dấu vết tiếp xúc rất khó xác định ngày tháng.
– Anh có biết liệu anh em họ có thường giao du với nhau không?
– Chịu thôi. Vì giữa lúc đó Adriano lại bị đâm chết nữa nên bọn anh cũng không cho phục hồi điều tra.
– Vậy là câu chuyện dừng lại ở đó sao?
– Thật không may. Giờ thì đến lượt em, bật mí với anh chuyện gì đi chứ, Maddie! Nói cho anh biết em đang điều tra vụ gì đi.
Madeline vẫn lắc đầu không chịu nhượng bộ. Lúc này không thể có chuyện nhắc với Wu về Lorenz. Và càng không được nhắc đến Vua Cây Trăn.
Gã công tử bột không tìm cách che giấu nỗi thất vọng của mình, đoạn thở dài đứng dậy.
– Hãy tiếp tục đào sâu vụ Sotomayor nhé, Madeline khuyên anh ta.
Wu chỉnh lại chiếc áo trench-coat và nụ cười của anh. Như trong lớp cảnh của một bộ phim, những cử chỉ của anh tạo cảm giác đang làm thời gian trôi chậm lại.
Anh khẽ vẫy tay ra hiệu chào cô gái rồi đi xa dần để tới chỗ những người thân của mình.
Với mặt trời trước mặt và *Yumeji’s Theme sau lưng.
Chú Thích
Nhạc nền được sử dụng trong phim Tâm trạng khi yêu của đạo diễn Vương Gia Vệ.
19
Bên rìa địa ngục
Ai nấy đều tự cho rằng mình đơn độc ở địa ngục, và chính điều đó mới là địa ngục.
*René GIRARD
Chú Thích
(1923-2015): triết gia và nhà nhân chủng học người Pháp.
1.
Mùi bánh mì ngô thơm phức phảng phất trong nhà hàng.
Để chống chọi cái lạnh, Gaspard đã náu mình ở Blue Peacock, một trong những thánh địa của soul food tại Harlem. Trong tuần, nhà hàng chỉ mở cửa vào giờ ăn trưa, nhưng riêng dịp cuối tuần, ngay từ 10 giờ, bạn đã có thể thưởng thức ở đó những bữa sáng muộn thịnh soạn với các món gà rán, khoai lang tẩm gia vị và bánh mì phủ caramel.
Anh chọn ngồi gần lối vào, trên một trong những chiếc ghế quầy bar bao quanh cái quầy hình móng ngựa. Không khí đã hết sức nhộn nhịp và thân thiện: những du khách, những gia đình tư sản trong khu phố, những cô gái xinh đẹp đang nhấm nháp các loại cocktail mang những cái tên thơ mộng, những ông lão da đen ăn vận như *Robert Johnson hay *Thelonious Monk.
Chú Thích
(1911-1938): ca sĩ, nhạc công, nhạc sĩ tài năng nhưng yểu mệnh người Mỹ, được coi là bậc thầy nhạc blues, người khai sinh ra phong cách Delta Blues của Mississippi.
Chú Thích
(1917-1982): nghệ sĩ piano jazz, nhà soạn nhạc người Mỹ, một trong những người khổng lồ của nền âm nhạc Mỹ với phong cách ngẫu hứng độc đáo.
Gaspard giơ tay lên để thu hút sự chú ý của nhân viên quầy bar. Anh rất thèm một ly scotch, nhưng thay vào đó lại gọi một tách hồng trà Nam Phi bio ghê tởm. Anh tự an ủi mình trong lúc ngốn ngấu một chiếc bánh rán nhân chuối mã đề. Chỉ khi đã ăn uống no nê, anh mới có cảm giác rằng não bộ mình hoạt động trở lại. Thoạt tiên anh nhớ tới những gì André Langlois đã tiết lộ với mình. Tại sao Sean Lorenz lại giật phăng lấy tấm thảm trên chiếc xe cũ của Adriano Sotomayor? Và nhất là, ông định làm gì với nó?
Không có nhiều giải pháp, nếu nhìn nhận một cách khách quan. Giải pháp duy nhất không thể loại trừ: Lorenz muốn đưa đi phân tích các sợi thảm. Nhưng để tìm thấy gì trên đó? Có thể là máu hoặc những vật chất di truyền khác.
Gaspard nheo mắt. Như bức tranh chồng lớp, một câu chuyện khác hiện ra. Đối lập với câu chuyện đầu tiên anh đã hình dung và với câu chuyện anh những muốn tin vào. Có lẽ Sean Lorenz chưa bao giờ nhờ Sotomayor giúp đỡ. Thậm chí có lẽ ông đã nghi ngờ người bạn cũ nắm giữ một vai trò nào đó trong vụ bắt cóc con trai mình. Một giả thuyết điên rồ thoáng qua tâm trí anh: Sotomayor là đồng phạm của Beatriz Muñoz. Một kịch bản như vậy liệu có hợp lý không nhỉ?
Một lớp cảnh âm thầm diễu qua trong đầu anh như thể anh đang xem các cảnh quay thô sơ bằng máy soi cảnh. Beatriz đang lái chiếc xe thùng của mình cùng với cậu nhóc Julian ở khoang sau xe/Bàn tay cậu nhóc be bét máu sau khi bị cắt một ngón/Chiếc xe thùng đến bờ hải khẩu Newtown Creek rồi đỗ lại cạnh một chiếc Dodge Charger/Sotomayor xuống khỏi chiếc Dodge rồi giúp Muñoz cho đứa trẻ vào cốp xe mình/Con thú bông của Julian, hoen máu, bị rớt lại trên mặt đường…
Anh chớp mắt và hình ảnh tưởng tượng kia tiêu tan. Trước khi vẽ ra những điều vô căn cứ, anh cần có bằng chứng. Anh tiếp tục suy nghĩ dưới một góc độ khác. Sean là một thường dân, không phải cảnh sát. Để tiến hành phân tích sợi thảm, ông cần phải đến một phòng thí nghiệm tư nhân. Gaspard gục đầu vào giữa hai bàn tay, cố gắng kết nối lại tất cả những sợi dây trong cuộc điều tra của mình. Sean đã ghé qua nhà Langlois ngày 22 tháng Mười hai, ngay trước ngày ông qua đời. Nếu ông có tới một phòng thí nghiệm, thì hẳn nhiên phải là ngày hôm sau. Một hình ảnh khiến Gaspard kích động như điện giật: hình ảnh cuốn sổ lịch của Sean với những gì ghi trên ô ngày 23 tháng Mười hai, cuộc hẹn với bác sĩ Stockhausen bí hiểm.
Anh rút điện thoại di động ra, thỉnh cầu Google, bạn mới thân của anh, bằng cách nhập nhiều tổ hợp những từ khóa: “Manhattan”, “phòng thí nghiệm”, “ADN”, “Stockhausen”… Trong vài giây, anh đã tìm ra thứ mình tìm kiếm: địa chỉ trong khu phía Đông Thượng Manhattan của phòng thí nghiệm huyết học pháp y “Pelletier & Stockhausen”.
Anh truy cập vào website của cơ sở. Theo phần giới thiệu trực tuyến thì phòng thí nghiệm chuyên về “những phân tích di truyền học nhằm nhận dạng người”. Nhận được sự ủy nhiệm của nhiều cơ quan (FBI, các tòa án, Sở Tư pháp Mỹ), cơ sở này thường xuyên được trưng cầu trong khuôn khổ các thủ tục tư pháp và hình sự để nhận dạng và phân tích những dấu vết sinh học ở hiện trường vụ án. Thường dân thì trông cậy vào nó trong trường hợp tìm kiếm mối quan hệ máu mủ ruột rà. Một chuyên mục của trang web cho phép đọc lý lịch của hai người sáng lập: Éliane Pelletier, cựu dược sĩ trưởng của bệnh viện Saint-Luc ở Montreal, và Dwight Stockhausen, tiến sĩ sinh vật học, tốt nghiệp đại học Johns-Hopkins.
Gaspard gọi đến phòng thí nghiệm và gặp phòng thư ký của Stockhausen. Vẫn lời-nói-dối-không-hẳn-là-nói-dối đó: anh là nhà văn đang viết một cuốn tiểu sử về họa sĩ Sean Lorenz nên muốn được nói chuyện với tiến sĩ Stockhausen. Cô thư ký khuyên anh gửi một bức thư điện tử và bày tỏ lời thỉnh cầu của mình theo lối viết. Gaspard nằn nì cô ta lưu lại số điện thoại của anh và để nguyện vọng của anh được chuyển theo lối nói đến người có liên quan. Cô nhân viên bảo đảm rằng chuyện này sẽ được thực hiện, rồi dập máy gần như ngay tức khắc.
Nói chuyện với mông tôi ấy… anh thở dài.
Đúng lúc đó, anh nhận được tin nhắn từ Madeline. Cô hỏi anh thông tin liên lạc của Isabella, em họ của Sotomayor. Trung thành với phương châm đã tự đề ra, Gaspard cưỡng lại mong muốn gọi cho Madeline để biết thêm về việc này và bằng lòng với việc chuyển cho cô số điện thoại mà cô yêu cầu.
Vì tách trà đã nguội ngắt, Gaspard giơ tay định gọi một tách khác nhưng rồi bỗng dừng sững lại. Trong gần một phút, ánh mắt anh dán chặt trên hàng trăm chai lọ đang dàn khắp mặt tường đằng sau nhân viên quầy bar. Rhum, cognac, gin, benedictin, chartreux. Những màu sắc sâu đậm, óng ánh như kim cương, đang thôi miên anh. Những loại rượu mùi nồng nàn, những loại rượu mạnh thơm phức đang sáng rực lên trong chai đựng bằng thủy tinh của chúng. Armagnac, calvados, absinthe, curacao, vermouth, cointreau.
Trong giây lát, Gaspard tự cho phép bản thân tin rằng mình sẽ tư duy mạch lạc hơn sau một ngụm rượu. Điều này chắc chắn đúng nếu xét về ngắn hạn, nhưng nếu anh tái phạm vào đúng lúc này thì cuộc điều tra của anh sẽ rời khỏi con đường nghiêm ngặt, khổ hạnh và tiết hạnh mà anh đã bắt đầu vạch nên. Tuy nhiên, những ánh phản chiếu màu nâu ánh vàng của những chai whisky có sức hấp dẫn gần như vô hạn. Anh cảm thấy yếu mềm. Đó là đặc thù của sự lệ thuộc: mối nguy hiểm khi cơn thèm khát đón lõng bạn tại đúng thời điểm bạn không hề mong đợi. Một vực thẳm mở ra trong bụng anh. Ngực anh thắt lại, hai thái dương giật ù ù dưới lớp mồ hôi.
Anh biết vị ngon gắn liền với mỗi chai rượu, mỗi thương hiệu, mỗi nhãn dán. Chai Blend của Nhật kia, ngọt dịu và dậy kem, hương gỗ của whisky single malt Scotland, những hương thơm chân phương của whisky Ireland, vị mật ong của bourbon lâu năm, mùi cam và đào của Chivas.
Giống như hôm qua, Gaspard nuốt nước bọt, xoa xoa vai và cổ để kìm nén những cơn run rẩy của mình. Nhưng lần này, cơn dông tố không ra đi nhanh như khi nó tới. Anh không còn tự chủ được nữa. Bất chấp toàn bộ ý chí bản thân, anh suýt thì nhượng bộ.
Đúng lúc đó điện thoại của anh đổ chuông. Hiển thị trên màn hình là một số di động lạ.
– Ai thế? anh hỏi sau khi nhận cuộc gọi, có cảm tưởng giọng mình đang gắng gượng vượt qua chướng ngại vật nơi cổ họng.
– Anh Coutances đấy hả? Dwight Stockhausen đây. Anh có chút thời gian rảnh ngay trước bữa trưa không?
2.
Madeline hạ tấm che nắng xuống để tránh ánh sáng phản chiếu.
Ánh sáng ở khắp mọi nơi, chói lóa, trọn vẹn, chiếm lĩnh toàn bộ tầm nhìn của cô.
Suốt hai giờ qua, cô vẫn ngồi sau vô lăng của chiếc xe bán tải và đang rút ngắn dần quãng đường tới Long Island. Toàn cảnh thật tương phản, hết khiến người ta bực bội lại làm người ta mê mẩn. Những trang viên lòe loẹt của mấy tay triệu phú đan xen với những góc nghỉ mát như bước thẳng ra từ thập niên 1950 và những quang cảnh tận thế: những bãi biển cát trắng trải dài bất tận dưới một bầu trời được quét vôi lại. Đã qua Westhampton, hai mươi cây số vừa rồi cô băng qua những thị trấn lớn – Southampton, Bridgehampton – vốn nối tiếp nhau trên dải đất dài viền quanh là Đại Tây Dương.
Ở chỗ ngoặt của một con đường nhiều cát, thiết bị GPS có vẻ ấp úng. Madeline cứ ngỡ mình đã lạc đường nên chỉ chờ một chỗ đủ rộng để quay đầu xe. Đúng lúc đó cô nhìn thấy nhà dưỡng lão. Cách bãi biển chừng năm mươi mét, đó là một tòa nhà lớn và cũ kỹ bằng ván gỗ bao quanh là những rặng thông và bạch dương.
Cô đỗ xe gần những cây to rồi đóng sập cửa chiếc xe bán tải. Bầu không khí hoang dã của nơi này lập tức quyến rũ cô. Dưới một bầu trời trắng đục như sữa, gió thổi lồng lộn thay đổi hình dáng những cồn cát và làm bão hòa không khí bằng một mùi i ốt pha kiềm. *Caspar David Friedrich được Edward Hopper làm mới.
Chú Thích
(1774-1840): họa sĩ vẽ phong cảnh người Đức thuộc trường phái lãng mạn thế kỷ 19. Tác phẩm của ông mang đậm tính phúng dụ, thường có hình ảnh những sự vật đứng đối chọi với hoàng hôn, sương mù buổi sớm, những thân cây trơ trụi và những quang cảnh đổ nát.
Cô leo lên những bậc cầu thang bộ dẫn tới tiền phòng. Chẳng có chuông hay cửa mở tự động. Chỉ có một cánh cửa tróc sơn được bảo vệ bằng một lớp màn chống muỗi rách bươm, cánh cửa rít lên khi cô đẩy khẽ. Madeline bước vào một đại sảnh vắng ngắt bốc mùi ẩm mốc.
– Có ai không?
Thoạt tiên, sự hồi đáp duy nhất là câu trả lời của gió đang chực làm long các mộng cửa sổ.
Rồi một người đàn ông tóc dài màu đỏ hoe xuất hiện trên bậc cao nhất một cầu thang bộ. Vẻ ngoài bệ rạc, mặc một bộ quần áo y tá màu trắng đáng ngờ, tay ông ta cầm một lon nước ngọt Dr Pepper.
– Xin chào, Madeline nói. Có lẽ tôi nhầm địa chỉ rồi…
– Không đâu, nam y tá cam đoan trong lúc xuống cầu thang. Đúng là cô đang ở Eilenroc House Senior Citizens đấy.
– Có vẻ không đông người cho lắm.
Khuôn mặt đỏ bừng của người đàn ông trông hơi đáng sợ – ngang dọc những vết sẹo dài, chằng chịt những nốt sẹo do mụn trứng cá để lại – tuy thế từ đó lại lộ ra một ánh mắt màu thiên thanh êm dịu đến lạ lùng.
– Tôi tên Horace, ông ta tự giới thiệu trong lúc buộc gọn mái tóc bù xù của mình lại bằng một sợi dây chun.
– Tôi là Greene.
Ông ta đặt lon nước của mình xuống tấm ván được dùng làm quầy đón tiếp.
– Phần lớn khách lưu trú ở đây đã ra đi, ông ta giải thích. Cơ sở dưỡng lão này sẽ đóng cửa hẳn vào cuối tháng Hai.
– Vậy sao?
– Tòa nhà này sẽ bị phá đi để xây thế vào một khách sạn hạng sang.
– Thật tiếc.
Horace nhăn mặt.
– Những tay mafia ở Phố Wall đã cướp phá toàn bộ vùng này. Vả lại chúng còn cướp phá toàn bộ đất nước này ấy chứ! Và không phải cứ bầu cái tên cà nhũn Tad Copeland làm tổng thống mà mọi chuyện sẽ dừng lại.
Madeline không đánh liều thò chân vào lĩnh vực chính trị.
– Tôi tới thăm một trong những khách lưu trú của các vị, bà Antonella Boninsegna. Bà ấy có ở đây chứ?
– Nella ư? Có đấy, tôi nghĩ bà ấy sẽ là người cuối cùng ra đi.
Ông ta nhìn đồng hồ đeo tay.
– Chết thật, thậm chí tôi còn quên cả bữa trưa cho bà ấy rồi! Vào giờ này, cô sẽ tìm thấy bà ấy ngoài hàng hiên.
Horace chỉ tay về phía cuối đại sảnh.
– Cứ đi qua phòng ăn là sẽ tới hàng hiên. Tôi mang cho cô thứ gì đó để uống nhé?
– Cho tôi một lon Coca.
– Loại zero chứ?
– Một lon Coca đúng nghĩa ấy! Tôi vẫn còn chưa đến nỗi béo trương béo nứt mà, phải không? cô đáp đoạn chỉ vào thắt lưng quần jean của mình.
– Ý tôi đâu phải vậy, nam y tá mỉm cười đoạn biến vào khu bếp.
Căn phòng sinh hoạt chung rộng rãi ở tầng trệt khiến người ta nghĩ đến một ngôi nhà gia đình kiểu cổ. Dạng “bán trú với quang cảnh biển” mà người ta thường thấy ở Bénodet hoặc Whitstable. Những thanh xà lộ, những chiếc bàn đơn bằng gỗ bè nổi, được phủ bằng vải dầu họa tiết Vỏ sò. Không quên cách bài trí “biển” rõ rành rành đã thành công rực rỡ trong những số cũ của Art & Décoration thập niên 1990: bóng đèn thủy tinh hình cầu, những chiếc thuyền buồm bụi bặm đựng trong chai, la bàn và compa bằng đồng thau, cá kiếm nhồi rơm, những bức tranh khắc axít tái hiện cảnh câu cá sử thi thời Moby Dick…
Khi bước vào dưới hành lang ốp kính bị gió rung lắc, Madeline có cảm giác vừa bước lên boong một con tàu ba cột buồm đang lọt vào giữa tâm bão. Với những bức tường nứt toác và phần mái ngấm nước, hàng hiên dường như sắp đổ sụp xuống.
Ngồi bên một chiếc bàn nhỏ ở góc trong cùng của lô gia, Nella Boninsegna là một bà cụ mong manh với khuôn mặt chuột nhắt và đôi mắt mở to quá mức đang lấp lánh đằng sau cặp kính dày cộp tựa kính lúp. Bà mặc một chiếc váy liền cổ cánh sen sẫm màu đã sờn. Chiếc chăn choàng len họa tiết ca rô Scotland để trên đầu gối, bà cụ đang mải miết đọc một cuốn tiểu thuyết dày: Thành phố không bao giờ ngủ của Arthur Costello.
– Chào bà.
– Xin chào, bà cụ vừa đáp vừa ngước mắt khỏi cuốn sách.
– Cuốn tiểu thuyết bà đang đọc hay chứ?
– Một trong những cuốn tiểu thuyết tôi yêu thích nhất. Tôi đọc nó lần này là lần thứ hai rồi. Tiếc là tác giả không còn viết nữa.
– Ông ấy qua đời rồi sao?
– Không, ông ấy bị hủy diệt. Các con ông ấy mất trong một vụ tai nạn xe hơi. Cô tới để tiêm cho tôi sao?
– Không đâu, thưa bà, tôi là Madeline Greene, điều tra viên.
– Nhất là cô là người Anh.
– Chính xác, sao bà biết vậy?
– Âm sắc giọng cô, darling! Manchester phải không?
Madeline gật đầu xác nhận. Thông thường, cô không thích bị dễ nhận ra đến thế, nhưng bà cụ nói vậy không phải để khiến cô phật lòng.
– Chồng tôi là người Anh, Nella nói thêm. Ông ấy đến từ Prestwich.
– Vậy thì hẳn là ông ấy mê bóng đá rồi.
– Ông ấy chỉ sống vì Manchester United thời hoàng kim thôi.
– Thời hoàng kim của Ryan Giggs và Éric Cantona chăng?
Bà cụ nở một nụ cười tinh nghịch.
– Đúng ra là thời hoàng kim của Bobby Charlton và George Best!
Madeline nghiêm túc trở lại.
– Tôi tới gặp bà vì tôi đang điều tra một vụ án. Vụ bắt cóc và giết hại con trai của Sean Lorenz, nó có nhắc cho bà nhớ đến điều gì không?
– Tay họa sĩ hả? Dĩ nhiên. Cô biết Jackson Pollock từng sống ngay gần đây không? Ông ấy mất tại Springs, cách đây mười cây số, trong một tai nạn xe hơi. Lúc ấy ông ấy cùng nhân tình ngồi trong một chiếc Oldsmobile mui trần. Ông ấy lái xe trong tình trạng say khướt và rồi…
– Tôi đã nghe nói đến chuyện này, Madeline ngắt lời bà cụ, nhưng chuyện đó xảy ra hồi thập niên 1950.
Còn Sean Lorenz, ông ấy là một họa sĩ đương đại.
– Cô nghĩ tôi mất trí rồi sao, darling?
– Không hề. Lorenz là bạn của một trong những học trò cũ của bà: Adriano Sotomayor. Bà còn nhớ ông ấy không?
– À, thằng nhóc Adriano…
Nella Boninsegna để câu nói dở dang trong khi gương mặt bà biến sắc. Như thể chỉ cần nhắc đến đứa trẻ này thôi cũng đủ để xua đuổi toàn bộ dấu vết của sự tinh nghịch hay tâm trạng vui vẻ.
– Chính bà đã trình báo với sở xã hội của hạt những hành động bạo lực của bố ông ta là Ernesto Sotomayor phải không?
– Chính xác. Hồi đó là giữa thập niên 1970.
– Ernesto thường xuyên đánh đập con trai mình đúng không?
– Nói thế là còn nhẹ. Trên hết, người đàn ông đó là một con quỷ. Một đao phủ thực sự.
Giọng bà cụ trở nên ồ ồ:
– Đủ các trò: dìm đầu xuống bồn cầu, vụt thắt lưng, đấm đá, những vết bỏng thuốc lá trên khắp cơ thể. Một hôm lão ta đã bắt thằng nhỏ đứng giơ tay lên trời suốt nhiều giờ liền. Một hôm khác, lão ta thậm chí còn bắt nó đi trên thủy tinh vụn, và tôi không bắt cô phải nghe thêm nữa đâu.
– Tại sao lão ta làm vậy?
– Bởi vì nhân loại có rất nhiều những con quỷ cũng như những sinh vật tàn bạo và sự thể luôn luôn là như vậy.
– Adriano là người thế nào?
– Đó là một cậu nhóc buồn bã và tử tế luôn gặp khó khăn mỗi khi cần tập trung. Thường thì ánh mắt cậu ta âm u và khi ấy cô hiểu rằng cậu ta đã đi tới nơi khác, rất xa. Trước tiên, chính vì thế mà tôi đoán được rằng ở nhà cậu ta có điều gì đó không ổn. Thậm chí trước cả khi phát hiện ra những dấu vết ngược đãi trên cơ thể cậu ta.
– Rốt cuộc, chính ông ấy đã thổ lộ với bà sao?
– Cậu ta kể cho tôi nghe một vài chi tiết về những gì ông bố bắt cậu ta chịu đựng, đúng thế. Ernesto thường đánh đập cậu ta vì những chuyện không đâu. Những hình phạt có thể kéo dài hàng giờ đồng hồ và chủ yếu diễn ra trong khoang hầm chiếc tàu kéo lưới rê của gia đình họ.
– Bà mẹ vờ như không nhìn thấy ư?
Bà giáo nheo mắt.
– Bà mẹ, nếu người ta muốn gọi đó là mẹ thì cũng được… Người đàn bà đó, cô ta tên gì ấy nhỉ? À phải rồi, Bianca…
– Rốt cuộc bà ta cũng đã rời khỏi cái gia đình ấy, phải không?
Nella lấy từ túi áo ra một chiếc khăn mùi soa rồi lau hai mắt kính hiệu Browline của bà. Kiểu kính này kết hợp với mái tóc bạc phơ khiến bà trông giống hệt *đại tá Sanders.
Chú Thích
Đại tá Harland David Sanders (1890-1980): thương gia người Mỹ, nhà sáng lập ra thương hiệu gà rán KFC. Hình ảnh của ông được in trên logo thương hiệu.
– Tôi hình dung là cô ta cũng phải nhận những trận đòn, bà đánh liều phát biểu.
– Nước nóng nước nóng đây! Horace hô to trong lúc đặt xuống bàn cái khay đựng một lon Coca, một ấm trà cùng hai chiếc bánh mì vòng kẹp cá hồi, hành, nụ bạch hoa và phô mai tươi.
Nella mời Madeline ăn cùng mình.
– Không được như bánh mì vòng Russ & Daughters đâu, nhưng dẫu sao chúng cũng ngon lắm đấy, bà khẳng định rồi ngoạm ngon lành miếng bánh kẹp.
Madeline cũng làm tương tự, rồi nhấp một ngụm soda trước khi tiếp tục màn tra hỏi:
– Người ta bảo tôi là Adriano có một cậu em trai.
Bà giáo nhướng mày.
– Không, tôi không nghĩ vậy.
– Có đấy, tôi dám chắc. Ông ta tên là Reuben. Nhỏ hơn Adriano bảy tuổi.
Nella dành thời gian ngẫm nghĩ.
– Thời đó, khi Bianca bỏ đi rồi, có tin đồn nói rằng cô ta đang mang thai với một người đàn ông khác chứ không phải với Ernesto. Mấy chuyện ngồi lê đôi mách người ta thường nghe thấy trong các thị trấn nhỏ.
– Bà không tin chuyện đó sao?
– Có lẽ bấy giờ Bianca đang mang thai, nhưng nếu đúng là vậy, thì cô ta cũng mang thai với chồng mình thôi. Bianca xinh đẹp thật, nhưng chẳng người đàn ông nào ở Tibberton lại dám liều mạng biến một tên điên khùng hung hăng như Ernesto thành tình địch của mình đâu.
Madeline vẫn thấy có điều gì đó mắc mứu:
– Tại sao Bianca lại bỏ rơi đứa con trai đầu của mình chứ?
Nella nhún vai tỏ ý không hiểu. Bà lại ăn một miếng bánh mì kẹp nữa, rồi bỗng nhớ ra điều mà bà đã quên hỏi Madeline:
– Làm cách nào cô biết được tất cả những chuyện này? Và làm cách nào cô lần được ra tôi?
– Nhờ Isabella Rodrigues, Madeline đáp.
Bà giáo mất vài giây mới nhớ ra em họ của Adriano.
– Cô nhóc Isabella, dĩ nhiên rồi. Thi thoảng con bé vẫn tới thăm tôi. Một cô gái tốt, giống như cô vậy.
– Bà đừng tin vào vẻ bề ngoài. Tôi không hẳn là một cô gái tốt đâu, Madeline đùa.
Nella mỉm cười đáp lại.
– Dĩ nhiên là có chứ.
– Còn Adriano, bà có gặp lại ông ấy không?
– Không, nhưng tôi đã nghĩ tới cậu ta rất nhiều. Tôi hy vọng cậu ta vẫn ổn. Cô có tin tức gì về cậu ta không?
Madeline ngập ngừng. Dồn dập chất lên bà cụ này những tin tức sầu thảm phỏng có ích gì kia chứ?
– Ông ấy rất ổn, bà đừng lo lắng cho ông ấy nhé.
– Có lẽ cô là một cô gái tốt đấy, nhưng cô là kẻ dối trá, bà giáo vặc lại.
– Bà nói đúng, Nella. Bà xứng đáng được nghe sự thật. Adriano đã chết cách đây gần hai năm rồi.
– Chuyện này có liên quan đến cuộc điều tra của cô về tay họa sĩ kia. Nếu không, cô đã chẳng đến đây gặp tôi…
– Thực lòng mà nói, tôi cũng chưa biết có phải vậy hay không.
Để khỏi nặng nề thêm về cái chết của viên cảnh sát, cô liền đổi chủ đề:
– Lúc cuối đời, Ernesto bị ung thư vòm họng. Có vẻ như Adriano đã đón bố mình về nhà chăm sóc. Bà thấy chuyện này có thể xảy ra không?
Nella trợn tròn mắt. Đằng sau cặp kính lúp của bà, hai tròng đen trong mắt đã to gấp đôi.
– Nếu chuyện đó là thật thì rất đáng kinh ngạc. Tôi ngạc nhiên nếu Adriano lại trở thành tín đồ của lòng từ tâm đạo Cơ Đốc.
– Ý bà là sao? Madeline hỏi trong lúc giúp bà cụ rót trà.
– Chừng nào chưa tự mình chịu đựng những thứ đó, tôi nghĩ người ta không thể hình dung được nỗi đau đớn khổ sở mà những đòn tra tấn kia gây ra. Loại hành vi mà Adriano đã chịu đựng, trong khoảng thời gian kéo dài như thế, dĩ nhiên toàn bộ chuyện này đã để lại những di chứng và chấn thương tâm thần. Một sự rối loạn tâm thần không thể hình dung nổi.
– Bà muốn dẫn dắt đến đâu vậy? cô năn nỉ.
– Tôi nghĩ đến một thời điểm nào đó, nỗi đau đớn và căm hận ấy tích tụ đến mức không thể giải tỏa được. Bằng cách này hay cách khác, rốt cuộc cô sẽ buộc phải trả lại chúng cho chính mình hoặc cho những người khác.
Những lời cô đọng súc tích của bà giáo khuyến khích Madeline mở một cánh cửa cuối cùng:
– Vua Cây Trăn có nhắc cho bà nhớ ra điều gì không?
– Không. Đó là một nhãn hiệu đồ gỗ dùng trong vườn ư?
Madeline đứng dậy cáo lui.
– Cảm ơn bà đã giúp đỡ, Nella.
Người phụ nữ khiến cô thích thú. Người bà mà cô ước ao có được. Trước khi rời khỏi, cô bày tỏ nỗi lo lắng đang giày vò tâm trí kể từ khi cô tới đây:
– Nam y tá đó…
– Horace ư?
– Vâng. Ông ta đối xử với bà tốt chứ? Ông ta có vẻ thật kỳ quặc.
– Đừng tin vào vẻ bề ngoài, nói gì thì nói cũng đừng tin trong trường hợp của cậu ấy. Đó là một chàng trai tốt, cô yên tâm nhé. Cả cậu ấy cũng không có được cuộc sống dễ dàng mà.
Như để chấm hết cho câu nói của Nella, hàng hiên phát ra một tiếng răng rắc đáng lo ngại sau một cơn gió thổi trúng đích hơn những cơn gió khác. Madeline không khỏi ngẩng đầu nhìn lên phía trần ốp kính, gần như chờ đợi thấy nó nứt ra.
– Người ta nói với tôi là nhà dưỡng lão này sắp đóng cửa?
– Đúng thế, ba tháng nữa.
– Bà có kế hoạch B chưa?
– Cô đừng vì tôi mà tính chuyện đó, tôi sẽ đi gặp chồng tôi thôi.
– Tôi cứ nghĩ ông nhà mất rồi.
– Từ năm 1996, đúng vậy.
Madeline không thích hướng xoay chuyển của câu chuyện.
– Theo tôi bà chưa thể đi gặp ông nhà nhanh như vậy đâu. Trông bà khỏe khoắn lắm.
Bà cụ khoát tay gạt ý nghĩ viển vông đó đi, rồi trong khi Madeline quay trở lại phòng khách, bà gọi với theo cô:
– Tôi không biết cô đang tìm gì, nhưng cô sẽ không tìm ra nó đâu.
– Bà là thầy bói hay gì vậy?
Nella mỉm cười rồi nheo mắt, như một cử chỉ làm dáng sau cùng.
– Nhưng cô sẽ tìm thấy thứ khác, bà đảm bảo.
Madeline vẫy tay chào bà rồi tiến về phía chiếc xe bán tải của cô đỗ dưới rặng thông.
Trước khi lại lên đường, cô đi bộ ra tận bờ biển, hoang dã, phi thời, được bảo tồn. Chỉ vài tháng nữa thôi, những cần cẩu và xe trộn bê tông sẽ tới phá hỏng nơi này để xây dựng tại đây một khách sạn, một buồng tắm hơi, một sân bay trực thăng. Cô thấy toàn bộ chuyện này thật ngu ngốc, bất lương, vô nhân đạo.
Mẹ kiếp, giờ cô lại còn nói năng giống hệt Coutances nữa…
Cô quay bước về phía chiếc xe bán tải. Để giữ lại chút ký ức, cô chụp một bức ảnh về bãi biển cát trắng và ngôi nhà dưỡng lão. Có lẽ bà cụ nói đúng. Có lẽ Madeline đã tìm thấy điều gì đó ở đây. Ngay cả khi cô còn chưa biết đó là cái gì.
Cô lại ngồi vào xe, xoay chìa khóa điện rồi cho xe chạy nhanh để quay ra đường quốc lộ. Ở đó, cô lái xe hết cây số này tới cây số khác, trong lúc cố gắng sắp xếp lại suy nghĩ của mình. Cô chạy xe được hơn một giờ thì bỗng điện thoại di động đổ chuông. Một cái tên hiển thị trên màn hình.
Dominic Wu.
3.
Trong khu phố, mọi người hẳn phải đặt biệt danh cho tòa nhà này là Khối Rubic. Ít nhất đó là điều mà Coutances hình dung ra khi xe taxi thả anh xuống phía Bắc của khu Đông Thượng Manhattan, ở góc Phố 102 giao với đại lộ Madison.
Phòng thí nghiệm Pelletier & Stockhausen là một khối thủy tinh đa sắc, một miếng vải ghép mảnh màu mè với những màu sắc sặc sỡ nổi bật giữa màu xám và nâu xỉn của những tòa nhà xung quanh.
Ai nói dân Mỹ không bao giờ nghỉ lễ? Dẫu sao chăng nữa vào tầm cuối giờ sáng này, phòng thí nghiệm không đông đúc cho lắm. Gaspard xưng tên với một nữ nhân viên thanh lịch và yểu điệu, nhưng hình thể gầy trơ xương và khuôn mặt hết sức góc cạnh: những nét đen được vạch ra bằng thước thợ, nước da trăng trắng, ánh mắt ủ rũ và sầu muộn nhắc nhớ dăm ba nhân vật trong tranh của *Bernard Buffet.
Chú Thích
(1928-1999): họa sĩ người Pháp, một trong những đại diện của trường phái ấn tượng.
Quý cô Dây Thép dẫn anh tới tận văn phòng nằm ở tầng bảy nhìn xuống tổ hợp rộng mênh mông của bệnh viện Mount-Sinai.
– Vào đi, anh Coutances! chủ nhân phòng thí nghiệm bảo anh.
Dwight Stockhausen đang chuẩn bị lên đường đi nghỉ lễ. Đặt gần một chiếc trường kỷ Florence Knoll là hai va li Alzer bằng vải bạt in tên viết tắt của thương hiệu, một chiếc túi du lịch đồng bộ và một đôi Moon Boot bằng da lông.
– Chúng tôi sẽ qua đêm Giáng sinh tại Aspen. Khách sạn Jerome. Anh đã xuống đó bao giờ chưa?
Giọng ông ta rung lên vẻ tự phụ kiểu cách. Ông ta lại gần Gaspard và chìa tay bắt tay anh theo kiểu châu Âu.
– Gần đây thì không, nhà soạn kịch đáp.
Nhà khoa học khoát tay mời anh ngồi xuống trường kỷ.
Bản thân ông ta vẫn đứng thêm một phút nữa. Mắt dán vào màn hình, ông ta gõ mổ cò trên một chiếc điện thoại thông minh dường như quá nhỏ so với những ngón tay chuối mắn của mình.
– Lát nữa tôi sẽ nói chuyện với anh. Để tôi điền xong cái mẫu khai đáng ghét dành cho sân bay này đã.
Gaspard tranh thủ quãng thời gian chuyển tiếp này để quan sát kỹ vị chủ nhà. Hồi anh còn bé, đôi khi mẹ anh cũng giao du với những gã giống như ông ta, sống ở quận 16 Paris, ở Belgravia hoặc Beacon Hill. Cái cằm hai ngấn của ông ta và khuôn mặt nhìn nghiêng kiểu vua Louis XVI hài hòa tuyệt vời với chiếc quần âu kiểu hoàng-tử-xứ-Wales, chiếc blazer họa tiết sọc chữ chi và đôi tất Gammarelli nằm gọn trong đôi giày lười gắn quả tua.
Rốt cuộc, quân vương nhà Bourbon cũng quyết định đặt điện thoại xuống và tới ngồi đối diện anh.
– Tôi nghĩ anh muốn nói với tôi về Sean Lorenz đúng không?
– Theo những gì tôi biết, cách đây một năm ông ấy đã tới gặp ông. Ngày 23 tháng Mười hai năm 2015, đúng ngày ông ấy qua đời.
– Tôi còn nhớ chuyện đó. Chính tôi đã tiếp đón ông ta. Nói riêng giữa chúng ta với nhau thôi nhé, đó là một nghệ sĩ nổi tiếng, phải không nào?
Stockhausen chỉ những mặt tường trong phòng làm việc rộng thênh thang của ông ta.
– Như anh thấy đó, bản thân tôi cũng là nhà sưu tầm, ông ta khẳng định với giọng thông thái rởm vốn là tính cách đặc trưng của mình.
Quả nhiên Gaspard nhận ra một thạch bản Cô bé với quả bóng bay màu đỏ của Banksy – bức tranh mà người ta nhìn thấy trong hàng nghìn phòng khách hoặc trên nền màn hình của hàng triệu máy tính. Anh cũng nhận ra một tác phẩm in đồ hình của Damien Hirst – cái đầu lâu nạm kim cương muôn thuở mà anh muôn đời không công nhận – cũng như một tác phẩm điêu khắc lớn của Arman tái hiện một cây vĩ cầm nổ tung (nhưng Arman đã từng sáng tạo ra thứ gì khác ngoài những cây vĩ cầm nổi giận chưa nhỉ?). Tóm lại, toàn những tác phẩm anh ghét cay ghét đắng.
– Nếu ông muốn, chúng ta hãy quay trở lại với Lorenz đi.
Lẩn nhanh như trạch, nhà khoa học không chịu để Gaspard dẫn dắt cuộc gặp gỡ.
– Trước hết, làm cách nào anh biết chuyện này nhỉ? ông ta hỏi.
Gaspard từ chối bước vào cuộc chơi của ông ta. Nếu Stockhausen đã nhận lời gặp anh trong lúc gấp gáp, chính là vì ông ta sợ danh tiếng của bản thân và của phòng thí nghiệm này bị ảnh hưởng.
– Chúng ta sẽ tiết kiệm thời gian nhé, ông Stockhausen: hãy nói với tôi chính xác và tức khắc điều Sean Lorenz đến hỏi ông.
– Tôi không thể. Toàn bộ chuyện này là bí mật, anh nên biết điều ấy.
– Tôi đảm bảo với ông rằng chuyện này sẽ không còn được giữ bí mật lâu đâu. Nói gì chăng nữa cũng sẽ không còn bí mật khi một tiểu đội cảnh sát xuất hiện tại Aspen để tra tay ông vào còng. Chuyện này sẽ khiến khách sạn Jerome náo nhiệt lắm đấy, hãy tin tôi đi.
Nhà khoa học phẫn nộ:
– Thế người ta bắt tôi vì lý do gì cơ chứ?
– Đồng lõa trong việc sát hại một đứa trẻ.
Stockhausen dặng hắng.
– Ra khỏi đây ngay! Tôi sẽ liên hệ với luật sư riêng.
Trái lại, Gaspard ngồi sâu vào chiếc trường kỷ cứng đanh của ông ta.
– Chúng ta đâu có buộc phải phản ứng cực đoan như vậy.
– Chính xác thì anh muốn biết gì?
– Tôi đã nói với ông rồi còn gì.
*Louis Capet bồn chồn không yên. Ông ta rút chiếc khăn lụa cài ở túi ngực áo blazer ra để lau mồ hôi. Và quyết định đầu hàng.
Chú Thích
Tên thường dân của vua Louis XVI khi bị bắt giữ, xét xử trước Nghị viện rồi bị kết tội phản quốc và xử chém sau cuộc nổi dậy tháng Tám năm 1792.
– Ngày 23 tháng Mười hai đó, Sean Lorenz đã xuất hiện tại văn phòng tôi hết sức kích động. Trông như một thằng điên vậy. Nói thẳng ra, nếu ông ta không nổi tiếng đến vậy, tôi sẽ không đời nào tiếp ông ta.
– Ông ấy có mang theo một chiếc túi ni lông, phải không?
Stockhausen bĩu môi ghê tởm.
– Đúng thế, một cái túi dùng để đựng rác chứa một tấm thảm cũ. Loại thảm người ta thường thấy trên xe hơi ấy.
Gaspard gật đầu xác nhận.
– Quả nhiên tấm thảm đó được lấy từ cốp một chiếc Dodge.
– Tóm lại, nhà khoa học nói tiếp, Lorenz muốn biết liệu trên tấm thảm ấy có những dấu vết di truyền học có thể liên quan đến con trai ông ta hay không.
– Về kỹ thuật, điều ấy có thực hiện được không?
Stockhausen nhún vai trước tính bất nhã của câu hỏi.
– Dĩ nhiên, bởi vì chúng tôi đang có Lorenz ngay trước mắt. Toàn bộ những gì chúng tôi phải làm là trích một chút nước bọt của ông ta vào một que tăm bông. Việc so sánh ADN mà ông ta yêu cầu tôi thực hiện hầu như không phức tạp hơn một xét nghiệm nhằm xác định quan hệ huyết thống thông thường. Chỉ trừ có điều chuyện này mất nhiều thời gian hơn chút đỉnh.
– Và tôi hình dung là Sean đang vội.
Giám đốc phòng thí nghiệm gật đầu.
– Trong dịp lễ lạt cuối năm, chuyện này luôn phức tạp vì nhân sự nghỉ lễ. Nhưng mọi vấn đề đều có cách giải quyết khi anh chấp nhận rút sổ séc ra.
– Trong trường hợp này, giá trị của tấm séc là bao nhiêu?
– Trong trường hợp này, nó còn hay hơn cả một tấm séc.
Stockhausen đứng dậy để đi về phía bức tranh của Banksy, đằng sau đó có giấu một két sắt văn phòng với nhận diện vân tay. Nhà khoa học mở két sắt rồi lấy từ trong đó ra một khung tranh cỡ nhỏ bằng gỗ tối màu. Bên dưới tấm kính là một bức vẽ ký tên Sean Lorenz tái hiện dãy cao ốc chọc trời của New York. Gaspard hình dung ra cảnh tượng và nó khiến anh buồn nôn: Stockhausen to béo moi từ Lorenz, đang suy sụp vì buồn khổ, một bức vẽ cuối cùng để trả công cho lão vì một phân tích di truyền đơn giản.
Louis XVI không có vẻ nhận ra nỗi ô nhục của mình.
– Tôi nghĩ ta có thể khẳng định không chút nhầm lẫn rằng đây là tác phẩm cuối cùng của danh họa! ông ta cười rúc rích, thích chí với lời lẽ khoái hoạt của mình.
Gaspard kiềm chế mong muốn đập vỡ khung tranh, xé vụn bức vẽ rồi bước ra sân thượng để tung lên trời những mẩu giấy vụn giống như người ta rải rắc tro tàn. Chuyện này có lẽ sẽ gây ấn tượng mạnh, nhưng nó sẽ không giúp cuộc điều tra của anh tiến triển thêm. Anh cố giữ bình tĩnh rồi tiếp tục cuộc trò chuyện:
– Vậy là Lorenz đã vẽ cho ông bức tranh này để ông nhận lời rút ngắn thời hạn phân tích…
– Chính thế, tôi đã đảm bảo với Sean là ông ta sẽ nhận được kết quả vào sáng ngày 26 tháng Mười hai. Chuyện này có hơi khó khăn đấy, nhưng vẫn có thể làm được.
– Vậy là nhẽ ra ba ngày sau ông ấy phải quay lại gặp ông?
– Nhưng ông ta đã không bao giờ tới lấy kết quả, bởi vì trong thời gian đó ông ta đã qua đời, ngài tiến sĩ bổ sung.
Stockhausen để vài giây trôi qua.
– Chúng tôi có kết quả vào đúng ngày đã định, nhưng chúng vẫn cứ nằm chờ trong hệ thống máy tính. Không có lệnh của tòa và cũng chẳng ai xuất hiện hết. Chúng tôi có một phần mềm quản lý tự động gửi ba bức thư điện tử nhắc nhở, rồi tôi cũng quên khuấy mất vụ đó.
– Khắp các mặt báo đều đưa tin về cái chết của Lorenz. Chuyện này không khiến ông phản ứng hay sao?
– Tôi không thấy có gì liên quan. Ông ta chết vì một cơn trụy tim ngay giữa phố kia mà.
Về điểm này, Stockhausen không hề nhầm.
– Mỗi năm, ông ta nói tiếp, vào đầu mùa thu, ê kíp của chúng tôi đều tiến hành sắp xếp lại một lượt kho lưu trữ các phiếu xét nghiệm. Chỉ vào thời điểm đó tôi mới biết các kết quả.
Gaspard bắt đầu sốt ruột.
– Và chúng nói sao?
– Xét nghiệm quan hệ huyết thống là dương tính.
– Cụ thể thế nào?
– Cụ thể là: tấm thảm đó có thể đã được cọ rửa qua loa, nhưng người ta đã không mất quá nhiều thời gian để tìm thấy trên đó những vết máu thuộc về con trai của Sean Lorenz.
– Và ông đã không báo cảnh sát?
– Tôi vừa bảo với anh là tháng Chín vừa rồi tôi mới phát hiện ra chuyện này còn gì! Tôi đã tiến hành tìm kiếm trên Internet: cậu bé ấy đã chết, bị một mụ điên giết chết. Kết quả này có thay đổi được gì đâu?
– Đồng ý, Gaspard công nhận.
Anh đứng dậy khỏi trường kỷ. Stockhausen cố tiễn anh ra tận thang máy.
– Tấm thảm xe hơi này thuộc về ai vậy? giám đốc phòng thí nghiệm tò mò muốn biết.
– Ông không thấy là đã hơi muộn để quan tâm đến chuyện đó rồi sao?
Ông ta cố nài:
– Đó là xe của Beatriz Muñoz chứ gì? Mụ ta đã giết cả những đứa trẻ khác nữa, không phải vậy sao?
Gaspard hiểu ra lão ta vẫn còn giấu anh điều gì đó.
– Mẹ kiếp! Ông còn chưa nói với tôi điều gì thế hả Stockhausen?
Buồng thang máy đã tới và cửa thang đã mở ra, nhưng Gaspard vẫn không rời mắt khỏi nhà khoa học. Người đàn ông đó dường như đang hụt hơi, như thể ông ta vừa chạy xuyên qua Manhattan.
– Đúng là chúng tôi đã tìm ra những vết máu của con trai Lorenz trên tấm thảm ấy, nhưng không chỉ có thế… Còn có những dấu vết khác nữa. Máu, nước bọt đến từ những người khác.
– Những đứa trẻ ư?
– Điều này không thể nói chắc được.
– Và ông luận giải thế nào về chuyện này?
– Tôi không biết. Tôi không phải cảnh sát cũng chẳng phải bác sĩ pháp y. Đó có thể là tỷ thứ khác nhau. Những dấu vết tiếp xúc, những…
– Điều ông tin chắc là gì?
Stockhausen thở hổn hển:
– Điều tôi tin chắc, đó là cốp chiếc xe đó đã từng chuyên chở những cơ thể khác.
4.
Madeline vừa lái xe vừa nhận cuộc gọi.
– Em nghe anh đây, Dominic.
– Anh đã làm như em nhờ, Maddie: anh đã đào sâu tìm hiểu vụ Sotomayor và anh tìm ra điều này hết sức kỳ lạ.
Dẫu có đang trong kỳ nghỉ cũng vô ích, Dominic Wu vẫn có tông giọng đặc trưng của gã thợ săn chiến thắng.
– Về người em trai sao?
– Đúng thế, Reuben. Một vài tuần trước khi chết, anh ta đã tới sở cảnh sát Gainesville để khai báo việc mẹ đẻ anh ta mất tích.
– Bianca Sotomayor ư?
– Đúng thế. Sinh năm 1946, sáu mươi lăm tuổi ở thời điểm xảy ra sự việc. Bà ta vừa về hưu xong. Trước đó, bà ta từng làm việc trong các bệnh viện khác nhau, trước tiên là ở Massachusetts rồi Toronto, Michigan và Orlando.
– Bà ta có chồng không? Một người tình nào đó?
– Bà ta chỉ kết hôn một lần thôi, với Ernesto Sotomayor, cha của Adriano và Reuben. Sau đó, bà ta sống chung với một bác sĩ người Canada rồi một người bán xe hơi ở Orlando, người này đã qua đời năm 2010. Vào thời điểm Bianca mất tích, bà ta đang qua lại với một anh chàng bốn mươi tư tuổi là quản lý một spa trong vùng. Hình như hồi ấy đang có mốt cặp kè với các mẹ nạ dòng hay sao ấy.
– Có vụ điều tra nào về chuyện bà ta mất tích không?
– Có, nhưng không đem lại kết quả gì. Hồ sơ trống trơn. Không có bất kỳ dấu hiệu tiền báo nào, không có manh mối nào, không có dấu vết nào. Bianca Sotomayor đã bốc hơi.
– Và rốt cuộc một thẩm phán tuyên bố bà ta đã chết ư?
– Hồi tháng Mười một 2015.
Chính vì chuyện này mà việc thừa kế từ Adriano đã mất nhiều thời gian, cô nghĩ bụng.
– Anh đã làm xong phần việc của mình rồi, Maddie. Giờ thì nói cho anh biết tại sao em quan tâm đến vụ này đi.
– Em sẽ gọi lại cho anh sau, cô hứa.
Cô dập máy không để anh kịp đặt thêm câu hỏi.
Cô liền gọi luôn cho Isabella, nhưng chỉ gặp hộp thư thoại. Thế nên cô quyết định liên lạc với Gaspard.
– Anh đang ở đâu vậy, Coutances, ở Manhattan hả?
– Cô còn muốn tôi ở đâu nữa chứ? Đang phơi nắng ở Papeete hay Bora Bora sao? Tôi đang rời khỏi chỗ Stockhausen. Tôi đã lần ra dấu vết của người đó rồi. Cô hãy hình dung là…
– Để sau đi, cô nói. Tôi sẽ qua đón anh. Tôi đã thuê một chiếc xe và đang ở Southern State đoạn qua Hempstead. Tôi vừa trở về từ Hamptons. Một câu chuyện rất dài. Tôi sẽ kể anh nghe.
– Tôi cũng có nhiều chuyện muốn kể cô nghe.
– Anh sẽ kể cho tôi nghe sau nhé, tôi còn chưa đầy một giờ đường nữa thôi. Trong lúc chờ đợi, tôi muốn nhờ anh giúp một việc.
Chỉ dựa vào giọng cô – âm sắc sáng rõ hơn, các âm điệu cả quyết –, Gaspard hiểu ra rằng tâm trạng Madeline đã thay đổi so với ngày hôm trước.
– Cô cứ nói đi.
– Trên phố Thomas, cách khách sạn hai con phố, có một cửa hàng bán dụng cụ chuyên nghiệp tên là Hogarth Hardware. Anh…
– Cô muốn tôi tới đó làm gì?
– Nhưng anh phải để cho tôi nói hết đã chứ! Anh có giấy bút đấy không? Vậy thì danh sách mua sắm của tôi là thế này nhé: hai đèn pin, mấy thanh đèn huỳnh quang, một thanh xà beng thép luyện, một cây kìm tháo ván khuôn…
– Và chúng ta sẽ đi đâu với những thứ đó?
– Cái đó thì chính anh sẽ nói cho tôi biết. Hãy làm chính xác những gì tôi nhờ anh. Anh đang nghe tôi nói đấy chứ Coutances?
Rõ ràng là Madeline đã tìm ra điều gì đó đủ để gạt phăng những nghi vấn của cô về tính vô căn cứ của cuộc điều tra này. Điều gì đó mà bản thân anh có lẽ không đủ khả năng tìm ra.
Vậy nên Gaspard tự nhủ rằng anh đã đúng khi đi tìm cô.
20
Đứa con trai được yêu hơn
Đen là một màu tự thân, nó thâu tóm và tiêu hao tất cả các màu sắc khác.
Henri MATISSE
1.
Họ rời New York vào đầu giờ chiều để lên đường về phía Đông trong những đám tắc đường. Một trăm cây số đầu tiên tới tận New Haven giống như một cơn ác mộng. Một tuyến đường quốc lộ quá tải, đầy rẫy những nút giao thông hai tầng. Một địa ngục đô thị kéo dài bất tận. Một vùng đất mạt vận, thối hoại bởi những di căn bê tông, bị bóp nghẹt bởi điôxít nitơ và những hạt bụi li ti.
Madeline và Gaspard tranh thủ quãng đường di chuyển kéo dài của họ để tập hợp những mảnh ghép trong một bộ xếp hình rùng rợn. Câu chuyện về một tuổi thơ bị phá hỏng. Từ một thứ bạo lực cuối cùng đã sản sinh ra một thứ bạo lực tăng gấp bội. Từ một sự ác độc và tàn bạo thường nhật, rất nhiều năm sau, đã nuôi dưỡng một cơn điên cuồng giết chóc. Câu chuyện về một quả bom nổ chậm. Câu chuyện về một cậu bé đã bị cha mẹ, mỗi người theo cách của riêng mình, biến thành quỷ dữ.
Madeline tăng nhiệt độ hệ thống sưởi. Màn đêm đã buông. Ngày đã qua mà cô không nhận ra, theo nhịp của những khám phá đang tăng tốc. Những mảng trọn vẹn nhô ra khỏi bóng tối. Cô từng biết điều này qua một vài vụ án. Đó là thời điểm phấn khích nhất của cuộc điều tra. Thời khắc phục thù của sự thật, khi một vài sự hiển nhiên vốn bị kìm nén quá lâu bỗng chốc nổi lên bề mặt với một sức mạnh tàn khốc. Trong tâm trí cô, màn sương mù bắt đầu tiêu tan và thứ nó để người ta lờ mờ đoán ra khiến cô sững sờ.
Việc xác định gốc rễ của một thảm kịch, tìm ra thời điểm chính xác khi một cuộc đời bị xô đẩy luôn hết sức khó khăn. Tuy thế, vài giờ qua, Madeline đã chắc chắn được một điều. Thảm kịch đã hình thành vào mùa hè năm 1976, tại Tibberton, một cảng cá nhỏ ở Massachusetts, đích đến của họ ngay lúc này.
Mùa hè năm đó, một nữ y tá của trạm xá địa phương, Bianca Sotomayor, biết rằng bà đang mang thai đứa con thứ hai. Đúng vào lúc trông thấy kết quả thử máu của mình, bà liền ra một quyết định triệt để. Chán ngán vì phải chịu đựng những màn chửi rủa và đánh đập của chồng mình, Ernesto, bà gom góp tiền tiết kiệm rồi bỏ nhà đi ngay ngày hôm sau để sang Canada làm lại cuộc đời.
Thời đó, Adriano, con trai cả của bà, còn chưa đầy sáu tuổi. Một mình ở lại với người cha, cậu bé đã lãnh trọn thói bạo lực của ông ta. Cậu bé chịu đựng hết trận đòn này đến trận đòn khác, hết sự sỉ nhục này đến sự sỉ nhục khác, đôi khi bị đánh đập với một sự tàn bạo khó lòng hình dung nổi. Cậu phải chờ thêm hai năm ròng rã nữa thì cô giáo tiểu học Nella Boninsegna mới tố cáo những hành vi của người cha rồi giải thoát cậu khỏi khổ hình.
Đến lúc đó, cuộc sống của cậu bé có vẻ như đã được thu xếp ổn thỏa. Được tách khỏi người cha, Adriano may mắn được một gia đình khá là bao dung nhận làm con nuôi, thậm chí còn cho phép cậu giữ liên lạc với người em họ Isabella của cậu. Tại Harlem, cậu đã trải qua một thời niên thiếu bình thường và kết bạn với chàng thanh niên Sean Lorenz, một thần đồng của bộ môn graffiti, và với cô gái nhiều khắc khoải dằn vặt Beatriz Muñoz, đứa con gái sinh ra trong một gia đình nhập cư gốc Chile, chỉ vì hình thể của mình, đã phải chịu đựng một tuổi thơ đầy khó khăn, đánh dấu bởi thái độ khinh miệt và sỉ nhục, hệt như cậu.
Ba người bọn họ tạo thành nhóm “Thợ pháo hoa”, một nhóm nghệ sĩ graffiti chuyên phủ kín những toa tàu điện ngầm và những mặt tường ở Manhattan bằng các màu sắc rực rỡ của mình. Adriano học hành không được chuyên cần cho lắm. Cậu nhanh chóng rời trường học và sau thời thanh niên có phần sóng gió, rốt cuộc cũng gia nhập ngành cảnh sát nơi cậu leo dần từng bậc một mà không vấp phải gập ghềnh nào đáng kể. Bề ngoài, Adriano vẫn duy trì một lối sống nề nếp. Nhưng ai có thể nói chắc được điều gì thực sự diễn ra trong đầu con người ấy?
Chính ở đó các mảnh của bộ ghép hình mang nhiều tính giả định hơn. Madeline thừa biết rằng từ giờ trở đi nó kết hợp những cảm tưởng và khả năng, được hỗ trợ bởi một vài phát hiện dựa trên cơ sở vững chắc nhưng hiếm hoi của họ tại New York. Tuy nhiên, bức tranh tổng thể đang hiện lên với một vẻ nhất quán đến khó tin.
Một điều chắc chắn đối với Madeline: những bóng tối của tuổi ấu thơ trong Sotomayor đã không tiêu tan. Chúng đã lại trồi lên bề mặt vào đầu những năm 2010. Chính vào thời điểm đó Adriano đã tìm ra tung tích của người em trai, Reuben, là giảng viên đại học tại Gainesville. Bấy lâu nay hai anh em họ đã biết đến sự tồn tại của nhau rồi chăng? Liệu họ có từng nói chuyện với nhau? Đến lúc này, Madeline còn chưa biết chuyện đó. Vẫn là vào quãng thời gian ấy, một nỗi căm hận muốn báo thù đã bào mòn Adriano và kéo tuột hắn vào một cơn điên cuồng giết chóc. Hắn đã tìm ra mẹ mình ở Florida. Trong thời gian đầu, dĩ nhiên hắn đã nghĩ đến việc giết mẹ mình, nhưng hắn đã đổi ý: cái chết là quá nhẹ nhàng đối với những gì bà đã khiến hắn phải chịu đựng.
Madeline không phải bác sĩ tâm thần, nhưng cô tin là đã tìm ra chìa khóa cho cách xử sự của Adriano: người hắn oán hận nhất không phải người cha, mà chính là bà mẹ. Mẹ hắn đã bỏ rơi hắn. Mẹ hắn, xưa kia được yêu thương đến thế, đã rời bỏ chiến trường nơi hai mẹ con từng chung vai sát cánh chiến đấu. Người mẹ mà hắn tôn sùng, cũng là người đã thà bỏ trốn cùng cái thai lúc bấy giờ bà đang mang trong bụng.
Vậy nên nỗi căm hận của hắn đã ngưng tụ lại xung quanh người mẹ này. Madeline hình dung ra nỗi sững sờ mà cậu bé ngày nào hẳn đã cảm thấy. Ngay cả thói bạo lực của ông bố cũng không bì kịp nếu đặt cạnh nỗi thất kinh rụng rời này. Ít ra thì chính vì lý do này mà trí não của Sotomayor đã viết lại câu chuyện. Những người đàn ông bạo lực là do bản chất. Nhưng những người mẹ nên bảo vệ con mình mới phải. Chỉ trừ có điều mẹ hắn đã bỏ đi. Để bảo vệ một đứa con khác. Một sự đào ngũ mà bà chưa hề phải trả giá.
Kịch bản này có vẻ điên rồ, nhưng đó là nguyên nhân hợp lý duy nhất mà Madeline tìm ra được để nối liền đường đi của Adriano với bản chất những tội ác của Vua Cây Trăn. Vậy là Adriano đã bắt cóc Bianca, giam cầm bà và dĩ nhiên là trong suốt nhiều tuần lễ đã lải nhải kể cho bà nghe là hắn sẽ giết chết Reuben như thế nào, sẽ đánh đập đứa con trai yêu quý của bà cho đến chết. Hắn khoái trá được một thời gian với trò tra tấn tinh thần này, rồi chuyển qua hành động. Reuben đã chết.
Nhưng Bianca sẽ không thoát dễ dàng như thế. Adriano sẽ phạm cùng tội ác đó đến tận cuối đời. Bắt bà chịu đựng vụ giết hại em trai hắn hàng trăm lần dồn dập. Bắt bà chịu đựng khổ hình, một sự trừng phạt tinh vi hẳn đã hình thành một cách chậm rãi trong tâm trí hắn. Tháng Hai năm 2012, hắn đã bắt cóc Mason Melvil tại vườn trẻ Shelton rồi giao cậu bé cho mẹ hắn. Trong lúc bị giam cầm, Bianca không có lựa chọn nào khác ngoài hết lòng chăm sóc cậu bé. Thậm chí bà đã phải nỗ lực yêu thương hơn nữa để cố gắng giảm bớt chấn thương tâm thần mà một đứa trẻ hai tuổi bị chia cắt một cách tàn nhẫn khỏi cha mẹ phải trải qua để rồi chết gí trong một tầng hầm tối tăm bên cạnh một phụ nữ xa lạ. Dĩ nhiên, Bianca không thể làm gì khác ngoài gắn bó với đứa trẻ ấy. Nhưng đến giữa mùa xuân, không hề cảnh báo, Vua Cây Trăn đã đoạt lại đứa trẻ từ tay mẹ mình rồi giết nó, rất có thể là ngay trước mắt bà, trước khi đi vứt cái xác gần một cái ao. Một trình tự mà trong hai năm tiếp theo, Adriano đã lặp lại ba lần nữa với Caleb Coffin, Thomas Sturm và Daniel Russell.
Madeline không còn bất cứ nghi vấn nào về danh tính của Vua Cây Trăn nữa. Adriano đúng là kẻ sát nhân, nhưng trái ngược với những gì mọi người vẫn nghĩ, nạn nhân thực sự của hắn không phải lũ trẻ. Thật bi thảm khi phải nói ra, nhưng những đứa trẻ bất hạnh này chỉ là những tổn thất liên đới. Những phương tiện để vĩnh viễn nhắm tới nạn nhân duy nhất của hắn. Mẹ hắn.
2.
Đến đoạn ngang qua Mystic, rốt cuộc mật độ giao thông cũng thông thoáng hơn. Chiếc xe bán tải tiếp tục men theo bờ biển về phía Đông rồi tiến vào lãnh địa đảo Rhode theo hướng Providence. Khi nghe các kênh phát thanh, không thể lờ đi việc ta đang chỉ còn cách đêm Giáng sinh có vài giờ đồng hồ. Từ Dean Martin đến Nat King Cole, tất cả các ca sĩ dường như đã đồng tâm nhất trí để giúp buổi tối thêm phần sôi nổi. Louis Armstrong vừa kết thúc White Christmas thì Sinatra đã bắt đầu Jingle Bells.
Những suy nghĩ của Gaspard theo sát những suy nghĩ của Madeline. Anh đang nghĩ tới thần thoại Hy Lạp, tới sự trừng phạt mà Zeus đã bắt Prometheus phải chịu vì đã đánh cắp ngọn lửa thiêng từ các vị thần: bị trói vào một ngọn núi để mỗi ngày lại bị đại bàng Carpates đến mổ mất một mẩu gan. Buồng gan này có khả năng tái tạo trong đêm nên khổ hình lại tái diễn ngay ngày hôm sau. Một nỗi đau đớn kéo dài mãi mãi. Một sự đền tội không quá khác biệt sự đền tội mà Adriano đã bắt mẹ hắn phải chịu đựng. Giết hại đứa con trai được yêu hơn, nhiều lần lặp đi lặp lại.
Gaspard nghĩ tới lòng thù hận mà Sotomayor hẳn phải tích tụ để dấn thân vào một cơn cuồng điên như thế và tới vận rủi của tất cả những ai hắn gặp trên đường.
Tháng Mười hai năm 2014, sự ngẫu nhiên tình cờ của cuộc đời đã xui khiến cho hành trình giết người của hắn gặp hai số phận kia. Cả ba Thợ pháo hoa đều miễn cưỡng gặp lại nhau trên đường đời. Nhưng những màu sắc rực rỡ của thập niên 1990 đã nhường chỗ cho sắc máu và màu bóng đêm.
Beatriz Muñoz, người mà Adriano vẫn giữ liên lạc thường xuyên, đã nghe theo lời xúi giục của lũ quỷ bên trong mình. Có điều gì đó ngược đời và gây tức giận khi tự nhủ rằng Beatriz đóng vai người em gái đau khổ của Adriano. Nỗi đau sinh ra nỗi đau. Vẫn là nỗi hận thù dẫn bạn đến chỗ bắt những người mà bạn từng yêu thương vô hạn phải chịu đựng điều tệ hại nhất. Nhưng có một sự khác biệt về tầm cỡ giữa hai tâm hồn lệch lạc này: Beatriz sẽ không đi đến tận cùng cơn điên loạn của mình. Mụ tra tấn Pénélope Lorenz cả về thể xác lẫn tinh thần, nhưng không tước đoạt sinh mạng Julian.
Khi quyết định trả đứa trẻ về với cha mẹ nó, mụ đã liên lạc với Adriano, mà mụ ngỡ là một cảnh sát thanh liêm, để nhờ hắn đóng vai trò trung gian. Mụ hẹn gặp Adriano ở Newtown Creek, giao đứa trẻ cho hắn để hắn trả cậu bé cho cha nó, rồi sau đó lao mình vào một đoàn tàu đang chạy tới.
Vậy nên chính trong những hoàn cảnh vị tất xảy ra mà Vua Cây Trăn đã có được con trai của Sean trong cốp xe mình. Một món hưởng xái miễn cho hắn khỏi phải bắt cóc một đứa trẻ khác. Hắn dẫn Julian về nơi nhốt giấu rồi giao cậu bé cho Bianca, theo một nghi thức lúc này đã được xác lập ổn định.
Những tuần tiếp theo. Theo cách thức thao tác mà hắn đã luôn tuân thủ, Sotomayor lên kế hoạch tước đoạt sinh mạng của Julian giữa khoảng cuối tháng Hai và đầu tháng Ba. Chỉ trừ có điều, ngày 14 tháng Hai năm 2015, Vua Cây Trăn đã bị giết hại một cách lãng xẹt ngay trước nhà mình bởi một tên bán lẻ ma túy.
Gaspard chớp mắt. Quay trở lại thực tại. Đây chính là câu chuyện như Madeline và anh có thể khôi phục lại. Bằng cách điền vào chỗ trống nhiều giả thiết. Biết đâu họ đã lầm đường, nhưng nếu không phải vậy, thì vẫn còn đó hai câu hỏi chưa có lời đáp. Vua Cây Trăn giam cầm mẹ hắn cùng các nạn nhân ở đâu? Và nhất là có cơ may nào, dù nhỏ nhất, để Julian và Bianca vẫn còn sống sót, gần hai năm sau khi tên cai ngục của họ chết đi hay không?
Câu trả lời cho câu hỏi sau cùng kia là: có lẽ là không. Về nơi giam cầm, họ nghĩ đã khoanh vùng được nó. Vài giờ trước, tại New York, Gaspard đã nghe theo trực giác của Madeline và gọi cho André, chồng Isabella. Người này đã khẳng định với anh rằng việc thừa kế từ Adriano đã kéo dài và trở nên phức tạp vì những hệ lụy pháp lý liên quan đến việc Bianca mất tích. Tóm lại, thủ tục chỉ được khai thông khi thẩm phán phụ trách thẩm cứu ký giấy chứng tử cho bác dâu của Isabella.
– André à, trong di sản thừa kế còn món bất động sản nào khác không? Một mảnh đất? Một nhà nghỉ mát? Một căn nhà gỗ?
– Có căn nhà cũ của gia đình Sotomayor ở Tibberton.
– Thời gian gần đây anh chị có tới đó không?
– Chưa từng! Isabella ghét cái xó khỉ ho cò gáy ấy. Còn phòng ngủ ở đó… cô ấy hãi hùng luôn! Tôi đã nhìn thấy những bức ảnh chụp, trông giống *Amityville hơn là *Martha’s Vineyard.
Chú Thích
Tên gọi của ngôi nhà nằm ở số 112 Ocean Avenue, một hạt thuộc thị trấn Babylon, Suffolk County, New York. Ngôi nhà này trở nên nổi tiếng sau vụ ám sát sáu thành viên trong một gia đình vào một buổi tối kinh hoàng năm 1974.
Chú Thích
Hòn đảo du lịch nổi tiếng thuộc Đại Tây Dương với diện tích khoảng 231.000 km², đồng thời là đảo lớn thứ ba ở miền Đông nước Mỹ.
– Hiện tại ai đang sống ở đó?
– Chẳng có ai hết. Từ một năm nay chúng tôi đã cố gắng bán nó đi, nhưng không mấy ai hỏi mua, mà nhân viên môi giới bất động sản cũng không có vẻ nhanh nhạy cho lắm.
Gaspard ghi lại địa chỉ. Khi anh kể lại chuyện này với Madeline, cô lưu ý rằng thật thiếu logic nếu lão Ernesto đã không tìm cách giải tán ngôi nhà tồi tàn đó vào cái thời lão bị chẩn đoán ung thư và tới sống ở nhà con trai tại New York. Giả thuyết cho rằng ngôi nhà này chính là nơi nhốt giấu của Adriano có vẻ đáng tin hơn. Nó kéo theo một rắc rối chết tiệt là phải thu xếp để đảm bảo việc tiếp tế cho người phụ nữ bị giam cầm trong khi hắn làm việc tại New York, nhưng vẫn có thể thu xếp được.
Gaspard cảm thấy tim mình đập nhanh hơn và máu chảy rần rật hai bên thái dương.
– Đừng có lồng lên thế chứ, Coutances. Tất cả những gì chúng ta sắp tìm ra chỉ là hai cái xác không hơn không kém, Madeline đã buột miệng phán như vậy trước khi lên đường.
3.
Sau hơn bốn giờ đi đường, lúc này họ đang cho xe chạy nhanh trên đường vành đai quanh Boston. Qua Burlington một chút, họ dừng ở một trạm phục vụ để đổ xăng. Gaspard muốn toàn tâm toàn ý với nhiệm vụ, nhưng với hai bàn tay bị thương, anh không thể đổ đầy được bình xăng.
– Chẳng thà anh đi kiếm cho tôi một cốc cà phê còn hơn! Madeline ra lệnh rồi giằng lấy vòi bơm xăng từ tay anh.
Anh đầu hàng và đi vào bên trong trạm phục vụ để tránh cái lạnh. Vài đồng xu được nhét vào máy bán đồ uống tự động. Hai cốc cà phê lungo pha loãng không đường. Đã gần 8 giờ tối. Trong một vài gia đình, bữa tối Giáng sinh hẳn đã bắt đầu. Những chiếc loa tiếp tục phát ra rả Great American Songbook phiên bản Giáng sinh. Gaspard nhận ra một phiên bản của Old Toy Trains, tác phẩm kinh điển của Roger Miller. Bố anh vẫn thường chơi ghi ta cho anh nghe phiên bản tiếng Pháp, Cậu nhóc, nổi tiếng với giọng ca của *Graeme Allwright. Ngay cả khi đã trưởng thành, hồi ức về những Giáng sinh đầu đời vẫn còn hiển hiện trong anh. Những khoảnh khắc vui vẻ nhất là những khoảnh khắc trải qua trong căn hộ hai phòng của bố anh. Ba mươi bảy mét vuông, quảng trường Paul-Lafargue ở Évry. Anh nhớ lại, tối ngày 24, mình đang bày bánh quy và trà nóng gần cây thông trước khi ông già Noel ghé qua. Anh còn nhớ những món quà anh thường chơi cùng bố: Big Jim, Vòng đua TCR, Cây Phép Thuật, Hà Mã Ham Ăn…
Chú Thích
(1926-2020): nam ca sĩ, nhạc sĩ Pháp gốc New Zealand, đặc biệt hay phóng tác và giới thiệu các tác phẩm nhạc Mỹ sang tiếng Pháp.
Thường thì ký ức này sẽ khiến Gaspard khóc sướt mướt nên anh hay gạt nó đi. Thế mà tối nay anh lại có thể chấp nhận nó không chút oán hận. Đơn giản như một khoảnh khắc đẹp mà ta nhớ về với lòng biết ơn. Và điều này thay đổi mọi thứ.
– Lạnh buốt thật, Madeline than vãn trong lúc tới gặp anh, ngồi lên một trong những chiếc ghế đẩu lung lay kê quanh mặt quầy bar bằng nhựa khuôn đúc.
Cô toan nốc cạn một hơi, nhưng cà phê quá nóng, cô không thể làm gì khác ngoài việc nhổ nó ra.
– Khỉ thật, Coutances, anh muốn giết tôi hay sao thế? Ngay cả một cốc cà phê thôi đối với anh cũng là quá phức tạp hay sao?
Madeline Greene trong toàn bộ vẻ lộng lẫy huy hoàng của cô. Gaspard bình thản đúng dậy đi lấy cho cô một cốc khác. Không có chuyện tranh cãi với cô và làm mất cái đà đang ngon trớn trong cuộc điều tra của họ.
Trong lúc đợi anh, Madeline kiểm tra điện thoại. Một thư điện tử từ Dominic Wu khiến cô chú ý: Quà đây, nếu em cô đơn vào đêm Thánh lễ. Giáng sinh vui vẻ nhé. Tin nhắn ngắn gọn được gửi kèm một tài liệu dung lượng lớn. Cô nhấp vào đó để mở tài liệu. Wu đã kiếm được thông qua ê kíp cộng sự một bản kê các giao dịch ngân hàng của Adriano. Tóm lại, một mỏ vàng.
– Ở đâu ra cái vẻ bỗng nhiên hoan hỉ của cô vậy? Gaspard hỏi đoạn đưa cho Madeline cốc cà phê anh đem về.
– Anh hãy xem qua cái này đi, cô đáp lời anh trong lúc chuyển tiếp tập tin PDF tới hòm thư của anh. Những khoản chi tiêu của Sotomayor. Ta cùng xem xét chúng thật kỹ rồi bàn về chuyện này sau nhé. Hãy tìm những khoản lặp đi lặp lại.
Madeline đặt cốc cà phê mới của cô lên bàn cạnh chiếc điện thoại thông minh. Trong vòng nửa giờ, mắt cô không rời khỏi điện thoại nữa. Đầu cúi gằm, cô tập trung, cho diễu qua trước mắt hàng chục trang tài liệu của bản kê, ghi chép lên một mảnh khăn trải bàn bằng giấy. Bên cạnh cô, Gaspard cũng có thái độ y hệt. Trông như hai con bạc khát nước bên máy chơi xu trong một sòng bài tại Las Vegas vậy.
Những khoản chi tiêu thường xuyên suốt ba năm cuối đời Sotomayor. Dạng tài liệu này giống như một máy quay chĩa vào cuộc đời hắn. Nó tiết lộ những thói quen, nhà hàng nơi hắn khoái chén món sushi vào bữa trưa, địa điểm những bãi đỗ xe quen, những trạm thu phí cầu đường mà hắn đi qua, tên những bác sĩ hắn năng lui tới, ngay cả những món chi tiêu có phần điên rồ mà hắn trót nuông chiều bản thân: đôi giày cao cổ hiệu Edward Green giá 1.400 đô, chiếc khăn Burberry chất liệu cashmere giá 600 đô…
Cuối cùng Gaspard ngẩng đầu lên, thất vọng.
– Tôi không thấy có gì trực tiếp nối liền Adriano với Tibberton, không quãng đường thường xuyên, không hóa đơn điện nước, không khoản trích nợ từ các cửa hàng trong vùng đó.
– Dĩ nhiên chuyện đó không nói lên gì nhiều. Một cảnh sát như Adriano có khả năng che giấu những giao dịch tài chính bằng cách thiết lập một hệ thống ghi sổ kép hoặc thanh toán bằng tiền mặt. Nhưng một vài chi tiêu thường xuyên cũng gây khá nhiều ngạc nhiên đấy.
Quả nhiên có bốn cửa hàng xuất hiện thường xuyên. Trước hết là Home Depot và Lowe’s Home Improvement. Hai nhãn hiệu lớn nhất về sửa chữa, xây dựng và đồ nghề trên cả nước. Số tiền ghi trên hóa đơn khá cao, cho phép đoán ra khối lượng công việc lớn. Dạng chỉnh trang cải tạo – cách âm, hệ thống thông gió… – mà bạn buộc phải thực hiện nếu muốn giam giữ ai đó trong một thời gian dài.
Công ty thứ ba kém tiếng hơn, và họ phải tìm kiếm trên Internet để tìm hiểu lĩnh vực hoạt động của nó. LyoφFoods là một công ty chuyên về lĩnh vực kinh doanh thực phẩm đông khô qua mạng. Đặc biệt, trên website của hãng, ta có thể tìm ra cả một tá những khẩu phần nhà binh hoặc khẩu phần sinh tồn. Những kiện hàng bao gồm những hộp cá mòi, những thanh lương khô, bò khô và những món ăn đông khô bảo quản dài hạn. Công ty chuyên cung cấp cho người leo núi hay thủy thủ, nhưng cũng cho đám cư dân – càng lúc càng đông đảo – tin chắc rằng ngày tận thế cận kề khiến cho việc dự trữ lương thực khối lượng lớn trở nên cần thiết.
Cuối cùng, những giao dịch tài chính cho thấy Sotomayor là khách hàng thường xuyên của website walgreens.com, một trong những chuỗi cửa hàng dược phẩm chủ chốt của nước Mỹ. Dĩ nhiên, người ta tìm thấy mọi thứ – hay gần như thế – ở Walgreens, nhưng nhất là những sản phẩm vệ sinh cần thiết cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
Madeline uống nốt cốc cà phê nguội ngắt của mình rồi quay sang Gaspard. Cô thấy rõ là anh cũng đang có cùng suy nghĩ với mình. Trong lòng họ nảy ra một tia hy vọng điên rồ. Và trong tâm trí họ nảy ra những hình ảnh để bấu víu: hình ảnh Bianca Sotomayor, một bà già mỏi mệt, bị cầm tù suốt nhiều năm qua dưới một căn hầm cách âm. Một nữ tù nhân bị giam cầm bởi chính đứa con trai mình rứt ruột đẻ ra mà bà ngờ hẳn là đã chết. Một người đàn bà đã chăm lo cho một đứa trẻ từ hơn hai năm nay, trong lúc thiếu thốn đủ điều, dè sẻn lương thực, nước uống, ánh sáng. Trong khi chờ đợi một ngày kia, biết đâu đấy, ai đó tới giải thoát họ.
– Khẩn trương nào Coutances, nhổ neo thôi.
4.
Những cây số cuối cùng chính là những cây số dài nhất. Con đường hướng đến Tibberton quanh co ngoắt ngoéo. Gần tới Salem, cần phải đi một quãng ngắn đường cao tốc US 1 trước khi men theo một con đường thoai thoải dốc lên vòng qua một khu rừng – được nhận diện trên thiết bị định vị GPS bằng cái tên lạ hoắc, Rừng Blackseedy –, rồi lại xuôi xuống phía bờ biển.
Gaspard liếc trộm Madeline. Cô đã thay đổi hoàn toàn khí sắc. Ánh mắt lấp lánh, hàng mi chớp chớp, đường nét cả quyết khiến cô giống với bức ảnh mà Gaspard từng nhìn thấy trong bài báo trên tờ New York Times. Ngay cả cơ thể cô cũng căng ra về phía trước, như vội vã tháo chỉ phẫu thuật trên đó.
Họ tới Tibberton sau năm giờ đi đường. Rõ ràng là hạt này đã bỏ phiếu thuận với việc tiết kiệm trong chiếu sáng nơi công cộng và trang hoàng cho lễ Giáng sinh: các đường phố chìm trong bóng tối, những tòa nhà văn phòng không được trang hoàng và ngay cả bến cảng cũng dường như tắt lịm. Họ thấy nơi này còn khô khan hơn cả những gì đọc được trên các hướng dẫn du lịch trực tuyến. Tibberton là một thị trấn nhỏ với vài nghìn dân, một trọng điểm xưa kia của nghề câu biển trải qua vài thập niên đã dần mai một, đình đốn vì danh tiếng của Gloucester, địa danh hàng xóm nổi tiếng được xem như thánh địa của cá ngừ đỏ. Kể từ đó, thị trấn gặp phải những khó khăn trong việc tìm ra chỗ đứng của mình giữa nghề đánh cá và du lịch.
Họ theo chỉ dẫn của thiết bị định vị GPS rời khỏi vùng duyên hải để trở lại với những con đường rải nhựa uốn lượn hình chữ chi giữa những thửa đất. Rồi họ tiến vào một con đường hẹp bao quanh là những bụi rậm. Sau một cây số đường, một tấm biển đề “FOR SALEĐể bán” xuất hiện trong ánh sáng đèn pha. “Please contact Harbor South Real EstateVui lòng liên hệ với Công ty bất động sản Harbor South” tấm biển mời chào kết thúc bằng một số điện thoại nội hạt.
Madeline và Gaspard nhảy xuống khỏi xe cùng lúc, vẫn để đèn pha bật sáng. Họ không có vũ khí, nhưng trong cốp xe có trang bị đèn pin, cây kìm tháo ván khuôn và thanh xà beng mà Gaspard đã mua ở Manhattan.
Trời vẫn lạnh như thế. Gió mạnh từ Đại Tây Dương thổi thốc vào mặt họ. Nhưng ở Tibberton, ngay cả trong không khí đẫm i ốt cũng có mùi phân.
Họ tiến lại gần khối nhà, kề vai sát cánh. Nhà của gia đình Sotomayor là một ngôi nhà nông thôn nho nhỏ kiểu thuộc địa chỉ có một tầng lầu duy nhất, lò sưởi trung tâm choán một góc rộng. Nếu xưa kia, nó hẳn phải rất đẹp, thì lúc này, trông nó thật thảm thê. Một ngôi nhà nông thôn u ám, bao quanh là những bụi ngấy và cỏ cao ngút, với một cánh cửa hai bên có hai cây cột đổ nát. Khó khăn lắm họ mới vạch được một lối đi xuyên qua những cái cây lởm chởm gai. Trong màn đêm đen, mặt tiền bằng ván gỗ thông tạo cảm giác đã được sơn lại bằng nhựa đường.
Họ không phải dùng đến xà beng. Cánh cửa ra vào đã mở hé. Nó đã bị phá khóa từ lâu, nếu căn cứ vào độ ẩm đã làm gỗ biến dạng. Họ chĩa luồng sáng đèn pin rồi tiến vào bên trong ngôi nhà. Ngôi nhà nông thôn trống rỗng một nửa, đầm mình trong thứ nước rỉ ra từ chính nó suốt nhiều năm nay. Chắc chắn đã bị đám du thủ du thực trong vùng viếng thăm nhiều lần. Căn bếp mở đã bị rút lõi. Quầy bếp bằng gỗ đã biến mất, những cánh cửa tủ đựng chén bát bị giật tung. Trong phòng khách chỉ còn lại chiếc trường kỷ bị phá toang và chiếc bàn khay đã vỡ tan. Trên nền nhà là hàng chục vỏ chai bia, bao cao su, xi lanh. Thậm chí họ còn trông thấy những viên đá xếp thành vòng tròn và tro tàn nguội ngắt cho thấy người ta từng nhóm một ngọn lửa ngay giữa phòng khách. Những kẻ chiếm nhà trái phép đã tới đây để hành lạc, ăn nhậu rồi hút hít dưới ánh lửa. Nhưng chẳng có gì chỉ ra rằng có người đã giam giữ các tù nhân ở đây.
Trong những căn phòng khác ở tầng trệt, chỉ có bụi bặm, ẩm thấp và sàn nhà biến dạng vì ngập nước tứ phía. Ở đằng sau ngôi nhà, một hàng hiên trông ra mảnh sân nhỏ có kê hai chiếc ghế bành Adirondack mốc thếch. Madeline buột miệng chửi thề khi trông thấy một ga ra lớn, hoặc một nhà kho chứa tàu với phần mái ngắn và khá dốc. Gaspard theo chân Madeline, cô băng qua vườn rồi lao bổ vào nhà kho. Nó cũng trống trơn.
Họ quay trở lại phía ngôi nhà. Bên dưới cầu thang bộ có một cánh cửa bị che khuất quá nửa cho phép vào tới một cầu thang bộ khác dẫn xuống không phải một hầm rượu, mà đúng ra là một tầng hầm rộng nơi chễm chệ độc nhất một bàn bóng bàn phủ mạng nhện. Ở cuối căn phòng này là một cánh cửa khác đã bật tung sau hai cú huých vai: phòng vệ sinh trống trơn của căn nhà tồi tàn. Rõ ràng là đã nhiều năm qua không ai lai vãng xuống đây.
Để tìm hiểu rõ, sau đó họ lên tầng gác nơi xưa kia bố trí các phòng ngủ và phòng tắm. Cả ở đây cũng chẳng còn lại gì nhiều. Ngoại trừ phòng ngủ mà hẳn là Adriano đã ở cho đến năm lên tám.
Ánh sáng đèn pin của Gaspard quét qua căn phòng, nơi lăn lóc những ký ức ám ảnh. Một tấm nệm, những kệ giá bị lật úp, những poster giấy láng đang mục mủn dưới nền nhà. Cùng những poster mà xưa kia bản thân anh cũng ghim trong phòng mình và lưu lại trong trí tưởng tượng thơ dại của anh: Hàm cá mập, Rocky, Chiến tranh giữa các vì sao… Sự khác biệt duy nhất giữa các danh nhân của họ: võ sĩ quyền Anh người Argentina Carlos Monzón thay thế Michel Platini của đội AS Nancy-Lorraine.
Gaspard chĩa đèn pin rọi vào mặt bên trong cánh cửa và nhìn thấy những vết bút chì cũ vẽ nên thước đo chiều cao truyền thống đáng kể xiết bao khi người ta còn là một cậu nhóc. Một cơn rùng mình bỗng lướt qua anh. Điều gì đó không khớp. Tại sao Ernesto vẫn giữ nguyên trạng phòng riêng của con trai mình, trong khi bản thân đã bị tước quyền trông nom cậu bé?
Gaspard ngồi xổm xuống. Những khung ảnh nằm lăn lóc trên nền nhà nhuốm bụi đã từ lâu lắc. Anh gại gại mặt kính để tẩy đi lớp cáu ghét. Những bức ảnh màu sắc nhạt nhòa của thập niên 1980 mà lũ trẻ thời nay tìm cách tái hiện thông qua những màng lọc trên Instagram. Những bức ảnh của một gia đình Mỹ: gương mặt gầy khô và tự phụ của Ernesto, những đường cong Latinh của mỹ nhân Bianca, cô nàng Monica Bellucci của Tibberton. Khuôn mặt Adriano trước năm ngọn nến cắm trên bánh sinh nhật. Mỉm cười để làm hài lòng người chụp ảnh, nhưng đã kịp có ánh mắt phần nào lơ đễnh mà bà giáo tiểu học từng nhắc tới. Gaspard gại gại mặt kính của một khung ảnh khác. Tấm ảnh thứ tư khiến anh sửng sốt: Ernesto cùng con trai mình ở tuổi thành niên. Chắc chắn là một bức ảnh được chụp trong lễ gia nhập lực lượng cảnh sát New York của Adriano. Ông bố quàng tay ôm cổ con trai một cách tự hào, bàn tay ông lại hạ xuống trên vai chàng thanh niên.
Vậy là Adriano đã gặp lại bố mình ngay từ tuổi mười tám đôi mươi, rất lâu trước khi ông bố ngã bệnh. Chuyện này thật khó hiểu. Hay nói đúng hơn, chuyện này tuân theo một logic đồi bại. Cái logic nói lên rằng, ngay khi ông ta không còn khả năng tặng cho cậu trận đòn nào nữa, Ernesto bèn thôi không còn là mối đe dọa đối với con trai ông ta và cậu thanh niên đã chấp nhận ở bên ông ta lần nữa. Thêm một lần nữa, Gaspard và Madeline ngạc nhiên vì Adriano đã chỉ trút nỗi căm hận của mình lên bà mẹ. Điều này thật bất công, chướng tai gai mắt, vô nghĩa. Nhưng kể từ một mức độ ghê rợn và dã man tàn bạo nào đó, thì cảm giác và tính hợp lý dĩ nhiên không còn là những công cụ hiệu quả để giải nghĩa cách xử sự của con người nữa rồi.
Bianca
Tôi là Bianca Sotomayor.
Tôi bảy mươi tuổi, từ năm năm nay, tôi là khách trọ thường xuyên của địa ngục.
Hãy tin vào kinh nghiệm của tôi: đặc trưng thực sự của địa ngục, đó không phải những khổ đau mà người ta bắt bạn phải chịu đựng ở nơi chốn đó. Sự khổ đau vốn dĩ tầm thường, gắn liền với cuộc đời. Từ khi sinh ra, khắp nơi con người đều phải chịu khổ đau, thời nào cũng thế, vì mọi chuyện mà cũng chẳng vì chuyện gì cả. Tính chất thực sự của địa ngục, ngoài cường độ những nỗi khổ đau của bạn, chính là bạn không thể chấm dứt chúng được. Bởi lẽ thậm chí bạn không còn khả năng tự tước đi mạng sống của mình.
Tôi sẽ không giữ chân bạn lâu thêm, tôi sẽ không tìm cách thuyết phục bạn. Trước hết là bởi vì ý kiến của bạn đối với tôi chẳng hề quan trọng. Sau nữa là vì bạn không thể làm gì giúp đỡ tôi hay chống lại tôi. Nói gì thì nói bạn cũng sẽ thích nghe những ký ức riêng lẻ và thiên vị của những kẻ sẽ chân thành thề thốt với bạn rằng Adriano là một cậu nhóc trầm lắng, giàu lòng thương người và rằng chúng tôi, cha mẹ nó, là những con quỷ.
Vậy thì đây, đối với tôi, sự thật duy nhất đứng vững: tôi đã chân thành cố gắng yêu thương con trai mình, nhưng điều này đã không bao giờ là một lẽ hiển nhiên. Ngay cả trong những năm đầu tiên. Tính cách của một đứa trẻ thể hiện hết sức nhanh chóng. Lên bốn hay năm tuổi gì đó, Adriano đã khiến tôi thấy sợ. Không phải vì thằng bé nghịch ngợm, khó bảo, nóng nảy – ở nó hội tụ tất cả những nét tính cách đó –, mà trên hết, thằng bé thật khó lường và xảo trá. Không ai dạy nổi nó. Cả tôi, bằng tình yêu thương của tôi lẫn bố thằng bé, bằng vũ lực của ông ta. Adriano không chỉ khước từ tình cảm của bạn, nó còn muốn khuất phục bạn mà không trao cho bạn gì hết. Nó muốn chế ngự bạn và không gì có thể khiến nó từ bỏ: cả những lời giảng giải của tôi lẫn những cú vụt thắt lưng bố nó giáng lên chúng tôi, với thằng bé là để khuất phục nó, với tôi là để trừng phạt vì tội đã sinh ra cái thằng nghịch tử này. Thậm chí trong lúc đau đớn, đôi mắt thằng bé vẫn khiến tôi đờ ra hoảng sợ: tôi nhìn thấy trong đó sự tàn ác và cơn thịnh nộ của một con quỷ. Dĩ nhiên, bạn sẽ nghĩ rằng toàn bộ chuyện này chỉ là do tôi khéo tưởng tượng ra. Có lẽ vậy, nhưng tôi thấy chuyện này vượt quá sức chịu đựng. Vậy nên ngay khi có cơ hội, tôi đã ra đi.
Tôi đã bước sang một trang mới. Thực sự. Người ta chỉ có một cuộc đời và tôi không muốn sống cuộc đời mình trong tư thế khom lưng cúi đầu. Ý nghĩa của một cuộc sống vốn thu hẹp lại chỉ còn là một chuỗi những nhiệm vụ khiến bạn buồn nôn sẽ nằm ở đâu đây? Hằng ngày loanh quanh trong một thị trấn tồi tàn tanh lòm mùi cá, có một cuộc sống hôn nhân gói gọn lại ở việc ăn đòn và thổi kèn để chàng võ sĩ được nghỉ ngơi thư thái, là nô lệ của một thằng con trai biến thái…
Tôi không tiếp tục cuộc sống của mình ở nơi khác, mà đã thực sự bắt đầu một cuộc sống khác: một người chồng khác, một đứa con khác – tôi không kể gì với thằng bé này về anh trai nó –, một đất nước khác, những người bạn khác, một môi trường nghề nghiệp khác. Tôi đã đốt hết, đẩy lùi hết những gì liên quan đến cuộc đời đầu tiên của mình, không chút hối tiếc.
Tôi có thể nói với bạn điều người ta thường đọc thấy trong những cuốn sách viết về bản năng làm mẹ và những ăn năn day dứt mà tôi cảm thấy. Tôi có thể nói với bạn rằng trái tim tôi thắt lại mỗi dịp sinh nhật Adriano, nhưng đó không phải sự thật.
Tôi không bao giờ tìm hiểu xem thằng bé đã trở thành người như thế nào. Tôi chưa bao giờ gõ tên Adriano lên Google và tôi cắt đứt liên hệ một cách triệt để với tất cả những ai có thể cho tôi biết tin tức về nó. Tôi đã ra khỏi cuộc đời Adriano và nó ra khỏi cuộc đời tôi. Cho đến cái ngày thứ Bảy tháng Một khi ai đó bấm chuông cửa nhà tôi. Đó là buổi hoàng hôn một ngày đẹp trời. Mặt trời đang tỏa chiếu những tia nắng cuối cùng. Ở vị trí sấp bóng, đằng sau tấm lưới chống muỗi, tôi nhìn thấy bộ sắc phục màu xanh nước biển của một cảnh sát.
– Chào mẹ, nó chào tôi ngay khi tôi mở cửa.
Đã hơn ba chục năm nay tôi không gặp lại Adriano, nhưng nó vẫn không thay đổi. Vẫn ánh lửa nguy hại luôn lấp lánh nơi đáy mắt nó. Nhưng sau ngần ấy năm, tàn lửa đã trở thành ngọn lửa rực cháy.
Vào khoảnh khắc đó, tôi đã nghĩ nó quay trở lại để giết tôi.
Tôi còn lâu mới hình dung được điều đang đợi mình còn tệ hại hơn thế nhiều.
21
Cây số 0
Ai cũng từng viết hay vẽ, điều khắc, tạo hình, xây dựng, sáng tạo chỉ để thực sự thoát ra khỏi địa ngục.
*Antonin ARTAUD
Chú Thích
(1896-1948): nhà lý luận sân khấu, nhà văn, nhà thơ, nhà tiểu luận, nhà hình họa người Pháp.
1.
Bối rối, Madeline đấu tranh nội tâm quyết liệt để không đầu hàng. Ánh mắt Gaspard nhìn đăm đăm vào khoảng không vô định hệt như một võ sĩ quyền Anh bị choáng. Họ đã rời khỏi ngôi nhà hoang tàn sau khi lục lọi toàn bộ một lần nữa. Uổng công vô ích. Mất phương hướng và mệt mỏi, họ quay về phía Tibberton rồi đỗ xe lại trên bến cảng. Tê cóng vì cái lạnh cắt da cắt thịt, họ nhanh chóng từ bỏ ý định thoáng xuất hiện là tản bộ trên đê chắn sóng rồi vội vã tìm chỗ trú trong nhà hàng duy nhất mở cửa lúc 23 giờ đêm Giáng sinh. Nhà hàng Lão Ngư là một quán rượu địa phương đang phục vụ khoảng chục thực khách, rõ ràng là những khách quen, những fish and chipscá tẩm bột chiên ăn kèm khoai tây chiên và món xúp sò kèm vài cốc loại bia nâu nặng độ.
– Chúng ta có thể làm gì hơn đây? Gaspard thắc mắc.
Madeline lờ anh đi. Không buồn động tới bát clam chowderxúp nghêu trước mặt, cô đã lại vùi đầu vào phân tích những giao dịch tài chính của Sotomayor. Trong vòng mười lăm phút, cô vẫn mài mắt đến kiệt sức trên những dãy số, trước khi thừa nhận là mình chẳng tìm được ra chi tiết nào mới mẻ. Không phải trí óc cô từ chối đào sâu nghiền ngẫm, chỉ đơn giản là chẳng còn nguyên liệu nào để đào sâu nghiền ngẫm nữa. Không còn hướng điều tra nào để theo, chẳng còn luống đất nào để cày sâu cuốc bẫm.
Thậm chí hy vọng không kéo dài nổi một giờ, nhưng nó đã tồn tại. Hiện tại, trong lúc điểm lại những sai lầm của họ, Madeline tự trách mình vì đã không đủ tin tưởng vào câu chuyện này.
– Giá mà tôi ở đó khi Sean tới New York gặp tôi thì mọi chuyện đã khác. Chúng ta có lẽ đã tranh thủ được một năm. Một năm trời kia đấy, anh hiểu không!
Ngồi phía sau khay sò của mình, bỗng nhiên Gaspard cảm thấy tội lỗi và tìm cách an ủi cô:
– Như thế cũng chẳng thay đổi được gì đâu.
– Dĩ nhiên là có chứ!
Cô có vẻ thực sự chán ngán. Gaspard để một thoáng im lặng trôi qua, rồi quyết định thú nhận:
– Không đâu, Madeline, như thế cũng chẳng thay đổi được gì đâu, bởi lẽ Sean Lorenz chưa từng đến New York tìm gặp cô.
Cô gái nhìn anh không hiểu.
– Lorenz hoàn toàn mù tịt về sự tồn tại của cô, anh nói rõ.
Madeline nhướng mày. Cô tuyệt vọng.
– Anh đã cho tôi xem bài báo viết về tôi mà anh tìm thấy trong ngăn kéo tủ của ông ấy.
Gaspard khoanh tay rồi thản nhiên khẳng định:
– Chính tôi đã tải bài báo đó về từ Internet vào ngày hôm kia. Và chính tôi đã ghi chú vào đó.
Một khoảng tạm dừng. Madeline triệu hồi các ký ức của mình rồi ấp úng:
– Anh… anh đã nói với tôi là số điện thoại của tôi lặp lại nhiều lần trên bảng kê các cuộc gọi của ông ấy kia mà.
– Vụ đó cũng vậy, chính tôi đã cùng với Karen làm giả những tài liệu này một cách sơ sài. Vả chăng, tôi đã tự chuốc lấy vất vả chẳng để làm gì, bởi vì cô chưa bao giờ tìm cách kiểm chứng chúng.
Bàng hoàng, Madeline không chịu chấp nhận cái điều mà cô coi như sự khiêu khích lần thứ n của Coutances.
– Lorenz đã chết trên Phố 103, chỉ cách văn phòng cũ của tôi vài khối nhà mà. Đó là sự việc đã được xác nhận. Tất cả phương tiện truyền thông đại chúng trên toàn thế giới đều nhắc đến chi tiết này. Ông ấy đã có mặt ở đó bởi vì ông ấy muốn gặp tôi.
– Lorenz đã ở đó, đúng thế, nhưng chỉ vì phòng thí nghiệm Pelletier & Stockhausen cách đó không bao xa thôi. Người ông ấy tới gặp không phải cô, mà là Stockhausen.
Rốt cuộc cũng bị thuyết phục, nhưng vẫn bàng hoàng vì một sự cả gan đến thế, Madeline đứng bật dậy khỏi chiếc ghế dài.
– Anh không đùa đấy chứ?
– Tôi đã bịa ra câu chuyện này để thu hút sự chú ý của cô. Bởi vì tôi muốn kéo cô vào cuộc điều tra này.
– Nhưng… tại sao chứ?
Gaspard cao giọng rồi đến lượt anh đứng dậy khỏi chiếc ghế tựa nơi anh đang ngồi:
– Bởi vì tôi muốn chúng ta cố gắng hiểu chuyện đã thực sự xảy đến với đứa trẻ đó, nhưng chuyện này có vẻ chẳng khiến cô bận tâm.
Xung quanh họ, những cuộc trò chuyện đã lặng đi và một không khí im ắng dày đặc ngự trị trong căn phòng được sưởi ấm quá mức.
– Tôi đã giải thích nguyên do với anh rồi đấy thôi.
Anh chĩa một ngón trỏ hăm dọa trước mặt cô rồi bùng nổ:
– Đối với tôi, như thế là không đủ! Và tôi đã đúng! Cô luôn coi như Julian đã chết rồi. Cô chưa bao giờ chấp nhận tính đến khả năng chúng ta có thể cứu cậu nhóc!
Bỗng nhiên Madeline nhận thức được đầy đủ sự thao túng của Coutances và cảm thấy tấm màn đỏ của cơn giận dữ chụp lên mắt mình.
– Anh bệnh hoạn quá đấy… Anh thật lắm tài nhiều tật! Trí óc anh hỏng thật rồi, anh…
Hai tai ù ù cơn điên giận, cô nhảy xổ vào túm cổ anh. Gaspard đẩy cô ra, nhưng Madeline lại lao vào, thúc cho anh một cú khuỷu tay vào mạng sườn, tiếp đó là hai cú đấm. Rồi một cú đấm thẳng vào mũi, nối tiếp bằng một cú đấm móc vào ổ bụng.
Gaspard chịu đựng những cú đấm mà không thể tự vệ. Người gập làm đôi, anh ngỡ cơn dông bão đã qua đi, nhưng một cú lên gối mạnh mẽ đã khiến anh ngã lăn quay ra đất.
Madeline rời khỏi nhà hàng như một cơn lốc xoáy.
Lúc này tiếng ồn ào huyên náo đã khuấy động nhà hàng. Thương tích đầy mình, Gaspard khó nhọc đứng dậy. Môi anh sưng vù, mắt phải đau nhói. Anh bị trật khớp xương ngón tay. Mũi anh rỉ máu.
Anh tập tễnh rời khỏi nhà hàng rồi cố gắng đuổi kịp Madeline trên bến cảng. Nhưng khi anh tới cuối đê chắn sóng, cô đã khởi động chiếc xe bán tải. Chiếc xe phóng thẳng về phía anh. Thoạt tiên anh ngỡ cô chỉ tìm cách dọa cho anh sợ, nhưng cô không hề cho xe đổi hướng. Anh hốt hoảng nhảy sang một bên và tránh được cú tông trong gang tấc.
Trong tiếng lốp nghiến ken két, chiếc xe dừng lại sau khi lao thêm chừng năm mươi mét nữa. Cửa xe bật mở và anh nhìn thấy Madeline đang quẳng tất cả đồ đạc cá nhân của anh xuống lối đi dạo bằng gỗ: túi xách, cuốn sổ gáy xoắn và ngay cả con thú bông của Julian.
– Đi chết đi! cô gào lên.
Cô đóng sập cửa xe lại rồi đột ngột tăng tốc. Các bánh xe trượt trên mặt gỗ ướt nhẹp, rồi chiếc xe bán tải cân bằng trở lại và rời bến cảng hệt như một xe thổ mộ phi nước đại.
2.
Cô ả đó đã làm gì với mặt chú em vậy!
Mũi tuôn máu, Gaspard đang ngồi trên một băng ghế ở chân tượng đài tưởng niệm trên bến cảng: một tàu kéo lưới rê bằng đồng thanh được dựng lên để tưởng nhớ những ngư dân trong vùng đã bị biển cướp đi sinh mạng suốt gần ba thế kỷ qua.
– Đúng là cô ả đã phá nát mặt tiền của chú em rồi, lão thủy thủ tươi cười với hàm răng đã móm phân nửa nói tiếp đoạn chìa cho anh một mớ khăn giấy.
Gaspard gật đầu thay lời cảm ơn. Đó là một kẻ nát rượu mà trước đó một lúc anh đã nhìn thấy tại quầy bar nhà hàng. Một lão già râu ria mắc chứng máy cơ đội chiếc mũ thuyền trưởng và mút một que cam thảo giống như em bé mút ti giả vậy.
– Cô ả đã táng vỡ mặt chú em, lão say nhấn mạnh trong lúc đẩy lui những đồ đạc cá nhân mà Gaspard đã thu nhặt trên mặt đường để ngồi xuống băng ghế cạnh anh.
– Thôi được rồi mà, đừng nói thêm nữa!
– Riêng bọn ta thì được chứng kiến một cảnh tượng ngoạn mục luôn! Hiếm khi thấy một ả đàn bà oánh nhừ tử một thằng đàn ông. Thường thì mọi chuyện phải diễn biến ngược lại chứ nhỉ.
– Để cho tôi yên đi!
– Ta là Big Sam, lão già tự giới thiệu, thờ ơ với tâm trạng bực bội của anh.
Gaspard rút điện thoại của anh ra.
– Được rồi, dù ông có là Big Sam hay là ai chăng nữa cũng vậy thôi, ông có biết tôi có thể gọi taxi ở đâu không?
Lão già cười lăn cười bò.
– Vào giờ này thì chú em sẽ không tài nào tìm được taxi trong vùng này đâu, anh chàng cao bồi ạ. Vả lại trước khi chuồn đi, chú em phải nghĩ đến việc thanh toán hóa đơn đã nhé!
Gaspard phải công nhận lão ta nói đúng. Trong lúc hỗn loạn, Madeline và anh đã rời khỏi nhà hàng mà chưa trả tiền bữa tối của họ.
– Nhất trí, anh thừa nhận trong lúc dựng cổ áo vest lên.
– Ta đi cùng chú em, lão nát rượu tuyên bố. Nếu chú em muốn thết đãi lão già Big Sam một chầu rượu, thì không bị từ chối đâu, hãy tin ta đi.
3.
Madeline bật khóc.
Và cậu nhóc kia đang nhìn cô.
Cô đổ nhiều nước mắt đến nỗi không nhìn thấy gì nhiều qua kính chắn gió. Cô đã bỏ lại Gaspard được chừng mười phút thì bỗng, ngay giữa một khúc ngoặt, chiếc xe bán tải lạng đi, cô thấy mình đối diện một chiếc xe đang đi ngược chiều. Ánh đèn pha khiến cô lóa mắt như thể người ta đang chĩa một chiếc máy chiếu vào mặt cô, chỉ cách vài xăng ti mét. Cô vần vô lăng bằng toàn bộ sức lực của mình, nghe thấy một tiếng còi giận dữ và tuyệt vọng. Kính chiếu hậu của hai xe va vào nhau, chiếc xe bán tải chồm lên vệ đường, trượt đi, rồi rốt cuộc dừng khựng lại bất động, thiếu chút nữa là rơi xuống hố.
Mẹ kiếp.
Chiếc xe kia vừa te tái biến mất vào màn đêm. Madeline thu hết sức bình sinh tung một cú đấm vào tay lái rồi òa khóc tức tưởi. Bụng cô lại đau nhói lên. Cô đã chối bỏ cơn đau cả ngày trời, và cơn đau đã trả thù cô. Toàn thân cô rung chuyển. Hai bàn tay áp lên bụng, cô thu mình trên ghế lái rồi ngồi yên như thế nhiều phút liền, kiệt sức, bị bao bọc trong màn đêm tối đen như mực.
Cậu nhóc vẫn đang nhìn cô.
Đó là bức ảnh chụp Adriano Sotomayor mà Gaspard đã tìm thấy trong ngôi nhà. Buổi tiệc sinh nhật mừng cậu lên năm tuổi, ít lâu trước khi mẹ cậu rời bỏ hàng ngũ chiến đấu. Đó là một buổi tối mùa hè. Đằng sau những ngọn nến là một cậu nhóc đang mỉm cười với ống kính máy ảnh. Cậu mặc một chiếc áo may ô màu vàng, quần soóc kẻ sọc, đi xăng đan nhẹ.
Madeline đưa ống tay áo chùi nước mắt rồi bật đèn trần trong xe.
Bức ảnh này khiến cô bối rối. Thật khó để vừa ngắm nhìn nó vừa tự nhủ rằng con quái vật đã ở đó, mầm mống, trong trí óc và thể xác của cậu nhóc ấy. Cô biết lý thuyết của một vài bác sĩ tâm lý theo đó mọi thứ đều đã hình thành ở tuổi lên ba. Một lời khẳng định luôn khiến cô phẫn nộ.
Thế ngộ nhỡ lý thuyết đó là đúng thì sao? Biết đâu mọi thứ đã ở đó, trong ánh mắt này, những khả năng cũng như những giới hạn. Cô gạt ý nghĩ này đi. Người ta không sẵn mang trong mình một con quỷ ở tuổi lên năm. Cô đã muốn vây dồn một con quái vật, nhưng con quái vật đã chết từ lâu và chẳng còn ai để săn đuổi nữa. Chỉ còn lại bóng ma của một đứa trẻ.
Một đứa trẻ. Một cậu nhóc. Giống như con trai của Jonathan Lempereur đang chơi với chiếc máy bay trong trung tâm thương mại. Giống như đứa con cô muốn mang trong mình. Giống như Julian Lorenz. Một đứa trẻ.
Cô thở dài. Cách đây đã lâu, cô từng theo những khóa đào tạo và đọc những cuốn sách để học cách tự đặt mình vào “tâm trí kẻ sát nhân”. Ngay cả khi trong khóa đào tạo đó có nhiều ảo tưởng và những lời nói khoa trương, thì thâm nhập vào tâm trí tội phạm vẫn là một trong những món thuốc phiện vĩ đại đối với cảnh sát. Nhưng tự đặt mình vào tâm trí một đứa trẻ lên năm thì…
Mắt nhìn chăm chú vào bức ảnh, cô cố gắng thầm chất vấn cậu bé.
Cháu tên là Adriano Sotomayor.
Cháu năm tuổi… và cô không biết trong đầu cháu đang nghĩ gì. Ngay cả khi công việc thường ngày của cô là hình dung ra nó. Cô không biết cháu cảm thấy những gì trong khoảnh khắc thổi nến mừng sinh nhật. Cô không biết cháu cảm thấy những gì trong cuộc sống thường nhật. Cô không biết cháu gán cho toàn bộ chuyện này ý nghĩa nào. Cô không biết thực sự cháu làm thế nào để trụ vững. Cô không biết những kỳ vọng của cháu là gì. Cô không biết buổi tối khi đi ngủ cháu nghĩ đến điều gì. Cô không biết việc cháu đã làm buổi chiều hôm ấy.
Cô cũng không biết trong đầu bố cháu nghĩ gì. Cô không biết câu chuyện của ông ta. Cô không biết tại sao ông ta lại bắt đầu trút lên cháu những trận đòn. Cô không biết tại sao người ta lại ra nông nỗi ấy: một người cha, đứa con trai của ông ấy, những màn trừng phạt trong một khoang tàu. Những cú vụt thắt lưng, những vết bỏng do thuốc lá gí vào, dúi đầu vào bồn cầu.
Cô không biết liệu ông ta có vì giận cá chém thớt mà trút hết lên cháu không. Có lẽ là trách giận bản thân ông ta chăng? Chính bố cháu ấy? Gã chủ nhà băng từ chối giảm hối phiếu cho ông ta chăng? Xã hội? Vợ ông ta? Cô không biết tại sao quỷ dữ lại ám ông ta để rồi sau đó ông ta trở thành quỷ dữ với cháu.
Madeline ghé mặt lại gần bức ảnh hơn.
Và cậu nhóc đang nhìn cô.
Nhìn thẳng vào mắt cô.
Người ta đâu phải một con quỷ lúc lên năm lên sáu, nhưng người ta có thể đã mất sạch sành sanh. Niềm tin, niềm yêu mến, những ước mơ.
– Cháu đi đâu hả nhóc Adriano? cô nhỏ giọng thì thào. Cháu đi đâu khi ánh mắt cháu chuồn đi? Cháu đi đâu khi ánh mắt cháu lảng đi nơi khác?
Nơi khác ấy là ở đâu?
Nước mắt lại chảy giàn giụa. Cô cảm thấy mình sắp chạm được tay vào sự thật. Nhưng sự thật đã lẩn tránh. Sự thật, đôi khi đó là câu chuyện của nửa giây, nhất là khi bạn đi xa đến thế để tìm kiếm nó. Một ý tưởng chợt nảy ra. Im lặng ngay trước một tiếng tách.
Ngay từ đầu, cô đã luôn một mực không chịu tin rằng câu chuyện này có thể kết thúc bằng một cách nhìn mới mẻ về quá khứ. Cô cũng chẳng trông mong điều gì thần diệu. Sẽ không đời nào có chuyện một ánh trăng sẽ bắt đầu sáng lấp lánh trên bảng điều khiển xe. Sẽ không đời nào có chuyện Adriano sẽ trở nên sống động rồi thì thầm vào tai cô điều bí mật của cậu ta.
Nhưng vẫn còn đó câu hỏi Gaspard đã đặt ra cho cô. Chúng ta có thể làm gì hơn đây? Đó là câu hỏi sau cùng của mọi cuộc điều tra, và cô không muốn bỏ lỡ câu hỏi của gã ngốc Coutances kia.
Cô vặn chìa khóa điện, bật xi nhan rồi xoay xở để đưa xe quay lại đường cái mà không lọt xuống hố. Thay vì trở về New York, cô quay ngược đầu xe theo hướng Tibberton. Cô còn chưa xong chuyện với Gaspard Coutances.
4.
Với Big Sam theo bén gót, Gaspard ngược lên đầu đê chắn sóng tới tận nhà hàng Lão Ngư.
Tới đó, anh phải chịu đựng những lời chế nhạo của đám khách có mặt tại quán, nhưng những gã say không độc địa. Một khi đã cười cợt thỏa thích xong, thậm chí họ còn mời anh một ly. Phản ứng đầu tiên của anh là từ chối để giữ điều độ, rồi anh lại thôi không đề cao cảnh giác nữa. Tỏ ra tiết hạnh để làm gì khi giờ đây cuộc điều tra đã kết thúc?
Anh thong thả nếm cốc whisky đầu tiên rồi ngay sau đó gọi một chầu cho riêng mình. Sau khi uống cạn hai cốc nữa, anh để hai tờ năm mươi đô lên quầy rồi yêu cầu người ta để lại chai rượu cho mình.
Tôi tên là Gaspard Coutances và tôi nghiện rượu.
Rượu đã phát huy tác dụng. Và Gaspard cảm thấy dễ chịu hơn. Đó là khoảnh khắc tươi đẹp nhất: sau vài ba cốc, khi bạn đã thôi ức chế, đã trút bỏ được sự xấu xa của thế giới, nhưng bạn vẫn chưa hoàn toàn bung xõa. Vả chăng, thường là chính trong trạng thái này, anh đã viết nên những câu đối đáp hay ho nhất. Những ý tưởng gần như sáng rõ. Tuy nhiên, sau một hồi, đám nát rượu bắt đầu khiến anh khó chịu. Quá nhiều giọng oang oang, quá nhiều sự phân biệt giới tính, quá nhiều kỳ thị người đồng tính luyến ái, quá nhiều những điều ngu ngốc được tuôn ra mỗi phút. Vả lại, anh vẫn thích quá chén một mình hơn. Uống say là một hành động riêng tư và bi thảm: đâu đó giữa thủ dâm và chích choác ma túy. Anh vớ lấy chai whisky lúa mạch đen rồi tìm ra nơi trú ẩn trong một căn phòng phụ. Một dạng phòng hút thuốc hơi sầu thảm với những mặt tường căng nhung đỏ và được trang trí bằng lao xiên cá, những bức tranh khắc phóng đãng và những bức ảnh đen trắng chụp ngư dân trong vùng tạo dáng cùng những chiến lợi phẩm hiển hách nhất của mình trước mũi tàu của họ. Tổng thể đem lại cho căn phòng một bầu không khí kỳ quặc: Ông già và biển cả được *Toulouse-Lautrec họa lại.
Chú Thích
(1864-1901): họa sĩ người Pháp nổi tiếng với các tác phẩm mô tả cuộc sống sôi động và đầy màu sắc ở Paris cuối thế kỷ 19. Ông được coi là một trong những họa sĩ vĩ đại của trường phái Hậu ấn tượng, cùng với Cézanne, van Gogh và Gauguin.
Anh ngồi vào một chiếc bàn, để đồ đạc lên cái ghế tựa trước mặt. Anh tự rót cho mình cốc thứ tư rồi bắt đầu lật trang cuốn sổ trong đó anh đã ghi chép lại toàn bộ cuộc điều tra. Câu chuyện này, đó là biên niên ký về thất bại của anh. Có lẽ anh đang mặc áo vest và xức nước hoa của Sean Lorenz, nhưng anh không phải ông ấy. Anh không đủ tầm để theo đuổi hoạt động này. Và Madeline nói đúng: người ta không ngẫu hứng trở thành nhà điều tra. Vì vô vàn lý do, anh đã tin chắc rằng mình sẽ tìm ra và cứu sống Julian. Bởi lẽ, cứu sống đứa trẻ này là cứu sống chính anh. Anh đã bám víu vào cuộc tìm kiếm này bởi vì anh nhìn thấy ở đó một phương cách tiện lợi để chuộc lại những thất bại trong cuộc sống với cái giá quá hời. Nhưng người ta không chuộc lại được những sai lầm của cả một đời chỉ trong vài ngày.
Anh nhấp một ngụm rượu rồi nhắm mắt lại. Hình ảnh Julian chết gí trong một căn hầm đã ăn sâu vào tâm trí anh. Có chăng một cơ may nhỏ nhoi rằng cậu nhóc đó vẫn còn sống? Anh không còn bất cứ niềm tin chắc nào nữa. Vả chàng, ngay cả khi nhờ phép mầu họ tìm ra được cậu nhóc còn sống, thì một đứa trẻ sẽ rơi vào tình trạng nào sau hai năm bị giam cầm? Và tương lai của nó sẽ là thế nào đây? Bố nó đã chết trong khi cố gắng cứu sống nó, mẹ nó đã tự bắn một phát đạn vào đầu mình trong một toa tàu được cải dụng. Có những khởi đầu cuộc sống tốt đẹp hơn mà…
Trong lúc lật trang cuốn sổ của mình, Gaspard dừng ở một trong những bức ảnh chụp “Thợ pháo hoa” mà anh đã cắt trong cuốn chuyên khảo do Benedick viết. Đó là bức ảnh anh thích nhất. Trước hết là bởi nó mang trong mình tính xác thực của một thời đại: New York thô ráp và underground hồi cuối thập niên 1980. Sau là vì nó chính là bức ảnh duy nhất cho thấy ba kẻ ranh mãnh có vẻ gần như hạnh phúc. Bấy giờ họ hai mấy tuổi đời, và họ đang diễn trò hề sau cùng trước ống kính: ngón cái ấn vào mũi, các ngón còn lại vẫy vẫy, trước khi ba số phận của họ tan nát hoặc cất cánh. Đầu tiên là Beatriz Muñoz, được biết đến với biệt danh LadyBird, “nữ nhân điểu” vốn bị trọng lượng một trăm hai mươi kí lô và vóc dáng vận động viên cử tạ đóng đinh vào thực tại và không cho cất cánh bay lên. Trong bức ảnh này, bà ta giấu thân hình dưới một chiếc áo choàng nhà binh và đang mỉm cười với gã trai đứng bên phải mình: Lorz74, người khi ấy vẫn chưa trở thành Sean Lorenz thiên tài. Người sẽ vẽ nên những bức tranh khiến mọi người phát cuồng. Ông đã ngờ đến số phận đang chờ đợi mình chưa? Dĩ nhiên là chưa. Trong ảnh, ông chỉ nghĩ đến việc văng tục với thằng bạn thân đang vờ như hắt nước vào bức tranh: NightShift, tức Adriano Sotomayor.
Gaspard nhìn Adriano chăm chú hơn. Lúc này, dưới ánh sáng soi chiếu của những gì anh đã biết, Gaspard đã thay đổi đánh giá ban đầu của mình. Ba ngày trước, khi lần đầu tiên nhìn thấy bức ảnh này, anh đã nghĩ rằng gã Latinh đang đóng vai du côn trong chiếc áo sơ mi phanh cúc và vẻ yêng hùng, nhưng thái độ anh từng cho là một cảm giác trịch thượng trên thực tế chỉ là một dạng dửng dưng, vẫn ánh mắt xa xăm hắn có từ thời nhỏ.
Gaspard vẫn chăm chú vào khuôn mặt của Vua Cây Trăn tương lai. Anh đã thất bại trong việc tìm ra *rosebud của Adriano. Chìa khóa mở mọi cánh cửa. Chi tiết tiểu sử nhỏ nhặt soi sáng toàn bộ nghịch lý của một cuộc đời, nó giải thích bản chất thực sự của con người, cái mà người ta chạy theo, cái mà người ta dành cả cuộc đời để trốn chạy. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, anh có cảm tưởng rằng lẽ hiển nhiên nằm ở đó, trước mắt anh, nhưng anh không thể trông thấy nó. Một ký ức thời niên thiếu tới thọc léc anh, việc đọc Lá thư bị đánh cắp của Edgar Allan Poe và bài học cốt yếu của nó: cách tốt nhất để che giấu thứ gì, đó là để nó khơi khơi ra đó.
Chú Thích
Trong phim Công dân Kane, từ khóa “rosebud” (nụ hồng) là một đầu mối bí ẩn để nhân vật phóng viên Thompson mở ra cánh cổng đề “cấm vào” và khám phá cuộc đời của Kane – ông trùm truyền thông vừa qua đời trong sự cô đơn, lạnh lẽo.
Không hề ý thức về việc mình làm, anh máy móc lôi cây bút ra rồi bắt đầu ghi chép giống như trước nay đã có thói quen đó khi viết kịch. Anh đọc thấy điều mình đã viết thoáy ra: đôi ba ngày tháng, biệt danh của các Thợ pháo hoa, những “cơn bột phát” của họ. Anh sửa một lỗi chính tả: có lẽ vì đang bơi trong không khí biển của căn phòng, anh đã viết NightShipCon tàu đêm thay vì NightShiftCa đêm.
Anh gấp quyển sổ lại, uống cạn cốc rượu rồi thu dọn đồ đạc. Đầu nặng trịch, anh lê bước ra tận quầy. Ở đó đã vãn người hơn và tiếng ồn ào huyên náo đã có phần tiêu tan. Anh hỏi ông chủ nhà hàng xem có thể tìm phòng nghỉ qua đêm ở đâu. Người kia đề xuất giúp anh gọi vài cú điện thoại. Gaspard gật đầu cảm ơn ông ta. Ngồi ngả ngớn trên ghế quầy bar, Big Sam bám lấy anh như một con đỉa.
– Chú em mời ta một ly nhé, anh chàng cao bồi?
Gaspard rót cho ông ta một cốc đầy tràn từ chai whisky của mình.
Ngay cả khi bản thân anh không uống nữa, thì chai whisky lúa mạch đen vẫn bắt đầu phát huy tác dụng. Tâm trí anh bấn loạn. Anh cảm thấy mình đang ngang qua rất gần điều gì đó, nhưng đã để nó trôi tuột mất.
– Ông quen biết gia đình Sotomayor chứ?
– Dĩ nhiên rồi, tay nghiện rượu đáp, ở đây ai chẳng quen biết họ. Chú em hẳn đã trông thấy vợ của Thuyền trưởng rồi… Cô ta tên là gì ấy nhỉ?
– Bianca chăng?
– Đúng đới, chính thế, một vẻ đẹp quá mức cho phép. Ta sẵn lòng găm một viên đạn vào cái con…
– Ernesto được người ta gọi là Thuyền trưởng ư? anh ngắt lời lão.
– Chính thế.
– Tại sao?
– Ôi giời, chú em ngốc thế nhỉ: bởi vì ông ấy là thuyền trưởng chứ sao, tất nhiên rồi! Thậm chí đó còn là một trong những người hiếm hoi có được giấy phép đánh bắt xa bờ nữa kia.
– Ông ta có thuyền gì vậy? Một tàu đánh cá lưới rê chăng?
– Chắc chắn không phải một thuyền buồm dọc rồi!
– Tên tàu của ông ta là gì vậy?
– Ta không rõ nữa. Phải trả giá chứ nhỉ. Chú em lại rót hầu ta một chầu nữa nhé?
Thay vì chầu rượu và bất chấp hai bàn tay đau nhức của mình, Gaspard chụp lấy cổ lão già nát rượu rồi gí sát mặt anh vào mặt lão.
– Tàu của ông bố nhà Sotomayor tên gì? anh phát cáu.
Big Sam vùng thoát ra.
– Chú em bình tĩnh lại đi, cậu trai thân mến! Chẳng ra cái kiểu gì cả!
Vẻ quyền uy, lão già nát rượu vồ lấy chai whisky rồi ngửa cổ tu ừng ực nhiều ngụm. Khi đã bình tĩnh lại, lão lau cái miệng móm mém rồi nhảy xuống khỏi ghế ngồi.
– Theo ta nào.
Lão kéo Gaspard vào phòng hút thuốc và trong chưa đầy một phút đã tìm ra một khung ảnh treo trên tường trong đó Ernesto Sotomayor đang tạo dáng với đoàn thủy thủ của mình đằng sau một con cá ngừ đỏ trọng lượng phải hơn một tạ. Nước ảnh đen trắng. Nó hẳn được chụp từ giữa thập niên 1980, nhưng độ phân giải rất tốt. Gaspard lại gần khung ảnh. Đằng sau các ngư dân, người ta nhìn thấy một tàu kéo lưới rê to đùng ngã ngửa. Anh nheo mắt để đọc tên con tàu. Nó tên là Night Shift.
Gaspard bắt đầu run rẩy. Anh cảm thấy mắt mình mờ đi vì xúc cảm.
– Con tàu đánh cá lưới rê này đã ra sao khi Sotomayor về nghỉ hưu? Nó vẫn còn trong cảng chứ?
– Chú em đùa hay sao hả chú em thân mến! Chú em có biết giá tiền một chỗ đậu trên bến cảng là bao nhiêu không?
– Nó đang ở đâu?
– Giống như phần lớn tàu thuyền của Tibberton được người ta gửi đi thiêu hủy: có lẽ nó đã bị lai kéo tới tận Graveyard.
– Graveyard ư? Là gì vậy?
– Nghĩa trang tàu trên đảo Staten.
– Ở New York ư?
– Đúng thế, anh bạn.
Gaspard chuồn đi ngay. Anh vớ lấy túi xách, rời khỏi nhà hàng rồi ra bến cảng. Không khí buốt lạnh khiến anh phát cuồng, như thể nó có quyền năng khiến anh tỉnh rượu thần tốc. Trong khi rút điện thoại ra, anh đã nhìn thấy trong màn đêm hai ngọn đèn pha to đùng đang tiến về phía mình.
Là Madeline.
Chủ nhật ngày 25 tháng Mười hai
22
Night Shift
Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.
SÁCH SÁNG THẾ, 1,5
1.
Những bông tuyết bàng bạc giăng đầy trời như một bầy côn trùng kim loại.
Đã là 7 giờ sáng khi Gaspard và Madeline tới nghĩa trang tàu biển trên đảo Staten. Họ đã chạy xe cả đêm và trên cả mức kiệt sức. Để trụ vững, Madeline đã hút thuốc hết điếu này đến điếu khác còn Gaspard đã uống cạn một bình giữ nhiệt đầy cà phê. Tuyết đã tóm gọn họ trên những cây số cuối cùng, dệt con đường bằng một lớp dày nhiều xăng ti mét khiến bước tiến của họ chậm lại. Vậy nên họ vừa phải thi gan với cơn bão vừa xâm nhập vào bên trong Boat Graveyard.
Khu đất được bao quanh bằng những hàng rào dây thép gai và biển cảnh báo về những nguy hiểm có thể gặp phải khi mạo hiểm tiến vào bên trong, nhưng nó quá rộng để cản bước những ai muốn tiến sâu thêm.
Thứ gây cản trở nhất vẫn là thứ mùi bao trùm cả khu vực. Chính nó đập vào mũi bạn trước tiên: những luồng hơi bốc lộn mửa của cá chết và rong rêu đang phân hủy. Một mùi đang làm ô nhiễm bầu không khí, khiến bạn buồn nôn và xây xẩm mặt mày. Chỉ khi có thể vượt qua nỗi ghê tởm ban đầu, bạn mới nhận thức được trọn vẹn toàn cảnh cùng vẻ đẹp lạ lùng và dị thường của nó.
Trên bầu trời xám chì trải rộng quang cảnh ngày tận thế. Một chốn không người hoang vu, bị bỏ lại vô thừa nhận, bị hàng nghìn xác tàu xâm chiếm. Từ những chiếc tàu bốc dỡ hàng đang mục mủn trong bùn, những tàu thủy đã bị rút lõi, những sà lan mắc cạn trong bùn từ nhiều thập niên qua, những tàu chở hàng han gỉ, những thuyền buồm với cột buồm va vào nhau lách cách, cho tới bộ khung của một con tàu hơi nước đến từ Mississippi.
Chân trời trống rỗng. Không một bóng người và không một tiếng động nào ngoại trừ tiếng kêu của lũ hải âu đang lượn vòng tròn bên trên những xác tàu bị phủ lớp gỉ sét. Khó khăn lắm người ta mới tin được là mình chỉ cách Manhattan vài sải cáp.
Suốt gần một giờ qua, Gaspard cùng Madeline đang tuyệt vọng tìm kiếm tàu Night Shift, nhưng nghĩa trang quá rộng lớn khiến nhiệm vụ của họ thêm phần phức tạp. Những bông tuyết rơi mỗi lúc một mau lại càng ngăn cản việc nhìn rõ những con tàu mà đường viền ma quỷ lẫn vào giữa trời và biển.
Lại càng khó khăn hơn nữa khi toàn bộ nghĩa trang không thể tiếp cận bằng xe hơi. Không có bến cảng được xác định rõ ràng, cũng không còn những lối vào đổ bê tông hay cắm cọc tiêu. Tùy từng nơi, chiếc xe bán tải chạy trên những con đường mấp mô hay trên những mỏm đất kiểu hang cùng ngõ hẻm mà tốt hơn hết là đi bộ men theo bất chấp nguy cơ có thể sa xuống vũng bùn bất cứ lúc nào.
Chính trong lúc băng qua một trong những lối tắt này, sau khi đã vượt qua một truông rộng đầy cát nơi một chiếc tàu kéo của quân đội đang sa lầy, bỗng một chi tiết thu hút sự chú ý của Madeline. Những cái cây cao trung bình mọc ngoi lên khỏi mặt nước theo đúng nghĩa đen. Khoảng chục cây nhỡ được trồng hai bên một con đường mòn bằng cát và than bùn. Một sự bố trí quá thẳng thớm không thể là tự nhiên. Ai có thể tới trồng đám cây này ở đây và vì lý do gì nhỉ? Cô tung một cú đá để làm gãy một cành nhỏ. Gaspard nhặt nó lên để kiểm tra.
– Trông như loại gỗ này đang chảy máu vậy, anh lưu ý khi chỉ thứ nhựa màu đỏ tiết ra từ cành cây.
– Mẹ kiếp, cô buột miệng. Những cái cây này…
– Gì kia?
– Đây là cây trăn.
Loài cây khóc ra máu. Loài cây của sự phục sinh sau cuộc tàn sát của mùa đông. Loài cây của sự sống sau cái chết.
2.
Được hàng rào cây trăn chỉ lối đưa đường, họ băng qua chừng trăm mét trên con đường lát ván mấp mô cho tới khi nhận ra bóng dáng cao to và chắc nịch của một con tàu đang ứ đọng hôi hám được buộc dọc một bến nổi tạm bợ.
Night Shift là một tàu đánh cá lưới rê với phần phía sau dài hơn hai chục mét. Một đống sắt vụn chết gí tại chỗ vì lặng gió, nang kết từ gỉ sét, rong tảo và đất bùn.
Không một giây ngần ngại, Madeline dùng một tấm ván bắc tới lan can tàu rồi nhảy lên boong. Đương đầu trực diện với gió, cô luồn lách dưới cần trục, bước qua cái tòi rồi quay trở lại cầu tàu. Gaspard đi theo cô. Tuyết đang đóng băng, biến sàn tàu thành sân trượt băng. Boong tàu tràn ngập những thừng chão to sụ, ròng rọc, dây cáp, lưới rách, những chiếc lốp bị vỡ toang.
Một cầu thang bộ trơn tuột dẫn lên buồng lái. Nơi này bắt đầu ngập nước. Sàn ván sụt hỏng và các mặt vách rỉ nước rì rì vì độ ẩm quá lớn. Buồng lái nhớp nháp bẩn thỉu đã bị phá tan hoang: cần bánh lái, các ra đa, các radio và hệ thống máy móc hàng hải đã biến sạch.
Madeline nhìn thấy trên vách tường, bên cạnh một bình chữa cháy đã hỏng, có một tài liệu ép plastic đã mốc meo quá nửa: tấm sơ đồ tàu tổng hợp những biện pháp an toàn cần làm theo trong trường hợp hỏa hoạn.
Họ rời buồng lái rồi men theo một dạng hành lang mạn tàu dẫn vào một phòng của thủy thủ đoàn nơi phần lớn các vách ngăn bằng gỗ đều đã bị phá hủy. Trước tiên là một hành lang hẹp bị tắc nghẽn vì một bếp nấu cũ và một tủ đông, rồi hai ca bin đổ nát đã bị biến thành công trường. Trong một góc là những túi xi măng, một cái cuốc, một cái bay và nhiều dụng cụ khác được cất tạm dưới một tấm bạt nhựa PVC. Trên một chiếc ghế nằm cũ kỹ khác, giữa những mảnh chai vỡ và xác chuột, người ta tìm thấy hàng chục thùng các tông rỗng đang mủn ra trong vũng nước ứ đọng hôi thối. Madeline xé lấy một mảnh nhãn dán băng dính trên bao bì rồi chỉ cho Gaspard xem: LyoφFoods, công ty chuyên bán những khẩu phần sinh tồn…
Họ chưa bao giờ ở gần sự thật đến thế.
Nhờ có sơ đồ, họ bước xuống chỗ trước kia hẳn là phòng máy và bây giờ là vương quốc của chuột và sự ăn mòn. Khi họ xuống đến nơi, những con vật nhỏ bé bèn lủi đi trốn đằng sau hệ thống đường ống chạy trên sàn tàu. Phía cuối phòng có một cánh cửa kim loại bị gỉ sét ăn mòn. Đóng chặt. Madeline bảo Coutances chiếu sáng cho mình trong khi cô cố gắng phá cửa. Dùi đục, xà beng: không ăn thua.
Họ quay lên boong rồi, vẫn nhờ vào sơ đồ, tìm một lối vào khác để tiếp cận hầm tàu. Không thành công. Nếu xưa kia từng có một lối vào thì nó hẳn đã bị bít lại rồi.
Không chịu bỏ cuộc, họ rảo bước xem xét khắp các ngõ ngách xó xỉnh trên boong tàu. Gió gầm gào buộc họ phải hét to mới nghe thấy nhau. Những cơn gió lốc dữ dội tạt thẳng vào họ khiến họ chao đảo. Họ cố gắng dùng hai bàn chân quét sạch tuyết theo kiểu được chăng hay chớ. Họ muốn hoạt động nhanh nhẹn, nhưng tứ chi tê cóng dường như không còn thuộc về họ nữa. Sau một hồi, họ thôi không nói chuyện với nhau nữa, thà giao tiếp bằng động tác còn hơn.
Từ mỗi bên của những cuộn lưới rê, họ nhận ra hai dải kính mờ rộng. Hai rãnh ngắn xây bằng gạch bề mặt phủ băng giá chạy trên sàn. Gaspard nghĩ ngay đến nguyên tắc hào quanh vườn hay kiến trúc sân kiểu Anh: cho phép ánh sáng tự nhiên chiếu sáng một tầng hầm. Phía xa hơn, Madeline nhìn thấy hai dải lưới sắt được cố định theo cùng nguyên tắc. Những lưới sắt thông gió.
Cô chạy tới tận phòng thủy thủ đoàn rồi quay trở lại với một cái cuốc chim. Thoạt đầu cô ngỡ mình sẽ dễ dàng phá tan bức trần bằng kính này, nhưng tấm kính lại có độ dày hiếm thấy. Cô dồn toàn bộ sức lực rồi lặp đi lặp lại nhiều lần. Mất đến hơn mười lăm phút đồng hồ Madeline mới có thể xuyên thủng được tấm kính ốp trần, rồi cô dùng cái đục kết thúc phần việc bằng cách tháo dỡ toàn bộ những tấm kính cửa. Ngay tức khắc, tuyết ùa vào không gian.
Cô quẹt sáng một trong những ống đèn huỳnh quang giắt theo nơi thắt lung rồi quăng nó vào cái lỗ vừa trổ được. Ba mét khoảng không trống rỗng mở ra dưới chân cô.
– Có một cái thang dây trên cầu tàu. Tôi sẽ đi tìm nó! cô kêu lên rồi quay bước.
Gaspard còn lại một mình trước vực thẳm. Kinh ngạc, điên cuồng, hoảng hốt. Từ đó đang thoát ra những luồng hơi kinh khủng – cá, phân, nước tiểu… – khiến anh tỉnh cả cơn rối trí. Ai đó từng bị giam hãm ở đây, đó là điều chắc chắn.
Anh dám chắc vừa nghe thấy một giọng nói lẫn vào tiếng gió. Một giọng đang gọi anh. Thế nên, anh không đủ kiên nhẫn chờ Madeline quay trở lại.
Anh cởi áo vest ra rồi nhảy xuống hầm tàu.
3.
Gaspard rơi bịch xuống rồi lăn mình trong đám bụi. Trong khi anh đứng dậy, mùi hôi thối kinh tởm khiến anh lợm giọng. Anh biết thứ mùi này: đó là mùi của cái chết. Anh nhặt thanh đèn sáng lên rồi tiến bước trong cảnh mờ tối.
– Có ai đấy không?
Câu trả lời duy nhất đến từ luồng gió của cơn bão tuyết đang khiến con tàu dập dềnh chao đảo.
Tất cả những cửa sổ con và cửa tàu đã bị bít kín. Ngay cả mỗi hớp không khí ô nhiễm cũng là một cực hình, phần phía dưới này của con tàu đỡ ẩm ướt hơn phần còn lại của xác tàu. Bầu không khí ở đây chát nồng hơn, và càng tiến về phía đuôi tàu, người ta càng chìm vào thinh lặng. Cơn bão có vẻ bỗng nhiên đã lùi rất xa, như thể người ta bị phóng vào một vũ trụ song song.
Mắt Gaspard mỗi lúc một quen với bóng tối, anh nhận ra mình không phải đang trong hầm tàu, mà bên trong một dạng phòng làm việc hẳn là nơi các ngư dân phân loại và moi ruột cá.
Anh đi qua trước một tấm thảm băng chuyền, một cái chậu to bằng inox, một dãy que móc vận chuyển hàng hóa và những máng nghiêng dốc nước bằng kim loại. Anh đã tìm thấy đằng sau một chồng tấm đậy boong tàu thứ mà anh biết không thể tránh khỏi từ khi ngửi thấy mùi cái chết: xác của Bianca Sotomayor. Thi thể bà ta nằm dài trên sàn tàu, hai chân co lại giữa những viên gạch nén.
Gaspard rọi đèn pin lại gần cái xác. Những gì còn lại từ Bianca trông chẳng giống với cái gì. Làn da bà sưng phồng lên, chi chít những nốt mụn rộp và bóng nhẫy như một miếng bọt biển, đang bong tróc. Các móng tay của bà rời ra, cơ thể bà, rốt cuộc, chỗ thì vàng nhạt chỗ thì đen đúa, kết tinh một trong những trạng thái ghê rợn tột bậc. Gaspard cố gắng không hẫng chân trước cảnh tượng khó lòng chịu đựng này. Nếu bất chấp cái lạnh, mùi thối rữa vẫn bốc lên nồng nặc đến thế, điều đó có nghĩa là Bianca chết chưa được bao lâu. Tuy không phải bác sĩ nhưng anh dám cá là mới khoảng ba tuần đổ lại. Kiểu gì thì kiểu chắc chắn chưa đến một tháng.
Gaspard tiến sâu thêm vào trong hành lang tối, để mình bị bao bọc bởi sức mạnh của bóng tối. Lúc này, nỗi sợ và cái lạnh trơn chuội trên anh. Anh rình chờ, căng thẳng, hoàn toàn cuốn theo hành động. Anh sẵn sàng đón nhận mọi chuyện. Đây chính là thời điểm anh đã chờ đợi từ hai chục năm nay. Kết cuộc của điều gì đó đã bắt đầu từ lâu trước khi anh nghe nói tới Sean Lorenz. Kết cuộc của một trận chiến giữa phần bóng tối và phần ánh sáng đã luôn cùng tồn tại trong anh.
Những ngày gần đây thật bất ngờ, đầy rẫy những điều bất ngờ. Khi có mặt tại Paris, cách đây năm ngày, anh không ngờ lấy một giây rằng thay vì viết nên một vở kịch, anh sẽ đảm nhiệm vai trò của nhà nghiên cứu hang động trong cuộc sống riêng để chiến đấu với những con quỷ của mình và tự khám phá ra những nét tính cách mà anh nghĩ đã vĩnh viễn tắt lịm.
Anh dồn toàn bộ sức lực, trí tuệ và niềm tin còn lại của mình về một hướng. Nhiều lần đã gần như chìm đắm, nhưng anh vẫn còn trụ vững. Có lẽ không còn được lâu lắm nữa, nhưng ít ra anh đã đạt tới mức đó. Bên bờ vực thẳm. Trong hang ổ của quái vật. Sẵn sàng cho cuộc đối đầu sau cùng, bởi những con quái vật không bao giờ thực sự chết đi.
– Có ai đó không?
Anh vẫn tiến bước trong màn đêm. Thanh đèn tuýp hẳn đã chập chờn, bởi nó hầu như không chiếu sáng nữa. Bỗng nhiên, độ cao tăng lên và lối đi thu hẹp lại. Anh không trông thấy gì nhiều nữa. Không nhìn rõ nhưng anh đoán là có hai tấm nệm, một đống chăn, mấy chồng đồ hộp. Và thêm những thùng các tông, những giỏ phủ mạng nhện.
Rồi tới lúc anh không thể tiến thêm được nữa. Anh vừa va phải một bức tường tạo nên từ những tấm đậy boong tàu được xếp chồng trước một búi to những ống và đường ống dẫn bằng gang.
Chính vào khoảnh khắc này, thanh đèn tắt ngóm. Gaspard lùi lại phía sau vài bước rồi dừng lại. Anh mò mẫm tiến về phía âm thanh khe khẽ của một máy quạt gió đến từ một ống thoát lớn. Anh ngồi thụp xuống, tự nhủ người mình có lẽ quá to để chui vừa đường ống mềm này, nhưng dẫu sao vẫn cứ tiến vào đó.
Anh bắt đầu bò trong bóng tối. Từ khi nhảy xuống hầm tàu, anh biết mình sẽ không thoái lui mà không có cậu nhóc. Anh biết thế nên đoạn tiếp theo của cuộc đời anh sẽ diễn ra chính xác tại đây. Để tới được đoạn này, anh đã xếp chồng cuộc sống của mình với cuộc sống của Julian Lorenz. Một hiệp ước ngầm. Một vụ đặt cược điên rồ của tay chơi poker già nua đã quyết định đặt lên bàn toàn bộ số thẻ của mình trong ván chơi cuối cùng và đặt cược đời mình với tỷ lệ cược một nghìn ăn một. Trong vụ cá cược này tồn tại một thứ ánh sáng sẽ đánh bại bóng tối trong bạn.
Gaspard tiến lên trong bóng tối, bụng áp vào thành ống. Một sức nặng đè nén lồng ngực anh. Hai tai anh ù đi. Dần dà, anh có cảm giác đang rời khỏi con tàu. Anh không còn nhận thấy sự đu đưa tròng trành nghiêng ngả, không còn nghe thấy con tàu kéo lưới rê kêu cót két hay vặn mình răng rắc tứ phía nữa. Anh không còn ngửi thấy những luồng hơi bốc nồng mùi xăng, mùi sơn và gỗ ẩm nữa. Chỉ còn bóng tối táp lấy anh, đen kịt như than. Và trong không khí phảng phất một mùi đất nung. Và ở cuối đường hầm là thứ bụi than cháy dở đôi lúc bắt đầu lấp lánh khi người ta khuấy đảo tro tàn.
Chính vào lúc đó anh nhìn thấy nó.
4.
Coutances chạy dưới tuyết.
Không khí lạnh căm nung đốt phổi anh và châm chích mắt anh. Bị gió thổi bạt, những bông tuyết quất mạnh vào mặt anh. Vì anh chỉ còn mặc một chiếc áo sơ mi, cái lạnh liền nghiến ngấu anh, xuyên thủng anh, nhưng lúc này anh đã miễn dịch với nỗi đau đớn.
Anh đã bọc Julian trong áo vest rồi ôm chặt cậu nhóc vào lòng.
Madeline đã chạy đi trước để khởi động xe.
Những con hải âu màu xám khổng lồ vẫn đang lượn vòng tròn trên đầu họ. Trông hệt như lũ kền kền, chúng phát ra những tiếng kêu điên loạn và đáng sợ.
Coutances đang chạy.
Đầu cúi gằm, gần như áp sát vào khuôn mặt trắng bệch của đứa trẻ, anh cố gắng truyền cho cậu nhóc toàn bộ những gì anh có thể. Hơi ấm của anh, hơi thở của anh, sinh mạng của anh.
Những cử chỉ của anh không hề vay mượn. Anh biết chính xác mình đang làm gì. Anh biết mình sẽ không trượt ngã trên mặt sàn đóng băng của bến nổi. Anh biết cậu nhóc sẽ không chết trên tay anh. Anh đã khám cho cậu nhóc trong lúc rời khỏi hầm tàu. Julian sợ hãi, không thể mở mắt sau khi đã sống quá lâu trong cảnh tăm tối, nhưng Bianca hẳn đã chăm sóc cho cậu nhóc đến tận hơi thở cuối cùng, bởi lẽ cậu nhóc còn lâu mới hấp hối.
– Sẽ ổn thôi, Julian, anh trấn an cậu nhóc.
Mắt nhắm nghiền, cậu nhóc run rẩy, răng va vào nhau lập cập.
Gaspard dùng tay bên kia đang rảnh rang để chụp lấy con chó bông đang thòi ra khỏi túi áo vest của anh rồi đặt nó vào hõm cổ của đứa trẻ.
– Sẽ ổn cả thôi, anh bạn thân mến. Nhìn này, chú đã mang về cho cháu anh bạn của cháu đây. Nó sẽ sưởi ấm cho cháu nhé.
Coutances đang chạy.
Hai bàn tay bị thương của anh lại bắt đầu chảy máu. Đau đớn đến mức anh không thể nhúc nhích được chúng nữa. Nhưng dẫu sao anh vẫn cử động chúng.
Coutances đang chạy.
Tiếng bánh xe rít ken két trong tuyết. Qua tấm màn bão tuyết, anh nhìn thấy chiếc xe mà Madeline đã đưa lại gần bờ nước nhất có thể. Anh đang đi tới cuối bến nổi thì bỗng Julian thì thầm với anh điều gì đó. Anh ngỡ mình nghe nhầm và bảo cậu nhóc nhắc lại.
– Là bố đấy ạ? đứa trẻ hỏi.
Coutances hiểu nguyên do của sự nhầm lẫn này: sự mất phương hướng, bộ quần áo, quyền năng của thứ nước hoa Lorenz thường dùng vẫn còn thấm đượm chiếc áo vest và sơ mi của ông, con thú bông…
Anh cúi xuống đứa trẻ rồi mở miệng toan giải thích sự hiểu lầm này, nhưng thay vào đó, anh nghe thấy mình trả lời:
– Đúng thế, là bố đây.
5.
Với bốn bánh xe nâng điện, chiếc xe bán tải tiến lên không quá khó khăn trên những con đường tuyết phủ. Tiện nghi êm ái của khoang lái đã giảm bớt sự xù xì thô bạo của thế giới bên ngoài và đối lập với cái lạnh địa cực đang ngự trị ngoài kia. Hệ thống sưởi chạy hết công suất, động cơ kêu ro ro, radio trên xe được kết nối rỉ rả với kênh 10-10 Wins của đài địa phương, cứ mười lăm phút lại điểm chính xác tình hình giao thông.
Gaspard và Madeline đã không nói lời nào nửa giờ qua từ khi họ rời khỏi nghĩa trang tàu thủy. Gaspard vẫn bế Julian, cậu nhóc hình như đã nép vào anh mà ngủ thiếp đi. Nằm co quắp và được bọc trong chiếc áo vest của bố, đứa trẻ chỉ thòi ra một chỏm tóc dày màu vàng nhạt rối bời. Bốn ngón trên bàn tay trái của cậu đã nắm chặt lấy tay của Gaspard và không buông ra nữa.
Mắt bỏng rát, Madeline vừa nhập vào thiết bị định vị GPS địa chỉ của bệnh viện Bellevue ở Manhattan. Họ đang trên đường liên bang 95, đoạn qua Secaucus thuộc New Jersey. Vào ngày chính lễ này, trên đường không có mấy người, dù vậy điều kiện thời tiết khiến cho việc đi lại phức tạp lên đáng kể.
Cách lối vào đường hầm Lincoln chừng trăm mét, mật độ lưu thông càng chậm lại để xe cộ chỉ dồn vào một làn đường duy nhất. Gaspard nhận thấy những chiếc xe công vụ của tòa thị chính đang đi kèm hai bên một máy rắc đang rắc muối làn đường chính, giữa sự tới lui của những nhát chổi gạt băng. Trên làn đường bên trái, những chiếc xe đang chạy chầm chậm, nối đuôi nhau. Rồi dừng hẳn.
Còn bây giờ?
Gaspard nhớ đến câu nói của Hemingway: “Không có tín hiệu nào được phát ra ở những ngã rẽ quan trọng nhất trên nẻo đường đời chúng ta đi.” Vào buổi sáng ngày Giáng sinh này, anh thấy dường như trái lại, một cọc tiêu phát sáng có thể đọc được tỏ tường đang nhấp nháy trước mắt anh. Một lần nữa, anh nghĩ đến kairos: khoảnh khắc quyết định, thời khắc khi cần phải hành động để khỏi tuột mất cơ hội. Chính là dạng thời điểm mà anh chưa bao giờ biết nắm bắt trong cuộc đời mình. Thật khôi hài: anh đã dành hai mươi năm vừa qua của cuộc đời mình để viết nên những hội thoại, trong khi anh chưa bao giờ biết giao tiếp. Ý thức rằng chính là bây giờ hoặc không bao giờ, anh quyết định dấn thân và hỏi Madeline:
– Trong một trăm mét nữa tương lai vẫn còn rộng mở, sau đó sẽ là quá muộn.
Madeline tắt tiếng radio rồi nhìn anh vẻ dò hỏi. Gaspard nói tiếp:
– Nếu rẽ phải về phía Manhattan, em sẽ viết tiếp câu chuyện đầu tiên. Nếu tiếp tục đi về phía Bắc, em sẽ sáng tạo một câu chuyện khác.
Vì không hiểu anh muốn dẫn dắt tới đâu, cô bèn hỏi:
– Câu chuyện đầu tiên là gì vậy?
Lần này Gaspard đã tìm ra lời lẽ. Câu chuyện đầu tiên kể về đường đời của ba con người với số phận trắc trở: một nhà văn nát rượu, một nữ cảnh sát chán sống, một cậu nhóc mồ côi.
Trong câu chuyện đầu tiên này, nhà văn và nữ cảnh sát đi theo đường hầm Lincoln để đưa cậu nhóc tới khoa cấp cứu bệnh viện Bellevue. Miếng bánh được ban phép lành dành cho cánh nhà báo, cho những kẻ chuyên rình mò, cho lũ người hèn hạ. Thảm kịch riêng tư của một gia đình sẽ bị phơi bày nơi công cộng và phân tích tỉ mỉ, mổ xẻ không chút sắc thái. Người ta sẽ xào xáo câu chuyện này thành những bài báo câu khách trên các mạng xã hội, món nước lèo nhiều kỳ cho các kênh thông tin.
Trong câu chuyện đầu tiên này, nhà soạn kịch rốt cuộc sẽ quay trở về ngọn núi của anh để sống khép mình thêm chút nữa. Anh tiếp tục uống rượu, thù ghét nhân loại, để không chịu nổi điều gì nhiều nhặn cho cam trên cõi đời này. Mỗi sáng lại khó khăn hơn buổi sáng hôm trước. Vậy nên anh uống nhiều thêm chút nữa trong lúc hy vọng hồi kết của cuộc chơi đến nhanh hơn.
Nữ cảnh sát có lẽ sẽ quay lại Madrid, tới bệnh viện chuyên khoa hiếm muộn kia. Hoặc có lẽ không. Cô muốn trở thành mẹ, đúng vậy, nhưng cũng muốn có ai đó để tựa vào vai người ấy trong cuộc đời mới này. Bởi vì cô tự biết mình yếu đuối. Bởi vì cô vẫn luôn cáng đáng nỗi thiếu thốn vốn mang nặng trong mình từ tuổi niên thiếu. Thế nên, dĩ nhiên, theo từng thời kỳ, cô có thể hóa trang cuộc đời mình, đôi khi thành công trong việc khiến cho người khác – và thậm chí là cả bản thân – tin rằng cô ấy là một phụ nữ trẻ lạc quan, dí dỏm và cân bằng, trong khi tâm trí cô chỉ là sự hỗn loạn, mờ mịt, những cơn sốt kịch phát và mùi máu.
Về cậu nhóc, đó là ẩn số lớn. Đứa con trai mồ côi của một “họa sĩ điên” và một nữ hoàng của tất cả những điều thái quá, được nuôi dạy trong vòng hai năm dưới hầm một con tàu bởi mẹ của một tên sát nhân hàng loạt. Cuộc đời cậu nhóc sẽ ra sao? Chúng ta có thể đánh cược rằng nó sẽ được đánh dấu bằng những chuyến đi đi về về quen thuộc giữa các trung tâm và các gia đình nhận nuôi. Những chuyến thăm khám ở chỗ các bác sĩ tâm lý. Lòng trắc ẩn giả tạo, sự tò mò nguy hại, cái mác nạn nhân sẽ dính chặt lấy nó. Một ánh mắt do dự có khuynh hướng trốn chạy, chìm đắm trong những ký ức tăm tối về tầng hầm của một con tàu.
Bỗng nhiên, làn đường thứ hai thông thoáng hẳn. Một nhân viên cầu đường mặc áo gi lê vàng ra hiệu cho họ tiến lên và dòng xe lưu thông đã hết tắc nghẽn.
Không thể thốt lên câu nào dù nhỏ nhất, Madeline nhìn Gaspard chòng chọc, vẻ thất thần, cố gắng hiểu những lời anh nói. Một bản hòa âm những tiếng còi cất lên từ các xe đỗ sau họ. Madeline nhấn ga và chiếc xe bán tải tiếp tục hành trình về phía hầm Lincoln. Coutances nhìn lưỡi dao máy chém đang sát lại gần. Năm mươi mét. Ba mươi mét. Mười mét. Anh đã chơi đến quân bài cuối cùng. Giờ thì quả bóng đã không còn trong phần sân của anh nữa rồi.
Madeline tiến lên trên đoạn đường dốc dẫn tới Manhattan. Nếu tồn tại một câu chuyện khác, kiểu gì nó cũng sẽ quá sức điên rồ, quá đỗi mạo hiểm. Không phải thứ người ta thu xếp được trong lúc khẩn cấp.
Thế đấy, kết thúc rồi, anh nghĩ.
– Còn câu chuyện thứ hai? tuy thế cô vẫn hỏi.
– Câu chuyện thứ hai, Gaspard trả lời, đó là câu chuyện về một gia đình.
Lần này cô hiểu ánh mắt anh muốn nói điều gì: Tôi dám chắc không ai có thể bảo vệ đứa trẻ này tốt hơn chúng ta.
Đến đó, Madeline nheo mắt, dùng ống tay áo lau mí mắt rồi hít một hơi dài. Rồi cô bỗng bẻ tay lái để chuyển làn đường. Vừa kịp lúc, chiếc xe bán tải vượt qua nhiều đường kẻ màu trắng, đè nát một thanh chắn đường bằng nhựa đúc khuôn và một trụ chóp nón giao thông công trình.
Để lại Manhattan đằng sau mình, Madeline tách ra được khỏi dòng xe cộ và tăng tốc để vạch ra con đường của mình về phía Bắc.
6.
Câu chuyện thứ hai đã khởi đầu như thế đó, Julian.
Câu chuyện về gia đình chúng ta.