Richard Tozier tắt ra-đi-ô từ nãy đến giờ đang xập xình bài hát Như gái tân của Madonna trên WZON (một đài phát thanh tuyên bố mình là “Phát thanh AM nhạc chất chơi!” với tần suất rõ là cuồng loạn), tấp vào lề đường, tắt máy chiếc Mustang mà nhân viên của Aois cho anh thuê ở sân bay Quốc tế Bangor rồi bước ra ngoài. Anh nghe thấy tiếng mình hít vào thở ra trong tai. Số là anh vừa nhìn thấy một tấm biển khiến lưng anh đột ngột nổi hết cả da gà.
Anh bước đến đầu xe, đặt một tay lên mui. Anh lắng nghe tiếng động cơ khẽ lách cách trong quá trình nguội dần. Anh nghe thấy tiếng một chú chim giẻ cùi hót vang rồi im bặt. Có tiếng dế kêu réc réc. Chừng nào chúng còn kêu thì cứ để chúng kêu.
Sau khi nhìn thấy tấm biển, anh chạy ngang qua nó, và rồi đột nhiên anh lại có mặt ở Derry. Sau hai mươi lăm năm ròng rã, Richie Tozier “Tía Lia” đã về lại quê cũ. Anh đã…
Nỗi đau đớn như thiêu đốt mắt anh, khiến bao suy nghĩ chợt vỡ òa. Anh nghẹn ngào thét lên khe khẽ, hai tay bưng mặt. Lần duy nhất anh thấy đau đớn chỉ bằng một góc cơn đau như lửa đốt này là khi sợi lông mi mắc kẹt dưới kính áp tròng hồi đại học – mà đó chỉ là một bên mắt. Còn lần này, cả hai mắt anh đau buốt khủng khiếp.
Trước khi anh kịp đưa tay lên bưng mặt, cơn đau đã biến mất.
Anh lại chầm chậm buông tay, ưu tư nhìn xuống Tuyến số 7. Anh bỏ qua đường cao tốc thu phí tại lối ra Etna-Haven, bởi một vài lý do mà bản thân anh cũng chẳng rõ, anh không muốn đi vào bằng lối cao tốc ấy, cái đường cao tốc vẫn còn đang thi công ở khu vực Derry vào lúc anh và nhóm bạn giũ bỏ khỏi gót chân mọi bụi đất của thị trấn bé nhỏ ám muội này rồi bôn ba đến miền Trung Đông. Không - cao tốc thu phí ấy nhanh hơn thật, nhưng như thế không chuẩn.
Vậy là anh lái dọc theo Tuyến số 9, ngang qua khu nhà đang say giấc mang tên làng Haven rồi rẽ vào Tuyến số 7. Ngày rạng dần theo con đường anh đi.
Và rồi tấm biển ấy. Nó cũng như bao tấm biển khác đánh dấu địa phận của hơn sáu trăm thị trấn ở Maine, nhưng riêng tấm biển ấy lại bóp nghẹt trái tim anh!
Penobscot
Quận
D
E
R
R
Y
Maine
Đằng sau là biển hiệu của Elks; biển hiệu của Câu lạc bộ Rotary; và góp mặt cho đủ bộ là một tấm biển hô vang tinh thần SƯ TỬ DERRY MỘT LÒNG VÌ QUỸ LIÊN HỢP! Đi qua hết những tấm biển báo này vẫn là đường Tuyến số 7, chạy dài tăm tắp giữa hai hàng thông và vân sam. Dưới ánh sáng tĩnh lặng khi ngày mới dần lên, hàng cây trồng hư hư thực thực, tựa hồ những điếu thuốc lá đặt trong bầu không khí tù đọng của căn phòng kín như bưng.
Derry, anh thầm nhủ. Derry, lạy Chúa giúp con. Derry. Tiên sư.
Và giờ thì anh ở đây, trên Tuyến số 7. Đi thêm tám cây số nữa, nếu thời gian hay bão lốc chưa cuốn nó đi sau ngần ấy năm, anh sẽ gặp Nông trại Rhulin, nơi mẹ anh đã mua hết trứng và gần hết rau củ của họ. Đi tiếp ba ki-lô-mét trên Tuyến số 7, anh sẽ đến phố Witcham, và tất nhiên phổ Witcham rốt cuộc cũng trở thành đường Witcham, xin Người ban cho con phước lành đời đời chẳng cùng a-men. Và trên đoạn đường từ Nông trại Rhulin đến thị trấn, anh sẽ lái ngang qua nông trại nhà Bowers và nông trại nhà Hanlon. Đi chừng một cây số rưỡi từ nhà Hanlon, anh sẽ trông thấy con sông Kenduskeag lấp lánh ló dạng và bụi thường xuân độc đầu tiên. Vùng đất trũng um tùm cây cỏ chẳng biết vì lý do gì lại mang tên Vùng Đất Cằn.
Còn khuya mình mới đủ sức để đối mặt với tất cả những nơi ấy, Richie nghĩ. Thì có sao nói vậy thôi, bạn hiền ơi. Có lẽ mình không kham nổi.
Cả đêm hôm trước trôi qua như một giấc mơ đối với anh. Chừng nào anh còn lái, còn băng băng chạy xe, còn tăng thêm ki-lô-mét, chừng ấy giấc mơ sẽ tiếp tục. Nhưng giờ, anh đã dừng lại – hay nói đúng hơn, tấm biển dừng anh lại – anh tỉnh giấc, đối diện với sự thật kỳ dị: giấc mơ là thực. Derry là thực.
Anh không tài nào ngăn mình thôi nhớ lại chuyện xưa, thậm chí anh còn nghĩ dòng thác lũ ký ức này sẽ khiến anh phát cuồng, anh cắn môi, áp hai lòng bàn tay vào nhau, chặt thật chặt, như giữ cho bản thân mình không tứ tán. Nhưng anh cảm thấy rồi mình cũng sẽ tan tác thôi, chẳng bao lâu nữa. Đúng là trong anh vẫn có phần điên rồ nào đấy mong đợi những điều sắp sửa xảy đến, nhưng đa phần tâm trí anh chỉ tự hỏi làm thế nào để anh sống qua những ngày tiếp theo. Anh…
Đấy, suy nghĩ của anh lại đứt đoạn nữa rồi.
Một con nai bước ngang qua đường. Anh có thể nghe thấy tiếng móng guốc mát hương xuân của nó lốc cốc trên mặt đường nhựa.
Đang thở ra thì Richie nín lại, đoạn anh từ từ thở phào. Anh ngẩn ngơ nhìn nó, trong đầu tự nhủ anh chưa từng thấy thứ gì như vậy xuất hiện trên đại lộ Rodeo. Không – anh cần phải về cố hương để được chiêm ngưỡng những thứ thế này.
Một nàng nai (“Nàng nai, tức nai, một con nai cái,” Giọng nói réo rắt vang lên trong đầu anh). Bước ra khỏi khu rừng phía bên phải con đường, nàng nai dừng chân ngay giữa Tuyến số 7, hai chân trước phía bên kia vạch vôi đứt gãy, hai chân sau phía bên này. Đôi mắt đen của nó mơ màng nhìn Rich Tozier. Anh nhìn thấy chút kỳ thú không vương sợ hãi ánh lên trong mắt nai.
Anh quan sát nàng nai ấy, ngỡ ngàng, tự nhủ có lẽ nó là một dấu hiệu, một điềm báo hoặc chỉ điểm như của bà đồng Azonka. Và bất chợt, một ký tức liên quan đến ông Nell ùa về. Ngày hôm ấy, ông hù cả bọn mất mật như thét ra lửa ngay sau khi Bill, Ben và Eddie kể câu chuyện của mình! Nhờ ông, cả đám được dịp hồn xiêu phách tán.
Vẫn ngắm nhìn con nai, Rich hít vào một hơi thật sâu, bất giác thốt lên bằng một giọng nói của mình… nhưng đây là lần đầu tiên trong hơn hai mươi lăm năm qua, anh nói giọng của Tay cớm Ireland, giọng nói mà anh đã cập nhật vào kho lưu trữ sau ngày khó quên ấy. Tiếng nói bật lên giữa buổi sáng im ắng như một quả bóng bowling lớn ngất ngưỡng - giọng âm vang và to hơn hẳn Richie tưởng.
“Lạy Chúa tôi, thế này thì Người nhảy dựng trên nạng do ngựa kéo ấy chứ! Đám trẻ con các cháu lang thang ngoài chốn hoang sơ này làm gì thế hả? Lạy Chúa tôi! Đi về nhà ngay, kẻo ta mách với Cha O’Staggers bây giờ!”
Trước khi tiếng nói hết oang vọng, trước khi chú chim giẻ cùi đầu tiên thất kinh ré lên nhiếc móc anh vì tội báng bổ thánh thần, nàng nai hất đuôi về phía anh như phất cờ rồi biến mất vào hàng linh sam ám màu khói bên trái con đường, chỉ để lại một bãi nóng hổi con con phía sau như muốn nói, dù ở tuổi ba mươi bảy, thỉnh thoảng Richie Tozier vẫn có thể có được một tràng hay ho.
Richie bắt đầu phá lên cười. Ban đầu, anh chỉ khúc khích, sau đó sự lố lăng của bản thân khiến anh vỡ òa – đứng trên đường, trong buổi sớm mai ở Maine, cách nhà gần 5.500 ki-lô-mét, hét toáng lên với một nàng nai bằng giọng Tay cớm Ireland. Tiếng khúc khích biến thành chuỗi nắc nẻ, nắc nẻ chuyển sang ha ha, ha ha chuyển sang cười lăn cười bò, và sau một hồi, anh phải vịn vào xe, cười chảy cả nước mắt, lòng mơ hồ tự nhủ khéo có khi mình cười đến són ra quần cũng nên. Cứ lần nào cơn cười sắp được kiểm soát, ánh mắt anh lại hướng đến bãi con con kia, thể là y như rằng anh lại cười như điên như dại.
Vẫn phì cười phùn phụt, anh lần mò trở lại ghế lái và khởi động chiếc Mustang. Một chiếc xe tải chở phân bón hóa học Orinco ầm ầm chạy ngang qua như một cơn gió. Xe ngang qua rồi, Rich mới đánh xe mình ra, tiếp tục hướng về Derry. Anh cảm thấy tốt hơn, lấy lại kiểm soát… hoặc chỉ đơn giản là vì anh đang di chuyển, đang cộng thêm ki-lô-mét nên giấc mơ kia lại tiếp tục diễn ra.
Anh bâng quơ nghĩ về ông Nell – ông cảnh sát và ngày hôm đó ở con đập năm xưa. Ông Nell hỏi cả bọn ai là kẻ đầu têu. Anh nhớ năm đứa đã ái ngại nhìn nhau, nhớ Ben rốt cuộc đã tiến lên phía trước, hai má không còn giọt máu, mắt nhìn xuống đất, mặt run bần bật khi cố không òa lên khóc. Giờ nghĩ lại, Rich đoán có lẽ lúc ấy, cậu nhóc tội nghiệp tưởng mình sẽ phải bóc lịch trong Shacoshank từ năm đến mười năm vì cái tội tích nước gây ngập kênh rạch đường Witcham, nhưng cậu vẫn dũng cảm đứng ra nhận tội. Và vì thế, cậu buộc cả đám còn lại tiến lên bênh vực cho cậu. Nếu không làm vậy, chẳng khác nào chúng tự nhận mình là người xấu. Đồ hèn nhát. Đi ngược lại những anh hùng chúng vẫn thấy trên ti vi. Điều đó đã khiến tình bạn của cả đám keo sơn gắn bó, dù điều gì xảy ra. Dễ thấy, điều đó đã kết nối bọn họ suối hai mươi bảy năm qua. Đôi lúc, các sự kiện như những quân cờ domino. Quân cờ đầu làm đổ quân cờ thứ hai, quân cờ thứ hai làm đổ quân cờ thứ ba, và cứ thế.
Richie tự hỏi từ khi nào anh không còn có thể quay đầu lại? Từ lúc anh và Stan xuất hiện, góp một tay cùng mọi người xây đập? Lúc Bill kể chuyện bức hình chụp em trai cậu ấy quay đầu lại và nháy mắt? Có thể lắm… nhưng với Rich Tozier, dường như thời khắc những quân cờ domino thật sự bắt đầu ngã đổ là khi Ben Hanscom bước tới trước và nói “Là cháu chỉ
2
mọi người cách làm. Đây là lỗi của cháu.”
Ông Nell đứng yên nhìn cậu, môi mím chặt, tay đặt lên thắt lưng da màu đen. Nhìn Ben một hồi, ông lại quay sang nhìn hồ nước đang phình to phía sau con đập rồi lại đưa mắt nhìn Ben, khuôn mặt ông bàng hoàng như thể không tin nổi vào mắt mình. Ông Nell là người Ireland to cao, mái tóc chưa gì đã ngả bạc, chải chuốt gọn gàng bên dưới chiếc mũ cảnh sát màu xanh. Đôi mắt ông màu xanh rực rỡ, mũi cũng đỏ rực không chịu kém cạnh. Trên má ông hẳn những vết mạch máu đã vỡ be bé. Ông cao chỉ tầm thước, nhưng trong mắt năm cậu bé xếp hàng trước mắt ông, trông ông phải cao đến hai mét rưỡi.
Ông Nell mở miệng toan nói gì đó, nhưng ông chưa kịp phát biểu thì Bill Denbrough đã tiến tới cạnh Ben.
“L-L-L-Là y-y-y-ý t-t-t-t-tưởng c-c-của ch-cháu,” mãi cậu mới nói thành lời. Cậu thở một hơi thật sâu và mạnh trước mặt ông Nell đang im lìm quan sát với ánh mặt trời phản chiếu đầy uy nghi trên phù hiệu, chật vật lắp ba lắp bắp nói nốt những điều muốn nói: đó không phải lỗi của Ben; Ben chỉ tình cờ đi ngang qua và chỉ cho cả đám cách làm hay hơn vì chúng cháu làm chẳng ra thể thống cống rãnh gì.
“Cháu cũng thế,” Eddie chợt lên tiếng, bước đến cạnh Ben.
“Cái gì mà cháu cũng thế?” Ông Nell hỏi. “Tên hay địa chỉ của cháu đấy à, cao bồi con?”
Mặt Eddie đỏ như gấc - màu đỏ lan lên cả chân tóc. “Cháu có mặt với Bill từ trước khi Ben tới cơ ạ,” cậu nói. “Ý cháu là thế.”
Richie tiến tới cạnh Eddie. Ban đầu, cậu còn nảy ra ý tưởng nếu cậu pha trò bằng một, hai Giọng nói của mình, khéo mặt ông Nell sẽ bớt khó đăm đăm và nghĩ theo chiều hướng vui tươi hơn. Nhưng suy xét sâu hơn (một điều cực kỳ hiếm hoi, không khác gì mặt trời mọc đằng Tây với Richie), có khi Giọng nói của cậu chỉ tổ đổ thêm dầu vào lửa. Trông ông Nell không có vẻ mang tâm trạng mà Richie hay gọi là muốn được mua vui. Hay nói đúng hơn, khuôn mặt ông như muốn nói nụ cười là thứ cuối cùng ông nghĩ đến trong đầu. Nên cậu chỉ khe khẽ nói “Cháu cũng tham gia ạ” rồi ngậm miệng lại ngay lập tức.
“Cháu nữa,” Stan nói, tiến tới cạnh Bill.
Giờ thì cả năm đứa đứng thành một hàng trước mặt ông Nell. Ben hết nhìn bên này lại quay sang bên kia, hơn cả choáng váng - cậu gần như sửng sốt khi mọi người sát cánh bên mình. Trong một khoảnh khắc, Richie còn tưởng Haystack sẽ òa lên khóc vì cảm kích.
“Chúa ơi,” ông Nell lại lên tiếng, và dù giọng ông hết sức cáu giận, nhưng khuôn mặt ông giãn ra như thể ông sắp phì cười. “Ta chưa từng gặp đám nhóc nào tội nghiệp như mấy đứa. Nếu các cháu biết thân biết phận thì tự hiểu tối nay sẽ nát mông đi nhé. Ta dám cá chẳng còn đường nào khác đâu.”
Không tài nào nhịn nổi nữa, miệng Richie ngứa ngáy tuôn ra một tràng như vỡ đê, chuyện thường ngày ở huyện của cậu.
“Tình hình ở quê nhà thế nào rồi ông Nell?” Miệng cậu rít rít giả giọng Ireland. “Ôi, ông quả là suối nguồn tưới mát đôi mắt héo, thề có Chúa, ông quả là người đáng mến, giúp rạng danh…”
“Ta sẽ giúp rạng mông cháu trong vòng ba giây đấy, cậu bạn bé nhỏ,” ông Nell lạnh lùng.
Bill quay sang Richie và gắt lên: “Vì Ch-Ch-Chúa, R-R-Richie, i-i-im gi-giùm đi!”
“Lời khuyên đúng đắn đấy, cậu William Denbrough,” ông Nell nói. “Ta đoán bố Zack không biết cháu lang thang xuống Vùng Đất Cằn nghịch dại thế này phải không?”
Bill cúi mặt lắc đầu. Hai má cậu bừng bừng hồng dại.
Ông Nell nhìn Ben. “Cháu tên gì nhỉ, ta không nhớ.”
“Dạ, cháu là Ben Hanscom,” Bell lẩm bẩm.
Ông Nell gật đầu rồi quay sang nhìn con đập. “Đây là ý tưởng của cháu à?”
“Vâng, cách xây là ý của cháu” Ben nói lí nhí trong họng.
“Chà, cháu có tiềm năng làm kỹ sư lắm đấy, cậu bé to con, nhưng cháu không biết gì về Vùng Đất Cằn hay hệ thống thoát nước của Derry phải không nào?”
Ben lắc đầu.
Ông Nell bèn ôn tồn giải thích. “Hệ thống có hai phần. Một phần thải chất thải rắn của chúng ta – tức là phân đấy, ta nói thẳng, mong các cháu không phật ý. Phần còn lại mang theo nước xám - tức nước xả từ bồn cầu hoặc chảy xuống kênh rạch từ bồn rửa chén, máy giặt và vòi sen; đó cũng là nước chảy xuống rãnh và trôi ra cống thị trấn.
Chà, các cháu không gây ra vấn đề gì với phần xử lý chất thải rắn, tạ ơn Chúa – bởi tất cả được thải xuống sông Kenduskeng cách đây khá xa. Có thể cách đó chừng tám trăm mét sẽ có những đống phân khố queo dưới ánh mặt trời do hành động của các cháu, nhưng các cháu cứ an tâm rằng không có phân dính vào nóc nhà ai cả.
Tuy nhiên, phần thoát nước xám… chà, chúng ta không có máy bơm cho nước thải xám. Nước thải chảy xuống đồi theo hệ thống mà kỹ sư gọi là hệ thống tiêu nước trọng lực. Và ta đoán cháu biết hệ thống tiêu nước trọng lực này nằm ở đâu, phải không cậu bé to con?”
“Ở trên kia ạ,” Ben trả lời. Cậu chỉ lên khu vực đằng sau con đập, chỗ bị cả đám nhấn chìm nguyên một khoảng rộng. Cậu không dám ngẩng lên. Những giọt nước mắt to tròn thi nhau lăn xuống hai gò má cậu. Ông Nell giả vờ không để ý.
“Đúng vậy, cậu bạn non nớt to lớn của ta. Hệ thống tiêu nước trọng lực chảy vào các con suối, sau đó các con suối này chảy vào phía trên Vùng Đất Cằn. Thật ra, rất nhiều suối nhỏ chảy xuống đây chỉ là nước thải xám chứ chẳng có gì khác, chúng chảy từ những con kênh mà các cháu thậm chí còn không thể thấy vì chúng chôn sâu dưới tầng cây thấp. Phân đi một hướng, còn lại đi hướng khác. Khá khen cho tài trí của con người, mà các cháu có nhận ra mình đã lội cả ngày trời trong nước tiểu, nước rửa ráy của Derry không vậy?”
Eddie bỗng khò khè và phải lấy ống thở ra dùng.
“Điều các cháu làm khiến nước dồn lại ở sáu trong tám bể thu nước thải phục vụ đường Witcham, Jackson và Kansas, cũng như bốn, năm con ngõ nhỏ chạy giữa các đường này,” ông Nell liếc nhìn Bill Denbrough một cách nghiêm nghị. “Một trong những bể thu ấy cũng phục vụ nhà cháu đấy, cậu Denbrough con. Thế là chúng ta phải chịu cảnh bồn rửa không trôi, máy giặt không trôi, khi ống nước quá tải, nước sẽ tràn vào tầng hầm…”
Ben rưng rức khóc rống lên. Nhóm bạn quay sang nhìn cậu rồi lại đánh mặt đi. Ông Nell đặt bàn tay to lớn lên vai cậu. Tay ông chai sần và cứng rắn, nhưng lúc ấy nó cũng dịu dàng vô cùng.
“Nào, nào. Không việc gì phải khóc, cậu bé to con. Có thể tình hình chưa tệ đến thế, chí ít hiện tại thì chưa; có thể ta đã nói quá một chút để các cháu thấm thía được điều ta muốn truyền đạt. Bên trên cử ta xuống kiểm tra xem có phải cây đổ ngang qua suối hay không. Thỉnh thoảng điều đó cũng xảy ra. Ta và năm người các cháu cùng giữ bí mật, không cho ai biết chuyện là được. Hiện giờ, thị trấn chúng ta có nhiều vấn đề quan trọng phải lo nghĩ hơn chút nước bị nghẽn lại này. Ta sẽ viết vào báo cáo là ta đã xác định được vị trí cây đổ và một nhóm các cậu bé đã đến giúp ta khiêng cây ra khỏi suối. Ta sẽ không nhắc đến tên các cháu. Mấy đứa sẽ không bị dính tội xây đập trong Vùng Đất Cắn đâu.”
Ông nhìn năm đứa trẻ dò xét. Ben liên tục lấy khăn mùi xoa chùi nước mắt, Bill ưu phiền nhìn con đập; Eddie nắm chặt ống thở trong tay Stan đứng sát Richie, để hờ tay trên cánh tay của cậu bạn, canh lúc cần là siết – siết thật chặt – nếu Richie có vẻ sẽ mồm mép tép nhảy nói câu gì khác ngoài lời cảm ơn.
“Trẻ con các cháu đến một nơi dơ dáy như này làm gì,” ông Nell nói tiếp. “Ở đây có sáu chục căn bệnh sinh sôi là ít.” Ông phát âm từ sinh sôi nghe như xinh xoi . “Con suối chỉ toàn nước tiểu và nước thải xám, rác rến và nước rửa ráy, giòi bọ, sình lầy… nơi dơ bẩn thế này, các cháu không nên đến thì hơn. Ở thị trấn mình có bốn công viên sạch sẽ cho các cháu chơi bóng cả ngày, thế mà ta lại bắt gặp các cháu ở đây là sao? Lạy Chúa tôi!”
“Ch-Ch-Chúng ch-cháu th-th-th-thích đ-đ-đến đ-đây ạ,” Bill chợt ngang ngạnh đáp lời. “Kh-Khi b-b-bọn ch-cháu đ-đến đây, kh-kh-không ai l-la m-m-mắng b-b-bọn ch-ch-cháu.”
“Bạn cháu nói gì thế?” Ông Nell hỏi Eddie.
“Cậu ấy bảo khi bọn cháu đến đây, không ai la mắng bọn cháu.” Eddie giải thích. Giọng cậu mỏng tang và hụt hơi nhưng cũng rất chắc chắn. “Cậu ấy nói đúng đấy ạ. Đám bọn cháu mà đến công viên và muốn chơi bóng chày thì những bạn khác chỉ bảo, được thôi, thế các cậu muốn làm chốt gôn hai hay chốt gôn ba?”
Richie ré lên cười. “Eddie có được tràng hay ho phết nhỉ! Thật… chuẩn không cần chỉnh !”
Ông Nell quay đầu quắc mắt nhìn cậu.
Richie nhún vai. “Cháu xin lỗi. Nhưng cậu ấy nói phải. Bill cũng vậy. Chúng cháu thích đến đây chơi hơn.”
Richie thầm nhủ có lẽ ông Nell sẽ lại nổi giận khi nghe cậu nói thế, nhưng vị cảnh sát tóc bạc khiến cậu - và cả đám – bất ngờ với nụ cười hiện trên môi. “Ây chà,” ông nói. “Thuở còn bé, ta cũng thích đến đây lắm. Và ta cũng sẽ không cấm các cháu. Nhưng các cháu phải nhớ lời ta dặn.” Ông chĩa một ngón tay vào đám trẻ, khiến cả bọn nghiêm trang nhìn ông. “Nếu các cháu xuống đây chơi thì phải đi cả nhóm như thế này. Đi cùng nhau. Các cháu hiểu lời ta chứ?”
Đám trẻ gật đầu.
“Nghĩa là các cháu phải đi cùng nhau mọi lúc. Không được chơi trốn tìm rồi mỗi đứa nấp một nơi. Các cháu biết thị trấn mình đang có chuyện gì đúng không. Nói trắng ra thì ta không cấm các cháu đến đây, bởi ta có cấm thì đằng nào các cháu cũng chẳng nghe. Nhưng để bảo vệ bản thân, dù có đến đây hay đi bất cứ đâu cũng phải đi theo hội.” Ông nhìn Bill. “Cháu có bất đồng với ta không, cậu Bill Denbrough?”
“D-D-Dạ không ạ” Bill nói. “Ch-Chúng ch-cháu s-sẽ đ-đ-đi c-c-c…”
“Thế là được rồi,” ông Nell nói. “Cháu đưa tay đây.” Nói đoạn, ông Nell bắt tay Bill.
Richie hất tay Stan rồi bước tới trước.
“Thề với Chúa, ông quả là đấng chí tôn, thưa ông Nell! Ông quả là đại trượng phu! Một bậc đại trượng phu chí tôn!” Cậu chìa tay ra, nắm lấy bàn tay to lớn của vị cảnh sát người Ireland, lắc lấy lắc để miệng cười ngoác rộng đến mang tai. Trong đôi mắt sửng sốt của ông Nell, cậu bé trông như phiên bản nhạo báng xấu xí của Franklin D. Roosevelt.
“Cảm ơn cậu bé,” ông Nell nói và thu tay lại. “Cháu phải cố gắng luyện giọng thêm đi. Chứ giọng cháu bây giờ nghe giống Groucho Marx nói giọng Ireland ấy.”
Bốn cậu bé còn lại phá lên cười, đa phần là nụ cười nhẹ nhõm. Miệng cười nhưng Stan vẫn ném cho Richie một ánh mắt cáu giận: Lớn giùm đi, Richie!
Ông Nell bắt tay cả đám, Ben là người sau cùng.
“Cháu không có gì phải xấu hổ vì mình đánh giá thiếu sót cả, cậu bé to con ạ. Còn công trình kia… cháu thấy cách làm trong sách à?”
Ben lắc đầu.
“Cháu tự nghĩ ra sao?”
“Dạ phải.”
“Trời, đúng là tài không đợi tuổi! Ta dám chắc sau này, cháu sẽ làm được những điều lớn lao lắm. Nhưng Vùng Đất Cằn không phải nơi để cháu làm những điều đó.” Ông trầm tư nhìn quanh. “Ở nơi này chẳng có gì hay hớm cả. Chốn rừng thiêng nước độc.” Ông thở dài. “Dỡ công trình kia đi, các cháu. Dỡ ngay cho ta. Có lẽ ta sẽ ngồi trong bóng râm ở bụi cây đằng kia, ở lại xem các cháu làm.” Ông mỉa mai nhìn Richie khi nói câu cuối, như thể muốn khơi thêm một màn xướng ngôn khùng điên khác.
“Dạ vâng,” Richie khẽ khọt nói, và chỉ dừng tại đó. Ông Nell gật đầu hài lòng, và đám trẻ trở lại làm việc, một lần nữa, chúng quay sang nhìn Ben – lần này là để cậu chỉ cách dỡ công trình mà cậu vừa chỉ cả đám dựng lên sao cho nhanh nhất. Trong lúc đó, ông Nell lôi một cái chai màu nâu từ bộ quân phục ra và uống một ngụm. Ông húng hắng ho rồi thở dài thườn thượt, quan sát nhóm các cậu bé bằng đôi mắt nhân từ, ươn ướt.
“Cho cháu hỏi thứ trong chai là gì vậy ạ?” Đứng ngập đầu gối trong nước, Richie hỏi với lên.
“Richie, cậu không nói thì có ai bảo cậu câm à?” Eddie rít lên.
“Đây à?” Ông Nell quan sát Richie với vẻ thoáng ngạc nhiên rồi lại nhìn cái chai. Cái chai chẳng có nhãn hiệu gì. “Đây là thuốc ho của thần linh đấy, cậu bé. Giờ thì để ta xem tay chân của cháu có được nhanh nhẹn như mồm mép cháu không nhé.”
3
Sau đó, Bill và Richie cùng cuốc bộ leo con dốc đường Witcham. Bill đẩy Ánh Bạc, bởi sau quá trình hết xây lại phá đập, cậu chẳng bói đâu ra sức lực để guồng chân đạp nữa. Người ngợm cả hai cậu bé vừa bẩn thỉu, vừa lôi thôi và kiệt sức.
Ban nãy, Stan đã hỏi cả bọn có muốn đến nhà cậu chơi Monopoly, Parcheesi hay trò gì không, nhưng chẳng ai muốn. Ngày đã gần qua. Ben, mệt mỏi và ủ rũ như đưa đám, nói mình phải về nhà xem có ai trả mấy cuốn sách thư viện cho cậu không. Cậu vẫn nuôi hy vọng, bởi thư viện Derry bắt người mượn phải ghi địa chỉ cũng như họ tên trên thẻ của từng cuốn sách. Eddie nói cậu dự tính xem Chương trình nhạc Rock trên ti vi vì lần này sẽ có Neil Sedaka xuất hiện và cậu muốn xác nhận xem liệu Neil Sedaka có phải dân da đen hay không. Stan bảo Eddie đừng nói vớ va vớ vẩn, bởi Neil Sedaka vốn là người da trắng, nghe nhạc của anh ấy là biết. Eddie bất bình, cho hay không phải cứ nghe là biết, tỉ dụ như đến năm ngoái, cậu vẫn đinh ninh Chuck Berry là người da trắng, nhưng khi thấy anh xuất hiện trong Bục trình diễn , cậu mới biết hóa ra anh ấy là người da đen.
“Mẹ tớ vẫn nghĩ anh ấy là người da trắng, nên chẳng sao cả,” Eddie nói. “Nếu mẹ phát hiện anh ấy là người da đen, còn khuya mẹ mới cho tớ nghe nhạc anh ấy sáng tác.”
Stan cá với Eddie bốn cuốn truyện tranh rằng Neil Sedaka là người da trắng, thế là cả hai cùng đến nhà Eddie để phân định thắng thua.
Rốt cuộc, sau một hồi đi theo hướng dẫn về nhà Bill, Bill và Richie chẳng mở miệng nói gì. Richie mải nghĩ đến chuyện Bill kể về việc bức hình quay đầu lại nháy mắt. Và dù mệt lử, một ý nghĩ hiện ra trong đầu cậu. Suy nghĩ ấy rõ là điên rồ… nhưng đồng thời lại có gì đó thu hút.
“Billy bạn hiền,” cậu lên tiếng. “Mình dừng lại nghỉ đi. Năm phút thôi cũng được. Tớ ngủm đến nơi rồi.”
“M-Mơ đi,” Bill nói nhưng dừng chân, cẩn thận đặt Ánh Bạc lên rìa bãi cỏ Chủng viện Thần học xanh mướt, và rồi hai cậu bé ngồi trên những bậc đá rộng rãi dẫn lên công trình kiến trúc phong cách Victoria đồ sộ màu đỏ.
“Ngày hôm n-n-nay d-dài thật,” Bill rầu rĩ nói. Mắt cậu thâm quầng. Khuôn mặt trắng nhợt và thâm trầm. “Khi về đến nhà tớ, cậu nh-nhớ gọi ch-cho nhà cậu đấy. Kẻo b-bố mẹ cậu l-lại lo lắng.”
“Ừ. Chắc chắn rồi. Bill này, tớ bảo…”
Richie ngưng bặt, nhớ lại câu chuyện xác ướp Ben nói, gã hủi Eddie gặp, và câu chuyện mà suýt chút nữa Stan đã kể với cả bọn. Trong thoáng chốc, có điều gì đó manh nha hiện lên trong đầu cậu, liên quan đến bức tượng Paul Bunyan ở trung tâm thị trấn. Nhưng vì Chúa, đó chỉ là một giấc mơ mà thôi.
Cậu gạt suy nghĩ lạc quẻ ấy đi và lên tiếng.
“Tụi mình về nhà cậu nhé, cậu thấy sao? Vào phòng Georgie xem thế nào. Tớ muốn nhìn tấm hình ấy.”
Bill trố mắt nhìn Richie. Cậu muốn nói gì đó nhưng sốc đến độ không thốt nên lời, chỉ biết lắc đầu nguầy nguậy.
“Cậu nghe chuyện của Eddie rồi. Của Ben nữa. Cậu có tin lời bọn họ không?” Richie tiếp tục.
“Tớ kh-kh-không biết. Tớ ng-nghĩ chắc họ đ-đ-đã th-thấy gì đ-đó.”
“Ừ, tớ cũng vậy. Cả những đứa trẻ bị giết ở đây nữa, tớ nghĩ tất cả đều gặp những chuyện riêng. Điểm khác biệt duy nhất giữa Ben và Eddie với lũ trẻ kia là Ben và Eddie không bị bắt đi.”
Bill nhướng mày song không có vẻ gì là ngạc nhiên. Richie đoán hẳn Bill cũng suy luận được điều đó. Cậu ấy nói năng không trôi chảy nhưng đầu óc không hề ngu si.
“Cậu thử ngẫm mà xem, Bill To Bự,” Richie phân tích tiếp. “Có thể có một gã mặc trang phục hề đi giết trẻ con. Tớ không biết tại sao hắn lại muốn làm thế, nhưng ai mà biết trong đầu đám điên ấy nghĩ gì, cậu công nhận không?”
“Đ-Đ-Đúng…”
“Đúng thế. Không khác gì Joker trong truyện tranh Người dơi.” Nội việc nghe thấy ý tưởng của mình vang thành tiếng đã khiến Richie hào hứng hẳn lên. Cậu còn bâng quơ tự hỏi thật ra cậu đang cố chứng minh luận điểm đưa ra hay chỉ nói quàng nói xiên cốt để được nhìn thấy căn phòng và bức hình ấy. Mà thôi, chuyện đó chẳng mấy quan trọng. Rốt cuộc, thấy ánh mắt Bill lấp lánh hào hứng là đủ rồi.
“Nh-Nh-Những bức h-hình ấy thì l-liên quan gì?”
“Cậu nghĩ sao, Billy?”
Không nhìn thẳng vào Richie, Bill trầm giọng nói mình cho rằng nó không liên quan đến những vụ án mạng. “Tớ nghĩ nó là h-hồn ma của G-G-Georgie.”
“Hồn ma trong tấm hình sao?” Bill gật đầu.
Richie nghĩ thật lung. Ý tưởng về ma quỷ chẳng làm khó được đâu óc của cậu bé ấy. Cậu dám chắc trên đời có những thứ như vậy. Bố mẹ của cậu là tín hữu Giám lý, Richie đi nhà thờ vào mỗi Chủ nhật và dự các cuộc họp Hội Thanh niên Giám lý vào tối thứ Năm. Cậu cũng nắm trong tay khá nhiều kiến thức trong Kinh Thánh, và cậu biết Kinh Thánh tin đủ thứ kỳ cục. Theo như Kinh Thánh, một trong ba phần của Thiên Chúa là Thánh linh, mà đấy mới chỉ là khởi đầu thôi nhé. Cậu thấy Kinh Thánh tin vào ma quỷ, vì Chúa Giê-su đuổi cả đống ma quỷ ra khỏi một người. Chuyện này rõ là buồn cười. Khi Chúa Giê-su hỏi người này tên gì, ma quỷ trả lời và bảo Chúa gia nhập vào Binh đoàn. Hay điều gì đó tương tự. Kinh Thánh cũng tin rằng trên đời có phù thủy, nếu không, sao trong đó lại có câu “Ngươi không được để cho một phù thủy được sống sót”? Một vài điều trong Kinh Thánh còn ghê hơn cả truyện tranh kinh dị. Người bị ninh trong vạc dầu hoặc treo cổ như Judas Iscariot; câu chuyện về vua Ahaz rơi xuống tòa tháp, đàn chó bèn tiến lại liếm sạch máu của ông ta; hoặc những vụ giết hại trẻ sơ sinh khi Moses và Chúa Giê-su ra đời, những kẻ đội mồ sống dậy hoặc bay trong không trung, những binh lính đồng thanh hô cho tường sụp đổ, nhà tiên tri thấy trước tương lai và chiến đấu với quái vật. Tất cả đều có trong Kinh Thánh và từng từ từng chữ đều là sự thật – Đức Cha Craig đã nói như vậy, bố mẹ của Richie và Richie cũng cho là như vậy. Cậu hoàn toàn sẵn lòng tin tưởng lời Bill giải thích, chỉ là cậu thấy tiền hậu có phần bất nhất.
Một trong mười hai tông đồ đầu tiên của chúa Giê-su. Có rất nhiều câu chuyện khác nhau về cái chết của Jadas nhưng phiên bản truyền thống cho rằng ông đã treo cổ tự tử sau khi phản bội chúa Giê-su.
“Nhưng cậu bảo cậu sợ lắm phải không? Sao hồn ma của George lại muốn hù cậu sợ chứ, Bill?”
Bill đưa tay lên chùi miệng. Tay cậu khẽ run rẩy. “C-Có lẽ em ấy gi-gi-giận tớ. Vì t-tại tớ mà e-em ấy bị gi-giết. Là l-l-lỗi của tớ. Tại tớ ch-cho thằng b-bé ra ngoài với cái th-th-th…” Không tài nào nói nổi thành lời, cậu đành vung vẩy tay trong không khí. Richie gật đầu ra hiệu mình hiểu ý Bill… nhưng cái gật đầu ấy không mang nghĩa tán thành.
”Tớ không cho là vậy,” cậu nói. “Nếu cậu đâm sau lưng hoặc bắn thằng bé thì lại là chuyện khác. Hoặc thậm chí, giả dụ như cậu đưa em trai cậu khẩu súng đã lên đạn của bố cậu để em ấy nghịch, và rồi em ấy tự bắn mình. Nhưng đó không phải khẩu súng mà chỉ là một con thuyền. Cậu không muốn làm em trai cậu bị thương, hay nói đúng hơn,” Richie giơ ngón tay và ve vẩy trước mặt Bill như vị luật sư thứ thiệt – “cậu chỉ muốn em cậu vui vẻ một chút, đúng chứ?”
Bill nghĩ lại – vắt óc ngẫm nghĩ. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, lời Richie vừa nói giúp cậu bớt cảm thấy nặng nề khi nhắc đến cái chết của George, nhưng đâu đó trong con người cậu lại có một phần âm ỉ đinh ninh rằng cậu không được phép thấy nhẹ lòng. Cái phần ấy đay nghiến: tất nhiên, đó là lỗi của cậu; có thể không phải hoàn toàn nhưng chí ít là phần nào.
Nếu không, tại sao lại có khoảng trống lạnh lẽo giữa bố mẹ mày trên ghế sô pha? Nếu không, tại sao chẳng ai trò chuyện lúc ngồi vào bàn ăn nữa? Giờ chỉ còn tiếng dao nĩa lanh canh, lanh canh mãi cho đến lúc này không chịu nổi mà xin ch-ch-ch-cho con về phòng.
Tựa hồ chính cậu mới là bóng ma, cậu hiện diện đấy, cậu trò chuyện và cử động đấy, nhưng không ai nghe, cũng chẳng ai thấy, một thứ mơ hồ nhưng không được chấp nhận là thật.
Cậu không thích ý nghĩ mình là kẻ đáng trách, nhưng cậu chỉ có thể nghĩ ra thêm một kịch bản để giải thích cho cách bố mẹ cư xử, mà nguyên nhân ấy tệ hơn rất nhiều: rằng ngày trước, bố mẹ yêu thương và quan tâm đến cậu chỉ vì George hiện diện, giờ đây, khi George lìa đời, chẳng còn gì dành cho cậu… tất cả những điều đó xảy ra ngẫu nhiên, không vì lý do gì. Và nếu áp tai vào cánh cửa ấy, ta có thể nghe thấy tiếng gió cuồng loạn thổi ngoài kia.
Vì thế, cậu hồi tưởng lại hành động, cảm xúc và lời nói của mình vào cái ngày Georgie chết, đâu đó trong lòng, cậu hy vọng Richie nói đúng, nhưng một phần khác trong cậu lại cầu mong điều ngược lại. Cậu không ra dáng một người anh cả đối với George, đó là điều chắc chắn. Hai anh em chành chọe nhau rất nhiều. Hôm ấy có lần nào không nhỉ?
Không. Không có. Hôm ấy Bill cũng đang cảm thấy lợn cợn trong người nên chẳng có tâm trạng nào mà cãi cọ với George. Trước đó, cậu ngủ và nằm mơ thấy một thứ gì đó,
(một con rùa)
một con vật nhỏ bé, cậu không nhớ rõ là con gì, rồi cậu tỉnh giấc dưới tiếng mưa rả rích ngoài kia và George lầm bầm bực bội trong phòng ăn. Câu hỏi George gặp vấn đề gì. George bước vào, than vãn mình đang cố gấp thuyền giấy theo hướng dẫn trong cuốn Những hoạt động thú vị nhất nhưng gấp mãi không được. Bill nói George cầm cuốn sách đến cho mình xem. Lúc này đây, khi ngồi cạnh Richie trên bậc thang dẫn đến chủng viện, cậu nhớ như in đôi mắt George bừng sáng khi chiếc thuyền giấy thành hình, và ánh mắt ấy khiến cậu vui sướng vô cùng, tựa hồ Georgie nghĩ Bill là một kẻ anh hào, một kẻ đầu đội trời chân đạp đất, kẻ làm bằng được mới thôi. Nói tóm lại, ánh mắt ấy khiến cậu cảm thấy mình là một người anh lớn thật sự.
Con thuyền ấy khiến George chết, nhưng Richie nói đúng - nó không giống với việc đưa cho George nghịch một khẩu súng đã lên nòng. Bill không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Đó là điều chắc chắn.
Cậu hít một hơi thật sâu, run rẩy, cảm nhận tảng đá mà cậu còn không biết bấy lâu đè nặng như được nhấc ra khỏi lồng ngực. Bỗng dưng cậu cảm thấy nhẹ nhõm hơn, nhẹ nhõm về mọi chuyện.
Toan mở miệng nói với Richie điều đó, thế mà cậu lại òa lên nức nở.
Hoảng hồn, Richie vòng một tay qua vai Bill (sau khi liếc quanh để phòng hờ có người tưởng nhầm hai cậu là một cặp xăng pha nhớt).
“Không sao,” cậu an ủi. “Không sao đâu, Billy ơi. Thôi nào. Khóa van nước cho tớ nhờ.”
“Tớ không m-m-muốn e-em tớ b-bị gi-gi-giết đ-đâu!” Bill khóc nấc lên. “T-TỚ KH-KH-KH-KHÔNG BAO GIỜ NGH-NGHĨ Đ-Đ-Đ-ĐẾN ĐIỀU Đ-ĐÓ!”
“Chúa ơi, Billy, tớ biết mà,” Richie trấn an. “Nếu cậu muốn hại em cậu, cậu đã đẩy em ấy ngã cầu thang hay gì đó rồi.” Richie vụng về vỗ vai Bill và ôm cậu thật chặt rồi mới buông tay. “Nào nào, đừng mít ướt nữa, được chứ? Cậu cứ như con nít ấy.”
Dần dà, Bill ngừng khóc. Cậu vẫn đau, nhưng nỗi đau ấy dường như rõ ràng hơn, tựa hồ cậu rạch mở bản thân mình và lấy ra thứ đang mục ruỗng bên trong. Cảm giác nhẹ nhõm vẫn còn đó.
“T-Tớ không m-muốn em tớ b-bị gi-gi-giết,” Bill lặp lại, và n-nếu c-c-cậu k-kể với ai chuyện tớ kh-kh-khóc, tớ s-s-sẽ đấm v-vỡ m-m-mũi cậu.”
“Tớ sẽ giữ bí mật,” Richie nói. “Đừng lo. Đó là em trai cậu mà, vì Chúa. Nếu em tớ mà bị giết, tớ cũng khóc lên khóc xuống cho mà xem.”
“C-C-Cậu l-làm gì có e-em.”
“Ừ, ý là nếu tớ có.”
“C-Cậu s-s-sẽ khóc à?”
“Còn phải hỏi.” Richie ngừng nói, nhìn Bill với ánh mắt dè chừng, cố thăm dò xem Bill đã bình tĩnh lại chưa. Cậu vẫn lau đôi mắt đỏ ngầu bằng khăn mùi xoa, nhưng Richie nghĩ có lẽ bạn mình đã lấy lại tinh thần rồi. “Ý tớ muốn nói là tớ không hiểu tại sao George lại muốn ám cậu. Nên có khi bức hình lại liên quan đến… ừ, yếu tố khác. Như gã hề kia chẳng hạn.”
“C-C-Có thể G-G-George kh-kh-không b-b-biết. Có thể n-nó ngh-nghĩ…”
Richie hiểu điều Bill muốn nói nhưng cậu gạt đi. “Sau khi ngủm củ tỏi, mình biết mọi điều người khác nghĩ về mình, Bill To Bự à.” Cậu nói với phong thái của một ông giáo tuyệt vời rộng lượng đang sửa chữa những suy nghĩ dấm dớ của một kẻ đầu đất. “Trong Kinh Thánh có nói đấy. Kinh Thánh bảo dù hiện tại, ta không thấy nhiều thứ trong gương, nhưng sau khi chết, ta sẽ nhìn xuyên qua nó như một tấm gương. Trong Tê-sa-lô-ni-ca Một hoặc Babylon Hai gì đấy, tớ quên mất rồi. Nó có nghĩa là…”
“Tớ h-h-hiểu nó c-có ngh-ngh-nghĩa gì?” Bill ngắt lời.
“Thế cậu thấy sao?”
“Hả?”
“Mình lên phòng em trai cậu xem thử nhé. Có khi mình lại tìm được manh mối về kẻ giết hại những đứa trẻ cũng nên.”
“Tớ s-s-sợ lắm.”
“Tớ cũng vậy,” Richie nói cốt để hùa theo, để Bill chịu cục cựa, và rồi bụng cậu chợt nặng như chì, và cậu phát hiện thật sự là thế: mặt cậu ấy xanh như tàu lá vì sợ hãi.
4
Hai cậu bé âm thầm bước vào nhà Denbrough như hai bóng ma.
Bố của Bill đang đi làm. Sharon Denbrough ngồi trong bàn bếp đọc sách. Mùi của bữa tối – món cá tuyết – bay ra tận phòng khách phía trước. Richie dùng điện thoại nhà Bill gọi về để mẹ cậu biết con trai bà vẫn còn sống nhăn răng.
“Ai đó?” Bà Denbrough gọi với lên khi Richie gác điện thoại. Hai cậu bé cứng người, nhìn nhau với vẻ tội lỗi. Và rồi Bill lên tiếng: “C-Con đây mẹ. Và R-R-R-R-R…”
“Cháu, Richie Tozier đây ạ,” Richie đáp.
“Chào cháu, Richie,” bà Denbrough nói, giọng bà xa xôi, tưởng dường như không có mặt ở đó. “Cháu có muốn ở lại dùng bữa tối không?”
“Cháu cảm ơn cô, nhưng chừng nửa tiếng nữa mẹ cháu sẽ đến đón ạ.”
“Cho cô gửi lời chào mẹ cháu nhé.”
“Vâng, cháu sẽ chuyển lời ạ.”
“N-Nào,” Bill thì thầm. “Ch-Chào hỏi thế đủ rồi.”
Hai cậu bé lên lầu và đi dọc hành lang đến phòng của Bill. Phòng gọn gàng kiểu con trai, có nghĩa là mẹ của cậu bé chỉ hơi hơi nhức đầu khi nhìn vào căn phòng này. Kệ sách chất đầy truyện. Trên bàn la liệt truyện tranh, các mô hình, đồ chơi và một chồng đĩa than. Ngoài ra còn có một chiếc máy đánh chữ văn phòng hiệu Underwood. Hai năm trước, bố mẹ tặng cho cậu vào dịp Giáng sinh, và thỉnh thoảng Bill vẫn hay dùng nó để sáng tác truyện. Kể từ khi George qua đời, cậu viết lách nhiều hơn. Dường như bịa chuyện giúp tâm trí cậu khuây khỏa.
Có một chiếc máy hát để trên sàn, đối diện chiếc giường với đống quần áo đã gấp đặt trên nóc. Bill cất quần áo vào ngăn tủ rồi lấy chồng đĩa than trên bàn. Cậu xem qua một lượt rồi lựa khoảng năm, sáu cái. Cậu đặt lên trục quay của máy hát rồi bật nhạc. Nhóm nhạc The Fleetwoods ngân nga bài Dịu dàng đến bên em .
Richie bịt mũi.
Bill nhoẻn miệng cười dù trống ngực đập thình thịch. “B-Bố mẹ tớ kh-không th-th-thích nhạc rock and r-roll,” cậu giải thích. “Bố mẹ t-tặng tớ đ-đĩa này vào s-s-sinh nhật của tớ. Ngoài ra c-còn hai đĩa P-Pat B-B-Boone và T-T-Tommy Sands. Tớ để dành R-Richard Nh-Nhỏ Bé và J- Jay Hawkins G-Gào Thét khi nào bố mẹ đi v-vắng. Nhưng nếu mẹ tớ nghe thấy tiếng nh-nhạc, mẹ sẽ t-tưởng mình ở tr-trong ph-phòng. Đ-Đ-Đi th-thôi.”
Phòng của George ở bên kia hành lang. Cửa đóng kín. Richie nhìn cánh cửa và liếm môi.
“Bố mẹ cậu có khóa cửa không?” Cậu thì thầm hỏi Bill. Bất chợt, cậu thầm mong căn phòng bị khóa. Bất chợt cậu thấy khó lòng tin nổi mình là kẻ nảy ra ý tưởng này.
Mặt tái mét, Bill lắc đầu và xoay tay nắm cửa. Cậu bước vào rồi quay lại nhìn Richie. Sau phút lưỡng lự, Richie theo sau. Bill đóng cửa lại, khiến giọng hát của The Fleetwoods bị át đi. Richie thoáng nhảy dựng khi then cửa đóng cạch.
Cậu nhìn quanh, vừa sợ hãi vừa hết sức hiếu kỳ. Điều đầu tiên cậu để ý là mùi khô mốc của không khí – Lâu rồi chưa ai mở cửa sổ căn phòng này, cậu thầm nghĩ. Chết tiệt, lâu rồi chưa ai hít thở ở đâu. Nơi này tạo cảm giác như vậy. Cậu khẽ rùng mình trước suy nghĩ ấy rồi liếm môi.
Ánh mắt cậu dừng lại ở giường George, trong đầu thầm nhủ hiện giờ George đang yên nghỉ dưới đất mẹ trong nghĩa trang Mount Hope. Đang thối rữa ở đó. Tay em ấy không chắp lên nhau vì nếu muốn làm động tác này thì phải có hai tay, trong khi đó George chỉ được chôn với một cánh tay mà thôi.
Tiếng rên khe khẽ phát ra từ họng Richie. Bill quay đầu lại, nhìn cậu thắc mắc.
“Cậu nói đúng,” Richie khàn khàn nói. “Ở đây u ám quá. Tớ không hiểu nổi sao cậu có thể vào căn phòng này một mình.”
“Đ-Đó là em tr-trai tớ,” Bill thật thà đáp. “Thỉnh thoảng tớ m-m-muốn vào, thế th-thôi.”
Trên tường dán vài tấm áp phích của trẻ con. Một bức là hình Tom Tuyệt đỉnh, một nhân vật hoạt hình trong chương trình Đội trưởng Kangaroo. Tom đang nhào qua đầu và đôi tay nắm chặt của Crabby Appleton, nhân vật Thối nát Tận Gốc rễ. Một tấm áp phích có hình ba chú vịt cháu của Vịt Donald, bao gồm Huey, Louie và Dewie đang bước vào miền hoang dã, đầu đội mũ gấu mèo của đội hướng đạo Junior Woodchucks. Tấm áp phích thứ ba, do chính tay George tô màu, là hình bức tranh Ông Điều Hay đang điều khiển phương tiện giao thông để một đám nhóc băng qua đường đến trường. Bên dưới để ÔNG ĐIỀU HAY DẶN PHẢI ĐỢI NGƯỜI LỚN DẮT QUA!
Cậu nhóc này tô lem quá, Richie thầm nghĩ mà rùng mình. Cậu bé ấy chẳng bao giờ còn cơ hội học cách tô sao cho khéo nữa rồi. Richie nhìn chiếc bàn cạnh cửa sổ. Bà Denbrough đã dựng tất cả các cuốn sổ liên lạc của George lên đó, hé mở. Nhìn sổ liên lạc, biết rõ sau này sẽ không có thêm cuốn sổ nào mới, biết rõ George đã lìa đời trước khi biết cách tô màu không lem, biết rõ cuộc đời cậu bé đã khép lại vĩnh viễn, mãi mãi chỉ còn sót lại một vài cuốn sổ liên lạc và phiếu bé ngoan, lần đầu tiên, Richie thấm thía thế nào là chết chóc. Tựa hồ một cái két sắt thật to đã rơi vào não cậu và mắc kẹt ở đó. Mình có thể mất mạng! Tâm trí cậu lật mặt, hét toáng lên đầy sợ hãi. Ai cũng có thể mất mạng! Bất cứ ai!
“Ôi trời ơi,” cậu nói, giọng run rẩy. Cậu không trụ được nữa rồi.
“Ừ.” Bill thều thào. Cậu ngồi xuống giường George. “Nhìn kìa.”
Richie nhìn theo ngón tay Bill đang chỉ và trông thấy cuốn album ảnh đóng lại trên sàn. HÌNH CHỤP CỦA TỚ. Richie đọc. GEORGE ELMER DENBROUGH, 6 TUỔI.
Sáu tuổi! Tâm trí cậu rít lên, vẫn bằng cái giọng lật lọng ấy. Mãi mãi tuổi lên sáu! Ai cũng có thể mất mạng! Khốn kiếp! Chết tiệt!
“Hôm b-bữa nó vẫn m-m-mở,” Bill nói.
“Giờ nó đóng rồi,” Richie bứt rứt nói. Cậu ngồi xuống cạnh Bill và nhìn cuốn album. “Nhiều cuốn sách tự đóng lại mà.”
“Tr-Trang giấy thì có thể, nhưng b-b-bìa sách thì kh-không. Nó t-tự đóng đấy.” Cậu nghiêm mặt nhìn Richie, đôi mắt đen tương phản với khuôn mặt trắng nhợt, mệt mỏi. “Nh-Nhưng nó m-m muốn m-mình mở r-ra một lần nữa. Tớ ngh-nghĩ thế.”
Richie đứng dậy, chậm rãi tiến đến gần cuốn album. Nó nằm ngay bên dưới bệ cửa sổ với lớp rèm mỏng. Nhìn ra ngoài, cậu có thể trông thấy cây táo ở sân sau nhà Denbrough. Xích đu đung đưa từ một cành cây đen đúa, cong quèo.
Cậu lại hướng mắt xuống cuốn album của George.
Một vết ố màu nâu sậm đã khô vương ở ngay giữa sách. Có thể đó chỉ là vết xốt cà chua. Đúng rồi, biết đâu lúc ấy George vừa xem album vừa ăn bánh mì kẹp xúc xích hoặc một chiếc bánh hamburger to nhồi đủ thứ nhân; cậu bé cắn một miếng thật to khiến xốt cà chua rớt xuống cuốn album. Trẻ con lúc nào cũng làm những trò ngớ ngẩn như vậy. Chỉ là xốt cà chua thôi. Nhưng trong thâm tâm mình, Richie biết là không phải.
Cậu chạm tay lướt qua cuốn album rồi rụt lại. Nó lạnh ngắt. Tuy nằm ở vị trí ánh mặt trời chói chang của mùa hạ chiếu xuống cả ngày, chỉ bị tấm rèm mỏng chặn lại chút đỉnh, thế mà nó lạnh như băng.
Thôi, cứ để nó ở sân đấy cho rồi, Richie thầm nghĩ. Mình cũng chẳng ham hố xem cuốn album ảnh ngớ ngẩn của cậu nhóc làm gì, toàn ảnh của người lạ. Chắc mình sẽ bảo Bill rằng mình đổi ý rồi, và bọn mình có thể trở lại phòng cậu ấy, ngồi đọc truyện tranh một lát, sau đó mình sẽ về nhà ăn tối rồi đi ngủ sớm vì mình mệt đứ đừ, sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, chắc chắn mình sẽ nghĩ vết bẩn đó là xốt cà chua. Ừ, làm vậy đi. Thế là ngon.
Nhưng rồi cậu lại mở cuốn album bằng đôi tay tưởng chừng cách xa cậu cả nghìn cây số, và ở cuối cánh tay dài ngoằng bằng nhựa, cậu nhìn những khuôn mặt, địa điểm trong cuốn album của George, cô dì, chú bác, trẻ con, nhà cửa, xe Ford và Studebaker cũ mèm, đường dây điện thoại, hòm thư, hàng rào bằng cọc, rãnh xe chạy đọng đầy nước bùn, vòng đu quay ở Hội chợ Hạt Etsy, Standpipe, tàn tích của Xưởng đúc Kitchener…
Cậu lật nhanh dần, nhanh dần và các trang giấy đột nhiên trống trơn. Cậu lật ngược trở lại, tuy không muốn nhưng chẳng tài nào kìm được. Tấm hình cuối cùng chụp trung tâm thị trấn Derry, đường Chính và đường Kênh Đào khoảng năm 1930, ngoài ra không còn tấm nào khác.
“Làm gì có hình chụp George ở đây đâu,” Richie lên tiếng. Cậu nhìn Bill với vẻ mặt vừa nhẹ nhõm vừa cáu kỉnh. “Cậu lừa tớ đấy hả, Bill To Bự?”
“C-C-Cái gì cơ?”
“Bức hình chụp trung tâm thị trấn ngày xưa là bức cuối trong cuốn album này rồi. Còn lại đều trống không.”
Bill rời khỏi giường, đến chỗ Richie. Cậu nhìn bức hình chụp trung tâm thị trấn Derry phải gần ba mươi năm trước là ít, xe ô tô và xe tải cũ, đèn đường kiểu cũ với chụp đèn như những quả nho trắng khổng lồ, dọc Kênh Đào là khách bộ hành đang rảo bước. Cậu lật trang giấy và nhận ra đúng như lời Richie nói, chẳng có gì phía sau.
À, không phải – không phải không có gì. Vẫn có một góc kẹp hình để ta lồng ảnh.
“Nó o-o-ở đây này, cậu nói và gõ vào góc kẹp. “Cậu nhìn x-xem.”
“Ôi trời! Cậu nghĩ có chuyện gì xảy ra với nó?”
“Tớ kh-không b-b-biết.”
Bill lấy cuốn album từ Richie rồi đặt vào lòng. Cậu lật ngược trở lại, tìm kiếm bức hình chụp George. Được chừng một phút thì cậu dừng lại, nhưng kìa, các trang vẫn tự lật. Chúng tự chuyển động, chậm rãi lật từng tờ, cố tình tạo ra tiếng loạt soạt thật vang. Bill và Richie trợn tròn mắt nhìn nhau rồi cùng nhìn xuống.
Trang ảnh lật đến bức hình cuối cùng rồi ngừng lại. Trong tấm hình đen trắng chụp trung tâm thị trấn Derry, khung cảnh từ thời trước khi Bill hay Richie sinh ra đời.
“Trời!” Richie chợt ré lên và giật cuốn album từ tay Bill. Giọng của cậu không còn sợ hãi nữa, và khuôn mặt cậu bỗng sáng bừng lên hào hứng. “Chết tiệt!”
“C-Cái gì? Cái g-g-gì vậy?”
“Bọn mình kìa! Đây này! Chết tiệt, cậu nhìn kìa!”
Bill cầm một bên của cuốn album. Chúi đầu vào đó, hai người bọn họ trông chẳng khác nào các cậu bé đang tập hát trong ca đoàn. Bill hít vào một hơi thật sâu, và Richie biết bạn mình cũng trông thấy.
Bên dưới bề mặt sáng bóng của bức hình trắng đen cũ kỹ là hai cậu bé đang bước dọc theo đường Chính về phía ngã giao giữa đường Chính và đường Trung Tâm, ở vị trí này, Kênh Đào đi ngầm vào lòng đất khoảng hai cây rưỡi. Hai cậu bé xuất hiện rõ ràng phía bên kia bức tường bê tông thấp tũn ở rìa Kênh Đào. Một trong hai cậu mặc quần ngắn ngang đầu gối. Người còn lại mặc một bộ đồ trông như thủy thủ. Đầu đội chiếc mũ bằng vải tuýt. Trong hình, hai người nghiêng mặt góc ba phần tư về phía ống kính, đưa mắt nhìn thứ gì đó xa xa phía bên kia đường. Không còn nghi ngờ gì nữa, cậu bé mặc quần ngang đầu gối là Richie Tozier. Và người mặc bộ đồ thủy thủ và đội mũ vải tuýt chính là Bill Cà Lăm.
Như bị thôi miên, cả hai nhìn chằm chằm vào bản thân trong bức hình với tuổi đời gần gấp ba lần tuổi hai người bọn họ. Trong miệng Richie chợt khô khốc như bụi và trơn tuột như thủy tinh. Cách hai cậu bé vài bước chân là một người đàn ông cầm chiếc mũ phớt, áo khoác ngoài lật phật bay ra sau dưới cơn gió đột ngột thổi qua. Trên đường có vài chiếc xe Model-T, một chiếc Pierce-Arrow và dăm ba chiếc Chevrolet gắn sẵn bậc lên xuống.
“T-T-T-Tớ kh-không t-t-tin…” Bill nói, đúng lúc ấy bức hình bắt đầu chuyển động.
Chiếc Model-T lý ra phải vĩnh viễn nằm giữa ngã tư (hoặc chí ít đến lúc các chất hóa học trong bức hình cũ này phân hủy hoàn toàn) lúc này đang băng qua đường, để lại làn khói phụt ra từ ống pô. Nó chạy tới đồi Dặm Trên. Một cánh tay nhỏ màu trắng thò ra từ cửa tài xế, ra hiệu rẽ trái. Chiếc xe rẽ lên đường Tòa Án, chạy ra ngoài đường viền trắng của bức hình nên biến mất.
Chiếc Pierce-Arrow cùng mấy chiếc Chevrolet, Packard bắt đầu lăn bánh, chạy ngược chạy xuôi qua ngã tư. Sau khoảng hai mươi tám năm, đuôi áo khoác của người đàn ông trong hình hoàn thành vòng bay phấp phới. Ông kéo mũ chặt hơn rồi bước tiếp.
Hai cậu bé vòng lại, xoay mặt hẳn về phía ống kính, và liền sau đó, Richie biết hai người trong tấm hình đang quan sát thứ gì, bởi một con chó ghẻ lở lê bước băng qua đường Trung Tâm. Cậu bé mặc đồ thủy thủ – Bill – đưa hai ngón tay lên khóe miệng và huýt sáo. Sững sờ đến độ không tài nào cử động hay suy nghĩ nổi, Richie nhận ra cậu có thể nghe thấy tiếng huýt sáo, có thể nghe thấy tiếng động cơ xe ầm ì. Âm thanh bập bùng như thể nghe qua lớp kính dày, nhưng vấn đề là chúng thực sự vang lên.
Con chó liếc nhìn về phía hai cậu bé rồi đi tiếp. Hai cậu nhìn nhau, phá lên cười rinh rích. Họ tiếp tục bước đi, đoạn Richie trong chiếc quần ngang gối chộp lấy tay Bill và chỉ về phía Kênh Đào. Họ rẽ sang hướng đó.
Đừng, Richie thầm nghĩ, đừng làm thế, đừng…
Hai người đi đến bờ tường bê tông thì bất thình lình, một gã hề bật lên từ bờ đê như món đồ chơi khăm gớm ghiếc, gã hề với khuôn mặt của Georgie Denbrough, tóc vuốt ngược ra sau, miệng nhăn nhở nụ cười tàn độc, máu me nhoe nhoét, hai hốc mắt là hai lỗ đen đúa. Một tay hắn cầm dây cột một chùm ba quả bóng bay. Hắn thò tay kia về phía cậu bé mặc đồ thủy thủ và chộp lấy cổ cậu.
“Kh-Kh-KHÔNG!” Bill ré lên, đưa tay về phía bức hình.
Cậu đưa tay vào trong bức hình ấy!
“Ngừng lại, Bill!” Richie hét lên và chộp lấy bạn mình.
Suýt chút nữa thì đã quá muộn. Cậu trông thấy đầu ngón tay của Bill đi qua bề mặt tấm hình và bước vào thế giới bên trong. Cậu trông thấy đầu ngón tay biến từ màu hồng hào của da thịt sang màu đục xám như xác ướp trong những bức hình cũ. Cùng lúc, chúng trở nên nhỏ và xa xôi, tựa hồ ảo ảnh thị giác ta trông thấy khi thọc một tay vào tô thủy tinh đựng nước: phần tay dưới nước trông như đang trôi lềnh phềnh, chia tách và cách xa phần tay ở ngoài mặt nước vài phân.
Một loạt vết cắt chi chít rạch lên phần đầu ngón tay Bill ở vị trí giao với tấm hình; tựa hồ cậu vừa đút tay vào cánh quạt chứ không phải vào trong một bức ảnh.
Richie chộp lấy tay cậu và kéo thật mạnh. Cả hai ngã vật ra sau. Cuốn album của George văng xuống sàn và đóng sập lại khô khốc. Bill đút tay vào miệng. Mắt cậu nhòe lệ vì đau. Richie có thể thấy máu rỉ thành đường chảy từ lòng bàn tay xuống khuỷu tay Bill.
“Để tớ xem nào,” cậu nói.
“Đ-Đau quá,” Bill lắp bắp. Cậu ngửa lòng bàn tay, chìa ra cho Richie xem. Ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út của cậu bị rạch những đường song song như bậc thang. Ngón út chưa chạm vào bề mặt bức hình (ấy là giả như nó có bề mặt), và dù ngón út chưa bị cứa vào, lúc sau, Bill kể với Richie móng tay của cậu bị xén gọn như cắt bằng kéo bấm móng chuyên dụng.
“Lạy Chúa, Bill,” Richie nói. Băng cá nhân. Cậu chỉ nghĩ được chừng đó. Chúa ơi, cũng may số hai người bọn họ còn đỏ – nếu cậu không kéo tay Bill ra, có khi ngón tay cậu ấy đã đứt lìa chứ không chỉ bị cắt thế này. “Mình phải băng bó lại. Mẹ cậu có thể…”
“Đ-Đ-Đừng l-lôi m-mẹ t-tớ vào.” Bill nói. Đoạn cậu cầm cuốn album lên, khiến máu nhỏ giọt xuống nền nhà.
“Đừng mở nó ra nữa!” Richie ré lên, cuống cuồng chộp lấy vai Bill. “Lạy Chúa tôi, Billy, suýt chút nữa cậu cụt tay rồi đó!”
Bill đẩy tay bạn mình ra. Đoạn cậu lật cuốn album với vẻ mặt đầy kiên định khiến Richie lạnh gáy. Đôi mắt Bill như phát cuồng. Những ngón tay bị thương khiến album của George nhoe nhoét máu – hiện giờ, trông nó chưa giống xốt cà chua cho lắm, nhưng qua thời gian, khi khô lại, nó cũng sẽ giống y như vậy mà thôi. Chắc chắn là thế.
Và khung cảnh trung tâm thị trấn lại hiện ra trước mặt cậu.
Chiếc Model-T vẫn đứng giữa ngã giao. Những chiếc xe khác vẫn yên vị ở chỗ vốn có. Người đàn ông tiến về ngã tư giữ vành chiếc mũ phớt của mình, áo khoác của ông ta bay phất lên.
Hai cậu bé kia đã biến mất. Trong tấm hình không còn đứa trẻ nào. Nhưng…
“Nhìn này,” Richie thì thầm và đưa tay chỉ. Cậu cẩn trọng giữ cho đầu ngón tay cách bức ảnh một khoảng xa. Có gì đó cong cong lấp ló bên kia bờ tường bê tông ở rìa Kênh Đào - trông như định của một vật hình tròn.
Như quả bóng bay chẳng hạn.
5
Hai đứa trẻ bước ra khỏi phòng George vừa kịp lúc. Giọng của mẹ Bill vang lên ở cuối bậc cầu thang, bóng bà in hằn trên tường.
“Hai đứa vật lộn đấy à?” Bà nghiêm giọng hỏi. “Mẹ nghe thấy có tiếng rầm rầm.”
“Dạ m-m-một chút thôi m-mẹ.” Bill lừ mắt nhìn Richie, ý nói Đừng bép xép.
“Ừ, thôi ngay cho mẹ. Mẹ còn tưởng trần nhà sắp sập lên đầu mẹ đến nơi rồi.”
“D-D-Dạ vâng.”
Họ nghe thấy tiếng bà quay trở lại phòng khách. Bill quấn khăn mùi xoa xung quanh bàn tay đang chảy máu của mình, khăn nhuốm đỏ rồi tong tỏng rỉ máu. Hai cậu bé bước xuống nhà vệ sinh, Bill đưa tay vào dưới vòi nước cho đến khi cầm máu. Sau khi rửa sạch, vết cắt nhìn mảnh nhưng sâu hoắm. Nhìn miệng vết thương màu trắng và phần thịt đỏ bên trong khiến Richie cảm thấy bụng cậu quặn lên. Cậu hối hả dán băng cá nhân vào vết thương cho Bill.
“Đ-Đ-Đau như quỷ,” Bill nói.
“Chán cậu thật đấy, cậu nghĩ gì mà tự dưng lại đưa tay vào đó thế hả?”
Bill nhìn những vòng băng cá nhân quấn quanh ngón tay mình, mặt đanh lại, đoạn cậu ngước nhìn Richie. “Ch-Ch-Chính là g-gã hề” cậu nói. “H-Hắn đã gi-giả dạng G-G-George.”
“Cậu nói đúng,” Richie đồng tình. “Cũng chính gã hề đã giả dạng xác ướp mà Ben trông thấy. Và chính hắn đã giả dạng gã mắc bệnh mà Eddie gặp.”
“Gã h-h-hủi.”
“Phải.”
“Nhưng c-có th-th-thật hắn chỉ l-là gã h-h-hề thôi kh-không?”
“Đó là một con quái vật,” Richie thẳng thừng. “Một con quái vật trú ngụ ngay tại Derry và giết hại trẻ em.”
6
Một ngày thứ Bảy nọ, không lâu sau sự kiện con đập ở Vùng Đất Cằn với ông Nell, bức hình biết cử động, Richie, Ben và Beverly Marsh chạm trán với quái vật – nhưng không chỉ một mà tận hai con, chưa hết, họ phải trả tiền để làm điều đó. Hay nói đúng hơn là Richie trả. Những con quái vật này chỉ đáng sợ chứ không nguy hiểm; chúng rình rập nạn nhân của mình trên màn hình trong Rạp chiếu phim Aladdin trong khi Richie, Ben và Bev đứng trên ban công nhìn xuống.
Một trong hai con quái vật là Người sói do Michael Landon thủ vai, nhìn vẫn ngầu vì ngay cả khi là Người sói, anh để kiểu tóc trông như mông vịt. Tên quái vật còn lại là một tay chết vì lái xe độ, do Gary Conway thủ vai. Hắn ta được hồi sinh bởi hậu duệ của Victor Frankenstein, tay này cất trữ các bộ phận cơ thể người, phần nào không cần lại ném cho cá sấu hắn nuôi trong tầng hầm. Chương trình còn chiếu: Thời sự MovieTone trình diễn những mẫu thời trang mới nhất của Paris và vụ nổ tên lửa Vanguard mới nhất ở Mũi Canaveral (vì một số lý do, chiếc mũ Chilly Willy đội lúc nào cũng khiến Richie cười nắc nẻ), và GIỚI THIỆU PHIM HẤP DẪN SẮP TỚI. Richie ngay lập tức xếp hai bộ phim này vào danh sách phải xem sắp tới của mình: Tôi cưới quái vật ngoài hành tinh và Quái vật Blob .
Ben im như thóc trong suốt buổi chiều. Ban nãy, suýt chút nữa cậu bạn Haystack đã bị Henry, Ợ Hơi và Victor phát hiện, nên Richie tưởng mặt mày cậu ủ dột là vì thế. Tuy nhiên, Ben đã quên bằng đám côn đồ kia (bọn chúng ngồi gần màn hình phía dưới, ném bắp rang bơ vào nhau và hú hét ỏm tỏi). Beverly là lý do cậu im thin thít. Ở gần cô thế này khiến cậu choáng ngợp đến độ xây xẩm mặt mày. Cả người cậu nổi hết da gà, và chỉ cần có cựa quậy trong chỗ ngồi, da của cậu lại nóng bừng lên như thể phát sốt xuất huyết. Khi tay cô với đến hộp bắp rang bơ và quệt phải tay cậu, cậu run rẩy như vút lên chín tầng mây. Về sau, cậu nghĩ lại ba giờ ngồi trong bóng tối cạnh Beverly là khoảng thời gian vừa dài nhất và cũng vừa ngắn nhất của cậu.
Không hay biết Ben đang ngụp lặn gần chết đuối trong bể tình, Richie tỉnh rụi. Trong từ điển của cậu, thứ duy nhất hay ho hơn bộ phim Francis, chú la biết nói là những bộ phim kinh dị trong rạp chiếu phim đầy trẻ con, tất cả cùng la hét ỏm tỏi ở những khúc ghê sợ. Tất nhiên, cậu không liên hệ những chi tiết xảy ra trong hai bộ phim kinh phí thấp của hãng American-International Pictures mà họ đang xem với những gì diễn ra trong thị trấn… chí ít là lúc ấy thì chưa.
Sáng thứ Sáu, nhìn thấy quảng cáo chương trình Sinh đôi Chấn động chiếu sáng thứ Bảy trên tờ News , cậu ngay lập tức quên bẵng đêm trước mình trằn trọc mất ngủ ra sao - rốt cuộc cậu đã phải dậy bật đèn trong nhà vệ sinh, hành động ấy quả là con nít, nhưng cậu không chợp mắt được chút nào cho đến khi làm vậy. Thế mà qua sáng hôm sau, mọi thứ dường như bình thường trở lại… chà, gần gần như thế. Cậu nghĩ có khi cậu và Bill gặp chung một ảo giác. Tất nhiên những vết cắt trên ngón tay Bill không phải ảo giác, nhưng có khi chỉ là do một số tờ giấy trong album hình của Georgie sắc quá nên cứa vào tay. Tính ra giấy khá dày nên biết đâu đấy, có thể lắm. Hơn nữa, có luật lệ nào bắt cậu phải nghiền ngẫm về việc đó trong mười năm tới không? Làm gì có.
Vì thế, sau một trải nghiệm đủ để người lớn tìm đến bác sĩ tâm thần gần nhất, Richie Tozier thức giấc, ních đầy một bụng bánh nướng vào bữa sáng, trông thấy quảng cáo của hai bộ phim kinh dị trên mục Thông tin Giải trí của tờ báo, kiểm tra tiền tiêu vặt, nhận ra mình có hơi ít (hay nói đúng hơn là gần như “không xu dính túi”), đoạn nài nỉ bố cậu cho mình làm việc nhà.
Ngồi ở bàn, khoác áo nha sĩ màu trắng, bố cậu đặt tờ Thể thao xuống và rót cho mình ly cà phê thứ hai. Ông có vẻ ngoài ưa nhìn với khuôn mặt khá ốm. Ông đeo cặp kính gọng sắt, hơi hói phía sau đầu và sẽ qua đời vì ung thư thanh quản vào năm 1973. Ông nhìn vào mẩu quảng cáo mà Richie chỉ.
“Phim kinh dị à?” Wentworth Tozier hỏi.
“Dạ,” Richie đáp, miệng cười rộng đến mang tai.
“Chắc con muốn đi chứ gì?” Wentworth Tozier tiếp tục.
“Dạ phải!”
“Chắc con sẽ thất vọng đến độ co giật mà chết nếu không được xem hai bộ phim nhảm nhí ấy đúng không?”
“Vâng ạ, đúng rồi, con sẽ thất vọng chết mất! Con dám cá luôn! Ặc ặc!” Richie ngã khỏi ghế, rơi xuống sàn nhà, tay bấu chặt họng, lưỡi thè ra. Cách làm chẳng giống ai, nhưng phải công nhận Richie có nét rất duyên.
“Ôi Chúa ơi, Richie, con thôi giùm mẹ được không?” Mẹ cậu nói vọng ra từ bếp lò, bà đang chiên cho cậu hai quả trứng để ăn kèm với bánh nướng.
“Chậc, Rich này," bố cậu lên tiếng sau khi Richie ngồi lại ngay ngắn. “Chắc bố quên cho con tiền tiêu vặt vào thứ Hai phải không. Chứ bố không nghĩ ra lý do nào khác giải thích cho việc con cần thêm tiền vào thứ Sáu như vậy.”
“Thì…”
“Hết rồi à?”
“Thì…”
“Chủ đề này quá sức thâm sâu với một cậu nhóc ăn xổi ở thì nhỉ,” Wentworth Tozier tiếp tục. Ông chống khuỷu tay lên bàn và lấy hai lòng bàn tay ôm cằm, nhìn cậu con trai duy nhất với vẻ đầy hứng thú. “Tiền đâu hết rồi?”
Richie ngay lập tức đổi qua giọng nói của Toodles – quản gia người Anh. “Sao? Tôi dùng đấy, thì có làm sao thưa nhà nước? Chúng ta chia lìa đôi ngả từ đây! Kẻ hèn này chỉ góp cho cuộc chiến sức mạn thôi mà. Toàn dân phải góp sức đánh bại lũ phát xít Đức, chẳng phải sao? Vận nước lâm nguy đấy thôi? Nước mất nhà tan? Ta chỉ có nước…”
“Cạp đất mà ăn,” Went vui vẻ tiếp lời và với lấy lọ mứt dâu.
“Cho em xin, mới sáng sớm mà hai bố con đã nói linh tinh là thế nào,” Maggie Tozier nói với chồng trong lúc mang trứng chiên ra bàn cho Richie. Bà quay sang nói với cậu con trai: “Mẹ chẳng hiểu tại sao con lại muốn nhét vào đầu ba cái thứ nhảm nhí ấy.”
“Trời, mẹ kỳ quá,” Richie than van. Ngoài mặt, cậu làm ra vẻ tổn thương nhưng trong lòng như mở cờ. Cậu đọc vanh vách bố mẹ cậu như đọc sách những cuốn sách cậu trân quý hết mực và đọc đi đọc lại cả trăm lần - và cậu dám chắc cậu sẽ có được thứ cậu muốn: bố mẹ sẽ giao việc rồi cho phép cậu đi xem phim vào chiều thứ Bảy.
Went chúi người về phía Richie và nhoẻn miệng cười. “Bố vừa nghĩ ra một việc đo ni đóng giày cho con đây,” ông lên tiếng.
“Vậy hả bố?” Richie hỏi và cười đáp lại… với chút dè chừng.
“Ừ, phải. Con biết bãi cỏ nhà mình chứ, Richie? Con đâu lạ gì, đúng không?
“Chính xác, thưa nhà nước,” Richie nói, tiếp tục đóng giả Toodles. “Hơi um tùm phải không ạ?”
“Chuẩn, chuẩn,” Went hùa theo. “Và con, Richie, con sẽ ra tay cứu chữa tình trạng ấy.”
“Con ấy ạ?”
“Chứ còn ai trồng khoai đất này. Cắt cỏ nhé, Richie.”
“Dạ được, con sẽ làm.” Richie nói, nhưng nghi ngờ chợt nổi lên trong đầu cậu. Có khi bố cậu không chỉ nói tới bãi cỏ trước nhà.
Wentworth Tozier nhe răng nở nụ cười như con cá mập săn mồi. “Tất tần tật nhé, tiểu tử ngốc nhà ta. Sân trước. Sân sau. Hai bên hông nhà. Khi nào con làm xong thì ta sẽ trả công cho con bằng hai tờ màu xanh, một mặt có hình George Washington, mặt kia có hình kim tự tháp con mắt nhìn thấu tất cả.”
“Bố nói gì con không hiểu,” Richie nói, không muốn tin vào điều mình vừa nghe thấy.
“Hai đô-la.”
“Hai đô la để cắt hết toàn bộ bãi cỏ sao?” Richie ré lên, hết sức phật ý. “Bãi cỏ nhà mình to nhất khu này đó! Bố thật là quá đáng mà!”
Went thở dài và cầm tờ báo lên xem. Richie đọc được dòng tít trên trang nhất: CẬU BÉ MẤT TÍCH LÀM DẤY LÊN LO SỢ MỚI. Cậu thoáng nghĩ đến cuốn album hình kỳ lạ của George Denbrough nhưng hẳn đó chỉ là ảo giác mà thôi… nếu không phải đi chăng nữa, đó là chuyện ngày hôm qua, còn hôm nay là ngày mới rồi.
“Vậy chắc con không thích xem mấy bộ phim đó nhiều như con tưởng rồi,” Went cất tiếng từ sau tờ báo. Phút sau, ông nhướng mắt khỏi báo và nhìn Richie thăm dò. Vẻ mặt ông có đôi phần tự mãn. Vẻ mặt như kẻ cầm Tứ Quý trong tay đang âm thầm liếc mắt thăm dò đối thủ.
“Khi hai anh em sinh đôi nhà Clark cắt cỏ cho nhà mình, bố cũng cho mỗi đứa hai đô-la mà!”
“Đúng rồi,” Went không phản đối. “Nhưng theo như những gì bố biết, hai đứa nó không muốn đi xem phim vào ngày mai. Hoặc nếu có, hai cậu bé đã để dành một khoản vừa đủ rồi, vì gần đây chúng không lảng vảng đến xem tình hình vườn tược nhà mình. Còn con thì khác, con muốn đi xem phim nhưng lại không có đủ chi phí. Con đang thấy áp lực quặn lên trong bụng phải không, là vì năm cái bánh nướng và hai quả trứng con vừa ăn sáng thôi, Richie, hay là tại bố đẩy con vào tình thế tiến thoái lưỡng nan nhỉ? Sao nào?” Đôi mắt của Went lại biến mất đằng sau tờ báo.
“Bố chơi xấu con kìa mẹ,” Richie mách mẹ, lúc này bà đang ăn miếng bánh mì nướng không bởi bà lại lên kế hoạch giảm cân. “Thế này là chơi xấu, con mong mẹ biết điều đó.”
“Ừ, rồi, mẹ biết rồi,” mẹ cậu qua loa. “Trứng dính trên cằm con kìa.”
Richie chùi miếng trứng trên cằm. “Ba đô-la nếu con làm xong xuôi trước khi bố về nhà vào tối nay thì sao ạ?” Cậu hỏi tờ báo.
Đôi mắt bố cậu lại ló lên. “Hai đô rưỡi.”
“Trời ơi,” Richie rên. “Bố tính bắt chước Jack Benny diễn hài hay sao không biết.”
“Thần tượng của bố đấy,” Went nói từ đằng sau tờ báo. “Quyết định nhanh đi, Richie. Để bố còn đọc nốt bảng tỉ số.”
“Con làm,” Richie nói và thở dài. Khi bố mẹ đi guốc trong bụng ta, họ thừa sức quay ta như chong chóng. Được cái nghĩ lại, cậu thấy cũng vui. Cậu có thể vừa cắt cỏ vừa liến tháu tập nói các Giọng của mình.
7
Đến 3 giờ chiều thứ Sáu, cậu cắt xong bãi cỏ trước, sau và hai bên hông nhà, thế là qua thứ Bảy, cậu dắt túi quần jean hai đô-la và năm mươi xu. Gần cả kho tài rồi còn gì. Cậu gọi Bill nhưng Bill ủ rũ nói mình phải lên Bangor để kiểm tra âm ngữ trị liệu.
Hết sức cảm thông với bạn mình, Richie cố hết sức nhái giống Giọng Bill Cà Lăm: “V-V-Vùng lên đ-đ-đi chứ, B-Bill T-T-To bự.”
“T-Tớ ch-cho cậu ă-ăn đ-đập bây giờ, T-T-Tozier,” dứt lời, Bill cúp máy.
Tiếp đến, cậu gọi cho Eddie Kaspbrak nhưng Eddie có vẻ còn âu sầu ủ ê hơn cả Bill – số là mẹ cậu vừa mua vé xe buýt nguyên ngày, và hai mẹ con sẽ đến thăm dì của Eddie ở Haven và Bangor và cả Hampden. Cả ba người bọn họ đều có thân hình phì nhiêu như bà Kaspbrak và còn vườn không nhà trống.
“Thể nào các dì cũng béo má tớ và bảo tớ lớn nhanh thế này thế kia cho mà xem,” Eddie than.
“Đó là bởi các dì thấy cậu dễ thương chứ sao, Eds -giống tớ vậy. Lần đầu tiên gặp cậu, tớ thấy cậu đáng yêu khủng khiếp.”
“Cậu có biết nhiều lúc cậu hâm lắm không hả Richie?”
“Gió tầng nào gặp mây tầng đó đấy, Eds, đừng có mà tinh tướng. Thế tuần sau cậu có đến Vùng Đất Cằn không?”
“Chắc có, nếu các cậu đi thì tớ đi. Muốn chơi súng không?”
“Cũng được. Nhưng… tớ nghĩ tớ và Bill To Bự có chuyện muốn kể với các cậu.”
“Chuyện gì thế?”
“Nói cho đúng thì thật ra đó là chuyện của Bill. Gặp cậu sau nhé. Chơi với dì vui vẻ.”
“Vui quá cơ.”
Cuộc gọi thứ ba của cậu là cho Stan Quân Tử, nhưng bố mẹ đang thét ra lửa với cậu ta vì cái tội làm bể cửa sổ đón ánh sáng. Số là cậu này lấy đĩa bánh ra để chơi trò ném đĩa, chẳng may nó lẳng vào cửa kính đánh choang. Rốt cuộc, cậu bị phạt làm công việc nhà suốt cuối tuần này, và có lẽ cả cuối tuần sau. Richie hết sức thương xót cho Stan và hỏi sang tuần tới liệu cậu có xuống Vùng Đất Cằn không. Stan bảo hên xui, tùy thuộc vào việc phụ thân đại nhân có cấm túc cậu hay không.
“Ôi trời, Stan ơi, có mỗi cái cửa sổ thôi mà,” Richie nói.
“Ừ, cửa sổ thôi, nhưng nó bự lắm,” Stan đáp rồi cúp máy.
Chuẩn bị rời khỏi phòng khách thì Richie nghĩ đến Ben Hanscom. Cậu lục tìm trong cuốn sổ danh bạ điện thoại và tìm thấy một người mang tên Arlene Hanscom. Đây là người phụ nữ duy nhất mang tên Hanscom trong danh sách bốn số, Richie đoán hẳn đó là số điện thoại nhà Ben và quay số.
“Tớ cũng muốn đi lắm, nhưng tớ hết tiền tiêu vặt rồi,” Ben kể. Cậu có vẻ rầu rĩ và ngượng ngùng khi thú nhận chuyện đó – bởi thật ra cậu đã vung sạch tiền để mua kẹo, sô-đa, bim bim và bò khô.
Không có gì ngoài điều kiện (và không muốn đi xem phim một mình), Richie bèn rủ: “Tớ đang rủng rỉnh. Để tớ cho cậu mượn rồi trả tớ sau cũng được.”
“Hả? Thật à? Cậu cho tớ mượn sao?”
“Chứ còn gì nữa,” Richie bối rối hỏi lại. “Có gì đâu mà không được.”
“Được quá!” Ben reo mừng. “Được quá trời được! Hai bộ phim kinh dị luôn! Cậu bảo một trong hai phim là về Người sói phải không?”
“Ừ.”
“Trời đất ơi, tớ mê phim Người sói nhất trần đời!”
“Rồi rồi, Haystack, bình tĩnh kẻo đái ra quần bây giờ.”
Ben phá lên cười. “Gặp cậu trước rạp Aladdin nhé?”
“Ừ, được đó.”
Richie cúp máy rồi trầm ngâm nhìn điện thoại. Chợt cậu nhận ra trước giờ Ben Hanscom lúc nào cũng chỉ thui thủi một mình. Và điều đó khiến cậu cảm thấy mình thật oai hùng. Vừa véo von huýt sáo, cậu vừa chạy lên lầu lấy mấy cuốn truyện để đọc trước giờ chiếu.
8
Hôm ấy là một ngày ngập nắng, gió hiu hiu mát mẻ. Richie nhảy chân sáo dọc theo con đường Trung Tâm dẫn đến rạp Aladdin, ngón tay búng tanh tách, miệng thì thầm ngân nga bài Rockin’ Robin . Tâm trạng cậu phơi phới. Đi xem phim lúc nào cũng khiến cậu như mở cờ trong bụng - cậu thích mê thế giới diệu kỳ, nơi ấp ủ những giấc mơ diệu kỳ ấy. Cậu thấy xót thương làm sao những mảnh đời phải đâm sấp dập ngửa thực hiện những công chuyện tẻ ngắt vào một ngày như thế này - Bill đi kiểm tra âm ngữ trị liệu, Eddie đi thăm dì, còn Stan Quân Tử tội nghiệp phải cọ bậc thềm trước nhà, quét dọn ga-ra suốt buổi chiều vì cái đĩa bánh oái oăm cậu ta ném lại lia sang phải trong khi khổ chủ muốn nó lia sang trái.
Richie lấy yo-yo cất trong túi sau và tìm cách thả yo-yo sao cho nó quay vòng vòng ở cuối dây. Đây là ngón nghề mà Richie khao khát học được nhưng có công mài sắt mà chưa thấy ngày nên kim. Thứ chết băm chết bằm này nhất định không tuân theo ý cậu. Cậu thả xuống nó lại bật lên ngay, còn nếu không bật lên thì nó lại nằm im dưới đầu dây.
Leo lên giữa chừng ngọn đồi đường Trung Tâm, cậu trông thấy một cô gái mặc váy xếp ly màu be và áo cánh sát nách màu trắng đang ngồi trên băng ghế bên ngoài tiệm thuốc Shock’s. Có vẻ cô bạn ấy đang ăn kem ốc quế hồ trăn. Mái tóc màu nâu đỏ rực rỡ với những lọn ánh bạc hoặc ngả vàng hoe buông xuống vai cô. Richie biết duy nhất một cô gái với mái tóc đặc biệt như vậy: không ai khác ngoài Beverly Marsh.
Richie rất thích Bev. À, cậu thích cô ấy nhưng không phải theo nghĩa đó. Cậu ngưỡng mộ dung mạo của cô (và biết không chỉ mình cậu như thế…những cô nàng như Sally Mueller và Greta Bowie ghét cay ghét đắng Beverly, dù họ còn quá non nớt nên chưa lý giải nổi tại sao thứ gì mình cũng dễ dàng có trong tay… nhưng vẫn tị nạnh nhan sắc với một con bé sống trong khu chung cư xập xệ ở đường Chính Phố Dưới), nhưng nhìn chung, cậu thích cô vì cô mạnh mẽ và rất có khiếu hài hước. Chưa kể, thỉnh thoảng cô còn hút thuốc. Tóm lại, cậu thích cô bởi cô là một đứa chơi được. Dẫu vậy, đôi lần, cậu vẫn bâng quơ nghĩ không biết cô mang quần chíp màu gì dưới mấy chiếc váy khá sờn kia, mà đó không phải điều ta tò mò về những người bạn của mình, đúng chứ?
Nói gì thì nói, Richie phải công nhận vẻ ngoài của Bev rất ưa nhìn.
Tiến lại gần băng ghế chỗ cô bạn đang ngồi ăn kem, Richie cột lại thắt lưng của chiếc áo khoác vô hình mình đang mặc, kéo chiếc mũ phớt cũng vô hình trên đầu xuống và giả vờ mình là Humphrey Bogart. Và khi nhái đúng Giọng, cậu trở thành vị tài tử ấy - chí ít là cậu tự nhận thấy thế. Còn trong mắt người khác, cậu vẫn là thằng nhóc Richie Tozier, mỗi tội hơi ấm đầu.
“Xin chào, bóng hồng” cậu nói, lả lướt bước đến băng ghế nơi Bev đang ngồi và đưa mắt mơ màng nhìn xe cộ. “Nàng ngồi đợi xe buýt làm gì cho phí hoài. Bọn phát xít đã chặn đường lui của ta. Chuyến bay cuối cùng sẽ cất cánh lúc nửa đêm. Nàng hãy đáp chuyến ấy. Anh ta cần nàng, hỡi bóng hồng. Ta cũng vậy... nhưng ta rồi sẽ đâu vào đấy.”
Richie đang nhái lại lời thoại của nhân vật Rick do tài tử Humphrey Bogart thủ vai trong bộ phim Casablanca (1942). Trong phân đoạn này, nhân vật Rick đang thúc giục nữ chính Ilsa lên chiếc máy bay đến Lisbon cùng Laszlo.
“Xin chào, Richie,” Bev cất tiếng, và khi cô quay sang, cậu trông thấy vết bầm tím đen trên má phải, tím như cánh con quạ phủ bóng lên đó. Khoảnh khắc ấy, cậu bàng hoàng trước dung mạo xinh đẹp của cô… phải đến lúc ấy cậu mới nhận ra nhan sắc của cô tuyệt trần đến nhường nào. Trước giờ, cậu chưa từng nghĩ không phải chỉ trên phim ảnh mà ngoài đời vẫn có những cô gái đẹp, hoặc cậu cũng quen một người đẹp đến thế. Có lẽ chính vết bầm đã cho cậu trông thấy tiềm ẩn dưới kia là vẻ đẹp của cô – một thứ vốn tương phản, khiếm khuyết ban đầu lôi kéo sự chú ý của ta lại làm bật lên tất cả: đôi mắt xanh xám, bờ môi đỏ mọng, làm da màu kem không chút tì vết. Điểm xuyết trên mũi là vài đốm tàn nhang li ti.
“Cậu có thấy thứ gì đó non và xanh không?” cô hỏi, thô bạo hất đầu.
“Có nàng đấy, bóng hồng ơi,” Richie đáp. “Nàng non và xanh như miếng phô mai limberger vậy. Nhưng khi chúng ta đưa nàng ra khỏi Casablanca, nàng sẽ được chữa trị trong bệnh viện sang chảnh nhất có thể. Ta sẽ khiến nàng trắng trở lại, ta thề với danh dự là thế.”
“Cậu bớt dở người đi, Richie. Nghe chẳng giống Humphrey Bogart chút nào.” Ngoài miệng thì nói vậy, nhưng cô khẽ mỉm cười.
Richie ngồi xuống cạnh Bev. “Cậu đi xem phim không?”
“Tớ không có xu nào hết,” cô đáp. “Cho tớ mượn yo-yo của cậu được không?”
Cậu đưa cho cô. “Nhưng tí nữa đưa lại tớ nhé,” cậu nói. “Tớ muốn làm nó quay vòng vòng ở cuối dây lúc thả xuống mà không được. Rõ là chán mớ đời.”
Bev móc ngón tay vào vòng dây, Richie bèn đẩy kính lên sát mũi để quan sát hành động của cô rõ hơn. Cô lật ngửa tay, chiếc yo-yo Duncan nằm gọn trong lòng bàn tay khum khum. Đoạn cô đẩy yo-yo lăn theo ngón trỏ của mình. Nó rơi xuống, nằm yên ở cuối dây. Cô nhúc nhích ngón tay theo động tác ngoắc người khác, chiếc yo-yo bèn bật dậy và leo ngược lại lòng bàn tay cô.
“Ôi thiên thần thổ địa ơi nhìn kìa ” Richie cảm thán.
“Trò trẻ con thôi mà,” Bev nói. “Nhìn đây này.” cô bung chiếc yo-yo xuống dưới. Sau khi để cho yo-yo xoay vòng vòng dưới cuối dây, cô làm nó chuyển động như thể đang dắt chó đi dạo, chán chê, cô lại giật nó ngược trở lại tay.
“Ôi giời, thôi đi,” Richie lầm bầm. “Tớ ghét khoe mẽ lắm.”
“Thế này thì sao?” Bev hỏi và mỉm cười đầy đáng yêu. Cô vung yo-yo từ trước ra sau, khiến chiếc yo-yo Duncan bằng gỗ màu đỏ như trò chơi bóng bật bo-lo mà Richie từng có. Cô còn làm thêm hai lần tuyệt chiêu Vòng quanh Thế giới (suýt chút nữa thì trúng một cụ bà đi ngang qua và bị bà ném cho ánh mắt hình viên đạn). Yo-yo an vị trong tay cô, sợi dây quấn gọn quanh lõi. Sau khi đưa nó lại cho Richie, Bev ngồi xuống băng ghế. Richie ngồi cạnh cô, mắt chữ O mồm chữ A đầy thán phục. Bev nhìn cậu, khúc khích cười.
“Ngậm miệng lại đi kẻo ngáp phải ruồi bây giờ.”
Richie ngậm miệng ngay lập tức.
“Với cả phần cuối ban nãy là hay không bằng hên đấy. Lần đầu tiên trong đời tớ làm được hai lượt Vòng quanh Thế giới mà yo-yo không bị xìu đi.”
Lúc ấy, đám trẻ đang đi ngang qua họ để đến buổi chiếu phim. Peter Gordon túm tụm cùng Marcia Fadden. Có vẻ cả hai đứa đi cùng nhau, nhưng Richie đoán đơn giản là vì nhà chúng nó cạnh nhau trên Tây Broadway và cả hai chỉ giỏi đè đầu cưỡi cổ người khác nên mới kéo bè kéo cánh. Hiện tại, tuy chỉ mới mười hai tuổi mà Peter Gordon đã lên cả dề mụn dày. Thỉnh thoảng, hắn ta có đi chung với hội của Bowers, Criss và Hugging, nhưng hắn không có gan phách lối một mình.
Liếc thấy Richie và Bev ngồi cùng nhau trên băng ghế, hắn í ới hát, “Richie và Beverly, đội rế lên đầu! Đi qua đầu cầu! Đánh rơi nải chuối! Beverly ngồi khóc…”
”… Richie ngồi cười!” Marcia để lời và phá lên cười hăng hắc.
“Biến đi, con điên,” Bev nói và chữa ngón tay giữa lên với hai người bọn họ. Marcia quay mặt đi, chau mày, tựa như không tin nổi trên đời lại có kẻ hư thân mất nết đến thế. Gordon vòng tay ôm cô nàng rồi quay đầu ra sau nói với Richie, “Gặp mày sau, đồ bốn mắt.”
“Đi mà gặp quần sịp của u mày ấy,” Richie nhanh nhảu (và hơi đoảng) bật lại. Beverly phá lên cười nắc nẻ. Cô dựa vào vai Richie trong một thoáng, đủ lâu để Richie cảm nhận được cái đụng chạm ấy, cái cảm giác nhẹ tựa lông hồng của cô, thật không khó chịu chút nào. Đoạn cô ngồi ngay lại.
“Đúng là hai đứa vô duyên,” cô nói.
“Ừ, tớ cá Marcia Fadden tè ra nước hoa hồng.” Richie hùa theo, Beverly lại được dịp cười vỡ bụng.
“Chanel số 5,” cô nói, giọng nghèn nghẹt vì tay đang mải che miệng.
“Chuẩn,” Richie đáp, dù chẳng hay biết Chanel số 5 là gì. “Bev này?”
“Cậu chỉ tớ cách làm yo-yo quay ở cuối dây được không?”
“Hên xui. Tớ chưa bao giờ chỉ ai hết.”
“Chứ sao cậu biết làm? Ai chỉ cậu vậy?”
Cô khó chịu nhìn cậu. “Chẳng ai chỉ hết. Tớ tự biết làm thôi. Như xoay gậy nghệ thuật vậy đó. Chắc tớ có khiếu…”
“Diễu võ dương oai quá đi,” Richie nói và đảo mắt.
“Ừ, tớ cũng tự thấy thế,” cô nàng đáp. “Nhưng tớ không đến lớp học hay gì hết.”
“Câu biết xoay gậy nghệ thuật thật sao?”
“Thật mà.”
“Chắc lên cấp hai cậu sẽ thành đội trưởng đội cổ vũ quá.”
Cô mỉm cười, nụ cười mà Richie chưa từng nhìn thấy. Nụ cười ấy vừa sắc sảo vừa đa đoan lại vừa chất chứa. Cậu thoáng rụt người trước sức mạnh lạ lùng ấy, giống như lúc cậu rụt người trước bức ảnh chụp trung tâm thị trấn trong cuốn album của George khi nó bắt đầu chuyển động.
“Đó là dành cho những đứa con gái như Marcia Fadden,” cô nói. “Cậu ta, Sally Mueiler và Greta Bowie. Đám con gái tè ra nước hoa hồng. Bố bọn họ góp tiền mua dụng cụ thể thao và đồng phục nên bọn họ được tham gia ngay. Còn tớ có nằm mơ cũng chẳng được vào đội cổ vũ đâu.”
“Trời, Bev, sao cậu nhìn đời u ám thế…”
“Thật đấy, sự thật là thế mà.” cô nhún vai. “Mà kệ đi. Ai thèm nhào lộn và để lộ quần chíp ra cho cả triệu người xem kia chứ? Nhìn này, Richie. Quan sát kỹ nhé.”
Trong mười phút tiếp đó, cô chỉ cho Richie cách thả yo-yo để nó quay vòng vòng ở cuối dây. Gần mười phút trôi qua cũng là lúc Richie nắm được sơ lược kỹ thuật, dù cậu chỉ có thể làm cho yo-yo bật lên được nửa đoạn dây sau khi quay.
“Cậu chưa giật ngón tay đủ mạnh, thế thôi,” cô nhận xét.
Richie nhìn đồng hồ trên Quỹ Merrill phía bên kia đường và nhảy dựng lên, đoạn nhanh lẹ nhét yo-yo vào túi sau. “Chết rồi, tớ phải đi đã, Bev. Tớ có hẹn với Haystack. Khéo cậu ấy lại tưởng tớ đổi ý thì xong chuyện.”
“Haystack là ai?”
“À, Ben Hanscom đấy. Nhưng tớ gọi cậu ấy là Haystack. Haystack trong Haystack Calhoun, vận động viên đô vật đó.”
Bev chau mày, “Cậu quá đáng thế. Tớ quý Ben lắm.”
“Đừng đánh con, thưa bà!” Richie ré lên bằng giọng Nhóc Da đen, mắt đảo liên tục và tay vung vẩy. “Đừng đánh con, con sẽ ngoan, thưa bà, con sẽ…”
“Richie,” Bev nghiêm giọng.
Richie thôi đùa giỡn. “Tớ cũng quý cậu ấy mà,” cậu kể. “Vài ngày trước, bọn tớ cùng xây đập ở Vùng Đất Cằn và…”
“Các cậu đến đó hả? Cậu và Ben la cà ở đó sao?”
“Ừ. Bọn tớ đi cả nhóm. Khu đó vui lắm.” Richie lại liếc nhìn đồng hồ. “Tớ thật sự phải xéo đây. Chắc Ben đang đợi rồi.”
“Ừ.”
Cậu khựng lại, ngẫm nghĩ rồi lên tiếng, “Nếu không có việc gì, hay cậu đi chung cho vui.”
“Tớ bảo cậu rồi. Tớ không có tiền.”
“Thì để tớ trả cho. Tớ có mấy đồng đây.”
Cô ném que kem ốc quế ăn dở vào thùng rác gần đó. Đôi mắt cô long lanh ánh xám bạc, ngước lên nhìn cậu. Chúng lấp lánh hào hứng. Cô ra vẻ vén tóc và hỏi, “Ôi chà, có phải có người mời tớ hẹn hò không nhỉ?”
Trong thoáng chốc, Richie dao động, chẳng giống cậu bình thường chút nào. Thậm chí, cậu còn cảm nhận được khuôn mặt mình đang chuyển dần sang màu mận chín. Cậu cất lời đề nghị ấy một cách hoàn toàn bình thường, như cách cậu rủ Ben đi chơi bạn nãy… trừ việc hình như cậu nói mình sẽ cho Ben mượn tiền thì phải? Đúng vậy. Nhưng cậu chưa đả động gì đến việc vay mượn với Beverly.
Richie chợt cảm thấy kỳ cục. Cậu cúi mặt, tránh ánh nhìn kỳ thú của cô, và phát hiện váy cô hơi kéo lên một chút khi cô rướn người tới trước để thả kem ốc quế vào thùng rác, nên cậu đã trông thấy đầu gối của cô. Cậu nhướn mắt lên nhưng vô ích, giờ thì đập vào mắt cậu lại là vòng một đang nhú của cô.
Mỗi khi bối rối, Richie thường giở trò lố lăng để đánh lạc hướng, và lần này cũng không phải ngoại lệ.
“Phải! Hẹn hò đó!” Cậu hét lên, quỳ mọc trước cô và chắp tay. “Xin nàng hãy đi cùng ta! Nếu nàng từ chối, ta nguyện hy sinh tấm thân này! Nàng thấy sao?”
“Trời ạ, Richie, cậu hâm quá,” Bev nói và lại khúc khích cười… nhưng ô kìa, chẳng phải gò má cô nàng cũng ửng hồng đó sao? Chút ửng hồng ấy khiến cô xinh đẹp hơn bao giờ hết. “Đứng lên đi kẻo người ta gô cổ cậu bây giờ.”
Cậu đứng dậy và ngồi xuống cạnh cô, cảm thấy bản thân đã cân bằng trở lại. Cậu tin rằng khi bị bỏ bùa mê, giả khùng giả điên lúc nào cũng có hiệu quả. “Cậu muốn đi không?”
“Có, đi chứ,” cô đáp. “Cảm ơn cậu nhiều nhé. Nghĩ mà xem! Buổi hẹn hò đầu tiên đấy. Tối nay tớ phải viết vào nhật ký mới được.” Cô vỗ tay trước khuôn ngực đang nhú của mình, chớp mắt lia lịa rồi cười ha ha.
“Thôi, cho tớ hai chữ bình yên,” Richie nói.
Cô thở dài. “Cậu không có tí lãng mạn nào hết vậy.”
“Không có tí xíu nào luôn.”
Nhưng đâu đó, cậu cảm thấy lòng mình như reo vui. Thế giới xung quanh chợt thật rõ nét, thật gần gũi. Thỉnh thoảng, cậu bắt gặp mình lén lút liếc nhìn cô. Cô đang ngắm nhìn bên trong cửa sổ các cửa hàng - nào những bộ váy và váy ngủ của Cornell-Hopley, nào khăn và tô chén ở Nông trang Giảm giá, cậu lén ngắm mái tóc và quai hàm của cô. Cậu nhìn cánh tay cô lộ ra từ chiếc áo sát nách. Cậu nhìn viền dây áo. Tất cả khiến cậu cảm thấy thật thích thú. Cậu không biết giải thích thế nào, nhưng ngay khoảnh khắc ấy, những gì xảy ra trong phòng ngủ của George Denbrough trở nên thật xa xôi. Đã đến lúc đi, đến lúc gặp Ben, nhưng cậu thầm ước ao giá như mình có thể ngồi đây thêm một lát trong lúc đôi mắt cô thơ thẩn ngắm nhìn phố xá, vì ngắm cô và được ở bên cô thật vui làm sao.
9
Đám trẻ con lần lượt trả tiền ở cửa soát vé của rạp chiếu Aladdin rồi bước vào sảnh đợi. Nhìn qua dãy cửa kính, Richie có thể trông thấy một đám đông đang bâu xung quanh quầy kẹo. Máy làm bắp rang bơ đang chạy hết công suất, liên tục nhả ra món ăn vặt ấy, nắp được gắn bản lề rung lên bần bật. Cậu chẳng thấy Ben đâu. Câu hỏi Beverly có trông thấy bóng dáng bạn mình không nhưng cô cũng lắc đầu.
“Hay cậu ấy vào trong rồi?”
“Cậu ấy bảo cậu ấy không có tiền mà. Con gái Frankenstein đằng kia còn lâu mới cho cậu ấy vào mà không có vé.” Richie chỉ ngón cái về phía bà Cole, vốn có thâm niên soát vé ở Aladdin từ cái thời chỉ có phim câm. Mái tóc nhuộm màu đỏ chói của bà mỏng đến độ ta có thể trông thấy da đầu lộ ra. Đôi môi của bà to tướng, tô màu đỏ mận. Hai má đánh cả mảng phấn hồng. Hàng lông mày kẻ bằng chì đen, Bà là một người theo đảng Dân chủ từ đầu đến chân. Trẻ con nào bà cũng ghét.
“Trời ơi, tớ không muốn đi vào mà không có cậu ấy, nhưng chương trình gần chiếu mất rồi.” Richie cằn nhằn. “Cậu ấy đâu rồi nhỉ?”
“Hay cậu mua sẵn vé cho cậu ấy rồi gửi ở phòng vé,” Bev đề nghị. “Khi cậu ấy đến…”
Nhưng ngay lúc ấy, Ben xuất hiện ở góc đường Trung Tâm và đường Macklin. Cậu thở hồng hộc, bụng lắc lên lắc xuống dưới chiếc áo nỉ. Trông thấy Richie, cậu giơ một tay lên vẫy. Và rồi khi thấy Bev, tay cậu khựng lại giữa không trung. Trong thoáng chốc, mắt cậu mở to. Vẫy tay xong, cậu chậm rãi tiến lại chỗ hai người bạn đang đứng, bên dưới mái vòm rạp chiếu Aladdin.
“Chào cậu, Richie,” cậu nói rồi liếc nhìn Bev thật nhanh. Như thể cậu sợ nhìn lâu quá, má mình sẽ chuyển sang màu đỏ ửng. “Chào cậu, Bev.”
“Chào Ben,” cô nói, và cả hai lặng thinh bối rối – không hẳn là ngượng ngập, mà theo Richie cảm thấy, sự im lặng ấy thật ý nghĩa. Cậu còn thoáng cảm thấy ganh tị, bởi giữa hai người bọn họ hẳn đã có gì thứ gì đó xảy ra, và bất kể nó là gì, cậu lại không được dự phần.
“Chao xìn, Haystack!” Cậu lên tiếng. “Tưởng cậu cho tớ leo cây chứ. Mấy bộ phim này sẽ khiến cậu sợ mà sút mất năm cân không chừng đấy. Úi chà, úi chà, coi chừng sợ bạc cả tóc nhé. Khi bước chân ra khỏi rạp, cậu sẽ phải kiếm người đẩy cậu đi vì cậu sẽ run bần bật cho mà xem.”
Richie dợm bước đến phòng vé thì Ben chạm vào tay cậu. Ben toan lên tiếng, nhưng khi liếc nhìn thấy Bev đang nở nụ cười với mình, cậu lại lắp bắp nói lại từ đầu.”Tớ đến từ nãy,” cậu nói, “nhưng tớ phải trốn lên đường và vòng qua khúc quanh khi đám kia xuất hiện.”
“Đám nào kia?” Richie hỏi, dù trong lòng đã lờ mờ biết câu trả lời.
“Henry Bowers. Victor Criss. Huggins Ợ Hơi. Và vài kẻ khác nữa.”
Richie huýt sáo. “Chắc bọn chúng vào trong rạp chiếu phim rồi. Tớ không thấy chúng đứng mua kẹo.”
“Ừ. Tớ đoán là vậy.”
“Nếu tớ là bọn nó, tớ chẳng bỏ tiền đi mua vé xem phim kinh dị làm gì,” Richie nói. “Tớ chỉ cần ở nhà và nhìn vào gương là đủ. Thế là tiết kiệm được khối tiền.”
Bev cười khanh khách trước câu nói đùa của Richie, còn Ben chỉ khẽ mỉm chi. Tuần trước, Henry Bowers chỉ muốn đập cho cậu một trận, nhưng càng về sau, hắn càng lộ rõ ý muốn kết liễu cậu. Ben dám chắc về điều đó.
“Hay thế này,” Richie lên tiếng. “Chúng mình lên ban công ngồi. Chắc bọn chúng đang khệnh khạng gác chân lên ngồi ở dãy hai, dãy ba rồi.”
“Cậu chắc chứ?” Ben hỏi. Cậu không nghĩ Richie hiểu đám côn đồ ấy khủng khiếp đến mức nào… và tất nhiên, trong số đó, Henry là ác nghiệt nhất.
Nhưng thật ra, ba tháng trước, Richie cũng đã thoát khỏi cảnh bị Henry và bè lũ tay chân của hắn tẩn cho một trận thừa sống thiếu chết trong gang tấc (cậu trốn bọn chúng thành công trong gian hàng đồ chơi ở trung tâm thương mại Freese’s) nên cậu hiểu về Henry và đám côn đồ kia hơn Ben tưởng.
“Nếu không chắc chắn thì còn lâu tớ mới vào,” cậu khẳng định. “Đúng là tớ muốn xem mấy bộ phim kia, Haystack ạ, nhưng tớ không muốn phơi thây vì thế đâu.”
“Hơn nữa, nếu bọn chúng dám làm gì tụi mình, chỉ cần báo với ông Foxy để ông ấy tống cổ chúng ra,” Bev nói. Foxy ở đây là ông Foxworth, một người đàn ông gầy gò, vàng vọt, lúc nào nhìn cũng sầu đời, quản lý rạp Aladdin. Lúc này, ông đang bán kẹo và bắp rang bơ, miệng véo von điệp khúc “Đợi tới lượt nào, đợi tới lượt nào, đợi tới lượt nào”. Trong chiếc áo khoác xơ xác và áo thun vàng ố, trông ông chẳng khác nào một người hộ tang đã chịu nhiều gian truân trong cuộc sống. Bev nghi ngại hết nhìn Bev rồi Foxy và Richie.
“Cậu không thể để đám chúng nó điều khiển cuộc đời cậu được,” Richie nhẹ nhàng nói. “Cậu không hiểu sao?”
“Tớ hiểu,” Ben đáp và thở dài. Thật ra, cậu chẳng hiểu chút nào… nhưng việc Beverly hiện diện ở đây khiến phương trình lệch lạc hết cả. Nếu cô không có mặt, cậu sẽ thử thuyết phục Richie đi xem phim vào một ngày khác. Và nếu Richie khăng khăng, có khi Ben sẽ rút lui. Nhưng Bev đang có mặt ở đây. Cậu không muốn mình trở thành một tên có lá gan thỏ đế trong mắt cô. Chưa kể, việc được ở cạnh cô, trên ban công, trong bóng tối (dù khả năng cao là Richie sẽ ngồi giữa hai người bọn họ) có sức hấp dẫn không tưởng.
“Vậy mình đợi đến khi chương trình bắt đầu chiếu rồi mới vào,” Richie đề nghị. Cậu ngoác miệng cười và đấm tay Ben. “Chán cậu, Haystack, cậu tính sống muôn đời hả?”
Lông mày Ben nhíu lại, và rồi cậu phì cười. Richie cũng cười theo. Nhìn thấy cảnh ấy, Beverly cũng không khỏi nhoẻn miệng.
Richie tiến đến phòng vé. Bà Cole Môi Lá Gan nhìn cậu nhăn nhó.
“Xin chào, phu nhân thân mến,” Richie cố hết sức giả Giọng Baron Chết toi. “Tôi đang khao khát có được ba tấm vé để vào xem mấy bộ phim Mỹ thân thương của bà.”
“Thôi làm trò và cần gì thì nói mau, nhóc con!” Bà Môi Lá Gan quát lên qua lỗ kính tròn, hàng lông mày tô đậm giật lên giật xuống khiến Richie khó chịu đến độ cậu chỉ đẩy tờ đô-la nhàu nhĩ qua ô cửa và lầm bầm.
“Cho cháu ba vé ạ.”
Ba tấm vé được đẩy qua khung cửa. Richie cầm lấy. Bà Môi Lá Gan thối cậu hai mươi lăm xu. “Cấm quậy, cấm ném hộp bắp rang, cấm la ó, cấm chạy trong sảnh và hành lang.”
“Vâng ạ,” Richie đáp rồi quay trở lại chỗ Ben và Bev đang đứng. “Khi nào thấy một bà già như thế thích con nít, tớ lại thấy ấm lòng.”
Cả ba đứng ở bên ngoài thêm một lát, đợi đến khi chương trình bắt đầu. Ngồi trong lồng kính, Môi Lá Gan lườm lườm nhìn ba đứa với ánh mắt đa nghi. Richie khoe với Bev câu chuyện xây đập ở Vùng Đất Cằn, nhí nhố thuật lại lời ông Nell bằng giọng Tay cớm Ireland mà cậu mới sáng tạo. Ban đầu, Beverly chỉ khúc khích cười, hồi sau, cô cười lăn cười bò. Ngay cả Ben cũng nhoẻn miệng cười, dù đôi mắt cậu vẫn đảo như rang lạc, hết nhìn cửa kính của rạp Aladdin lại chuyển sang nhìn mặt Beverly.
10
Ngồi trên ban công khá ổn. Trong lượt chiếu đầu tiên của bộ phim Tôi là Frankenstein thiếu niên , Richie định vị được Henry Bowers và bè lũ côn đồ. Bọn chúng ngồi ở dãy thứ hai, đúng như cậu đoán. Cả nhóm chúng có năm hay sáu người, học khối lớp Năm, lớp Sáu, lớp Bảy, tất cả đều gác đôi bốt hầm hố của mình lên hàng ghế phía trước. Ông Foxy xuống tận nơi, bắt bọn chúng bỏ chân xuống sàn. Chúng làm theo, nhưng ông ấy vừa đi khỏi thì lại ngựa quen đường cũ. Chừng năm đến mười phút sau, ông Foxy lại quay lại và màn diễn như vậy lại bắt đầu. Ông Foxy không dám đuổi thẳng cổ chúng ra ngoài, và bọn chúng thừa biết điều đó.
Bộ phim rất hay. Frankenstein Thiếu niên trông gớm kinh khủng. Nhưng Người sói Thiếu niên lại có phần đáng sợ hơn… có lẽ phần vì trông hắn ta hết sức u sầu. Những gì xảy ra không phải lỗi của hắn. Trong phim, tay tiến sĩ thôi miên đã khiến hắn ra nông nỗi này, song tay tiến sĩ thành công là bởi cậu thiếu niên bị biến thành Người sói kìm nén quá nhiều giận dữ và cảm xúc xấu. Henry Bowers cũng là một kẻ đầy cảm xúc xấu, nhưng hẳn nhiên, hắn chẳng buồn giấu giếm chúng.
Beverly ngồi giữa hai cậu bạn, nhón bắp rang bơ trong hộp, hét ầm lên, lấy tay che mắt, thỉnh thoảng lại phá lên cười. Khi nhân vật Người sói lén lút bám theo cô gái tập thể dục trong phòng thể thao sau giờ học, cô áp khuôn mặt của mình vào tay Ben, và Richie có thể nghe thấy tiếng Ben há hốc vì ngạc nhiên dù hơn hai trăm đứa trẻ bên dưới đang la hét ỏm tỏi.
Cuối cùng, Người sói bị giết. Trong phân cảnh cuối, một viên cảnh sát nghiêm trang nói với đồng nghiệp của mình rằng đây là bài học răn dạy chúng ta không nên nhúng tay vào những thứ thuộc quyền hành của Chúa. Rèm khép xuống và đèn bật lên. Khán giả vỗ tay. Richie cảm thấy hết sức hài lòng, thậm chí có chút nhức đầu. Chắc cậu phải đi khám mắt sớm và thay kính. Cậu âu sầu nghĩ, khéo có khi lên tới cấp ba, cậu sẽ đeo cặp đít chai dày như chai nước ngọt mất thôi.
Ben kéo tay áo cậu. “Bọn chúng thấy mình rồi, Richie,” Ben khô khốc cất giọng.
“Hả?”
“Bowers và Criss. Lúc ra về, bọn chúng ngước lên đây. Chúng thấy tớ rồi!”
“Rồi, rồi,” Richie nói. “Bình tĩnh đã, Haystack. Bình tĩnh đã. Bọn mình sẽ ra theo lối cửa phụ. Cậu không có gì phải lo lắng hết.”
Cả ba đi xuống cầu thang, Richie đi đầu, Beverly ở giữa, Ben sau cùng, cứ hai bước lại lấm lét quay đầu kiểm tra một lần.
“Đám đó gây khó dễ cho cậu đến mức đó à, Ben?” Beverly hỏi.
“Ừ, tớ thấy thế,” Ben đáp. “Tớ gây với Henry Bowers vào ngày cuối của học kỳ.”
“Hắn có đập cậu không?”
“Chưa được như mức hắn muốn," Ben đáp. “Tớ đoán đó là lý do hắn vẫn ghim tớ.”
“Tên Hank Xe Tăng ấy cũng trầy trật vì cậu mà,” Richie lầm bầm. “Tớ nghe nói vậy. Chắc hắn ta không vui về vụ đó đâu.” Cậu đẩy cửa thoát hiểm, đưa cả ba người bọn họ bước ra con hẻm nằm giữa rạp Aladdin và nhà hàng Nan. Thấy động, con mèo đang lục thùng rác rít lên rồi vụt ngang qua họ dọc theo con hẻm cụt chặn bởi hàng rào gỗ. Con mèo trèo qua. Tiếng nắp thùng rác vang lên lanh canh. Bev nhảy dựng lên, chộp lấy tay Richie, đoạn cười mà giọng đầy lo âu. “Chắc tớ vẫn còn sợ sau khi xem phim,” cô phân bua.
“Cậu không…” Richie toan nói.
“Xin chào, thằng chết băm chết vằm,” Henry Bowers lên tiếng từ phía sau.
Giật mình, cả ba bọn họ xoay người lại. Henry, Victor và Ợ Hơi đang đứng ở đầu hẻm. Có thêm hai kẻ đứng hậu thuẫn ở phía sau.
“Thôi xong, biết ngay là thế nào cũng thế này mà,” Ben rầu rĩ.
Richie vội vàng quay ngược trở lại rạp chiếu bóng Aladdin, nhưng cửa thoát hiểm đã đóng sập sau lưng cậu và không có cách nào mở cửa từ bên ngoài.
“Nói lời vĩnh biệt đi, thằng chết tiệt,” Henry nói rồi chợt nhảy bổ tới Ben.
Lúc đó và cả về sau, đối với Richie, những gì diễn ra tiếp theo gay cấn chẳng khác nào tình tiết trong phim - đơn giản là ngoài đời thực, khó lòng xảy ra những chuyện như thế. Ngoài đời thực, những đứa nhóc bị đánh cho tơi bời hoa lá, nhặt răng rụng rồi lết xác về nhà.
Nhưng lần này thì khác.
Beverly bước tới trước rồi dịch sang một bên, như thể định mặt đối mặt với Henry, khéo là để tay bắt mặt mừng với hắn. Richie có thể nghe thấy tiếng đế giày của hắn nện xuống đất. Victor và Ợ Hơi chạy theo sau, hai kẻ còn lại đứng ở đầu hẻm canh chừng.
“Để cậu ấy yên!” Beverly hét lên. “Có giỏi thì chọn kẻ to bằng mình mà đánh!”
“Thằng oắt này to có kém gì xe tải Mack đâu, con khốn,” Henry cục súc gầm lên. “Giờ thì mày tránh ra cho tao…”
Richie giơ chân ra. Cậu làm mà không kịp nghĩ ngợi. Chân cậu tự tiện đưa lên giống như thỉnh thoảng những câu đùa khiến cậu tổn thọ lại không mời mà phát ra từ miệng cậu. Henry vấp phải chân cậu và ngã nhào tới trước. Mặt hẻm lát gạch trơn trượt do rác rến tràn ra từ thùng rác đầy ụ của nhà hàng. Henry trượt như xe mất phanh.
Hắn lồm cồm đứng dậy, áo lấm tấm bột cà phê, đất bùn và vụn xà lách. “Chúng mày chết với tao!” Hắn hét lớn.
Từ nãy đến giờ, Ben sợ hãi tột độ. Nhưng lúc này, chợt có thứ gì đánh tách trong đầu cậu. Cậu thét lên tiếng gào rú và chộp lấy một cái thùng rác. Trong khoảnh khắc, quả thật trông cậu rất giống Haystack Calhoun khi nhấc thùng rác lên, khiến rác vung vãi khắp nơi. Khuôn mặt cậu trắng nhợt và đầy thịnh nộ. Cậu ném thùng rác vào gáy tên côn đồ khiến hắn nằm bất tỉnh nhân sự.
“Biến khỏi đây thôi!” Richie hét lên.
Cả bọn lao đến đầu hẻm. Victor Criss nhảy ra trước mặt bọn họ. Ben rống lên, cúi đầu húc vào bụng Victor. “Hừ!” Victor rên lên và ngồi phịch xuống đất.
Ợ Hơi chộp lấy đuôi gà của Beverly rồi quất cô vào bức tường gạch của rạp Aladdin. Beverly bật ngược trở lại, vừa chạy dọc theo con hẻm, vừa xoa tay. Richie chạy đằng sau, giữa đường, cậu chộp lấy nắp thùng rác. Huggins Ợ Hơi vung nắm đấm to cỡ tảng thịt nguội Daisy vào cậu. Richie liền chìa nắp sắt mạ kẽm ra khiến nắm tay Ợ Hơi đập boong một tiếng rõ to, to đến độ nghe rất mượt. Richie cảm nhận được chấn động chạy dọc theo tay cậu lên vai. Ợ Hơi hét váng, nhảy lên nhảy xuống như con choi choi, nắm lấy bàn tay đang sưng phồng của hắn.
“Xa xa đằng kia là lều của phụ thân ta,” Richie dõng dạc nói, bắt chước khá giống Giọng Tony Curtis rồi bay biến chạy theo Ben và Beverly.
Một trong hai đứa côn đồ đứng ở đầu hẻm bắt được Beverly. Ben lao vào quần thảo với hắn. Kẻ còn lại bắt đầu thụi túi bụi vào gáy Ben. Richie vung chân múc thẳng vào mông kẻ đang thụi gáy Ben. Hắn ré lên vì đau. Richie chộp lấy tay Beverly, tay kia nắm lấy tay Ben.
“Chạy mau!” Cậu hét lên.
Kẻ Ben quần thảo nãy giờ buông Beverly ra và lao vào đấm Richie. Tai cậu đau đến nổ đom đóm trong chốc lát, rồi nó tê dại và ấm nóng hơn. Một tiếng rít bắt đầu váng lên trong đầu cậu. Âm thanh giống như tiếng ta phải nghe ra khi cô y tá trong trường áp tai nghe để kiểm tra thính lực.
Cả ba chạy thẳng xuống đường Trung Tâm. Mọi người trên phố quay lại nhìn theo. Phần bụng to như trống của Ben lắc lư lên xuống. Tóc đuôi gà của Beverly đung đưa. Richie buông tay Ben và dùng ngón cái tay trái giữ kính trên trán để kính không rơi mất. Đầu cậu vẫn ong ong, cậu dám chắc thể nào tai mình cũng sưng vù lên, nhưng cậu thấy sảng khoái vô cùng. Cậu phá lên cười vang. Beverly cười theo. Chốc sau, Ben cũng cười giòn tan.
Họ hộc tốc chạy đến đường Tòa Án và khuỵu xuống băng ghế phía trước đồn cảnh sát: lúc ấy, dường như cả Derry chỉ có mỗi địa điểm này là an toàn cho cả ba người bọn họ. Beverly vòng tay quanh cổ Ben và Richie, cô ôm hai cậu bạn thật chặt.
“Tuyệt quá đi mất!” Đôi mắt cô sáng lấp lánh. “Các cậu có thấy bọn chúng không? Các cậu có thấy không?”
“Tớ có thấy, thấy rất rõ,” Ben thở hồng hộc. “Và tớ mong không bao giờ phải gặp đám bọn chúng nữa.”
Câu nói ấy khiến cả đám phá lên cười lăn cười bò. Richie e ngại đám du côn do Henry cầm đầu sẽ vòng lên đường Tòa Án và tấn bọn họ một trận, bất chấp đây có phải đồn cảnh sát hay không. Nhưng cậu cũng không nhịn được cười. Beverly nói đúng. Màn vừa rồi quả tuyệt cú mèo.
“Đám Cùi Bắp có được một tràng hay ho quá!” Richie cao hứng hét lên. “Ha ha ha ha ha ha!” Cậu khum khum tay quanh miệng và giả Giọng Ben Bernie: “Hoan hô! Hoan Hô! Hoan hô! Các bạn nhỏ!”
Một cảnh sát ló đầu ra khỏi khung cửa sổ để ngỏ trên tầng hai và hét lên: “Đề nghị mấy đứa rời khỏi đây ngay! Ngay lập tức! Đi mau cho chú!”
Richie mở miệng toan nói gì đó hay ho – khéo có khi cậu sẽ vận dụng giọng Tay Cảnh sát Ireland mà mình mới sáng tạo – thì bị Ben đá vào chân. “Thôi ngay, Richie,” cậu nói, gần như không tin nổi mình vừa phát ngôn như thế.
“Phải đó, Richie,” Bev nói và hiền hậu nhìn cậu. “Bíp bíp.”
“Rồi rồi,” Richie nhượng bộ. “Thế giờ các cậu muốn làm gì? Muốn đi tìm Henry Bowers và đề nghị phân giải bằng cách chơi Monopoly à?”
“Cái miệng ăn mắm ăn muối,” Bev nói.
“Hả? Câu đó nghĩa là gì?”
“Bỏ qua đi,” Bev nói. “Con trai nhiều kẻ đúng là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.”
Ngập ngừng, mặt đỏ như gấc, Ben cất tiếng hỏi: “Kẻ ban nãy có làm tóc cậu đau không, Beverly?”
Cô dịu dàng mỉm cười với cậu, và khoảnh khắc ấy, cô bỗng thấy chắc như đinh đóng cột điều mà cô chỉ bán tín bán nghi trước đó – rằng Ben Hanscom chính là người gửi cho cô tấm bưu thiếp với bài thơ haiku ngắn đong đầy tình cảm. “Không, không đau lắm đâu.” cô đáp.
“Chúng mình đến Vùng Đất Cằn đi,” Richie đề nghị.
Thế là cả bọn đi đến đó… hay nói cách khác, trốn đến đó. Về sau, Richie nghĩ hành động ấy đã trở thành thói quen cho cả mùa hè. Vùng Đất Cằn trở thành nơi dành cho riêng họ. Giống với Ben vào ngày chạm trán với lũ côn đồ, Beverly chưa bao giờ bước chân vào khu vực này. Cả ba rồng rắn đi dọc theo con đường, với Beverly đi giữa Richie và Ben. Váy cô rung rinh thật đáng yêu, đưa mắt nhìn cô, Ben ý thức được những đợt sóng cảm xúc mạnh mẽ cuồn cuộn, chẳng thua kém gì những lần bụng cậu quặn đau. Cô đeo một chiếc lắc chân, lấp lánh phản chiếu ánh trời chiều.
Họ băng qua nhánh sông Kenduskeng nơi hôm trước dựng đập (Con sông chia nhánh ở thượng nguồn, cách đó hơn sáu mươi mét và nhập lại làm một ở khoảng cách một trăm tám mươi mét xuôi về phía thị trấn) bằng cách đi trên những tảng đá ở hạ lưu chỗ ngày trước xây đập, tìm được đường mòn, rốt cuộc cả bọn lần qua được nhánh sông nằm bên phía Đông, rộng hơn nhánh còn lại rất nhiều. Làn nước lóng lánh phản chiếu ánh chiều. Phía bên trái, Ben có thể trông thấy hai trụ bê tông bịt nắp phía trên. Phía dưới là những ống bê tông lớn nhô lên khỏi mặt nước. Nước bùn tràn từ miệng ống thành dòng rồi chảy vào sông Kenduskeag. Người ta đại tiện trong thị trấn và chất thải chảy đến đây, Ben nghĩ, nhớ lại cách ông Nell giải thích về hệ thống nước thải của Derry. Bất chợt, cậu cảm thấy cơn giận trào lên trong lòng nhưng lực bất tòng tâm. Ngày trước, hẳn cá từng bơi lội trong con sông này. Nhưng giờ thì có nằm mơ cũng chẳng bắt được cá hồi ở đây. Có khi xác suất câu được giấy vệ sinh dùng rồi còn cao hơn.
“Ở đây đẹp quá,” Bev thở dài.
“Ừ, không tệ,” Richie đồng tình. “Ruồi đi hết rồi, có gió nên muỗi cũng không lảng vảng.” Cậu nhìn cô với ánh mắt kỳ vọng. “Cậu có mang theo thuốc lá không?”
“Không,” cô nói. “Tớ có vài điếu nhưng hút hết hôm qua rồi.”
“Chán thế,” Richie ngao ngán.
Bỗng tiếng còi hơi vang lên, cả ba nhìn theo một con tàu chở hàng rầm rập chạy qua bờ sông nằm ở tít bên kia Vùng Đất Cằn, về phía sân ga. Chậc, nếu đây là tàu chở khách thì cả đám đã có thể chiêm ngưỡng khung cảnh nên thơ, Richie thầm nghĩ. Đầu tiên, tàu chạy ngang qua khu nhà dành cho dân nghèo của Mũi Đất Cũ, sau đó qua khu rừng tre phía bên kia sông Kenduskeag rồi cuối cùng, trước khi rời khỏi Vùng Đất Cằn, nó sẽ băng qua bãi đá dăm âm ỉ cháy vốn là bãi rác của thị trấn.
Trong chốc lát, cậu chợt nhớ lại câu chuyện mà Eddie kể về gã hủi nằm dưới căn nhà hoang trên đường Neibolt. Cậu gạt nó ra khỏi đầu rồi quay sang Ben.
“Thế phần cậu thích nhất là gì, Haystack?”
“Hả?” Ben quay sang nhìn cậu đầy tội lỗi. Hóa ra trong lúc Bev đưa mắt nhìn về phía sông Kenduskeag, trầm tư suy nghĩ, cậu đã say sưa ngắm nhìn cô… và quan sát vết bầm trên gò má cô.
“Về bộ phim ấy, ngốc ơi là ngốc. Cậu thích nhất phần nào?”
“Tớ thích đoạn Tiến sĩ Frankenstein ném xác xuống cho đám cá sấu dưới nhà,” Ben đáp. “Đó là phần tớ thích nhất.”
“Đoạn đó gớm quá trời,” Beverly rùng mình cảm thán. “Tớ chúa ghét những con vật như cá sấu, cá piranha và cá mập.”
“Vậy sao? Mà cá piranha là cá gì thế?” Richie hỏi, giọng đầy hào hứng.
“Là một loài cá nhỏ,” Beverly giải thích. “Chúng có những cái răng bé tí nhưng sắc vô cùng. Nếu lỡ sa chân xuống con sông có loài cá này, mình sẽ bị chúng rỉa tận xương đấy.”
“Trời!”
“Lần nọ, tớ xem một bộ phim, trong đó những người thổ dân muốn băng qua sông nhưng cầu bị gãy,” cô kể. “Họ bèn cột con bò xuống nước và đi qua sông lúc đám cá piranha rỉa con bò. Khi họ kéo nó lên, con bò chỉ còn mỗi bộ xương. Báo hại tớ gặp ác mộng suốt cả tuần liền.”
“Chà chà, ước gì tớ có vài con cá như vậy,” Richie vui vẻ nói. “Tớ sẽ thả chúng vào bồn tắm của Henry Bowers cho xem.”
Ben khúc khích cười. “Hắn mà tắm mới lạ.”
“Tớ không biết hắn có tắm hay không, nhưng tớ biết rõ mình phải cẩn thận với đám côn đồ ấy,” Beverly nói. Tay cô chạm vào vết bầm trên má. “Hai hôm trước, bố tớ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với tớ vì làm bể chồng đĩa. Một tuần một lần là quá đủ rồi.”
Một khoảng lặng trôi qua, suýt chút nữa, không khí đã trở nên nặng nề nhưng Richie cứu nguy bằng cách kể phần cậu thấy thích nhất là đoạn Người sói Thiếu niên bắt được nhà thôi miên độc ác. Suốt hơn một tiếng đồng tiếp theo, cả ba bàn về bộ phim và những phim kinh dị khác họ từng xem, cả những bộ Alfred Hitchcock hân hạnh giới thiệu! trên ti vi. Trông thấy hoa cúc mọc ven bờ sông, Bev hái lấy một bông. Cô lần lượt chìa nó xuống dưới cằm Richie và cằm của Ben để bói xem hai cậu bạn có thích bơ hay không. Cô kết luận cả hai đều thích. Khi cô để bông hoa dưới cằm họ, cả hai đều cảm nhận được tay cô khẽ chạm vào vai mình và mùi tóc cô thoang thoảng. Trong khoảnh khắc, khuôn mặt cô gần sát mặt Ben, nhưng chừng đó đã đủ để đêm về, cậu nằm mơ thấy đôi mắt cô trong phút giây thời gian tưởng chừng ngưng đọng ấy.
Một trò chơi của trẻ em, thường sử dụng hoa mao lương vàng (buttercup). Đưa hoa xuống dưới cằm, nếu màu hoa phản chiếu lên cằm thì có nghĩa người đó thích bơ.
Câu chuyện hạ nhiệt khi cả ba nghe thấy tiếng người tiến lại trên con đường. Họ hốt hoảng quay về phía tiếng động, và Richie chợt nhận ra phía sau lưng họ là con sông. Họ không có nơi nào để chạy.
Giọng nói càng lúc càng gần. Cả ba đứng dậy, trong vvô thức, Richie và Ben nhích lên trước một chút để chắn cho Beverly.
Bụi cây ở cuối đường mòn rung lên - và bỗng nhiên Bill Denbrough lộ diện. Có một người đi theo, và Richie biết sơ cậu này. Tên cậu ta là Bradley gì đó, và cậu này ngọng líu ngọng lô. Richie đoán chắc cậu ta lên Bangor cùng Bill để thực hiện âm ngữ trị liệu.
“Bill To Bự!” Cậu nói, chuyển sang giọng Toodles: “Chúng tôi rất mừng khi gặp ngài, thưa ngài Denbrough.”
Bill nhìn họ và nhoẻn miệng cười – và Richie bỗng dưng có một linh cảm kỳ lạ nhưng vô cùng chắc chắn khi Bill lần lượt nhìn cậu, Ben, Beverly rồi quay sang nhìn Bradley gì-đó. Rằng Beverly là một phần của họ. Đôi mắt Bill nói lên điều đó. Bradley gì-đó thì không. Cậu ta có thể vui chơi ở đây vào hôm nay, thậm chí cậu ta có thể trở lại Vùng Đất Cằn – dù không ai từ chối thẳng thừng rằng xin lỗi đằng ấy, Hội Cùi Bắp đã nhận đủ hội viên rồi, chúng tớ đã có một thành viên gặp khó khăn về ăn nói – nhưng cậu ta không phải người trong nhóm. Cậu ta không phải một phần của bọn họ .
Và rồi suy nghĩ ấy dẫn đến một nỗi sợ hãi bất chợt, đầy phi lý. Phút chốc, cậu có cảm giác như lúc ta bỗng nhận ra ta đã bơi quá xa, nước đã ngập quá đầu. Bỗng trực giác lóe lên trong đầu cậu: Chúng mình đang bị kéo vào một thứ gì đó. Chúng mình là những kẻ được chọn lựa ra. Không có gì là ngẫu nhiên cả. Chúng mình đã tề tựu đủ chưa?
Và rồi giác quan thứ sáu ấy lẫn vào mớ suy nghĩ vô nghĩa – như đống kính bể trên sàn đá. Hơn thế nữa, chuyện đó cũng chẳng thành vấn đề. Có Bill ở đây, cậu ấy sẽ lo; Bill sẽ không để mọi thứ vượt tầm kiểm soát. Cậu ấy là người cao nhất trong cả bọn, và chắc hẳn cũng là người khôi ngô tuấn tú nhất. Richie chỉ cần liếc nhìn đôi mắt của Bev – lúc này đang đăm chiêu nhìn Bill – rồi liếc sang mắt Ben trầm buồn, tự biết thân biết phận – để hiểu Bill đồng thời là người mạnh mẽ nhất, không chỉ xét trên phương diện cơ bắp. Ở Bill ẩn chứa nhiều hơn thế, tiếc là lúc ấy Richie chưa biết từ mị lực hay hiểu ý nghĩa đầy đủ của từ sức hút , cậu chỉ cảm thấy sức mạnh của Bill rất sâu sắc và thể hiện theo rất nhiều cách, thậm chí nhiều khi không ai ngờ tới. Và Richie đồ rằng nếu Beverly có cảm tình với Bill, hay “cảm thấy rung rinh” hoặc bất cứ trạng thái nào như thiên hạ đặt tên, Ben cũng sẽ chẳng ghen tị ( như trong trường hợp cô ấy có cảm tình với mình, Richie nghĩ); mà cậu ấy sẽ chấp nhận như thể đó là điều hết sức tự nhiên. Ngoài ra còn một điều: Bill rất tốt bụng . Suy nghĩ ấy quả là ngớ ngẩn (đó không hẳn là suy nghĩ của cậu mà là cảm nhận mới đúng), nhưng thật sự là thế. Từ Bill như tỏa ra tấm lòng cao thượng và mạnh mẽ. Cậu ấy tựa vị hiệp sĩ trong bộ phim từ ngày xưa, bộ phim cổ lỗ sĩ nhưng vẫn đủ sức khiến ta khóc, reo hò và vỗ tay khi kết phim. Cậu ấy vừa rắn rỏi vừa tốt bụng. Và năm năm sau, khi những ký ức về những điều xảy ra ở Derry vào trước và giữa mùa hè năm ấy bắt đầu phai mờ, khi Richie Tozier chừng mười lăm, mười sáu tuổi, cậu chợt nhận ra John Kennedy gợi cho cậu nhớ đến Bill Cà Lăm.
Ai vậy? Tâm trí câu hỏi ngược lại.
Cậu sẽ băn khoăn, thoáng bối rối, rồi lắc đầu. Một người mình từng quen, cậu thầm nhủ và xua tan chút khó chịu mơ hồ bằng cách đẩy kính lên mũi, tập trung vào bài tập về nhà. Một người mình quen từ ngày xưa.
Bill Denbrough chống hai tay lên hông, mỉm cười vui vẻ và nói: “Ch-Ch-Chà, gi-giờ c-cả bọn t-tụ t-t-tập ở đây rồi… thế chúng m-m m-mình l-làm g-g-gì nhỉ?”
“Cậu có mang thuốc lá không?” Richie hỏi đầy hy vọng.
11
Năm ngày sau, khi tháng Sáu gần kết thúc, Bill nói với Richie mình đang có ý định đến đường Neibolt để điều tra hiên nhà nơi Eddie gặp gã hủi kia.
Lúc đó hai người bọn họ vừa về nhà Richie, và Bill đang dắt bộ Ánh Bạc. Cậu chở Richie trên xe suốt đoạn đường, một chuyến đi tốc độ cao rong ruổi khắp Derry, nhưng cậu cẩn thận để Richie xuống khi chỉ còn một dãy nữa là về đến nhà. Nếu mẹ của Richie bắt gặp Bill chở Richie, bà hẳn sẽ tá hỏa tam tinh lên cho mà xem.
Trong chiếc giỏ xe đạp đựng đầy súng lục đồ chơi, hai khẩu của Bill và ba khẩu của Richie. Suốt buổi chiều hôm ấy, chúng tụ tập ở Vùng Đất Cằn chơi bắn súng. Beverly Marsh đến vào khoảng 3 giờ chiều, mang quần jean bạc thếch và cắp theo một khẩu súng hơi hãng Daisy đã mất gần hết đạn – khi kéo cò quấn băng keo, khẩu súng phát ra âm thanh như ai đó ngồi lên Đệm Whoopee cũ kỹ hơn là tiếng súng trường. Sở trường của cô là bắn tỉa kiểu Nhật. Cô rất giỏi leo cây rồi bắn những kẻ bất cẩn phía dưới. Vết bầm trên má cô đã phai thành màu vàng nhạt.
“Cậu nói gì kia?” Richie hỏi. Cậu thất kinh… nhưng cũng có chút hứng thú.
“Tớ m-m-muốn nhìn thử d-d-dưới hiên,” Bill trả lời. Giọng ngang bướng nhưng cậu không nhìn thẳng vào Richie. Hai má cậu đỏ bừng. Họ đã về tới trước nhà Richie. Maggie Tozier đang ở trước hiên, đọc sách. Bà vẫy tay chào và gọi to, “Chào các con! Muốn uống trà đá không?”
“Bọn con đến ngay đây,” Richie đáp rồi quay sang bảo Bill: “Chắc chẳng có gì ở đó đâu. Khéo cậu ấy trông thấy một gã lang thang và sợ mất mật ấy mà. Cậu còn lạ gì Eddie nữa.”
“U-Ừ. Tớ h-hiểu E-E-Eddie, Nh-Nhưng cậu nh-nh-nhớ b-b-bức hình trong cuốn a-album chứ?”
Richie nhấp nhổm trên chân, cảm thấy không thoải mái. Bill giơ tay phải lên. Cậu đã tháo hết băng cá nhân, nhưng Richie vẫn thấy vảy đóng quanh ba ngón đầu tiên của Bill.
“Ừ, nhưng…”
“Ng-Ng-Nghe t-tớ này,” Bill nói. Cậu nói thật chậm, nhìn vào mắt Richie không rời. Một lần nữa, cậu nêu ra những điểm tương đồng giữa chuyện Ben và Eddie kể… rồi liên kết những chi tiết này với thứ họ nhìn thấy trong bức hình chuyển động. Cậu nêu giả thuyết gã hề đã giết hại các cô cậu bé ở Derry từ tháng Mười hai năm ngoái. “V-Và c-c-c-có khi không chỉ v-vậy,” Bill nói tiếp. “C-Còn nh-nh-những đứa tr-trẻ bị m-mất tích thì sao? Nh-Như E-E Eddie C-C-Corcoran chẳng hạn?”
“Trời, lão bố dượng dọa cậu ấy bỏ nhà đi mà,” Richie nói. “Cậu không đọc báo sao?”
“C-Chậc, c-có thể là th-thế, hoặc c-có thể kh-kh không phải,” Bill nói. “Tớ có quen s-s-sơ sơ cậu ấy, và tớ b-b-biết b-bố đ-đ-đánh đập cậu ấy. Tớ c-còn b-biết nh–nhiều khi cậu ấy ph-ph-phải ở ngoài cả đ-đ-đêm để tr-tránh m-mặt ông t-t-ta.”
“Vậy có thể gã hề đã bắt được cậu ấy lúc cậu ấy tránh mặt ông ta,” Richie tư lự. “Ý cậu là thế phải không?”
Bill gật đầu.
“Thế tóm lại, cậu muốn gì? Xin chữ ký hắn chắc?”
“Nếu g-g-g-gã hề giết đám tr-tr-trẻ có nghĩa l-là h-hắn gi-gi-giết G-Georgie,” Bill nói. Mắt cậu nhìn thẳng vào Richie. Ánh mắt ấy như đá phiến – rắn rỏi, không khoan nhượng, không tha thứ. “Tớ m-muốn gi-gi-giết nó.”
“Chúa ơi” Richie hoảng sợ thốt lên. “Cậu tính làm điều đó bằng cách nào?”
“B-Bố t-tớ có kh-khẩu s-s-súng lục,” Bill nói. Cậu nói mà phun cả nước bọt, nhưng Richie chẳng buồn để ý. “B-Bố không b-biết tớ biết. Nó nằm ở k-kệ trên cùng trong t-t-tủ quần áo của bố.”
“Sẽ xử lý được nếu đó là người,” Richie nói, và nếu mình có thể thấy hắn đang ngồi trên đống xương trẻ con…”
“Mẹ pha trà rồi đây, các con!” Mẹ của Richie reo lên. “Xuống uống đi!”
“Con đến ngay đây mẹ ơi!” Richie hô vang đáp lại, nở nụ cười rõ tươi và giả tạo. Nụ cười ấy tắt ngúm khi cậu quay sang Bill. “Vì tớ không thể tự tiện cầm súng bắn một người chỉ vì người đó mặc đồ hề được, Billy. Cậu là bạn chí cốt của tớ, nhưng tớ sẽ không làm thế và tớ sẽ không để cậu làm thế nếu tớ cản được cậu.”
“N-Nếu th-thật s-sự có m-một đ-đống x-x-xương thì sao?”
Richie liếm môi lặng thinh. Đoạn cậu hỏi Bill, “Nếu nó không phải con người thì cậu tính làm gì, Billy? Nếu thật ra nó là quái vật thì sao? Nếu quái vật có tồn tại thì sao? Ben Hanscom bảo nó là xác ướp, bóng bay nó cầm dù ngược gió vẫn lơ lửng mà không bị tạt về phía sau, chưa kể nó còn không có bóng. Bức hình trong album ảnh của Georgie… hoặc chúng mình tưởng tượng ra, hoặc đó là ma thuật, mà tớ nói với cậu nhé, tớ không nghĩ chúng mình tưởng tượng ra đâu. Hẳn mấy ngón tay của cậu đâu thể tưởng tượng, đúng không?”
Bill lắc đầu.
“Vậy chúng mình biết làm gì nếu nó không phải con người hả Billy?”
“Th-Thì ch-ch-chúng ta sẽ phải t-tìm c-cách kh-khác thôi.”
“Ờ chuẩn,” Richie nói. “Tớ có thể hình dung ra được. Sau khi bắn nó chừng bốn, năm phát mà thấy nó vẫn lao vào tấn công chúng ta như Người sói Thiếu niên trong bộ phim tớ, Ben và Bev vừa xem, cậu có thể nhắm ná cao su Hồng Tâm vào nó. Còn nếu Hồng Tâm không có tác dụng, để tớ ném bột hắt xì hơi xem có ăn thua không. Nhưng nếu làm thế mà nó vẫn chạy theo mình, chúng ta sẽ đình chiến và bảo, ‘Ấy, giờ thì khoan đã. Không ăn thua rồi, ông Quái vật ơi. Tôi bảo này, để bọn tôi tra cứu thêm trong thư viện. Có gì bọn tôi quay lại sau. Xin tạm biệt.’ Đấy, chúng mình lên kịch bản nói vậy hả, Bill To Bự?”
Cậu nhìn cậu bạn của mình, đầu ong lên dữ dội. Một phần trong cậu muốn Bill khăng khăng giữ ý kiến kiểm tra dưới thềm căn nhà hoang, nhưng một phần khác lại muốn – muốn đến cùng cực - rằng Bill sẽ từ bỏ ý định ấy. Nhìn theo cách nào đó, tất cả sự vụ này chẳng khác nào bước vào rạp Aladdin xem mấy bộ phim kinh dị chiếu chiều thứ Bảy, nhưng từ góc độ khác – một góc độ hết sức quan trọng - nó lại chẳng giống chút nào. Vì vụ việc này không an toàn như một bộ phim, trong phim, ta biết mọi thứ rồi sẽ ổn, mà dù nếu không ổn thì ta cũng chẳng sứt mẻ miếng da nào. Còn bức hình trong phòng Georgie lại không giống như thế. Cậu tưởng mình quên mất điều đó, nhưng thật ra cậu chỉ đang lừa phỉnh bản thân mà thôi, bởi giờ đây cậu có thể nhìn thấy những vết cắt lồ lộ trên tay Bill. Nếu hôm ấy, cậu không kịp kéo tay Bill lại thì…
Lạ chưa kìa, Bill đang nhoẻn cười. Thật sự nở nụ cười. “H-Hôm trước, c-c-cậu m-muốn t-tớ cho c-cậu x-x-xem b-bức hình,” cậu nói. “Gi-Giờ đến l-lượt tớ m-muốn cùng c-cậu đi x-xem căn nh-nhà ấy. Có qua có l-lại.”
“Nhưng không toại lòng nhau gì hết,” Richie nói và cả hai cùng phá lên cười.
“S-Sáng m-m-mai nhé,” Bill nói, như thể mọi thứ đã được chốt hạ.
“Thế nếu nó là quái vật thì sao?” Richie hỏi, mắt vẫn xoáy vào Bill. “Nếu khẩu súng của bố cậu không ngăn được nó thì sao, Bill To Bự? Nếu nó vẫn tiếp tục tấn công mình thì sao?”
“Th-Th-thì mình s-s-sẽ k-k-kiếm c-cách khác,” Bill tiếp tục. “Mình ph-ph-phải làm bằng được.” Cậu ngửa đầu ra sau và cười khùng khục. Phút sau, Richie cũng ngả ngớn cười theo. Làm thế nào mà không cười được kia chứ.
Cả hai cùng bước dọc con đường lát đá dẫn tới hiên nhà Richie. Bà Maggie đã dọn sẵn ly cối đựng trà đá với lá bạc hà và đĩa bánh xốp vị va ni.
“C-Cậu m-m-muốn vậy kh-kh-không?”
“Chà, không đâu” Richie đáp. “Nhưng tớ sẽ làm.”
Bill vỗ lưng cậu bồm bộp, và dường như hành động ấy tiếp thêm cho cậu sức mạnh chịu đựng nỗi sợ hãi – dù Richie dám chắc (và đoán rất chuẩn) rằng tối đó, cậu sẽ trằn trọc mãi mới ngủ được.
“Nhìn hai đứa như đang thảo luận chuyện gì nghiêm túc lắm ấy nhỉ,” bà Tozier nói, đoạn ngồi xuống, một tay cầm sách, một tay cầm ly trà đá. Bà nhìn hai cậu bé với ánh mắt mong đợi.
“À, Denbrough có một quan điểm điên rồ là đội Red Sox sẽ nằm trong top những đội thắng mùa giải lần này mẹ ạ,” Richie kể.
“Ch-Cháu và b-b-b-b-bố cháu ngh-nghĩ h-họ có thể gi-giành hạng b-ba,” Bill nói và nhấp một ngụm trà. “Tr-Trà ng-ngon qu-qu-quá, c-cô Tozier ơi.”
“Cảm ơn cháu.”
“Năm nào Red Sox nằm trong tốp thì năm đó cậu sẽ hết nói lắp, cà lăm ạ” Richie trêu.
“Richie!” Bà Tozier hét lên choáng váng. Suýt chút nữa bà đã đánh đổ ly trà. Nhưng cả Richie và Bill Denbrough đều phá lên cười nắc nẻ, cười lăn cười bò. Bà hết nhìn cậu con trai của mình rồi lại nhìn Bill, sau đó lại nhìn con mình, vừa cảm động vừa bất ngờ, chủ yếu là bà bối rối, nhưng vẫn có một nỗi sợ rất mỏng, rất sắc, đâm sâu bén rễ trong lòng bà, rung lên như âm thoa làm bằng băng.
Mình không hiểu nổi hai đứa trẻ này, bà thầm nghĩ. Chúng đi đâu, làm gì, muốn gì… hay lớn lên, chúng sẽ trở thành người thế nào. Thỉnh thoảng, ôi thỉnh thoảng, ánh mắt chúng thật hoang dại, lắm lúc, mình thấy sợ cho chúng và cũng có lúc, mình sợ chúng…
Và trong vvô thức, bà lại vẩn vơ nghĩ, không phải lần đầu tiên, rằng sẽ tốt biết mấy nếu hai vợ chồng bà có một cô con gái, một bé gái xinh xắn tóc vàng, để vào các ngày Chủ nhật, bà có thể cho con mình mặc váy, thắt nơ và mang giày da màu đen bóng loáng. Một cô con gái xinh xắn bé bỏng đòi nướng bánh sau khi đi học về và đòi chơi búp bê thay vì sách về thuật nói tiếng bụng hay những mô hình xe Revell chạy như bay.
Một cô con gái mà bà đủ sức lý giải.
12
“Cậu có cầm theo không?” Richie sốt ruột hỏi.
10 giờ sáng hôm sau, cả hai đẩy xe đạp lên đường Kansas, con đường nằm cạnh Vùng Đất Cằn. Bầu trời xám xịt một màu. Buổi chiều dự báo có mưa. Tới tận nửa đêm hôm qua, Richie thao thức mãi mà ngủ không được, và theo cậu thấy, Denbrough có vẻ cũng trải qua một đêm mất ngủ, bởi trông Bill To Bự như đang đeo hai cái túi Samsonite dưới mắt.
“Tớ c-có mang,” Bill nói. Cậu vỗ vào chiếc áo khoác vải thô màu xanh lá với hàng khuy móc đang mặc.
“Cho tớ xem với,” Richie nói đầy tò mò.
“Chưa phải lúc,” Bill nói rồi nhoẻn miệng cười. “Lỡ c-c-có ai thấy thì sao. Nhưng t-t-tớ còn m-mang theo thứ khác nữa.” Cậu đưa tay ra sau, luồn vào áo khoác lấy ná cao su Hồng Tâm ra khỏi túi.
“Úi chà, thế này thì toi.” Richie nói và phá lên cười. Bill giả vờ phật ý. “Đ-Đ-Đó là ý t-tưởng của cậu mà, T-T-Tozier.”
Vào dịp sinh nhật năm ngoái, Bill được tặng ná cao su chạc nhôm. Bill đòi khẩu súng bắn đạn 22 nhưng mẹ cậu nhất quyết phản đối chuyện để con nít ở tuổi Bill sở hữu súng cầm tay, thành ra Zack đành phải dĩ hòa vi quý như thế. Cuốn sổ hướng dẫn sử dụng cho biết ná cao su có thể trở thành một vũ khí hiệu quả khi săn bắn nếu ta sử dụng thuần thục. “Nếu biết sử dụng, ná cao su Hồng Tâm lợi hại và hiệu quả không thua kém gì cũng bằng gỗ tần bì hoặc khẩu súng cầm tay hỏa lực cao,” cuốn sổ tung hô. Sau khi tâng bốc không ngớt lời ưu điểm của sản phẩm, hướng dẫn sử dụng cũng cảnh báo người dùng ná cao su có thể gây nguy hiểm, người dùng không nên ngắm bất cứ viên bi nào trong số hai mươi viên bi sắt vào người khác vì nó chẳng khác nào chĩa súng đã lên nòng.
Bill chưa bắn giỏi ná cao su (và cậu thầm đoán có khi mình chẳng bao giờ giỏi nổi), nhưng cậu đánh giá cảnh báo của cuốn sách hướng dẫn hoàn toàn có giá trị - phần dây cao su dày của ná rất chắc, nếu bắn vào lon thiếc thì lon thiếc sẽ lủng một lỗ to.
“Cậu bắn giỏi hơn tí nào chưa, Bill To Bự?” Richie hỏi.
“Có ch-ch-chút chút,” Bill đáp những câu trả lời ấy chỉ đúng một phần. Sau khi nghiền ngẫm những bức tranh minh họa trong cuốn sổ (được đánh dấu là H., viết tắt của chữ Hình, ví dụ như H. 1, H. 2, vân vân) và luyện tập trong công viên Derry hăng say đến độ tay xụi lơ hết cả, cậu đã nâng cao tay nghề đến mức cứ mười lần bắn thử thì có tầm ba lần cậu có thể bắn trúng mục tiêu giấy đi kèm với ná cao su. Có một lần duy nhất, cậu bắn được vào hồng tâm. Gần trúng.
Richie kéo dây cao su về phía sau, búng dây đánh tách rồi trả lại cho bạn. Tuy không nói gì nhưng cậu thầm e ngại món đồ này không lợi hại như khẩu súng của Zack Denbrough trong công cuộc giết quái vật.
“Thế à?” Cậu nói. “Cậu mang theo ná cao su, quá ngon lành. Nhưng chưa là gì so với thứ tớ mang theo đâu, Denbrough.” Richie lôi ra từ túi áo khoác một cái bọc có hình vẽ ông hói đang hô Hắt xì! với hai má phồng lên như Dizzy Gillespie. Trên bọc đề BỘT HẮT XÌ CỦA TIẾN SĨ WACKY. CƯỜI BỂ BỤNG!
Hai cậu bé chằm chằm nhìn nhau suốt một lúc lâu rồi vừa phá lên cười sặc sụa vừa đấm thình thịch vào lưng nhau.
“Ch-Ch-Chúng ta ch-chuẩn bị t-từ đầu đến r-r-răng,” mãi lúc sau, Bill mới lên tiếng dù vẫn cười khúc khích, đến độ phải lấy tay áo chùi mắt.
“Quỷ tha ma bắt cậu đi, Bill Cà Lăm,” Richie nói.
“Tớ t-t-tưởng ph-phải b-b-bắt c-cậu mới đ-đúng chứ,” Bill đối lại. “Nghe này. Ch-Chúng ta s-sẽ gi-gi-giấu x-xe c-cậu dưới V-Vùng Đất Cằn. Ch-Chỗ tớ hay c-cất Ánh Bạc lúc tụi mình chơi ấy. T-Tớ chở c-c-cậu sau l-lưng, để ph-phòng trường hợp m-mình phải ch-chạy trốn g-g-gấp.”
Richie gật đầu, thấy không có gì phải tranh luận. Chiếc xe đạp Raleigh cao năm mươi lăm phân (khi nào đạp nhanh, thỉnh thoảng cậu lại đập xương đầu gối vào tay lái trông chẳng khác nào nấm lùn khi đứng cạnh một công trình hoành tráng, góc cạnh như chiếc Ánh Bạc kia. Cậu thừa biết Bill khỏe hơn cậu, còn Ánh Bạc thì nhanh hơn.
Khi cả hai đến cây cầu nhỏ, Bill giúp Richie giấu chiếc xe của cậu bên dưới cầu. Đoạn hai cậu bé ngồi xuống, với tiếng xe thỉnh thoảng ầm ì chạy qua phía trên đầu, Bill tháo nút áo khoác và lấy ra khẩu súng lục của bố mình.
“C-Cậu c-cầm cho c-c-cẩn thận.” Bill nói và chìa khẩu súng sau khi Richie huýt sáo với vẻ ngưỡng mộ ra mặt. “Kh-Khẩu súng kiểu này kh-không c-có kh-kh-khóa an toàn đâu.”
“Nó đã được nạp đạn chưa?” Richie hỏi, mặt sáng ngời. Khẩu súng lục SSPK-Walther được Zack Denbrough sở hữu trong thời kỳ Chiếm đóng nặng đến không ngờ.
“C-Chưa đ-đâu,” dứt lời, Bill vỗ tay lên túi. “Tớ c-c-cất vài v-v v-viên đạn ở đ-đây. Nhưng b-b-bố tớ b-bảo th-thỉnh thoảng n-nếu khẩu s-s-s-súng ngh-nghĩ m-mình không c-c-cẩn thận, nó t-tự l-lên đạn và b-bắn vào m-mình luôn.” Khuôn mặt cậu vẽ nên một nụ cười thể hiện mặc dù cậu chẳng tin những điều ngớ ngẩn nhưng cậu tin điều này sái cổ.
Richie hiểu ý bạn mình. Khẩu súng này giam hãm sự nguy hiểm chết người mà cậu không thấy có ở khẩu 22, .30-.30 của bố mình, hay thậm chí ở cả súng săn (dù súng săn cũng vô cùng đáng gờm, chẳng phải sao? – chỉ cần nhìn cách nó được tra dầu nhớt, âm thầm tựa vào góc tủ ga-ra là ta có thể cảm nhận, giả sử nó biết nói, có khi nó sẽ cất tiếng Tao mà thích thì đừng trách tao ác; đại gian đại ác là đằng khác ). Nhưng khẩu súng lục này, khẩu Walther này… nó như thể được tạo ra để phục vụ độc mục tiêu bắn chết người khác. Richie rùng mình thấm thía đó chính là lý do mà người ta sản xuất ra nó. Chứ chúng ta còn dùng súng lục làm gì khác? Để châm thuốc lá chắc?
Cậu chĩa họng súng về phía mình, cẩn thận không để tay sát vào cò súng. Chỉ cần nhìn vào con mắt đen tuyền của Walther, cậu chợt hiểu nụ cười kỳ lạ của Bill ban nãy. Cậu nhớ lại lời bố cậu từng nói, Nếu con luôn biết cẩn trọng dù súng đã lên đạn hay chưa, cả đời con sẽ không gặp phải chuyện gì với súng ống, Richie ạ. Cậu trả khẩu súng lại cho Bill, cảm thấy mừng vì không phải giữ nó nữa.
Bill cất khẩu súng vào túi áo khoác. Bất chợt, căn nhà ở đường Neibolt bớt đáng sợ hơn trong mắt Richie… nhưng giờ, cậu lại lo ngại đến viễn cảnh đổ máu có thể xảy ra, và khả năng viễn cảnh ấy xảy ra là rất lớn.
Cậu nhìn Bill, toan hỏi lại về ý tưởng họ đề ra, nhưng khi thấy nét mặt Bill, đọc biểu cảm của bạn, cậu chỉ gọn lỏn, “Sẵn sàng chưa?”
13
Lần nào cũng như lần nào, khi Bill đưa hết cả hai chân rời khỏi mặt đất là y như rằng Richie đinh ninh cả hai sẽ tông đánh rầm, sọ nứt làm đôi trên bề mặt xi măng cứng như đá. Chiếc xe đạp cỡ khủng rung lắc điên cuồng từ bên này sang bên kia. Thẻ bài kẹp ở thanh chắn bùn không lạch phạch quẹt từng tiếng riêng lẻ nữa mà bắt đầu bắn liên thanh. Chiếc xe không đánh võng như người say mà vững chãi hơn. Richie nhắm mắt và đợi điều quen thuộc.
Và rồi Bill thét lên, “Hỡi Ánh Bạc, PHI NÀOO!”
Chiếc xe đạp dần dần tăng tốc và cuối cùng, không chao đảo bên này bên kia nữa. Ôm chặt bụng của Bill từ nãy đến giờ, Richie buông tay và chuyển sang giữ khung chở hàng ở bánh sau. Bill nghiêng người lái qua đường Kansas rồi phi xuống đường phụ với tốc độ càng lúc càng nhanh, hướng về phía Witcham như thể đang phi xuống những bậc thang địa lý. Cả hai phi như tên bắn ra khỏi đường Strapham và chạy lên đường Witcham với vận tốc không tưởng. Bill nghiêng hẳn Ánh Bạc sang một bên và lại thét lên “Hỡi Ánh Bạc!”
“Lên đi, Bill To Bự ơi!” Richie hét lớn, vừa sợ đến độ thiếu điều bĩnh ra quần vừa cười ha hả. “Đứng hẳn lên cho máu!”
Bill liền làm theo, cậu đứng dậy, nhoài người qua tay lái và guồng chân đạp pê-đan như điên như dại. Ngắm nhìn tấm lưng của Bill, tấm lưng rộng đến đáng ngạc nhiên so với một cậu bé mười một tuổi, sắp sửa tròn mười hai, quan sát nó cử động bên dưới lớp áo khoác, vai lúc nghiêng bên này lại ngả sang bên kia khi cậu chuyển trọng tâm ở mỗi bên, Richie chợt cảm thấy chắc như đinh đóng cột rằng họ vô địch thiên hạ… hai người bọn họ sẽ trường tồn cùng năm tháng. Chà… hai người bọn họ thì hơi khó, nhưng Bill thì chắc chắn có. Bản thân Bill không biết cậu mạnh mẽ đến mức nào, cậu vững chãi và hoàn hảo nhường nào.
Họ đạp dọc theo đường Witcham một hồi thì nhà cửa thưa dần, số đường cắt ngang cũng ít hơn.
“Hỡi Ánh Bạc!” Bill hét lên, Richie cũng ré lên bằng giọng Nhóc da đen the thé và cao chót vót, “Hỡi Ánh Bạc, hỡi ông chủ ơi, hay quá! Ngài lái chiếc xế hộp này hoành tráng quá! Lạy Chúa lòng lành! Hỡi Ánh Bạc, PHI THÔIII!”
Chúng chạy ngang qua những cánh đồng xanh tươi, trông bằng lặng và thăm thẳm dưới bầu trời xám xịt. Xa xa phía trước, Richie có thể trông thấy sân ga bằng gạch cũ. Bên phải là dãy nhà kho lợp mái tôn xếp thẳng hàng. Ánh Bạc hết nảy qua đường ray này lại đến đường ray khác.
Và rồi đường Neibolt hiện ra, cắt ngang về phía tay phải. Tấm biển màu xanh vừa gỉ sét vừa xô lệch dưới biển đề tên đường ghi SÂN GA DERRY. Ngay bên dưới là một tấm biển lớn hơn màu vàng ghi chữ đen, đề ĐƯỜNG CỤT. Hai chữ súc tích ấy chẳng khác nào lời bình phẩm về chính sân ga này.
Bill rẽ vào đường Neibolt, tấp vào vỉa hè và chống chân xuống đất. “Mình đi bộ từ đây đi.”
Richie tuột xuống, tâm trạng lẫn lộn giữa nhẹ nhõm pha tiếc nuối. “Ừ.”
Cả hai đi dọc theo vỉa hè nứt nẻ, lởm chởm cỏ dại. Phía trước, trong sân ga là một động cơ diesel chầm chậm rầm rì, đoạn im dần, cứ thế lặp đi lặp lại quá trình ấy. Họ nghe thấy tiếng móc toa xe lửa lanh canh đập vào nhau chát chúa.
“Cậu sợ không?” Richie hỏi Bill.
Tay nắm ghi đông để dắt Ánh Bạc, Bill thoáng nhìn Richie rồi gật đầu, “C-Có. Còn cậu?”
“Chắc chắn có rồi,” Richie đáp.
Bill kể với Richie rằng tối hôm trước, cậu đã hỏi bố về đường Neibolt. Bố cậu bảo có rất nhiều nhân viên xe lửa đã sống ở đây đến tận cuối Thế chiến thứ hai - kỹ sư, trưởng tàu, người đánh tín hiệu, công nhân nhà ga, người xách hành lý. Con đường này xuống dốc với sân ga, Bill và Richie càng tiến vào sâu thì nhà cửa lại càng rải rác hơn, bẩn thỉu và dơ dáy hơn. Ba, bốn căn nhà cuối cùng ở hai bên đường đều bị bỏ hoang, cửa đóng ván gỗ kín mít, sân vườn um tùm cỏ dại. Tấm biển NHÀ BÁN phất phơ hiu quạnh trên hiên một căn nhà. Richie cảm tưởng tấm biển ấy dễ phải đến ngàn năm tuổi. Vỉa hè ngừng ở đó nên hai cậu bé đi dọc theo một con đường đất cỏ mọc rậm rì.
Bill dừng chân và chỉ tay, “K-Kia r-r-rồi,” cậu khẽ nói.
Căn nhà số 29 đường Neibolt được xây theo lối kiến trúc Cape Cod, từng có lớp sơn đỏ rực đẹp mắt. Richie thầm nghĩ, có thể ngày xưa, một kỹ sư đã sống ở đây, độc thân vui tính, không có quần tây, chỉ mặc độc quần jean, có rất nhiều găng tay cổ vừa cứng vừa to cùng bốn, năm mũ vải bố kẻ sọc – một người đàn ông một tháng mới về nhà một, hai lần để nghỉ ngơi khoảng ba, bốn ngày, vừa nghe ra-đi-ô vừa chăm sóc vườn tược, một anh chàng suốt ngày chỉ biết ăn đồ nướng (không ăn rau dù anh này có trồng chúng cho bạn bè của mình) và vào những đêm heo hút gió, anh sẽ nghĩ về Bóng hồng mình chia xa.
Còn hiện giờ, lớp son đỏ đã phai thành màu hồng bạc phếch bạc phơ, bong tróc thành từng mảng xấu xí trông chẳng khác nào vết lở loét. Cửa sổ như những đôi mắt mù, đóng gỗ kín mít. Mái lợp gần như mất hết. Cỏ dại mọc um hai bên ngôi nhà, bãi cỏ thì ngập tràn bồ công anh đang vào mùa nở rộ. Phía bên trái là hàng rào gỗ cao, nghiêng ngả lấp ló trong bụi cây tăm tối, chắc ngày trước mang màu trắng tinh tươm, nhưng giờ phai thành màu xám hẩm hiu, ăn khớp với bầu trời đang sà xuống thấp. Từ giữa hàng rào trở về sau, Richie trông thấy một bụi hoa hướng dương khổng lồ – cành cao nhất phải đến một mét rưỡi hoặc hơn. Vẻ ngoài xù xì và gớm ghiếc của chúng khiến cậu chẳng thích chút nào. Cơn gió lướt qua làm bụi hướng dương như gật đầu rì rầm: Hai đứa nhóc đến kìa, tuyệt quá còn gì? Có thêm trẻ con cho chúng ta rồi. Nghĩ đến đây, Richie rùng mình.
Trong lúc Bill cẩn thận dựng Ánh Bạc dựa vào thân cây du, Richie quan sát căn nhà. Trông thấy một bánh xe thò ra từ bãi cỏ dày gần hiên nhà, cậu chỉ cho Bill. Bill gật đầu, đó chính là chiếc xe ba bánh bị lật ngược mà Eddie nhắc tới.
Hai đứa trẻ nhìn trước nhìn sau đường Neibolt. Tiếng động cơ diesel liên hồi rầm rì lúc to lúc nhỏ. Âm thanh ấy như lửng lơ dưới bầu trời mây giăng như bùa mê. Con đường vắng tanh vắng ngắt. Richie có thể nghe thấy tiếng xe ô tô thi thoảng chạy qua Tuyến số 2 nhưng không trông thấy xe.
Động cơ diesel hết kêu lại tắt, cứ thế lặp đi lặp lại.
Những bông hoa hướng dương gật gù với nhau. Con nít vừa tươi vừa ngon cho chúng ta kìa.
“C-C-Cậu s-sẵn sàng ch-chưa?” Câu hỏi của Bill làm Richie khẽ nhảy dựng.
“Cậu biết không, tớ vừa chợt nhớ ra hình như chồng sách hôm nọ tớ mượn ở thư viện đến hôm nay là hạn phải trả rồi,” Richie nói. “Có lẽ tớ phải…”
“B-B-Bớt x-xàm đi, R-R-Richie. C-Cậu s-sẵn sàng hay kh-kh-không?”
“Ừ, chắc là có,” Richie thốt lên, mặc dù cậu biết mình không hề sẵn sàng - cậu sẽ chẳng đời nào sẵn sàng cho tình cảnh này.
Cả hai băng qua bãi cỏ rậm rì dẫn đến hiên nhà.
“Nh-Nhìn k-k-kìa.” Bill nói.
Đằng xa, phía bên trái, giàn lưới mắt cáo bọc dưới hiên nằm vướng vào bụi cây. Cả hai đều thấy rõ những cái đinh gỉ bật tung. Bụi hồng dại này đã lâu năm, trong khi bụi hồng bên phải và bên trái lưới mắt cáo bung bị bung ra mọc lởm chởm thì bụi hồng xung quanh và ngay phía trước lưới khẳng khiu chết khô.
Bill và Richie đưa mắt nhìn nhau đầy u ám. Mọi điều Eddie nói đều đúng, bảy tuần sau, bằng chứng vẫn còn sờ sờ ra đấy.
“Cậu không muốn chui xuống dưới đó chứ?” Richie hỏi, gần như van xin.
“Kh-Kh-Không” Bill đáp, “nh-nhưng tớ s-sẽ làm.”
Lòng nặng như chì, Richie nhận ra bạn mình thật sự định làm thế. Sắc xám ấy đã trở lại trong mắt Billy, ánh lên sự cương nghị. Trong từng đường nét của khuôn mặt cậu là sự hăm hở đầy sắt đá khiến cậu trông già hắn. Richie thầm nhủ, Nếu thứ đó còn ở đây, có khi cậu ấy sẽ tìm cách giết nó thật cho mà xem. Kết liễu nó, khéo còn cắt đầu, mang thủ cấp về cho bố cậu ấy và bảo, “Bố ơi, xem này, đây là thứ đã giết Georgie, giờ thì bố có thể nói chuyện lại với con vào buổi tối rồi chứ? Đơn giản thôi cũng được, chỉ cần kể với con ngày hôm nay của bố thế nào, hay ai là người thua cuộc khi bố và đồng nghiệp búng xu để phân định người trả tiền chầu cà phê sáng?”
“Bill…” Cậu nói nhưng Bill đã đi mất. Cậu ấy đi thẳng về cuối hiên nhà phía bên phải, nơi Eddie đã bò xuống. Thế là Richie đành ba chân bốn cẳng chạy theo, suýt chút nữa vấp phải chiếc xe ba bánh trong bãi cỏ đang dần dà cũ gỉ vào đất.
Cậu bắt kịp lúc Bill ngồi xổm nhìn xuống dưới hiên. Phần bên này không có lưới mắt cáo, có người – chắc một gã lang thang nào đấy - đã tháo nó ra để có thể chui xuống dưới tìm chỗ trú vào tháng một băng giá, tháng Mười một mưa rét thấu xương hoặc những cơn mưa mùa hè với sấm chớp.
Richie ngồi xuống cạnh Bill, trống ngực đập liên hồi. Bên dưới hiên nhà chẳng có gì ngoài đống lá mục nát, giấy báo ố vàng và bóng tối. Dày đặc bóng tối.
“Bill,” cậu lặp lại.
“C-C-Cái gì?” Bill lôi khẩu súng Walther của bố ra. Cậu cẩn thận kéo ổ đạn ra khỏi báng súng, đoạn lấy bốn viên đạn trong túi quần. Cậu nhét từng viên vào ổ. Richie chăm chú theo dõi đầy hào hứng rồi hướng mắt nhìn xuống dưới hiên. Lần này cậu nhìn thấy kính bể, những mảnh kính li ti khẽ ánh lên. Bụng cậu quặn thắt. Cậu không ngu ngốc và cậu hiểu điều này lại càng xác nhận câu chuyện mà Eddie đã kể. Những mảnh kính bể sót lại trên đống đá mục nát phía dưới hiên nhà có nghĩa là cửa sổ bị đập vỡ từ bên trong. Từ trong tầng hầm.
“Gi-Gì thế?” Bill lặp lại câu hỏi và ngước nhìn Richie. Mặt cậu u ám và trắng bệch. Nhìn thấy nét mặt ấy của bạn, Richie đành chào thua, đến đâu hay đến đó.
“Không có gì” cậu nói.
“Cậu đ-đ-đi chứ?”
“Ừ.”
Hai cậu bé bò xuống dưới hiên.
Thường thì Richie khá thích mùi lá cây mục nát, nhưng thứ mùi dưới này chẳng thơm tho chút nào. Lớp lá tơi xốp dưới tay và đầu gối khiến cậu cứ có cảm tưởng không khéo cậu sẽ lún xuống sáu mươi hay chín mươi phân. Chợt cậu tự hỏi mình sẽ làm gì nếu bỗng dưng có một bàn tay hoặc móng vuốt bật ra từ đống lá kia rồi chộp lấy cậu.
Bill quan sát cửa sổ bị vỡ. Kính bể văng tứ phía. Thanh gỗ từng chắn giữa hai ô cửa sổ gãy thành hai mảnh dưới bậc thềm. Phần trên cùng của khung cửa sổ thò ra như đoạn xương gãy.
“Có gì đó đã đập rất mạnh vào thứ này,” Richie thở gấp. Nhìn vào trong – hay nói đúng hơn là cố căng mắt nhìn, Bill gật đầu.
Richie huých bạn mình ra một chút để nhìn ké. Tầng hầm tối tăm, lổn nhổn thùng gỗ và thùng giấy. Sàn nhà là nền đất, và giống như đống lá mục, nó bốc lên thứ mùi ẩm thấp. Góc trái lù lù lò sưởi với dàn ống tròn chọc thẳng lên trần nhà thấp. Đằng sau, cuối nhà kho, Richie có thể trông thấy một cái chuồng lớn quây bằng gỗ. Ban đầu cậu nghĩ đó là chuồng ngựa, nhưng ai đời lại nhốt ngựa trong tầng hầm gớm guốc thế này kia chứ? Rồi cậu chợt nhận ra trong căn nhà cũ như vậy, lò sưởi hẳn dùng củi chứ không dùng dầu. Người ta không buồn nâng cấp lò sưởi vì chẳng ai muốn sống trong căn nhà này. Thứ quây bằng gỗ kia là thùng chứa than. Đằng xa, phía bên tay phải, Richie lờ mờ trông thấy cầu thang dẫn lên tầng trệt.
Bill bỗng ngồi xuống… chúi người tới trước… và trước khi Richie kịp lý giải hành động của bạn mình, đôi chân Bill đã biến mất vào cửa sổ.
“Bill!” Cậu rít lên. “Chúa ơi, cậu làm trò gì vậy hả? Ra ngoài mau!”
Bill không đáp lời. Cậu lách qua, phần gáy áo khoác chà sát, suýt chút nữa bị một mảnh kính cứa phải. Giây sau, Richie nghe thấy tiếng giày của cậu nên đánh bộp xuống nền đất cứng bên trong.
“Vừa vừa phải phải thôi chứ.” Richie hoảng hốt lầm bầm, cậu nhìn vào cái lỗ vuông tối tăm nơi bạn mình vừa chui vào. “Bill, cậu uống phải thuốc lú à?”
Giọng Bill vẳng lên. “C-Cậu c-c-cứ ở tr-trên đó nếu m-muốn, R-R-Richie. C-Canh g-g-gác giùm tớ.”
Nhưng không, cậu lộn người lại, đẩy chân qua khung cửa sổ tầng hầm trước khi thần kinh kịp bàn lùi, lòng thầm hy vọng tay và bụng không bị kính bể cứa phải.
Bỗng thứ gì đó chộp lấy chân cậu. Richie hét thất thanh.
“L-L-Là t-tớ,” Bill ré lên, và chốc sau, Richie đang đứng cạnh bạn mình trong tầng hầm, kéo áo thun với áo khoác xuống. “Ch Chứ c-cậu tưởng l-là ai?”
“Ông ba bị” Richie đáp và run run cười.
“C-Cậu đ-đi ph-phía k-kia, còn t-tớ đ-đ-đi…”
“Dẹp đi.” Richie nói. Cậu có thể nghe thấy tiếng tim đập loạn trong lời mình thốt lên, khiến giọng của cậu vừa lắp bắp vừa the thé, hết lên lại xuống. “Cậu đi đâu tớ theo đó, Bill To Bự.”
Đầu tiên, hai đứa trẻ tiến đến thùng chứa than, Bill đi trước một chút, khẩu súng nắm chặt trong tay, Richie đi ngay phía sau, cố gắng nhìn bao quát mọi nơi. Bill đứng sững bên cạnh thùng chứa than với miếng ván gỗ thò ra trong giây lát rồi vòng lại, hai tay chĩa thẳng súng. Richie nhắm nghiền mắt, chuẩn bị tinh thần nghe tiếng súng nổ đinh tai nhưng không thấy. Cậu thận trọng mở mắt.
“Ch-Chẳng c-có gì ngoài th-th-than.” Bill cười, cốt xua tan lo lắng.
Richie bước đến cạnh Bill để quan sát. Ở cuối chuồng quây vẫn còn một đống than cũ, chất cao gần đến trần nhà, tràn thành một hai đụn nhỏ dưới chân bọn họ. Than đen thủi đen thui như cánh quạ.
“Mình…” Richie vừa lên tiếng thì cánh cửa trên cùng cầu thang tầng hầm bật tung, bay vào tường đánh rầm, khiến ánh sáng ban ngày thưa thớt lọt xuống cầu thang.
Hai cậu bé hét lên thất thanh.
Richie nghe thấy tiếng gầm gừ rất to – tựa hồ tiếng của một loài dã thú nhốt trong lồng. Cậu trông thấy đôi chân mang giày đang bước xuống cầu thang. Thân dưới mặc quần jean và hai tay đung đưa…
Nhưng không, đó không phải tay mà là móng vuốt. Móng vuốt dị dạng to tướng.
“Tr-Tr-Trèo lên đ-đống th-than mau!” Bill la lên song Richie như hóa đá khi nhận ra thứ đang tấn công bọn họ, thứ đó đang muốn giết chết họ trong tầng hầm thối hoẵng mùi đất ẩm và mùi rượu rẻ tiền đổ trong góc. Cậu nhận ra nó nhưng cậu cần thấy bằng chính mắt mình. “Trên đ-đỉnh đống th-than có c-c-cửa sổ!”
Tay nó rậm rì lông màu nâu, xoăn tít như dây điện; đầu ngón tay lởm chởm móng vuốt. Giờ Richie trông thấy một chiếc áo khoác lụa màu đen sọc cam – màu đại diện của trường Trung học Derry.
“Nh-Nh-Nhanh!” Bill thét lên và đẩy Richie thật mạnh. Richie tông vào đống than. Mảnh than nhọn đâm vào người đau điếng khiến cậu như bừng tỉnh. Than rơi xuống tay cậu. Tiếng gầm điên dại vẫn tiếp tục vang lên.
Nỗi hoảng loạn choáng ngợp đầu óc Richie.
Chẳng kịp nghĩ ngợi gì, cậu vội vàng bò lên núi than, lên được một chút lại tụt xuống, nhưng cậu bất chấp nhào tới, vừa cuống cuồng vừa la hét. Cửa trên đỉnh đống than ám đen do bụi than, gần như không cho chút ánh sáng nào lọt qua. Nó bị chốt cứng. Richie nắm lấy chốt và vận hết sức bình sinh để vặn nhưng không xi nhê gì. Tiếng gầm gừ càng lúc càng gần hơn.
Đoàng, tiếng súng vang lên phía dưới, chát chúa đến điếc tai trong căn phòng đóng kín. Mùi thuốc súng nồng nặc và cay sè xộc vào mũi Richie. Thần kinh cậu căng lên như dây đàn, và cậu chợt nhận ra từ nãy đến giờ, mình xoay chốt ngược hướng. Cậu liền vận sức xoay theo chiều ngược lại, khiến chốt ken két rít lên. Bụi than lả tả rơi xuống tay cậu như rắc tiêu.
Súng lại nã thêm phát nữa cùng tiếng nổ chát chúa thứ hai. Bill Denbrough thét lớn, “MÀY DÁM GIẾT EM TAO, ĐỒ KHỐN KIẾP!”
Trong một khoảnh khắc, thứ sinh vật vừa bước xuống cầu thang kia dường như đã phá lên cười và nói- tựa hồ một con chó hung dữ bỗng dưng của thành tiếng, và trong thoáng chốc, Richie tưởng như nghe thấy con quái vật khoác áo trung học kia vừa gầm lên đáp lại, Tao sẽ thịt cả mày nữa.
“Richie!” Bill thét to, và Richie nghe thấy tiếng than lộp cộp rơi xuống khi Bill trèo lên. Tiếng gầm rú vẫn tiếp tục vang lên. Gỗ răng rắc. Có cả tiếng gào và tiếng hú trộn lẫn – âm thanh chẳng khác nào cơn ác mộng kinh hoàng.
Richie đẩy thật mạnh cửa sổ, chẳng buồn quan tâm liệu kính có bể và cắt nát tay cậu hay không. Chuyện đó tính sau. Cửa không bể mà bật ra ngoài do bản lề sắt đã gỉ sét đầy bụi bám. Bụi than rơi như mưa lên mặt Richie. Cậu trườn lên sân như con lươn, hít thứ không khí trong lành vào buồng phổi, cảm nhận cọng cỏ dài lất phất vào mặt. Cậu chẳng mảy may để ý trời đang mưa. Cậu trông thấy bụi hướng dương to tướng, xù xì màu xanh.
Khẩu Walther nhả đạn lần thứ ba, con quái vật trong tầng hầm hét vang, thứ âm thanh man rợ đầy phẫn nộ. Và rồi Bill thét lên: “Nó b-bắt tớ rồi, Richie! Cứu! Nó b-b-bắt được tớ rồi!”
Richie lồm cồm xoay người lại thì trông thấy khuôn mặt bạn mình trợn ngược đầy kinh hãi trong khung cửa sổ cỡ lớn được dùng để dẫn than trữ cho mùa đông khi đến tháng Mười.
Bill nằm thẳng cẳng trên đống than. Tay cậu qua quàng và chới với tìm cách chộp lấy khung cửa sổ nằm ngoài tầm với. Áo thun và áo khoác bị kéo lên sát đến ngực. Cậu đang trượt xuống… không, cậu đang bị kéo xuống bởi một thứ mà Richie không thấy rõ. Cậu chỉ thấy một bóng đen to lớn đang chuyển động phía sau Bill. Bóng đen ấy gầm rú, gằn giọng chẳng khác nào con người.
Richie chẳng cần nhìn rõ cũng biết nó là thứ gì, bởi cậu đã có dịp nhìn thấy nó vào thứ Bảy tuần trước, trên màn ảnh rạp chiếu phim Aladdin. Điên rồ, thật vô cùng điên rồ, nhưng dẫu thế, Richie không hề nghi ngờ đầu óc hay kết luận của mình.
Gã Người sói Thiếu niên đã bắt được Bill Denbrough. Chỉ có điều, nó không phải chàng diễn viên Michael Landon với mặt bôi trét cả lớp hóa trang và gắn lông giả. Con quái vật này là thật .
Như để chứng minh điều đó, Bill lại hét lên.
Richie nhoài người vào trong, chộp lấy hai tay Bill. Một tay Bill đang nắm khẩu súng Walther, và đây là lần thứ hai trong ngày, Richie nhìn thẳng vào nòng súng đen thẳm… chỉ khác là lần này, đạn đã lên nòng.
Hai bên vật lộn giành giật Bill – Richie kéo tay Bill, gã Người sói kéo cổ chân cậu.
“R-R-Ra khỏi đ-đây thôi, Richie!” Bill la lên. “R-Ra…”
Bất thình lình, khuôn mặt của gã Người sói ló ra khỏi bóng tối. Trán của nó vừa ngắn vừa dô, lơ thơ vào sợi lông. Hai má nó trũng sâu, rậm rì. Đôi mắt nó nâu sậm, tinh anh và ranh mãnh đến đáng sợ. Miệng há to, nó bắt đầu gầm rú. Môi dày cui, sùi bọt mép trắng, chảy thành hai hàng, ri rỉ xuống cằm. Mái tóc trên đầu nó vuốt ngược ra sau thành phiên bản dị hợm so với tóc của một thanh niên. Nó ngửa đầu và gào rú, ánh mắt chòng chọc xoáy vào Richie.
Bill lồm cồm bò lên đống than. Richie nắm lấy cẳng tay cậu, kéo mạnh. Trong thoáng chốc, cậu cứ tưởng mình sẽ thắng. Nào ngờ Người sói lại chộp lấy chân Bill rồi kéo cậu trở lại bóng tối. Nó khỏe hơn cậu. Và một khi đã tóm lấy Bill, nó muốn giành cho bằng được.
Và rồi, chẳng rõ cậu đang làm gì hay tại sao cậu hành động như thế, Richie bỗng nghe thấy giọng Tay Cảnh sát Ireland, giọng của ông Nell, phát ra từ miệng mình. Nhưng lần này không phải một màn giả giọng dở tệ của Richie Tozier; cũng không hẳn là giọng ông Nell. Đó là Giọng của viên cảnh sát tuần tra người Ireland từng sống, từng gô cổ phường giang hồ bất hảo tìm cách cạy khóa những cửa hàng đóng cửa sau nửa đêm.
“Buông thằng bé ra, đồ khốn, không thì tao bửa đầu mày ra làm đôi! Tao thề có Chúa! Bỏ thằng bé ra ngay, kẻo tao cho mày về chầu ông bà bây giờ!”
Sinh vật trong tầng hầm thét lên một tiếng gầm giận giữ đến điếc tai… nhưng Richie nghe trong tiếng thét ấy dường như ẩn chứa một âm điệu khác. Có thể là sợ hãi. Hoặc đau đớn.
Cậu kéo thật mạnh, đưa Bill bay ra khỏi cửa sổ, đáp xuống bãi cỏ. Cậu bạn ngước nhìn Richie với đôi mắt hãi hùng sa sầm. Mặt áo khoác dính đầy bụi than đen thui.
“M-M-Mau lên!” Bill hồng hộc, gần như rên lên. Cậu túm lấy áo Richie. “Ch-Ch-Chúng ta ph-ph-phải…”
Richie lại nghe thấy tiếng than bị xới tung lên và đổ ập xuống. Ngay sau đó, khuôn mặt của Người sói ló ra khỏi cửa sổ tầng hầm. Nó nhe răng với họ. Móng vuốt của nó chộp lấy mặt cỏ.
Bill vẫn cầm khẩu Walther trong tay – suốt từ nãy đến giờ, cậu cố sống cổ chết giữ rịt lấy nó. Cậu bèn giờ nó lên bằng cả hai tay, đôi mắt nhắm nghiền như sợi chỉ rồi kéo cò. Lại một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên. Richie trông thấy một phần sọ của Người sói bể toạc, máu xối xả tuôn xuống mặt con quái vật, khiến lớp lông bết lại và cổ áo khoác ướt sũng.
Con quái vật gầm lên rồi bắt đầu trèo ra khỏi cửa sổ.
Chầm chậm cử động, tựa như mộng du, Richie lần tay xuống dưới áo khoác, vào túi sau. Cậu lôi bọc có hình người đàn ông hắt xì ra. Cậu xe bọc trong lúc sinh vật máu me bê bết đang gào rú nọ tìm cách bò ra từ cửa sổ, chật vật trèo ra, móng vuốt bấu chặt vào nền đất. Richie xé toạc rồi bóp nó trong tay. “Trở lại chỗ của mày đi, đồ khốn!” Cậu ra lệnh bằng giọng Tay Cảnh sát Ireland. Một đám bụi màu trắng phả vào mặt Người sói. Tiếng gầm của nó chợt im bặt. Nó nhìn chằm chằm Richie với vẻ mặt kinh ngạc đến buồn cười rồi khò khè thở không nổi. Mắt nó đỏ ngầu, lờ mờ, hướng về phía Richie, dường như muốn ghim hình ảnh cậu đời đời kiếp kiếp.
Đoạn nó bắt đầu hắt xì.
Nó hắt xì liền tù tì mấy phát. Nước dãi văng tứ tung từ cái miệng của nó. Nước mũi xanh đen phọt ra từ lỗ mũi. Một giọt bắn vào da Richie rồi xèo xèo cháy như a-xít. Cậu vừa chùi vừa hét lên vì đau đớn và kinh tởm.
Khuôn mặt con quái thú vẫn đầy thịnh nộ, nhưng giờ có cả đau đớn – đó là điều không thể nhầm lẫn. Có thể Bill đã sát thương nó bằng khẩu súng lục của bố cậu, song Richie khiến nó nếm đòn đau hơn nhiều… đầu tiên là giọng Tay Cảnh sát Ireland, sau đó lại thêm bột hắt xì.
Chúa ơi, nếu mình mang theo bột ngứa và lò xo chích tay, có khi mình kết liễu được nó ấy chứ, Richie nghĩ, bỗng lúc ấy, Bill nắm lấy cổ áo rồi kéo cậu ra sau.
Hành động không thể nào kịp thời hơn thế. Bởi Người sói bất ngờ ngưng hắt xì rồi nhào vào tấn công Richie. Nó nhanh như chớp - nhanh đến không tưởng.
Nếu Bill không kịp lôi cậu đứng dậy, hẳn Richie đã ngây ra ngồi đó với bọc bột hắt xì của Tiến sĩ Wacky trong tay, ngây dại nhìn Người sói, thầm cảm thán sao mà lông nó nâu đến thế, máu nó đỏ đến thế, trên đời chẳng có gì là rõ ràng trắng đen, hẳn cậu đã ngồi đấy cho đến lúc vuốt của nó quặp vào cổ cậu, móng của nó xé toạc họng cậu.
Richie loạng choạng theo sau bạn mình. Họ chạy vòng ra trước nhà, Richie nghĩ, Nó sẽ không dám đuổi theo chúng mình đâu, giờ bọn mình ra ngoài đường rồi, nó sẽ không dám đuổi theo, không dám, không dám…
Nào ngờ nó vẫn đang bám theo. Cậu có thể nghe thấy tiếng nó ngay phía sau, lẩm bẩm, gầm gừ, dãi chảy nhoe nhoét.
Và kìa, Ánh Bạc kia rồi, nó vẫn tựa vào thân cây. Bill nhảy phốc lên yên và ném khẩu súng lục của bố vào giỏ đựng đồ mà họ để những khẩu súng đồ chơi. Richie liếc ra sau lúc nhào lên giá chở hàng thì trông thấy Người sói đang băng qua bãi cỏ và tiến đến chỗ họ, cách chưa tới sáu mét. Máu me và dãi nhớt trộn vào nhau trên áo khoác của nó. Xương trắng nhởn lòi ra từ phần da ngay thái dương bên phải. Hai bên cánh mũi dính những vệt bột hắt xì trắng trắng. Và Richie trông thấy hai điểm khiến kinh hoàng càng thêm khủng khiếp. Trên áo khoác thứ sinh vật kia đang mặc không có khóa kéo mà là một dãy nút màu cam to tướng. Chi tiết còn lại càng đáng kinh hãi hơn. Nó khiến cậu có cảm giác khéo cậu sắp lăn đùng ra ngất, hoặc đầu hàng chịu giết. Trên áo của nó thêu một cái tên màu vàng, dạng thêu mà ta có thể đến tiệm may Machen’s để nhờ làm với giá một đồng.
Cái tên thêu bên ngực trái áo khoác của gã Người sói tuy bị dây máu nhưng vẫn đọc được: RICHIE TOZIER.
Nó nhào đến tấn công họ.
“Đi mau, Bill!” Richie thét lên.
Ánh Bạc bắt đầu lăn bánh một cách chậm chạp - quá sức chậm chạp. Bill mất quá nhiều thời gian để khiến xe chạy…
Người sói băng qua con đường gồ ghề ngay lúc Bill đạp xe đến giữa đường Neibolt. Máu dính lên quần jean bạc thếch của nó, và khi nhìn ra sau vai với nỗi tò mò gần như bị thôi miên, đáng ghét nhưng không tài nào gạt đi được, Richie trông thấy đường may của quần jean con quái vật đang mặc nhiều chỗ bục hết cả, những túm lông màu nâu thô ráp bung cả ra ngoài.
Ánh Bạc nghiêng ngả dữ dội. Bill đứng hẳn dậy, nắm lấy ghi đông xe đạp từ bên dưới, đầu ngửa thẳng lên bầu trời đầy mây, dây gân nổi rõ trên cổ. Thế mà thẻ bài mới chỉ lách cách từng tiếng rời rạc.
Móng vuốt của quái vật mò đến Richie. Cậu la hét thảm thương rồi nhoài người né. Người sói gầm gừ và nhe nhởn cười. Nó gần đến nỗi Richie có thể trông thấy phần giác mạc vàng đục cùng mùi thịt thối tỏa ra từ hơi thở của nó. Răng nó lởm chởm, nhọt hoắt.
Richie lại thét lên khi nó vụt móng vuốt về phía cậu. Cậu dám chắc nó sắp lấy thủ cấp của cậu – may sao móng vuốt vụt qua ngay trước mặt cậu, chỉ cách vài ba phân. Cú vô ấy mạnh đến độ mái tóc ướt đẫm mồ hôi của Richie bị thổi tung lên trán.
“Hỡi Ánh Bạc, PHI THÔIII!” Bill thét lên, giọng sang sảng.
Cậu đạp đến đỉnh quả đồi thấp và nông. Không nhiều, nhưng đủ để Ánh Bạc bắt đầu lăn bánh. Những thẻ bài dần tăng tốc và khua liên hồi thành những tiếng lách cách, Bill điên cuồng đạp pê-đan. Ánh Bạc không loạng choạng lạng lách nữa mà chạy thành đường thẳng xuống đường Neibolt vào Tuyến số 2.
Tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa, Richie hoảng loạn cầu khẩu trong đầu. Tạ…
Người sói tiếp tục rống lên - ôi Chúa ơi, nghe như nó đang ở NGAY BÊN CẠNH MÌNH vậy - và hơi thở của Richie nghẹn lại khi áo thun và áo khoác của cậu bị kéo siết lên khí quản. Cậu ngạt thở, ằng ặc kêu lên và kịp ôm lấy bụng Bill trước khi bị kéo khỏi xe đạp. Bill hơi ngả ra sau nhưng vẫn giữ được tay lái của Ánh Bạc. Trong một thoáng, Richie còn tưởng chiếc xe to lớn sẽ nhấc hẳn một bánh lên, khiến hai đứa ngã nhào. Và rồi chiếc áo sờn nát đến độ sắp đủ chuẩn xếp xó tuột khỏi lưng cậu với một tiếng rách toạc ầm ĩ, thật kỳ cục là nghe lại giống tiếng đánh rắm rõ to. Mãi Richie mới có thể thở trở lại.
Cậu ngó xung quanh và nhìn thẳng vào đôi mắt đùng đục, đầy sát ý của con quái vật.
“Bill!” Cậu tìm cách thét lên những lời cậu nói yếu ớt chẳng ra hơi.
Nhưng dường như Bill vẫn nghe thấy. Cậu guồng chân đạp thật mạnh, mạnh hơn bất cứ lúc nào trong đời. Ruột gan phèo phổi của cậu như đang trào lên, không còn ở đúng chỗ. Cậu có thể cảm nhận vị tanh nồng của máu trong họng. Mắt cậu trợn lên như muốn lồi ra khỏi hốc mắt. Miệng cậu há to, hít lấy hít để không khí. Một cảm giác hưng phấn điên rồ khó cưỡng ngập tràn tâm trí cậu –một cảm giác tự do tự tại, thỏa chí tung hoành. Cậu đứng thẳng lên bàn đạp; vừa vỗ về, vừa đạp lấy đạp để.
Ánh Bạc tiếp tục tăng tốc. Cậu dần cảm nhận được con đường và bắt đầu tung cánh. Bill biết mình đang phi thật nhanh.
“Hỡi Ánh Bạc!” Cậu lại hét lên. “Hỡi Ánh Bạc, PHI NÀOO!”
Richie có thể nghe thấy tiếng giày hối hả nện thình thịch xuống con đường đá dăm. Cậu quay lại. Móng vuốt của Người sói quệt ngay trên mắt cậu mạnh đến không tưởng, và trong phút chốc, Richie cứ tưởng đỉnh đầu mình đã đứt lìa. Mọi thứ bỗng trở nên thật mờ mịt và chống chếnh. Âm thanh lúc to lúc nhỏ. Thế giới như bị gột đi mọi màu sắc. Cậu xoay người, điên cuồng bám chặt vào người Bill. Dòng máu nóng hổi rỉ xuống mắt phải của cậu nhoi nhói.
Người sói lại vung móng, lần này quệt vào thanh chắn bùn phía sau. Richie cảm thấy chiếc xe rung lắc dữ dội, suýt chút nữa đổ nhào, may sao nó cân bằng lại được. Bill thét lên Hỡi Ánh Bạc, PHI NÀO! , nhưng sao tiếng hô của cậu xa xôi quá, tựa hồ âm thanh vọng lại trước khi tắt hẳn.
Richie nhắm mắt, ôm chầm lấy Bill và chờ hồi kết thúc.
14
Bản thân Bill cũng nghe thấy tiếng bước chân, cậu hiểu gã hề chưa chịu từ bỏ, nhưng cậu không dám quay đầu lại nhìn. Nếu nó bắt kịp và khiến cả hai ngã thẳng cẳng thì cậu sẽ biết ngay. Mà chỉ cần biết điều đó, chứ còn gì nữa đâu.
Cố lên nào, Ánh Bạc ơi, cậu thầm van nài. Xuất hết chiêu đi nào! Mọi tuyệt chiêu mình có! Cố lên, Ánh Bạc ơi! CỐ LÊN!
Và một lần nữa, Bill Denbrough lại vô tình rơi vào hoàn cảnh phải chạy đua để đánh bại quỷ dữ, chỉ có điều quỷ dữ lần này là một gã hề gớm ghiếc, khuôn mặt nhễ nhại lớp phấn trắng, miệng nhếch lên thành nụ cười đỏ loe đỏ loét đầy dã tâm, hai mắt như hai đồng xu bạc sáng rỡ. Vì lý do điên rồ nào đấy, gã hề này mặc áo khoác trường Trung học Derry bên ngoài bộ đồ hề màu bạc loe ngoe cổ áo màu cam với hàng nút to tướng cũng màu cam nốt.
Cố lên nào – Ánh Bạc ơi, sức mạnh của mày đâu rồi?
Con đường Neibolt cứ thế vùn vụt lướt qua cậu. Ánh Bạc cất tiếng lách cách đều đặn từ những tấm thẻ bài được gắn ở nan hoa. Tiếng chân chạy đã lùi lại phía sau chưa nhỉ? Cậu vẫn chưa dám quay lại nhìn. Richie ôm cậu chặt cứng, cản trở luồng khí tràn vào phổi cậu, Bill những muốn bảo Richie thả lỏng tay một chút, nhưng đồng thời, cậu cũng không dám phí hơi thở để làm chuyện đó…
Và rồi, hiện ra ngay trước mặt cậu, tựa hồ giấc mơ tuyệt đẹp chính là biển báo dừng chờ đánh dấu ngã tư giao giữa đường Neibolt và Tuyến số 2. Xe ô tô đang phi qua lại trên đường Witcham. Trong tâm trạng hoảng loạn đến kiệt sức, cảnh tượng ấy chẳng khác nào một điều kỳ diệu trong mắt Bill.
Vì phải phanh lại trong chốc lát (hoặc làm một điều hết sức sáng tạo), cậu đánh liều nhìn ra sau lưng.
Cảnh tượng trông thấy làm cậu bất thình lình xoay ngược bàn đạp của Ánh Bạc. Chiếc xe trượt và rê bánh sau xuống mặt đường, làm đầu của Richie đập mạnh vào chỗ hõm ở bả vai phải của Bill.
Con đường vắng tanh vắng ngắt.
Nhưng cách bọn họ khoảng hai mươi lăm mét, ở căn nhà đầu tiên của dãy nhà bỏ hoang, trông như đoàn viếng đám ma dẫn đến sân ga, có một ánh sáng màu cam lóe lên gần cống thoát nước mưa sát lề đường.
“Ư…”
Lúc Bill nhận ra Richie đang trượt khỏi Ánh Bạc thì đã quá trễ. Mắt Richie trợn ngược, đến độ Bill chỉ có thể trông thấy viền dưới của tròng đen bên dưới mí trên. Gọng kính chắp dán của cậu méo xệch. Còn máu thì đang ri rỉ chảy ra trên trán.
Bill chộp lấy tay bạn, cả hai nghiêng sang phải làm Ánh Bạc mất thăng bằng. Cả hai tông xuống đường, tay chân quýnh quáng. Bill đập mạnh xương khuỷu tay và thét lên đầy đau đớn. Mắt Richie giật nháy trước tiếng la.
“Tôi sẽ dẫn ngài đến chỗ kho báu, nhưng gã Dobbs ấy rất nguy hiểm,” Richie khò khè nói. Cậu đang giả giọng Pancho Vanilla, nhưng chất giọng mơ màng, có gì đó xa xôi khiến lòng Bill như lửa đốt. Cậu nhìn thấy vài cọng lông cứng màu nâu dính trên vết thương khá nông trên trán Richie. Chúng hơi quăn. Đã sợ lại càng sợ hơn, cậu đấm một phát thật mạnh lên đầu Richie.
“Ui da!” Richie ré lên. Hai mắt cậu nhấp nháy rồi mở to. “Sao cậu lại đánh tớ, Bill To Bự? Cậu làm bể kính tới bây giờ. Trong trường hợp cậu không để ý, thì xin thưa kính tớ đã nát lắm rồi đấy.”
“Tớ t-t-tưởng cậu s-s-sắp ch-ch-chết hay sao đ-đ-đó,” Bill lắp bắp.
Richie từ từ ngồi dậy trên đường và đưa tay lên đầu. Cậu nên lên. “Có chuyện…” Nói nửa chừng thì cậu chợt nhớ ra tất cả. Mắt cậu trợn trừng cuống cuồng, kinh hãi và cậu vội loạng quạng trên đầu gối, thở không ra hơi.
“Đ-Đ-Đừng lo,” Bill nói. “N-N-Nó đ-đ-đi rồi, R-R-Richie. Nó đi rồi.”
Richie quan sát con đường vắng tanh, nơi mọi thứ im lìm rồi òa lên nức nở. Bill đưa mắt nhìn rồi vòng tay quanh Richie, ôm chầm lấy bạn mình. Richie giữ chặt lấy cổ Bill, ghì lấy cậu. Cậu muốn nói gì đó hay ho, tỉ dụ như việc lý ra Bill phải thử bắn ná cao su Hồng Tâm vào Người sói, nhưng ngôn từ như nghẹn trong cổ họng. Cậu chẳng nói được gì ngoài khóc.
“Đ-Đừng lo, R-Richie” Bill nói, “đ-đ-đừng…” Đoạn cậu cũng bật khóc theo, hai cậu bé chẳng làm được gì ngoài quỳ gối trên đường, ôm nhau thật chặt, những dòng nước mắt giàn giụa chảy làm bụi than đen thui trôi khỏi gò má.