GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10365 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 9
dọn dẹp
1

Buổi chiều ngày 29 tháng 5 năm 1985, khi đang bay trên bầu trời New York, Beverly Rogan lại bắt đầu phá lên cười nắc nẻ. Cô lấy tay bịt miệng, sợ người ta nghĩ đầu óc mình chập cheng, nhưng vô ích, cô chẳng tài nào nhịn được.

Ngày ấy bọn mình cười nhiều lắm, cô chợt nghĩ. Đấy, lại thêm một ngọn đèn lóe lên trong đêm tối. Cả bọn lúc nào cũng sợ, nhưng cứ cười mãi không thôi, hơn cả mình lúc này.

Chàng thanh niên ngồi cạnh cô trong dãy ghế còn khá trẻ, tóc dài và khôi ngô. Anh ta đã lén liếc nhìn cô vài lần với ánh mắt đầy ý nhị kể từ lúc máy bay cất cánh ở Milwaukee lúc 2 giờ 30 phút (cách đây gần hai tiếng rưỡi, với một lần dừng ở Cleveland và một lần dừng khác ở Philly) nhưng giữ kẽ vì thấy cô rõ ràng không muốn nói chuyện phiếm; sau vài câu xã giao mà cô chỉ trả lời ngắn gọn vì phép lịch sự, anh này bèn mở túi vải và lấy ra cuốn tiểu thuyết của Robert Ludlum.

Bây giờ, anh ta đóng sách lại, tay giữ ghế và hỏi han với vẻ lo lắng: “Cô ổn chứ?”

Cô gật đầu, cố làm vẻ mặt nghiêm túc nhưng lại tiếp tục phì cười. Anh khẽ mỉm cười, bối rối và thắc mắc.

“Không có gì đâu,” cô nói, một lần nữa cố gắng tỏ ra nghiêm nghị nhưng bất khả; càng tìm cách tỏ ra chỉnh tề thì khuôn mặt cô lại càng muốn phụt cười. Cứ như ngày xưa ấy. “Chỉ là tự dưng tôi nhận ra tôi thậm chí còn không biết mình đang lên máy bay hãng nào. Tôi chỉ nhớ có hình một con v-v-vịt cỡ bự ở b-b-bên hông…” Suy nghĩ ấy lại khiến cơn cười trào dâng như vỡ đê, cô phá lên cười ha hả. Hành khách hướng mắt nhìn cô, một số người chau mày.

“Republic,” anh ta trả lời.

“Gì kia?”

“Cô đang vùn vụt lướt qua tầng không với tốc độ 750 ki-lô-mét trên giờ nhờ dịch vụ của hãng hàng không Republic Airlines. Biểu tượng ấy nằm trên tập tài liệu LBT trong túi đựng gắn sau ghế đấy.”

“LBT?”

Anh ta rút tập tài liệu (quả thật, nó có logo của hãng Republic trên bìa) ra khỏi túi. Tập tài liệu trình bày vị trí các cửa thoát hiểm, áo phao, cách dùng mặt nạ dưỡng khí, cách định vị trí hạ cánh khẩn cấp. “Đây là tập tài liệu Lên Bàn Thờ,” anh nói, và lần này cả hai cùng cười ngặt nghẽo.

Phải công nhận anh ta khôi ngô thật, cô chợt nghĩ – suy nghĩ ấy mới mẻ, có gì đó thật sáng tươi, suy nghĩ mà ta có thể có khi vừa thức dậy, lúc đầu óc chưa bộn bề lo âu. Anh mặc áo len chui đầu và quân jean bạc màu. Mái tóc vàng ngả tối của anh được cột ra sau bằng mẩu dây thừng, và chi tiết ấy gợi cho cô nhớ lại ngày còn bé, lúc nào cô cũng cột tóc đuôi gà. Cô thầm nghĩ: Mình cá cậu bé của anh ta giống của một sinh viên gia giáo ngon lành đây. Đủ dài để đùa nghịch nhưng không đủ to để vênh váo.

Cô lại cười nắc nẻ, không tài nào nhịn nổi. Cô nhận ra cô còn chẳng có khăn mùi xoa để lau nước mắt đang chảy, và điều này càng làm cô cười tợn.

“Tốt nhất cô nên kiềm chế bản thân lại nếu không tiếp viên hàng không tống cô khỏi máy bay bây giờ,” anh nghiêm túc nói, cô chỉ biết lắc đầu, miệng vẫn cười ngặt nghẽo: hông và bang của cô quặn đau.

Anh đưa cho cô một chiếc khăn mùi xoa trắng sạch. Một phần nhờ vậy mà cuối cùng, cô đã kiểm soát được cơn cười của mình. Dù thế, cô không ngưng cười được ngay. Chúng chỉ thuyên giảm thành những tràng cười khúc khích và thở hổn hển. Thỉnh thoảng, hình ảnh con vịt to tướng bên hông máy bay lại hiện lên trong đầu khiến cô rinh rích cười.

Hồi sau, cô đưa lại khăn mùi xoa cho anh thanh niên. “Cảm ơn anh.”

“Chúa ơi, tay cô bị gì vậy?” Anh cầm lấy tay cô, giọng e ngại.

Nhìn xuống, cô trông thấy móng tay mình bị gãy do cô trượt tay lúc vội vàng đẩy tủ lên người Tom. Ký ức về hành động ấy còn đau đớn hơn nhiều so với vết thương trên móng tay, nó khiến tràng cười của cô ngưng bặt. Cô rút tay về, nhưng không bất nhã mà nhẹ nhàng.

“Tôi kẹt tay vào cửa ô tô lúc đến sân bay,” cô bịa, trong đầu thầm ngẫm về bao lần mình đã nói dối về những lần Tom thượng cẳng chân hạ cẳng tay với cô, về bao lần cô đã nói dối về những vết bầm mà bố để lại trên người cô. Liệu đây có phải lần cuối và là lời dối trá cuối cùng không? Nếu thế thì tuyệt vời xiết bao… tuyệt đến độ không tưởng. Cô mường tượng đến cảnh vị bác sĩ bước vào gặp một bệnh nhân mắc ung thư giai đoạn cuối và nói, Hình chụp X-quang cho thấy khối u đang nhỏ lại. Chúng tôi không rõ lý do tại sao, chỉ biết tình hình như vậy mà thôi.

“Chắc đau lắm phải không,” anh hỏi thăm.

“Tôi uống thuốc giảm đau rồi.” Cô lại mở cuốn tạp chí trên máy bay ra, dù có lẽ chắc anh cũng thừa biết cô đã đọc đi đọc lại nó hai lần.

“Cô bay đến đâu thế?”

Đóng tờ tạp chí lại, cô nhìn anh và mỉm cười. “Anh rất tốt bụng,” cô nói, “nhưng tôi không muốn nói chuyện. Được chứ?”

“Được thôi,” anh ta đáp với nụ cười. “Nhưng nếu cô muốn uống một ly vì chú vịt to bự bên hông máy bay khi ta đến Boston thì để tôi mời cô nhé.”

“Cảm ơn anh, nhưng tôi còn phải bắt chuyến khác.”

“Trời ạ, tử vi của tôi sáng nay nói sai bét hay sao thế nhỉ,” anh ta lầm bầm mà lại mở cuốn tiểu thuyết của mình. “Nhưng khi cười, cô rất thu hút. Đàn ông hẳn sẽ bị hớp hồn cho mà xem.”

Cô lại mở tạp chí, nhưng chẳng tài nào chú tâm vào bài báo về thú vui ở New Orleans mà chỉ chăm chăm nhìn những móng tay nham nhở của mình. Trong đó có hai móng bị rộp màu tím ngắt. Cô như nghe thấy tiếng Tom hét vọng xuống cầu thang: “Tao sẽ giết mày, con khốn! Tiên sư con khốn!” cô rùng mình, lạnh người. Một con khốn trong mắt Tom, một con khốn trong mắt các thợ may hễ đến trước những buổi trình diễn quan trọng là lại sai sót và khiến Beverly Rogan thét ra lửa, một con khốn trong mắt bố cô từ ngày xửa ngày xưa, trước khi Tom hay những thợ may bất hạnh kia trở thành một phần cuộc sống của họ.

Một con khốn.

Con khốn.

Con khốn chết tiệt.

Cô nhắm mắt lại trong chốc lát.

Bị những mảnh thủy tinh của chai nước hoa cứa vào lúc chạy ra khỏi phòng, hai chân cô đau còn hơn cả tay. Kay chuẩn bị cho cô băng cá nhân, một đôi giày và một tấm séc trị giá một nghìn đô-la, được Beverly chuyển thành tiền mặt vào lúc 9 giờ tại ngân hàng First Bank ở Chicago, tọa lạc ngay Quảng Trường Watertower.

Dù Kay phản đối, Beverly vẫn tự viết một tờ séc trị giá một nghìn đô lên tờ giấy trắng. “Tớ từng đọc bất kể viết trên vật liệu gì, séc vẫn được chấp nhận,” cô nói với Kay. Giọng cô như mang từ một nơi nào đó khác. Như chiếc ra-đi-ô ở phòng bên kia chẳng hạn. “Có người từng đi rút tiền mặt bằng tấm séc viết trên vỏ pháo đấy. Nếu tớ nhớ không làm thì tớ đọc được trong Cuốn sách Liệt kê như vậy.” Đoạn cô im lặng, gượng cười. Kay nhìn cô thật lung, ánh mắt gần như nghiêm nghị. “Nhưng tớ sẽ đi rút sớm trước khi Tom nghĩ tới chuyện đóng băng tài khoản.”

Mặc dù không thấy mệt (tuy vậy, cô ý thức rõ mình có được đến lúc này là nhờ ý chí tinh thần và cà phê đen Kay pha cho), cô vẫn có cảm tưởng đêm qua tựa hồ một giấc mơ.

Cô vẫn nhớ có ba cậu thiếu niên bám theo đằng sau, chòng ghẹo và huýt sáo nhưng không dám bén mảng lại gần cô. Cô vẫn nhớ lòng mình như trút được đá tảng khi trông thấy ánh đèn huỳnh quang màu trắng từ cửa hàng Seven-Eleven hắt ra vỉa hè chỗ bùng binh. Cô bước vào trong, để cậu nhân viên trực quầy mặt chi chít mụn nhìn xuống chiếc áo cánh cũ của cô và năn nỉ cậu cho cô mượn bốn mươi xu để gọi nhờ điện thoại. Với bộ dạng như thế thì thật ra chẳng có gì khó khăn.

Cô lục tìm số điện thoại trong trí nhớ và gọi cho Kay McCall đầu tiên. Điện thoại reng cả chục lần, cô bắt đầu sợ Kay đang ở New York. Ngay lúc Beverly đang tính dập máy thì giọng nói ngái ngủ của Kay vang lên, “Gọi giờ này thì nên là chuyện quan trọng đấy nhé.”

“Bev đây, Kay,” cô nói, ngập ngừng rồi vào thẳng vấn đề. “Tớ cần cậu giúp.”

Có một khoảng lặng, và rồi Kay lên tiếng, giọng hoàn toàn tỉnh táo. “Cậu đang ở đâu? Có chuyện gì xảy ra vậy?”

“Tớ đang ở cửa hàng Seven-Eleven tại góc phố Streyland giao với đường gì đó. Tớ… Kay, tớ bỏ Tom rồi.”

Nhanh như cắt, Kay reo lên như bắt được vàng: “Tốt quá! Cuối cùng cũng dứt! Hoan hô! Để tớ đến đón cậu! Thằng khốn đấy! Rõ là thứ rác rưởi! Để đấy, tớ sẽ lái con xe Mercedes đến rước cậu! Tớ sẽ thuê một dàn nhạc khua chiêng gõ trống! Tớ sẽ…”

“Tớ đi tắc-xi được rồi,” Bev nói, cầm hai xu mười đồng trong lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi. Qua tấm gương tròn ở cuối cửa hàng, cô có thể trông thấy cậu nhân viên mặt mụn cứ nhìn chằm chằm vào mông mình đầy mơ màng. “Nhưng khi tớ đến nơi, cậu trả tiền giùm tớ nhé. Tớ không còn đồng nào trong người. Một xu cũng không.”

“Tớ còn bo thêm cho ông tài xế năm đô ấy chứ.” Kay ré lên. “Đây là tin tuyệt nhất quả đất từ lúc Nixon từ chức? Cậu lê thân đến đây ngay và luôn cho tớ xem nào. Vả lại…” Cô lặng im, và khi cất tiếng trở lại, giọng nói cô nghiêm túc và đầy dịu dàng, yêu thương đến độ Beverly thấy sống mũi mình cay cay. “Cảm ơn Chúa vì cuối cùng cậu cũng dứt áo ra đi, Bev ạ. Tớ nói thật đấy. Tạ ơn Chúa.”

Kay McCall ngày trước là một nhà thiết kế, đã kết hôn với một người giàu có, ly hôn xong còn giàu hơn, bắt đầu bước chân vào con đường chính trị theo chủ nghĩa nữ quyền vào năm 1972, khoảng ba năm trước khi Beverly gặp cô lần đầu tiên. Vào thời điểm nổi tiếng cũng như tai tiếng nhất, dư luận quy kết cô đi theo hướng nữ quyền sau khi lôi những bộ luật cực đoan, cổ lỗ sĩ để lấy từng đồng xu cắc bạc từ ông chồng vốn làm bên mảng sản xuất của mình mà luật pháp cho phép.

“Vớ vẩn!” Kay từng bất bình nói với Beverly. “Đám người phát ngôn thế này chưa bao giờ phải lên giường với Sam Chacowicz. Quệt quệt hai ba cái đã xong chuyện, đó là châm ngôn của Sammy đấy. Lần duy nhất hắn ta giữ được trên bảy mươi giây là lúc xóc lọ trong phòng tắm. Tớ không lừa dối hắn; xả thân chiến đấu chừng nào, tớ lấy đúng chừng đó tiền.”

Cô viết ba cuốn sách – một cuốn về nữ quyền và phụ nữ lao động, một cuốn về nữ quyền và gia đình, cuốn còn lại về nữ quyền và phát triển tinh thần. Hai cuốn đầu tiên khá nổi tiếng. Nhưng ba năm sau cuốn sách cuối, dư luận ít săn đón cô hơn, và Beverly nghĩ Kay lấy thể làm mừng. Các khoản đầu tư của cô rất thành công (cô từng nói với Bev, “May mà nữ quyền và tư sản không phải hai thứ loại trừ lẫn nhau”) và hiện tại, cô là một phụ nữ giàu có, sở hữu nhà phố, điền trang ở quê, có tầm hai, ba người tình đủ sung sức để mây mưa với cô nhưng không sung sức đến độ đánh bại cô trong bộ môn quần vợt. “Gã nào chơi giỏi đến mức đấy là tớ đá ngay lập tức,” cô nói, và dù Kay chỉ nghĩ đây là lời nói đùa vô thưởng vô phạt, Beverly lại tự nhủ khéo có khi là thế.

Beverly gọi tắc-xi, khi xe đến, cô chất va li lên cốp sau, mừng vì không bị ánh mắt của cậu nhân viên săm soi nữa, đoạn cho người tài xế địa chỉ nhà Kay.

Kay đứng đợi cô ở đầu đường chạy vào nhà, mặc áo khoác lông chồn bên ngoài váy ngủ vải flannel. Cô mang giày hở gót với phần mũi bít phủ lớp lông và gắn hai cục bông to. Cũng may đó không phải cục bông cam, tạ ơn Chúa – cảnh tượng ấy sẽ khiến Beverly hét thất thanh mất. Cuốc tắc-xi đến nhà Kay thật kỳ cục: những chuyện ngày xưa chợt ùa về trong tâm trí cô, bao ký ức dồn dập ập đến, nhanh và rõ mồn một đến đáng sợ. Cô có cảm giác như ai đó đã cho chiếc xe ủi chạy vào đầu cô rồi bắt đầu khai quật ngôi mộ trong tâm trí mà ngay bản thân cô còn không biết đến sự hiện diện của nó. Chỉ có điều, thứ được đào bới lên không phải tử thi mà là những cái tên mà đã bao năm nay cô chẳng hề nghĩ đến: Ben Hanscom, Richie Tozier, Greta Bowie, Henry Bowers, Eddie Kaspbrak… Bill Denbrough. Cô nhớ nhất là Bill – Bill Cà Lăm, như cách đám trẻ ngày ấy hay gọi cậu với sự vô tư thỉnh thoảng xuất phát từ tính ngây ngô, thỉnh thoảng lại hàm chứa nanh nọc. Trong mắt cô ngày ấy, cậu cao to và hoàn hảo vô cùng (cho đến khi cậu mở miệng ra nói).

Những cái tên… những địa điểm… những chuyện đã xảy ra.

Hết nóng lại lạnh, cô nhớ lại những giọng nói vang lên bên dưới lỗ thoát nước. Cô đã hét toáng lên và bị bố cho ăn đập. Bố cô –ông Tom…

Nước mắt cô chực rơi… và rồi Kay trả tiền cho tài xế tắc-xi, bo cho ông nhiều đến độ ông phải kinh ngạc reo lên, “Cảm ơn quý cô! Ôi trời ơi!”

Kay đưa cô vào nhà, bắt cô vào phòng tắm, đưa áo choàng tắm lúc cô ra ngoài, pha cà phê, xem xét vết thương, bôi thuốc đỏ lên vết cắt trên chân cô rồi dán băng cá nhân lên, cô đổ kha khá rượu brandy vào ly cà phê thứ hai của Bev rồi hối bạn mình uống cho bằng hết. Đoạn cô nấu nướng cho cả hai, mỗi người một miếng bít tết tái và xào chút nấm tươi ăn kèm.

“Được rồi,” cô lên tiếng. “Giờ thì kể tớ nghe có chuyện gì xem nào. Mình cần phải báo cảnh sát hay chỉ cần chuyển hộ khẩu của cậu đến Reno là đủ rồi?”

Reno, Nevada nổi tiếng là nơi thủ tục ly hôn rất dễ thực hiện.

“Tớ không thể kể quá nhiều,” Beverly thành thật. “Vì nghe nó rất điên rồ. Nhưng đa phần là lỗi của tớ…”

Kay dộng tay xuống bàn, tạo nên một âm thanh nghe như tiếng đạn bắn từ súng lục cỡ nhỏ trên mặt bàn gỗ dái ngựa bóng loáng. Bev giật nảy mình.

“Tớ cấm cậu nói như vậy,” Kay nghiêm giọng. Má cô đỏ lên vì giận giữ, đôi mắt nâu như tóe lửa. “Chúng mình là bạn của nhau bao năm rồi? Chín hay mười năm? Nếu tớ nghe cậu nhận đó là lỗi của cậu thêm lần nữa, tớ sẽ mửa mất. Cậu nghe không? Tớ sẽ mửa mật xanh mật vàng cho cậu xem. Lần này, hay lần trước, hay lần trước nữa, hay bất kỳ lần nào, tất cả đều không phải lỗi của cậu. Cậu không biết sao? Bạn bè cậu đều lo ngại chẳng chóng thì chày, tên vũ phu ấy sẽ cho cậu bó bột từ đầu đến chân hoặc có khi còn tiễn cậu về chầu ông bà luôn đấy.”

Beverly trợn mắt nhìn cô.

“Và nếu điều đó xảy ra, đúng thật, phần nào ấy là lỗi của cậu vì đã cam chịu ở lại để mọi chuyện xảy ra. Nhưng giờ cậu đã dứt áo ra đi rồi. Cảm ơn Chúa vì sự tiến triển này. Tuy nhiên, tớ cấm cậu không được ngồi đây với bộ móng tay gần như gãy mẻ hết cả, chân cứa chi chít, vai chằng chịt vết thắt lưng mà bảo với tớ đấy là lỗi của cậu.”

“Anh ấy không dùng thắt lưng quật tớ,” Bev bao biện. Cô máy móc dối trá theo thói quen… và như bao lần, cảm giác nhục nhã đến bẽ bàng lại khiến hai má cô ửng đỏ một cách thảm thương.

“Nếu cậu đã chấm dứt với Tom, thì cậu cũng thôi nói dối đi là vừa,” Kay chua xót nói, cô nhìn Bev thật lâu, ánh mắt đong đầy yêu thương đến mức Bev không chịu nổi mà phải cúi mặt xuống. Cô có thể cảm thấy vị nước mắt mặn chát dâng lên trong họng mình. “Cậu nghĩ cậu lừa được ai vậy?” Kay hỏi, giọng dịu dàng. Cô với tay qua bàn và nắm lấy tay Bev. “Nào là kính đen, áo cao cổ và tay dài… cậu có thể lừa một, hai khách hàng. Nhưng cậu không thể lừa bạn bè đâu, Bev ạ. Cậu không thể lừa những người yêu quý cậu.”

Và rồi Beverly òa lên khóc thật to, nước mắt cứ thế tuôn rơi trong vòng tay Kay, lát sau, trước khi đi ngủ, cô kể với Kay những gì mình có thể nói: Một người bạn cũ ở Derry, Maine, nơi cô sinh ra và lớn lên, gọi điện thoại nhắc cô về một lời hứa từ ngày xưa. Người bạn ấy bảo đã đến lúc hoàn thành lời hứa ấy và hỏi liệu cô có trở về không. Cô trả lời là có. Và rồi, vấn đề với Tom bắt đầu phát sinh.

“Lời hứa ấy là gì?” Kay hỏi.

Beverly chầm chậm lắc đầu. “Tớ không thể nói ra được, Kay à. Dù tớ rất muốn.”

Kay ngẫm nghĩ rồi gật đầu. “Được rồi. Vậy cũng không sao. Cậu dự tính giải quyết với Tom thế nào sau khi trở về từ Maine?”

Mặc dù dự cảm rằng mình sẽ không có ngày trở về từ Derry càng lúc càng lớn lên trong lòng Bev, cô chỉ đáp: “Tớ sẽ đến chỗ cậu trước, sau đó chúng mình cùng bàn. Có được không?”

“Quá được ấy chứ.” Kay nói. “Đó cũng là lời hứa chứ nhỉ?”

“Ngay khi tớ quay về,” Bev ôn hòa, “cứ an tâm, tớ sẽ giữ lời.” Và cô ôm Kay thật chặt.

Sau khi rút tiền từ tờ séc Kay viết, chân mang đôi giày của Kay, cô bắt chuyến xe khách Greyhound lên phía bắc, hướng về Milwaukee, bởi cô sợ Tom đã đến sân bay O’Hare để lùng sục cô. Kay đến ngân hàng và nhà chờ xe khách với cô, liên tục thuyết phục cô lựa chọn phương tiện khác.

“Ở sân bay O’Hare có đầy nhân viên an ninh mà,” cô nói. “Cậu chẳng cần lo lắng đến hắn ta đâu. Nếu hắn dám lại gần, cậu chỉ cần vận hết sức bình sinh hét thật to là được.”

Beverly lắc đầu. “Tớ muốn tránh mặt anh ta tuyệt đối. Chỉ có cách này thôi.”

Kay nhìn cô với ánh mắt sắc bén. “Cậu sợ anh ta nói ra nói vào làm cậu thôi không đi nữa à?”

Beverly nhớ lại cảnh bảy người bọn họ đứng dưới con suối, nhớ đến hình ảnh Stanley cùng mảnh chai Coca-Cola bị bể lấp loáng sắc xanh dưới ánh mặt trời; cô nhớ lại cảm giác nhói đau khi cậu khẽ cứa dọc lòng bàn tay cô, cô nhớ lại lúc họ đứng thành vòng tròn rồi siết chặt tay, hứa với nhau sẽ trở về nếu nó tái diễn… trở về và kết liễu nó mãi mãi.

“Không,” cô nói. “Anh ta không thuyết phục được tớ đâu. Nhưng anh ta có thể làm tớ bị thương, dù có nhân viên an ninh hay không. Đó là do cậu không thấy anh ta đêm qua như thế nào thôi, Kay ạ.”

“Tớ đã thấy anh ta vào những lần khác rồi.” Kay nói, mày nhíu lại. “Thể loại cặn bã không đáng mặt đàn ông.”

“Anh ta phát điên rồi,” Bev kể. “Nhân viên an ninh không cản được anh ta đâu. Thế này tốt hơn. Hãy tin lời tớ.”

“Thôi được.” Kay lưỡng lự nói, và Bev vẩn vơ nghĩ có khi Kay đang thất vọng vì sẽ không có cảnh ba mặt một lời hay trận đụng độ kinh thiên động địa nào.

“Cậu rút tiền từ séc sớm nhé,” Beverly lại nhắc bạn mình, trước khi anh ta kịp nghĩ đến chuyện đóng băng tài khoản. Ngữ như anh ta sẽ làm thế cho mà xem.”

“Rồi rồi,” Kay nói. “Nếu hắn ta làm vậy, tớ sẽ xách roi đến gặp mặt tên khốn ấy và lấy cả vốn lẫn lời.”

“Cậu tránh xa anh ta ra cho tớ,” Beverly nghiêm nghị. “Hắn nguy hiểm lắm, Kay ạ. Hãy tin lời tớ. Hắn chẳng khác nào…” Suýt chút nữa cô đã run rẩy thốt lên chẳng khác nào bố tớ . Nhưng không, cô chỉ nói, “Hắn chẳng khác nào một gã thần kinh.”

“Được.” Kay đáp. “Cậu cố duy trì tinh thần cho thoải mái. Cứ đi thực hiện lời hứa. Rồi ngẫm nghĩ về chuyện sau này.”

“Tớ sẽ làm thế,” Bev nói, nhưng ấy chỉ là lời nói dối. Cô có quá nhiều thứ để nghĩ: ví dụ như những gì đã xảy ra vào mùa hè năm cô mười một tuổi chẳng hạn. Ví dụ như chỉ Richie Tozier cách thả yo yo sao cho nó quay vòng vòng ở cuối dây. Ví dụ như những giọng nói vang lên từ lỗ thoát nước. Hay cảnh tượng mà cô từng chứng kiến, cảnh tượng kinh hoàng đến độ ngay cả lúc cô ôm Kay lần cuối trước chiếc xe khách Greyhound dài màu bạc, tâm trí cô vẫn chưa chịu để cô nhìn thấy.

Và lúc này, khi chiếc máy bay với hình con vịt bên hông bắt đầu hạ xuống khu vực Boston, tâm trí cô lại quay quắt những hình ảnh ấy… về Stan Uris… về bài thơ không rõ người sáng tác trên tấm bưu thiếp… về những tiếng nói… về những phút giây ngắn ngủi cô tận mắt chứng kiến thứ tưởng chường như vô tận.

Cô hướng mắt ra cửa sổ và nhìn xuống, chợt nghĩ Tom dù có ác độc đến mức nào cũng chỉ là vụn vặt so với thứ ma quỷ đang chực chờ cô ở Derry. Điều bù lại duy nhất là Bill Denbrough cũng sẽ ở đó… Ngày xưa, có một khoảng thời gian cô bé mười một tuổi mang tên Beverly Marsh đã đem lòng yêu Bill Denbrough. Cô nhớ tấm bưu thiếp với bài thơ đáng yêu viết ở mặt sau, nhớ ngày ấy cô biết ai là người viết. Tuy nhiên, giờ cô quên mất rồi, cũng chẳng nhớ rõ nội dung bài thơ thế nào… nhưng cô nghĩ có khi Bill là tác giả cũng nên. Ừ, đúng vậy, có thể Bill Cà Lăm chính là tác giả.

Cô chợt nhớ lại chuyện xảy ra lúc mình chuẩn bị đi ngủ vào buổi tối hôm Richie và Ben đưa cô đi xem hai bộ phim kinh dị. Buổi hẹn hò đầu tiên của cô. Cô đã lôi chuyện này ra đùa giỡn với Richie – ngày ấy, đó là cách cô phòng thủ khi bước ra thế giới bên ngoài – nhưng đâu đó trong lòng cô đã rung động, phấn khích và có chút sợ hãi. Quả thật, đó là buổi hẹn hò đầu tiên của cô, dù có đến hai cậu bạn chứ không chỉ một. Richie trả cho cô từ đầu đến cuối, như khi hẹn hò thật sự. Sau đó, một đám côn đồ rượt đuổi họ… và họ dành cả buổi chiều vui chơi ở Vùng Đất Cằn… rồi Bill Denbrough đến cùng một cậu bạn nữa, cô không nhớ đó rõ là ai, nhưng cô nhớ ánh mắt của Bill đã neo lại nơi cô trong chốc lát, nhớ cảm giác lúc ấy người cô như có điện chạy qua… sự bất ngờ như điện giật và bao cảm xúc dâng trào khiến cả người cô nóng bừng.

Cô nhớ mình đã nghĩ đến những điều này lúc mặc váy ngủ và đi vào nhà vệ sinh đánh răng rửa mặt. Cô nhớ lúc ấy, mình đã nghĩ chắc đêm nay sẽ thao thức mãi mới ngủ được, vì có quá nhiều thứ để ngẫm… và ngẫm theo hướng tốt, vì bọn họ có vẻ là người tốt, là những cậu bạn mà cô có thể đùa giỡn, thậm chí tin cậy phần nào. Thế thì hạnh phúc quá. Thế thì… ừ, chẳng khác nào thiên đường.

Vừa vẩn vơ nghĩ, cô vừa lấy khăn mặt, cúi người tới bồn rửa để vò khăn thì bỗng dưng, một tiếng nói

2

thì thầm vang lên từ lỗ thoát nước.

“Cứu…”

Beverly lùi lại, giật mình đánh rơi khăn mặt xuống sàn. Cô khẽ lắc đầu như để đầu óc mình minh mẫn hơn, đoạn cô chúi tới bồn rửa mặt và hiếu kỳ nhìn vào lỗ thoát nước. Nhà vệ sinh nằm ở cuối căn nhà bốn phòng mà gia đình cô đang ở. Cô có thể nghe thấy tiếng chương trình châu Âu nào đó đang phát trên ti vi vọng lại. Khi chương trình kết thúc, chắc bố cô sẽ chuyển kênh để xem bóng chày hoặc đấu vật rồi lăn ra ngủ trên ghế bành.

Giấy dán tường trong nhà tắm gớm ghiếc vô cùng với những con ếch ngồi trên lá súng, vừa phồng vừa nhăn do bề mặt thạch cao bên dưới không bằng phẳng. Nhiều chỗ thấm nước, có chỗ còn tróc hẳn ra. Bồn tắm lỗ chỗ gỉ sét, bệ xí thì nứt. Một bóng đèn tròn bốn mươi watt thò ra từ ổ cắm bằng sứ phía trên bồn rửa mặt. Beverly nhớ mang máng ngày trước từng có chụp đèn, nhưng từ lúc bị bể vài năm trước, chẳng bao giờ có cái mới để thay. Sàn nhà được lót một lớp vải dầu đã bạc hết họa tiết, trừ một khoảng nhỏ ngay dưới bồn rửa.

Căn phòng không mấy tươm tất, nhưng bấy lâu nay Beverly đã dùng quen nên cô chẳng buồn để tâm căn phòng trông ra sao.

Bồn rửa mặt cũng ố theo thời gian. Lỗ thoát nước cũng chỉ là một hình tròn chặn bằng lưới, đường kính khoảng năm xen-ti. Ngày trước từng có một miếng phủ bằng crôm, nhưng giờ không còn nữa. Nút chặn cao su nối vào sợi xích được vòng qua loa quanh vòi nước đánh dấu chữ C. Lỗ thoát nước đen thui, và khi chúi người săm soi, lần đầu tiên cô để ý có một thứ mùi hôi thoang thoảng - mùi hơi tanh – bốc lên từ lỗ thoát. Cô khẽ nhăn mũi vì khó chịu.

“Cứu với…”

Cô nín thở. Có tiếng nói. Cô cứ tưởng có tiếng lạo xạo trong ống… hoặc có khi chỉ là cô tự tưởng tượng ra.. chút dư âm còn sót lại từ hai bộ phim…

“Cứu với, Beverly…”

Người cô run lên vì những đợt nóng lạnh dồn dập ập đến. Ban nãy cô đã tháo dây thun buộc tóc, nên hiện giờ suối tóc sáng màu của cô buông rũ xuống vai. Cô có thể cảm nhận thấy chân tóc mình như muốn dựng đứng.

Trong lúc đầu óc chưa kịp nghĩ ngợi gì, cô cúi người đến bồn rửa và thì thầm, “Xin chào? Có ai không?” Tiếng nói phát ra từ lỗ thoát nước là của một đứa bé có lẽ chỉ vừa mới học nói. Mặc dù da gà nổi rần rật trên cánh tay, đầu óc cô vẫn cố gắng tìm cách lý giải. Khu nhà này là chung cư. Gia đình cô sống ở căn hộ phía sau, dưới tầng trệt. Ngoài ra còn bốn căn khác. Có lẽ đứa nhóc nào đó trong tòa chung cư đang nghịch bằng cách nói vọng vào lỗ thoát nước. Chắc là có mẹo gì đó…

“Có ai ở đó không?” cô hỏi lỗ thoát nước trên bồn rửa mặt, lần này giọng to hơn. Nói xong, cô mới chợt nghĩ lỡ may bố cô bước vào đúng lúc này, hẳn lão ta sẽ nghĩ cô bị điên.

Không có lời đáp từ lỗ thoát nước, song thứ mùi hôi hám kia dường như nồng hơn. Nó gợi cô nhớ đến rặng tre ở Vùng Đất Cằn cùng bãi rác phía sau; nó khiến cô hình dung cảnh tượng khói cay sè, bảng lảng và bùn đen muốn kéo tuột cả giày của ta.

Mấu chốt nằm ở chỗ trong tòa chung cư này không có trẻ con. Nhà Tremont ngày trước có một bé trai năm tuổi, hai bé gái lần lượt ba tuổi và sáu tháng, nhưng ông Tremont mất việc ở cửa hàng bán giày trên Đại lộ Tracker, họ trễ tiền nhà suốt một thời gian, và trước khi kết thúc năm học ít lâu, cả gia đình lặn không sủi tăm trong chiếc Buick Power-Flite cũ mèm của Tremont. Căn hộ mặt trước tầng hai có Skipper Bolton, nhưng Skipper đã mười bốn tuổi rồi.

“Bọn em đều muốn gặp chị, Beverly…”

Cô đưa tay lên bụm miệng, hai mặt trợn trừng kinh hãi. Trong một khắc… chỉ trong một khắc ngắn ngủi… dường như cô đã thấy thứ gì đó nhúc nhích bên dưới. Bỗng có sực nhớ tóc mình đang buông xõa trên vai thành hai nửa dày, và tóc đang đung đưa gần sát – sát rạt – lỗ thoát nước. Theo bản năng, cô vội vàng đứng thẳng người để mái tóc không dính vào đó.

Cô nhìn quanh. Cửa nhà vệ sinh đang đóng kín. Cô có thể nghe tiếng ti vi văng vẳng, Cheyenne Bodie đang thuyết phục kẻ xấu bỏ súng xuống trước khi có người bị thương. Cô đang ở một mình. Tất nhiên đó là chưa kể đến giọng nói ấy.

“Ai vậy?” cô khẽ khọt nói vọng xuống bồn rửa.

“Matthew Clements,” giọng nói thì thầm. “Gã hề đưa em xuống cống, em chết rồi, và chẳng mấy chốc, gã hề sẽ đến bắt chị, Beverly, và cả Ben Hanscom, cả Bill Denbrough và Eddie…”

Tay cô giơ lên bấu chặt lấy hai má. Mắt cô không ngừng mở to. Cô thấy cả người lạnh toát. Giờ tiếng nói lại chuyển thành một giọng nghèn nghẹt và xưa cũ… nhưng vẫn khiến cô rùng mình với vẻ hoan hỉ đầy bệnh hoạn.

“Rồi mày sẽ lơ lửng dưới đây với chúng bạn, Beverly, dưới này chúng ta đều lơ lửng, nhắn với Bill là Georgie gửi lời chào nhé, nhắn luôn cho Bill là Georgie nhớ anh trai lắm nhưng hai anh em sắp được đoàn tụ rồi, nhắn nó là một đêm nào đó, Georgie sẽ nấp sẵn trong tủ quần áo, thủ sẵn dây đàn piano để đâm lủng mắt nó, nhắn…”

Âm thanh vỡ thành chuỗi nấc cụt liền tù tì, và bỗng dưng một bong bóng màu đỏ tươi nổi lên từ lỗ thoát nước rồi nổ tung, khiến máu phọt lên mặt sứ xỉn màu của bồn rửa.

Giọng nói nghèn nghẹt chợt hối hả hơn, và mỗi lần cất lên là một lần thay đổi: giờ là giọng của một đứa trẻ cô mới nghe lần đầu, rồi giọng một thiếu nữ, rồi kinh khủng hơn, nó chuyển sang giọng nói của một người mà Beverly biết… Veronica Grogan. Nhưng Veronica không còn sống, người ta đã tìm thấy thi thể cô trong cống thoát nước thải…

Matthew đây… Betty đây… Veronica đây.... bọn ta ở dưới này… ở dưới này cùng gã hề… cùng con quái vật.... cùng xác ướp… cùng Người sói… cùng mày nữa, Beverly… bọn ta ở dưới này với mày, và cả bọn cùng lơ lửng, biến dạng…”

Bất thình lình, máu phọt lên từ lỗ thoát nước, bắn tung tóe lên bồn rửa, tấm gương và giấy dán tường có hình ếch ngồi trên lá súng. Beverly hét lên, hoảng hồn và thất thanh. Cô lùi khỏi bồn rửa, tông vào cửa, vội lùi lại, xoáy vặn mở bằng được, ba chân bốn cẳng chạy lên phòng khách đúng lúc bố cô vừa đứng dậy.

“Mày ăn phải bả à?” Lão hỏi, hàng lông mày nhíu lại. Tối đó, chỉ có hai bố con ở nhà. Mẹ của Bev đang làm việc theo ca từ 3 giờ chiều đến 10 giờ tối ở Nông trại Xanh, nhà hàng ngon nhất Derry.

“Nhà vệ sinh!” cô hãi hùng la lên. “Nhà vệ sinh, bố ơi, trong nhà vệ sinh…”

“Có ai nhìn lén mày sao, Beverly?” Lão vươn tay ra, nắm chặt lấy tay cô, siết chặt. Trên khuôn mặt lão thể hiện sự quan tâm, nhưng đó là vẻ quan tâm của kẻ săn mồi, chẳng những không khiến cô an lòng mà còn làm cô kinh sợ hơn.

“Không ạ… bồn rửa… trong bồn rửa… có… có…” Cô hoảng loạn bật khóc trước khi kịp lắp bắp hết câu. Trống ngực cô đập dồn dập trong lồng ngực đến độ cô còn tưởng nó sẽ khiến mình ngạt thở mà chết.

Al Marsh gạt cô sang một bên với nét mặt “Lần này lại là cái giống gì đây” rồi bước thẳng vào nhà vệ sinh. Lão ở trong lâu đến độ Beverly đâm lo.

Đoạn lão hét to: “Beverly! Mày xuống đây cho tao!”

Lão đã nói thì không có chuyện cự cãi gì ở đây. Giả sử hai người bọn họ đứng ở mép vực sâu và lão bảo cô nhảy xuống - ngay lập tức – thì bản năng phục tùng của cô chắc chắn sẽ đưa cô sa chân xuống vực trước khi lý trí kịp lên tiếng.

Cửa nhà vệ sinh đang mở. Bố cô đứng đó, tướng người to lớn với mái tóc đỏ mà Beverly thừa hưởng đang thưa thớt dần. Vẫn mặc quần lính màu xám và áo thun xám trên người (lão làm lao công trong Bệnh viện Derry), lão nhìn chòng chọc Beverly. Lão không uống rượu, không hút thuốc và cũng chẳng chạy theo đàn bà. Ở nhà có đủ đàn bà tao cần rồi, lần nọ, lão đã tuyên bố như thế, lúc ấy, lão nói với một nụ cười úp úp mở mở nhếch trên môi – nụ cười chẳng khiến gương mặt lão sáng hơn mà còn khiến nó thêm phần ám muội. Nhìn nụ cười ấy chẳng khác nào nhìn bóng mây bay qua khoảng đất lởm chởm đất đá. Bọn nó chăm sóc tao, khi nào chúng cần, tao lại chăm bọn chúng.

“Mày nói tao nghe tấn trò hề vừa rồi là sao?” Lão hỏi khi cô bước vào.

Beverly có cảm giác họng mình như bị nhét đầy đá phiến. Tim cô như chạy đua trong lồng ngực. Khéo cô nôn thốc nôn tháo ra mất. Máu trên gương nhoe nhoét chảy xuống thành vệt dài. Máu bắn lưa thưa lên cả bóng đèn phía trên bồn rửa, cô có thể ngửi thấy mùi máu khét lẹt trên ngọn đèn bốn mươi watt. Máu chảy xuống thành bồn cầu sứ và lộp độp rơi xuống sàn nhà.

“Bố…” cô khẽ rên lên.

Lão quay lại, khó chịu ra mặt với cô (khi nào chẳng thế) rồi bình thản rửa tay trong bồn rửa máu me lênh láng.”Tao xin mày, con với chả cái. Có miệng để làm gì? Mày làm thằng bố mày hết cả hồn. Giải thích cho tao nghe mau.”

Lão đứng rửa tay trong bồn và cô có thể trông thấy máu dây vào quần ở vị trí quần cạ vào mép bồn, và nếu trán lão đụng vào gương (nó đang ở gần sát), máu sẽ dính lên người lão. Cô khẽ khọt khẹt vì nghẹn trong họng.

Lão tắt vòi nước, lấy chiếc khăn dính hai vệt máu bắn từ lỗ thoát nước để lau khô tay. Cô nhìn mà thiếu điều lăn ra bất tỉnh khi lão trét máu lên những khớp ngón tay to bè và đường chỉ tay của mình. Cô có thể thấy máu dính bên dưới móng tay lão như dấu vết cho thấy lão vừa phạm tội.

“Sao? Tao đang đợi đây.” Lão ném chiếc khăn máu me lên thanh treo.

Máu rất nhiều… tung tóe khắp nơi… vậy mà bố cô không nhìn thấy.

“Bố…” cô chưa biết nói tiếp điều gì, nhưng bố cô đã chặn họng.

“Mày làm tao lo đấy,” Al Marsh nói. “Tao nghĩ cứ cái đà này, mày sẽ chẳng trưởng thành nổi con ạ. Mày suốt ngày chơi bời lêu lổng bên ngoài, chẳng bao giờ lo việc nhà, nấu ăn cũng không biết, may vá cũng không. Nếu không mơ mộng hão huyền, chúi mũi vào cuốn sách thì bản mặt mày lại u ám như đưa đám. Mày bảo sao tao không lo.”

Tay lão chợt vung lên và đập thật đau vào mông cô. Cô hét lên, mắt dán chặt vào lão. Có chút máu li ti dính trên hàng lông mày rậm rạp phía bên phải của lão. Nếu mình cứ nhìn vào đó thật lâu, mình sẽ phát điên và những thứ thế này sẽ chẳng thành vấn đề nữa, cô thoáng nghĩ.

“Bảo sao tao không lo nhiều thế này,” lão nói và lại đánh mạnh hơn, lần này là vào phần thịt trên khuỷu tay. Cẳng tay cô nhói lên rồi như lịm đi. Sang ngày hôm sau, phần bị đánh bầm lại tím vàng.

“Rõ là nhiều ,” lão chưa thôi, tiếp tục thui vào bụng cô. Giây cuối, may sao lão không dồn lực vào cú đấm, Beverly suýt chút tí nữa ngạt thở. Cô quặp người, thở hổn hển, nước mắt bắt đầu ứa ra. Ông bố lẳng lặng nhìn cô. Lão thọc đôi tay máu me vào túi quần.

“Liệu mà trưởng thành đi, Beverly,” lão nói, lúc này giọng lão hiền từ và bao dung. “Bố nói đúng chứ?”

Cô gật đầu. Đầu cô ong lên. Cô khóc không thành tiếng. Nếu cô khóc to hơn – hay theo như cách bố cô gọi “lại làm mình làm mẩy như con nít” – khéo lão ta sẽ tiếp tục tấn cho cô một trận lên bờ xuống ruộng. Al Marsh sống cả đời ở Derry, nếu ai hỏi (hoặc thỉnh thoảng không hỏi) thì lão cũng bảo lão muốn được lìa đời ở đây - hy vọng là ở tuổi trăm mười. “Chẳng có lý do gì tôi không bách niên giai lão,” nhiều lúc lão bảo với Roger Aurlette, chỗ lão cắt tóc hằng tháng như vậy. “Tôi bất khả chiến bại mà.”

“Giờ thì giải thích đi,” lão nói, “và liệu hồn nhanh lên.”

“Có…” cô nuốt nước bọt, đau nhói vì họng quá khô khốc. “Có một con nhện. Con nhện rất to mà đen thui. Nó… nó bò từ lỗ thoát nước… nhưng con nghĩ nó bò xuống trở lại rồi.”

“Ồ,” Lão khẽ mỉm cười với cô, tựa như hài lòng với lời giải thích đó. “Ra là thế. Chết tiệt! Nếu con bảo với bố thì bố đã không đập con rồi. Con gái đứa nào chẳng sợ nhện nhỉ. Khốn thật! Sao con không nói bố biết?”

Lão cúi xuống lỗ thoát nước, cô phải cắn môi để ngăn mình bật lên lời cảnh báo… sâu bên trong cô vang lên một tiếng nói, một tiếng nói kinh khiếp mà cô dám chắc không thể nào thuộc về bản thân mình mà là của quỷ dữ: Cứ để nó bắt lão ta đi nếu nó muốn. Để nó kéo lão ta xuống đi. Cái thứ đầu trâu mặt ngựa.

Cô gạt tiếng nói ấy đi trong kinh hãi. Nếu để suy nghĩ ấy nán lại trong đầu dù chỉ một khắc, cô sẽ bị tống xuống địa ngục mất.

Lão nhìn vào lỗ thoát nước. Tay lão lép nhép tì vào đống máu trên thành bồn rửa. Beverly chật vật để không nôn ọe những thứ cô đã nuốt vào trong bụng. Vị trí bụng bị bố đấm quặn đau.

“Bố không thấy gì cả,” lão nói. “Mấy tòa nhà này cũ quá rồi, Beverly. Ống thoát nước to cỡ xa lộ ấy chứ, con biết không? Thời bố làm lao công ở trường trung học cũ, thỉnh thoảng trong bồn cầu lại có mấy con chuột chết đuối. Lũ con gái cứ gọi là hồn xiêu phách tán.” Lão cười thích thú khi nghĩ đến sự hoảng hốt của đám đàn bà. “Đa phần là khi nước sông Kenduskeag lên cao. Nhưng từ khi người ta lắp đặt hệ thống thoát nước mới, trong ống ít sinh vật sống hơn hẳn.”

Lão vòng một tay ôm cô.

“Thôi. Con vào giường ngủ đi, đừng nghĩ về nó nữa. Được chứ?”

Cô cảm nhận được tình thương mình dành cho bố. Bố không bao giờ đánh khi con không xứng ăn đòn, Beverly ạ, có một lần, lão đã nói với cô bé như vậy khi cô khóc thét rằng nhiều khi bố trừng phạt cô vô cớ. Và chắc hẳn điều đó đúng, vì bố vẫn dành tình thương cho cô. Thỉnh thoảng, bố sẽ ở bên cô cả ngày trời, chỉ cho cô làm hết thứ này đến thứ khác, kể chuyện trên trời dưới biển hoặc đi lòng vòng quanh thị trấn với cô, và mỗi lần bố hiền từ như thế, cô lại nghĩ trái tim cô sẽ đong đầy hạnh phúc đến chết mới thôi. Thương bố, cô tìm cách thấu hiểu bố phải thường xuyên uốn nắn cô vì đó là thiên chức được Chúa giao cho bố (bố nói thế). Al Marsh nói con gái cần được uốn nắn nhiều hơn con trai. Lão không có con trai, và cô mơ hồ cảm giác phần nào, đó cũng là lỗi của mình.

“Dạ,” cô đáp. “Con sẽ không nghĩ về nó nữa.”

Hai bố con bước vào phòng ngủ be bé của cô. Tay phải của cô đau dữ dội sau cú đánh ban nãy. Cô nhìn ra sau vai và trông thấy bồn tắm, gương, tường và sàn nhà bê bết máu. Đến cả khăn tắm bố dùng và vắt trên thanh treo cũng nhoe nhoét máu. Cô thầm tự hỏi: Làm thế nào mà mình dám vào trong đó tắm rửa bây giờ? Chúa ơi, con xin lỗi vì đã nghĩ xấu cho bố, Người có thể trừng phạt con nếu Người muốn, con đáng bị trừng phạt, Người cứ cho con vấp ngã, đau nhức hay cho con bị cúm như mùa đông năm ngoái khi con ho dữ đến độ ói mửa, nhưng con xin Người hãy làm cho đống máu ấy biến mất vào sáng mai, con xin Người. Con xin Người.

Như mọi hôm, bố đưa cô vào giường ngủ rồi đặt lên trán cô một nụ hôn. Đoạn lão đứng đó một lát trong tư thế vô cùng đặc trưng mà cô nghĩ đó là cách đứng của “riêng bố”, thậm chí là cách tồn tại của lão: hơi chúi người tới trước, hai tay thọc sâu quá cổ tay – vào túi, đôi mắt xanh ngời trên khuôn mặt chảy dài như giống chó săn chân ngắn đầy sầu não cái nhìn cô từ trên cao. Và những năm sau đó, dù chẳng bao giờ nghĩ về Derry nữa, khi vô tình nhìn thấy người đàn ông ngồi trên xe buýt hoặc đứng nơi góc đường với cà mèng trên tay, cô lại thấy nhân hình, ôi nhân hình của đàn ông, thỉnh thoảng khi ngày tàn, thỉnh thoảng bên kia Quảng trường Watertower vào buổi trưa một ngày thu trong veo lộng gió, nhân hình của đàn ông, quy tắc của đàn ông, hoài bão của đàn ông: hoặc nơi Tom, sao mà anh ta giống bố cô đến thế, nhất là khi gã cởi áo và khẽ khom lưng đứng trước gương nhà vệ sinh để cạo râu. Nhân hình của đấng làm trai.

“Thỉnh thoảng bố lo cho con lắm, Bev ạ” lão nói, nhưng trong giọng của lão lúc này không còn hiềm khích hay tức giận. Lão nhẹ nhàng chạm vào tóc cô, vuốt ve dọc trán.

Nhà vệ sinh đầy máu, bố ơi! Suýt chút nữa, cô đã hét lên. Bố không thấy à? Máu vương khắp nơi! Nó dây lên cả bóng đèn phía trên bồn rửa! Bố MÙ hay sao mà không thấy?

Nhưng cô chỉ ngậm bồ hòn khi lão bước ra ngoài và đóng cửa, để căn phòng cô chìm trong bóng tối. Cô vẫn thức, thao láo nhìn vào màn đêm, khi mẹ cô về nhà lúc 11 giờ 30 và rồi ti vi tắt ngúm. Cô nghe thấy tiếng bố mẹ vào phòng, nghe thấy tiếng giường kêu cót két đều đặn khi bố mẹ cô làm chuyện người lớn. Beverly từng tình cờ nghe Greta Bowie kể với Sally Mueller rằng “chuyện người lớn” này đau như cắt và con gái ngoan chẳng ai muốn làm vậy cả (“Và đến lúc cuối, tên con trai sẽ tè hết lên người mình,” Greta nói khiến Sally ré lên: “Eo ôi, tớ sẽ không để thằng con trai nào làm thế với mình đâu!”). Nếu việc này đau như Greta mô tả thì có lẽ mẹ của Bev chỉ im lặng giữ đau đớn ấy trong lòng. Cô từng nghe thấy mẹ khẽ hét lên một hai lần nhưng chẳng giống tiếng hét vì đau chút nào.

Tiếng cót két chậm chạp bỗng tăng tốc lên nhịp độ gần như chóng mặt, sau đó ngưng hắn. Có một khoảng im lặng, rồi tiếng nói chuyện rì rầm, theo sau là tiếng chân mẹ bước vào nhà vệ sinh. Beverly nín thở, đợi xem mẹ có hét lên hay không.

Nhưng chẳng có tiếng hét nào – chỉ có tiếng nước chảy ở bồn rửa mặt, tiếp đến là tiếng hất nước. Sau đó, nước rút khỏi bồn tạo nên tiếng ùng ục quen thuộc. Mẹ cô đang đánh răng. Vài phút sau, chiếc giường trong phòng bố mẹ lại cót két khi bà chui vào trong nệm.

Chừng năm phút sau, bố cô bắt đầu ngáy khò khò.

Một nỗi sợ hãi tối đen choáng ngợp trái tim cô và bóp nghẹt họng cô. Cô không dám quay người sang phải – tư thế nằm ưa thích của cô – vì cô sợ nhỡ may thấy thứ gì đó đang lom lom nhìn mình từ cửa sổ. Vậy nên cô chỉ nằm thẳng, người đờ ra như khúc gỗ nhìn trần nhà ép thiếc. Mãi lúc sau - vài phút hoặc vài giờ, cô cũng chẳng rõ – cô mới chìm vào giấc ngủ không sâu, đầy mộng mị.

3

Beverly luôn tỉnh giấc trước khi chuông báo thức trong phòng ngủ của bố mẹ vang lên. Phải nhanh chân nhanh tay, vì báo thức vừa kêu thì đã bị bố cô tắt ngóm. Cô nhanh lẹ thay đồ trong lúc bố dùng nhà vệ sinh. Cô dừng lại (hiện trở thành thói quen gần như hằng ngày) để nhìn ngực mình trong gương, xem đêm qua nó có nhú thêm chút nào không. Cô bắt đầu có ngực từ năm ngoái. Ban đầu nó hơi đau, nhưng giờ thì không còn đau nữa. Ngực cô vẫn rất nhỏ – chẳng to hơn quả táo mùa xuân là bao, thật là thế – nhưng có còn hơn không. Ngực phát triển rồi, cô sẽ hết là con nít mà sẽ trở thành thiếu nữ.

Cô mỉm cười với hình ảnh phản chiếu của mình rồi đưa tay ra sau tóc, đẩy tóc lên và ưỡn ngực về phía trước. Cô khúc khích nụ cười ngây thơ của một bé gái… nhưng rồi chợt nhớ đến cảnh máu phọt ra từ lỗ thoát nước trong nhà vệ sinh tối qua. Tiếng cười của cô tắt ngóm.

Nhìn cánh tay mình, cô trông thấy vết bầm đã nổi lên trong đêm qua - vết ố xấu xí giữa vai và khuỷu tay, vết ố hình những ngón tay biến màu.

Trong nhà vệ sinh vang lên tiếng bộp và tiếng xả nước.

Cô thoăn thoắt chuẩn bị, không muốn mới sáng sớm mà bố đã nổi xung với mình (thậm chí không muốn bố để ý đến sự hiện diện của mình). Beverly lấy quần jean và áo nỉ trường Trung học Derry ra mặc. Sau đó, không thể chần chừ được nữa, cô ra khỏi phòng để vào nhà vệ sinh. Trong phòng khách, bố cô đi ngang qua lúc quay lại phòng riêng để thay đồ. Bộ đồ ngủ màu xanh lạch phạch quanh người lão. Lão lầm bầm câu gì đó với cô nhưng cô nghe không ra.

“Dạ vâng,” cô vẫn đáp.

Cô đứng trước nhà vệ sinh lúc này đang đóng cửa, cố gắng lên dây cót tinh thần để bình tĩnh trước cảnh tượng có thể trông thấy bên trong. Chí ít giờ cũng là ban ngày, cô tự trấn an, và điều đó khiến cô dễ chịu phần nào. Không nhiều nhưng cũng được chút ít. Cô chộp lấy tay nắm cửa, xoay nó và bước vào trong.

4

Sáng hôm ấy là một buổi sáng bận rộn đối với Beverly. Cô chuẩn bị bữa sáng cho bố – nước cam, trứng bác, bánh mì nướng theo kiểu ưa thích của Al Marsh (bánh mì nóng nhưng không nướng tới). Lão ngồi ở bàn, dựng thành lũy sau tờ News và ăn sạch.

“Thịt xông khói đâu?”

“Hết rồi bố ạ. Nhà mình vừa ăn hết hôm qua.”

“Làm cho bố một cái hamburger đi.”

“Chỉ còn một ít thịt, c…”

Tờ báo sột soạt rồi hạ xuống. Ánh nhìn chòng chọc từ đôi mắt xanh nặng như chì.

“Con nói gì cơ?” Lão nhẹ nhàng hỏi.

“Con nói là con làm ngay, thưa bố.”

Lão nhìn cô thêm một lúc. Đoạn tờ báo lại dựng lên, Beverly vội vàng chạy đến tủ lạnh để lấy thịt.

Cô làm cho bố mình một cái hamburger, cố dàn chút thịt băm còn sót lại trong hộp đông sao cho miếng thịt nhìn to hơn. Vừa ăn, lão vừa đọc chuyên mục Thể thao, còn Beverly chuẩn bị bữa trưa cho lão- vài miếng bánh mì bánh mì kẹp phết bơ đậu phộng và mứt trái cây, miếng bánh to mà đêm qua mẹ đem về từ nhà hàng Nông trại Xanh, bình giữ nhiệt đựng cà phê nóng với rất nhiều đường.

“Nhắn với mẹ là bố bảo hôm nay dọn dẹp sạch sẽ nơi này đi,” lão nói và xách cà mèng lên. “Nhà cửa gì mà dơ dáy bẩn thỉu không thua gì chuồng lợn. Tiên sư! Bố mày đã dành cả ngày lau dọn bệnh viện rồi. Bố không muốn về mà thấy nhà dơ. Nhớ lời bố dặn đấy, Beverly.”

“Dạ vâng. Con sẽ nói với mẹ.”

Lão hôn lên má cô, ôm tạm biệt cô rồi đi làm. Lần nào cũng thế, Beverly lại bước đến cửa sổ phòng mình và nhìn bố bước xuống đường. Và lần nào cũng thế, cô âm thầm cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm hơn khi lão rẽ ở khúc quanh… thứ cảm xúc khiến cô dằn vặt khôn nguôi.

Rửa chén xong, cô mang cuốn sách mình đang đọc dở ra cầu thang sau nhà một lúc. Lars Theramenius, cậu bé với mái tóc vàng lấp lánh đầy xinh xắn chập chững bước qua từ tòa chung cư bên cạnh để khoe với Beverly chiếc xe tải Tonka mới và những vết trầy xước mới trên đầu gối của cậu. Beverly trầm trồ trước cả hai. Đoạn cô nghe thấy tiếng mẹ gọi mình.

Hai mẹ con cùng thay ga trải giường, lau nhà và chà bóng sàn bếp. Mẹ cô chà luôn cả sàn nhà vệ sinh, khiến Beverly thấy biết ơn vô hạn. Elfrida Marsh là một phụ nữ nhỏ con với mái tóc muối tiêu và vẻ mặt âu sầu. Những nếp nhăn trên gương mặt bà như muốn nói với thế gian rằng bà đã đi qua nhiều năm tháng và dự là sẽ đi tiếp một khoảng thời gian dài… Nó cũng là thông điệp cho biết bà đã trải qua nhiều đắng cay khổ sở, và bà chẳng định thay đổi tình hình mọi sự trong thời gian tới.

“Con lau cửa sổ phòng khách cho mẹ nhé, Bevvie?” Bà hỏi khi bước ra từ nhà bếp. Bà đã thay bộ đồng phục hầu bàn. “Mẹ phải lên Saint Joe’s ở Bangor để thăm cô Cheryl Tarrent. Đêm qua, cô ấy bị gãy chân.”

“Dạ, mẹ cứ để con,” Beverly nói. “Cô Tarrent gặp chuyện gì ạ? Cô ấy bị ngã hả mẹ?” Cheryl Tarrent là đồng nghiệp cùng chỗ làm với Elfrida.

“Cô ấy và lão chồng trời đánh thánh vật kia bị tông xe,” mẹ của Beverly rầu rĩ kể. “Hắn ta uống rượu say. Con liệu mà cảm tạ Chúa hằng đêm vì may mà bố con không uống rượu bia đấy, Bevvie ạ.”

“Dạ vâng,” Beverly đáp. Và cô bé làm thế thật.

“Kiểu này chắc cô ấy mất việc quá, còn hắn ta cứ lông ba lông bông. Giờ thì giọng của Elfrida thấp thoáng nỗi kinh hãi đầy đáng sợ. “Mẹ đoán chắc hai vợ chồng phải nhận trợ cấp của hạt rồi đây.”

Đó là viễn cảnh khủng khiếp nhất Elfrida Masih có thể nghĩ đến. Mất con hay phát hiện mình bị ung thư chẳng là đinh gỉ gì so với điều này. Con người có thể nghèo; có thể cả đời chỉ mòn mỏi “nhặt nhạnh từng đồng” – như cách bà hay nói. Nhưng tận cùng dưới đáy mọi thứ, thậm chí còn mạt hạng hơn cả cống rãnh, là lúc ta phải nhận trợ cấp của hạt và đủng đỉnh bòn rút mồ hôi nước mắt của người khác. Bà biết rồi đây, Cheryl Tarrent sẽ phải đối mặt với viễn cảnh này.

“Sau khi lau cửa sổ và đổ rác, con cứ đi chơi một lát nếu muốn. Tối nay bố con đi chơi bowling nên con không cần chuẩn bị bữa tối, nhưng mẹ muốn con về nhà trước khi trời tối nhé. Con biết lý do rồi đấy.”

“Dạ vâng.”

“Chúa ơi, con lớn nhanh quá,” Elfrida cảm thán. Bà nhìn phần nhú lên trên chiếc áo nỉ mà Beverly mặc. Ánh mắt bà yêu thương nhưng gay gắt. “Mẹ chẳng biết rồi đây mẹ sẽ làm gì ở nơi này khi con cưới chồng và có một nơi ở của riêng mình.”

“Con còn ở đây lâu lắm mẹ ơi,” Beverly nói và mỉm cười. Mẹ khẽ ôm cô, hôn lên khóe môi cô với đôi môi ấm nhưng khô.

“Mẹ thấy khó đây,” bà đáp. “Nhưng mẹ thương con rất nhiều, Bevvie!”

“Con cũng rất thương mẹ.”

“Con nhớ kiểm tra xem còn vết bẩn nào sót lại trên cửa kính sau khi làm xong không nhé,” bà dặn, cầm ví tiến đến cửa. “Nếu còn dơ, coi chừng bố con lại nổi trận lôi đình đấy.”

“Con sẽ cẩn thận ạ.” Khi mẹ mở cửa bước ra ngoài, Beverly cố ra vẻ bình thản hỏi. “Mẹ có thấy gì lạ trong nhà vệ sinh không?”

Elfrida quay lại nhìn cô, khẽ chau mày. “Lạ?”

“Dạ… Đêm qua con thấy nhện trong đó. Nó bò ra từ lỗ thoát nước. Bố không kể với mẹ ạ?”

“Đêm qua con lại làm bố con nổi cáu đấy à, Bevvie?”

“Dạ đâu có! Không hề! Con kể với bố có con nhện bò ra từ lỗ thoát nước làm con sợ, bố kể thỉnh thoảng người ta còn phát hiện chuột chết trong nhà vệ sinh trường trung học cũ. Nguyên nhân là do hệ thống thoát nước. Bố không kể với mẹ là con nhìn thấy nhện ạ?”

“Không.”

“Ồ. Thế thôi ạ. Con muốn hỏi mẹ có thấy không ấy mà.”

“Mẹ không thấy con nhện nào hết. Phải chi nhà mình có tiền để trải tấm lót mới cho sàn nhà vệ sinh.” Bà ngước nhìn bầu trời trong xanh, không một gợn mây. “Người ta nói nếu mình mà giết nhện, trời sẽ mưa đấy. Con không giết nó chứ hả?”

“Không ạ” Beverly đáp. “Con không giết.”

Mẹ lại nhìn cô, môi mím chặt đến độ gần như biến mất. “Có thật là đêm qua bố không nổi giận với con không?”

“Bevvie, bố có bao giờ đụng chạm vào con không?”

“Dạ?” Beverly nhìn mẹ, hoang mang cực độ. Chúa ơi, hôm nào bố chẳng đụng vào người cô. “Con không hiểu ý mẹ…”

“Thôi, bỏ qua đi,” Elfrida gọn lỏn.”Đừng quên đổ rác nhé. Và nếu cửa sổ lem nhem, con sẽ không cần bố con nổi cơn tam bành đâu.”

“Con sẽ

(bố có đụng chạm vào con không)

nhớ ạ.”

“Nhớ về nhà trước khi trời tối đấy.”

“Dạ vâng.”

(bố có)

(lo lắng nhiều không)

Elfrida rời nhà. Beverly lại bước vào phòng mình, nhìn theo mẹ rẽ ở khúc cua và biến mất khỏi tầm mắt như bố ban nãy. Khi đã chắc chắn mẹ đang trên đường đến trạm xe buýt, Beverly lấy xô nước, nước rửa kính Windex và giẻ lau từ dưới bồn rửa chén. Cô bước vào phòng khách và bắt đầu lau chùi cửa sổ. Dãy nhà im ắng quá. Mỗi lần sàn nhà cót két hay cửa đóng rầm, cô lại giật mình nhảy dựng lên. Khi nhà Bolton xả nước bồn cầu ở tầng trên, cô ré lên, to chẳng khác nào tiếng hét.

Cứ chốc chốc, cô lại nhìn về phía cửa nhà vệ sinh đang đóng.

Cuối cùng, cô bước xuống, mở cửa và nhìn vào trong. Sáng nay, mẹ cô đã lau dọn nhà vệ sinh, và hầu hết máu me đóng thành vũng dưới bồn rửa đã trôi hết. Máu trên thành bồn cũng vậy. Nhưng vẫn còn những vết màu nâu sẫm khô lại trong bồn, lấm tấm vệt bắn trên gương và giấy dán tường.

Beverly nhìn vào hình ảnh phản chiếu xanh xao của mình trong gương và chợt hãi hùng nhận ra máu dính trên gương khiến khuôn mặt cô trông như đang chảy máu. Cô lại tự hỏi: Mình biết làm gì đây? Mình phát điên rồi sao? Lẽ nào tất cả là do mình tưởng tượng?

Bất thình lình, lỗ thoát nước phát ra tiếng khục khác.

Beverly thét lên, đóng sập cửa, và đến năm phút sau, tay cô vẫn run lẩy bẩy đến độ suýt chút nữa đánh rơi chai Windex lúc lau cửa sổ phòng khách.

5

Khoảng 3 giờ chiều ngày hôm ấy, sau khi khóa cửa chung cư và cất chìa khóa phụ cẩn thận trong túi quần jean, Beverly Marsh rẽ vào hẻm Richard, con hẻm nhỏ nối đường Chính và đường Trung Tâm, thì tình cờ gặp Ben Hanscom, Eddie Kaspbrak và một cậu con trai tên Bradley Donovan đang chơi trò ném xu.

“Chào Bev!” Eddie lên tiếng. “Hôm qua xem phim xong, cậu có gặp ác mộng không?”

“Không,” Beverly đáp rồi ngồi xuống xem mọi người chơi. “Sao cậu biết chuyện đó?”

“Haystack kể tớ nghe,” Eddie đáp và bật ngón cái về phía Ben, Beverly chẳng hiểu vì nguyên nhân gì mà mặt cậu bạn đỏ bừng bừng.

“Phin dì tế?” Bradley hỏi, và giờ thì Beverly đã nhận ra cậu bạn này: đây là người xuống Vùng Đất Cằn cùng Bill Denbrough một tuần trước. Hai người có lớp trị liệu âm ngữ ở Bangor. Beverly đã loại hình ảnh cậu này ra khỏi tâm trí. Nếu được hỏi lý do thì có lẽ cô sẽ nói dường như cậu ta không quan trọng như Ben và Eddie – cậu ít thuộc về nơi ấy .

“Hai bộ phim về quái vật ấy mà,” cô trả lời rồi nhích người tới trước để ngồi giữa Ben và Eddie. “Tới lượt cậu ném hả?”

“Ừ.” Ben nói. Cậu quay sang nhìn cô thật nhanh rồi lại quay mặt đi.

“Ai đang thắng vậy?”

“Eddie,” Ben đáp. “Eddie chơi hay lắm.”

Cô nhìn Eddie chà chà móng tay hết sức nghiêm túc vào áo thun rồi khúc khích cười.

“Tớ chơi với được không?”

“Được chứ.” Eddie thản nhiên. “Cậu có đồng một xu không?” cô mò trong túi và lấy ra ba đồng một xu.

“Trời ơi, sao cậu dám ra đường mà thủ trong người có ba xu lẻ vậy?” Eddie hỏi. “Là tớ thì chắc tớ sợ chết khiếp.”

Ben và Bradley Donovan cười.

“Thì con gái gan dạ mà,” Beverly trang nghiêm nói, và phút chốc, cả đám cùng phá lên cười.

Bradley ném xu trước, sau đó lần lượt đến phiên Ben và Beverly. Eddie đang thắng nên sẽ đi lượt sau cùng. Cả bọn ném xu vào bức từng phía sau Nhà thuốc đường Trung Tâm. Thỉnh thoảng xu rơi thẳng xuống, thỉnh thoảng xu đập vào tường và bật ngược. Cuối mỗi lượt chơi, người nào ném xu gần tường nhất sẽ thu về bốn xu. Năm phút sau, Beverly gom được hai mươi tư xu. Cô chỉ thua đúng một lượt.

“Ló ăn dan!” Bradley tức tối nói rồi đứng dậy bỏ đi. Sự hài hước của cậu đã bay đi đâu mất, cậu bé nhìn Beverly với vẻ mặt vừa cáu tiết vừa nhục nhã. “Con gái không được phép…”

Ben đứng bật dậy. Nhìn cảnh Ben Hanscom đứng bật lên quả là mãn nhãn. “Rút lại câu đó ngay!”

Bradley trân trối nhìn Ben, miệng há mở. “Cái gì?”

“Rút lại ngay! Cậu ấy không ăn gian!”

Bradley hết nhìn Ben lại chuyển sang nhìn Eddie và Beverly, lúc này vẫn còn ngồi dưới đất. Đoạn cậu lại quay sang nhìn Ben. “Mày muốn môi mày xưng dù như người mày hông, đồ khốn?”

“Làm thử coi,” Ben đáp, và một nụ cười chợt nhếch lên trên mặt cậu. Nụ cười ấy ẩn chứa điều gì đó khiến Bradley ngạc nhiên, dè chừng lùi lại. Sau khi vướng vào mớ bòng bong với Henry Bowers và thắng lợi trở về không chỉ một mà hai lần, Ben Hanscom còn lâu mới thối chí trước cậu nhóc Bradley Donovan gầy nhẳng (với hai tay đầy mụn cóc và cái tật ngóng líu ngọng lô). Có lẽ đó là thứ cậu này trông thấy trong nụ cười ấy.

“Được nhắm, mấy người ỷ đông hiếp íu” Bradley nói và tiếp tục lùi lại. Giọng cậu ta run rẩy và mắt ầng ậng nước. “Cái nũ ăn dan!”

“Cậu rút lại ngay lời câu nói về Beverly,” Ben yêu cầu.

“Thôi kệ đi, Ben,” Beverly nói. Cô chia đống xu về phía Bradley. Cậu lấy lại phần mình đi. Tớ chơi không phải để gom xu đâu.”

Những giọt nước mắt bẽ bàng lã chã rơi khỏi hàng mi Bradley. Cậu hất tung mấy đồng xu khỏi tay Beverly rồi chạy hết con hẻm Richard về phía đường Trung Tâm. Cả đám đứng ngẩn ra nhìn cậu, miệng há hốc. Khi đã cách một quãng đủ xa, Bradley quay người lại hét to: “Mày chỉ nà con khốn mà bày đặc! Đồ ăn dan! Đồ ăn dan! Mẹ mày nà đồ gà móng đỏ !”

Beverly hít vào một hơi bàng hoàng. Ben vùng lên, đuổi theo Bradley nhưng bất thành, cậu vấp phải cái thùng rỗng rồi ngã vật ra đường. Bradley đã cao chạy xa bay, và Ben biết có cố đấm ăn xôi đuổi theo cũng chẳng ích gì. Thay vào đó, cậu quay về phía Beverly xem tình hình cô ra sao. Từ ngữ cậu ta phát ngôn đả kích cậu nhiều như đả kích cô.

Cô nhìn thấy sự quan tâm hiện lên trên mặt cậu. Cô mở miệng toan nói mình ổn, mọi người đừng lo, dăm ba lời rủa xả quàng xiên chẳng ăn thua gì… và rồi chợt câu hỏi kỳ cục của mẹ hiện lên trong đầu cô

(bố có đụng chạm vào con không)

Câu hỏi thật kỳ cục – đơn giản nhưng chẳng có lý chút nào, ẩn chứa hàm ý ám muội, tăm tối như cà phê cũ. Nhưng cô chẳng thốt lên được câu lời rủa xả quàng xiên chẳng ăn thua mà òa lên khóc nức nở.

Eddie nhìn cô bối rối, đoạn lôi ống thở từ trong túi quần ra và đặt vào miệng. Đoạn cậu cúi xuống, nhặt nhạnh những đồng xu vương vãi. Trong quá trình ấy, nét mặt cậu hết sức cẩn trọng và chăm chú.

Theo bản năng, Ben tiến lại gần cô, cậu toan ôm cô an ủi song khựng lại. Cô đáng yêu quá. Đứng trước vẻ đẹp ấy, cậu thấy mình bất lực.

“Vui lên nào,” cậu cất tiếng, dẫu thừa biết lời mình nói thật sáo rỗng, cậu chẳng nghĩ ra được câu nào hữu ích. Cậu khẽ chạm vào vai cô (cô đang đưa hai tay bưng mặt để che đôi mắt đẫm lệ và hai má đỏ bừng) đoạn rụt tay lại như thể người cô nóng rẫy. Cậu ngượng chín mặt, đến độ cậu tự thấy có lỗi. “Vui lên nào, Beverly.”

Cô hạ tay xuống và rít lên giận giữ: “Mẹ tớ không phải gà móng đỏ! Mẹ tớ… mẹ tớ làm phục vụ bàn .”

Theo sau câu nói của cô là sự im lặng. Ben nhìn cô chằm chằm, miệng há hốc. Eddie ngước lên nhìn cô từ con hẻm trải sỏi, hai tay đầy xu. Và cả ba bỗng phá lên cười nắc nẻ.

“Phục vụ bàn!” Eddie khúc khích. Cậu chỉ biết sơ sơ ý nghĩa của từ gà móng đỏ, nhưng cậu chợt thấy cái cách so sánh của cô mới khôi hài làm sao. “Té ra mẹ cậu làm nghề này!”

“Phải! Mẹ tớ làm nghề này!” Beverly thở không ra hơi, vừa khóc vừa cười.

Ben cười nghiêng ngả đến độ đứng không vững. Cậu ngồi phịch lên thùng rác. Thân người quá khổ khiến nắp thùng rác lún xuống cậu mất đà, loạng choạng ngã xuống con hẻm. Eddie chỉ trỏ vào cậu, rú lên cười ha hả. Beverly dựng cậu dậy.

Cánh cửa sổ phía trên ba đứa trẻ bật mở và một người phụ nữ hét lên, “Mấy đứa bay biến chỗ khác cho tao nhờ! Có người phải làm ca tối đây, chúng bay có biết không hả! Đi mau!

Chẳng nghĩ ngợi gì, cả ba nắm tay nhau, Beverly ở giữa, chạy về phía đường Trung Tâm. Nụ cười vẫn nở rộng trên môi đám trẻ.

6

Gom tiền lại, họ phát hiện mình có bốn mươi xu, đủ để mua hai phần kem đá xay trong tiệm thuốc. Ông Keene già rất khó tính, nhất quyết không để con nít dưới mười hai tuổi đứng ăn ở máy bán nước ngọt (ông cho rằng máy chơi bắn bi ở phòng sau có thể làm hư bọn chúng), cả ba mang hai phần kem đá xay khổng lồ đựng trong hộp giấy đến công viên Bassey và ngồi trên cỏ uống với nhau. Ben chọn vị cà phê, còn Eddie chọn vị dâu. Beverly ngồi giữa hai cậu bạn với cái ống hút trên tay, lần lượt thử từng vị như chú ong nếm mật hoa. Kể từ đêm qua, lúc lỗ thoát nước ùng ục phụt máu, đến tận lúc này cô mới cảm thấy lòng mình bình lại – tuy mệt mỏi và kiệt quệ cảm xúc, cô thấy mình ổn, và bình yên. Chí ít là tại thời điểm này.

“Tớ chẳng hiểu Bradley ăn trúng thứ gì nữa,” Eddie lên tiếng - trong giọng nói của cậu vụng về hàm ý xin lỗi. “Trước giờ, cậu ấy chưa lần nào xử sự như thế.”

“Cậu đã đứng về phía tớ,” Beverly nói, và đột ngột trao cho Ben một nụ hôn lên má. “Cảm ơn cậu.”

Ben lại đỏ mặt tía tai. “Cậu đâu có ăn gian,” cậu lầm bầm, bất thần hút hết một nửa phần đá xay cà phê trong ba lần nuốt ừng ực.

Đoạn cậu ợ một tiếng to như tiếng súng săn nã đạn.

“Còn cú nào không, bạn hiền?” Eddie hỏi, và Beverly ôm bụng cười ngặt nghẽo.

“Thôi nhé,” cô khúc khích. “Tớ cười đau cả bụng rồi. Xin cậu, thôi nhé.”

Ben mỉm cười. Tối đấy, trước khi chìm vào giấc ngủ, cậu cứ tua đi tua lại trong đầu khoảnh khắc cô trao cho cậu một nụ hôn lên má.

“Cậu có ổn thật không đấy?” Ben hỏi.

Cô gật đầu. “Không phải tại cậu ta đâu. Thậm chí còn không phải tại lời cậu ta nói. Mà nguyên nhân là chuyện xảy ra tối qua.” cô ngập ngừng, hết nhìn Ben đến Eddie rồi lại nhìn Ben. “Tớ… tớ phải kể với ai đó. Hoặc chỉ ra cho họ. Hoặc kiếm cách khác. Có lẽ ban nãy tớ khóc là vì tớ sợ tớ đang phát hâm mất.”

“Các cậu đang nói gì thế, mấy cậu hâm?” Một giọng nói vang lên.

Stanley Uris xuất hiện. Như mọi khi, trông cậu nhỏ thó, mảnh khảnh và gọn gàng đến khó tin - gọn gàng thái quá so với một đứa nhóc mới mười một tuổi. Áo thun trắng đóng thùng nghiêm chỉnh vào quần jean sạch sẽ, mái tóc chải gọn, mũi đôi giày Keds cao cổ sạch không tì vết, trông cậu như người trưởng thành nhỏ con nhất thế giới. Đoạn cậu nhoẻn cười, khiến ảo giác ấy vỡ vụn.

Chắc Bev sẽ không kể chuyện ban nãy định nói nữa, Eddie thầm nhủ, vì lúc Bradley dùng từ khiếm nhã với mẹ cô ấy, Stanley không có mặt ở đây.

Nhưng sau một thoáng ngập ngừng, rốt cuộc Beverly vẫn kể. Vì bằng cách nào đó, Stanley khác với Bradley. Ở cậu toát lên sự thân thuộc, còn Bradley thì không.

Stanley cũng ở trong nhóm bọn mình, Beverly nghĩ và tự hỏi tại sao suy nghĩ ấy khiến cánh tay cô nổi da gà. Dẫu mình kể ra, cũng chẳng được tích sự gì cho mọi người, cô nghĩ. Không giúp gì được họ, mà cũng chẳng giúp gì được cho mình.

Song đã quá trễ. Cô bắt đầu kể chuyện. Stan ngồi xuống với cả bọn, khuôn mặt bình lặng và nghiêm trang. Eddie mời cậu uống nốt phần kem đá xay vị dâu còn lại nhưng Stan chỉ lắc đầu, mắt nhìn khuôn mặt Beverly không rời. Cả ba cậu bé đều lặng thinh.

Cô kể với mọi người về những giọng nói mình nghe thấy. Về việc nhận ra giọng của Ronnie Grogan. Cô biết Ronnie đã chết, nhưng đó chính xác là giọng của cô bé. Cô kể cả bọn chuyển máu bắn tứ tung nhưng bố cô không thấy, cũng không hề hay biết, và sáng nay mẹ cô cũng không nhìn thấy.

Nói xong, cô lần lượt quan sát nét mặt của mọi người, lo sợ ánh mắt nghi ngờ hiện lên… nhưng không, cô không thấy chút hồ nghi nào. Mọi người kinh sợ, nhưng không hề nghi cô.

Lúc sau, Ben lên tiếng, “Đi xem thôi.”

7

Cả bọn đi vào bằng cửa sau, không phải chỉ vì chìa khóa của Bev chỉ mở được ổ khóa sau nhà mà còn vì cô giải thích bố cô sẽ cho cô về chầu trời nếu bà Bolton trông thấy cô vào nhà với ba cậu con trai trong khi bố mẹ đi vắng.

“Tại sao vậy?” Eddie ngây ngô hỏi.

“Ngốc như cậu còn lâu mới hiểu,” Stan nói. “Im đi cho mọi người nhờ.”

Eddie toan đốp chát lại, nhưng khi nhìn khuôn mặt trắng bệch, căng thẳng của Stan, cậu quyết định im lặng.

Cửa dẫn vào gian bếp tràn đầy nắng chiều và tĩnh lặng của mùa hè. Chén đĩa từ bữa sáng lấp lánh trên giá. Bốn người bọn họ đứng cạnh bàn bếp, nép vào nhau. Cửa đóng sầm ở căn hộ tầng trên khiến cả bọn nhảy dựng rồi cười để xua tan lo lắng.

“Nhà vệ sinh ở đâu?” Ben hỏi. Cậu chỉ thì thầm.

Trống ngực đập dồn, Beverly dẫn cả đám men theo hành lang hẹp, một bên là phòng của bố mẹ, ở cuối là cánh cửa nhà vệ sinh đóng kín. Cô mở cửa, nhanh chân bước vào trong rồi đậy nút chặn bồn rửa mặt lại. Đoạn cô lùi lại giữa Ben và Eddie. Máu khô thành những vệt nâu trên gương, bồn rửa và giấy dán tường. Cô đưa mắt nhìn vết máu, bởi bỗng dưng, cô thấy nhìn máu còn dễ hơn nhìn bọn họ.

Bằng một giọng thỏ thẻ đến độ bản thân cô còn không nhận ra, cô cất tiếng hỏi: “Các cậu có thấy không? Có bất cứ ai thấy không?”

Ben bước tới, và cô lại một lần nữa bất ngờ trước cử chỉ thanh thoát của cậu bạn to mập ấy. Cậu chạm lên một vết máu; rồi một vết nữa, rồi đưa tay đụng vào vết máu chảy dài trên gương. “Đây. Đây. Đây.” Giọng cậu bằng lặng và chắc nịch.

“Trời ơi! Nhìn như ai đó mổ heo trong này vậy, Stan thốt lên, có đôi chút kinh ngạc.

“Tất cả bắn ra từ lỗ thoát nước à?” Eddie hỏi. Cảnh tượng máu me này khiến người cậu nhộn nhạo. Hơi thở cậu nông hẳn. Cậu nắm chặt ống thở.

Beverly chật vật kìm không cho nước mắt tuôn rơi. Cô không muốn như thế, cô sợ nếu cô bật khóc, mọi người sẽ thấy cô đúng là đồ con gái mít ướt. Nhưng cô phải nắm chặt lấy tay nắm cửa bởi cảm xúc nhẹ nhõm như ngọn sóng đầy mạnh mẽ quét qua người cô. Phải đến tận phút giây ấy, cô mới nhận ra cô cứ đinh ninh mình đã phát rồ và nhìn thấy ảo giác hay sao đó.

“Thế mà bố mẹ cậu không thấy sao,” Ben kinh ngạc. Vừa chạm vào vết máu khô trên bồn rửa mặt thì cậu rụt tay lại, chùi vội vào vạt áo. “Kinh quá đi mất.”

“Kiểu này còn khuya tớ mới dám bén mảng vào đây,” Beverly nói. “Khỏi đánh răng rửa mặt hay… chuyện ai cũng biết là gì”.

“Chà, hay bọn mình cùng dọn sạch chỗ này đi?” Stanley chợt đề nghị.

Beverly nhìn cậu. “Dọn sạch ư?”

“Ừ. Chắc bọn mình không chà được vết máu trên giấy dán tường - nhìn chúng, nói sao nhỉ, tã lắm rồi, nhưng phần còn lại chắc là được. Cậu có giẻ không?”

“Nhà tớ để dưới bồn rửa chén,” Beverly nói. “Nhưng nếu bọn mình dùng, mẹ tớ sẽ nghi ngờ tại sao giẻ không cánh mà bay mất.”

“Tớ có năm mươi xu này,” Stan ôn tồn. Mắt cậu không rời vết máu bắn tung tóe trên nền nhà quanh bồn rửa mặt. “Bọn mình sẽ lau dọn sạch hết cỡ, sau đó đem giẻ xuống tiệm giặt ủi trả bằng xu trên đường đến đây. Bọn mình sẽ giặt, hong khô, và chúng sẽ trở về dưới bồn rửa nhà cậu trước khi bố mẹ cậu quay về.”

“Mẹ tớ nói không thể giặt sạch máu trên vải đâu,” Eddie phản đối. “Cô ấy sẽ phát hiện máu dính vào giỏ hay gì đó.”

Ben khúc khích cười khoái chí. “Giặt sạch máu hay không không thành vấn đề,” cậu nói. “ Họ có nhìn ra đâu mà lo.”

Không ai hỏi cậu “họ” ở đây là ai.

“Được rồi,” Beverly nói. “Vậy mình thử xem.”

8

Suốt nửa tiếng đồng hồ sau đó, cả bốn người hì hụi chà rửa như những chú yêu tinh chăm chỉ, và khi máu biến mất khỏi tường, gương và bồn rửa mặt, Beverly thấy lòng mình dần nhẹ bẫng. Ben và Eddie lau chùi bồn rửa, gương soi trong khi cô chà sàn nhà. Stan cẩn trọng lau giấy dán tường bằng một miếng giẻ gần như khô rang. Sau bao công sức, họ chà được gần hết. Ben kết thúc bằng cách tháo bóng đèn phía trên bồn rửa mặt rồi thay bằng một bóng mới lấy từ hộp trong tủ. Nhà cô có rất nhiều bóng đèn: mùa thu năm ngoái, bà Elfrida Marsh mua đủ số lượng bóng đèn dùng trong hai năm ở Derry Lions nhân dịp cửa hàng khuyến mãi hằng năm.

Họ lấy xô, nước tẩy Ajax của Elfrida và dùng thật nhiều nước nóng. Cả bọn phải thay nước thường xuyên vì không ai muốn nhúng tay vào nước khi nó đã chuyển sang màu hồng.

Cuối cùng, Stanley lùi lại, nhìn nhà vệ sinh với con mắt xét nét của một cậu bé gọn gàng, ngăn nắp vốn sẵn tính trời. Đoạn cậu nhận xét: “Tớ nghĩ tụi mình làm thế này là tốt nhất có thể rồi đấy.”

Vẫn còn vài vệt máu mờ trên giấy dán tường phía bên trái bồn rửa, phần giấy quá mỏng và rách nên Stanley không dám chà mạnh mà chỉ thấm nhẹ. Dẫu vậy, ngay cả ở đó, vết máu đã bị tước đi sức mạnh gớm ghiếc; nó giờ chỉ còn là vết ố nhỏ nhoi mà thôi.

“Cảm ơn các cậu,” Beverly nói với nhóm bạn. Đã lâu lắm rồi, cô mới cảm ơn một cách chân thành như thế. “Cảm ơn tất cả mọi người.”

“Đừng khách sáo,” Ben lẩm bẩm. Tất nhiên, một cậu lại ửng đỏ.

“Có gì đâu,” Eddie gật gù.

“Giờ đi lo đống giẻ nào,” Stanley nói. Khuôn mặt cậu nghiêm nghị, gần như đanh lại. Về sau, Beverly mới chợt hiểu có lẽ Stan là người duy nhất nhận ra tất cả bọn họ đã tiến thêm một bước đến với cuộc chạm trán không tưởng.

9

Họ đo một nắp nước giặt Tide của bà Marsh rồi đổ vào lọ mayonnaise rỗng. Bev tìm được một túi giấy để bỏ giẻ vào, sau đó cả bốn người cùng đến tiệm giặt ủi Kleen-Kloze ở góc đường Chính và đường Cony. Đi thêm hai dãy nhà nữa, họ có thể thấy Kênh Đào lấp lánh xanh trong dưới ánh mặt trời buổi chiều.

Tiệm Kleen-Kloze vắng hoe, chỉ có một phụ nữ mặc đồng phục y tá đang ngồi đợi quần áo của mình sấy xong. Bà liếc nhìn bốn đứa trẻ với ánh mắt nghi hoặc rồi cúi xuống tiếp tục đọc cuốn sách Peyton Place của mình.

“Dùng nước lạnh,” Ben khẽ nói. “Mẹ tớ bảo để giặt sạch máu thì phải dùng nước lạnh.”

Cả bọn tống đống giẻ vào máy giặt trong lúc Stan đổi hai đồng hai mươi lăm xu thành bốn đồng mười xu và hai đồng năm xu. Cậu trở lại, nhìn Bev đổ nước giặt Tide lên giẻ rồi đóng nắp máy giặt. Đoạn cậu nhét hai đồng mười xu vào lỗ và vặn nút khởi động.

Beverly đã góp gần hết xu mà mình thắng trong trò chơi để mua kem đá xay, may sao cô mót được bốn xu còn sót lại trong túi quần jean bên trái. Cô lấy ra, đưa cho Stan, nhưng cậu cau mày đáp, “Ôi trời, tớ đưa một cô nàng đến tiệm giặt là để hẹn hò, thế mà chưa gì cô ấy đã muốn tiền ai người nấy trả.”

Beverly khẽ cười. “Cậu chắc chưa?”

“Chắc chứ sao không,” Stan khô khan nói. “Thật ra bỏ bốn đồng tớ cũng đau từng khúc ruột đấy, Beverly, nhưng tớ chắc mà.”

Bốn người bọn họ đi đến ngồi ở hàng ghế nhựa xếp cạnh tường gạch của tiệm giặt là những lặng thinh, không nói gì. Chiếc máy giặt hiệu Maytag bình bịch, ùng ục với đống giẻ bên trong. Bọt xà phòng dính lên mặt kính dày của khung cửa tròn. Ban đầu, bọt xà phòng nhuốm đỏ. Chỉ nhìn thôi đã đủ khiến Bev cảm thấy ghê người, nhưng chẳng hiểu sao cô thấy thật khó quay mặt đi. Những bọt xà phòng đỏ ngầu ấy khơi gợi một sự hứng thú đáng kinh sợ. Người phụ nữ mặc đồng phục y tá liên tục ngước mắt từ cuốn sách để liếc nhìn bốn đứa trẻ. Ban nãy, bà lo sợ chúng sẽ ồn ào náo động; nhưng giờ sự im lặng của cả đám khiến bà cảm thấy thật bồn chồn. Máy sấy ngừng, bà liền lấy quần áo ra, gấp gọn, cất vào túi giặt bằng nhựa màu xanh rồi ra về. Trước lúc ra khỏi cửa, bà không quên nhìn bốn đứa lần cuối với ánh mắt bối rối.

Bà vừa đi khỏi thì Ben bất thần lên tiếng, gần như cộc cằn: “Không chỉ có cậu đâu.”

“Hả?” Beverly hỏi.

“Không chỉ có cậu đâu” Ben lặp lại. “Số là…”

Cậu bỏ lửng câu nói rồi nhìn Eddie và nhận được cái gật đầu. Cậu nhìn Stan, mặt cau có… nhưng rồi cậu ấy nhún vai và cũng gật đầu.

“Cậu đang nói về điều gì vậy?” Beverly hỏi. Cô quá mệt mỏi khi hôm nay mọi người liên tục nói những điều khó hiểu với cô. Cô chộp lấy tay Ben. “Nếu cậu biết gì thì hãy nói với tớ!”

“Cậu có muốn đứng ra nói không?” Ben hỏi Eddie.

Eddie lắc đầu. Cậu lấy ống thở ra khỏi túi và hít một hơi thật sâu.

Nói thật chậm, cẩn trọng lựa chọn ngôn từ, Ben kể với Beverly chuyện cậu tình cờ gặp Bill Denbrough và Eddie Kaspbrak trong Vùng Đất Cằn vào hôm kết thúc học kỳ – tức gần một tuần trước, dù nghe có vẻ thật khó tin. Cậu kể với cô chuyện cả bọn xây đập trong Vùng Đất Cằn vào ngày hôm sau ra sao. Cậu kể chuyện bức hình chụp cậu em trai quá cố của Bill xoay đầu nháy mắt. Cậu kể chuyện chính cậu gặp xác ướp bước đi trên Kênh Đào đóng băng giữa mùa đông lạnh giá với đống bóng bay dù ngược gió vẫn lơ lửng. Beverly lắng nghe, càng lúc càng hãi hùng. Cô có thể cảm nhận mắt mình đang trợn lên, tay chân lạnh ngắt.

Ben im lặng rồi quay sang nhìn Eddie. Eddie hít thêm một hơi từ ống thở và kể chuyện gặp gã hủi, nhưng trong khi Ben kể chậm rãi chừng nào thì Eddie mau miệng chừng ấy, câu từ cậu thốt lên vấp vào nhau, hối hả ra khỏi cửa miệng cho xong. Cậu kể đến cuối thì khẽ hít vào hổn hển, nhưng lần này, cậu không khóc.

“Cậu thì sao?” cô hỏi, mắt nhìn Stan Uris.

“Tớ…”

Chợt mọi người lặng thinh, như thể sắp sửa có một cơn bùng nổ bất thình lình xảy ra.

“Quần áo giặt xong rồi kìa,” Stan nói.

Cả bọn nhìn cậu đứng dậy – tướng người nhỏ thó, nhanh nhẹn và chỉn chu – mở nắp máy giặt. Cậu lôi đống giẻ dính vào thành chùm ra xem.

“Vẫn còn ố một chút,” cậu nhận xét, “nhưng không quá tệ. Có thể liên tưởng đến xốt nam việt quất.”

Cậu cho cả bọn xem, ai nấy đều nghiêm nghị gật gù, tựa hồ chúng là những tài liệu quan trọng. Beverly cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm như lúc nhà vệ sinh sạch sẽ trở lại. Cô có thể chịu đựng vết máu đã phai phần nào trên tờ giấy dán tường bong tróc, cô cũng có thể chịu đựng vết ố đo đỏ trên đống giẻ lau của mẹ. Điều quan trọng là bọn họ đã xoay xở xử lý nó. Có thể mọi chuyện không trơn tru từ đầu chí cuối, nhưng cô nhận ra như thế đã quá đủ để lòng cô bình yên, và trời ơi, Beverly – cô con gái của Al Marsh– chẳng đòi hỏi gì hơn thế.

Stan ném đống giẻ vào máy sấy hình trụ và nhét vào hai đồng năm xu. Máy sấy bắt đầu quay, Stan quay lại chỗ ngồi giữa Eddie và Ben.

Trong một thoáng, cả bốn người im lặng ngồi đó, nhìn đống giẻ quay tròn rồi rơi xuống, quay tròn rồi lại rơi xuống. Tiếng máy sấy chạy bằng ga ầm ì dễ chịu, gần như buồn ngủ. Một người phụ nữ bước qua cánh cửa để ngỏ, đẩy xe chở hàng bách hóa. Bà liếc nhìn bọn trẻ rồi đi tiếp.

“Tớ có trông thấy,” Stan chợt lên tiếng. “Tớ không muốn nói về nó vì tớ muốn nghĩ đó chỉ là giấc mơ. Hoặc có khi đó chỉ là lên cơn, như Stavier gặp phải ấy. Các cậu có biết cậu ấy không?”

Ben và Bev lắc đầu. Eddie giải thích, “Cậu ấy bị động kinh.”

“Ừ, phải. Nó tệ đến mức đó đấy. Thà tớ nghĩ mình bị lên cơn còn hơn tận mắt trông thấy thứ như thế…”

“Cậu thấy gì vậy?” Bev hỏi, nhưng cô không chắc mình có thật lòng muốn biết hay không. Chuyện này khác một trời một vực với việc nghe chuyện ma lúc đốt lửa trại và nhấm nháp bánh mì kẹp xúc xích nướng cùng kẹo dẻo hơ lửa cho đến lúc đen thui và rúm ró. Lúc này đây, họ ngồi trong cửa tiệm giặt ủi ngột ngạt, cô có thể nhìn thấy bụi đóng thành tảng dày dưới máy giặt (bố cô gọi chúng là phân ma), cô có thể trông thấy bụi nhảy múa trong ánh nắng lọt qua từ khung kính cứa sổ dơ bẩn của cửa tiệm, cô có thể trông thấy đống tạp chí cũ rách bìa. Tất cả đều là những thứ hết sức bình thường. Những thứ bình thường, đáng yêu và tẻ nhạt. Song cô thấy sợ. Sợ hãi vô cùng. Vì cô cảm nhận những lời họ kể và những con quái vật kia không phải là bịa đặt. Xác ướp Ben gặp, gã hủi Eddie đụng độ… một trong hai bọn chúng, hoặc cả hai sẽ xuất hiện khi mặt trời khuất bóng. Hoặc em trai của Bill Denbrough, trong bộ dạng cụt một tay và hung hãn sẽ đi lòng vòng dưới cống thoát nước đen ngòm của thị trấn với đôi mắt là hai đồng xu bạc.

Thấy Stan không trả lời ngay, cô hỏi lại lần nữa: “Cậu thấy gì?”

Stan ngần ngừ lên tiếng: “Lúc ấy tớ đang ở trong công viên chỗ Bể chứa nước Standpipe…”

“Ôi Chúa ơi, tớ không thích chỗ đó,” Eddie rền rĩ nói. “Ở Derry mà có nhà ma thì đích thị là nơi ấy.”

“Sao?” Stan lừ giọng. “Cậu nói gì?”

“Cậu không biết nơi đó hả?” Eddie hỏi. “Từ trước lúc những đứa trẻ bị giết, mẹ tớ đã không cho tớ bén mảng đến đó rồi. Mẹ tớ… mẹ tớ hay lo xa lắm.” Cậu ngượng nghịu và siết chặt ống thở trong lòng. “Thì các cậu thấy đó, có vài đứa trẻ bị chết đuối ở đó mà. Ba hay bốn gì đấy. Chúng… Stan? Stan, cậu sao vậy?”

Mặt Stan Uris sa sầm xám ngoét. Miệng cậu mấp máy không thành lời. Mắt cậu trợn ngược đến độ cả đám chỉ trông thấy rìa dưới của mống mắt. Tay cậu yếu ớt đưa lên cao rồi rơi xuống đùi.

Eddie làm điều duy nhất cậu có thể nghĩ tới. Cậu nhoài người tới trước, vòng cánh tay nhỏ bé của mình quanh đôi vai xụi lơ của Stan, nhét ống thở vào miệng cậu bạn rồi ấn một hơi thật mạnh.

Stan ho khục khặc, sặc và nôn ọe. Cậu ngồi thẳng lưng, đôi mắt có thần sắc trở lại. Cậu bụm miệng ho húng hắng. Mãi sau, cậu thở ra một hơi thật dài rồi tựa vào ghế.

“Ban nãy là gì thế?” Cậu khó nhọc hỏi.

“Thuốc hen suyễn của tớ,” Eddie ngại ngần nói.

“Chúa ơi, nó có vị như phân chó ấy.”

Cả bọn cùng phá lên cười, nhưng nụ cười phảng phất nỗi âu lo. Mọi người nhìn Stan đầy lo lắng. Giờ đôi má cậu đã hơi ửng hồng.

“Tớ tự biết vị nó kinh rồi,” Eddie tự hào nói.

“Ừ, nhưng nó chuẩn chỉnh nhỉ?” Stan nói, và cả bọn lại cười, dù không ai trong số họ (kể cả Stan) biết nghĩa của từ “chuẩn chỉnh” là gì.

Nụ cười tắt trên môi Stan, cậu nhìn Eddie trầm ngâm. “Cậu biết gì về Standpipe thì kể tớ nghe với,” cậu lên tiếng.

Eddie bắt đầu kể, nhưng cả Ben và Beverly cũng góp phần. Bể chứa nước Derry Standpipe tọa lạc trên đường Kansas, cách trung tâm thị trấn chừng hai cây số rưỡi về phía tây, gần rìa phía nam của Vùng Đất Cằn. Cuối thế kỷ trước, nó từng cung cấp nước cho toàn bộ Derry, chứa 6.600 mét khối nước. Vọng các hình tròn ngoài trời bên dưới mái Standpipe cho ta quan sát toàn cảnh thị trấn và vùng quê xung quanh, vậy nên nơi này thu hút rất nhiều khách tham quan cho đến năm 1930. Cứ mỗi sáng thứ Bảy hoặc Chủ nhật đẹp trời, các gia đình hay đến công viên Tưởng niệm, trèo 160 bậc thang trong Standpipe để đến vọng các chiêm ngưỡng cảnh quan. Thường thì họ sẽ ăn trưa trong lúc vãn cảnh.

Cầu thang nằm giữa lớp ngoài được ốp ván trắng đến chói mắt của Standpipe, và ống bên trong, vốn là một ống trụ bằng thép không gỉ khổng lồ cao ba mươi hai mét. Cầu thang đi theo đường xoắc ốc dẫn lên trên cùng.

Ngay bên dưới vọng gác là một cánh cửa gỗ dày nằm ở góc trong Standpipe dẫn vào bệ đứng phía trên mặt nước - một bể nước tối đen, được chiếu sáng bằng đèn sợi đốt gắn trên chuôi thiếc phản chiếu. Nước sâu đúng ba mươi mét khi nguồn cung đầy.

“Nguồn nước từ đâu vậy?” Ben hỏi.

Bev, Eddie và Stan đưa mắt nhìn nhau. Không ai biết câu trả lời.

“Chà, thế chuyện những đứa trẻ bị chết đuối thì sao?

Riêng chuyện này thì họ rành hơn một chút. Ngày ấy (Ben trang trọng dùng từ “ngày xửa ngày xưa” khi cậu dành phần kể câu chuyện), cánh cửa dẫn vào bệ đứng phía trên mặt nước lúc nào cũng để ngỏ. Một ngày nọ, một đám trẻ… hoặc có thể chỉ một đứa trẻ… hoặc ba đứa… phát hiện cửa ở dưới mặt đất không khóa. Chúng thách nhau lên trên. Tuy nhiên, chúng lại đi nhầm lên bệ đứng phía bể nước chứ không phải lối dẫn lên vọng gác. Trong bóng tối, chúng hụt chân rơi xuống trước khi biết mình đang ở đâu.

“Tớ nghe Vic Crumly kể, cậu ấy bảo bố cậu ấy kể như vậy,” Beverly nói, “nên chắc là chuyện có thật đó. Vic nói bố cậu ấy bảo một khi rơi xuống nước là cầm chắc số chết vì không có gì để níu cả. Bệ đứng quá xa tầm với. Cậu ấy nói bọn trẻ cứ vùng vẫy trong nước, la hét kêu cứu cả đêm. Nhưng không một ai nghe thấy, và chúng mệt dần, mệt dần cho đến khi…”

Cô buông lửng câu nói, để câu chuyện kinh dị từ từ ngấm dần. Cô có thể thấy trong đầu cảnh những cậu bé quẫy đạp xung quanh như những chú cún trong nước. Chúng hết chìm xuống lại ngoi lên, sặc sụa. Chúng vùng vẫy, hoảng loạn bơi không nổi. Giày lõm bõm nước. Tay quơ quang trong tuyệt vọng, tìm bất cứ thứ gì để bấu víu trên mặt tường bằng sắt trơn láng. Cô có thể cảm nhận trong miệng vị nước mà chúng đã nuốt vào bụng. Cô có thể nghe tiếng la hét của chúng vang vọng. Bao lâu nhỉ? Mười lăm phút? Nửa tiếng? Bao lâu thì những tiếng hét ấy tắt hẳn, bọn trẻ nổi lềnh phềnh, mặt úp xuống như những con cá kỳ lạ mà nhân viên sẽ phát hiện vào sáng hôm sau?

“Chúa ơi,” Stan khô khốc thốt lên.

“Tớ nghe nói còn có một phụ nữ mất con nữa kìa,” Eddie chợt lên tiếng. “Đó là lúc họ đóng cửa nơi ấy mãi mãi. Chí ít thì đó là những gì tớ nghe kể. Theo như tớ biết, ngày xưa họ cho phép mọi người đi lên trên bệ đứng. Nhưng một lần nọ, có một phụ nữ dắt theo con. Tớ không biết đứa trẻ ấy bao nhiêu tuổi. Ngay bên dưới bệ đứng là nước. Người phụ nữ đi đến chỗ rào chắn, cô ấy bế đứa con của mình, nhưng không rõ cô ấy đánh rơi con hay đứa trẻ ngọ nguậy. Tớ nghe kể có một người đàn ông đã tìm cách cứu đứa bé. Ai cũng có máu anh hùng mà. Anh này nhảy xuống nước nhưng đứa trẻ đã chìm rồi. Có thể đứa trẻ mặc áo khoác hay gì đó. Quần áo mà ướt thì chúng kéo mình xuống ghê lắm.”

Bỗng Eddie thọc tay vào túi và lấy ra một lọ thủy tinh màu nâu be bé. Cậu lấy hai viên thuốc màu trắng rồi cho thẳng vào miệng, nuốt khan.

“Thuốc gì thế?” Beverly hỏi.

“Aspirin. Tớ bị đau đầu.” Cậu nhìn cô với ánh mắt phòng thủ nhưng Beverly lặng thinh không nói gì.

Ben kể nốt câu chuyện. Sau tai nạn xảy ra với đứa bé (cậu bảo cậu nghe kể đứa bé ấy là một bé gái chừng ba tuổi), Hội đồng thị trấn bỏ phiếu khóa bể chứa nước lại, cả lối đi lên lẫn lối đi xuống, dừng cho tham quan, ăn uống ở vọng gác. Kể từ đó, nó bị khóa cho đến tận bây giờ. Ồ, nhân viên trực đến và đi, đội bảo dưỡng thỉnh thoảng cũng tới bảo trì, và họa hoằn lắm cũng có các chuyến tham quan hướng dẫn theo mùa. Những ai hứng thú có thể đi cùng cô nhân viên ở tổ chức Bảo tồn Lịch sử lên bậc thang xoắn ốc dẫn tới vọng gác trên cùng, rồi đứng đó ồ à trầm trồ trước khung cảnh mãn nhãn, chụp vài kiểu ảnh khoe với bạn bè. Nhưng cánh cửa dẫn vào bể nước bên trong luôn được khóa kín.

“Nó vẫn chứa nước à?” Stan hỏi.

“Tớ đoán vậy,” Ben đáp. “Tớ từng thấy xe cứu hỏa lấy nước ở đó trong mùa cháy rừng. Họ cắm vòi vào ống ở dưới đáy.”

Stanley lại đưa mắt nhìn máy sấy, quan sát đóng giẻ đang quay tròn. Đống giẻ đã tơi ra, một số bay như dù lượn.

“Cậu đã thấy gì ở đó?” Bev dịu dàng hỏi.

Suốt một lúc, mọi người tưởng cậu sẽ không trả lời. Đoạn cậu hít thật sâu, run rẩy cất tiếng nói về một điều mà mới đầu cả đám thấy chẳng liên quan gì đến câu hỏi. “Người ta đặt tên công viên là Tưởng niệm nhân sự kiện Maine trở thành tiểu bang thứ 23 gia nhập Liên bang Mỹ sau nội chiến. Ngày trước chúng được gọi là Derry Blues. Ngày trước từng có một bức tượng, nhưng nó bị đổ sập trong trận bão vào thập niên 40. Họ không có đủ tiền sửa chữa tượng nên họ thay thế nó bằng một đài nước cho chim. Một đài nước thật lớn bằng đá cho chim.”

Cả bọn quay sang nhìn cậu. Stan nuốt nước bọt đánh ực trong họng.

“Thì các cậu biết đó, tớ hay quan sát chim mà. Tớ có một cuốn sách hình các loại chim, một ống nhòm Zeiss-Ikon và đủ thứ.” Cậu nhìn Eddie. “Cậu còn aspirin không?”

Eddie đưa cho bạn lọ thuốc của mình. Stan lấy ra hai viên, đoạn ngần ngừ rồi lấy thêm viên nữa. Câu trả hộp thuốc lại rồi lần lượt uống từng viên, mặt nhăn lại. Đoạn cậu bắt đầu kể câu chuyện của mình.

10

Cuộc đụng độ của Stan xảy ra vào một đêm mưa gió tháng Tư, tức khoảng hai tháng trước. Cậu mặc áo mưa, cất cuốn sách về chim và ống nhòm vào túi chống nước có dây rút rồi đi đến công viên Tưởng niệm. Cậu và bố hay đến đó cùng nhau, nhưng tối hôm ấy bố cậu phải “làm thêm giờ” và còn gọi điện vào giờ ăn tối để nói chuyện với Stan.

Ông kể với Stan một vị khách hàng ở công ty ông làm việc, vốn cũng là người quan sát chim, đã trông thấy một con chim mà ông cho rằng chính là chim giáo chủ đực – Fringillidae Richmondena - uống ở đài nước trong công viên Tưởng niệm. Chúng thích ăn, uống và tắm ngay khoảng thời gian hoàng hôn. Ở những vùng cách xa Massachusetts về phía bắc thế này, họa hoằn lắm mới gặp được chim giáo chủ. Bố hỏi liệu Stan có muốn đến công viên xem thu thập được hay không. Thời tiết hơi xấu nhưng…

Stan bèn đồng ý. Mẹ bắt cậu hứa phải trùm mũ áo mưa đàng hoàng, nhưng Stan còn lâu mới thế. Cậu rất kén cá chọn canh. Có hét ra lửa cũng không thể bắt cậu mang ủng hoặc mang quần chuyên dụng vào mùa đông.

Cậu đi bộ hai cây số rưỡi đến công viên Tưởng niệm dưới cơn mưa bụi đến độ còn không lất phất mà giống màn sương giăng. Không khí vừa tĩnh lặng vừa có gì đó thật kỳ thú. Dù dưới những lùm cây và bụi cỏ vẫn có những đóng tuyết đang tan dần (trong mắt Stan, trông chúng chẳng khác nào vỏ gối bẩn bị lột ra), trong không khí vẫn có mùi của sự sống mới. Nhìn những cành cây du và cây phong dưới bầu trời trắng đục, Stan có cảm tưởng bóng cây dày đến lạ kỳ. Trong một, hai tuần tới, cây sẽ tưng bừng đâm chồi nảy lộc, cho ta thấy những lá non mơn mởn xanh trong.

Tối nay, không khí như thoảng màu xanh biếc, cậu nghĩ và khẽ mỉm cười.

Cậu rảo bước thật nhanh vì chỉ chưa tới một tiếng nữa, ánh sáng sẽ tắt hẳn. Cậu khó tính về việc quan sát chim không kém gì khó tính về thói quen ăn mặc, học tập, và trừ khi có đủ ánh sáng để cậu hoàn toàn chắc chắn, cậu sẽ không cho phép bản thân mình thu thập con chim giáo chủ ngay cả khi trong thâm tâm, cậu biết cậu đã tận mắt trông thấy nó.

Cậu băng ngang qua công viên Tưởng niệm. Bể chứa nước Standpipe màu trắng sừng sững nằm bên trái. Stan gần như chẳng buồn liếc nhìn nó. Cậu không quan tâm Standpipe có cái gì bên trong.

Công viên Tưởng niệm có hình chữ nhật, thoai thoải dốc xuống triền đồi. Vào thời điểm hiện tại, cỏ đang trắng xóa và chết hết, nhưng vào mùa hè, cỏ được cắt tỉa gọn gàng và có những vòng tròn trồng đầy hoa. Tiếc một điểm là nơi này không có thiết bị vui chơi. Địa điểm này được xem là công viên của người lớn.

Ở phía xa xa, không gian trải rộng trước khi đổ xuống đường Kansas và khu Vùng Đất Cằn phía xa hơn. Đài nước cho chim mà bố cậu nhắc đến nằm ở khu đất bằng phẳng này. Có một đĩa bằng đá nông gắn trên bệ đá quá khổ so với chức năng khiêm nhường mà nó đảm nhận. Bố của Stan từng kể với cậu, trước khi hết tiền, người ta dự tính một lần nữa đặt bức tượng người lính lên trên.

“Con thích đài nước cho chim hơn, bố ạ,” Stan nhận xét.

Ông Uris xoa đầu. “Bố cũng vậy,” ông nói. “Phương châm của bố là tắm nhiều hơn, đạn ít lại con ạ.”

Ở trên cùng của bệ đá khắc một câu mà Stanley đọc không hiểu nghĩa; những chữ La-tinh duy nhất cậu hiểu là phân loại các loài chim trong sách. Dòng chữ ghi:

Apparebat eidolon senex

- Pliny

Stan ngồi xuống một băng ghế dài, lấy cuốn sách về các loài chim ra khỏi bọc, lật đến hình chim giáo chủ thêm lần nữa, đọc lại và cổ nhớ các chi tiết dễ nhận diện. Rất khó nhầm lẫn chim giáo chủ với loài khác – bởi nó đỏ như xe cứu hỏa, không quá to – nhưng Stan là một người quy củ và theo thói quen, cái gì quen thuộc sẽ khiến cậu thấy thoải mái, củng cố cảm giác bình an và vị thế của cậu trên đời. Vì thế cậu săm soi nhìn thật kỹ bức hình suốt ba phút mới chịu gấp sách lại (chưa gì độ ẩm trong không khí đã khiến mép trang giấy quăn hết cả) rồi cất vào trong bọc. Cậu lấy ống nhòm đưa lên mắt. Không cần phải chỉnh tiêu cự, vì lần trước sử dụng ống nhòm, cậu cũng ngồi ngay tại băng ghế này và quan sát đài nước cho chim kia.

Cậu được cái tỉ mỉ và kiên nhẫn không ai bằng. Cậu không ngọ nguậy. Cậu không đứng dậy, đi tới đi lui hoặc quay ống nhòm hết bên này đến bên kia để xem còn thứ gì chiêm ngưỡng hay không. Cậu ngồi im như tượng, ống nhòm chĩa đến đài nước, mặc sương mù đọng thành giọt trên áo mưa vàng.

Cậu không thấy chán. Cậu đang quan sát một khu vực tập trung rất nhiều chim chóc. Bốn chú chim sẻ nâu đậu xuống cùng một lúc, nhấp mỏ vào nước, rảy nước lên vai và lên lưng. Đoạn một chú chim giẻ cùi lam sà xuống như viên cảnh sát giải tán đám lông bông đang tụ tập. Quan sát bằng ống nhòm của Stan, chú giả cùi lam to đùng, khiến tiếng kêu chiếm chiếp của chú ta không cân xứng chút nào (sau khi nhìn qua ống nhòm một hồi, dần dà ta sẽ thấy những con chim phóng to không còn kỳ cục nữa mà trở nên hoàn toàn ăn khớp). Đàn chim sẻ bay đi. Chú chim giẻ cùi lam chỉ còn một mình, đi đi lại lại, tắm táp chán chê rồi cũng bay mất. Đàn chim sẻ quay trở lại nhưng rồi cũng bay đi khi một đôi chim cổ đỏ sà xuống tắm tám và (có lẽ) luận đàm về những vấn đề quan trọng trong mắt hai sinh vật với bộ xương rồng này. Lúc Stan ngập ngừng nêu ý kiến về việc chim có thể trò chuyện, bố cậu đã phá lên cười, cậu nghĩ chắc bố cậu nói đúng khi bảo chim không đủ thông minh để nói chuyện – hộp sọ của chúng quá bé - nhưng lạy Chúa, trông chúng chẳng khác nào đang nói chuyện cả. Thêm một chú chim nhập cuộc. Nó có màu đỏ. Stan vội chỉnh tiêu cự ống nhòm. Liệu có phải…? Không. Nó là một chú sơn ca màu đỏ, con chim rất đẹp nhưng không phải chim giáo chủ mà cậu đang tìm kiếm. Lại thêm một chú chim gõ kiến xuất hiện, vốn là khách quen ở đài nước của công viên Tưởng niệm. Stan nhận ra nó do cánh bên phải tả tơi. Như mọi lần, cậu thử ngẫm xem các kịch bản có thể xảy ra là gì – nguyên nhân khả dĩ nhất là chú ta đã có cú chạm trán với con mèo nào đó. Những chú chim khác đến rồi đi. Stan trông thấy một chú chim sáo đá, vụng về và xấu xí như toa tàu chở hàng biết bay, một chú sơn ca và thêm một chú chim gõ kiến. Và kìa, cậu được chiêm ngưỡng một chú chim mới – không phải chim giáo chủ nhưng là con chim chìa vôi to lớn và có vẻ ngốc nghếch dưới ống kính. Cậu thả ống nhòm xuống ngực rồi lấy cuốn sách chim ra khỏi bọc, hy vọng con chim chìa vôi sẽ không bay mất trước khi cậu xác nhận chính xác. Chí ít cậu cũng kiếm được thứ gì đó để về khoe với bố. Chưa kể đã đến lúc phải về rồi. Ánh sáng đang dần tắt. Cậu cảm thấy vừa lạnh vừa ẩm ướt. Cậu kiểm tra cuốn sách và nhìn qua ống nhòm. Chú chim vẫn ở đó, không tắm táp mà chỉ ngẩn ra đậu bên thành đài nước. Cậu gần như chắc chắn đây là một chú chìa vôi. Dù không thấy đặc điểm gì rõ rệt - ở khoảng cách này, cậu không phân biệt được - và trong lúc ánh sáng nhập nhoạng, cậu khó lòng khẳng định một trăm phần trăm, nhưng cậu có thể có đủ thời gian và ánh sáng để kiểm tra thêm lần nữa. Cậu lại nhìn bức hình trong sách, tập trung phân tích mà trán nhăn tít lại, đoạn cậu nhấc ống nhòm lên. Cậu vừa mới xoay ống nhòm đến đài nước thì một tiếng rầm khô khốc vang lên khiến chú chim chìa vôi – trong trường hợp nó đúng là chim chìa vôi – vỗ cánh bay. Stan cố gắng dõi theo, biết mình khó có dịp bắt gặp nó lần nữa. Để mất dấu chú chim, cậu rít lên qua kẽ răng. Chậc, nếu nó đã bay đến một lần, nó cũng có thể sẽ quay trở lại. Với cả, nó chỉ là một chú chìa vôi thôi

(chắc là chìa vôi)

chứ có phải chim ưng vàng hay chim sơn ca lớn đâu mà tiếc.

Stan đậy ống nhòm lại và cất quyển sách hình các loài chim đi. Đoạn cậu đứng dậy, nhìn quanh để xem mình có thể xác định nguồn cơn của tiếng động bất thình lình ban nãy là gì không. Nó không giống tiếng súng hay tiếng xe, mà giống tiếng cửa bật tung trong những bộ phim đáng sợ về lâu đài và hầm ngục hơn… kèm theo hiệu ứng tiếng vọng nghe rõ là giả tạo.

Nhưng cậu không thấy gì.

Cậu đứng dậy và đi về phía con dốc thoai thoải dẫn xuống đường Kansas. Lúc này, bể chứa nước Standpipe nằm phía bên tay phải, một cây cột sừng sững màu trắng, mờ mờ ảo ảo trong sương và trong bóng tối đang dần buông. Dường như… nó đang lơ lửng trong không trung.

Suy nghĩ ấy thật kỳ quặc. Cậu đoán chắc suy nghĩ ấy hiện ra trong đầu cậu – thì suy cho cùng, suy nghĩ còn có thể đến từ đâu kia chứ? –nhưng dường như nó chẳng phải suy nghĩ của cậu chút nào.

Stan nhìn Standpipe kỹ hơn, rồi trong vvô thức, cậu rẽ về hướng bể chứa. Cửa sổ rải rác quanh tòa nhà theo đường xoắn ốc, gợi cho Stan nhớ đến cột trắng đỏ theo đường xoắn ốc trước tiệm cắt tóc của ông Aurlette nơi cậu và bố hay cắt tóc. Mái lợp trắng nhởn thò ra từ những khung cửa tối thui trông như lông mày. Làm thế nào mà họ dựng được chúng nhỉ , Stan thầm nhủ – tuy không đem lòng hứng thú nhiều như Ben Hanscom mà chỉ có đôi chút tò mò – đúng lúc ấy, cậu trông thấy một khoảng tối đen ở ngay chân Standpipe – một hình chữ nhật dưới tòa nhà hình tròn.

Cậu dừng chân, chau mày, thầm nghĩ cửa sổ mà ở vị trí này thì quá kỳ cục: hoàn toàn bất đối xứng với những cửa sổ còn lại. Đoạn cậu nhận ra đó không phải cửa sổ. Mà là một cánh cửa ra vào.

Âm thanh mình nghe thấy là tiếng cánh cửa kia bật mở, cậu ngộ ra.

Cậu nhìn quanh. Trời chiều đang dần buông. Bầu trời trắng nhờ ban nãy đang chuyển sang màu tím mờ, sương mù dần dày đặc hơn, lát nữa sẽ biến thành cơn mưa rả rích suốt cả tối. Chạng vạng, sương mù, không chút gió.

Vậy… nếu cửa không bị gió thổi thì ai đó đã mở nó sao? Tại sao họ làm thế? Chưa kể, cánh cửa trông có vẻ rất nặng nề, khó lòng mở đánh rầm như vậy. Cậu nghĩ hẳn phải là một người rất to lớn… có thể lắm…

Óc hiếu kỳ nổi lên, Stan bước đến để nhìn rõ hơn.

Cánh cửa to hơn cậu tưởng - chừng cao một mét tám và dày sáu tấc, được tạo nên từ các tấm ván nẹp lại bằng đồng thau. Stan khép hờ cửa. Cánh cửa to lớn là thế nhưng di chuyển trơn tru, dễ dàng trên bản lề. Nó không tạo ra tiếng động - dù chỉ một tiếng cót két nhỏ. Cậu khép cửa để xem lớp ván ốp có bị ảnh hưởng gì khi cánh cửa mở toang như thế hay không. Hóa ra ván không bị sứt mẻ, dù chỉ là một vết xước. Ngôi làng ma quái, Richie mà ở đây thể nào cũng nhận xét như thế.

Chà, nói chung tiếng động mình nghe thấy không phải của cánh cửa này, cậu thầm nghĩ. Có thể một chiếc máy bay phản lực từ Loring bay ngang qua Derry hay gì đó. Có lẽ cánh cửa đã mở sẵn…

Chân cậu chạm phải thứ gì đó. Nhìn xuống, Stan trông thấy một ổ khóa… không, nói đúng hơn là phần còn lại của ổ khóa. Ổ khóa này đã tanh bành, như thể có ai đó đã nhét đầy thuốc súng vào lỗ khóa rồi đốt diêm. Những mảnh kim loại sắc từ ổ khóa như dao tòe ra, chĩa tứ tung. Stan có thể nhìn thấy các lớp sắt bên trong.

Bản lề móc khóa dày cui xô vẹo trên bu lông đã bị kéo ba phần tư ra khỏi tấm gỗ. Ba bu lông còn lại của bản lề nằm chỏng chơ trên cỏ ướt. Chúng biến dạng như bánh quy xoắn.

Stan nhíu mày, đẩy tung cánh cửa và nhìn vào bên trong.

Bậc thang hẹp dẫn lên phía trên theo đường xoắn ốc xa khuất tầm mắt. Phần tường ngoài của cầu thang là gỗ được nâng bởi các xà ngang gắn vào nhau chứ không phải đóng đinh. Stan thấy nhiều ốc vặn trông còn to hơn cả bắp tay cậu. Tường trong làm bằng sắt với đinh tán thò lên như mụn nhọt.

“Có ai ở đây không? Stan cất tiếng.

Song không có tiếng đáp lại.

Cậu lưỡng lự, đoạn bước vào trong để nhìn cầu thang hun hút kia rõ hơn. Không thấy gì. Trong này cứ như thành phố ma quỷ. Thể nào Richie cũng nói thế cho mà xem. Cậu quay người toan bỏ đi… thì nghe thấy tiếng nhạc.

Tiếng nhạc rất khẽ, song cậu nhận ra ngay lập tức.

Đó là tiếng đàn calliope.

Cậu nghiêng đầu lắng nghe, cái chau mày cũng giãn ra đôi chút. Tiếng đàn calliope là âm nhạc của hội hè và chợ phiên. Nó khiến cậu nhớ lại những mảnh ký ức vui thú chỉ tồn tại trong thoáng chốc: bắp rang bơ, kẹo bông gòn, bánh bao chiên lèo xèo trong dầu nóng, những chuyến tàu lượn lanh canh từ bộ truyền động xích như Wild Mouse, Whip, Koaster-Kups.

Giờ thì cái chau mày của cậu đã nhường chỗ cho nụ cười thấp thoáng. Stan bước lên một bậc, rồi hai bậc nữa, đầu vẫn nghiêng nghiêng. Cậu dừng chân. Tựa hồ chỉ cần nghĩ đến lễ hội mà cậu đã có thể hiện thực hóa nó; giờ thì cậu thực sự ngửi thấy mùi bắp rang bơ, kẹo bông gòn, bánh bao chiên… và còn bao nhiêu là thứ khác! Nào là mùi tiêu, bánh mì kẹp xúc xích xốt cay, khói thuốc và mùn cưa. Có thứ mùi hăng hắc của giấm trắng, loại ta có thể rắc lên khoai tây chiên qua cái lỗ trên nắp thiếc. Cậu có thể ngửi thấy mùi mù tạt, vàng chói và cay xé lưỡi, loại ta dùng muôi gỗ phết lên xúc xích.

Tuyệt vời… thật không tin nổi… thật khó cưỡng.

Cậu bước thêm một bậc thang nữa thì nghe thấy tiếng chân bình bịch từ phía trên đang hối hả, vội vàng bước xuống dưới. Cậu lại nghiêng đầu. Bỗng dưng tiếng đàn calliope to hơn, như thể muốn khỏa lấp tiếng bước chân. Lúc này, cậu đã nhận ra giai điệu bài hát - đó là bài Đường đua Camptown .

Cậu nghe thấy tiếng bước chân nhưng nó không phải tiếng bình bịch thường thấy mà nghe có vẻ… lép nhép thì phải? Tựa như tiếng chân đi trong đôi ủng sũng nước.

Các cô nàng Campton hát vang bài ca, đu đa đu đa

(Lẹp nhẹp – lẹp nhẹp)

Đường đua Camptown dài mười bốn cây, đu đa đu đa

(Lẹp nhẹp – lẹp nhẹp – càng lúc càng gần)

Đua cả đêm

Đua cả ngày…

Từ đâu bỗng dưng xuất hiện những bóng đen nhấp nhô ở bức tường phía trên cậu.

Ngay lập tức, nỗi sợ hãi khiến họng Stan nghẹn lại – tựa hồ cậu nuốt phải thứ gì đó vừa nóng vừa kinh khủng, chẳng khác nào thứ thuốc đắng nghét khiến ta như giật điện. Nguyên nhân là do những bóng đen kia.

Cậu thấy chúng trong một khắc. Cậu chỉ có chút thời gian ít ỏi để nhận ra hai bóng đen cả thảy, chúng gù gù, trông chẳng bình thường chút nào. Cậu chỉ thấy trong chớp mắt, bởi ánh sáng ở nơi này tối đi quá nhanh, và khi cậu xoay người, cánh cửa của bể chứa Standpipe nặng nề đóng lại sau lưng.

Stanley chạy xuống cầu thang (thế nào mà cậu leo hơn chục bậc, trong khi cậu nhớ mình mới bước hai, ba bậc là cùng), càng lúc càng sợ hãi. Nơi này quá tối nên cậu chỉ thấy lờ mờ. Cậu có thể nghe thấy hơi thở của mình, nghe thấy tiếng đàn calliope văng vẳng đâu đó bên trên cậu

(thế nào lại có cây đàn calliope ở trên kia trong bóng tối kia chứ? Ai đang chơi nó nhỉ?)

ngoài ra, cậu còn nghe thấy tiếng bước chân lẹp nhẹp. Chúng đang tiến lại gần cậu. Càng lúc càng gần.

Cậu tông vào cánh cửa với hai tay duỗi về phía trước, đập mạnh đến độ cơ thể cậu nhói lên vì đau đến tận khuỷu tay. Ban nãy cánh cửa mở trơn tru đến thế… vậy mà giờ đây, nó nhất quyết không chịu nhúc nhích.

Không phải… nói thế chưa chuẩn. Ban đầu nó chịu nhích nhẹ, đủ để cậu trông thấy một tia sáng màu xám như trêu ngươi bên trái cửa. Nhưng rồi ánh sáng mất hẳn, tựa hồ ai đó đứng bên ngoài đang níu không cho cửa mở.

Hồng hộc thở, đầu óc hoảng loạn, Stan vận hết sức bình sinh đẩy cửa. Cậu có thể cảm nhận những miếng nẹp bằng đồng thau đè vào tay mình. Thế mà cánh cửa không chịu suy chuyển.

Cậu xoay người lại, đè lưng và tay lên cửa. Cậu cảm thấy mồ hôi nhớp nhúa, nóng hổi chảy rịn trên trán mình. Tiếng đàn calliope ngày càng to. Nó văng vẳng, âm vang xuống cầu thang xoắn ốc. Nhưng giờ, tiếng đàn chẳng vui vẻ chút nào mà đã thay đổi hoàn toàn. Nó rền rĩ như nhạc đám ma. Nó gào rít như gió và nước, Stan có thể hình dung trong đầu khung cảnh một chợ phiên vào cuối thu, gió và mưa ào ào đổ xuống con đường vắng tanh vắng ngắt, cờ đuôi nheo phấp phới, lều phập phồng, bị quật nhào, bay đi như con dơi bằng vải dù. Cậu trông thấy những đoàn tàu lượn trống không, trơ trọi giữa trời như giàn giáo, nơi gió u u rít ré qua những thanh sắt cong vẹo méo mó. Chợt cậu bàng hoàng nhận ra tử thần đang có mặt ở nơi đây, hắn sắp sửa tấn công cậu từ trong bóng tối và cậu không có đường thoát thân.

Bỗng một dòng nước chảy xuống cầu thang. Giờ thứ cậu ngửi thấy không phải bắp rang bơ, bánh bao chiên hay kẹo bông gòn nữa mà là thứ mùi tanh hôi, mùi thịt heo thối rữa, nhung nhúc cơ man giòi ở một nơi ánh mặt trời không chiếu tới.

“Ai ở đó?” Cậu hét lên với giọng cao và run rẩy.

Đáp lại câu hỏi của cậu là một thứ giọng trầm đục, nghe như nghẹn trong bùn và ao tù nước đọng.

“Những kẻ đã chết, Stanley ạ. Chúng ta là những kẻ đã chết. Bọn ta chìm nhưng giờ bọn ta lơ lửng… và rồi mày cũng sẽ lơ lửng theo bọn ta.”

Cậu có thể cảm nhận nước dâng lên quanh chân mình. Cậu rùng mình nép vào cánh cửa, nỗi sợ hãi bủa vây lấy cậu. Chúng đang ở rất gần. Cậu cảm nhận được điều đó. Cậu có thể ngửi thấy chúng. Có thứ gì đó chọc vào hông cậu khi cậu cuống cuồng liên tục đập vào cánh cửa để trốn thoát dù vô ích.

“Bọn ta đã chết, nhưng thỉnh thoảng bọn ta lảng vảng chơi cho vui, Stanley. Thỉnh thoảng bọn ta…”

Là cuốn sách về các loài chim của cậu.

Không kịp nghĩ ngợi, Stan chộp lấy cuốn sách. Nó mắc kẹt trong túi áo mưa không chịu ra. Một trong hai bóng đen đã xuống tới nơi; cậu có thể nghe thấy nó loạt soạt ở lối đi nhỏ lát đá ban nãy cậu bước vào. Nó sắp sửa bắt được cậu rồi, chưa gì cậu đã cảm nhận được da thịt lạnh buốt của thứ đó.

Cậu giật thật mạnh, và giờ cuốn sách về các loài chim đã nằm trong tay cậu. Cậu giữ nó trước mặt như cái khiến nhỏ, không kịp nghĩ xem mình đang làm gì, chỉ là trực giác bỗng mách bảo cậu hành động này là đúng.

“Chim cổ đỏ!” Cậu hét lên trong bóng tối, và trong một khắc, thứ đang tiến về phía cậu (giờ nó cách cậu chưa đến năm bước chân) chợt khựng lại – cậu dám chắc như thế. Và ô kìa, hình như cậu vừa cảm thấy cánh cửa cậu đè vào nhẹ hơn đôi chút thì phải?

Nhưng giờ, cậu không rúm ró nữa. Cậu đứng thẳng, hiên ngang trong bóng tối. Nó xảy ra lúc nào ấy nhỉ? Đang nước sôi lửa bỏng thế này, nghĩ làm gì nhiều. Liếm nhanh đôi môi khô khốc của mình, cậu bắt đầu oang oang cất tiếng: “Chim cổ đỏ! Diệc bạch xám! Chim lặn! Sơn ca đỏ! Sáo đá! Gõ kiến đầu búa! Gõ kiến đầu đỏ! Chim sẻ núi! Chim hồng tước! Bồ…”

Cánh cửa bật mở với tiếng thét gào phản đối, Stan sải chân bước lùi ra làn sương mù. Cậu ngã nhào lên cỏ. Cậu bẻ gập cuốn sách làm đôi, và tối đó cậu sẽ thấy dấu ngón tay của mình in hằn lên bìa sách như thể nó làm bằng đất sét Play-Doh chứ không phải là bìa cứng.

Nhưng cậu không tài nào đứng dậy nổi ngay mà gót chân chỉ cào vào đất, mông lên trên lớp cỏ trơn. Môi cậu bạnh ra méo xệch, để lộ hàm răng. Bên trong lối vào tranh tối tranh sáng kia, cậu có thể trông thấy đôi chân lấp ló đằng sau cánh cửa đang hé mở. Đập vào mắt cậu là hai ống quần jean mục nát, đã chuyển sang màu tím đen. Những sợi chỉ cam loe ra ở đường may, nước nhỏ tong tỏng từ cổ tay, đọng lại thành vũng dưới đôi giày gần như đã mục nát hoàn toàn, để lộ những ngón chân sưng vù, tím ngắt bên trong.

Tay của bọn chúng buông thõng hai bên, vừa dài vừa trắng nhờn. Lủng lẳng trên mỗi ngón tay là một bông màu cam nho nhỏ.

Nắm chặt cuốn sách về các loại chim gập làm đôi trong tay, mặt nhoe nhoét mưa phùn, mồ hôi và nước mắt, Stan khàn khàn thì thầm, giọng đều đều: “Chim ưng đuôi lửa… Chim sẻ mỏ to… Chim ruồi… Hải âu mày đen… Chim kiwi…”

Một bàn tay trong số bọn chúng ngửa ra, cho thấy lòng bàn tay đã bị nước bào mòn sạch sẽ đường chỉ tay, giờ nhẵn thín chẳng khác nào tay của người nộm trong trung tâm thương mại.

Nó duỗi một ngón tay… rồi co lại. Bông màu cam nảy lên nảy xuống, nảy lên nảy xuống.

Nó đang ngoắc cậu lại.

Hai mươi bảy năm sau, Stan Uris sẽ chết trong bồn tắm với những đường rạch chi chít trên cổ tay, còn giờ đây, cậu vội vã gồng gối, gồng chân đứng dậy, chạy thục mạng. Cậu chạy băng qua đường Kansas mà không buồn nhìn đường, phải đến lúc sang vỉa hè bên kia, cậu mới dừng chân, thở hồng hộc nhìn lại.

Từ góc độ này, cậu không thể thấy cánh cửa dưới chân bể chứa nước Standpipe mà chỉ thấy bể chứa ấy, to lớn và có gì đó thật uy nghi, sừng sững trong bóng tối. “Chúng là người chết,” Stan khẽ thì thầm, kinh hãi tột độ. Cậu guồng chân chạy thẳng về nhà.

11

Máy sấy đã dừng. Stan cũng thế.

Ba người còn lại chỉ biết ngẩn ra nhìn cậu thật lâu. Làn da của cậu xám ngoét như buổi tối tháng Tư trong câu chuyện cậu vừa kể.

“Trời ơi,” sau rốt Ben lên tiếng. Cậu thở hắt ra, bối rối.

“Những gì tớ kể là thật,” Stan khẽ nói. “Tớ thề có Chúa.”

“Tớ tin cậu,” Beverly khẳng định. “Sau chuyện xảy ra ở nhà tớ, cái gì tớ cũng tin.”

Bỗng cô đứng bật dậy, suýt chút nữa hất đổ ghế và đi đến máy sấy. Cô lôi từng tấm giẻ ra gấp gọn. Lưng cô quay về phía bọn họ, nhưng Ben đoán cô đang khóc. Cậu những muốn tiến đến bên cô song không đủ can đảm.

“Bọn mình phải kể chuyện này với Bill,” Eddie đề nghị. “Bill sẽ nghĩ ra hướng giải quyết.”

“Giải quyết?” Stan nói, quay sang nhìn bạn. “Giải quyết là sao?”

Eddi nhìn cậu, ngắc ngứ. “Ừ thì…”

“Tớ không muốn giải quyết gì hết,” Stan nói. Cậu trừng trừng nhìn với ánh mắt dữ dội và gay gắt khiến Eddie nhấp nhổm trên ghế. “Tớ muốn quên hết chuyện này. Tớ chỉ muốn giải quyết như thế thôi.”

“Không dễ vậy đâu,” Beverly trầm ngâm nói, đoạn quay đầu lại. Ben không nhầm: ánh mặt trời nóng nực xiên qua khung cửa sổ bẩn thỉu của tiệm giặt ủi phản chiếu hàng nước mắt trên má cô. “Không phải chỉ bọn mình đâu. Tớ nghe thấy tiếng của Ronnie Grogan. Còn giọng đứa bé trai tớ nghe đầu tiên… chắc là của cậu bé nhà Clements, cậu bé biến mất lúc đang đi xe ba bánh ấy.”

“Thì sao?” Stan cự lại.

“Nếu nó giết nhiều hơn thì sao?” cô hỏi. “Nếu nó xuống tay với nhiều trẻ con hơn thì sao?”

Đôi mắt nâu rực của cậu nhìn thẳng vào đôi mắt xanh của cô, trả lời câu hỏi trong im lặng: Nó giết thì sao?

Nhưng Beverly không nhìn xuống, cũng không quay đi, để rốt cuộc Stan phải hướng mắt xuống đất… có lẽ phần vì cô vẫn đang khóc, nhưng một phần khác là do nỗi lo kia khiến cô can trường hơn.

“Eddie nói đúng” cô tiếp tục. “Bọn mình phải nói chuyện với Bill. Sau đó có thể trình bày với cảnh sát trưởng…”

“Có lý quá,” Stan nói. Nếu cậu đang cố ra vẻ nanh học thì nỗ lực ấy hoàn toàn thất bại. Trong giọng nói của cậu chỉ chứa đầy mỏi mệt. “Bể chứa nước Standpipe có những đứa trẻ bị chết, nhưng chỉ con nít thấy, còn người lớn thì không. Gã hề bước đi trên Kênh Đào. Bóng bay ngược gió. Xác ướp. Gã hủi dưới hiên nhà. Thể nào Cảnh sát trưởng Borton cũng được dịp cười vỡ bụng… rồi tống chúng ta vào nhà thương điên.”

“Nếu cả đám bọn mình đến gặp ông ấy,” Ben lên tiếng, đượm băn khoăn. “Nếu cả đám chúng mình cùng đi…”

“Hay quá,” Stan tiếp tục. “Hay ghê cơ. Kể thêm đi, Haystack. Viết luôn sách cho ngầu.” Đứng dậy, cậu bước đến cửa sổ, hai tay thọc túi, nét mặt tức giận, buồn bã và sợ hãi. Cậu nhìn ra ngoài một lúc lâu, hai vai cứng lại, nhô lên dưới chiếc áo chỉnh tề. Không ngoảnh mặt lại, cậu gằn giọng, “Viết luôn sách đi cho ngầu!”

“Không đâu,” Ben khe khẽ. “Bill mới là người sau này sẽ viết sách.”

Stan quay người lại, kinh ngạc, cả đám hướng ánh nhìn về phía cậu. Trên gương mặt của Ben Hanscom đầy vẻ bất ngờ, tựa hồ cậu vừa bất thình lình giơ tay tát chính mình.

Bev gấp xong miếng giẻ cuối cùng.

“Những loài chim,” Eddie chợt nói.

“Cái gì?” Bev và Ben đồng thanh thốt lên.

Eddie nhìn Stan. “Cậu thoát ra ngoài nhờ hét tên của những loài chim với chúng đúng không?”

“Chắc thế,” Stan ngần ngừ. “Hoặc có thể cửa bị kẹt nhưng cuối cùng cũng bật ra.”

“Trong khi cậu không tựa lên à?” Bev hỏi.

Stan chỉ nhún vai. Cái nhún vai không phải vì bất cần, chỉ đơn giản là cậu không biết.

“Tớ nghĩ là nhờ cậu hét tên những loài chim đấy,” Eddie nhận xét. “Nhưng tại sao nhỉ? Trong phim, mình sẽ cầm thập giá…”

”… hoặc đọc Kinh Lạy Cha…” Ben đế thêm.

”… hoặc Thánh Vịnh 23,” Beverly bổ sung.

“Tớ biết Thánh Vịnh 23,” Stan bực bội lên tiếng, “nhưng làm sao tớ sử dụng thập giá được. Tớ là người Do Thái mà, nhớ không?”

Mọi người quay mặt đi ngượng ngùng, vì cậu sinh ra như thế, hoặc có thể vì cả bọn lại quên mất.

“Tên những loài chim,” Eddie lặp lại. “Chúa ơi!” Dứt lời, cậu liếc nhìn Stan với ánh mắt tội lỗi, nhưng Stan chỉ đang tâm trạng nhìn văn phòng Bangor Hydro phía bên kia đường.

“Bill sẽ biết nên làm gì,” Ben chợt lên tiếng, như thể rốt cuộc thì cậu cũng đồng ý với Bev và Eddie. “Tớ cá đấy. Bao nhiêu tiền tớ cũng cá.”

“Tớ bảo này,” Stan nói, chân thành nhìn mọi người. “Vậy cũng được. Nếu các cậu muốn thì mình có thể kể với Bill. Nhưng với tớ, chỉ đến thế thôi. Các cậu cứ việc bảo tớ nhát gan, thỏ đế cũng được, tớ chẳng quan tâm đâu. Tớ thấy bản thân tớ không phải đồ nhát cáy. Chỉ là những thứ trong bể chứa nước Standpipe…”

“Chỉ có kẻ điên mới không sợ những thứ như thế, Stan,” Beverly ôn tồn nói.

“Ừ, đúng là tớ rất sợ, nhưng vấn đề không nằm ở đó,” Stan gay gắt nói. “Điều tớ muốn nói không phải thế. Cậu không thấy ư…”

Mọi người nhìn cậu chờ đợi, ánh mắt bối rối và thấp thoáng hy vọng, nhưng Stan chẳng biết làm thế nào để diễn giải cảm xúc của mình. Bao ngôn từ đều tắc tị. Tảng đá cảm xúc đè nặng bên trong, khiến cậu như ngạt thở, song cậu lại chẳng thể tống khứ nó ra khỏi họng mình. Cậu gọn gàng, làm gì cũng đâu ra đấy, nhưng suy cho cùng, cậu chỉ là một đứa nhóc mới mười một tuổi, vừa học xong lớp Bốn.

Cậu những muốn nói với chúng bạn rằng có những thứ kinh khủng hơn sợ hãi. Ta có thể sợ những chuyện như suýt nữa bị ô tô đâm khi đang đạp xe hoặc trước khi có vắc-xin Salk, sợ mắc bệnh bại liệt. Ta có thể sợ lão điên Khrushchev hoặc sợ mình sẽ chết chìm nếu nước cao quá đầu. Ta có thể sợ tất tần tật những điều trên mà vẫn sống bình thường.

Nhưng những thứ trong Standpipe…

Cậu muốn nói với họ những đứa trẻ đã chết, lảo đảo, lê lết bước xuống cầu thang xoắn ốc kia, làm một thứ còn khủng khiếp hơn dọa cậu sợ: chúng đảo lộn cậu.

Phải, đảo lộn cậu. Đó là từ duy nhất cậu có thể nghĩ ra, và nếu cậu dùng từ này, thể nào bọn họ cũng phá lên cười – họ quý cậu, cậu biết điều đó, họ xem cậu như một phần trong nhóm, nhưng họ vẫn sẽ cười. Suy cho cùng, trên đời này có những thứ không được phép hiện hữu . Chúng đảo lộn cảm thức về trật tự của một người bình thường, chúng đảo lộn ý tưởng cốt lõi rằng chính Chúa đã đẩy Trái Đất nghiêng khỏi trục của nó, để hoàng hôn chỉ kéo dài vỏn vẹn mười hai phút ở xích đạo và dài lê thê đến hơn một tiếng đồng hồ nơi người Eskimo xây những ngôi nhà bằng băng, và sau khi làm vậy, Người tuyên bố: “Đấy, nếu con có thể hiểu độ nghiêng ấy, con có thể hiểu bất cứ thứ gì con chọn. Vì đến cả ánh sáng còn có khối lượng, khi tiếng còi tàu chợt nhỏ lại, đó chính là hiệu ứng Doppler, còn khi máy bay phá vỡ bức tường âm thanh, tiếng nổ chói tai ấy chẳng phải tiếng thiên thần vỗ tay hay tiếng ma quỷ xì hơi mà chỉ là không khí xung quanh bị nén lại. Ta làm Trái Đất nghiêng một chút, rồi ta ngồi ở giữa khán phòng để chiêm ngưỡng chương trình. Ta chẳng còn gì để nói, ngoại trừ những điều như hai thêm hai là bốn, ánh sáng lấp lánh trên trời là những vì tinh tú, nếu có máu thì người lớn cũng phải thấy chứ chẳng riêng gì trẻ con, và kẻ nào đã chết thì không thể sống lại.” Ta có thể sống với sợ hãi, tớ nghĩ thế, Stan sẽ nói như vậy nếu cậu nói được thành lời. Có thể không phải mãi mãi, nhưng ta có thể xoay xở suốt một thời gian dài thật dài. Nhưng ta không thể sống với sự đảo lộn , bởi nó tạo ra vết rạn nứt trong suy nghĩ, để khi ta ghé mắt nhìn xuống, ta có thể thấy bên dưới có những sinh vật sống với con mắt li ti màu vàng không chớp, ngửi thấy thứ mùi hôi thối trong bóng tối dưới kia, và hồi sau, ta sẽ cho rằng có cả một vũ trụ dưới đó, một vũ trụ nơi Mặt Trăng hình vuông xuất hiện trên bầu trời, nơi những vì sao cười hăng hắc, nơi nhiều tam giác có bốn, năm cạnh, thậm chí một số còn có năm lũy thừa mũ nằm cạnh. Trong vũ trụ ấy, nhiều khi hoa hồng ta trồng biết hát. Thứ này lại dẫn đến thứ kia, nếu có thể diễn tả thành lời, cậu đã nói với họ như thế. Cứ việc đến nhà thờ và lắng nghe câu chuyện về việc Chúa bước đi trên nước, nhưng nếu tớ thấy một người làm được như thế, tớ sẽ hét toáng, hét banh cuống họng. Vì với tớ, nó chẳng phải điều kỳ diệu gì hết. Nó chỉ là một sự đảo lộn mà thôi.

Hiệu ứng Doppler là sự thay đổi tần số sóng mà máy thu ghi nhận được khi có sự chuyển động tương đối giữa máy thu và nguồn phát.

Vì không có ngôn từ để nói được những lời ấy, cậu chỉ lặp lại: “Sợ hãi không phải vấn đề. Tớ chỉ không muốn dính vào vụ việc khiến tớ bị tống vào bệnh viện tâm thần.”

“Vậy chí ít cậu cũng đi cùng bọn tớ đến nói chuyện với cậu ấy được không?” Bev hỏi. “Nghe xem cậu ấy nói gì thôi?”

“Được.” Stan đồng ý, đoạn phá lên cười. “Có lẽ tớ nên mang theo cuốn sách về các loài chim của mình.”

Cả đám cùng cười theo, không khí giãn ra đôi chút.

12

Beverly chia tay các bạn bên ngoài Kleen-Kloze và mang đống giẻ về nhà. Bố mẹ cô chưa ai về cả. Cất giẻ dưới bồn rửa chén xong, cô đóng cửa tủ lại. Đoạn cô đứng dậy, nhìn về phía nhà vệ sinh.

Mình sẽ không hoào trong đó, cô thầm nghĩ. Mình sẽ xem chương trình Bục trình diễn trên ti vi. Xem mình có học cách lầy được không.

Thế là cô vào phòng khách, bật ti vi lên được năm phút thì tắt, ngay đoạn Dick Clark đang ba hoa chỉ một miếng Stri-dex có thể thấm bao nhiêu dầu trên mặt một cô cậu thiếu niên (“Nếu bạn nghĩ bạn có thể rửa sạch mặt chỉ với xà bông và nước,” Dick nói rồi giơ miếng lau bẩn thỉu lên ống kính máy quay để mọi thanh thiếu niên trên đất Mỹ đều thấy rõ từng đường nét, “thì đây, bạn hãy nhìn cho rõ đi.”).

Cô quay lại tủ bếp phía trên bồn rửa, nơi bố cô để dụng cụ. Trong đó để cuộn thước dây với lưỡi thước màu vàng rất dài. Cô cầm lấy nó và mang xuống nhà vệ sinh.

Nhà vệ sinh sạch bong và yên tĩnh. Cô có thể nghe thấy xa xa vẳng lại tiếng bà Doyon gọi cậu con trai tên Jim vào nhà ngay lập tức.

Cô đến chỗ bồn rửa mặt và nhìn xuống con mắt đen ngòm của lỗ xả nước.

Cô đứng đó một lúc, hai chân lạnh như đá dưới lớp quần jean, ngực căng cứng, đủ bén để cắt giấy, môi khô khốc. Cô đợi cho những giọng nói kia vang lên.

Nhưng không có âm thanh gì phát ra.

Khẽ run rẩy thở dài, cô bắt đầu thả lưỡi thép mỏng vào lỗ thoát nước. Nó trơn tru tuột xuống - giống như thanh kiếm đi rất ngọt vào thực quản của người trình diễn xiếc ở hội chợ. Mười lăm phân, rồi hai mươi, hai lăm. Đoạn thước dừng lại mà theo Beverly đoán là bị chặn lại bởi phần ống uốn cong dưới bồn rửa. Cô vừa xoay nó tới lui vừa đẩy nhẹ, lúc sau, lưỡi thép dây tiếp tục chui xuống ống nước thải. Bốn mươi, sáu mươi, rồi chín mươi phân.

Cô nhìn lưỡi thép màu vàng chạy ra từ vỏ thước bằng thép mạ crôm, hai bên đã ngả màu đen do bàn tay to bè của bố. Trong đầu, cô có thể hình dung thước luồn qua lỗ ống nước đen đúa, dính chút rác rết và cào tróc vài mảng bụi. Cô tự nhủ dưới đó là nơi ánh nắng không bao giờ chiếu đến, còn màn đêm không bao giờ kết thúc.

Cô tưởng tượng lõi thép, với đầu lưỡi bằng sắt dẹt không to hơn móng tay là mấy, trượt càng lúc càng sâu vào bóng tối, và đâu đó trong đầu, tâm trí cô thét lên Mày đang làm trò gì vậy? Cô không lờ tiếng nói ấy đi… nhưng cô không tài nào không chú ý đến nó. Giờ thì lưỡi thép đã xuống hết cỡ, chắc phải xuống đến tận tầng hầm. Cô thấy nó đập vào ống xả nước thái… lúc đó, thước dây bật lên lần nữa.

Cô lại xoay xoay, và lưỡi thước mỏng mềm dẻo phát ra tiếng cọt kẹt khe khẽ, khiến cô nhớ lại tiếng lưỡi cưa khi ta kéo tới kéo lui nó ngang qua chân.

Cô có thể tưởng tượng đầu thước ngọ nguậy vào đáy ống với bề mặt làm bằng gốm nung. Cô hình dung nó uốn cong… và rồi cô đã đẩy nó xuống thành công.

Thước kéo một mét tám. Rồi hai mét mốt, hai mét bảy.

Bỗng dưng lưỡi thước tự chuyển động trên tay cô, như thể có thứ gì dưới đó đang kéo đầu thước bên kia. Không chỉ kéo: mà là chạy cùng nó. Cô nhìn chằm chằm vào cuộn thước dây tự kéo xuống, hai mắt mở to, miệng há hốc thành chữ O vì sợ hãi - phải, cô sợ nhưng không thấy ngạc nhiên. Chẳng phải cô đã biết trước rồi sao? Chẳng phải cô đã dự trù chuyện như vậy sẽ xảy ra sao?

Hồi sau, thước dây dừng lại. Năm trăm năm mươi xen-ti-mét; tròn năm mét rưỡi.

Một tiếng cười khùng khục khẽ vang lên từ lỗ thoát nước, theo sau là tiếng thì thầm gầm gừ bực tức: “Beverly, Beverly, Beverly… mày không chống lại bọn tao được đâu… thử xem rồi mất mạng đấy… thử xem rồi mất mạng… thử xem rồi mất mạng… Beverly… Beverly… Beverly… ly-ly-ly…”

Đột nhiên có tiếng đánh tách vang lên trong ổ thước khiến lưỡi thước chạy ngược trở lại, những con số và vạch kẻ vùn vụt lao. Đến gần cuối – chừng một mét rưỡi, hai mét cuối cùng - lưỡi thước màu vàng bỗng chuyển thành màu đỏ đen, nhớp nhúa, làm cô thét lên, đánh rơi cuộn thước dây xuống sàn như thể nó vừa biến thành một con rắn sống nhăn.

Máu tươi chảy dài trên lớp sứ trắng sạch của bồn rửa rồi chảy xuống con mắt mở to của lỗ thoát nước. Cô gập người, nước mắt giàn giụa, nỗi sợ hãi đông thành cục tạ trong bụng, sau đó nhấc cuộn thước lên. Rón rén cầm bằng ngón cái và ngón trỏ tay phải, cô giơ ra trước mặt rồi mang vào nhà bếp. Cô đi đến đâu, máu từ cuộn thước nhỏ xuống sàn hành lang và gian bếp đến đấy.

Cô giữ cho tinh thần của mình không bị lung lay bằng cách nghĩ đến những lời mắng nhiếc của bố – những hành động của lão – nếu lão phát hiện cô làm cuộn thước dây của lão bê bết máu. Tất nhiên, bố không nhìn thấy máu, nhưng cô dặn lòng như vậy mới có tác dụng.

Cô lấy một miếng giẻ sạch – vẫn còn ấm như bánh mì tươi lôi ra từ máy sấy - và quay trở lại nhà vệ sinh. Trước khi bắt tay vào dọn dẹp, cô nhét nút cao su vào lỗ thoát nước để bịt nó lại. Máu vẫn còn tươi nên chùi rửa dễ dàng. Cô đi dọc theo vết máu, chùi những giọt máu to như đồng xu trên sàn, đoạn xả giẻ, vắt khô và đem cất đi.

Cô lấy miếng giẻ mới để lau cuộn thước dây của bố. Máu đặc, sền sệt. Có hai chỗ dính thứ gì đó màu đen, bùi nhùi.

Dù máu chỉ dính chừng một, hai mét cuối nhưng cô vẫn lau hết đoạn thước, làm sạch mọi vết bẩn từ ống nước. Lau xong đầu vào đấy, cô cất nó vào tủ bếp phía trên bồn rửa chén rồi mang hai miếng giẻ xỉn màu ra phía sau chung cư. Bà Doyon lại đang mắng cậu con trai. Giọng bà lanh lảnh, nghe như tiếng chuông vào chiều hè khi cái nóng chưa tàn.

Sân sau chẳng có gì ngoài đất cát, cỏ dại, dây phơi đồ và một lò đốt rác. Beverly ném hai miếng giẻ vào trong, đoạn ngồi trên bậc tam cấp. Nước mắt cô bỗng trào ra giàn giụa, và lần này, cô chẳng buồn kìm lại.

Cô vòng tay ôm đầu gối, đầu gục vào hai tay, lặng lẽ khóc trong lúc bà Doyon la Jim vì cái tội đứng giữa đường, xa xả hỏi cậu con trai muốn xe tông chết hay sao.

« Lùi
Tiến »