GÃ HỀ MA QUÁI

Lượt đọc: 10369 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
tái ngộ
1
bill denbrough gọi xe

Điện thoại đổ chuông, khiến anh tỉnh dậy từ giấc ngủ sâu không chút mộng mị. Anh mò lấy điện thoại mà chẳng buồn mở mắt, lờ mờ nửa tỉnh nửa mơ. Nếu điện thoại ngừng reo ngay lúc ấy, có lẽ anh đã ngủ lại mà không chút khúc mắc gì, anh dư sức chìm vào giấc ngủ dễ dàng và đơn giản như xưa, anh từng trượt xuống triền dốc phủ tuyết trong công viên McCarron trên máng trượt Flexible Flyer. Ta chạy song song với máng trượt rồi nhảy lên máng và phi thẳng xuống - với tốc độ ngang ngửa tốc độ âm thanh. Khi đã lớn, ta chẳng thể làm như thế nữa, bởi nó khiến ta rụng rời tay chân.

Tay anh lướt qua một số của điện thoại, buông lơi rồi lại đặt lên. Anh lờ mờ linh cảm người gọi là Mike Hanlon, Mike Hanlon gọi từ Derry để nói anh phải quay về, nhắc anh phải nhớ lại chuyện xưa, rằng họ từng hứa với nhau, Stan Uris từng cứa lòng bàn tay cả bọn bằng một mảnh chai cô-ca và họ đã hẹn thề cùng nhau…

Bất chấp những gì đã xảy ra trước đó.

Anh đến nơi vào xế chiều hôm qua - cụ thể là trước 6 giờ tối. Anh suy luận nếu mình là người cuối cùng trong danh sách mà Mike liên lạc thì những người còn lại hẳn đã lần lượt trở về, có khi còn ở đây cả ngày rồi cũng nên. Bản thân anh chưa gặp lại ai trong số họ, mà anh cũng chẳng gấp gáp tái ngộ họ làm gì. Anh chỉ đơn giản là nhận phòng, lên phòng, gọi dịch vụ phòng đặt một bữa ăn, nhưng đến lúc thức ăn được bày ra trước mặt thì anh lại nhận ra mình chẳng có bụng dạ nào mà ăn, bèn nằm lăn ra giường ngủ say như chết đến tận bây giờ.

Bill hé mở một mắt và mò mẫm nhấc ống nghe. Nó rớt xuống bàn, anh chộp lấy rồi mở nốt mắt còn lại. Anh cảm thấy đầu óc mình hoàn toàn trống rỗng, chẳng cắm ổ điện nữa mà chỉ chạy cầm chừng bằng pin.

Sau một hồi chật vật, anh cũng nhấc được ống nghe. Chống một tay dựng người dậy, anh đặt ống nghe lên tai. “A lô?”

“Bill?” Quả đúng là giọng của Mike Hanlon – chí ít anh đoán trúng điều này. Tuần trước, anh còn chẳng nhớ chút gì về Mike, thế mà giờ đây, chỉ một câu ngắn ngủi đã đủ để anh nhận ra bạn mình. Thật kỳ diệu hết sức… nhưng kỳ diệu một cách đáng ngại.

“Ừ, tớ đây, Mike.”

“Tớ đánh thức cậu à?”

“Ừ. Nhưng không sao đâu.” Khoảng tường phía trên ti vi treo một bức tranh xấu tàn tệ vẽ các ngư dân mặc áo mưa vàng và trùm mũ đi mưa đang kéo lưới bắt tôm hùm. Nhìn bức tranh, Bill nhớ lại mình đang ở Nhà nghỉ Thị trấn Derry trên đường Chính Phố Trên. Phía bên kia đường đi lên khoảng tám trăm mét là công viên Bassey… cầu Hôn Nhau… Kênh Đào. “Mấy giờ rồi Mike?”

“10 giờ kém 15 phút.”

“Ngày bao nhiêu ấy nhỉ?”

“Ngày ba mươi rồi.” Giọng Mike xen lẫn chút thích thú.

“Ừ. Được rồi.”

“Tớ đã sắp xếp một cuộc đoàn tụ nhỏ,” Mike nói. Tông giọng anh nghe khác hẳn.

“Thế ư?” Bill vung chân ra khỏi giường. “Mọi người đến đông đủ chứ?”

“Tất cả trừ Stan Uris,” Mike đáp. Giờ trong giọng nói của cậu ấy lại chất chứa một điều gì đó mà Bill không đọc được. “Bev đến cuối cùng. Cô ấy đến khuya hôm qua.”

“Sao cậu lại nói cô ấy là người cuối cùng chứ? Biết đâu hôm nay Stan xuất hiện thì sao?”

“Bill, Stan chết rồi.”

“Hả? Cái gì kia? Máy bay của cậu ấy…”

“Không” Mike ngắt lời. “Nghe này, nếu cậu không phiền thì tớ nghĩ mình nên đợi cho đến lúc cả bọn gặp nhau. Nếu tớ có thể kể với tất cả các cậu cùng lúc thì sẽ tốt hơn.”

“Nó có liên quan đến việc này à?”

“Ừ, tớ nghĩ vậy,” Mike thoáng ngập ngừng. “Tớ dám chắc là như thế.”

Một lần nữa, Bill cảm thấy lòng mình trĩu nặng cảm giác sợ hãi quen thuộc – anh có thể quen với cảm xúc ấy nhanh đến vậy sao? Hay thật ra, bấy lâu nay, anh luôn mang theo mình nỗi sợ hãi ấy, chỉ đơn giản là anh không cảm nhận được nó, không mảy may nghĩ đến nó, tương tự như việc chẳng bao giờ anh ngẫm đến chuyện rồi một ngày anh sẽ trở về cát bụi?

Anh với tay lấy thuốc lá, châm một điếu và thổi tắt diêm sau lần quẹt đầu tiên.

“Hôm qua có ai trong số mọi người gặp nhau không?”

“Không, tớ nghĩ là không.”

“Cậu cũng chưa gặp ai trong số bọn tớ à?”

“Chưa. Tớ mới chỉ nói chuyện điện thoại thôi.”

“Được rồi,” anh đáp. “Thế mình hẹn nhau ở đâu?”

“Cậu nhớ Xưởng đúc ngày xưa không?”

“Có chứ, ở đường Pasture.”

“Cậu đi sau thời đại rồi kìa, bạn hiền. Giờ nó đổi tên thành đường Trung Tâm Thương Mại rồi. Người ta xây trung tâm mua sắm lớn thứ ba trên cả bang ở ngay đó. Bốn mươi tám cửa hàng hội tụ dưới một mái nhà để thuận tiện cho quý khách mua sắm.

“Nghe đúng chất M-M-Mỹ nhỉ?”

“Bill?”

“Sao?”

“Cậu ổn chứ?”

“Ừ.” Nhưng trống ngực anh đang đập thình thịch, đầu điếu thuốc của anh khẽ rung lên. Anh vừa nói lắp và Mike đã nghe thấy.

Có một khoảng lặng, và rồi Mike lên tiếng, “Vừa đi qua trung tâm mua sắm sẽ có một nhà hàng tên là Jade Phương Đông. Họ có phòng riêng cho khách theo nhóm. Hôm qua, tớ đã sắp xếp một phòng rồi. Chúng ta có thể sử dụng thoải mái nguyên buổi chiều nếu ta muốn.”

“Cậu nghĩ nó sẽ mất nhiều thời gian thế à?”

“Tớ cũng chịu.”

“Tài xế tắc-xi biết đường đến đó chứ?”

“Tất nhiên.”

“Được rồi,” Bill nói. Anh viết tên nhà hàng xuống tập giấy để cạnh điện thoại. “Sao cậu lại chọn chỗ đó?”

“Có lẽ là vì nó mới,” Mike chậm rãi trình bày. “Có cảm giác… tớ không biết nữa…”

“Vị thế trung lập?” Bill gợi ý.

“Ừ, chắc thế.”

“Đồ ăn ngon không?”

“Tớ chịu” Mike thành thật. “Khẩu vị cậu thế nào?”

Bill nhả khói và nửa cười nửa ho. “Cũng không tốt lắm, bạn hiền.”

“Ừ.” Mike đáp. “Nghe thấy rồi.”

“Trưa à?”

“Tầm 1 giờ đi cho thong thả. Để Beverly ngủ thêm một chút.”

Bill rít thuốc. “Cậu ấy cưới rồi phải không?”

Mike lại ngập ngừng. “Mai cả đám cập nhật tình hình nhau luôn,” cậu đáp.

“Cứ như mình quay về dự buổi họp lớp cấp ba sau mười năm ấy nhỉ?” Bill nhận xét. “Mình có thể xem ai mập, ai hói, ai có c-con.”

“Tớ ước giá mà được như thế.” Mike bâng quơ.

“Ừ, tớ cũng thế, Mikey ạ. Tớ cũng thế.”

Anh dập máy, đi tắm thật lâu và sau đó lại gọi dịch vụ phòng để đặt một bữa sáng dù anh chỉ ăn qua loa cho có thứ bỏ bụng. Không, anh chẳng có lòng dạ nào mà ăn.

Bill gọi điện cho công ty tắc-xi Big Yellow và hẹn tài xế đến đón lúc 12 giờ 45 phút, áng chừng mười lăm phút là dư sức để đến đường Pasture (anh không tài nào tin nổi giờ con đường ấy đã đổi tên thành đường Trung Tâm Thương Mại, dù anh đã tận mắt nhìn thấy khu mua sắm ấy), nhưng anh đã không lường trước giao thông vào giờ ăn trưa… và tốc độ phát triển của Derry.

Vào năm 1958, nơi đây chỉ là một thị trấn rộng lớn, không hơn. Dân cư ghi nhận khoảng 30.000 người trong nội thành Derry và khoảng 7.000 người ở các khu vực phụ cận.

Ngoảnh đi ngoảnh lại, nó đã lột xác thành một thành phố – tuy chỉ là một thành phố bé tí xíu nếu lấy London hoặc New York làm chuẩn, nhưng so với chuẩn mực của Maine thì nó được ra phết, bởi Portland, thành phố lớn nhất của bang, cũng chỉ có khoảng 300.000 người.

Tắc-xi thong thả chạy xuống đường Chính ( chúng ta đang đi qua Kênh Đào, Bill thầm nhủ, tuy không thấy nhưng nó vẫn ở dưới kia, ào ào trong bóng tối ) rồi rẽ lên đường Trung Tâm, suy nghĩ đầu tiên trong đầu anh khá dễ đoán: cảnh vật thay đổi ra sao. Nhưng suy nghĩ ấy còn kéo theo một cảm giác chênh vênh đến tột cùng mà anh không ngờ sẽ ập đến. Anh nhớ thời thơ ấu của mình là chuỗi ngày sợ hãi và ngập tràn âu lo… không phải chỉ vì mua hè năm 58, khi nhóm bảy người bọn họ phải đối mặt với nỗi kinh hoàng kia, mà còn vì sự ra đi của George, vì cơn mộng mị mà bố mẹ anh đã rơi vào sau khi cậu con trai út của mình qua đời, vì người ta suốt ngày cười nhạo tật nói lắp của anh, vì bè lũ Bowers, Huggins và Criss suốt ngày kiếm chuyện với họ sau trận chiến nảy lửa ở Vùng Đất Cằn

(Bowers, Huggins và Criss, trời ơi! Bowers, Huggins và Criss, trời ơi!)

ngoài ra, còn vì trong lòng, anh cảm thấy Derry sao mà lạnh lẽo đến thế, cay nghiệt đến thế, rằng Derry chẳng buồn quan tâm họ sống hay chết, cũng chẳng màng liệu họ có thắng được gã hề Pennywise hay không. Người dân Derry đã bao đời nay sống với Pennywise dưới tất cả những vỏ bọc của hắn… và có lẽ, theo một cách điên rồ nào đó, họ còn thấu hiểu được hắn. Thích hắn, cần hắn. Thậm chí thương yêu hắn? Dám lắm. Phải, dám lắm.

Vậy tại sao anh lại có cảm giác chênh vênh này?

Có lẽ là vì nơi này đã thay đổi đến chóng mặt. Hoặc có thể là vì trong lòng anh, dường như Derry đã mất đi cốt cách vốn có.

Rạp Bijou đã biến mất, nhường chỗ cho một bãi đậu xe (tấm biển trên dốc đề dòng chữ CHO PHÉP MỚI ĐƯỢC ĐẬU; XE VI PHẠM SẼ BỊ KÉO ĐI). Tiệm Thuyền giày và Bữa trưa Của Bailley, hai gian hàng đứng cạnh nhau, cũng không còn nữa. Chúng đã bị thay thế bởi chi nhánh Ngân hàng Quốc gia phía Bắc. Một bảng số điện tử thò ra ở mặt tiền tòa nhà xây bằng gạch tẻ nhạt, hiển thị thời gian và nhiệt độ – bằng cả độ F và độ C. Nhà thuốc đường Trung Tâm, hang ổ của ông Keene, nơi Bill đến mua thuốc suyễn cho Eddie vào ngày hôm ấy, cũng đã biến mất. Ngõ nhà Richard cũng biến thành một cửa hàng râu ông nọ cắm cằm bà kia với cái tên “Trung tâm mua sắm mini”. Tranh thủ nhìn vào trong lúc tắc-xi dừng đèn đỏ, Bill có thể trông thấy một cửa hàng băng đĩa, một cửa hàng bán thực phẩm thiên nhiên, một cửa hàng bán đồ chơi đang chạy chương trình khuyến mãi thanh lý SẢN PHẨM TRÒ CHƠI RỒNG VÀ NGỤC TỐI.

Chiếc tắc-xi chạy giật tới trước. “Chắc mất thời gian đây,” bác tài lên tiếng. “Phải chi mấy ngân hàng chết dịch này phân chia nhau nghỉ trưa thì tốt biết mấy. Tôi nói hơi bỗ bã, nếu anh là dân mộ đạo thì mong anh thông cảm.”

“Không hề gì” Bill nói. Bên ngoài, trời sầm sì mây đen, và giờ thì mưa đã rơi lâm thâm lên kính chắn gió của xe tắc-xi. Ra-đi-ô líu ríu báo tin một bệnh nhân tâm thần trốn viện có vẻ nguy hiểm, và lát sao lại líu ríu thông tin về đội Red Sox vô hại. Cơn mưa thoáng qua, rồi tạnh dần. Khi Barry Manilow bắt đầu cất tiếng ca về Mandy, cô gái một lòng cho đi mà chẳng mong nhận lại, người tài xế tắt đài. Bill hỏi, “Chúng mọc lên từ khi nào thế?”

“Cái gì kia? Ý anh là ngân hàng?”

“Vâng.”

“Ồ, cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, đa số là thế,” bác tài đáp. Tướng người ông to lớn với cái cổ bè. Ông khoác chiếc áo ca rô đen đỏ. Trên đầu ông đội chiếc mũ lưỡi trai màu cam dạ quang dây một chút dầu nhớt. “Họ có một khoản ngân sách cải tạo đô thị tên là Phân phối Thu nhập. Họ phân phối bằng cách dỡ bỏ mọi thứ, sau đó ngân hàng nhảy vào. Tôi đoán chỉ ngân hàng mới có đủ nguồn vốn để làm điều đó. Bất ngờ phải không, anh bạn? Họ bảo đấy là cải tạo đô thị. Tôi bảo đấy là chặn miếng cơm manh áo. Xin lỗi anh nếu tôi nói chuyện bỗ bã quá. Thời điểm ấy, họ tranh cãi về phương án vực dậy khu trung tâm thị trấn nhiều lắm. Ừ đấy, họ vực dậy nó tài tình quá mà. Dỡ bỏ gần hết những cửa hàng cũ rồi xây dựng cả dãy ngân hàng và bãi đậu xe. Đấy, làm cho lắm mà người dân cũng chẳng tìm nổi một chỗ đậu xe chết tiệt nào cho mình. Hội đồng thị trấn đáng bị cột dái hết cả lũ. Trừ cái bà gốc Ba Lan ở trong Ủy ban ấy ra, phải cột hai quả mướp của bà ta lên. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, bà ta làm gì có mướp mà cột. Trước sau như một ấy. Nếu anh là dân mộ đạo thì thứ lỗi cho tôi nếu tôi bỗ bã quá.”

“Vâng, tôi đúng dân mộ đạo đây,” Bill nói và mỉm cười.

“Thế thì mời anh xuống xe phắn đến nhà thờ ngay và luôn,” bác tài nói rồi cả hai cùng phá lên cười nắc nẻ.

“Anh sống ở đây lâu chưa?” Bill hỏi.

“Tôi chôn rau cắt rốn ở đây. Sinh ra tại Bệnh viện Derry, và họ cũng sẽ chôn tôi ở nghĩa trang Mount Hope.”

“Hay đấy,” Bill nhận xét.

“Ừ, phải,” tài xế đáp. Anh khạc trong cổ họng hạ kính xe xuống rồi nhổ một bãi đờm xanh vàng to tướng vào bầu không khí ướt mưa. Thái độ của anh ta dù mâu thuẫn nhưng vẫn có điểm gì đó rất thu hút – thậm chí rất duyên là đằng khác - cho thấy anh độc mồm độc miệng song vui tính. “Ai dính đống đấy thì chẳng cần mua kẹo cao su trong suốt cả tuần ấy chứ. Thứ lỗi cho tôi nếu tôi bỗ bã quá.”

“Mọi thứ chưa thay đổi hoàn toàn,” Bill nhận xét. Khung cảnh ngân hàng và bãi đậu xe rồng rắn nối đuôi nhau chán ngán dần trôi ra sau khi họ chạy lên đường Trung Tâm. Đi hết ngọn đồi, băng qua ngân hàng First National, chiếc tắc-xi dần tăng tốc. “Rạp Aladdin vẫn còn đây.”

“Đúng vậy,” bác tài công nhận. “Nhưng được ngày nào hay ngày đó thôi. Đám chết toi kia đang tìm cách dỡ bỏ nó.”

“Để xây ngân hàng tiếp à?” Bill hỏi, một phần trong anh ngạc nhiên khi thấy một phần khác trong mình bàng hoàng trước ý tưởng ấy. Anh không tài nào tưởng nổi kẻ nào đầu óc bình thường lại muốn dỡ bỏ tòa nhà mái vòm nguy nga với dàn đèn chùm bằng thủy tinh lấp lánh ấy, với cầu thang uốn lượn hai bên trái phải, chạy theo đường xoắn ốc lên tới ban công, cùng bức màn hết sức hoành tráng, khi buổi diễn bắt đầu, rèm không kéo sang một bên mà nâng lên theo những nếp gấp duyên dáng, sau đó xô vào nhau, kéo lại, mờ mờ ảo ảo dưới những ánh đèn tuyệt vời màu đỏ, xanh dương, vàng, xanh lá trong lúc các máy kéo đằng sau sân khấu lóc cóc xoay chuyển. Ngay cả rạp Aladdin mà không tha sao, phần bị chấn động trong anh thét gào. Sao họ có thể nghĩ đến chuyện phá bỏ rạp Aladdin để xây một NGÂN HÀNG kia chứ?

“Ờ, phải, ngân hàng” bác tài nói. “Tiên sư chứ, thứ lỗi cho tôi nói chuyện bỗ bã. Chính ngân hàng First Merchants hạt Penobscot để mắt đến rạp Aladdin chứ ai. Chúng muốn dỡ bỏ rạp để xây một công trình mà chúng hô hào là ‘trung tâm ngân hàng toàn diện’. Bọn chúng xin giấy tờ từ Hội đồng thị trấn rồi, thế là rạp Aladdin bị tuyên bố quá xuống cấp. Sau đó, một nhóm cư dân lập ra ủy ban - những người dân sống lâu năm ở đây - và họ làm đơn kiến nghị, tổ chức diễu hành, la ó, trời không phụ lòng người, Hội đồng thị trấn đồng ý công khai tổ chức một buổi họp về vấn đề này, và Hanlon đã hất cẳng cái lũ chết dịch ấy.” Người tài xế thỏa mãn ra mặt.

“Hanlon?” Bill giật mình hỏi. “Ý anh là Mike Hanlon?”

“Chính xác,” bác tài gật gù. Anh ta thoáng quay lại để nhìn Bill, để lộ khuôn mặt tròn nứt nẻ, đeo gặp kính gọng sừng với những chấm sơn trắng đã cũ trên gọng. “Anh thủ thư da đen đấy. Anh biết anh ta à?”

“Phải,” Bill trả lời, nhớ lại cơ duyên đưa đẩy mình quen Mike vào tháng Bảy năm 1958. Tất nhiên, ngoài bè lũ bọn Bowers, Huggins và Criss thì còn ai trồng khoai đất này… Bowers, Huggins và Criss

(ôi trời)

hết lần này đến lần khác chỉ giỏi đè đầu cưỡi cổ kẻ khác, nhưng vô hình trung lại là những gọng kìm đưa bảy người họ lại gần nhau hơn – thật chặt, kề vai sát cánh, không thể tách rời. “Thuở bé chúng tôi có chơi với nhau. Trước khi tôi chuyển đi nơi khác.”

“Chậc, thế đấy anh ạ,” bác tài nói. “Trái Đất này tròn vãi, thứ lỗi cho…”

”… tôi nếu tôi bỗ bã quá,” Bill thay anh tài xế nói nốt.

“Thế đấy anh ạ,” bác tài thư thái lặp lại, và chiếc xe bon bon chạy trong im lặng được một lúc thì tiếp tục lên tiếng. “Derry đã thay đổi chóng mặt, nhưng ừ, rất nhiều thứ vẫn còn vẹn nguyên. Ví dụ như Tòa nhà thị trấn, nơi tôi đón anh. Standpipe trong công viên Tưởng niệm. Anh còn nhớ nơi ấy không? Ngày chúng tôi còn bé, bọn tôi từng nghĩ nơi đó bị ma ám.”

“Tôi nhớ chứ,” Bill trả lời.

“Anh xem, bệnh viện kìa. Anh có nhận ra nó không?”

Lúc ấy, họ đang chạy ngang qua Bệnh viện Derry Home phía bên tay phải. Đằng sau, con sông Penobscot róc rách chảy về nơi giao với sông Kenduskeag. Dưới bầu trời mưa xuân, dòng sông mang một màu xám xịt. Bệnh viện vẫn giống như trong ký ức của Bill – một tòa nhà khung gỗ màu trắng, có hai cánh, cao ba tầng - nhưng giờ nó được bao quanh, hay nói đúng hơn là lọt thỏm, giữa một khu phức hợp có khi phải đến chục tòa nhà khác nhau. Anh có thể thấy bãi đậu xe phía bên trái, áng chừng có đến hơn 500 chiếc đậu ở đó.

“Chúa ơi, thế này mà là bệnh viện gì, là cả một trường đại học chết tiệt thì có!” Bill không khỏi ngạc nhiên.

Người tài xế khúc khích cười. “Người gì chẳng ngoan đạo, tôi sẽ thứ lỗi cho anh. Anh nói phải, nó tám lạng nửa cân so với bệnh viện Maine miền Đông trên Bangor rồi đấy. Họ có cả phòng xạ trị, trung tâm trị liệu, 600 phòng bệnh, khu giặt giũ riêng và có Chúa mới biết ngoài ra còn có gì. Bệnh viện cũ vẫn ở đó, nhưng giờ chỉ dành cho công việc hành chính thôi.”

Bill cảm thấy đầu óc mình nhập nhằng đến lạ, giống cảm giác mà anh có được vào lần đầu tiên xem phim 3D. Ta phải cố đưa hai hình ảnh không đồng nhất khớp vào nhau. Anh nhớ ta có thể phỉnh phờ mắt và não của mình làm điều đó, nhưng thể nào đầu ta cũng nhức ong lên… và anh có thể cảm nhận mình sắp sửa đau đầu đến nơi. Derry mới, cũng được thôi. Nhưng Derry cũ vẫn ở đó, như tòa nhà Bệnh viện Derry bằng gỗ kia. Derry cũ hầu như đã bị chôn vùi dưới bao công trình mới… nhưng bất chấp điều đó, mắt ta vẫn sẽ bị lôi kéo để nhìn bóng hình cũ… để tìm kiếm nó.

“Sân ga chắc không còn nữa nhỉ?” Bill hỏi.

Bác tài phá lên cười thích thú. “Với một người chuyển đi từ thuở bé thì anh có trí nhớ tốt đấy.” Bill thầm nghĩ trong đầu: Anh mà gặp tôi tuần trước thì anh sẽ thấy khác đấy, anh bạn bỗ bã của tôi ơi. “Nó vẫn còn đó, nhưng chẳng còn gì ngoài một đống đổ nát và đường ray gỉ sét. Thậm chí các toa tàu chở hàng chẳng buồn dừng lại nữa rồi. Có một ông muốn mua lại miếng đất để xây dựng trung tâm giải trí hoành tráng ven đường - mấy trò như pitch ‘n putt, sân đập bóng, các đường chạy xe, sân gôn mini, đua xe, trò chơi điện tử, vân vân và mây mây - nhưng người ta tranh cãi nảy lửa về chủ sở hữu đất. Tôi đoán đằng nào ông ấy cũng giành được miếng đất ấy thôi – ông ấy nổi tiếng bền chí mà – nhưng giờ vẫn còn trên tòa.”

“Còn Kênh Đào,” Bill thì thầm khi họ rẽ khỏi đường Ngoại Vi Trung Tâm vào đường Pasture – đúng như Mike nói, có một tấm biển màu xanh đề ĐƯỜNG TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI. “Kênh Đào vẫn còn đó.”

“Chuẩn rồi,” bác tài đồng tình. “Tôi nghĩ chắc nó sẽ luôn còn đó.”

Và rồi trung tâm thương mại Derry hiện lên phía bên tay trái của Bill, trong lúc họ chạy ngang qua, anh lại cảm thấy đầu mình nhập nhằng. Ngày họ còn bé, nơi đây chỉ là một cánh đồng mênh mông, um tùm cỏ dại cùng những hàng hướng dương khổng lồ gật gù trong gió, đánh dấu rìa phía đông bắc của Vùng Đất Cằn. Đằng sau, về phía tây, là khu nhà dành cho người thu nhập thấp mang tên Mũi Đất Cũ. Anh còn nhớ năm xưa, họ từng thám hiểm cánh đồng này, cẩn thận để không rơi vào miệng hầm toang hoác của Xưởng đúc Kitchener bị nổ vào Chủ nhật lễ Tạ ơn năm 1906. Cánh đồng đầy những mảnh đổ nát, và bọn họ đã khai quật chúng với lòng đam mê không thua kém gì các nhà sử học thám hiểm tàn tích Ai Cập: nào gạch, nào muôi, nào những mảnh sắt gắn bu-lông gỉ sét, khung kính, chai lọ đựng đầy chất nhầy chẳng rõ nhãn mác, hôi thối không khác gì thứ thuốc độc ghê gớm nhất thế giới. Ở đây cũng từng xảy ra biến cố gì đó khủng khiếp, trong bãi đá dăm gần bãi rác, nhưng anh chưa thể nhớ ra ngay. Anh chỉ nhớ một cái tên, Patrick Humboldt, và nhớ nó có liên quan gì đó đến tủ lạnh. Và một con chim từng đánh đuổi Mike Hanlon. Gì cơ…?

Anh lắc đầu. Những mảnh vỡ. Những cọng rơm trong gió. Chỉ có thế mà thôi.

Khu đất cũng như tàn tích của Xưởng đúc nay đã không còn nữa. Bỗng dưng, hình ảnh của ống khói khổng lồ ở Xưởng đúc hiện về trong tâm trí Bill. Lợp bằng ngói, ba mét cuối cùng được nung đen với bồ hóng, ống khói yên vị giữa đám cỏ cao như một cái ống khổng lồ. Bọn họ đã loay hoay trèo lên và bước dọc theo ống, hai tay dang ngang như người đi trên dây, miệng cười nắc nẻ… Anh lắc đầu, như cố gạt đi ảo ảnh của trung tâm thương mại, một tổ hợp các tòa nhà xấu xí với những tấm biển đề SEARS, J.C. PENNEY, WOOLWORTH’s, CVS, NHÀ HÀNG BÍT TẾT YORK, WALDENBOOKS và chục gian hàng khác. Đường ngoằn ngoèo dẫn vào ra các bãi đậu xe. Nhưng hình ảnh trung tâm thương mại nhất quyết không biến đi, vì nó không phải ảo ảnh. Chỉ có Xưởng đúc Kitchener biến mất, cánh đồng um tùm cây cỏ mọc xung quanh đống đổ nát ấy cũng không còn. Trung tâm thương mại ấy là thật, chứ không phải ký ức.

Nhưng chẳng hiểu sao, anh không tài nào tin nổi.

“Ta đến nơi rồi đây,” bác tài nói. Anh ta chạy vào bãi đậu xe của tòa nhà trông như ngôi chùa khổng lồ bằng nhựa. “Hơi trễ một chút, nhưng trễ còn hơn không, anh nhỉ?”

“Quá chính xác,” Bill đáp. Anh đưa cho tài xế tờ năm đô. “Anh cứ giữ tiền thối.”

“Ngon ăn thế không biết!” Người tài xế cảm thán. “Nếu anh cần ai chở thì cứ gọi đến Big Yellow và bảo họ cử Dave nhé. Anh cứ gọi tôi bằng tên.”

“Tôi sẽ bảo họ cử một anh chàng mộ đạo,” Bill nói, nhe răng cười. “Cái anh chàng đã lựa sẵn huyệt cho mình ở Mount Hope.”

“Anh nhanh nhạy thật đấy,” Dave phá lên cười. “Chúc anh ngày mới tốt lành.”

“Anh cũng vậy nhé, Dave.”

Anh đứng dưới làn mưa lâm thâm một lúc, nhìn chiếc tắc-xi rời đi. Anh nhận ra anh định hỏi người tài xế thêm một câu nhưng quên bẵng mất – mà cũng có thể là anh cố tình quên.

Anh toan hỏi liệu Dave có thích sống ở Derry không.

Bất thình lình, Bill Denbrough quay lưng bước vào nhà hàng Jade Phương Đông. Mike Hanlon đang ở trong sảnh, yên vị trên một chiếc ghế mây với phần lưng ghế loe rộng. Anh đứng dậy, và một cảm giác phi thực tế đến cùng cực tràn lên trong anh - tràn qua cơ thể anh. Cảm giác nhập nhằng kia cũng trở lại, nhưng tệ hại, tệ hại hơn rất nhiều.

Trong đầu anh vẫn còn hình ảnh một cậu bé cao khoảng một mét sáu, gọn gàng và nhanh nhẹn. Trước mặt anh là một người đàn ông cao một mét bảy. Anh ốm nhom, bộ quần áo như treo trên người. Và những nếp nhăn trên mặt như ngầm bảo anh rằng anh ấy phải ở cuối tuổi tứ tuần thay vì ba mươi tám.

Xem chừng sự kinh ngạc đã lộ hết trên khuôn mặt Bill, bởi Mike đã khẽ khàng lên tiếng: “Tớ biết bề ngoài tớ trông thế nào.”

Ngượng ngùng, Bill khỏa lấp, “Không tệ đến thế đâu, Mike, đơn giản là do tớ chỉ nhớ hình ảnh cậu ngày bé. Thế thôi.”

“Vậy sao?”

“Nhìn cậu có vẻ mệt mỏi.”

“Thật sự thì tớ hơi mệt,” Mike nói, “nhưng tớ vẫn gắng gượng được. Chắc thế.” Đoạn anh nhoẻn cười, khiến cả khuôn mặt bừng sáng. Bill nhìn thấy cậu bé mà anh từng biết hai mươi bảy năm trước. Nếu tòa nhà bằng gỗ xưa cũ của Bệnh viện Derry Home bị choáng ngợp trước những tòa nhà xây bằng gạch không nung cùng kính hiện tại thì cậu bé ngày xưa Bill từng quen cũng dạn dày trước những phong ba bão táp không thể tránh khỏi của tuổi trưởng thành. Trên trán Mike đầy nếp nhăn, từ khóe miệng xuống cằm chi chít những đường hằn sâu và phần tóc phía trên tai đã ngả màu muối tiêu. Nhưng giống như bệnh viện cũ kỹ ấy, dù bị choáng ngợp vẫn đứng đó, vẫn hiện diện, thì cậu bé mà Bill từng biết cũng vậy.

Mike chia tay ra và nói, “Chào mừng cậu trở lại Derry, Bill To Bự.”

Bill mặc kệ bàn tay ấy mà ôm chầm lấy Mike. Mike cũng đáp lại bằng cái ôm thật chặt, Bill có thể cảm nhận mái tóc cứng thẳng đơ của bạn cọ vào vai và cổ mình.

“Nếu có gì không ổn thì bọn mình sẽ lo hết, Mike,” Bill lên tiếng. Anh nghe thấy họng mình nghẹn ngào nhưng anh chẳng quan tâm. “Chúng ta đã đánh bại nó một lần, và chúng ta đủ sức đ-đánh bại nó l-l-lần nữa.”

Mike buông tay ra, đứng cách anh một sải tay; và mặc dù khuôn miệng vẫn vương nụ cười, đôi mắt anh lấp lánh ánh lệ. Anh rút khăn mùi xoa ra lau. “Hẳn rồi, Bill nhỉ,” anh nói. “Chuẩn không cần chỉnh.”

“Quý khách có cần tôi đưa lên phòng không ạ?” cô phục vụ cất tiếng hỏi. Cô là một phụ nữ phương Đông với nụ cười ý nhị, mặc bộ kimono màu hồng tinh xảo có hình con rồng uốn lượn đuôi mạ vàng. Mái tóc đen của cô được búi cao sau đầu, kẹp lại bằng trâm cài bằng ngà voi.

“Tôi biết đường rồi, Rose,” Mike đáp.

“Tốt quá, thưa anh Hanlon.” cô mỉm cười với hai người bọn họ. “Tình bạn của các anh hẳn keo sơn gắn bó lắm.”

“Có lẽ là thế” Mike đáp. “Lối này, Bill.”

Mike dẫn anh đi dọc một hành lang mờ tối, băng qua phòng ăn chính đến một cánh cửa buông rèm hạt.

“Mọi người đến hết chưa?” Bill bắt chuyện.

“Họ đến hết rồi,” Mike trả lời. “Ai đến được đều có mặt cả rồi.”

Đứng ngoài cửa, Bill thoáng lưỡng lự, lòng váng vất sợ hãi. Thứ khiến anh sợ không phải là thực thể kỳ lạ, hay thế lực siêu nhiên; thứ khiến anh sợ là sự thật giản đơn rằng anh đã cao thêm gần bốn mươi phân so với bản thân mình vào năm 1958 và ít tóc hơn hẳn. Chợt anh thấy bứt rứt - gần như hoảng sợ – khi nghĩ đến chuyện gặp lại tất cả mọi người, chứng kiến những khuôn mặt trẻ thơ của họ phai mờ, khỏa lấp dưới bao đổi thay như bệnh viện cũ kia bị chôn vùi. Ngân hàng đã mọc lên trong đầu họ, nơi ngày trước vốn tọa lạc những rạp chiếu phim thần tiên.

Bọn mình lớn cả rồi, anh thầm nghĩ. Lúc xưa, chẳng ai nghĩ nó sẽ xảy ra với bọn mình. Thế mà nó vẫn xảy ra đấy thôi, và nếu mình bước vào trong, điều đó sẽ biến thành sự thật: rằng cả bọn đều đã trưởng thành cả rồi.

Anh nhìn Mike, bất giác bối rối và rụt rè. “Mọi người trông thế nào?” Anh nghe thấy giọng mình run run cất lên. “Mike… Mọi người trông thế nào?”

“Cậu vào trong rồi biết,” Mike hiền từ đáp rồi dẫn Bill vào một gian phòng riêng.

2

BILL DENBROUGH TẬN MỤC SỞ THỊ

Có lẽ chỉ là do căn phòng tranh tối tranh sáng gây ra ảo ảnh, dù chỉ kéo dài trong tích tắc, nhưng về sau, nó cũng khiến Bill tự hỏi liệu đó có phải thông điệp gửi gắm đến riêng anh: rằng vận mệnh vẫn có cái từ bi.

Trong khoảnh khắc thoáng qua ấy, anh có cảm tưởng không ai trong số họ đã lớn lên, rằng bằng cách nào đó, nhóm bạn của anh giống với Peter Pan, vẫn mãi là những đứa trẻ.

Richie Tozier đang nghiêng ghế ra sau, dựa lên tường, tán hươu tán vượn gì đó với Beverly Marsh, khiến cô đưa tay che miệng, khúc khích cười, Richie nhe răng cười rộng đến mang tai, một nụ cười sao thân thuộc đến thế. Còn phía bên trái Beverly là Eddie Kaspbrak, ngay trước mặt cậu, cạnh ly nước trên bàn là bình xịt bằng nhựa với tay nắm dạng cò súng cong cong từ chóp. Những phần râu ria nhìn có vẻ hiện đại hơn xưa, nhưng mục đích rõ ràng vẫn thế: nó là ống thở. Ngồi ở cuối bàn, quan sát ba người bạn của mình với nét mặt trộn lẫn giữa lo âu, thích thú và tập trung, là Ben Hanscom.

Bill chợt nhận ra trong vô giác, anh muốn đưa tay lên đầu, để rồi khoái chí, dù có phần ngậm ngùi trong giây phút suýt chút nữa anh đã xoa đầu để xem tóc anh có vi diệu mọc lại hay không - mái tóc màu hung xinh xắn mà anh cứ dần mất đi ngay từ lúc còn học năm hai đại học.

Hành động ấy chọt vỡ bong bóng. Thấy Richie không còn đeo kính, anh thầm nhủ: Chắc giờ cậu ấy đeo kính áp tròng rồi. Hẳn thế. Ngày xưa cậu ấy chúa ghét cặp kính của mình. Áo thun và quần nhung kẻ mà cậu hay mặc trước đây đã bị thay thế bằng bộ vest hẳn không phải hàng được treo trên mắc áo – Bill đoán trước mặt anh là một bộ vest được may đo vô cùng kỹ lưỡng trị giá khoảng chín trăm đô-la.

Beverly Marsh (nếu cô ấy vẫn còn mang họ Marsh) đã trở thành một phụ nữ đẹp nghiêng nước nghiêng thành. Thay vì đuôi ngựa bình thường năm xưa, mái tóc của cô - gần như y như màu tóc anh trước kia -buông dài xuống vai chiếc áo cánh trắng giản dị của hãng Ship ‘n Shore, mượt mà sắc tối. Dưới ngọn đèn mù mờ, mái tóc cô óng ánh như than hồng âm ỉ lửa cháy. Anh thấy mình tự nhủ cảm giác sẽ ra sao nếu luồn tay vào tóc cô. Câu chuyện xưa như Trái Đất, anh nghĩ đầy mỉa mai. Anh yêu vợ anh nhưng ôi, tình nhân ơi .

Bill đang nhắc tới bài hát I Love, I Love, I Love My Wife – But Oh! You Kid! viết vào năm 1909 với nội dung về ngoại tình.

Eddie trưởng thành mang nét hao hao tài tử Anthony Perkins, dù điều này có vẻ kỳ cục nhưng thật sự là thế. Gương mặt anh mang nhiều nếp nhăn hơn so với tuổi thật (dù cử chỉ của anh xem chừng nhanh nhẹn hơn Richie hay Ben), và lại càng đứng tuổi vì cặp kính không gọng anh đang đeo – kiểu kính ta có thể tưởng tượng một vị luật sư người Anh sẽ mang khi tiến đến băng ghế hoặc xem qua hồ sơ pháp lý. Tóc anh ngắn, cắt theo một kiểu khá lỗi mốt có tên là Ivy League, thịnh hành vào cuối những năm 50, đầu những năm 60. Anh mặc chiếc áo khoác ca rô lòe loẹt trông như vừa lôi xuống từ kệ Hàng thanh lý trong một cửa hàng quần áo nam sắp sửa dẹp tiệm đến nơi… nhưng đồng hồ đeo trên tay lại là của hãng Patek Philippe, và nhẫn đeo trên ngón út tay phải lại là nhẫn hồng ngọc. Viên ngọc to đến gớm guốc và phô trương đến độ chắc hẳn nó là đồ thật.

Ben là nhân vật thay đổi đến choáng váng, và khi nhìn cậu bạn lần nữa, Bill thấy cảm giác vô thực đang ồ ập đập vào mình. Khuôn mặt Ben vẫn thế, mái tóc anh, dù đã chớm bạc và dài hơn, vẫn được chải ngôi phải một cách kỳ cục. Nhưng người Ben ốm hẳn. Anh ngồi thoải mái trên ghế, áo khoác da giản dị, để lộ áo sơ-mi vải chambray màu xanh. Anh mặc quần jean Levi’s ống suông, mang bốt cao bồi, thắt lưng bản rộng với khóa dập bằng bạc. Bộ quần áo ôm dễ dàng tướng người gọn gàng và có eo. Một tay anh đeo vòng mắt xích nặng nề – không phải bằng vàng mà bằng đồng. Cậu ấy ốm đi nhiều quá, Bill thầm nghĩ. Cậu ấy chỉ còn là cái bóng của con người ngày xưa… Ben năm nào giờ đã thay da đổi thịt. Đời đúng là lắm chữ ngờ.

Có một khoảnh khắc im lặng khó tả giữa sáu người bọn họ. Ấy là một trong những phút giây lạ lùng nhất mà Bill Denbrough từng trải qua trong đời. Stan không có mặt, nhưng thành tố thứ bảy cũng đã tới đây. Trong gian phòng riêng ở nhà hàng này, Bill cảm nhận rõ mồn một sự hiện diện ấy đến mức nó gần như hiện thành hình người – nhưng không phải hình ảnh một ông già mặc chiếc áo choàng trắng, vác lưỡi hái trên vai. Nó là chấm trắng trên bản đồ trải dài từ năm 1958 đến năm 1985, một khu vực mà nhà thám hiểm có thể đặt tên Vùng đại Bí ẩn. Bill tự hỏi rốt cuộc ở nơi ấy có thứ gì. Liệu có cô Beverly Marsh nào mặc váy ngắn cũn cỡn khoe gần hết đôi chân dài, ngượng nghịu của mình, có cô Beverly Marsh mang bất trắng, mái tóc rẽ ngôi ngay giữa và duỗi thẳng? Liệu có cậu Richie Tozier giơ tấm bảng một mặt đề DỪNG CUỘC CHIẾN, còn mặt sau đề ĐƯA ROTC RA KHỎI TRƯỜNG hay không? Liệu có cậu Ben Hanscom đội chiếc mũ bảo hộ lao động màu vàng dán hình quốc kỳ phía trước, lái chiếc xe ủi với tấm bạt căng trên đầu, cởi trần, để lộ cái bụng càng lúc càng ít thò ra ngoài cạp quần hay không? Sinh vật thứ bảy kia có phải là một người da đen không? Người đàn ông này không can hệ gì đến H. Rap Brown hay Grandmaster Flash, anh ta mặc áo trắng trơn, mang quần J. C. Penney nhạt nhòa, anh ngồi một góc thư viện ở Đại học Maine, viết luận về nguồn gốc chú thích và tác dụng khả dĩ của số ISBN trong việc phân loại sách trong lúc đoàn người biểu tình ngoài kia, trong lúc Phil Ochs ca vang “Richard Nixon, hãy tìm một đất nước khác mà dung thân”, trong lúc bao người ngã xuống, ngũ tạng nát bấy vì những ngôi làng họ còn chẳng biết đọc tên, anh ta ngồi đó, cắm cúi vào đống sách vở (Bill trông thấy anh ta) xeo xéo dưới ánh trời mùa đông trắng xóa, khuôn mặt chăm chú, đăm chiêu, biết rõ để trở thành thủ thư chẳng khác nào việc con người tiến gần nhất có thể để ngự trị trên chiếc ghế cao nhất của động cơ vĩnh hằng. Liệu anh ta có phải người thứ bảy? Hay đó chính là chàng thanh niên trẻ đứng trước gương, nhìn cái trán ngày càng cao của mình, nhìn mới tóc đỏ bị rụng khi chải, nhìn hình ảnh phản chiếu trong gương của chồng vở trên trường đại học để trên bàn, những cuốn vở chứa bản thảo đầu tiên đầy đủ, còn rối rắm của cuốn tiểu thuyết tên Joanna sắp sửa được xuất bản trong năm tới?

ROTC là viết tắt của Reserve Officers’ Training Corps, là các chương trình đào tạo sĩ quan cấp cao đẳng và đại học để đào tạo sĩ quan cho lực lượng vũ trang Mỹ.

Mã số hiệu chuẩn quốc tế có tính chất thương mại duy nhất để xác định một cuốn sách.

Vài điều trong số đó, tất cả trong số đó, hoặc chẳng có gì trong số đó.

Mà thật ra nó cũng chẳng quan trọng. Người thứ bảy hiện diện đây, trong khoảnh khắc ấy, tất cả bọn họ đều cảm nhận được nó… và có lẽ họ thấm thía sức mạnh ghê gớm của thứ kéo họ lại với nhau. Nó còn sống, Bill nghĩ, lạnh người dưới lần áo. Mắt sa giông, đuôi rồng, Bàn tay xác ướp… bất kể Nó là gì, Nó đã xuất hiện trở lại, ở Derry này. Chính Nó.

Rồi anh chợt cảm thấy Nó chính là nhân vật thứ bảy; rằng Nó và thời gian là hai đại lượng có thể thay thế nhau, rằng Nó mang khuôn mặt của tất cả bọn họ cũng như của bao nạn nhân khác mà Nó đã đe dọa và giết hại… và chẳng hiểu sao, ý tưởng cho rằng Nó có thể là bọn họ lại là điều đáng kinh sợ nhất. Bao nhiêu phần trong chúng ta đã bị bỏ lại phía sau? Anh nghĩ, lòng chợt dâng sợ hãi. Bao nhiêu phần trong chúng ta vẫn mắc kẹt trong cống rãnh và cống thoát nước nơi Nó trú ngụ… nơi Nó ăn tươi nuốt sống? Liệu đó có phải lý do chúng ta đã quên? Vì một phần trong mỗi chúng ta chẳng có tương lai, chẳng lớn lên, cũng chẳng rời khỏi Derry này? Lẽ nào là thế?

Anh không thấy câu trả lời trên khuôn mặt họ… chỉ có câu hỏi anh đặt ra phản chiếu lại nơi anh.

Ý nghĩ đến và đi trong vỏn vẹn vài giây, hoặc mi-li-giây, tự tạo khung thời gian của riêng mình, và tất cả những suy tưởng trên vụt qua đầu Bill Denbrough trong chưa tới năm giây.

Đoạn Richie Tozier, lúc ấy đang tựa vào tường, nhoẻn cười và nói: “Ôi trời, nhìn kìa – Bill Denbrough chuyển sang một đầu mái vòm kim loại. Cậu lấy sáp Turtle chà bóng quả đầu của mình đấy hả, Bill To Bự?”

Nghe đến đấy, chưa kịp định thần, Bill đã mở miệng và nghe bản thân mình thốt lên: “Tiên sư cái ngữ miệng ăn mắm ăn muối nhà cậu, Tía Lia.”

Trong một khắc, cả bọn đều im lặng - rồi căn phòng ầm ĩ tiếng cười giòn tan. Bill bước đến, bắt tay mọi người, và dù trong lòng vẫn nhen nhóm một cảm giác tệ hại, anh cũng cảm thấy mình được xoa dịu đôi phần: cảm giác rằng anh đã trở về nhà mãi mãi.

3

BEN HANSCOM ỐM ĐI

Mike Hanlon gọi đồ uống, và như để bù đắp cho khoảng im lặng trước đó, mọi người cùng rôm rả chuyện trò. Hóa ra Beverly Marsh giờ đã là Beverly Rogan. Cô kể đã kết hôn với một đấng phu quân tuyệt vời ở Chicago, nhờ anh mà cuộc đời cô một bước lên tiên, bằng phép thần thông quảng đại nào đó, anh đã biến tài khâu vá của vợ mình thành cơ ngơi kinh doanh váy áo phát đạt. Eddie Kaspbrak hiện sở hữu một công ty xe limousine ở New York. “Tớ đoán có khi vợ tớ đang mây mưa với Al Pacino lúc này ấy chứ,” anh nói, khẽ mỉm cười, và mọi người cười nắc nẻ.

Cả hội đều biết Bill và Ben công thành danh toại ra sao, nhưng Bill vẫn không tránh khỏi cảm thấy kỳ khôi khi phải đến gần đây, rất gần là đằng khác, mới phát sinh những mối liên hệ cá nhân giữa tên tuổi của họ - Ben là kiến trúc sư, anh là nhà văn - với những người mà họ đã biết từ thuở bé. Beverly mang theo cuốn Joanna và con nước đen trong túi xách, còn đề nghị anh ký tặng. Bill đồng ý, và trong lúc ký, anh để ý cả hai cuốn sách đều còn mới coóng - như thể cô vừa mua chúng trên kệ sách ở sân bay khi bước xuống máy bay vậy.

Bằng cung cách tương tự, Richie ca tụng với Ben rằng cậu ngưỡng mộ trung tâm truyền thông BBC ở London ra sao… nhưng trong mắt anh lấp lửng một đốm sáng đầy bối rối, như thể anh không tài nào liên kết được tòa nhà ấy với người đàn ông này… hoặc với cậu bé mập ú chân thành từng chỉ cho họ cách làm phân nửa Vùng Đất Cằn bị ngập bằng những tấm ván chôm chỉa và một cánh cửa gỉ sét.

Richie làm phát thanh viên ra-đi-ô ở California. Anh kể với nhóm bạn mình nổi danh là Người đàn ông Nghìn giọng, nghe thấy thế, Bill càm ràm, “Chúa ơi, Richie, Giọng nói của cậu nghe kinh chết đi được.”

“Thưa quý ông, nịnh bợ không được tích sự gì đâu.”

Khi Beverly hỏi có phải anh đã chuyển sang đeo kính áp tròng hay không, Richie trầm giọng thì thầm, “Xích lại gần đây, người yêu ơi. Nhìn vào mắt anh đi.” Beverly làm theo, rồi khe khẽ reo lên khi Richie nghiêng đầu để cô trông thấy rìa dưới kính áp tròng loại mềm của Hydromist mà anh đang đeo.

“Thư viện vẫn thế à?” Ben hỏi Mike Hanlon.

Mike lấy ví và rút ra từ đó một bức hình chụp thư viện từ trên xuống. Trông anh tự hào như một người bố đang khoe hình con của mình khi người ta hỏi thăm về gia đình. “Một cậu lái máy bay trọng lượng nhỏ đã chụp bức hình này,” anh giải thích trong lúc mọi người chuyền tay nhau. “Bấy lâu nay tớ đang tìm cách thuyết phục Hội đồng thị trấn hoặc mạnh thường quân nào đó tài trợ vốn để phóng to bức hình này thành một bức bích họa cho thư viện trẻ em nhưng vẫn xôi hỏng bỏng không. Nhìn nó đẹp đấy chứ?”

Mọi người đều gật gù đồng ý. Ben cầm lâu nhất, đăm chiêu ngắm nghía bức ảnh. Cuối cùng, anh gõ vào hành lang nối giữa hai tòa nhà. “Cậu có nhác thấy nó ở chỗ nào khác không, Mike?”

Mike mỉm cười. “Ở trung tâm truyền thông cậu thiết kế chứ đâu,” anh nói và cả bọn phá lên cười.

Đồ uống được đem ra. Họ ngồi vào bàn.

Sự im lặng bất ngờ, ngột ngạt và khó chịu một lần nữa bao trùm. Họ đưa mắt nhìn nhau.

“Sao nào?” Beverly cất giọng nói ngọt ngào, có phần khàn đục của cô. “Chúng mình nâng ly vì gì bây giờ?”

“Vì chúng ta,” Richie chợt lên tiếng. Khuôn mặt anh không nhoẻn nụ cười. Anh nhìn thẳng vào mắt Bill, và với một nguồn lực mãnh liệt đến khó cưỡng, Bill nhớ lại hình ảnh anh và Richie đứng giữa đường Neibolt, sau khi thứ sinh vật chẳng rõ là một gã hề hay một gã Người sói kia biến mất, ôm nhau thật chặt, nước mắt giàn giụa. Khi nhấc ly lên, tay anh run lẩy bẩy, khiến đồ uống vương vãi ra khăn trải bàn.

Richie chầm chậm đứng dậy, mọi người lần lượt làm theo: đầu tiện là Bill, sau đó là Ben và Eddie, Beverly rồi cuối cùng là Mike Hanlon. “Vì chúng ta,” Richie khai màn, và giống như tay Bill, giọng anh run run. “Nâng ly vì Hội Cùi Bắp năm 1958.”

“Vì Hội Cùi Bắp,” Beverly nói với vẻ thích thú.

“Vì Hội Cùi Bắp,” Eddie cất giọng. Mặt anh nhợt nhạt và già nua sau cặp kính không gọng.

“Vì Hội Cùi Bắp,” Ben đồng tình. Một nụ cười mỉm chi, đau xót thoáng qua trên khóe môi anh.

“Vì Hội Cùi Bắp,” Mike Hanlon khẽ nói.

“Vị Hội Cùi Bắp,” Bill kết thúc.

Tất cả cụng li với nhau rồi uống.

Im lặng lại choán lấy không gian, nhưng lần này, Richie không phá vỡ nó nữa. Lần này, sự im lặng là cần thiết.

Cả bọn ngồi xuống, Bill lên tiếng, “Nào, bật mí đi, Mike. Nói cho bọn tớ biết dạo này có chuyện gì xảy ra và chúng ta có thể làm gì.”

“Ăn đã,” Mike nói. “Rồi bọn mình bàn chuyện.”

Đoạn họ dùng bữa… họ ăn thoải mái và thật lâu. Bill nghĩ đến câu chuyện cười ngày xưa về người tù bị kết án, nhưng đã lâu lắm rồi, anh mới cảm thấy ngon miệng thế này… từ lúc anh còn bé đến giờ, anh chợt nghĩ. Món ăn không quá xuất sắc nhưng cũng không tệ, phần ăn lại rất nhiều. Sáu người bọn họ bắt đầu san sẻ cho nhau - sườn heo, gà nấm xốt dầu hào, cánh gà om kỹ, trứng cuộn, củ năng bọc thịt heo hun khói, xiên thịt bò.

Họ khởi đầu bằng khay các món khai vị pu-pu , gồm nhiều loại thịt nhỏ và hải sản. Richie nghịch ngợm làm trò trẻ con khi lấy mỗi thứ một ít, nướng trên ngọn lửa ở giữa khay mà anh và Beverly dùng chung - trong đó có nửa miếng trứng cuộn và vài hạt đậu đỏ. “ Flambé ngay tại bàn, quá xá ngầu,” anh nói với Ben. “Tớ sẵn sàng ăn cứt trên ván nếu được flambé ngay tại bàn cho tớ.”

Flambé là kỹ thuật đốt rượu trong nấu ăn chuyên nghiệp, thường áp dụng trong chế biến các món Âu.

[^anc] Shit on the Shingle, đây là tiếng lóng của quân đội Hoa Kỳ chỉ món thịt bò băm xốt kem phết trên bánh mì nướng.

“Chắc cậu từng ăn rồi chứ gì,” Bill chọc. Beverly cười lăn cười bò, đến độ suýt chút nữa thì phun hết đồ ăn trong miệng lên khăn ăn.

“Ôi Chúa ơi, tớ sắp ói mất thôi,” Richie bắt chước giống y giọng của Don Pardo, Beverly được thể lại càng cười nắc nẻ, đỏ mặt tía tai.

“Thôi đi, Richie,” cô nói. “Tớ cảnh cáo cậu đấy.”

“Lời cảnh cáo được chấp nhận,” Richie đáp. “Ăn mạnh vào, bạn hiền.”

Đích thân Rose mang tráng miệng đến cho bọn họ - một chiếc bánh kem lạnh nướng Alasaka, đoạn cô đứng ở đầu bàn, chỗ Mike ngồi, sau đó châm lửa.

“Lại có thêm flambé ở bàn tớ kìa,” Richie mãn nguyện nói bằng giọng của một người đã chết và thăng lên thiên đường. “Chắc đây là bữa ăn tuyệt nhất mà tớ được thưởng thức trong đời.”

“Anh cứ nói quá,” Rose ngượng ngùng nói.

“Nếu tôi thổi tắt lửa thì điều tôi ước có trở thành sự thật không?” Richie hỏi.

“Ở Jade Phương Đông, mọi điều ước đều biến thành hiện thực.”

Nụ cười của Richie chợt tắt. “Tôi quý tấm thịnh tình của cô nhưng thú thực, tôi có phần e ngại độ xác đáng.”

Họ đánh chén rất nhiệt tình món bánh tráng miệng. Khi ngả ra sau ghế, với cái bụng ních vào cạp quần, Bill vô tình để ý đến chiếc ly bày trên bàn. Chẳng hiểu sao anh trông thấy cả trăm cái ly một bữa ăn và có Chúa mới biết anh đã uống bao nhiêu chai bia Kirin. Mọi người cũng đã ngà ngà say. Trong tình trạng này, có cho họ ăn con ki bowling chiên lên thì khéo có khi họ cũng khen ngon. Vậy mà anh chẳng cảm thấy say chút nào.

“Từ lúc còn bé tới giờ, tớ mới ăn nhiều như vậy đấy,” Ben thốt lên. Mọi người quay sang nhìn anh, khiến đôi má anh ửng đỏ. “Tớ nói thật. Đây có lẽ là bữa ăn hoành tráng nhất tớ từng ăn từ lúc lên lớp Mười.”

“Cậu ăn kiêng à?” Eddie hỏi.

“Ừ” Ben trả lời. “Tớ theo chế độ ăn kiêng Tự do Ben Hanscom.”

“Sao cậu lại ăn kiêng thế?” Richie tò mò.

“Cậu không muốn nghe câu chuyện xưa như diễm ấy đâu…” Ben cựa người bối rối.

“Tớ không biết các cậu ấy nghĩ thế nào,” Bill lên tiếng, “nhưng tớ thì muốn đấy. Kể đi, Ben. Cơ duyên nào đã khiến Haystack Calhoun thành người mẫu tạp chí trước mắt chúng ta thế này?”

Richie phì cười. “Haystack, đúng thật. Tí nữa thì tớ quên cái tên này.”

“Cũng không có gì nhiều nhặn,” Ben nói. “Đúng hơn là chẳng có chuyện gì là đằng khác. Sau mùa hè năm ấy – sau năm 1958 – nhà tớ ở Derry thêm hai năm. Sau đó mẹ tớ mất việc, nên mẹ con tớ phải chuyển đến Nebraska, vì mẹ tớ có một người em gái ở đó đồng ý cưu mang hai mẹ con cho đến khi mẹ tớ lo được công ăn việc làm. Chẳng tuyệt vời gì đâu. Em gái của mẹ tớ, dì Jean, là một người ki bo bủn xỉn, suốt ngày rao giảng về vị trí của mỗi người chúng ta trong nhân gian, rằng mẹ con tớ may mắn ra sao khi mẹ tớ có một người em sẵn sàng giang tay cứu giúp, mẹ con tớ hạnh phúc ra sao khi không phải sống nhờ trợ cấp, vân vân và mây mây. Tớ béo ú khiến dì khó chịu ra mặt. Dì ấy nhất quyết không nhắm mắt làm ngơ. ‘Ben, cháu lo tập thể dục nhiều hơn đi. Ben, cháu sẽ bị đau tim trước tuổi bốn mươi nếu cháu không giảm cân. Ben, trên thế giới có bao trẻ em đang chết đói, cháu phải biết xấu hổ vì bản thân chứ.’” Anh thoáng dừng lại, uống ngụm nước.

“Vấn đề là dì cũng lôi chuyện trẻ em chết đói ra ca thán nếu tớ không rửa chén.”

Richie gật gù và phá lên cười.

“Tóm lại, đất nước mới vừa thoát khỏi suy thoái, mẹ tớ mất gần cả năm ròng mới tìm được công việc ổn định. Đến lúc hai mẹ con tớ chuyển khỏi nhà dì Jean ở La Vista và đến sống ở Omaha, tớ nặng thêm bốn mươi kí lô so với lúc các cậu biết tớ. Tớ đoán tớ lên cân như vậy chỉ để chọc giận bà dì.”

Eddie huýt sáo. “Thế tức là cậu tầm…”

“Tầm chín lăm kí lô,” Ben sa sầm nói. “Tớ học trường Trung học Miền Đông ở Omaha, và tiết thể dục thì… chậc, tệ hại lắm. Đám bạn trên lớp gọi tớ là Vếu. Đủ để các cậu hình dung rồi đấy.

“Cái trò trêu chọc ấy kéo dài suốt bảy tháng trời, rồi một ngày, lúc thay đồ trong phòng sau khi tiết học kết thúc, hai ba đứa bạn cùng lớp giở trò… vỗ bụng tớ. Bọn chúng gọi việc đó là ‘đập mỡ’. Hai ba đứa khác bèn hùa theo. Rồi lại thêm bốn, năm đứa. Chốc sau, cả bọn xúm xít đuổi tớ khắp phòng, lên sảnh, hết vỗ bụng lại vỗ mông, lưng và chân tớ. Sợ quá, tớ bắt đầu la hét thì bọn chúng cười như điên như dại.

“Các cậu biết không,” Ben tiếp tục, mắt nhìn xuống, tay cẩn trọng sắp xếp lại dao nĩa, “đó là lần cuối cùng tớ nghĩ đến Henry Bowers, cho đến lúc Mike gọi cho tớ hai hôm trước. Đứa đầu têu là một cậu con nhà nông với bàn tay xù xì to bè, và khi chúng đuổi theo, tớ nhớ tớ đã tự nhủ trong đầu Henry đã trở lại. Tớ nghĩ – à không, chính xác hơn là tớ biết – đó là lúc tớ phát hoảng.

Bọn chúng rượt đuổi tớ lên hành lang, ngang qua ngăn tủ nơi những thành viên chơi thể thao cất đồ. Tớ không mảnh vải che thân và người đỏ như con tôm hùm. Tớ đoán có thể nói tớ đã đánh mất tự tôn và đánh mất chính mình. Không ý thức được mình đang ở đâu, tớ cứ thế hét lên cầu cứu. Rồi bọn chúng rượt tới phía sau, hét lên ‘Đập mỡ! Đập mỡ! Đập mỡ!’ Có một băng ghế…”

“Ben ơi, cậu không cần gắng gượng kể như vậy đâu,” Beverly chợt lên tiếng. Mặt cô trắng bệch. Cô nghịch ly nước của mình, suýt chút nữa đánh đổ ra ngoài.

“Cứ để cậu ấy nói nốt,” Bill ôn tồn.

Ben đưa mắt nhìn anh một chốc rồi gật đầu. “Có một băng ghế cuối hành lang. Tớ vấp phải nó và đập đầu. Bọn chúng bao vây tớ khoảng một hai phút gì đó thì một giọng nói cất lên, ‘Thôi. Đủ rồi đấy. Các trò đi thay đồ mau.’

Hóa ra huấn luyện viên đang đứng ngay hành lang, thầy mặc quần thể thao màu xanh có sọc trắng dọc hai bên và áo thun trắng. Chẳng rõ thầy đứng đó tự lúc nào. Cả bọn nhìn thấy, đứa thì cười, đứa thì hối lỗi, đứa thì cứ nghệt mặt ra. Bọn chúng tản đi. Còn tớ òa lên khóc.

Huấn luyện viên cứ đứng ở hành lang dẫn đến phòng tập, nhìn tớ, nhìn thằng bé béo ú không mảnh vải trên người, da đỏ tấy vì bị vỗ mạnh, nhìn thằng bé béo ú ấy bù lu bù loa trên sàn.

Cuối cùng, thầy ấy lên tiếng, ‘Benny, tiên sư nhà em, em thôi đi được chưa?’

Tớ vô cùng kinh ngạc khi nghe thấy nói như thế. Tớ bèn ngước nhìn thầy, thầy tiến tới, ngồi lên băng ghế tớ bị vấp ban nãy. Thầy chúi người về phía tớ, cái còi trên cổ thầy đung đưa đập vào trán tớ. Trong một khắc, tớ cứ tưởng thầy định hôn tớ hay làm gì đó nên tớ rụt người lại, nhưng hóa ra điều thầy làm là chộp lấy ngực tớ và bóp chặt. Đoạn thầy ấy bỏ ra, chùi lên quần như thể vừa chạm vào thứ gì đó dơ bẩn lắm.

‘Em nghĩ là tôi sẽ an ủi em à?’ Thầy hỏi. ‘Đừng có mà mơ. Em như cái gai trong mắt chúng nó và cả trong mắt tôi nữa. Bọn tôi có lý do khác nhau, nhưng đó là vì chúng là trẻ con, còn tôi là người lớn. Chúng nó không biết tại sao em khiến chúng nó gai mắt, còn tôi thì biết. Là vì tôi thấy em chôn vùi thân thể đẹp đẽ mà Chúa ban tặng trong đống mỡ gớm ghiếc ấy. Em chỉ biết ăn thùng uống vại cho sướng mồm, điều đó làm tôi muốn mửa. Giờ thì nghe tôi đây, Benny, vì đây là lần duy nhất tôi nói thẳng với em. Tôi làm huấn luyện viên cho đội bóng đá, bóng rổ và điền kinh, thỉnh thoảng tôi còn phải lo cho đội bơi. Nên tôi chỉ nói một lần thôi. Em béo ở đây này.’ Đoạn thầy ấy gõ vào trán tớ, ngay chỗ còi đập vào ban nãy. ‘Em hãy bắt cái đầu của mình ăn kiêng đi, rồi em sẽ giảm được cân. Nhưng những đứa như em còn lâu mới làm được điều đó.’“

“Lão khốn này!” Beverly căm phẫn nói.

“Ừ.” Ben nói, miệng nhoẻn cười. “Song thầy ấy không nghĩ mình là một gã tồi, thầy ấy ngu ngốc đến thế kia mà. Có lẽ thầy ấy xem Jack Webb trong phim D.I. cả sáu chục lần rồi, nên thầy ấy cứ tưởng thầy ấy đang cứu giúp tớ. Hóa ra đúng là thế thật. Vì lúc ấy, tớ chợt nghĩ đến một điều. Tớ nghĩ…”

Anh quay đi, mày chau lại-và Bill cảm nhận được một cảm giác lạ lùng rằng anh biết Ben sắp sửa nói gì.

“Tớ vừa nói lần cuối cùng tớ nghĩ đến Henry Bowers là lúc đám bạn rượt theo, vỗ vào người tớ phải không. Chậc, khoảnh khắc huấn luyện viên đứng dậy bỏ đi là lần cuối cùng tớ thực sự nghĩ về những gì chúng ta đã làm vào mùa hè năm 58. Tớ đã nghĩ…”

Anh lừng khừng, đưa mắt nhìn từng người bạn, tựa hồ thăm dò nét mặt của họ. Đoạn anh cẩn thận lựa chọn câu chữ.

“Tớ nghĩ việc chúng ta đã đồng hành bên nhau tuyệt vời biết mấy. Tớ nghĩ về những điều chúng ta đã làm, phương thức chúng ta làm, và tớ chợt nhận ra nếu huấn luyện viên phải đối mặt với tai ương như thế, chắc hẳn tóc thầy ấy sẽ bạc trắng và trái tim thầy ấy sẽ ngừng đập trong lồng ngực như chiếc đồng hồ không được lên giây cót. Tất nhiên như thế chẳng hay hớm gì, nhưng cách thầy ấy cư xử với tớ cũng chẳng đàng hoàng gì cho cam. Nói toạc móng heo thì…”

“Cậu nổi sùng lên,” Bill nói.

Ben mỉm cười. “Ừ, chính xác là thế,” anh kể tiếp. “Tớ gọi ‘Huấn luyện viên!’

Thầy bèn quay lại nhìn tớ. ‘Thầy bảo thầy làm huấn luyện viên cho đội điền kinh phải không ạ?’ Tớ hỏi.

‘Đúng rồi,’ thầy đáp. ‘Có liên quan gì tới em đâu.’

‘Thầy nghe em nói đây, ông thầy đầu óc ngu si tứ chi phát triển kia,’ tớ nói, và thầy ấy mắt chữ O mồm chữ A. ‘Em sẽ tham gia vào đội điền kinh từ tháng Ba. Thầy nghĩ thế nào ạ?’

‘Thầy nghĩ em nên ngậm miệng lại trước khi rước họa vào thân,’ thầy ấy dọa.

‘Em sẽ chạy nhanh hơn bất cứ thành viên nào do thầy huấn luyện,’ tớ tuyên bố chắc nịch như thế. ‘Em sẽ chạy nhanh hơn át chủ bài trong đội của thầy. Sau đó, em muốn thấy phải xin lỗi em.’

Thầy ấy nắm hai tay lại thật chặt, và trong phút chốc, tớ cứ tưởng thầy ấy sẽ quay lại, cho tớ biết thế nào là lễ độ. Nhưng rồi thầy ấy buông tay. ‘Cứ ở đấy mà đấu võ mồm đi, thằng nhóc béo ú,’ thầy nói. ‘Mồm em hay cái bô làng thế hả. Nhưng ngày mà em chạy nhanh hơn át chủ bài của thầy sẽ là ngày thầy nghỉ việc ở đây và ra hái ngô trên đường chạy.’ Đoạn thầy bỏ đi.”

“Sau đó cậu giảm cân à?” Richie hỏi.

“Ừ.” Ben đáp. “Nhưng huấn luyện viên sai ở một điểm. Chướng ngại vật không nằm trong đầu tớ mà từ mẹ tớ. Tối đó, tớ về nhà, nói với mẹ rằng tớ muốn giảm cân. Rốt cuộc, hai mẹ con cãi nhau nảy lửa, ai cũng bù lu bù loa lên. Mẹ tớ lại bắt đầu điệp khúc quen thuộc: tớ không mập , chỉ là xương tớ to thôi, và cậu nhóc to con mai này trưởng thành cũng sẽ to cao, do vậy phải ăn nhiều cho có sức. Tớ nghĩ… điều đó khiến mẹ tớ cảm thấy an tâm. Một thân một mình nuôi con là điều rất đáng sợ với mẹ tớ. Mẹ tớ không có kiến thức, cũng chẳng có kỹ năng, bà chỉ biết chăm chỉ làm lụng thôi. Và khi bà có thể cho tớ ăn thêm phần nữa… hoặc khi bà nhìn qua bàn ăn, thấy tớ cứng cáp…”

“Bà ấy cảm thấy mình như đang giành thắng lợi trong cuộc chiến,” Mike nói.

“Đúng thế,” Ben uống hết cốc bia, lấy mu bàn tay chùi lớp bọt vương thành ria mép ở môi trên. “Tóm lại, trận chiến lớn nhất không nằm trong đầu tớ mà là với mẹ tớ. Mẹ tớ phản đối suốt mấy tháng liền. Mẹ không khâu lại quần áo của tớ, cũng không chịu mua đồ mới cho tớ. Lúc ấy, tớ đã bắt đầu chạy, tớ chạy khắp nơi, thỉnh thoảng trống ngực tớ đập dồn đến độ tớ tưởng mình sắp ngất đến nơi. Lần đầu tiên hoàn thành chạy cự ly trung bình, tớ nôn thóc nôn tháo rồi lăn đùng ra ngất. Suốt một thời gian sau, tớ cứ ói lên ói xuống. Về sau, tớ phải vừa xách quần vừa chạy.

Sáng tớ chạy đi giao báo, túi treo quanh cổ cứ nảy tới nảy lui đập vào ngực, còn hai tay tớ thì giữ quần. Áo thun tớ mặc phần phật chẳng khác nào cánh buồm. Đêm đến, khi về nhà, tớ chỉ ăn nửa phần thức ăn trên đĩa, và y như rằng mẹ tớ sẽ khóc lóc ỏm tỏi, bảo rằng tớ đang tự bỏ đói bản thân, đang tự sát, mắng tớ không thương yêu mẹ nữa, không biết quý trọng công sức mẹ một nắng hai sương vì tớ.”

“Lạy Chúa,” Richie lẩm bẩm và châm thuốc. “Sao cậu đối mặt với chuyện đó được vậy Ben.”

“Thì tớ cứ mường tượng đến khuôn mặt của lão huấn luyện viên thôi,” Ben đáp. “Tớ tái hiện đi tái hiện lại trong đầu hình ảnh của thầy ấy sau khi bóp ngực tớ trên hành lang dẫn tới phòng thay đồ của nam sinh hôm ấy. Đó là động lực của tớ. Tớ tự mua quần áo mới bằng tiền giao báo, nhờ ông cụ ở chung cư tầng một dùng dùi đục thêm lỗ trên thắt lưng - tớ nhớ phải đến năm lỗ là ít. Tớ nghĩ có lẽ lúc ấy, tớ cũng nhớ ngày xưa có lần tớ phải tự đi mua quần jean mới – hôm Henry đẩy tớ vào Vùng Đất Cằn và thiếu điều tẩn tớ một trận nên thân.”

“Ừ, Eddie nói và nhoẻn miệng cười. “Cậu là người bày tớ đổ sữa sô-cô-la chứ ai. Cậu còn nhớ không?”

Ben gật đầu nói tiếp. “Nếu tớ có nhớ ra thì cũng chỉ trong một khắc thôi – sau đó ký ức biến mất. Tầm khoảng thời gian ấy, tớ bắt đầu học lớp Sức khỏe và Dinh dưỡng ở trường, và tớ nhận ra ta có thể ăn rau sống thoải mái mà không sợ tăng cân. Thế là một tối nọ, mẹ tớ làm salad với rau xà lách và rau bó xôi sống, xắt thêm táo với chút thịt heo muối còn dư. Trước giờ tớ không ăn rau sống rau ráu như thỏ vậy đâu, thế mà tớ ăn đến ba đĩa và không tiếc lời tán tụng với mẹ món salad tuyệt cú mèo ra sao.

Nhờ thế mà gạo xay ra cám đấy. Mẹ tớ không quan tâm tớ ăn cái gì mà chỉ cần tớ ăn nhiều là được. Mẹ tớ thiếu điều cho tớ ngập mặt trong salad luôn mà. Tớ ăn suốt ba năm liên tục. Thỉnh thoảng có những lúc tớ phải tự nhìn vào gương để kiểm tra xem mũi mình có rung như mũi thỏ hay không.”

“Thế ông huấn luyện viên ấy về sau ra sao?” Eddie hỏi. “Cậu có tham gia chạy điền kinh không? Anh chạm vào ống thở, như thể nghĩ đến chuyện chạy đã khiến anh phải dùng đến nó.

“À có, tớ có tham gia,” Ben đáp. “Tớ tham gia cự ly 200 mét và 400 mét. Lúc đó, tớ đã giảm hơn ba mươi kí, nhổ giò cao thêm năm phân nên phần thịt thà còn lại được phân bố hợp lý hơn. Vào hôm thi vòng loại đầu tiên, tớ thắng sáu vòng cự ly 200 mét và thắng tám vòng cự lý 400 mét. Đoạn tớ bước đến chỗ huấn luyện viên, bộ mặt lão hầm hầm thiếu điều nộ khí xung thiên, tớ lên tiếng: ‘Có vẻ đã đến lúc thầy bước ra khỏi đường chạy để hái ngô rồi đấy. Khi nào thầy đi Kansas thế ạ?’

Ban đầu thầy ấy lặng thinh – chỉ vung tay cho tớ cú trời giáng khiến tớ ngã lăn quay ra đất. Đoạn ông ấy bảo tớ biến khỏi sân chạy, rằng ông ấy không muốn một thằng coi trời bằng vung như tớ trong đội điền kinh.

‘Dù Tổng thống Kennedy có bổ nhiệm em vào, em cũng chẳng ham,’ tớ nói, tay chùi máu nơi khóe miệng. ‘Và vì chính thầy là người khiến em bắt đầu nên em sẽ không buộc thầy giữ lời hứa… nhưng lần sau, khi thấy ngồi ăn một đĩa bắp luộc to tướng thì hãy nhớ đến em.’

Thầy ấy bèn dọa nếu tớ không cút xéo ngay lập tức thì thầy ấy sẽ tẩn cho tớ một trận thừa sống thiếu chết.” Ben khẽ mỉm cười… nhưng nụ cười ấy chẳng vui vẻ gì cho cam, và hẳn nhiên không có chút hoài niệm nào. “Đó là nguyên văn những gì thầy ấy nói với tớ. Ánh mắt của mọi người đổ dồn vào hai người bọn tớ, kể cả những đứa tớ đánh bại ban nãy. Nhìn chúng có vẻ ngượng ngùng. Tớ bèn đáp, ‘Thưa huấn luyện viên, em nói thấy điều này nhé. Thầy được đằng chân thì em còn chấp nhận, vì thầy là một kẻ giá áo túi cơm nhưng quá già để tiếp thu cái mới. Nhưng thầy lân đằng đầu mà xem, em sẽ tìm cách để khiến thầy mất việc. Em không biết em có làm được hay không, nhưng em cá em sẽ đánh liều đấy. Sau khi giảm cân, em đã có được chút tự tôn và chút bình yên. Đó là những điều đáng để em phấn đấu.’“

“Nghe tuyệt vời quá, Ben ạ,” Bill nhận xét. “Nhưng nhà văn trong tớ tự hỏi liệu có đứa trẻ nào dám nói năng kiểu đấy không.”

Ben gật đầu, vẫn giữ nụ cười kỳ lạ ấy. “Tớ cũng nghĩ đứa trẻ nào chưa từng trải qua những điều xảy đến với chúng ta sẽ không làm được đâu,” anh nói. “Nhưng tớ đã nói… và tớ không nói suông đâu.”

Ngẫm nghĩ một lát, Bill gật đầu. “Ừ rồi.”

“Huấn luyện viên lùi lại, hai tay chống hông,” Ben kể tiếp. “Mồm ông ấy há hốc rồi ngậm lại. Không ai hé răng nửa lời. Tớ bỏ đi, và đó là lần cuối cùng tớ dính líu đến huấn luyện viên Woodleigh. Khi giáo viên chủ nhiệm đưa cho tớ tờ đăng ký khóa học năm lớp Mười một, có người đã đánh hai chữ được miễn bên cạnh môn Thể dục, còn huấn luyện viên đã ký tên ở đó.”

“Cậu đánh bại lão rồi!” Richie reo lên, nắm tay vung vẩy trên đầu. “Quá chất, Ben ơi!”

Ben nhún vai. “Tớ nghĩ người mà tớ đánh bại là bản thân mình. Tớ đoán huấn luyện viên cho tớ cái cớ khởi đầu… nhưng nhờ nghĩ về các cậu mà tớ mới có niềm tin mình làm được. Và tớ đã thành công.”

Ben lại nhún vai lịch lãm, nhưng Bill dám chắc anh trông thấy những giọt mồ hôi li ti rịn trên tóc bạn mình. “Màn tự thuật đến đây là hết. Có điều cho tớ xin thêm cốc bia. Nói nhiều quá, tớ khát khô cả cổ.”

Mike ra hiệu cho nhân viên phục vụ.

Rốt cuộc, cả sáu người bọn họ cùng gọi thêm đồ uống, và họ chỉ tán gẫu dăm ba câu chuyện phiếm trong lúc chờ bia ra. Bill nhìn cốc bia, quan sát bọt khí nổi lên trên thành ly. Anh thấy kỳ khôi và bất ngờ khi nhận ra bản thân mình đang đợi ai đó trong số các bạn kể về những năm xa cách ấy – có thể là Beverly, cô sẽ khoe về đấng phu quân tuyệt vời mà cô kết hôn (dù anh ta tẻ ngắt, như đa số đàn ông tuyệt vời đều thế), hoặc Richie Tozier, anh sẽ kể về Những Tai nạn Buồn cười trên chương trình phát thanh, hoặc Eddie Kaspbrak, anh sẽ bật mí cho họ Teddy Kennedy ngoài đời ra sao, Robert Redford boa có sộp không… hoặc có khi anh sẽ cho họ vài góc nhìn về lý do Ben có thể giảm cân còn anh vẫn phải bấu víu lấy ống thở của mình.

Bill nghĩ thầm trong bụng. Tình hình là Mike có thể lên tiếng bất cứ lúc nào, nhưng mình chưa chắc mình đã sẵn sàng tinh thần để nghe điều cậu ấy phải nói. Tình hình là tim mình đang đập hơi nhanh trong lồng ngực và tay mình đang lạnh ngắt. Tình hình là đã hơn hai mươi lăm năm mà mình vẫn sợ hãi nhường này. Cả bọn đều thế. Nên ai đó hãy nói gì đi. Hãy nói về sự nghiệp, bề bạn đời, về cảm tưởng khi nhìn các bạn cũ của mình và nhận ra mình vừa bị thời gian tương cho bài cú đấm thẳng vào mũi. Hãy bàn về chuyện chăn gối, bóng chày, giá xăng, tương lai của các nước trong Khối Vác-sa-va. Nói gì cũng được, ngoài chủ đề chúng ta vốn đến đây để bàn. Nói gì đi, mọi người ơi.

Cầu được ước thấy, Eddie Kaspbrak là người lên tiếng. Nhưng anh không kể về việc ngoài đời Teddy Kennedy là người ra sao hoặc Redford có hào phóng chi tiền boa hay không, cũng chẳng nhắc tới lý do tại sao ngày xưa lúc nào anh cũng phải khư khư thứ mà Richie thỉnh thoảng gọi với cái tên “máy hút phổi của Eddie”. Anh hỏi Mike về thời điểm Stan Uris qua đời.

“Đêm hôm kia, khi tớ gọi điện thoại cho các cậu.”

“Nó có liên quan đến… đến lý do chúng ta ở đây không?”

“Tớ có thể đặt ra câu hỏi ấy và trả lời như vậy, vì cậu ấy không để lại di thư nên không ai biết được chính xác, Mike đáp, “nhưng vì nó xảy ra ngay sau khi tớ gọi điện nên ta có thể suy đoán theo chiều hướng ấy.”

“Cậu ấy tự sát phải không?” Beverly thần người. “Ôi Chúa ơi. Tội cho Stan quá.”

Cả nhóm quay sang nhìn Mike, anh uống nốt cốc bia và nói: “Một điều rõ ràng là cậu ấy đã tự sát. Tớ gọi điện thoại được một lát thì cậu ấy lên phòng tắm, xả nước vào bồn, ngâm người và cắt cổ tay.”

Bill nhìn xuống bàn, bỗng chốc cảm thấy mặt bàn chằng chịt những khuôn mặt trắng bệch, thất kinh – không có thân người, chỉ có những khuôn mặt trông như những vòng tròn màu trắng. Như những quả bóng bay màu trắng, tròn xoe, bị trói buộc ở đây bởi một lời hứa lý ra chẳng còn hiệu lực.

“Làm thế nào mà cậu biết?” Richie hỏi. “Trong báo có nhắc tới thông tin ấy à?”

“Không. Xưa nay tớ vẫn theo dõi các tờ báo địa phương gần chỗ các cậu nhất. Tớ vẫn lặng lẽ quan sát suốt bao năm qua.”

“Điệp viên cơ đấy,” Richie cau mặt. “Cảm ơn nhé Mike.”

“Đó là công việc của tớ,” Mike đáp gọn lỏn.

“Tội cho Stan quá,” Beverly lặp lại. Cô có vẻ kinh ngạc và choáng váng trước thông tin ấy. “Nhưng ngày xưa, cậu ấy can đảm lắm mà… Rất quyết tâm là đằng khác.”

“Ai rồi cũng đổi khác,” Eddie tư lự.

“Thật thế sao?” Bill hỏi. “Stan là…” Anh loay hoay tay trên tấm khăn trải bàn, cố lựa chọn câu chữ. “Cậu ấy là người chỉn chu. Típ người lúc nào cũng phải chia sách trên kệ thành hư cấu và phi hư cấu… rồi xếp chúng theo thứ tự bảng chữ cái mới chịu. Tớ vẫn nhớ những lời cậu ấy từng nói – tớ không nhớ lúc ấy tụi mình đang ở đâu hay đang làm gì, chí ít lúc này thì chưa, nhưng tớ nghĩ lúc ấy mọi thứ sắp tàn cuộc. Cậu ấy bảo cậu ấy có thể chịu đựng sợ hãi, nhưng cậu ấy chúa ghét dơ dáy. Câu nói ấy hàm chứa toàn bộ con người Stan. Có thể khi Mike gọi, cậu ấy cảm thấy quá choáng ngợp. Cậu ấy cho rằng mình chỉ có hai lựa chọn: một là sống và dơ dáy, hai là được chết sạch sẽ. Có thể thật ra con người không thay đổi nhiều như ta nghĩ. Có thể chỉ là… có thể chỉ là họ cứng nhắc hơn mà thôi.”

Mọi người lặng thinh, đoạn Richie lên tiếng, “Được rồi, Mike. Ở Derry đang xảy ra chuyện gì? Kể với bọn tớ đi.”

“Tớ có thể kể với các cậu một phần,” Mike nói. “Ví dụ như về những gì đang diễn ra - ngoài ra tớ cũng có thể kể vài chuyện về các cậu. Nhưng tớ không thể kể từ đầu chí cuối những chuyện xảy ra vào mùa hè năm 1958, mà tớ nghĩ tớ cũng không cần kể. Rồi các cậu sẽ tự nhớ ra thôi. Và tớ nghĩ nếu tớ kể quá nhiều trong khi tâm trí các cậu chưa sẵn sàng nhớ lại, chuyện xảy ra với Stan…”

“Có thể sẽ xảy ra với bọn tớ?” Ben khẽ hỏi.

Mike gật đầu. “Ừ. Đó chính là điều tớ sợ.”

“Vậy cậu kể được với bọn tớ điều gì thì cứ kể, Mike,” Bill nói.

“Được rồi,” anh đáp. “Tớ sẽ làm thế.”

4

HỘI CÙI BẮP BIẾT TỎ TƯỜNG

“Những vụ án mạng tái diễn rồi,” Mike thẳng thừng. Anh hết nhìn lên lại nhìn xuống bàn, đoạn dán mắt chặt vào Bill.

“Mở màn chuỗi ‘tân án mạng’ - tớ mạn phép đặt cho nó cái tên rùng rợn ấy – là vụ án bắt đầu trên cầu Đường Chính, kết thúc bên dưới cầu. Nạn nhân là một người đồng tính, tính tình khá trẻ con tên là Adrian Mellon. Cậu này bị hen suyễn nặng.”

Eddie vươn tay chạm vào ống thở.

“Chuyện xảy ra vào ngày 21 tháng 7 mùa hè năm ngoái, ngày cuối cùng của Lễ hội Ngày Kênh Đào, đây là một chương trình lễ hội, một… ờ…”

“Một nghi lễ đặc trưng của Derry,” Bill trầm ngâm nói. Những ngón tay dài của anh chậm rãi miết hai thái dương, và không khó để biết anh đang nghĩ về George, em trai anh… George, cậu bé gần như đánh dấu màn dạo đầu của tai ương lần trước.

“Một nghi lễ,” Mike khẽ nói. “Phải.”

Anh kể cho mọi người vắn tắt đầu đuôi sự việc xảy đến với Adrian Mellon, với khuôn mặt tư lự anh thấy ai nấy đều trợn mắt thất kinh. Anh kể cho ho những thông tin trên tờ News đăng tải cũng như những thông tin không được đăng… trong đó có lời khai của Don Hagarty và Christopher Unwin về một gã hề đứng dưới cầu như con quỷ trong câu chuyện ngụ ngôn xưa, gã hề giống Ronald McDonald và Bozo gộp lại, theo như nhận xét của Hagarty.

“Là hắn.” Ben nói, giọng khàn đục đầy khinh miệt. “Là Pennywise khốn kiếp.”

“Còn một chi tiết nữa,” Mike nói, đưa mắt nhìn Bill. “Một trong Adrian Mellon ra khỏi Kênh Đào - chính là Harold Gardener.”

“Ôi Chúa ơi,” Bill thảng thốt, giọng vỡ vụn.

“Bill?” Beverly nhìn anh, đoạn áp tay lên cánh tay anh. Giọng cô giật mình lo âu. “Bill, sao vậy?”

“Ngày đó Harold tầm năm tuổi,” Bill nói. Đôi mắt bàng hoàng của anh tìm kiếm sự khẳng định trên mặt Mike.

“Phải.”

“Là sao vậy, Bill?” Richie hỏi.

“H-H-Harold Gardener là con tr-trai của Dave Gardener,” Bill giải thích. “Trước đây, chú Dave sống ngay đường dưới nhà tớ, nơi George bị gi-giết. Chú ấy chính là người đầu tiên chạy đến chỗ G-G… chạy đến chỗ em trai và đưa em tớ về nhà, bọc trong tấm ga trải giường.

Cả nhóm ngồi lặng thinh, không ai nói gì. Beverly khẽ đưa tay lên mắt.

“Mọi thứ rất ăn khớp, phải không?” Cuối cùng, Mike chốt hạ.

“Phải,” Bill trầm ngâm nói. “Đúng là rất ăn khớp.”

“Những năm qua, tớ vẫn dõi theo sáu người các cậu,” Mike tiếp tục. “Song phải đến lúc ấy tớ mới dần dần ngộ ra lý do tại sao tớ lại làm thế, thật ra hành động ấy có mục đích rõ ràng và thống nhất. Nhưng tớ vẫn im hơi lặng tiếng, đợi xem tình hình ra sao. Các cậu thấy đấy, tớ cảm thấy tớ phải hoàn toàn chắc chắn rồi mới… gây xáo trộn cuộc sống của mọi người. Không phải chắc chắn chín mươi phần trăm, thậm chí chín mươi chín phần trăm cũng chưa đủ. Chừng nào chắc chắn một trăm phần trăm, chừng ấy tớ mới hành động.

Tháng Mười hai năm ngoái, thi thể một cậu bé tám tuổi tên là Steven Johnson được phát hiện trong công viên Tưởng niệm. Giống Adrian Mellon, cậu bé bị đánh đập không thương xót ngay trước và sau khi chết, nhưng trông cậu bé kinh hãi chẳng khác nào chết vì sợ.”

“Cậu bé có bị xâm hại tình dục không? Eddie hỏi.

“Không. Chỉ bị đánh đập thôi.”

“Tổng cộng bao nhiêu rồi?” Eddie hỏi nhưng nhìn anh chẳng có vẻ gì muốn biết.

“Tệ lắm,” Mike nói.

“Tệ là bao nhiêu?” Bill lặp lại.

“Chín vụ cả thảy.”

“Không thể nào!” Beverly hét lên. “Lý ra tớ phải thấy tin này đăng lên báo… hoặc trên truyền hình chứ! Khi tên cảnh sát điên khùng ra tay giết bao nhiêu phụ nữ ở Castle Rock, Maine… và những đứa trẻ bị sát hại ở Atlanta…”

“Ừ,đúng vậy,” Mike nói. “Tớ cũng đã nghĩ rất nhiều về việc đó. Những vụ án ấy cũng tám lạng nửa cân so với những gì đang xảy ra ở đây, và Bev nói đúng: tin tức này đáng ra phải lan ra cả vùng. Xét theo nhiều khía cạnh, khi so với vụ việc xảy ra ở Atlanta, tớ cảm thấy kinh hoàng nhất. Chuỗi án mạng giết chín đứa trẻ… đáng ra chúng ta phải có phát thanh viên truyền hình đến đưa tin, những bà đồng ông đồng dỏm, phóng viên từ The Atlantic Monthly Rolling Stone … tóm lại là đáng ra phương tiện truyền thông phải làm rùm beng chuyện này lên mới phải.”

“Nhưng điều đó lại không xảy ra,” Bill tư lự.

“Đúng vậy,” Mike đáp, “điều đó không xảy ra. À, cũng có chút góc phụ trương Chủ nhật đăng tin này trên tờ Telegram Chủ nhật của Portland, và một tin khác trên tờ Globe của Boston sau khi hai vụ gần nhất xảy ra. Vào tháng Hai, một chương trình truyền hình có trụ sở ở Boston mang tên Ngày tốt lành! đã thực hiện một chuyên mục về các vụ án chưa có lời giải, và một trong các chuyên gia có nhắc đến án mạng ở Derry, nhưng chỉ thoáng qua thôi… và rõ ràng ông ấy không có vẻ gì là biết vào năm 1957-1958 và năm 1929-1930 cũng từng xảy ra chuỗi án mạng tương tự.

Tất nhiên có những lý do bề nổi. Atlanta, New York, Chicago, Detroit… đây là những khu vực có truyền thông lớn mạnh, và ở những nơi như thế, khi biến cố xảy ra, chắc chắn sẽ ầm ĩ hơn. Trong khi đó, ở Derry còn không có nổi một đài truyền hình hay đài phát thanh, trừ khi ta tính cả đài FM be bé mà Phòng ban Tiếng Anh và Phát biểu hoạt động ở trường trung học. Bangor đã nẫng miếng bánh thị phần truyền thông rồi.”

“Còn mỗi tờ Derry News ,” Eddie nói, và cả bọn phá lên cười.

“Nhưng tất cả chúng ta đều biết như vậy không ăn khớp tình hình thế giới hiện tại. Mạng lưới thông tin liên lạc rành rành ra đấy, và đáng ra vụ việc này phải ghi nhận sự chú ý của cả nước mới phải. Song lại không như thế. Và tớ nghĩ lý do chỉ đơn giản là: Nó không muốn thế.”

“Nó,” Bill lẩm bẩm đầy tư lự.

“Phải, chính là Nó,” Mike gật gù. “Nếu giờ phải đặt cho Nó một cái tên, thôi thì ta dùng cách mà ngày xưa ta hay gọi cho rồi. Các cậu biết không, gần đây tớ manh nha suy nghĩ bất kể Nó thực sự là gì, Nó đã tồn tại ở đây rất lâu… rằng Nó đã trở thành một phần của Derry, một phần của thị trấn này, như Standpipe, hoặc như Kênh Đào, hoặc công viên Bassey, hoặc thư viện. Chỉ có điều, như các cậu thấy đấy, Nó không phải cảnh quan địa lý bên ngoài, mà giờ Nó là… nội tại. Bằng cách nào đó, Nó đã lọt vào bên trong. Đó là cách duy nhất tớ biết để lý giải tất cả những tai họa khủng khiếp xảy ra ở nơi này - những gì có thể giải thích trên danh nghĩa cũng như những gì hoàn toàn không thể giải thích! Vào năm 1930, có một vụ cháy ở quán bar cho người da đen có tên là Điểm Đen. Một năm trước đó, vào thời kỳ Đại khủng hoảng, một nhóm du thủ du thực đã bị xả súng trên đường Kênh Đào vào giữa buổi chiều.”

“Băng đảng Bradley,” Bill nói. “FBI bắn họ phải không?”

“Lịch sử nói thế, nhưng thực ra không phải như vậy. Theo như nguồn tin tớ tìm hiểu -và thật lòng, tớ không muốn tin vào điều đó chút nào, vì tớ rất yêu thị trấn này - Băng đảng Bradley, có cả thảy bảy người, bị những người dân hiền lành ở Derry xả súng giết chết. Để dịp khác, tớ sẽ kể cụ thể cho các cậu nghe.

Năm 1906, có một vụ nổ ở Xưởng đúc Kitchener trong sự kiện động vật rất tàn bạo, mãi mới truy ra được thủ phạm là Andrew Rhulin, ông chủ của chủ trang trại Rhulin hiện giờ. Thủ phạm bị ba cảnh sát hành hung bằng dùi cui đến chết, trong khi lý ra họ phải áp giải người này. Cả ba cảnh sát đều không bị đưa ra tòa.”

Mike Hanlon lấy từ trong túi áo cuốn sổ nhỏ, chúi mũi vừa lật vừa trình bày. “Vào năm 1977, có bốn vụ tử hình xảy ra trong địa phận hợp nhất của thị trấn. Một trong những người bị treo cổ là Giám lý, thủ phạm đã dìm chết bốn đứa con của mình trong bồn tắm như thể dìm chết mèo con rồi bắn vào đầu vợ mình. Hắn đã đặt khẩu súng vào tay vợ để dàn dựng một vụ tự sát, nhưng vải thưa không che được mắt thánh. Một năm trước đó, thi thể của bốn thợ đốn gỗ được phát hiện trong căn lều dưới hạ nguồn sông Kenduskeng trong tình trạng bị xé toạc. Trích đoạn nhật ký của nhiều người thời xưa cũng ghi lại các vụ mất tích của nhiều trẻ em và nhiều gia đình… song không tài liệu chính thức nào ghi nhận chuyện này. Đó là một vài ví dụ điển hình, nhưng có lẽ các cậu nắm bắt được vấn đề rồi đấy.”

“Tớ hiểu rồi,” Ben nói. “Có sóng ngầm ở đây, nhưng chỉ ngầm mà thôi.”

Mike đóng sổ, cất lại vào túi trong rồi nghiêm trang nhìn cả nhóm.

“Nếu tớ làm ngành bảo hiểm chứ không phải là một thủ thư, có khi tớ sẽ vẽ đồ thị cho các cậu xem. Nó sẽ thể hiện tỷ lệ cao bất thường của mọi loại hình bạo lực mà ta biết, bao gồm cưỡng hiếp, loạn luân, đột nhập cướp của, cướp ô tô, lạm dụng trẻ em, bạn đời, tấn công người vô tội.

Tại một thành phố tầm trung nọ ở Texas có tỷ lệ tội phạm thấp hơn rất nhiều so với số liệu thường ghi nhận ở thành phố có quy mô tương đương cùng dân số đa chủng tộc như vậy. Người ta phát hiện nguyên nhân khiến cư dân nơi đây trầm tính là nhờ nguồn nước… Nó như một loại thuốc an thần tự nhiên. Còn nơi này lại vốn đã phải chứng kiến nhiều bạo lực. Nhưng cứ hai mươi bảy năm một lần – dù chu kỳ này không chính xác từng đường tơ kẽ tóc - tình trạng bạo lực ấy lại leo thang đến đỉnh điểm… và chưa lần nào tình hình được truyền thông nước nhà quan tâm.”

“Ý cậu ví nó như căn bệnh ung thư gặm nhấm nơi này à?” Beverly lên tiếng.

“Không hề. Người mắc ung thư mà không được chữa chỉ có nước chết. Nhưng Derry không chết, thậm chí ngược lại, nó còn được thể phát triển… tất nhiên là theo một cách không có gì đáng chú ý, chẳng có gì để đưa tin. Nơi này chỉ là một thị trấn nhỏ, tương đối phát đạt trong một bang không quá đông dân, nơi tai ương diễn ra quá thường xuyên… nơi những điều tàn bạo cứ khoảng một phần tư thế kỷ lại xảy ra một lần.”

“Trước nay vẫn như vậy sao?” Ben hỏi.

Mike gật đầu. “Trước nay vẫn vậy. Những năm 1715-1716, 1740 cho đến khoảng năm 1743 – dài như vậy hẳn rất khủng khiếp - 1769-1770, vân vân. Kéo dài đến tận bây giờ. Tớ có cảm giác tình hình càng lúc càng chuyển biến xấu đi, có khi là vì vào cuối chu kỳ lại có thêm nhiều người ở Derry, hoặc có khi là vì lý do gì đó khác. Và vào năm 1958, chu kỳ dường như kết thúc sớm hơn bình thường. Chúng ta chịu trách nhiệm cho việc đó.”

Bill Denbrough chúi người tới trước, hai mắt chợt bừng lên. “Cậu có chắc về điều đó không? Cậu chắc chứ?”

“Tớ chắc,” Mike khẳng định. “Tất cả các chu kỳ khác đạt đỉnh vào khoảng tháng Chín rồi kết thúc một cách cao trào. Cuộc sống thường trở lại nhịp điệu bình thường vào Giáng sinh… hoặc trễ nhất là lễ Phục sinh. Nói cách khác, cứ mỗi hai mươi bảy năm lại có những khoảng thời gian ‘tệ hại’ kéo dài chừng mười bốn đến hai mươi tháng. Những năm tồi tệ khởi đầu bằng việc em trai cậu bị giết vào tháng Mười năm 1957 lại kết thúc khá đột ngột vào tháng Tám năm 1958.”

“Tại sao?” Eddie sốt ruột hỏi. Hơi thở của anh phì phò; Bill nhớ đến âm thanh rít lên khi Eddie hít vào, và biết một chốc nữa thôi, anh sẽ hít lấy hít để ống thở cũ kia. “Bọn mình đã làm gì ?”

Câu hỏi cứ thế bị bỏ lửng. Mike có vẻ cân nhắc tìm lời đáp… nhưng cuối cùng, anh chỉ lắc đầu. “Các cậu sẽ nhớ ra thôi,” anh nói. “Khi nào đến lúc, các cậu sẽ tự nhớ ra thôi.”

“Nếu không thì sao?” Ben hỏi.

“Thì cầu Chúa cứu giúp chúng ta.”

“Năm nay chưa gì đã có chín đứa trẻ mất mạng,” Rich nói. “Chúa ơi.”

“Lisa Albrecht và Steven Johnson bị chết vào cuối năm 1984,” Mike nói. “Vào tháng Hai, một cậu bé tên là Dennis Torrio đã mất tích. Cậu bé ấy đang học trung học. Thi thể cậu được phát hiện giữa tháng Ba, trong Vùng Đất Cằn. Bị đánh đập tàn tệ. Bức hình này được tìm thấy gần đó.”

Mike lấy ra tấm hình từ túi áo bên trong mà ban nãy anh vừa cất cuốn sổ. Mọi người chuyển quanh bàn cho nhau xem. Beverly và Eddie nhìn với vẻ mặt bối rối, còn Richie Tozier phản ứng vô cùng dữ dội. Anh thả nó xuống như thể phải bỏng. “Chúa ơi! Chúa ơi, Mike!” Anh ngước lên, đôi mắt trợn trừng vì kinh hãi. Lát sau, anh đưa bức hình cho Bill.

Vừa nhìn vào nó, Bill liền có cảm giác thế gian quanh mình như chìm vào sắc xám. Trong một khắc, anh cứ tưởng mình sẽ lăn đùng ra ngất. Anh nghe thấy tiếng rên và nhận ra nó xuất phát từ miệng mình. Anh đánh rơi bức hình.

“Sao vậy?” Anh nghe thấy giọng của Beverly. “Sao thế Bill?”

“Đây là bức hình kỷ yếu của em trai tớ,” cuối cùng Bill mới thốt lên. “Là G-Georgie. Bức hình này nằm trong cuốn album của em tớ. Là bức hình cử động và nháy mắt.”

Họ lại chuyền tay nhau thêm một lần nữa, trong lúc Bill ngồi im như tượng ở đầu bàn, thẫn thờ nhìn vào vô định. Bức hình này chụp một bức hình khác. Trong hình là bức ảnh kỷ yếu tả tơi trên nền trắng - cậu bé trong hình đang nhoẻn miệng cười, để lộ hai khoảng trống vì răng chưa kịp mọc ( trừ khi răng vẫn mọc dưới mồ, Bill nghĩ mà run bần bật). Ngay bên dưới bức hình của George là dòng chữ KỶ YẾU 1957-1958.

“Bức hình được tìm thấy năm nay à?” Beverly hỏi lại. Thấy Mike gật đầu, cô quay sang Bill. “Cậu thấy nó lần cuối khi nào vậy Bill?”

Anh liếm môi, toan lên tiếng nhưng chẳng thốt lên được gì. Anh cố gắng nói, lần này, anh nghe thấy tiếng nói vang vọng trong đầu mình, ý thức tật nói lắp đang quay trở lại, anh chống chọi nó, cũng như chống chọi với nỗi khiếp sợ.

“Tớ đã không thấy bức hình này từ năm 1958 rồi. Mùa xuân sau năm George qua đời. Lúc tớ định cho Richie xem thì nó đã b-biến mất.”

Một tiếng hít vào thật to vang lên khiến họ quay lại nhìn. Eddie để ống thở lên bàn, mặt anh thoáng ngượng ngập.

“Eddie Kaspbrak quẩy rồi!” Richie ré lên vui vẻ, và bất chợt, kỳ cục làm sao, Giọng vói của Phát thanh viên thời sự MovieTone cất lên từ miệng Rich: “Hôm nay ở Derry, cả thị trấn đến dự chương trình Hen suyễn Trẩy hội, và ngôi sao của chương trình là Ed ụt ịt luôn khụt khịt, nức tiếng vùng New England với cái danh…”

Bỗng anh im bặt, một tay đưa lên mặt như thể che mắt, thấy cảnh ấy, Bill bất chợt nghĩ trong đầu: Không - không phải vậy. Cậu ấy không đưa tay lên che mắt mà là đẩy gọng kính lên mũi. Đây gọng kính mà hiện giờ cậu ấy không còn đeo nữa. Ôi lạy Chúa tôi, chuyện gì đang xảy ra thế này?

“Eddie, tớ xin lỗi.” Rich lên tiếng. “Tớ độc ác quá. Tớ chẳng biết tớ đang nghĩ cái quái gì trong đầu nữa.” Anh nhìn mọi người, thảng thốt.

Mike Hanlon phá vỡ sự im lặng.

“Sau khi thi thể của cậu bé Steven Johnson được tìm thấy, tớ đã tự hứa với bản thân nếu có thêm bất cứ điều gì xảy ra - nếu có thêm một vụ khác rành rành như thế – tớ sẽ nhấc máy lên và thực hiện những cuộc gọi mà rốt cuộc tớ đã khất lần khất lượt hai tháng. Như thể tớ bị thôi miên bởi chuyện đang xảy ra, bởi ý thức của nó – sự toan tính của nó. Tấm hình của George được phát hiện bên cạnh một cái cây bị đổ cách thi thể của cậu bé Torrio chưa đầy ba mét. Nó không bị giấu giếm; mà ngược lại mới đúng. Như thể kẻ sát nhân muốn ta tìm ra bức hình. Tớ dám chắc là như thế.

“Làm thế nào mà cậu lấy được bức hình này vậy Mike?” Ben hỏi. “Nó do cảnh sát chụp đúng không?”

“Phải, nó vốn được chụp bởi cảnh sát. Có một người ở Sở cảnh sát không phản đối chuyện kiếm thêm dăm ba đồng. Tớ trả anh ta nguồn tin của tớ.

Bốn ngày sau vụ của cậu bé Torrio, xác của một cậu bé mười ba tuổi tên là Dawn Roy được phát hiện ở công viên McCarton. Một cái xác mất đầu.

Ngày 23 tháng 4 năm nay là Adam Terrault. Mười sáu tuổi. Gia đình báo mất tích khi cậu bé đi tập cùng ban nhạc mà không thấy về. Ngày hôm sau, thi thể được tìm thấy ở con đường cắt qua vành đai xanh đằng sau Tây Broadway. Xác cũng bị chặt.

Mùng 6 tháng 5. Frederick Cowan. Hai tuổi rưỡi. Thi thể được phát hiện trong nhà vệ sinh trên tầng, bị dìm trong bồn cầu cho đến chết.”

“Ôi trời, Mike!” Beverly thảng thốt.

“Ừ, kinh khủng lắm,” anh nói, giọng có phần tức giận. “Cậu tưởng tớ không biết sao?”

“Cảnh sát có chắc chắn đây không phải là – ừm, một tai nạn không?” Bev hỏi.

Mike lắc đầu. “Lúc ấy, mẹ cậu bé đang phơi đồ trong sân sau. Cô ấy nghe thấy tiếng quẫy đạp - nghe thấy con trai mình thét lên. Người mẹ học tốc chạy vào. Cô cho biết lúc lên cầu thang, cô nghe thấy tiếng bồn cầu dội nước liên tục - và tiếng cười. Người mẹ nói tiếng cười nghe không giống tiếng người chút nào.”

“Và cô ấy có chứng kiến gì không?” Eddie hỏi.

“Chỉ nhìn thấy con trai mình,” Mike gọn lỏn. “Lưng cậu bé bị gãy, hộp sọ bị nứt. Cửa kính ở gian tắm bị bể. Máu vương vãi khắp nơi. Hiện tại người mẹ đang nằm trong Bệnh viện Tâm thần Bangor. Nguồn… nguồn tin trong Sở cảnh sát của tớ cho hay cô ấy phát điên rồi.”

“Không điên mới lạ,” Richie khô khốc nói. “Có ai có thuốc lá không?”

Beverly chuyền cho anh một điếu. Rich châm lửa mà tay run bần bật.

“Cảnh sát kết luận kẻ sát nhân vào nhà từ cửa chính trong lúc mẹ của cậu bé Cowan đang phơi đồ ở sân sau. Và khi người mẹ chạy lên cầu thang sau nhà, hắn ta nhảy qua cửa sổ phòng tắm vào khoảng sân mà cô này vừa rời đi rồi trốn thoát. Nhưng kích thước của cửa sổ rất nhỏ; một đứa trẻ bảy tuổi còn phải trầy trật lắm mới chui qua được. Và khoảng cách từ đó xuống đất là hai mươi lăm mét, bên dưới là khoảng sân được lát đá. Rademacher không muốn đề cập tới những chi tiết này, và không ai trong cánh báo chí – nhất là không người nào của tờ News – căn vặn vấn đề này.”

Mike uống một ngụm nước rồi chuyền cho mọi người thêm một bức hình nữa. Lần này không phải hình cảnh sát chụp mà là một tấm hình kỷ yếu khác. Trong hình là một cậu bé chừng mười ba tuổi đang cười thật tươi. Cậu bé ăn diện rất bảnh để chụp hình, hai tay sạch sẽ, xếp gọn trong lòng… nhưng có chút tinh quái ánh lên trong đôi mắt. Cậu bé là người da đen.

“Jeffrey Holly,” Mike tiếp tục. “Ngày 13 tháng 5. Một tuần sau khi cậu bé Cowan bị giết. Xác bị xé toạc, tìm thấy ở công viên Bassey, cạnh Kênh Đào.

Chín ngày sau, ngày 22 tháng 5, thi thể cậu bé John Feury lớp Năm được phát hiện ở đường Neibolt…”

Eddie run rẩy ré lên. Anh chộp lấy ống thở nhưng lại vô tình hất nó rớt xuống bàn. Nó lăn đến chỗ Bill, anh nhặt nó lên. Mặt Eddie chuyển xanh như tàu lá. Hơi thở anh khò khè rít lên trong họng.

“Lấy cho cậu ấy đồ uống đi!” Ben la lên. “Ai đó lấy…”

Nhưng Eddie lắc đầu. Anh xịt ống thở vào họng. Ngực anh phập phồng khi anh hít vào một hơi thật sâu. Anh xịt thêm lần nữa rồi ngả người ra sau, mắt lim dim, hơi thở hồng hộc.

“Tớ sẽ ổn thôi,” anh hổn hển. “Cho tớ một phút, tớ theo được.”

“Eddie, cậu chắc chứ?” Beverly hỏi. “Hay cậu nằm xuống…”

“Tớ sẽ ổn mà,” anh cáu kỉnh lặp lại. “Chỉ là tớ… chịu cú đả kích quá. Cậu biết đấy. Đả kích lớn quá. Tớ đã quên sạch chuyện ở đường Neibolt.”

Không ai lên tiếng đáp lời, không ai phải làm điều đó. Bill thầm nghĩ: Khi ta tưởng ta đã chạm tới giới hạn của bản thân, thì Mike lại kể thêm một cái tên, rồi một cái tên nữa, như nhà ảo thuật hắc ám có đầy bí thuật quỷ quyệt khiến ta không tài nào chống đỡ nổi.

Quả thật quá sức khi một lúc đối mặt với chừng này thứ, đối mặt với thác lũ bạo lực vô phương lý giải, nhắm trực tiếp vào sáu người bọn họ - chí ít đó là những gì bức hình của George thể hiện.

“Cả hai chân của John Feury đều bị chặt đứt,” Mike khẽ tiếp tục, “nhưng nhân viên pháp y cho biết điều đó xảy ra sau khi cậu bé đã chết. Tim cậu ngừng đập. Có vẻ cậu bé chết vì quá sợ hãi theo nghĩa đen. Nhân viên đưa thư phát hiện xác cậu bé, khi ông thấy một bàn tay thò ra từ dưới hiên…”

Địa chỉ số 29 phải không?” Rich hỏi, và Bill liếc nhìn bạn thật nhanh. Rich cũng nhìn anh, khẽ gật đầu rồi lại quay sang nhìn Mike. “Căn nhà số 29 đường Neibolt?”

“Ừ, đúng rồi,” Mike vẫn giữ giọng nói bình thản ấy.”Là căn nhà số 29.” Anh uống thêm nước. “Cậu thật sự ổn chứ, Eddie?”

Eddie gật đầu. Hơi thở của anh đã ổn định trở lại.

“Rademacher ra lệnh bắt giữ một ngày sau ngày tìm thấy thi thể Feury,” Mike nói. “Tình cờ thế nào mà cùng ngày hôm ấy, tờ News đăng một bài trên trang nhất yêu cầu ông ta từ chức.”

“Sau tám vụ án mạng à?” Ben nhận xét. “Bọn họ quyết liệt ra phết nhỉ.”

Beverly hỏi ai là người bị bắt giữ.

“Một người đàn ông sống trong căn chòi nhỏ trên Đường số 7, gần như nằm ngoài địa hạt thị trấn và thuộc địa phận Newport,” Mike nói. “Ông này sống khá ẩn dật. Ông ta dùng ván cũ đốt lò, lợp chòi bằng những tấm ngói và mâm xe lượm lặt được. Tên ông ta là Harold Earl. Có khi cả năm ông này cũng chẳng có nổi hai trăm đô-la tiền mặt. Có một nhân chứng chạy xe ngang qua, trông thấy ông ta đứng trong sân, ngẩng đầu nhìn trời vào ngày phát hiện thi thể của John Feury. Quần áo của ông ta bê bết máu.”

“Vậy có thể…” Rich gợi mở đầy hy vọng.

“Ông ta chặt ba con nai trong chòi,” Mike giải thích, “Ông ta đi săn ở Haven. Máu trên quần áo của ông ta là máu nai. Rademacher hỏi ông ta có giết John Feury không thì Earl đáp như sau: ‘Ồ có chứ, tôi giết khối người. Thời chiến, tôi bắn người ta chết như rạ.’ Ông ta còn khai đêm đến ông ta thấy trong rừng xuất hiện những thứ kỳ lạ. Thỉnh thoảng là những ngọn đèn xanh, nổi cách mặt đất chừng chục phân. Ông ta gọi nó là Ánh ma trơi. Và Chân to.

“Người ta đưa ông này vào Bệnh viện Tâm thần Bangor. Theo báo cáo y tế, gan của ông này gần như không còn. Lâu nay, ông ta uống dung môi pha sơn…”

“Ôi Chúa ơi,” Beverly thảng thốt.

”… và có chiều hướng ảo giác. Cảnh sát tiếp tục điều tra ông ta, và cho đến ba ngày trước, Rademacher vẫn giữ quan điểm Earl là nghi phạm khả nghi nhất. Ông ta điều tám người đến đào quanh chòi của Earl, và có Chúa mới biết họ sục sạo thứ gì, thủ cấp hay chụp đèn làm từ da người chẳng hạn.”

Mike dừng lại, đầu cúi xuống, rồi tiếp tục. Giọng anh khàn hơn một chút. “Tớ đã trì hoãn hết lần này đến lần khác. Nhưng khi chứng kiến vụ án này, tớ đã gọi điện cho các cậu. Tớ ước giá mà tớ gọi sớm hơn.”

“Ta cùng xem nào,” Ben chợt lên tiếng.

“Nạn nhân cũng là một cậu bé lớp Năm,” Mike nói. “Bạn học của cậu bé Feury. Thi thể cậu bé này được phát hiện trên đường Kansas, gần chỗ Bill hay giấu xe đạp khi chúng ta đến Vùng Đất Cằn. Tên cậu bé là Jerry Bellwood. Xác cậu bé tanh bành. Phần… phần thi thể còn lại được tìm thấy ở chân tường chắn bằng xi măng được xây dựng dọc theo gần hết đường Kansas hai mươi năm trước để ngăn xói mòn đất. Cảnh sát có chụp một tấm hình ở khoảng tường phát hiện xác Bellwood chừng nửa tiếng sau khi di dời thi thể. Bức hình ấy đây.”

Anh đưa bức hình cho Rich Tozier, xem xong, Rich chuyền cho Beverly. Cô liếc nhìn nó thật nhanh, nhăn mặt, rồi chuyển cho Eddie. Anh nhìn nó thật lâu và chăm chú rồi đưa Ben. Ben nhìn sơ rồi đưa qua Bill.

Những con chữ nguệch ngoạc trên bức tường xi măng ghi:

(VỀ NHÀ VỀ NHÀ VỀ NHÀ)

Bill ngước nhìn Mike, mặt tối sầm. Ban nãy, anh bối rối và kinh hãi, nhưng giờ, anh cảm thấy phẫn nộ âm ỉ cuộn dâng trong lòng mình. Anh thấy mừng. Phẫn nộ chẳng phải cảm giác vui thú gì cho cam, nhưng chí ít nó vẫn tốt hơn so với cảm giác bàng hoàng, vẫn tốt chán so với sự sợ hãi đến cùng cực. “Có phải nó được viết bằng thứ mà tớ đang nghĩ tới không?”

“Phải,” Mike đáp. “Bằng máu của Jerry Bellwood.”

5

RICHIE BỊ TUÝT CÒI

Mike lấy lại các bức hình. Anh đã nghĩ đến khả năng Bill xin tấm hình chụp bức ảnh của George, nhưng hóa ra Bill không nói gì cả. Anh cất chúng vào túi bên trong áo khoác, và khi chúng đã khuất mắt trông coi, tất cả bọn họ – kể cả Mike - cảm thấy như trút được tảng đá.

“Chín đứa trẻ,” Beverly khẽ khàng. “Thật không thể tin nổi. Ý tớ là… tớ có thể tin, nhưng tớ không tài nào tưởng nổi. Chín đứa trẻ mất mạng mà chẳng có hành động gì ư? Không có gì sất?”

“Không hẳn là vậy,” Mike nói: “Mọi người tức giận và sợ hãi… chí ít bên ngoài là thế. Chẳng thể nào biết ai thật sự cảm thấy như vậy và ai đang giả vờ.”

“Giả vờ ư?”

“Beverly, cậu có nhớ lúc bọn mình còn bé, có một người đàn ông chỉ bàng quan gấp báo lại rồi đi vào nhà lúc cậu kêu cứu không?”

Trong một khoảnh khắc, dường như có thứ gì đó nhảy vào mắt cô, trông cô vừa sợ hãi vừa cảnh giác. Nhưng rồi cô bối rối. “Không… Chuyện đó xảy ra khi nào vậy Mike?”

“Thôi, bỏ qua đi. Khi thời điểm chín muồi, cậu sẽ nhớ lại. Tớ chỉ có thể nói mọi thứ ở Derry vẫn diễn ra theo đúng cách của Derry. Đối mặt với chuỗi án mạng kinh hoàng này, người dân đang nỗ lực làm những điều nên làm, đa phần cũng giống như ngày trước, khi trẻ em liên tục biến mất và bị sát hại vào năm 1958. Hội đồng Cứu lấy Con em Chúng ta tổ chức họp bàn trở lại, có điều lần này là ở trường Tiểu học Derry chứ không phải trường Trung học Derry. Có mười sáu thanh tra từ văn phòng Tổng chưởng lý bang trong thị trấn, một đội đặc vụ FBI – tớ không biết có bao nhiêu người, và dù Rademacher được mỗi cái to mồm, tớ cũng nghĩ ông ta không biết. Giờ giới nghiêm được áp dụng trở lại…”

“Ừ đúng rồi. Giờ giới nghiêm.” Ben chậm rãi, khoan thai xoa gáy. “Hồi năm 1958, nó có tác dụng như thần. Tớ vẫn nhớ điều đó.”

”… Và có cả Hội Các mẹ Đi bộ để đảm bảo mọi đứa trẻ, từ mẫu giáo đến lớp Tám, đến trường đều được đưa về nhà an toàn. Trong vỏn vẹn ba tuần vừa rồi, tờ News nhận được hơn hai nghìn lá thư yêu cầu giải pháp được đưa ra. Và tất nhiên, làn sóng di cư lại bắt đầu. Thỉnh thoảng tớ nghĩ đó là cách duy nhất để thực sự phân biệt ai thật lòng mong muốn tai ương này chấm dứt và ai không. Người nào thực sự lo, người đó sẽ sợ hãi và tự bỏ đi.”

“Mọi người đang rời khỏi đây sao?” Richie hỏi.

“Điều đó xảy ra vào thời điểm chu kỳ mạnh lên. Khó mà kiểm định được bao nhiêu người bỏ đi, vì từ năm 1850 trở đi, chu kỳ không nằm trọn trong năm thống kê. Nhưng con số khá lớn. Người ta bỏ của chạy lấy người, như trẻ con phát hiện ngôi nhà thật sự bị ma ám.”

“Về nhà, về nhà, về nhà,” Beverly khẽ nói. Khi cô thôi nhìn bàn tay mình mà ngước lên, cô quay sang Bill chứ không phải Mike. “Nó muốn chúng ta trở lại. Tại sao vậy?”

“Có thể nó muốn tất cả chúng ta trở lại,” Mike lấp lửng. “Đúng vậy. Có thể nó muốn vậy. Có thể nó muốn trả thù. Suy cho cùng, chúng ta đã ngăn chặn được Nó một lần.”

“Trả thù… hoặc chỉ là đưa mọi thứ trở lại trật tự,” Bill nói.

Mike gật đầu. “Cuộc đời các cậu cũng vì nó mà xáo trộn mà. Không ai trong các cậu rời khỏi Derry mà toàn vẹn cả… Nó đã in hằn dấu vết lên các cậu. Tất cả các cậu đã quên mất những chuyện xảy ra ở đây, ký ức của mọi người về mùa hè năm ấy cũng chỉ rời rạc. Ngoài ra, còn có một điều khá thú vị là tất cả các cậu đều rất khá giả.”

“Trời, thôi nào!” Richie cất tiếng. “Có gì mà…”

“Từ từ nào, cứ từ từ,” Mike nói, giơ tay lên, khẽ mỉm cười. “Tớ không trách móc các cậu, chỉ là có gì nói đó thôi. Các cậu giàu sang so với tiêu chuẩn của một anh thủ thư trong thị trấn nhỏ, một năm làm được chưa tới mười một nghìn đô-la sau thuế, các cậu hiểu chứ?”

Richie khó chịu nhún vai trong bộ áo vest mắc tiền. Ben có vẻ say sưa xé giấy ăn thành những dải nhỏ. Chẳng ai nhìn trực diện vào Mike, ngoại trừ Bill.

“Đúng là không có ai trong số các cậu thuộc tầng lớp nứt đố đổ vách như HL. Hunt, Mike nói, “nhưng các cậu vẫn rất sung túc so với tiêu chuẩn tầng lớp trung lưu phía trên của nước Mỹ. Bọn mình là bạn bè nên mọi người đừng giấu giếm làm gì nếu năm 1984, có ai trong số các cậu kê khai ít hơn 90.000 đô-la trên tờ khai thuế thì giơ tay lên cho tớ xem.”

Ông trùm dầu mỏ người Mỹ.

Họ đưa mắt liếc nhìn nhau, gần như lén lút, ngại ngần trước cuộc sống công thành danh toại mình đạt được, như hành động thường trực của dân Mỹ – tựa hồ tiền là những quả trứng luộc, còn vinh hoa phú quý như những cú đánh rắm không thể tránh khỏi nếu xơi quá nhiều trứng. Bill cảm thấy máu dồn lên má nóng bừng nhưng anh bất lực, không tài nào ngăn được. Anh được trả nhiều hơn 10.000 đô-la so với tổng số tiền Mike vừa đề cập chỉ để viết bản nháp đầu tiên cho phim Phòng áp mái . Người ta hứa sẽ chi thêm 20.000 đô-la cho mỗi lần chỉnh sửa nếu cần. Rồi tiền nhuận bút… và khoản ứng trước hào phóng cho hợp đồng hai cuốn sách mà anh vừa ký… Anh đã kê khai bao nhiêu tiền trên tờ khai thuế năm 84 ư? Hình như khoảng 800.000 đô-la thì phải? Đủ lớn để khoản thu nhập chưa tới 11.000 đô-la mà Mike Hanlon vừa kể chẳng khác nào muối bỏ bể.

Hóa ra người ta chỉ trả cậu chừng đó để giữ ngọn hải đăng ư, Mike bạn tôi ơi, Bill nghĩ thầm. Chúa ơi, đáng nhẽ cậu phải đề nghị người ta tăng lương từ lâu rồi mới phải chứ!

“Bill Denbrough, một tiểu thuyết gia thành công trong một xã hội nơi tiểu thuyết gia đã ít, mà tiểu thuyết gia đủ may mắn để kiếm sống từ nghiệp cầm bút còn ít hơn nữa,” Bill tiếp tục. “Beverly Rogan, người phụ nữ làm việc trong ngành thời trang, một lĩnh vực người theo thì nhiều nhưng người được chọn thì ít. Hiện tại, cô là nhà thiết kế được săn đón nhất vùng Trung Mỹ.”

“Ôi, chẳng phải tớ đâu” Beverly gạt đi. Cô khẽ cất tiếng cười căng thẳng và châm thêm điếu thuốc mới từ đầu mẩu cũ đang cháy âm ỉ. “Là Tom đấy. Tom mới là người gây dựng cơ nghiệp. Không có anh ấy, chắc tớ còn đang ngồi thay vải lót váy và may viền áo quần. Tớ không biết tí gì về kinh doanh hết, đến cả Tom còn phải thốt lên như vậy mà. Tất cả là nhờ… các cậu biết đấy, nhờ Tom cả. Và nhờ thời vận thôi.” Cô rít một hơi thật sâu rồi dập điếu thuốc.

“Ta thấy quý bà rõ là ba hoa một tấc đến trời,” Richie láu cá lên tiếng.

Câu thoại nổi tiếng trong vở kịch Hamlet của William Shakespeare.

Cô quay ngoắt lại, nhìn chằm chằm vào anh, mặt đỏ như gấc. “Cậu nói vậy là có ý gì, Richie Tozier?”

“Đừng đánh con, thưa quý cô Xì-cô-lét!” Richie ré lên bằng Giọng nói Nhóc Da đen - và trong khoảnh khắc ấy, Bill có thể nhìn thấy, rõ đến dị thường, cậu bé mà anh từng quen; không phải bóng hình dĩ vãng, lấp ló dưới vỏ bọc trưởng thành của Rich Tozier mà là một nhân vật còn thật hơn chính người đàn ông trước mặt anh đây. “Đừng đánh con! Để con mang cho quý cô thêm một ly Chu-líp bạc hà nữa, quý cô Xì-cô-lét ơi! Quý cô uống ngoài hiên cho mát mẻ! Cô đừng đánh con mà tội nghiệp!”

Cocktail Mint Julep, ở đây Giọng Nhóc Da đen phát âm không chuẩn tiếng Anh.

“Thật hết nói nổi cậu, Richie,” Beverly lạnh tanh. “Cậu không chịu lớn à?”

Richie đưa mắt nhìn cô, nụ cười từ từ chuyển thành bối rối. “Tớ cứ tưởng tớ đã chín chắn, cho đến lúc tớ trở về đây.”

“Rich, có thể nói cậu là phát thanh viên ra-đi-ô thành công bậc nhất đất Mỹ đấy,” Mike nói. “Cậu nắm LA như trong lòng bàn tay. Nhưng chưa hết, cậu có hai chương trình phát thanh, một trong hai chương trình nằm trong tốp 40, chương trình còn lại mang tên 40 quỷ quái …”

“Lũ mông muội các người liệu hồn,” Richie gầm gừ bằng giọng Mr.T nhưng mặt anh đỏ ửng. “Ta sẽ đảo mông ra trước đảo ngực ra sau. Ta sẽ dùng nắm tay phẫu thuật não các người. Ta sẽ…”

Một diễn viên người Mỹ, nhân vật truyền hình và là một vận động viên, vệ sĩ và đô vật chuyên nghiệp đã nghỉ hưu.

“Eddie,” Mike nói tiếp, mặc kệ Richie, “cậu quản lý công ty cung cấp dịch vụ lái xe limousine phát đạt ở một thành phố mà ta phải luồn lách giữa những chiếc xe màu đen dài ngoằng mới có thể băng qua đường. Hai công ty limo một tuần khuynh đảo cả Trái Táo Lớn, cậu thành công ra phết.

Biệt danh của thành phố New York.

Còn Ben, có lẽ cậu là kiến trúc sư trẻ thành công nhất thế giới.”

Ben mở miệng toan phản đối nhưng rồi chợt ngậm miệng lại.

Mike mỉm cười với mọi người và chìa tay ra. “Tớ không muốn bất cứ ai ngại ngùng, nhưng tớ muốn bọn mình lật bài ngửa với nhau. Có người thành công từ trẻ, có người thành công trong những ngành nghề chuyên môn cao – nếu không có những người vượt lên số phận như vậy, có lẽ ai nấy đều từ bỏ cả rồi. Nếu trong các cậu chỉ có một hay hai người, ta có thể xem như ấy là chuyện ngẫu nhiên. Nhưng không chỉ một hay hai người mà là tất cả các cậu, trong đó có cả Stan Uris, kế toán viên trẻ thành công nhất Atlanta… tức toàn bộ miền Nam. Kết luận tớ rút ra là thành công của các cậu xuất phát từ những gì xảy ra ở đây hai mươi bảy năm về trước. Nếu thời điểm ấy, tất cả các cậu tiếp xúc với a-mi-ăng và giờ mắc ung thư phổi, mối tương quan sẽ rõ ràng và thuyết phục chẳng kém. Các cậu có điều gì bàn cãi không?”

Anh nhìn mọi người nhưng chẳng ai nói gì.

“Cả nhóm, chỉ trừ có cậu,” Bill lên tiếng. “Chuyện gì đã xảy ra với cậu vậy, Mikey?”

“Nó rõ như ban ngày mà?” Anh nhoẻn cười. “Vì tớ ở lại đây.”

“Cậu là người canh giữ ngọn hải đăng,” Ben nói. Bill giật nảy, quay về phía bạn, nhưng Ben đang nhìn Mike chằm chằm nên không hay. “Nghe vậy tớ chẳng vui nổi, Mike. Thành thật mà nói, tớ thấy mình như cục cứt vậy.”

“Lạy Chúa,” Beverly nói.

Mike kiên nhẫn lắc đầu. “Các cậu không việc gì phải cảm thấy tội lỗi cả. Các cậu nghĩ tớ tự do chọn việc ở lại nơi này, giống như các cậu được tự do chọn việc dứt áo ra đi sao? Làm gì có, ngày ấy chúng ta chỉ là trẻ con. Vì lý do này hay lý do khác, bố mẹ các cậu chuyển đi, và các cậu là một phần hành lý họ mang theo. Còn bố mẹ tớ ở lại. Và suy cho cùng, nếu hỏi đó có phải là quyết định của bố mẹ tớ hay không thì tớ nghĩ là không. Thứ gì đã quyết định ai là người đi, ai là người ở lại? Là may mắn? Là định mệnh? Là Nó? Hay là một thế lực nào khác? Tớ không biết. Nhưng các cậu không phải người quyết định. Vậy nên thôi, mình bỏ qua đi.”

“Cậu không… không thấy cay đắng sao?” Eddie ngần ngại hỏi.

“Bận như thế này thì tớ cũng chẳng có thời gian thấy cay đắng,” Mike trả lời. “Bao lâu nay, tớ đã theo dõi, chờ đợi… Tớ nghĩ tớ đã quan sát và chờ đợi từ trước khi tớ ý thức được điều đó, nhưng khoảng năm năm đổ lại đây, tớ luôn trong tình trạng mà ta có thể gọi là báo động đỏ. Từ lúc bước qua năm mới, tớ có viết nhật ký. Khi một người đặt bút viết, anh ta nghĩ sâu hơn… hoặc có khi chỉ là cụ thể hơn. Và một trong những điều tớ dành nhiều thời gian viết và nghĩ nhất là bản chất của Nó. Nó thiên biến vạn hóa; chúng ta đều biết như thế. Tớ nghĩ Nó còn có thể thao túng và để lại dấu vết của mình trên người khác, bởi đó là bản chất của Nó - giống như việc nếu một con chồn hôi tiết ra mùi quá gần ta, ta vẫn có thể ngửi thấy mùi của nó sau khi đã tắm táp thật kỹ. Giống như việc châu chấu sẽ xịt ra tay ta dịch hôi nếu ta bắt nó lên tay.”

Mike chậm rãi tháo nút áo sơ-mi. Cả nhóm trông thấy những vết sẹo màu hồng trên phần ngực màu bánh mật mịn màng của cậu, ngay giữa hai đầu ti.

“Giống như việc móng vuốt để lại sẹo” cậu nói.

“Người sói,” Richie gần như rền rĩ. “Ôi Chúa ơi, Bill To Bự, Người sói! Cái lần bọn mình trở lại đường Neibolt!”

“Sao kia?” Bill hỏi. Vẻ mặt anh như thể một người vừa bị gọi giật ra khỏi cơn mơ. “Sao cơ, Richie?”

“Cậu không nhớ ư?”

“Không… cậu có nhớ à?”

“Tớ… Tớ nhớ mang máng rồi…” Richie bình tĩnh hơn dù khuôn mặt vừa bối rối vừa sợ hãi.

“Cậu nói thế này không phải ma quỷ sao?” Eddie chợt lên tiếng hỏi Mike. Anh nhìn chằm chằm những vết sẹo như thể bị thôi miên. “Rằng nó chỉ là một phần của… của trật tự vốn có sao?”

“Nó không phải một phần của trật tự mà ta hiểu hay chấp nhận,” Mike vừa nói vừa cài lại nút áo, “và tớ thấy ta chỉ cần hành động theo hệ quy chiếu mà ta hiểu là đủ rồi: Nó giết người, giết trẻ em, và điều đó là sai trái. Bill là người hiểu điều đó hơn ai hết. Cậu có nhớ không, Bill?”

“Tớ nhớ tớ rất muốn giết Nó,” Bill nói, và lần đầu tiên (cũng là lần ấn tượng nhất) anh nghe thấy đại từ ấy âm hưởng sắc thái tên riêng trong giọng nói của chính mình. Nhưng ngày ấy, tớ chưa có thế giới quan về chuyện này, các cậu hiểu ý tớ chứ - chỉ đơn giản là tớ muốn giết Nó vì Nó đã giết George.”

“Giờ cậu còn muốn làm điều đó không?”

Bill suy nghĩ thật lung. Anh nhìn xuống đôi tay đang dang rộng của mình trên bàn rồi nhớ đến hình ảnh George mặc áo mưa vàng, mũ kéo lên đầu, một tay cầm chiếc thuyền giấy phết lớp sáp nến mỏng. Anh ngước lên nhìn Mike.

“H-H-Hơn bao giờ hết,” anh khẳng định.

Mike gật đầu như thể đó chính là những điều anh kỳ vọng mình sẽ nghe thấy. “Nó để lại vết tích của mình lên chúng ta. Nó đưa ý chí của bản thân Nó vào chúng ta, giống như cách Nó áp ý chí của Nó lên cả thị trấn này, ròng rã bao năm tháng, kể cả những khoảng thời gian dài dằng dặc khi Nó say ngủ hoặc ngủ đông hay gì đó, xen giữa những giai đoạn Nó… Nó tác oai tác quái.”

Mike đưa một ngón tay lên.

“Nhưng nếu Nó từng áp ý chí của Nó lên chúng ta, thì sẽ có thời điểm, bằng một cách nào đó, ta áp ý chí của mình lên Nó. Chúng ta từng cản được Nó, buộc Nó phải dừng bước – tớ biết là như thế. Chúng ta có khiến Nó yếu đi không? Ta có làm Nó bị thương không? Có phải suýt chút nữa, ta đã giết được Nó? Tớ nghĩ là có. Tớ nghĩ chúng ta suýt chút nữa đã kết liễu được Nó nên chúng ta mới ra đi mà đinh ninh trong lòng mình đã giết nó thành công.”

“Nhưng cậu cũng không nhớ phần ký ức ấy phải không?” Ben hỏi.

“Không. Tớ có thể nhớ như in mọi chi tiết cho đến ngày 15 tháng 8 năm 1958. Nhưng trong khoảng thời gian sau đó cho tới ngày mùng 4 tháng 9, khi nhập học trở lại, ký ức của tớ như tờ giấy trắng. Nó không mờ mờ hay ảo ảo, mà hoàn toàn biến mất. Chỉ trừ một ngoại lệ: tớ nhớ chi tiết Bill đã thét lên về một thứ gì đó có tên là tử quang.”

Tay của Bill co giật, hất phải một chai bia đã uống cạn làm cái chai rơi xuống sàn đánh choang, vỡ tan tành.

“Cậu có bị đứt tay không?” Beverly hỏi. Cô dợm đứng lên.

“Không,” anh đáp. Giọng anh khô khốc. Hai cánh tay anh nổi da gà. Dường như hộp sọ anh vừa phình lên; anh có thể cảm thấy

(tử quang)

nó đè vào lớp da mặt đang căng lên của anh theo những cú đập đều đều tê dại.

“Để tớ nhặt…”

“Không cần đâu, cậu cứ ngồi đấy.” Anh muốn nhìn cô nhưng không thể. Anh không tài nào rời mắt khỏi Mike.

“Cậu có nhớ tử quang không, Bill?” Mike nhẹ nhàng hỏi.

“Không,” anh đáp. Miệng anh như thể vừa bị nha sĩ tiêm quá nhiều thuốc tê.

“Rồi cậu sẽ nhớ ra thôi.”

“Cầu Chúa tớ không nhớ ra.”

“Rồi cậu sẽ nhớ,” Mike đáp. “Nhưng còn giờ… thì chưa. Tớ cũng chưa. Có ai trong số các cậu nhớ không?”

Mọi người lần lượt lắc đầu.

“Song chúng ta đã làm điều gì đó,” Mike ôn tồn nói. “Ở một thời điểm, chúng ta đã đồng tâm hiệp lực với nhau. Ở một thời điểm, chúng ta đã ngộ ra chân lý đặc biệt nào đó, dù là có ý thức hay vvô thức.” Anh nhấp nhổm sốt ruột. “Chúa ơi, phải chi có Stan ở đây. Tớ có cảm giác một người tư duy lớp lang như Stan sẽ rút ra được ý tưởng gì đó.”

“Có thể là thế,” Beverly lên tiếng. “Có lẽ đó chính là lý do cậu ấy tự tử. Có lẽ cậu ấy hiểu ngay cả khi ma thuật tồn tại chăng nữa, nó cũng không có tác dụng với người lớn.”

“Tớ lại nghĩ là có, Mike phản đối. “Vì sáu người chúng ta còn một điểm chung nữa. Các cậu có nhận ra đó là gì không?”

Đến lượt Bill mấp máy môi nhưng rồi lại im bặt.

“Cậu nói đi,” Mike nói. “Cậu biết đó là gì mà. Nó hiện rành rành trên mặt cậu rồi kìa.”

“Tớ không chắc tớ có biết hay không.” Bill đáp, “nhưng tớ nghĩ ch-chúng ta đều không có con. Có phải v-vậy không?”

Một khoảng lặng thinh đầy choáng váng. “Ừ.” Mike nói. “Điểm chung ấy đấy.”

“Lạy Chúa toàn năng!” Eddie phẫn nộ thốt lên. “Điều đó thì liên quan quái gì đến giá đậu ở Peru? Hà cớ gì cậu lại tư tưởng ai sống trên đời cũng phải có con vậy? Rõ là điên khùng!”

“Thế cậu và vợ cậu có con không?” Mike hỏi. “Nếu cậu đã nắm thông tin của vợ chồng tớ như cậu bảo thì nghĩa gì cả.”

“Hai vợ chồng cậu từng thử có con chưa?”

“Bọn tớ không dùng biện pháp tranh thai, nếu ý cậu muốn hỏi điều đó.” Eddie nói với vẻ đường hoàng đến ngộ nghĩnh dù hai má anh đỏ ửng. “Chỉ tình cờ thế nào mà vợ tớ hơi… Ôi khốn thật. Cô ấy thừa cân rất nhiều. Bọn tớ đến bác sĩ thì ông ấy cảnh báo rằng vợ tớ có khả năng không bao giờ có con nếu không giảm cân. Điều đó biến bọn tớ thành tội phạm à?”

“Nào nào, hạ hỏa đi, Eds,” Richie xoa dịu bạn và chúi người về phía anh.

“Đừng gọi tớ là Eds và cấm cậu bẹo má tớ!” Anh ré lên, sửng cồ với Richie. “Cậu thừa biết tớ chúa ghét như vậy! Trước giờ tớ đã ghét rồi mà!”

Richie rụt lại, mắt chớp lia lịa. “Beverly?” Mike hỏi. “Còn cậu và Tom thì thế nào?”

“Bọn tớ không có con,” cô đáp. “Cũng không dùng biện pháp tránh thai. Tom muốn có con… và tất nhiên là tớ cũng thế,” cô vội vàng đế thêm, đưa mắt liếc nhìn mọi người. Bill chợt cảm thấy mắt cô sáng quá, chẳng khác nào mắt một nữ diễn viên đang có màn trình diễn xuất sắc. “Chỉ là chưa đến lúc thôi.”

“Cậu đã đi kiểm tra chưa?” Ben hỏi cô.

“Tất nhiên rồi chứ,” cô nói, khẽ cất tiếng cười khanh khách. Và bằng tài đi guốc trong bụng người khác mà thỉnh thoảng những người với óc tò mò và cái nhìn thấu đáo hay được trời ban, Bill chợt ngộ ra rất nhiều điều về Beverly cùng người chồng tên Tom, tức Đấng Phu Quân Tuyệt Nhất Trần Đời. Beverly là người đi xét nghiệm vô sinh. Anh suy đoán Đấng Phu Quân Tuyệt Nhất Trần Đời còn khuya mới chấp nhận ý tưởng tinh trùng được sản xuất từ Túi Thần của mình lại có vấn đề gì đó.

“Còn cậu và vợ cậu thì sao, Bill To Bự?” Rich hỏi. “Hai người có thử không?” Tất cả quay sang nhìn anh với vẻ tò mò… vì vợ anh là nhân vật mà mọi người đều biết. Dù Audra không phải nữ diễn viên nổi tiếng nhất hay được ái mộ nhất thế giới, nhưng hẳn nhiên, cô là một phần của hệ thống tiền tệ đo bằng sự nổi tiếng, bằng cách nào đó đã đem tài năng ra làm phương tiện trao đổi trong nửa sau của thế kỷ 20, có bức hình chụp cô trên tạp chí People, khi đó cô cắt tóc ngắn, và trong khoảng thời gian tẻ ngắt ở New York (vở kịch cô dự định tham gia theo dạng Off Broadway không trình diễn), cô dành thời gian suốt một tuần tham gia chương trình Hollywood Squares dù phía đại diện kịch liệt phản đối. Cô là một gương mặt khả ái, tuy lạ mà lại quen với mọi nhà. Anh có cảm tưởng Beverly nhìn anh với đôi mắt tò mò hơn hết thảy.

“Bọn tớ cũng thử tới thử lui suốt sáu năm vừa rồi,” Bill nói. “Tám tháng vừa qua thì bọn tớ tạm ngưng vì đang làm một bộ phim có tên là Phòng áp mái .”

“Cậu biết không, bọn tớ có một chương trình phát thanh giải trí nhỏ từ 5 giờ 15 phút chiều đến 5 giờ 30 hằng ngày,” Richie kể. “Chương trình mang tên Ngắm sao . Mới tuần trước, họ giới thiệu về bộ phim ấy với chủ đề Thuận vợ Thuận chồng Chung tay Làm phim. Họ nhắc tới tên của cả hai vợ chồng cậu mà tớ lại không mảy may kết nối được trong đầu. Điều đó thật buồn cười nhỉ?”

“Buồn cười thật,” Bill nói. “Nói chung là Audra cũng bảo rủi may cô ấy mang bầu đúng lúc bọn tớ trong giai đoạn tiền sản xuất và cô ấy phải trải qua mười tuần diễn xuất vất vả mà còn nghén lên nghén xuống thì khổ. Nhưng đúng là bọn tớ muốn có con. Và vợ chồng tớ đã thử rất nhiều.”

“Các cậu có xét nghiệm vô sinh không?” Ben hỏi.

“Có. Bốn năm trước, ở New York, Bác sĩ đã phát hiện một khối u lành tính rất nhỏ trong tử cung của Audra, và họ bảo điều này là may mắn vì mặc dù nó không cản trở cô ấy có thai nhưng có thể gây mang thai ở vòi tử cung. Còn thì vợ chồng tớ đều có khả năng sinh sản.”

Eddie bướng bỉnh lặp lại, “Điều đó chẳng chứng minh được gì cả.”

“Cũng nói lên nhiều điều đấy,” Ben thì thầm.

“Còn cậu thì sao, Ben? Có gây tai nạn nho nhỏ nào không?” Bill hỏi. Anh bất ngờ và lấy làm thích thú khi suýt chút nữa miệng anh đã bật ra cái tên Ben Haystack.

“Tớ chưa kết hôn, tớ vốn luôn cẩn thận, cũng chưa thấy vụ kiện huyết thống nào,” Ben nói. “Ngoài nó ra thì tớ nghĩ chẳng có cách nào để xác định.”

“Các cậu muốn nghe chuyện cười không?” Richie hỏi. Anh mỉm cười nhưng đôi mắt không hề cười.

“Được thôi,” Bill nói. “Cậu lúc nào cũng giỏi tấu hài mà, Richie.”

“Mặt cậu, mông tớ, úi chà chà,” Richie nói bằng giọng Tay Cảnh sát Ireland. Lần này, anh giả giọng Tay Cảnh sát Ireland rất xuất sắc. Cậu đã tiến bộ vượt bậc rồi, Richie ạ, Bill thầm nghĩ. Ngày còn bé, dù có nghĩ nát óc, cậu cũng không tài nào giả được giọng này. Chỉ trừ một lần… hoặc hai lần… khi

(tử quang)

khi nào ấy nhỉ?

“Mặt cậu, mông tớ, cậu hãy nhớ cách so sánh ấy nhé, bạn hiền của tớ.”

Ben Hanscom chợt bóp mũi và the thé hét lên: “Bíp bíp, Richie! Bíp bíp! Bíp bíp!”

Sau một hồi, Eddie vừa cười vừa bóp mũi góp vui. Beverly bắt chước theo.

“Được rồi! Được rồi!” Richie ré lên, cười sang sảng. “Được rồi, tớ chịu thua! Chúa ơi!”

“Ôi trời,” Eddie nói. Anh ngả ra sau ghế, ôm bụng cười đến chảy nước mắt. “Bọn tớ chơi được cậu lần này nhé, Tía Lia. Cậu nhanh thật, Ben ạ.”

Ben mỉm cười, dù khuôn mặt có phần bối rối.

“Bíp bíp,” Bev nói, khúc khích cười. “Sao mà tớ lại quên được chuyện ấy nhỉ. Ngày xưa mọi người bíp bíp cảnh cáo cậu hoài, Richie nhỉ?”

“Các cậu không biết thưởng thức tài năng thật sự thì có,” Richie bông lơn lên tiếng. Cũng giống như ngày xưa, người ta có thể tương cho anh một cú ngã ngửa, nhưng anh bật dậy gần như ngay lập tức, chẳng thua kém gì những con búp bê Joe Palooka được bơm phồng chứa đầy cát bên dưới. “Đó là một trong những đóng góp nho nhỏ của cậu dành cho Hội Cùi Bắp phải không, Haystack?”

“Ừ, chắc vậy quá.”

“Quả là hảo hán!” Richie cảm thán bằng một giọng nói run rẩy, đầy kính cẩn, đoạn anh dập đầu lia lịa xuống bàn, thiếu điều đưa mũi vào ly trà mỗi lần cúi xuống. “Quả là hảo hán! Ôi trời ơi, quả là hảo hán!”

“Bíp bíp, Richie,” Ben nghiêm trang nói rồi phá lên cười bằng một chất giọng nam trung sang sảng, chẳng giống giọng nói run rẩy ngày bé lúc nào. “Còn cậu vẫn là con gà lôi năm nào.”

“Thế các cậu có muốn nghe câu chuyện hay không đây?” Richie hỏi. “Thật ra các cậu muốn nghe hay không cũng không thành vấn đề. Nếu muốn thì các cậu cứ tếch đi chỗ khác. Tớ có thể chấp nhận hành vi phỉ báng này. Gì thì gì, các cậu cũng đang nhìn một người đàn ông từng phỏng vấn Ozzy Osbourne chứ đùa.”

“Kể đi,” Bill nói. Anh liếc qua Mike và thấy Mike trông vui vẻ hơn – hoặc bớt căng thẳng hơn – so với lúc bữa tiệc bắt đầu. Phải chăng là vì anh trông thấy trong vvô thức, họ đang nối lại tình thâm, họ đang dần trở về với những vai trò quen thuộc năm xưa, điều gần như chẳng bao giờ xảy ra khi bạn cũ gặp lại nhau? Bill ngẫm nghĩ trong đầu. Đoạn anh thầm nhủ, Nếu để sử dụng ma thuật, ta cần phải thỏa mãn một số điều kiện tiên quyết, thì có lẽ những điều kiện ấy sẽ tự hội tụ. Suy nghĩ ấy chẳng khiến anh an lòng chút nào. Nó khiến anh cảm thấy mình như bị cột vào chóp tên lửa.

Thật là bíp bíp.

“Chà,” Richie lên tiếng. “Tớ có thể kể một câu chuyện lê thê bi đát hoặc tớ có thể kể cho các cậu phiên bản truyện tranh Tóc vàng hoe và Dagwood, nhưng tớ sẽ chọn cái ở giữa. Một năm sau khi tớ rời khỏi California, tớ gặp một cô gái, chúng tớ yêu nhau nồng thắm rồi chuyển vào sống chung với nhau. Ban đầu cô ấy uống thuốc tránh thai, có điều uống vào, lúc nào cô ấy cũng cảm thấy mệt mỏi. Cô ấy bàn với tớ về việc đặt vòng tránh thai, nhưng tớ không ủng hộ cho lắm – báo chí khi đó bắt đầu đưa tin về việc nó không an toàn tuyệt đối.

Bọn tớ thảo luận rất nhiều về chuyện con cái rồi đi đến kết luận rằng bọn tớ không muốn có con, ngay cả khi bọn tớ quyết định hợp pháp hóa mối quan hệ này. Thật vô trách nhiệm khi đưa con nít vào thế giới tệ lậu, nguy hiểm, đất chật người đông thế này… vân vân và mây mây, thôi thà ta ra ngoài, đặt bom trong nhà vệ sinh Ngân hàng Hoa Kỳ rồi trở lại nhà trọ, hút chút cần sa và bàn về điểm khác biệt giữa tư tưởng Mao Trạch Đông và chủ nghĩa Trotsky, các cậu hiểu ý tớ không?

Hoặc có khi tớ khắt khe với cả hai người bọn tớ quá. Khốn kiếp, ngày ấy, bọn tớ trẻ người non dạ và mơ mộng hão huyền. Kết quả là tớ cắt ống dẫn tinh, như đám Beverly Hills hay chơi chữ tục tĩu. Cuộc phẫu thuật diễn ra không có vấn đề gì và tớ không phải chịu hậu quả gì nghiêm trọng. Vì thật ra là vẫn có khả năng biến chứng. Tớ có một người bạn mà tinh hoàn cậu ta sưng to cỡ bánh xe chiếc Cadillac 1959. Tớ định tặng cậu ta cặp dây kéo quần và vài cái thùng gỗ nhân dịp sinh nhật – khung giữ được thiết kế đàng hoàng - nhưng chưa kịp thì chúng rơi xuống mất rồi.”

“Công nhận cậu tế nhị và lịch thiệp chẳng ai bằng,” Bill nhận xét, nghe đến đây, Beverly lại phá lên cười.

Richie nở nụ cười thật tươi và chân thành. “Cảm ơn vì những lời động viên ấy nhé, Bill. Trong cuốn sách trước của cậu, chữ mẹ kiếp được dùng 206 lần đấy. Tớ đếm đàng hoàng.”

“Bíp bíp, Tía Lia,” Bill nghiêm mặt nói, rồi cả bọn phá lên cười. Bill gần như không tài nào tin nổi khi mới cách đây chừng mười phút, cả đám còn bàn về những đứa trẻ bị sát hại.

“Kể nốt cho nó vuông, Richie,” Ben nói. “Thời gian không đứng đợi.”

“Sandy và tớ sống cùng nhau trong hai năm rưỡi,” Richie kể tiếp. “Có hai lần bọn tớ suýt chút nữa thì kết hôn. Nhưng xem ra bọn tớ đã tránh cho nhau cả đống nhức đầu và phân chia tài sản này kia bằng cách cứ đơn giản mà làm. Cô ấy được một công ty luật doanh nghiệp ở Washington mời về làm vào khoảng thời gian tớ được mời về phụ trách cuối tuần cho đài KLAD - không nhiều, nhưng chí ít chen được một chân vào cửa. Cô ấy bảo tớ đây là cơ hội lớn đối với cô ấy, nếu tớ ấm ớ hội tề thì tớ chẳng khác nào một con lợn trọng nam khinh nữ vô cảm nhất đất Mỹ này, và chưa kể, cô ấy ngán California đến tận cổ rồi. Tớ bèn nói với cô ấy rằng tớ cũng đang đứng trước một cơ hội lớn. Thế là bọn tớ đóng cửa bảo nhau, rồi tranh cãi như mổ bò, kết cục của quá trình chan tương đổ mẻ ấy là Sandy dứt áo ra đi.

Chừng một năm sau, tớ quyết định thử phẫu thuật phục hồi ống dẫn tinh. Chẳng có lý do gì cả đâu, và từ những tài liệu đã đọc, tớ biết khả năng là năm ăn năm thua, nhưng tớ nghĩ thích thì nhích thôi.”

“Lúc ấy cậu đang quen ai à?” Bill hỏi.

“Không, thế mới hài chứ lị,” Richie nói, chau mày. “Một ngày nọ, tớ tự dưng thức dậy và bất chợt… mặt trời chân lý chói qua tim, tớ muốn phục hồi ống dẫn tinh thôi.”

“Đầu óc cậu có vấn đề à?” Eddie nói. “Phải gây mê toàn diện thay vì cục bộ đúng không? Phẫu thuật? Có khi phải nằm viện cả tuần sau đó?”

“Ừ, bác sĩ cũng cảnh báo tớ tất tần tật những điều đó mà,” Richie đáp.”Tớ bèn nói tớ vẫn muốn làm. Chẳng hiểu sao nữa. Ông ấy hỏi liệu tớ có ý thức được hậu phẫu rất đau đớn dù kết quả hên xui như tung đồng xu hay không. Tớ bảo có. Thế là ông ta đáp thế thì được, tớ hỏi khi nào thực hiện - quan điểm của tớ là càng sớm càng tốt. Ông ấy bảo dục tốc bất đạt, cậu trai, từ từ thì khoai mới nhừ, bước đầu tiên là lấy mẫu tinh trùng để kiểm tra xem có cần phải phẫu thuật phục hồi ống dẫn tinh hay không. Thế là tớ bèn nói, “Thôi nào, tôi đã kiểm tra sau khi thắt ống dẫn tinh rồi. Nó thành công mà. Ông ấy giải thích thỉnh thoảng ống dẫn tinh tự nối lại. Ối giời đất ơi!” Nghe thấy thế tớ nhảy đổng lên. Chẳng ai nói với tôi điều đấy là thế nào. Bác sĩ nói khả năng đó rất thấp – nói đúng hơn là như hái sao trên trời – nhưng vì cuộc phẫu thuật rất nghiêm trọng nên vẫn phải kiểm tra cho chắc. Thế là tớ xách catalog nội y của hãng Fredericks of Hollywood vào nhà vệ sinh nam rồi bắt sóc bỏ vào cốc giấy…”

“Bíp bíp, Richie,” Beverly lên tiếng.

“Được thôi, cậu đúng rồi đấy,” Richie đáp. “Chi tiết về cuốn catalog hãng Fredericks là xạo – có tìm đỏ mắt cũng chẳng thấy được thứ gì hay ho như thế trong phòng khám bác sĩ. Trở lại câu chuyện, ba ngày sau, bác sĩ gọi cho tớ và hỏi tớ muốn nghe tin nào trước, tin tốt hay tin xấu.

‘Cho tôi nghe tin tốt trước đi bác sĩ,’ tớ đáp.

‘Tin tốt là cậu không cần phải phẫu thuật,’ ông ấy nói. ‘Tin xấu là bất cứ cô nào mà cậu từng mây mưa trong hai hoặc ba năm qua có thể tùy nghi kiện cậu ra tòa đòi quyền cho con.’

‘Bác sĩ có đang nói điều tôi đang nghĩ không đấy?’ Tớ hỏi.

‘Ý của tôi là cậu hiện tại vẫn xuất ra tinh trùng và bấy lâu nay cũng thế,’ ông đáp. ‘Trong mẫu tinh trùng của cậu nhung nhúc cả triệu chiến binh đây này. Tạm thời, chuỗi ngày tình tang tính tình mà chẳng cần mang bao của cậu đã kết thúc rồi, Richard.’

Thế rồi tớ cảm ơn bác sĩ rồi cúp máy. Sau đó tớ gọi cho Sandy ở Washington.

‘Rich!’ Cô ấy reo lên,” giọng của Richie đột nhiên trở thành giọng của cô nàng mang tên Sandy mà không ai trong số cả bọn từng gặp mặt. Không hẳn là bắt chước, thậm chí cũng chẳng giống hoàn toàn; giọng nói ấy tựa như bức tranh thính giác hơn. ‘Thấy anh gọi em vui quá! Em đã lên xe bông rồi đấy!’

‘Ồ tuyệt vời,’ tớ đáp. ‘Thế mà không báo anh một câu. Để anh gửi em máy xay sinh tố làm quà nhé!’

Cô ấy bèn nói, ‘Anh vẫn như xưa, cả một cây hài.’

Thế là tớ bảo, ‘Ừ, anh vẫn là Richie ngày xưa, cả một cây hài mà. Nhân tiện, Sandy này, em có tình cờ mang thai hay gì đó sau khi rời LA không? Hay đột nhiên có phải nong nạo gì đấy không?’

‘Đùa hết vui rồi nhé, Rich, cô ấy đáp, và sóng não báo hiệu với tớ cô ấy sắp sửa dập máy, tớ bèn nhanh miệng kể cho cô ấy những gì đã xảy ra. Cô ấy phá lên cười, lần này, cô ấy cười như được mùa – cười ha hả như ngày xưa tớ hay cười với các cậu ấy, tựa hồ ai đó vừa kể cho cô ấy nghe câu chuyện cười đau bụng nhất trần đời. Mãi lúc sau, khi tràng cười hạ bớt, tớ mới hỏi cô ấy có cái quái gì vui mà cười dữ vậy. ‘Thì nghe tuyệt quá chứ sao,’ cô ấy đáp. ‘Lần này thì anh làm trò cười rồi nhé. Sau bao năm, cuối cùng Chuyên gia thu âm Tozier cũng làm trò cười rồi đây. Thế từ lúc em lên miền Đông, anh cho bao nhiêu tiểu quỷ chào đời rồi hả?’

‘Anh tự hiểu thế này có nghĩa là em vẫn chưa kinh qua niềm vui được làm mẹ nhỉ?’ Tớ hỏi.

‘Tháng Bảy này em sinh,’ cô ấy đáp. ‘Còn thắc mắc gì không?’

‘À không,’ tớ hỏi. ‘Từ khi nào mà em không còn nghĩ đưa con trẻ đến thế giới tệ lậu này là hành vi vô đạo đức thế?’

‘Khi cuối cùng em cũng gặp được một người đàn ông không tệ lậu,’ cô ấy đáp rồi dập máy.”

Bill bắt đầu phá lên cười. Anh cười đến độ nước mắt chảy xuống má. “Ừ.” Richie tiếp tục. “Tớ đoán cô ấy cúp máy nhanh như vậy là để tớ không có cơ hội nào bật lại, nhưng thực ra cô ấy có giữ máy cả ngày cũng chẳng sao. Tớ biết khi nào tớ á khẩu mà. Một tuần sau, tớ quay lại chỗ bác sĩ và nhờ ông ấy giải thích rõ ràng thêm về khả năng ống dẫn tinh tự nhiên nối lại như vậy. Bác sĩ đáp ông ấy đã bàn với một vài đồng nghiệp về vấn đề này. Hóa ra trong khoảng thời gian ba năm từ 1980 đến 1982, Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ chi nhánh California ghi nhận 23 trường hợp ống dẫn tinh tự nhiên nối lại. Sáu trường hợp hóa ra là phẫu thuật ẩu tả. Sáu trường hợp khác là lừa đảo – mấy kẻ muốn ăn bớt tài khoản ngân hàng bác sĩ. Tức là… chỉ có 11 trường hợp trong ba năm.”

“11 trên tổng số bao nhiêu?” Beverly hỏi.

“28.618 ca,” Richie bình thản nói.

Cả bàn im lặng.

“Nói cách khác, tỷ lệ trúng số Irish Sweepstakes còn phải chào thua tớ,” Richie giảng giải. “Thế mà vẫn không thấy đứa trẻ nào xuất hiện. Được tràng hay ho nào không, Eds?”

Eddie bướng bỉnh: “Việc này vẫn không chứng minh…”

“Không” Bill nói, “nó chẳng chứng minh được gì. Nhưng nó gợi cho ta mối liên kết. Câu hỏi là bây giờ chúng ta sẽ hành động thế nào. Cậu đã suy nghĩ về điều đó chưa, Mike?”

“Đương nhiên là tớ đã suy nghĩ rồi,” Mike đáp. “Nhưng cho đến lúc tất cả mọi người tề tựu đông đủ để thảo luận, như các cậu vừa làm, thì có quyết gì cũng vô ích. Tớ không thể dự đoán được cuộc hội ngộ của chúng ta sẽ ra sao cho đến khi nó thực sự xảy ra.”

Anh dừng lại một lúc lâu và nhìn họ đầy ưu tư.

“Tớ có ý này,” anh nói, “nhưng trước khi tớ trình bày, tớ nghĩ chúng ta phải đồng thuận về việc chung tay góp sức ở đây hay không. Chúng ta có muốn thử lại lần nữa những gì chúng ta từng thử ngày xưa không? Chúng ta có muốn tìm cách giết Nó lần nữa không? Hay chúng mình lại tan đàn xẻ nghé và trở lại cuộc sống cũ?”

“Có vẻ…” Beverly lên tiếng nhưng Mike nhìn cô lắc đầu. Anh chưa nói xong.

“Các cậu phải hiểu một điều: ta hoàn toàn không thể dự đoán khả năng chiến thắng của bọn mình. Tớ biết khả năng ấy không cao, giống như tớ hiểu khả năng ấy sẽ cải thiện chút đỉnh nếu Stan có mặt ở đây. Không cao nhưng chí ít vớt vát được phần nào. Vắng Stan, vòng tròn chúng mình tạo lập ngày ấy đã vỡ. Thật lòng, tớ không nghĩ với vòng tròn đã vỡ, chúng ta có thể hủy diệt được Nó hay buộc Nó phải lắng đi trong ít lâu như ngày xưa. Tớ nghĩ Nó sẽ giết chết chúng ta, từng người, từng người một, có thể bằng những cách khủng khiếp đến tàn tệ. Ngày còn bé, chúng ta đã hình thành một vòng tròn hoàn chỉnh bằng phương thức mà đến giờ tớ vẫn chưa hiểu nổi. Tớ nghĩ nếu bọn mình đồng thuận tiến lên, chúng ta có thể tìm cách hình thành một vòng tròn nhỏ hơn. Tớ không biết điều đó có khả dĩ hay không. Tớ cho rằng ta có thể nghĩ mình đã thành công, chỉ để nhận ra – khi mọi thứ đã quá trễ – rằng… đã quá trễ.”

Mike nhìn mọi người lần nữa, đôi mắt anh trũng sâu, mệt mỏi trên gương mặt làn da bánh mật. “Vậy nên tớ nghĩ chúng ta phải bỏ phiếu. Ở lại và thử lại, hoặc về nhà. Đó là hai lựa chọn. Tớ đưa mọi người tụ hội nơi đây nhờ sức mạnh của lời hứa năm xưa, dù tớ còn không chắc các cậu còn nhớ, nhưng tớ không thể mượn sức mạnh của lời hứa ấy mà giữ chân mọi người được. Làm thế chỉ tổ xôi hỏng bỏng không mà thôi.”

Nói đoạn Mike nhìn Bill, khoảnh khắc ấy, Bill chợt hiểu họ sẽ phải đối mặt với thứ gì. Anh sợ nó, nhưng chẳng thể nào ngăn được, và với cái cảm giác nhẹ nhõm mà anh tưởng tượng người tự sát sẽ cảm thấy lúc thả tay khỏi bánh lái trong chiếc xe đang lao vun vút, đưa tay lên che mắt, anh đành chấp nhận. Mike đã đưa họ về đây, Mike đã trình bày rành mạch cho họ hiểu… và giờ anh đang cởi bỏ tấm áo choàng của người thủ lĩnh. Anh định sẽ trao lại tấm áo ấy cho người từng khoác nó vào năm 1958.

“Cậu thấy sao, Bill To Bự? Biểu quyết thôi.”

“Trước khi tớ làm thế,” Bill nói, “m-mọi người đã hiểu câu hỏi chưa? Ban nãy cậu tính nói gì à, Bev?”

Cô lắc đầu.

“Được rồi, tớ đ-đoán câu hỏi là liệu chúng ta ở lại chiến đấu hay quên tất tần tật mọi chuyện? Ai muốn ở lại?”

Trong khoảng năm giây, không một ai ngồi ở bàn nhúc nhích, nó khiến Bill nhớ lại những buổi đấu giá anh từng tham gia, lúc đó, giá cho món đồ bỗng dưng thăng lên tầng bình lưu và những vị khách không muốn ra giá cao hơn đều ngồi im như tượng, họ không dám gãi hoặc phấy con ruồi đậu nơi đầu mũi vì sợ người điều khiển cuộc đấu giá sẽ nhầm tưởng họ vừa nâng giá cao hơn 5.000 hay 25.000 đô-la.

Bill nghĩ về Georgie, Georgie chẳng bao giờ muốn hại ai, chỉ muốn ra ngoài chơi sau một tuần chôn chân trong nhà vì cơn bão, Georgie với tâm trạng sung sướng như tiên, một tay cầm thuyền giấy, một tay cài khóa chiếc áo mưa vàng, Georgie cảm ơn anh… và cúi xuống, và hôn lên gò má nóng bừng vì sốt của Bill: Cảm ơn anh Bill. Thuyền đẹp quá trời.

Anh cảm thấy cơn phẫn nộ năm xưa trào dâng trong lòng, nhưng giờ anh đã trưởng thành hơn, góc nhìn cũng rộng mở hơn. Lúc này, không chỉ có mỗi Georgie. Một chuỗi những cái tên khủng khiếp lướt qua đầu anh: Betty Ripsom, chết cóng trong lòng đất; Cheryl Lamonica, xác vớt từ dưới sông Kenduskeag: Matthew Clements, mất tích khi đang đạp xe ba bánh; Veronica Grogan, cô bé chín tuổi được tìm thấy dưới cống; Steven Johnson, Lisa Albrecht, và có Chúa mới biết còn bao nhiêu cô cậu bé khác mất tích.

Anh chậm rãi giơ tay lên và nói. “Hãy giết Nó. Lần này, ta hãy giết Nó cho bằng được.”

Tay anh cứ thế lẻ loi giơ lên trong không trung suốt một khoảng lặng, như bàn tay của cậu học trò duy nhất biết đáp án đúng trong lớp, cậu học trò bị cả lớp ganh ghét. Rồi Richie thở dài và giơ tay, lên tiếng: “Bố tiên sư. Tệ không kém gì phỏng vấn Ozzy Osbourne.”

Người tiếp theo giơ tay là Beverly. Mặt cô đỏ bừng trở lại, thành những vết phừng phừng dọc theo gò má. Trông cô vừa hào hứng kinh khủng vừa sợ đến mất mật.

Mike giơ tay.

Kế đến là Ben.

Eddie Kaspbrak tựa lưng lên ghế, nhìn anh như thể anh muốn mình có thể tan chảy vào ghế rồi biến mất không còn tăm tích. Khuôn mặt anh thon gọn và mong manh, sợ hãi đến cùng cực, hết nhìn sang phải lại quay sang trái rồi lại nhìn qua Bill. Trong một khắc, Bill dám chắc Eddie sẽ đẩy ghế ra sau, đứng dậy, lao ra khỏi căn phòng mà không quay đầu nhìn lại. Thế mà Eddie đưa một tay lên không trung, tay kia nắm chặt ống thở.

“Được lắm, Eds,” anh nói. “Lần này bọn mình sẽ kiếm được vài tràng hay ho lắm cho xem, tớ cá với cậu.”

“Bíp bíp, Richie,” Eddie run run phản pháo.

6

HỘI CÙI BẮP ĂN TRÁNG MIỆNG

“Thế ý tưởng của cậu là gì vậy, Mike?” Bill hỏi. Bầu không khí bị phá vỡ bởi Rose, nữ nhân viên phục vụ, bước vào với một đĩa bánh quy may mắn. Cô đưa mắt nhìn sáu người bọn họ giơ tay với vẻ dè chừng, lịch thiệp không chút tọc mạch. Họ vội rụt tay xuống và không ai nói gì cho đến lúc Rose đi khỏi.

“Ý tưởng khá đơn giản,” Mike nói, “nhưng cũng có thể rất nguy hiểm.”

“Bật mí đi,” Richie thúc.

“Tớ nghĩ phần thời gian còn lại của ngày hôm nay, chúng ta nên chia ra. Mỗi người nên trở về địa điểm ở Derry mà mình nhớ nhất… chú ý là ngoài Vùng Đất Cằn. Tớ nghĩ bọn mình khoan hãy đến đấy - chí ít là chưa. Nếu được, các cậu hãy xem như mình lòng vòng thăm thú đây đó.”

“Mục đích là gì, Mike?” Ben hỏi.

“Tớ cũng không chắc. Tớ mong cậu hiểu tớ cũng chỉ đang làm theo những gì trực giác tớ mách bảo thôi…”

“Nhưng giai điệu có vẻ hay đấy, nhạc đến đâu nhún nhảy đến đấy thôi,” Richie nói.

Mọi người mỉm cười. Chỉ trừ Mike, anh lặng lẽ gật đầu. “Cậu nghĩ như vậy cũng hay. Hành động theo trực giác cũng giống như hòa theo điệu nhạc và nhún nhảy. Với người lớn, vận dụng trực giác là một việc rất khó, nhưng đó chính là lý do tớ nghĩ chúng ta nên làm như vậy. Suy cho cùng, trẻ con nghe theo trực giác tám mươi phần trăm thời gian, ít nhất là cho đến lúc mười bốn tuổi.”

“Ý cậu muốn ta học cách hòa mình vào sự tình đúng không?” Eddie nói.

“Có lẽ là thế. Đó là ý kiến của tớ. Nếu các cậu không nghĩ ra được địa điểm nào cụ thể thì cứ để đôi chân dẫn dắt xem đến đâu. Tối nay, bọn mình sẽ gặp nhau ở thư viện và bàn về những chuyện đã xảy ra.”

“Ấy là nếu có chuyện xảy ra” Ben nói.

“Ồ, tớ nghĩ là thể nào cũng có chuyện.”

“Chuyện gì mới được chứ?” Bill hỏi.

Mike lắc đầu. “Tớ chịu. Tớ chỉ đoán chuyện xảy ra sẽ chẳng dễ chịu gì cho cam. Tớ nghĩ thậm chí có khi tối nay, một người trong số chúng ta sẽ không xuất hiện ở thư viện nữa kìa. Không có lý do gì cho suy nghĩ ấy cả… chỉ là trực giác của tớ mách bảo như vậy mà thôi.”

Im lặng bủa vây lấy họ.

“Tại sao lại đi một mình?” Mãi lúc sau, Beverly lên tiếng. “Nếu ta dự tính đồng tâm hiệp lực làm, tại sao cậu lại muốn bọn tớ khởi sự một mình vậy hả Mike? Nhất là khi rủi ro thực sự cao như cậu cảnh báo?”

“Tớ nghĩ tớ có câu trả lời đây,” Bill cất lời.

“Vậy cậu nói đi Bill,” Mike đáp.

“Vì nó bắt đầu riêng rẽ đối với mỗi người chúng ta,” Bill nói với Beverly. “Tớ không nhớ hết mọi chuyện – hay đúng hơn là bây giờ tớ chưa nhớ – nhưng tớ nhớ rõ là như thế. Bức hình chuyển động trong phòng George. Xác ướp mà Ben gặp. Gã hủi Eddie trông thấy dưới hiên nhà đường Neibolt. Mike trông thấy máu vương trên bãi cỏ gần Kênh Đào trong công viên Bassey. Và con chim… có chi tiết gì đó liên quan đến con chim phải không, Mike?”

Mike gật đầu u ám.

“Một con chim khổng lồ.”

“Ừ, nhưng không được thân thiện như con chim trên chương trình Phố Vừng vui nhộn đúng không?”

Chương trình truyền hình Mỹ rất nổi tiếng dành cho trẻ em, trong đó có một nhân vật là chú chim khổng lồ Big Bird màu vàng.

Richie phá lên cười nắc nẻ. “James Brown có một tràng quá hay ho, Derry xin đáp lời! Ôi các em, ta sung sướng làm sao, sung sướng làm sao!”

James Brown (1933-2006) là một ca sĩ nổi tiếng dòng nhạc soul và là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất âm nhạc thế kỷ 20. Phiên bản hoạt hình của ông cũng xuất hiện trong chương trình Phố Vừng.

“Bíp bíp, Richie,” Mike nói, và lúc ấy Richie mới chịu nhượng bộ.

“Với cậu là tiếng nói trong ống nước và máu bắt lên từ lỗ thoát nước,” Bill nói với Beverly. “Còn với Richie…” Anh bỏ ngang câu nói, bối rối.

“Chắc hẳn tớ là ngoại lệ cho quy luật này rồi, Bill To Bự,” Richie đáp. “Lần đầu tiên tớ chạm trán với hiện tượng kỳ lạ mùa hè năm ấy - kỳ lạ theo kiểu dễ sợ– là trong phòng George với cậu. Hôm ấy, khi hai chúng ta về nhà cậu xem bức hình trong cuốn album. Bức hình chụp đường Trung Tâm gần Kênh Đào bỗng dưng chuyển động. Cậu còn nhớ không?”

“Có,” Bill đáp. “Nhưng cậu chắc trước đó không có gì xảy ra không, Richie? Hoàn toàn không có gì ư?”

“Tớ…” Bỗng một thứ gì đó lóe lên trong mắt Richie. Anh từ tốn đáp, “Chà, một hôm, Henry và bè lũ cậu ta rượt đuổi tớ – chuyện xảy ra ngay trước khi kỳ học kết thúc, tớ trốn bọn chúng trong khu đồ chơi ở trung tâm thương mại Freese’s. Tớ đi vào trung tâm thị trấn, ngồi xuống một băng ghế công viên một lúc và tớ cứ ngỡ tớ nhìn thấy… nhưng chỉ là tớ nằm mơ mà thôi.”

“Thấy gì mới được?” Beverly hỏi.

“Không có gì,” Richie đáp, giọng hơi cộc. “Chỉ là giấc mơ thôi.” Anh nhìn Mike. “Nhưng tớ không ngại đi bộ một vòng. Giết thời gian buổi chiều. Ngắm nhìn cố hương.”

“Thế mình chốt vậy nhé?” Bill hỏi.

Mọi người gật đầu.

“Vậy chúng ta sẽ gặp nhau ở thư viện tối nay, lúc… Cậu nghĩ giờ nào thì được, Mike?”

“7 giờ. Nếu đến trễ thì nhớ báo một tiếng nhé. Thư viện đóng cửa vào 7 giờ tối các ngày trong tuần, cho đến khi trẻ em nghỉ hè.”

“Thống nhất là 7 giờ nhé,” Bill nói và đưa mắt nhìn mọi người với vẻ nghiêm trang. “Các cậu nhớ phải cẩn thận. Các cậu hãy nhớ không ai trong số chúng ta thực sự biết mình đang l-l-làm gì. Hãy xem đây như hành động thăm dò thôi. Nếu thấy gì bất thường, đừng chống cự mà hãy bỏ chạy.”

"Tớ giàu tình yêu chứ chẳng biết tranh đấu đâu," Richie mơ màng nói bằng giọng Michael Jackson.

Lời bài hát The Girl is Mine của Michael Jackson.

“Nào, nếu làm thì chúng ta tranh thủ làm cho kịp,” Ben nói. Nụ cười mảnh khẽ nhếch lên nơi khóe miệng anh. Nhưng ẩn trong đó, thích thú thì ít, cay đắng thì nhiều. “Dù ngay lúc này mà bắt tớ nói tớ biết mình sẽ đi đâu ngoài Vùng Đất Cằn thì tớ á khẩu. Khoảng thời gian ấy là đẹp nhất – cùng các cậu đến đó vui chơi.” Đôi mắt anh nhìn sang Beverly, neo ở cô trong thoáng chốc rồi quay đi. “Tớ chẳng nghĩ ra được nơi nào đong đầy ý nghĩa trong lòng tớ đến thế. Có lẽ tớ sẽ đi lòng vòng vài tiếng đồng hồ, ngắm nhìn phố xá và tập cho quen với tình hình.”

“Rồi cậu sẽ tìm được nơi để đi thôi, Haystack,” Richie lên tiếng. “Ghé qua mấy hàng ăn năm xưa và ních cho đầy bụng đi.”

Ben phá lên cười. “Sức ăn của tớ đã giảm hẳn từ năm mười một tuổi rồi. Tớ no đến độ chắc phải nhờ mọi người lăn tớ ra ngoài mất.”

“Chà, tớ cũng no rồi đây,” Eddie lên tiếng.

“Hượm đã!” Beverly reo lên khi cả nhóm lục tục đẩy ghế ra sau. “Bánh quy may mắn! Mọi người đừng quên chúng!”

“Ừ đấy,” Richie nói. “Tớ đọc được lời tiên đoán cho tớ rồi. BẠN SẼ BỊ MỘT CON QUÁI VẬT KHỔNG LỒ ĂN THỊT. CHÚC BẠN MỘT NGÀY TỐT LÀNH.”

Cả bọn phá lên cười, Mike chuyền đĩa nhỏ đựng bánh quy may mắn cho Richie, anh nhón lấy một cái rồi quay bàn xoay để mọi người đều có thể lấy. Bill để ý không ai bẻ bánh của mình ra cho đến khi mọi người đều đã có bánh trên tay; họ yên vị với chiếc bánh hình nón con con trước mặt hoặc cầm trong tay, và ngay khi Beverly, vẫn nở nụ cười trên môi, nhón lấy bánh, Bill cảm thấy họng mình chực gào thét: Đừng! Đừng mở ra, đây là một phần của Nó đấy, cất lại đi, đừng mở ra!

Nhưng đã quá trễ. Beverly bẻ bánh của cô ra, Ben cũng làm theo, Eddie dùng cạnh nĩa khía vào bánh, và ngay trước khi khuôn mặt tươi cười của Beverly trở nên rúm ró vì kinh hãi, Bill kịp nghĩ: Chúng ta đều biết, trong vvô thức, chúng ta biết, vì không ai dám đưa thẳng bánh lên miệng mà cắn. Theo lẽ thường thì ta sẽ làm thế, nhưng không ai trong chúng ta làm vậy. Phần nào đó trong chúng ta vẫn nhớ… nhớ tất cả.

Và anh nhận ra chính sự ngầm hiểu khắc nghiệt ấy mới là hiện thân khủng khiếp nhất trong tất cả; sự ngầm hiểu ấy truyền tải súc tích hơn hẳn những lời Mike vừa trình bày về việc Nó từng ăn sâu bén rễ nơi mỗi người bọn họ thế nào… và giờ Nó vẫn ảnh hưởng ra sao.

Máu ào ào phọt ra từ bánh quy may mắn của Beverly như động mạch bị cứa đứt. Nó bắn lên tay cô rồi vấy lên khăn ăn màu trắng đang phủ trên bàn, nhuốm tấm khăn thành một màu đỏ tươi rồi lan ra thành những dấu tay màu hồng.

Eddie Kaspbrak hét lên, đột ngột đẩy ghế ra xa bàn ăn, tay chân lóng ngóng khiến suýt chút nữa thì ghế đổ nhào. Một con bọ rất to với lớp vỏ màu nâu vàng gớm guốc đang ngoi ra khỏi chiếc bánh như thể phá kén. Đôi mắt đen láy của nó nhìn vào vô định. Khi nó nhảy lên đĩa bánh mì của Eddie, vụn bánh lả tả rơi xuống từ lưng nó, Bill nghe rõ mồn một tiếng rào rạo, âm thanh ấy trở về ám ảnh anh trong giấc mơ khi anh ngả lưng trong chốc lát vào buổi chiều hôm ấy. Sau khi thoát ra, nó đưa hai chân trước cọ vào nhau, phát ra tiếng lạo xạo khô khốc, Bill nhận ra nó là một con dế đột biến gớm ghiếc. Nó loạng choạng bò đến thành đĩa và ngã vật xuống tấm khăn trải bàn.

“Ôi Chúa ơi!” Richie nghẹn lời. “Ôi Chúa ơi, Bill To Bự, là một con mắt, lạy Chúa tôi, là một con mắt, khốn kiếp, một con mắt…”

Bill vội vàng quay đầu lại, trông thấy Richie đang nhìn chằm chằm chiếc bánh quy may mắn của mình, môi anh méo xệch đầy kinh hãi. Một mẩu bánh phết đường rơi xuống khăn trải bàn, để lộ cái lỗ trong đó con ngươi loang loáng trợn trừng. Vụn bánh dính trên mống mắt nâu trống rỗng của nó và vương vãi trên màng mắt.

Ben Hanscom thẳng tay vứt bánh – không phải hành vi có chủ đích mà là phản ứng bất thình lình của một người hoảng hồn trước thứ gì đó quá đỗi ghê tởm. Khi chiếc bánh may mắn của Ben lăn ra bàn, Bill trông thấy hai cái răng bên trong, chân răng đen đúa tụ đầy máu. Chúng va vào nhau cành cạch như hạt trong quả bầu rỗng.

Anh quay sang nhìn Beverly thì thấy cô đang hít một hơi thật sâu để thét lên. Mắt cô dán vào thứ vừa bò ra khỏi chiếc bánh của Eddie, thứ sinh vật hiện đang lật ngửa trên bàn, lờ đờ loe ngoe chân.

Bill bước tới. Anh không kịp nghĩ gì cả mà chỉ làm theo bản năng. Trực giác, anh điên cuồng nghĩ trong lúc bật dậy khỏi ghế và kịp thời đưa tay bụm miệng Beverly ngay trước khi cô thét lên. Mình đang hành động theo trực giác. Hẳn Mike sẽ tự hào lắm đây.

Âm thanh phát ra từ miệng Beverly không phải tiếng thét mà là tiếng “Ưm ưm!” bị bịt lại.

Eddie phì phò hít thở, âm thanh mà Bill còn nhớ rõ như in. Chẳng thành vấn đề, hít một hơi từ cái ống thở cũ kia sẽ khiến Eddie bình thường trở lại. Bình thường như cân đường, Freddie Firestone thể nào cũng nói như vậy, và Bill tự hỏi – không phải lần đầu – tại sao vào lúc nước sôi lửa bỏng thế này, con người ta lại có những suy nghĩ rõ kỳ khôi như thế.

Anh vội vã liếc nhìn mọi người, và lời anh thốt lên cũng lại là một điều từ mùa hè năm ấy, một điều vừa xưa cũ đến không tưởng vừa đúng boong: “Phớt tỉnh lên! Tất cả các cậu! Không được phát ra tiếng! Phớt tỉnh lên đi!”

Rich đưa tay lên bụm miệng. Nét mặt Mike xám ngoét, nhưng anh gật đầu với Bill. Mọi người lùi khỏi bàn. Bill chưa bẻ chiếc bánh quy may mắn của mình, nhưng anh có thể thấy thành miếng bánh phập phồng chuyển động - phình lên, xẹp xuống, phình lên rồi lại xẹp xuống, phình lên rồi lại xẹp xuống - khi món quà góp vui của anh đang tìm cách thoát ra.

“Ưm ưm!” Beverly rít lên dưới tay anh, hơi thở của cô khiến lòng bàn tay anh nhồn nhột.

“Phớt tỉnh lên, Bev,” anh nói và buông tay ra.

Hai mắt cô trợn trừng. Miệng cô giật giật. “Bill… Bill, cậu có thấy…” Mắt cô rối ren quay lại nhìn con dế rồi trân trần dán vào nó. Con dế dường như đang hấp hối. Đôi mắt nhăn nheo của nó chữa vào cô, khiến Beverly rên lên.

“Th-Th-Thôi ngay,” anh dứt khoát. “Cậu trở lại bàn đi.”

“Tớ không thể, Billy, tớ không thể lại gần thứ…”

“Cậu làm được! Cậu ph-phải làm cho bằng được!” Anh nghe thấy tiếng chân vội vã rảo bước lên hành lang hẹp phía bên kia của bức rèm đính hạt. Anh nhìn mọi người. “Tất cả các cậu! Trở lại bàn mau! Nói chuyện đi! Ra vẻ bình thường!”

Beverly nhìn anh với ánh mắt van nài, nhưng Bill lắc đầu. Anh ngồi xuống, kéo ghế vào, cố gắng không liếc nhìn chiếc bánh quy may mắn trên đĩa của mình. Nó phình to như cái nhọt mưng đầy mủ. Nó vẫn phập phồng chầm chậm. Ban nãy suýt chút nữa mình đã cắn nó, anh thoáng nghĩ.

Eddie xịt ống thở vào họng một lần nữa, hơi sương tràn vào phổi anh trong tiếng rít lên khe khẽ.

“Thế cậu nghĩ ai sẽ là đội chiến thắng?” Bill hỏi Mike, cố rặn ra một nụ cười giả tạo. Ngay lúc ấy, Rose bước qua tấm rèm, khuôn mặt cô lo lắng một cách nhã nhặn. Từ khóe mắt, Bill trông thấy Bev đã ngồi lại vào bàn. Giỏi lắm, anh thầm nghĩ.

“Tớ thấy đội Chicago Bears có tiềm năng đấy,” Mike trả lời.

“Mọi thứ ổn cả chứ quý khách?” Rose hỏi.

“Ổ-Ổn cả” Bill đáp. Anh chĩa ngón tay cái về phía Eddie. “Cậu bạn của bọn tôi lên cơn hen ấy mà. Cậu ấy dùng thuốc nên khỏe hơn rồi.”

Rose nhìn Eddie với vẻ lo ngại. “Tôi khỏe rồi,” Eddie hít hà.

“Các vị có muốn tôi dọn bàn không?”

“Một lát nữa nhé,” Mike đáp, nở nụ cười thật tươi nhưng cứng đờ.

“Món ăn ngon chứ?” cô đưa mắt nhìn khắp bàn, chút nghi ngờ len lỏi trong vẻ ngoài bình thản. Cô không thấy con dế, con ngươi, hai cái răng hoặc chiếc bánh đang phập phồng thở của Bill. Tương tự, ánh mắt cô lướt qua vết máu bắn lên tấm khăn trải bàn mà chẳng buồn đoái hoài.

“Mọi thứ ngon quá sức là đằng khác,” Beverly nói rồi nhoẻn cười – nụ cười tự nhiên hơn hẳn Bill và Mike. Cử chỉ ấy như xoa dịu tâm trí Rose, thuyết phục cô nếu có thứ gì không ổn ở đây, chắc chắn nguyên nhân không phải do cung cách phục vụ của Rose hay nhà bếp. Phụ nữ đúng là thứ dữ, Bill thầm nhủ.

“Lời tiên tri tất cả chứ?” Rose hỏi han.

“Chà,” Richie đáp. “Tôi không biết những người khác ra sao chứ tôi được dịp mở mang tầm mắt lắm.”

Bill nghe thấy tiếng răng rắc khe khẽ. Anh nhìn xuống đĩa, trông thấy cẳng chân thò ra từ chiếc bánh. Nó cào lên lòng đĩa.

Suýt chút nữa mình đã cắn vào thứ đó, suy nghĩ ấy lại hiện ra, nhưng anh vẫn giữ nguyên nụ cười của mình. “Rất tốt,” anh đáp.

Richie đưa mắt quan sát đĩa của Bill. Một con ruồi to tướng màu đen xám từ từ trồi ra khỏi vỏ bánh vỡ vụn. Nó khẽ đập cánh vo ve. Mủ vàng trào ra khỏi chiếc bánh, tụ trên khăn trải bàn. Xộc lên một thứ mùi xú uế, hôi thối của vết thương nhiễm trùng.

“Chà, vậy nếu tôi không giúp được gì cho các vị…”

“Hiện tại thì chưa,” Ben đáp. “Bữa ăn quá tuyệt vời. Rất… rất kỳ dị.”

“Mọi người cứ thong thả ngồi chơi,” cô nói và cúi đầu bước qua tấm rèm kết bằng hạt. Hạt cườm vẫn còn rung rinh và lanh canh đập vào nhau khi tất cả bọn họ đẩy ghế lùi xa khỏi bàn.

“Cái gì vậy?” Ben khàn khàn hỏi, mắt nhìn vào thứ trên đĩa của Bill.

“Một con ruồi,” Bill đáp. “Ruồi đột biến. Tớ đoán nó sinh ra từ tác phẩm của nhà văn George Langlahan. Ông ấy viết một truyện ngắn có tên là Con ruồi . Tác phẩm từng được chuyển thể thành phim, dù không quá xuất sắc. Những câu chuyện ấy làm tớ sợ mất mật. Nó lại vận đến những chiêu trò cũ rích. Gần đây hình ảnh con ruồi này thường xuyên xuất hiện trong tâm trí tớ, vì tớ đang lên kế hoạch viết tiểu thuyết, dự tính đặt tên là Bọ đường . Tớ biết nghe tựa đề kh-khá dở hơi, nhưng các cậu thấy đấy…”

“Cho tớ xin lỗi,” Beverly lạnh nhạt nói. “Tớ nghĩ tớ phải nôn đã.”

Cô rời đi trước khi cánh mày râu kịp đứng dậy.

Bill rút khăn ăn của mình và ném xuống con ruồi với kích thước bằng con chim sẻ non. Một thứ to như vậy không thể nào bay ra từ một vật nhỏ như bánh quy may mắn của Trung Hoa được… nhưng sự thật là thế. Con ruồi vo ve hai lần dưới khăn ăn rồi im bặt.

“Chúa ơi,” Eddie run rẩy.

“Mình biến khỏi đây thôi,” Mike lên tiếng. “Ta có thể gặp Bev ngoài sảnh.”

Beverly bước ra khỏi nhà vệ sinh cùng lúc mọi người tụ tập ở quầy thanh toán. Trông cô xanh xao nhưng vẫn bình tĩnh. Mike trả tiền, hôn lên má Rose, rồi cả nhóm cùng bước ra bầu trời chiều bất phất mưa bay.

“Việc vừa rồi có khiến ai thay đổi suy nghĩ không?” Mike hỏi.

“Tớ thì không” Ben đáp.

“Không” Eddie lên tiếng.

“Suy nghĩ gì kia?” Richie nói.

Bill lắc đầu rồi nhìn qua Beverly.

“Tớ sẽ ở lại,” cô nói. “Bill này, ban nãy cậu bảo Nó lại vận đến những chiêu trò cũ rích nghĩa là sao?”

“Dạo này tớ đang nghĩ đến việc viết một câu chuyện về bọ rệp,” anh giải thích. “Câu chuyện của Langlahan vô tình in sâu trong tâm trí tớ. Thế nên tớ mới nhìn thấy con ruồi. Còn cậu thấy máu nhỉ, Beverly. Tại sao cậu lại nghĩ đến máu?”

“Tớ đoán chắc là máu từ lỗ thoát nước,” Beverly liền nói. “Máu xối xả tuôn từ lỗ thoát nước trong phòng tắm ngày xưa, lúc tớ mười một tuổi.” Nhưng có thật là thế không? Cô nói vậy mà không nghĩ vậy. Vì cảnh tượng vụt qua đầu cô khi máu bắn lên tay cô thành dòng âm ấm là hình ảnh dấu tay máu me cô để lại sau khi đạp lên mảnh chai nước hoa vỡ. Tom. Và

(Bevvie đôi khi bố lo quá)

bố cô.

“Bánh của cậu cũng là một con bọ,” Bill nói với Eddie. “Tại sao vậy?”

“Không chỉ là một con bọ,” Eddie đáp. “Mà là một con dế. Trong tầng hầm nhà tớ có nhiều dế kinh khủng. Bỏ ra 200.000 đô-la cho căn nhà, thế mà không loại trừ được đám dế ấy. Buổi tối, chúng róc rác khiến bọn tớ điên cả đầu. Vài đêm trước, lúc Mike gọi, tớ mơ thấy cơn ác mộng vô cùng khủng khiếp. Tớ nằm mơ thấy tớ tỉnh dậy và giường tớ đầy dế, tớ tìm cách dùng ống thở bắn chúng nhưng khi tớ bóp cò, ống thở chỉ kêu lên reng réc, tớ mới nhận ra cả ống thở cũng đầy dế, đến lúc ấy thì tớ tỉnh lại.”

“Người phục vụ không nhìn thấy cảnh này,” Ben trầm ngâm. Anh nhìn Beverly. “Giống ngày trước bố mẹ cậu không trông thấy máu chảy ra từ lỗ thoát nước, dù máu bê bết khắp nơi.”

“Ừ,” cô đồng tình.

Họ đứng đó nhìn nhau trong cơn mưa xuân lắc rắc.

Mike liếc nhìn đồng hồ. “Tầm hai mươi phút nữa sẽ có xe buýt,” anh nói, “hoặc để tớ chở bốn người các câu trong xe tớ, chịu khó chen chúc một chút. Không thì tớ sẽ gọi tắc-xi. Tùy các cậu muốn thế nào.”

“Tớ nghĩ tớ sẽ đi bộ từ đây,” Bill lên tiếng. “Tớ không biết mình sẽ đi đâu, nhưng hít thở chút khí trời cho khoan khoái cũng hay.”

“Tớ sẽ gọi tắc-xi,” Ben nói.

“Vậy tớ đi chung với Ben, cho tớ xuống trung tâm thị trấn là được,” Richie đề nghị.

“Ừ được. Mà cậu tính đi chỗ nào?”

Richie nhún vai. “Chưa biết nữa.”

Những người còn lại quyết định chờ xe buýt.

“7 giờ tối nay nhé,” Mike nhắc lại. “Và nhớ bảo trọng đấy.” Họ gật gù đồng ý sẽ bảo trọng, dù Bill chẳng biết làm thế nào ta có thể thật lòng hứa hẹn như thế khi thứ mà ta phải đối mặt là một chuỗi những ẩn số ghê gớm.

Anh toan cất tiếng, nhưng khi nhìn nét mặt mọi người, anh nhận ra ai nấy cũng đều biết rõ điều đó.

Anh bèn cất bước, khẽ giơ một tay chào tạm biệt. Không khí mờ sương mát rượi phả vào mặt anh. Đi bộ trở lại thị trấn sẽ xa lắm đây, nhưng không sao. Anh có nhiều điều cần suy ngẫm. Anh mừng vì buổi tụ hội đã kết thúc và đã đến lúc bắt tay vào việc rồi.

« Lùi
Tiến »